Anh Kha, trợ lý huấn luyện viên của tuyển bóng đá trẻ Đà Nẵng, bước ở thềm nhà ra, hơi ngái ngủ, đứng yên một lát, loá mắt vì ánh bình minh rực rỡ. Trận mưa âm ỉ kéo dài ba ngày khiến Kha không gặp mặt được các học trò. “Mấy ngày tới chắc sẽ quang quẻ hơn,” anh nghĩ, vươn vai một hồi và trở vào trong phòng.
Phòng của Kha rộng nhưng rất bí, vì anh hút thuốc liên miệng và quây rèm quanh năm. Ánh sáng bên ngoài gần như không lọt vào. Đồ đạc trong phòng chỉ gồm một chiếc giường gỗ gầm thấp kê sát vách tường và một bàn máy tính là nơi Kha ngồi làm việc. Trên tường treo đầy những huy chương, cờ lưu niệm, và một khung bằng khen viền vàng trạm trổ hoa văn tao nhã nổi bật giữa phòng, như thể vớt vát lại chút danh thế đã tiêu ma vì một tai nạn xảy ra vào ba năm trước.
***
Tài năng bóng đá của Kha được phát hiện từ rất sớm. Năm ba tuổi, món đồ chơi bố Kha mua tặng anh là một quả bóng da nho nhỏ với những đốm trắng đan xen kẽ như một bàn cờ vua. Thằng bé lăn lộn, ôm khư khư lấy quả bóng, đè bụng lên quả bóng rồi ngã chúi mặt xuống đất, khóc oe oe, còn bố nó thì cứ cười hể hả như đang xem tuồng.
Tới năm lớp bảy thì Kha đã nổi tiếng như một tài năng nhí khắp cả vùng. Mỗi lần đá giải ở làng, người ta kéo đến xem rất đông. Nhìn những đường rê bóng uyển chuyển, đôi chân thoăn thoắt của thằng bé, ai ai cũng tấm tắc. Rồi tiếng lành vang tới tai ban huấn luyện trên tỉnh.
Một buổi chiều tháng Mười lộng gió, người tuyển trạch viên, một thầy giáo thể dục phốp pháp, trạc ba nhăm tuổi nhưng đã hói một chỏm đầu, tìm tới nhà Kha để bàn chuyện công việc. Trà chưa kịp nguội, đôi bên đã thống nhất mức tài trợ 100%, mỗi cuối tuần được về nhà trừ những dịp du đấu.
Và thế là Kha lên tỉnh.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, tài năng nhí ngày nào đã trở thành một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Anh không hút thuốc, rượu thì chê nhưng bia thì bao nhiêu cũng hết, nhưng anh tập luyện rất nhiều, rất chăm chỉ. Chân tay anh cứng cáp màu đồng thau, trên bắp chuối chắc nịch rằn rịt những thớ gân màu xanh lơ, vóc dáng thâm thấp, gương mặt cương nghị như nhà binh, nhưng phong cách chơi bóng của anh thì vẫn uyển chuyển, lắt léo như ngày nào. Những tay nhà báo, phóng viên kéo đến, sửa soạn cả một loạt bài về anh. Họ đặt ảnh anh ngay trên tấm áp phích đại diện, với dòng chữ in hoa bên dưới đề:
“TƯƠNG LAI CỦA BÓNG ĐÁ NƯỚC NHÀ.”
Loạt bài này một mặt tâng bốc lòng tự phụ của cầu thủ trẻ, một mặt đem lại cho Kha những khoản tiền kếch xù từ những nhãn hàng, những hợp đồng quảng bá. Ở quê, ông già anh, giờ tóc đã hoa râm, ngày ngày quét tước căn nhà vườn ba tầng cùng khoảnh sân lát gạch đỏ dài như một sân bóng quần. Ông già sống độc thân, sống cầm cự vì đứa con trai độc nhất, đến chết vẫn không thôi tự hào.
Còn Kha, sự nghiệp trên câu lạc bộ của anh đang bay cao như một bụng diều căng gió. Ban huấn luyện công nhận anh, đồng đội ngưỡng mộ anh, và sau khi vị thủ môn kỳ cựu tuyên bố về vườn, chiếc băng đỏ được anh gắn bên tay như một sứ mệnh. Thế rồi một sự việc tai quái ập đến.
Ở loạt đấu trước thềm chung kết của Giải Quốc gia năm 2004, khi còn năm phút bù giờ và tỷ số vẫn ở vạch xuất phát, Kha, tiền đạo cánh phải, bất ngờ nhận được một đường tạt biên từ hậu vệ chính. Quả bóng lượn thành một đường vòng cung trên cao rồi được Kha đỡ lấy bằng mu bàn chân phải. Một cú đánh vai giả khiến hậu vệ theo kèm chững lại, và anh vượt qua, dốc bóng điên cuồng. Phía sau anh, hơn bốn hậu vệ, trung vệ đối thủ rượt theo, thủ môn so vai xuống tấn vào sẵn thế, còn đồng đội anh hét lớn:
“Sút đi! Không có người!”
Kha ngước lên nhìn khung thành, rê bóng nhẹ sang phải và toan lấy chân trái làm trụ. Bàn thắng ấn định đã ở trong tầm tay. Tiếng reo hò xung quanh như lặng đi. Đúng lúc ấy, một trung vệ đối phương, gương mặt rắn đanh, ánh mắt đùng đằng sát khí, bất ngờ rạp người xuống thềm cỏ và lao vào Kha theo phương ngang.
Sau đó, là cả một sự thinh lặng kéo dài. Khán đài im bặt, người ta khum tay che mặt, cúi gằm, nhiều người chắp hai tay vào nhau, miệng lẩm bẩm như cầu nguyện. Phía dưới, nằm giữa lằn ranh trắng nhờ, người tiền đạo ôm lấy bên đầu gối trái, nước mắt hoà lẫn mồ hôi và rú lên như một con sói hoang.
Trọng tài vội vã chạy lại. Một chiếc thẻ đỏ được giơ cao. Tiếng hò la, chửi rủa trộn lẫn tiếng thở dài não nuột, trong lúc người ta đặt Kha nằm lên cáng rồi chuyển đi…
***
Kha mặc chiếc áo khoác vải bóng có đính huy hiệu của câu lạc bộ trên ngực trái, kéo khoá cao ngang cằm rồi ra khỏi nhà. Tự dưng anh nổi hứng đi bộ ra sân cỏ.
Sân bóng nằm cạnh nhà văn hoá, bốn bề chăng lưới trông như một chiếc vợt cá khổng lồ. Nắng phủ kín mặt cỏ. Từ xa, Kha thấy vài ba đứa trẻ con, người ngợm bê bết, tuổi chừng cấp hai, đang mải miết đuổi theo trái bóng. Một thằng cao lớn hơn cả bọn, da đen nhẻm, đôi chân trần khẳng khiu vừa ghi bàn và giơ hai tay ăn mừng. Nó vén vạt áo lau mồ hôi trên mặt.
Có một hàng ghế gỗ đã bị đám mọt đục khoét phân nửa, chắc là bê từ nhà văn hoá sang, dựng chỏng chê dưới một tán cây bàng, ngay sau khung thành. Kha ngồi xuống, chân vắt chữ ngũ và chăm chú quan sát.
Mấy đứa trẻ con dường như không để ý thấy sự hiện diện của anh. Chúng vô tư nô đùa, chúng vừa chạy vừa giữ cạp quần, rồi chúng thi triển những kỹ thuật màu mè, vụng về, bắt chước. Kha cười thầm vì sự ngây ngô của chúng. Bây giờ đây, dưới ánh nắng vàng miền quê quen thuộc, trước mặt vạt cỏ bạc màu, đồng lúa xa xa cũng bạc màu y thế, thì anh thấy dâng lên trong lòng một niềm ghen tỵ khắc khoải, cay đắng. Anh sẵn sàng đánh đổi hết phần đời còn lại để có thể trở lại làm một thằng bé loắt choắt thuở nào, chân không mang giày, trên người độc một chiếc quần cũn cợn, tới gia nhập đám trẻ kia. Anh sẽ đảo quả bóng từ chân này qua chân kia nhanh nhẹn và thành thục như một nghệ nhân xoay những viên bi trên tay, đám đông sẽ reo hò, nhiều người trèo hẳn lên cành cây để xem cho rõ. Và trong tất cả những âm thanh hỗn độn, giọng sang sảng của ông bố anh vang vang:
“Con tôi đấy! Con tôi đấy ông bà ạ!”
… Một người đàn bà phục phịch đứng từ bậc thềm gọi với ra. Con bà ta là một trong đám nhóc kia. Chúng nó mặc lại áo, mặt đứa nào cũng ửng đỏ như trái cà chua. Thằng cao nhất vén tấm lưới lên, giữ nguyên cho mấy đứa kia lọt qua. Chúng cười nói, vỗ vai nhau, khích bác nhau, rồi lại tìm sự công nhận trình độ bản thân ở nhau. Chúng lướt qua người lạ như một khung thành bỏ trống.
Thế rồi một thằng bé reo lên:
“Thầy Kha!”
Kha lường trước được điều này, chỉ mỉm cười và gọi thằng bé lại gần.
“Chơi từ sáng tới giờ hả?” anh ân cần hỏi nó.
“Vâng, thầy ạ,” nó khựng lại một chút rồi mới đáp. “Thầy… thầy có nước không… con khát quá!”
“Đây này, cầm lấy,” anh đưa cả chiếc bi đông nhôm cho nó. “Cứ cầm đi, hôm nào đi tập thì trả thầy.”
“Vâng,” thằng bé uống một hơi dài, thở hổn hển rồi nói, “thế là ngày kia tập hả thầy?”
“Ừ,” Kha đáp, mắt không nhìn nó. “Tuần sau đấu giải rồi, giữ chân giữ tay con nhé!”
“Vâng. Con chào thầy!”
Kha gật đầu và khua khua tay.
Bọn trẻ tản đi. Tiếng chuyện trò lanh lảnh rồi bặt dần. Còn lại một mình, anh thở một hơi nhẹ và chờ cho bọn nó đi hết, anh đứng dậy, nán lại nhìn bao quát sân cỏ một lần cuối.
Sân cỏ tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm. Kia kìa, cái bờ giậu gắn đầy mảnh chai vẫn im lìm, nham hiểm. Kha nhớ tới cái lần hồi bé anh đứng từ sân cỏ và chờ đợi cậu bạn mà anh đã quên mất tên, chờ cậu ta ném chai nước từ cửa sổ nhà bếp sang. Thật đẹp đẽ xiết bao cái thời vụng dại vô tư ấy.
Thiên hạ đã từng yêu quý anh vì tài năng. Giờ đây, họ nhìn anh bằng ánh mắt cảm thông, ngậm ngùi như thể nhìn một người quen cũ. Họ biết sự nghiệp cầu thủ của anh đã chấm dứt hẳn, bất chấp những nỗ lực phục hồi, những gắng gượng giành lại hào quang năm xưa.
Nhưng cuộc sống không ngừng lại chỉ vì một bi kịch xảy ra, người ta vẫn phải kiếm sống dẫu mới hai bảy tuổi, có bốn chiếc nẹp vít ở đầu gối, cùng một ông bố mới chết vì ung thư phổi. Nhờ quen thân, người ta sắp xếp cho anh một vị trí trong trung tâm huấn luyện. Và từ ấy trở đi, dường như người thầy giáo chỉ còn sống vào quá khứ.
Sáu giờ sáng hai hôm sau, sân cỏ hôm trước đầy ních những trẻ, đầu tóc húi cua, tất màu đỏ, vàng với sọc trắng kéo dài tới gần đầu gối. Những phụ huynh đến sau dựng chân trống xe, ngồi vắt vẻo sau khung thành, vì hàng ghế gỗ đã đông kín. Bất chợt, giám đốc trung tâm, một ông già quắc thước trạc năm mươi tuổi, tới thông báo giải tán buổi tập. Gương mặt ông ta ái ngại, đầy lo âu, môi mấp máy, mắt lèm nhèm như muốn khóc. Theo yêu cầu của ông, đám trẻ được xua đi hết. Chúng ngơ ngác nhìn từ bên ngoài vào, cố gắng nghe ngóng người lớn nói chuyện.
Ông giám đốc nhìn quanh một lượt, húng hắng vài hơi rồi nói:
“Thầy Kha đi rồi các cô các bác ạ!”
Một màn không khí tê dại bủa vây. Người ta lặng đi, ánh mắt thẫn thờ, bàng hoàng trước tin dữ kia. Rồi người ta ùa đến nhà thầy giáo, nơi có hai anh công an mặc cảnh phục đứng sẵn trước cổng, dây chắn treo ngang cổng và lắc đầu đầy ai oán.
Tới chiều hôm ấy, đám phóng viên kéo tới. Người ta thu thập, người ta lần lại những phóng sự, những tin bài được triển khai ngay. Người ta viết rằng trên thi thể nạn nhân vẫn còn nguyên bộ đồng phục màu vàng năm nào, cùng chiếc băng đội trưởng lăn lóc giữa sàn.
Ngoài cổng, có một cậu bé ôm chiếc bi đông vừa bật khóc.
Bình luận về bài viết này