• Xuân hạ thu đông (Ghi chép tản mạn)

    Đọc thử

    Những dòng tạp bút (quả thực tôi không nghĩ nổi một từ nào để định nghĩa thay mớ bòng bong dưới đây) này bắt đầu vào tháng Năm năm 2025. Tôi ghi lại những quan sát, suy nghĩ, hồi ức; những cuốn sách tôi đọc; và nhiều thứ vặt vãnh khác.

    Mùa xuân vừa rồi tôi bỏ việc, rồi thất nghiệp, ốm đau, chuyển nhà, việc viết lách thì vô vọng, tiền nong khan hiếm… Chỉ còn nước tình yêu tan vỡ nữa là xong…


    Ngày 6 tháng Năm năm 2025,

    Tôi đã dọn ra căn trọ mới được hơn hai tháng. Hiện tại, tôi đang ở một mình, trên tầng bốn, trong một căn nhà năm tầng. Tầng trên phòng tôi là hai sân phơi ngăn cách nhau bởi một gian thờ. Bàn thờ phủ bụi như được moi từ dưới đất lên. Sàn cũng bụi. Chẳng ai lau dọn quét tước cả, mà gần như không ai ló mặt qua ban thờ làm gì. Nó cứ im lìm vậy thôi…

    Khi tôi đến xem căn trọ này lần đầu, độ giữa tháng Hai khi vừa Tết xong, nó thuộc về một ông bạn nào đó mà tôi không biết mặt, cũng chẳng nhớ tên. Tôi vẫn nhớ tôi cùng Hương leo bốn tầng gác lên, cửa phòng không khoá, chúng tôi mở vào và cảnh tượng hiện ra trước mặt thật khủng khiếp. Đồ đạc vỏn vẹn gồm một chiếc nệm gấp 3, tấm ga màu xám xỉn đã rách lua tua, vỏ gối màu vàng khè như màu răng ố; sàn nhà vương vãi nào khăn, nào quần áo bẩn, vài can nước lọc rỗng tuếch mất nắp lổn nhổn trên sàn gạch. Rất may là gã không hút thuốc…

    Chúng tôi lượn qua một vài nhà trọ khác, tìm thấy một căn trên tầng hai trông rất được, đồ đạc sẵn, có ban công trông xuống mái hiên, hơn nữa căn nhà này còn rất gần trọ của Hương. Giá cả có hơi mắc, nhưng tôi sẵn lòng chi. Tuy vậy sau cuối tôi đã không lấy căn này mà chọn cái ổ chuột trên tầng bốn kia. Gã thuê phòng đã vào Nam, để lại một ít đồ đạc. Căn phòng bỏ ngỏ từ trước Tết và nếu tôi có thể dọn vào ngay, tức là trước đầu tháng Ba độ mười ngày, tôi chỉ cần đóng thêm một khoản khá nhỏ.

    Lúc ấy tình hình ở nhà trọ cũ của tôi đã thành ra không sao chịu đựng nổi. Tôi không thích du di nên đã quyết định dọn vào sớm. Đồ đạc của tôi cũng chẳng có nhiều, nhưng vì chỉ có tôi và Hương nên khá nhọc nhằn: riêng đống sách đã bốn, năm thùng các tông – mỗi thùng có lẽ nặng đến nửa tạ. Hai chúng tôi bê từ tầng ba xuống tầng một ở trọ cũ, rồi gọi xe ba gác, tiếp tục bê từ tầng một lên tầng bốn ở trọ mới. Cầu thang hẹp và tối, hôm ấy tôi còn bị đau gót chân, nói chung tình cảnh hết sức khổ ải. Có vài chuyện lôi thôi với một cậu bạn chung trọ cũ, một người mà tôi rất quý mến nhưng giờ đã thôi trò chuyện, và có lẽ thôi cả làm bạn, nhưng tôi sẽ không nhắc tới cụ thể (khả năng nó sẽ xuất hiện trong một truyện ngắn nào đó trong tương lai với tên nhân vật được đổi đi.)

    Tôi vét hết sạch tiền lương trong tháng Giêng và vay mượn thêm chút mới đủ sắm sửa đồ đạc cho căn buồng mới. Chăn ga gối nệm mới, kệ quần áo mới, rồi những khoản lặt vặt, đâu đó mất một tuần trời. Cuối cùng thì đời sống cũng tạm gọi là đi vào nền nếp. Những bất tiện dần dần được tháo gỡ, hoặc đơn giản tôi đã quen với chúng.

    Hiện tại, tôi có một chiếc bàn viết đặt đối diện khung cửa sổ, một kệ sách nhỏ đặt bên tay phải, sát vách tường. Vì chưa mua kệ mới (nói thẳng là chưa có tiền), tôi bày la liệt sách truyện trên bàn và dưới sàn nhà. Trên giường thì tôi chỉ để cuốn nào đang đọc thôi.

    Hương thường qua vào cuối tuần, ban đầu chúng tôi nhất trí là thế. Nhưng thường xuyên có những ngoại lệ, ngoại lệ luôn luôn, khiến tôi nhiều phen hơi nhức đầu. Sang trọ mới, tôi viết khá đều tay và cho tới giờ thì vẫn chưa phát điên, như tôi từng lo sợ lúc chưa dọn ra ở riêng. Tôi chỉ hơi trầm uất, hơi ghen tỵ với những con người thong dong, nhàn hạ, những con người có công việc đơn giản mà nếu giải quyết xong là có thể yên tâm cho tới ngày hôm sau. Đôi khi tôi ghen tỵ cả với những người có quyết tâm sắt đá, có sự tập trung bền bỉ trong công việc, họ phi nhanh với tốc độ của một toa tàu, xình xịch lao về đích – họ sẽ sớm trở nên thành công. Còn tôi, tôi vẫn cứ quẩn quanh, chẳng biết mình đang làm gì, việc viết của tôi rồi sẽ đi tới đâu, phải chăng tôi là một gã bất tài, hay việc con người thực tế sẽ chiến thắng bản ngã nghệ sĩ trong tôi. Có lẽ nên bẻ gãy ngòi bút, xoá cái blog này đi và khoa môi múa mép làm một gã bán hàng.

    Đôi khi tôi ước giá như mình chưa từng động tới viết lách. Đối với tôi, nó là hiện tượng đẹp đẽ nhất trần gian, nhưng nó cũng dày vò tôi vô kể, có lẽ cho tới ngày tôi chết.

    Tôi yêu viết. Tôi yêu những câu chuyện buồn. Lớn rồi thì tôi biết yêu thêm phong cảnh, tôi cố gắng giữ con mắt quan sát của mình thật tinh tế, thấu suốt dù cuộc sống của tôi chẳng có mấy điều là tinh tế. Có lẽ tôi yêu luôn cả cái ngu si tầm thường của con người. Tự dưng câu nói của Chekhov lẻn vào óc tôi:

    “Các bạn à, các bạn sống thật là chán!”


    Ngày 7 tháng Năm năm 2025,

    Tôi thức dậy sớm, lúc sáu giờ hai tư, nhưng tôi đợi tới đúng ba mươi mới rời giường. Tôi pha một cốc cà phê và kéo rèm cửa sổ. Ngoài trời mát, lá xào xạc và những con chim tôi không biết tên bay lăng xăng trên đỉnh những tán cây.

    Tôi đã viết một truyện ngắn có tựa đề “Đừng viết chuyện tình nữa” – nhưng rồi nó vẫn là một câu chuyện tình. Đầu tôi đang hơi ong ong, có lẽ tôi không hợp với cà phê, lần sau nên đổi qua uống trà…

    … Nhoáng cái đã chiều rồi. Tôi mới nhận cuốn Tuyển tập Chekhov của Tao Đàn vào buổi trưa. Sách hay tuyệt. Lâu rồi tôi mới mua một cuốn bìa cứng. Dưới đây là một trích đoạn trong truyện ngắn Mùa xuân, trước đó đã được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

    Vâng, tất cả đều rất thú vị vào quãng thời gian này, đặc biệt nếu bạn còn trẻ, yêu thiên nhiên, nếu như tính nết bạn không thất thường, bạn không bị mắc chứng loạn thần kinh, nếu như bạn không bị trói buộc vào công sở suốt từ sáng tới chiều. Thật chẳng may nếu bạn ốm o, sầu não ở chỗ làm việc, và nếu bạn đang giao du với nàng thơ.

    Vâng, mùa xuân là mùa không nên giao du với nàng thơ.

    Bạn thử nhìn mà xem, những người bình thường họ mới sảng khoái và vô tư làm sao…


    Ngày 8 tháng Năm năm 2025,

    Đã là ngày thứ ba tôi dậy sớm. Tối qua tôi ngủ hơi muộn, chừng hơn mười hai giờ, và sáng nay tôi thức dậy lúc sáu giờ bốn mươi. Tôi nằm thêm đến bảy giờ, rồi trở dậy, pha một cốc trà, ngồi vào bàn và vừa ngáp vừa nghĩ mình sẽ viết cái gì.

    Sau mười lăm phút lượn lờ khắp các tạp chí để xem họ đang viết cái gì, tôi tắt tab, một lần nữa thất vọng: tôi không thể viết như họ! Tôi không phải người lính, vậy nên tôi không thể viết về những cuộc chiến, những chặng hành quân, những vùng hẻo lánh… Thật đau khổ khi ta bị nham trong công sở từ sáng tới chiều, trải nghiệm nghèo nàn, cuộc sống ảm đạm, mà lại muốn viết những điều trác tuyệt! Không, không thể nào… Tôi chỉ biết về những con người bình thường, những chuyện bình thường, có khi tẻ nhạt. Người ta hẳn sẽ đọc truyện của tôi và bảo rằng: “Đồ chó con ấy toàn ói ra những thứ nhảm nhí!” hoặc: “Sao không dẹp chuyện viết lách vặt vãnh và chuyên tâm kiếm tiền đi, giời ạ!”

    Giời ạ!


    Ngày 9 tháng Năm năm 2025,

    Hôm nay tôi vẫn dậy sớm, chừng sáu giờ bốn mươi, nhưng không viết. Tôi đã làm gì nhỉ?

    Tôi dậy đánh răng, lướt Instagram trong vô thức, đem chậu quần áo lên sân thượng, rồi tôi ăn mặc thật tuềnh toàng, râu ria không cạo, xách túi đi làm.

    Công việc vẫn thế. Dạo này có đỡ chán hơn. Cầm trịch vài kênh truyền thông trong tay mà kênh nào kênh nấy flop hết thây… Chán… Đến cái blog tâm huyết này cũng không tránh khỏi số kiếp hẩm hiu. Xin lỗi mày. Tao toàn viết những thứ chẳng ai quan tâm, chẳng hợp với thị hiếu.

    Cả ngày dài tôi cầm điện thoại khá nhiều. Cứ chốc chốc lại có thông báo. Sau một ngày như thế, phản ứng tự nhiên là tôi thấy ghê tởm chính đôi tay của mình và tiếc nuối dã man khi đã để phí hoài thời gian.

    Tối nay tôi cũng không viết lách. Tôi chẳng biết viết gì, cũng chẳng muốn viết. Tối qua tôi phát hiện một chồng sách của mình bị thấm nước, quăn queo hết cả… Đến giờ tôi vẫn buồn.

    À, hôm nay có một điều vui nho nhỏ. Chị sếp bảo với tôi rằng kênh TikTok (6 người follow) của tôi có tiềm năng 🤪, chị bảo tôi có khả năng nói khá tốt và hãy phát huy nhé. Ờ… ờ… cuối tuần này tôi sẽ quay video trở lại, nhưng vẫn sẽ ít thôi… Tôi còn phải viết và đọc sách nữa mà, hơi đâu mà làm video phục vụ người khác. Có thể sau này, khi đã chán chê chẳng còn gì làm, tôi sẽ chuyển hẳn sang làm TikTok. Viễn cảnh ấy thật tươi đẹp, trong trường hợp TikTok không bị thoái trào và việc viết văn của tôi vẫn mù mịt, không có tương lai.


    Ngày 10 tháng Năm năm 2025,

    Bây giờ là tám giờ mười sáu phút sáng. Đêm qua trời mưa to, nhưng sáng ra đã tạnh và không khí tươi mát ngay khi ta bước ra mở cửa. Người ta đi chậm để né những vũng nước.

    Tối qua, tôi đọc truyện ngắn “Tình yêu” của Chekhov, có một đoạn rất hay thế này:

    Nàng cầm một cuốn sách, ngồi đối diện với tôi và bắt đầu mấp máy môi… Tôi nhìn cái trán hẹp của nàng, đôi môi mấp máy và nghĩ. “Nàng hai mươi tuổi… – Tôi nghĩ. – Nếu so nàng với một chàng trai trí thực tầm tuổi ấy thì sự khác biệt mới lớn làm sao! Ở chàng trai nào trí thức, nào chính kiến, nào trí tuệ.”

    Nhưng mà tôi bỏ qua cho sự khác biệt đó, cũng như bỏ qua cho vầng trán hẹp và cặp môi mấp máy… có lần, tôi còn nhớ, vào cái thời ve gái của mình, tôi chia tay với phụ nữ vì những vết bẩn trên tất, vì một lời nói ngu ngốc, vì hàm răng không sạch, còn bây giờ tôi tha thứ tất: cả những cái ngáp, sự lộn xộn với cái mở nút chai, cả tính luộm thuộm, những cuộc nói chuyện dài dòng về một việc nhỏ nhặt. Tôi bỏ qua tất cả một cách vô thức, không bắt lí trí phải phục tùng, như thể những khiếm khuyết của Sasha là khiếm khuyết của tôi. Có nhiều cái trước đây làm tôi khó chịu, bây giờ tôi lại thấy thông cảm, đôi khi thậm chí thấy khoái chí. Cái lí của sự tha thứ ấy tất cả nằm ở tình yêu của tôi với Sasha, còn cái lí của bản thân tình yêu nằm ở đâu – quả thật tôi cũng không biết.

    và một đoạn khác trong truyện ngắn “Tài năng”:

    Nghe họ nói có cảm tưởng như trong tay họ là cả tương lai, tiếng tăm và tiền bạc. Và không một ai trong số họ lại nghĩ được rằng thời gian trôi đi, cuộc đời ngày nối tiếp ngày đang tiến dần đến buổi hoàng hôn, họ đã ăn bao nhiêu cơm thiên hạ mà vẫn chưa làm được gì; rằng cả ba người – đều là vật hy sinh của một quy luật hà khắc, theo đó, trong hàng trăm kẻ bắt đầu sự nghiệp với nhiều hứa hẹn, chỉ một, hai người là ứng đối được với đời, tất cả đám còn lại rơi vào lỗi thời, chết dần, chết mòn sau khi đã diễn xong vai trò làm miếng thịt cho những khẩu đại bác… Họ đang vui vẻ, hạnh phúc và dũng cảm nhìn thẳng vào đôi mắt của tương lai.

    ***

    Thông thường thứ Bảy là ngày chay tịnh của tôi. Tôi sẽ gần như ngắt kết nối với mạng xã hội, hạn chế sờ vào điện thoại tối đa. Tuy nhiên, hôm nay tôi đã động khá nhiều…

    Tôi vừa từ thư viện về. Tôi dùng thẻ thư viện của Hương, đáng ra tôi đã phải xuống tiền sảnh để gia hạn thẻ nhưng vì hàng chờ quá dài, tôi tỏ ý ngần ngại và cô thủ thư đã châm trước cho tôi.

    “Bình thường là phải trình căn cước công dân các kiểu đấy nhé,” cô thủ thư cười nói.

    “Ôi giời, cô chẳng nhẵn mặt cháu rồi!”

    Tôi mượn Sông Đông êm đềm, tập một – gần 700 trang, Những linh hồn chết của Gogol – tôi nghĩ mình cần đọc lại cuốn này, và cuốn Nghệ nhân và Margarita của Bulgacov. Tôi nghĩ mình sẽ xử gọn 3 cuốn này trong 2 tuần.

    Ngoài trời âm u, màn trời xám xịt trông ảm đạm, nhưng gió mát như phe phẩy lòng người, khiến ta những muốn nhắm mắt lại và mường tượng mình đang ở trên một thảo nguyên rộng lớn lắm, những đàn bò thong dong gặm cỏ. Tôi còn tạt vào Nhã Nam, cơ sở Khương Đình. Hiệu sách vắng teo, khi tôi bước vào, có một người phụ nữ dong dỏng cao, ngực lép kẹp, mặc chiếc áo crop-top đen, đang đứng bên hai đứa trẻ, một lớn một nhỏ, có vẻ là hai anh em. Cô ta trông không giống mẹ của hai đứa bé, chị gái cũng không – có lẽ là một người dì.

    Tôi chọn Dưới bóng những cô gái đương hoa của Proust. Gáy sách đã bạc phếch qua thời gian. Tôi còn nhớ khi tôi tới cơ sở Nhã Nam này lần đầu vào ba năm trước, cuốn sách này nằm chỏng chơ trên kệ cao nhất, ở hàng VĂN HỌC KINH ĐIỂN. Sau đó, nhiều lần tôi tạt qua và đến bây giờ, nó vẫn im lìm như thế. Cuối cùng, tôi đã rút nó khỏi kệ, chà chà tay lên lớp bìa mạ bóng, đọc hú hoạ vài trang, rồi kẹp nó cạnh nách, tôi bước sang kệ bên cạnh.

    Tại đây, tôi khom người xuống và đập vào mắt tôi là cuốn Thư gửi nhà thơ trẻ của Rainer Maria Rilke. Cuốn sách rất rẻ, tôi đã định mua, nhưng đột nhiên tôi nghĩ mình nên ngồi xuống và thử đọc trước một vài dòng. Tôi lướt một lèo hơn 100 trang trong chừng 10 phút, và đây là thứ tôi cóp nhặt lại:

    Ông hỏi thơ ông có hay không. Ông hỏi tôi điều đó. Ông đã hỏi những người khác trước đó. Ông gửi chúng đến các tạp chí. Ông so sánh với những bài thơ khác, và ông lo lắng khi các chủ biên khước từ những cố gắng của ông. Bây giờ (vì ông cho phép tôi có lời khuyên) tôi mong ông hãy bỏ hết những chuyện ấy đi. Ông đương nhìn ra ngoài, và trên hết đó là điều ông không nên làm lúc này. Không ai có thể khuyên bảo và giúp đỡ ông cả, không ai. Chỉ có một cách mà thôi. Hãy đi vào bên trong mình. Hãy khám phá cái nguyên cớ bắt buộc ông phải viết; hãy kiểm tra xem nó có cắm rễ vào chốn sâu nhất trong trái tim ông không, hãy thú nhận với chính mình rằng liệu ông có chết hay không nếu không được viết? Trên hết, hãy tự hỏi vào giờ tịch mịch nhất trong đêm: tôi có phải viết không? Hãy đào sâu vào chính mình để có một lời đáp sâu. Nhược bằng nó là khẳng định, nhược bằng ông được đáp lại câu hỏi nghiêm túc này với “tôi phải” dứt khoát và giản dị, thì ông hãy xây dựng cuộc đời ông quanh sự tất yếu ấy; cuộc đời ông, đến tận giờ phút hững hờ và thấp hèn nhất của nó, phải trở thành dấu hiệu và chứng tích của thôi thúc ấy. Rồi hãy gần gũi tự nhiên hơn. Rồi hãy thử, như con người đầu tiên, nói về những gì ông thấy và sống và yêu và mất. Đừng làm thơ tình; ban đầu hãy tránh những hình thức đã quá quen thuộc và bình thường: ấy là những hình thức khó nhất, bởi cần một sức lực to lớn chín muồi để đưa ra được cái gì riêng nơi truyền thống tốt đẹp và phần nào rực rỡ đã xuất hiện vô vàn. Thành thử ông hãy tránh xa những mô típ chung mà về với những mô típ cuộc sống hằng ngày của ông mang lại; hãy miêu tả những nỗi buồn và ước muốn của ông, những ý nghĩa thoáng qua và lòng tin vào một cái đẹp nào đó – hãy miêu tả tất cả bằng lòng chân thành thắm thiết, thầm lặng, khiêm cung và hãy dùng những thứ quanh mình, những hình ảnh trong mơ và những đối tượng của ký ức để bộc lộ bản thân. Nếu cuộc sống hằng ngày của ông có vẻ nghèo nàn thì ông đừng trách nó; hãy tự trách mình, tự nhủ mình không đủ thi sĩ để gọi lên những phong nhiêu của nó; bởi đối với kẻ sáng tạo thì chẳng có cái gì là nghèo nàn và chẳng có chốn nào là nghèo nàn, xoàng xĩnh. Và ngay cả khi ông ở trong tù với những bức tưởng ngăn không cho bất kỳ âm thanh nào của thế giới lọt vào các giác quan – chẳng phải ông vẫn luôn còn đó tuôi thơ, thứ của cải vương giả quý báu, cái kho tàng kỷ niệm đấy ư? Ông hãy hướng sự tập trung vào đó. Hãy tìm cách vực dậy những cảm giác đã chìm của dĩ vãng xa xôi; nhân cách ông sẽ trở nên rắn rỏi hơn, nỗi cô đơn của ông sẽ mở rộng và trở thành một nơi trú ngụ dưới bóng tà huy, nơi những ồn ào của người khác lướt qua cách xa. Và khi từ sự hướng mình vào bên trong này, từ sự chìm vào thế giới của riêng mình này mà thơ đến, thì ông sẽ chẳng màng đến việc hỏi bất cứ ai đó có phải là thơ hay hay không nữa. Ông cũng sẽ không tìm cách khiến mấy tập san để ý đến các tác phẩm ấy: bởi ông sẽ thấy trong đó những tài sản tự nhiên thân yêu của mình, một mảnh và một giọng nói của cuộc đời mình. Một tác phẩm nghệ thuật hay khi nó được tạo ra từ sự tất yếu. Đánh giá nó nằm trong bản chất của nguồn gốc của nó: không có đánh giá nào khác. Bởi vậy, thưa ông, tôi không có lời khuyên nào khác hơn là: hãy đi vào chính mình và xem xét những tầng sâu nơi cuộc đời ông khởi nguồn; ở nguồn của nó ông sẽ tìm được lời đáp cho câu hỏi của ông có phải viết hay không. Nó như thế nào thì ông hãy nhận lấy nó như thế ấy, đừng suy diễn. Có thể nó sẽ nói ông được gọi làm nghệ sĩ. Vậy thì ông hãy nhận lấy số phận ấy và gánh vác nó, sức nặng và sự lớn lao của nó mà không bao giờ đòi hỏi cái phần thưởng có thể đến từ bên ngoài. Bởi chưng kẻ sáng tạo phải là một thế giới của riêng mình và tìm mọi thứ bên trong mình và trong cái tự nhiên ấy mà y đã gắn mình vào đó.

    Nhưng có thể sau cuộc sa vào chính mình và sự đơn độc của mình này ông sẽ phải từ bỏ ý định trở thành thi sĩ (như đã nói, chỉ cần cảm thấy có thể sống mà không viết là đủ để không nên viết nữa). Ngay cả thế đi chăng nữa sự soi chiếu mà tôi mong ở ông cũng sẽ chẳng vô ích. Dù thế nào cuộc đời ông cũng sẽ tìm được những nẻo đường riêng, từ đó mà đi tiếp, và tôi xin chúc, nhiều hơn tôi có thể nói, rằng những con đường ấy sẽ tốt lành, phong phú và thênh thang.

    Tôi biết nói gì hơn? Mọi thứ đáng nhấn mạnh đều đã nhấn mạnh rồi; sau cùng tôi chỉ muốn khuyên ông hãy lặng lẽ và nghiêm túc mà đi đến cùng sự phát triển của chính mình; không có cách nào quấy rầy nó hơn là nhìn ra ngoài và mong lời đáp từ bên ngoài cho những câu hỏi mà hoạ chăng chỉ những tình cảm trong thâm tâm ông vào giờ khắc lặng lẽ nhất mới có thể trả lời.


    Ngày 11 tháng Năm năm 2025,

    Lạnh. Lá cây rụng đường những vũng nước. Vườn hoa nhãn cạnh phòng trọ tôi nở rộ từng búp to màu xám trắng như những chùm pháo hoa. Còn gió lặng, nhưng se se mát và làm ta sảng khoái như vừa bước ra khỏi tiệm gội đầu.

    Tôi đã dậy từ lúc 6 giờ. Hôm nay là Chủ Nhật, một ngày rảnh rang. Thật may mắn nếu có một Chủ Nhật không chương trình, không dự định, hoàn toàn bỏ trống; ta có thể thoải mái nhẩn nha bao lâu tuỳ thích, đọc sách cả buổi sáng, viết một chút vào buổi trưa rồi lại đọc vào buổi chiều. Tôi cần đi cắt tóc hôm nay, đầu tóc bờm xờm như miếng giẻ lau rồi, rũ xuống ngang sống mũi, gây ngứa ngáy, tự tôi cũng mường tượng được bản thân trông nhếch nhác và cẩu thả mức nào.

    Ngày hôm qua, tôi đã đọc hai truyện vừa của Chekhov: Hoa nở muộnCuộc đấu súng. Truyện đầu hay hơn, nhưng cái kết khá vồ vập, như thể Chekhov bị giục phải viết cho xong cái kết. Truyện sau thì dài hơn 100 trang lận, tôi đã mất hơn 2 tiếng để ngốn cho xong: nó là tổng hợp của Cha và con, Anna Karenina, Giáo dục tình cảm trong cùng một tác phẩm. Tôi không hài lòng với cái kết của truyện này, nhưng tôi sẽ cần đọc lại để nhìn nhận nó một cách triệt để hơn, ở một bình diện trung thực hơn.

    Có lẽ tôi sẽ nghỉ viết truyện một thời gian. Để xem nếu không viết tôi có sống được không… Tạm thời tôi sẽ chỉ ghi lại những ấn tượng, những suy nghĩ, quan sát của tôi hằng ngày ở đây.

    ***

    Khi tôi và Hương bước ra đường thì trời lấm tấm mưa, gió lạnh thổi tới làm nổi da gà. Chúng tôi ra quán trà đá và nghĩ xem hôm nay nên ăn gì. Tôi không thích ăn bún chả nên tôi bảo Hương đừng vào quán bún chả cạnh quán trà đá, nhưng sau rốt cô vẫn vào. Tôi mua một bánh mì của thương hiệu không quen biết kèm một hộp sữa Vinamilk, thanh toán tiền (chủ quán bún chả đồng thời là chủ tiệm tạp hoá) và tiến vào ngồi xuống đối diện Hương.

    Chúng tôi ăn. Chiếc bánh mì mười nghìn có lẽ năm nghìn là tiền không khí: nó bé bé, tròn tròn ngang một chiếc bánh dày, bên trong nhân nước sốt sền sệt, vị hăng hăng mùi bò bít tết. Trong lúc chúng tôi ăn, bà chủ quán bất ngờ khen Hương:

    “Ô con bé này có cái nét rất xinh nhé!”

    Hương nhũn nhặn mỉm cười, tiếp đón lời khen như một chuyện gì bình thường lắm.

    “Trông rất tự nhiên,” bà chủ quán nói thêm.

    “Thế là lãi được mấy chục triệu rồi,” người chồng, một bác trung niên tầm ba nhăm tuổi, đang ngồi nướng thịt cạnh cửa ra vào, bỗng bình thêm vào. Và có vẻ bác ta sợ chúng ta chưa hiểu ý của bác (quả thật tôi không hiểu), bác tiếp:

    “Đỡ được mấy chục triệu đi sửa mặt. Giờ chúng nó sửa đầy ra, nâng cái mũi thôi ít cũng phải ba, bốn chục triệu.”

    “Độn cái cằm nữa thì…” Hương cười nói.

    “Nhưng mà hại lắm, biến chứng đầy ra. Nó cũng như răng giả ấy, sau này hỏng lại phải làm lại.”

    “Mà trên cả là trông nó không thật, nhỉ?” bà vợ, lúc này đã trở ra từ gian trong, xởi lởi nói.

    Tôi nhìn bà ta. Bà ta cao chừng gần mét bảy, mặc áo liền quần ở nhà, thân hình phục phịch, mặt mũi phương phi. Ban nãy khi tôi mua bánh mì, bà ta nhìn tôi và đùa rằng: “Trai đẹp mua gì đấy, chọn đi!” Những người bán hàng như này tôi đã gặp vô kể…

    Có vẻ nhìn thấy tôi và Hương đi cùng nhau, một cặp đôi, nên vợ chồng chủ quán bỗng nhớ ra câu chuyện về một cặp đôi khác, cũng hay đến quán. Người bạn trai bằng tuổi tôi, còn người bạn gái tôi không rõ. Tôi chỉ biết, theo lời bà chủ quán, rằng anh ta rất đẹp trai, còn cô người yêu thì cũng xinh gái. Tóm lại, họ là hai con búp bê được bán theo cặp, tức là, hết sức đẹp đôi. Họ thường xuyên đến quán ăn và có lẽ cũng đã thoải mái tận hưởng những lời khen ngợi có phần xu nịnh của bà chủ quán này.

    Thế rồi anh chàng kia phát hiện mình bị ung thư phổi, sau khi chia tay cô nàng được một tháng. Họ vẫn nhắn tin qua lại với nhau. Tôi đồ rằng họ vẫn làm tình với nhau là đằng khác. Câu chuyện này nghe thật mơ hồ và có vẻ gì không thật như những mô típ bi kịch trong tiểu thuyết vậy…

    Khi chúng tôi trở về, trời đã sáng hẳn, đường ngõ êm ru: họ còn chưa ngủ dậy hết.

    “Anh chàng kia chắc không còn sống được bao lâu nhỉ?” tôi nói với Hương. “Mà nghe cứ bịa bịa thế nào ấy, còn trẻ, tức là bằng tuổi mình bây giờ, lại không hút thuốc, mà bị ung thư phổi.”

    “Chẳng có gì lạ cả!” Hương nói, vẻ khinh khỉnh. “Anh có nhớ mấy đứa trẻ con đầu trọc lóc, cao tầm này này, mà bị ung thư hết thảy không… Di truyền, do gen cả đấy!”

    Tôi ậm ừ không đáp, Hương nói tiếp:

    “Người Việt Nam mình hầu như lúc phát hiện ung thư thì đã giai đoạn cuối cả rồi. Chỉ có những người giàu, những người thừa thời gian và tiền bạc để đi khám định kỳ sáu tháng, một năm một lần thì mới phát hiện sớm để điều trị. Mà… cũng chưa biết được… ung thư phát tác nhanh lắm, như ông em ấy…”

    Tôi nhớ lại câu chuyện về ông của Hương. Ông ngoại hay ông nội tôi không nhớ rõ, chỉ biết hai người mất cùng năm thì phải. Hình như ông đã sống một cuộc đời khoẻ mạnh, sức lực tràn trề, và từ khi phát hiện mình bị ung thư cho tới ngày ông mất chỉ cách nhau vỏn vẹn vài ba tháng. Lúc ấy, căn bệnh khả năng đã di căn hết thảy.

    “Bác của thằng T. ấy, anh từng kể với em rồi, cũng bên quân đội như bác anh, tức là vừa về hưu xong thì phát hiện bị viêm gan,” tôi nói với Hương sau một thoáng im lặng. “À không… suy gan thì phải…”

    “Suy gan thì chỉ còn nước chết thôi.”

    “Ừ, suy gan. Vậy thì phải thay gan. Phải bỏ ra ba, bốn tỷ gì đấy, và sống được thêm ba năm. Đấy là chưa tính tiền thuốc thang nhé.”

    Hương vẫn bước đi đều, nhón lên trước tôi vì đây không phải lần đầu tiên cô nghe chuyện này.

    “Biết đâu ba năm còn lại đấy là ba năm tuyệt nhất đời người!”

    “Anh toàn nói nhảm!”

    “Thật thế, nếu biết chỉ còn ba năm để sống thì sẽ chẳng còn sợ gì cả. Thử hết cái này cái kia. Nhưng phải có tiền.”

    “Vậy là làm được bao nhiêu nuôi bệnh viện hết!”

    Chúng tôi im lặng và bước tiếp. Đằng xa, tôi có thể thấy những đám mây đen đang ngùn ngụt kéo đến. Mây trôi nhanh, lá cây lao xao và tiếng chim chích choè rả rích bên vườn. Những con chuồn chuồn đã biến đâu mất, để trơ ra một khoảng không thinh lặng, nhàn nhạt và chậm rãi.

    Tự dưng tôi nghĩ tới câu chuyện người béo và người gầy đã đọc của Chekhov hôm qua, và bằng giọng trầm đục, hơi khàn, tôi bắt đầu kể cho Hương.

    “Em biết không,” tôi khoác vai cô và nói, “người béo luôn giàu hơn người gầy!”

    “Tại sao?” cô nói.

    “Người béo đã ngồi ở đâu thì sẽ ngồi rất lâu, cố thủ ở một vị trí luôn. Họ sẽ ngồi chắc đến mức tưởng chừng không lay chuyển nổi, không rời ra khỏi cái ghế họ đã ngồi vào. Còn người gầy thì… cứ chạy lăng xăng khắp nơi, chẳng kiên tâm với một thứ gì, nên nghèo thôi…”

    “Anh lấy cái triết lý đó ở đâu ra vậy?”

    “Chính anh cũng thấy nó ngớ ngẩn, nhưng em thử nghĩ xem, nó cũng phần nào đúng đấy.”

    “Thế tức là em giàu?”

    “Ừ, em giàu, còn anh nghèo!”

    Hương cười và phẩy tay coi như chuyện đùa. Tôi nói thêm:

    “Nhưng đừng mừng vội! Thưa ngài! Người béo sẽ tích luỹ được một đống gia sản kếch xù, rồi đẻ ra kẻ gầy, thế là kẻ gầy sẽ ăn chơi tiêu tán hết. Cái đó nhằm lấy lại thế cân bằng!”

    Nghe tới đây, Hương nhìn tôi một cách khinh khi và nhếch mép lên. Có vẻ cô đang thấy lý thuyết tôi đưa ra thật nực cười và nhảm nhí, cũng như chính các độc giả vậy, và thú thật, tôi cũng thấy nó nhảm nhí nữa là.

    “Chẳng phải tự nhiên mà người ta nói, ‘Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời’. Đời ông cha làm lụng quần quật, ky bóp từng li từng tí để đời con cháu chơi bời thả cửa. Sự giàu có ẩn chứa mầm mống suy diệt của chính nó. Chỉ có thiểu số thoát khỏi quy luật này, hãy gọi là những gia tộc thịnh vượng đời đời, họ duy trì được khối tài sản đáng nể qua nhiều thế hệ và an tâm tận hưởng niềm sung sướng của sự đủ đầy vật chất. Họ chẳng cần tìm cách gia tăng khối tài sản kia, chỉ cần duy trì thôi là đã mãn nguyện rồi.”

    “Cái này thì em công nhận.”

    “Ừ. Nhưng ở Việt Nam họ không gọi là gia tộc, mà gọi là dòng tộc… à không… dòng họ thôi! Như thằng Cường ấy, họ nội nhà nó là Nguyễn Quang. Thằng em nó, do chính nó đặt tên, là Nguyễn Quang Cường Thịnh. Cứ nhắc tới ông em là phải nhắc tới ông anh!”

    “Ôi trời! Anh nhắc lại câu chuyện này ít phải chục lần rồi,” Hương bĩu môi và nói trong lúc tra chìa khoá vào ổ. “Có gì khiến anh tự hào về nó thế? Về bạn Cường của anh?”

    “Có gì đâu,” tôi uể oải đáp, hơi thất vọng. “Chỉ là liên tưởng thôi, em biết đấy, chuyện này nối sang chuyện kia.”

    Chúng tôi im lặng leo bốn tầng gác, nhào vào trong phòng và đổ vật xuống đệm. Tôi vùi đầu vào mái tóc của Hương, khẽ dụi dụi mặt vào đó. Cả hai chúng tôi cùng thở dốc, và cô bảo:

    “Hít sâu vào. Hít sâu vào.”

    “Bây giờ em làm gì?” tôi hỏi, khi nhịp thở đã đều đặn trở lại.

    “Em xem phim!”

    “Em xem toàn tua thì có gì hay… Mà này, lại phim bác sĩ à? Park Shin-hye, cô này vẫn đóng phim thanh xuân vườn trường à?”

    “Ừ, giờ em xem thấy nó diễn cũng bình thường.”

    “Anh thì không xem được mấy dạng này nữa.”

    “Em cũng thế. Em toàn tua thôi!”

    “Thế em xem để làm gì?”

    “Em á? Giết thời gian, có thế thôi. Phim nào mà em thích thì em xem không sót một giây, nhưng mấy phim này thì chỉ xem lớt phớt. Đoạn nào thích thì xem, không thích thì tua.”

    Tôi thầm nghĩ việc này thật vô bổ. Thì giờ đang trôi qua, tuổi trẻ dần lùi về sau, thế mà chúng tôi vẫn cứ dán mắt vào điện thoại, vẫn áp lực vì không kiếm ra tiền, vẫn thất vọng vì bản thân không chịu cố gắng. Mỗi lần chúng tôi nói với nhau về tương lai, về những hoạch định, mắt cả hai đứa đều sáng lên: chúng tôi mơ một ngôi nhà nhỏ, một phòng đọc sách dành riêng cho tôi. Tôi thì mơ về một căn gác bên hồ, nơi tôi có thể ra đó mỗi sáng, cảm thấy mình sống giữa sông nước và điềm nhiên hút thuốc. Lúc ấy có khi tôi lại không viết lách nữa mà chỉ nhẩn nha giết thời giờ bằng những trò tiêu khiển vô bổ, vô hại.

    Tôi định bụng chỉ cho Hương một vài bộ phim lẻ, những phim kinh điển, nhưng tự dưng tôi chùn lại và không nói nữa. Khả năng cô nàng sẽ không thấm nổi cái gu phim của tôi. Đó là những bộ phim tẻ nhạt với phần đông mọi người.

    Chúng tôi hôn nhau ba cái, có lẽ, rồi tôi trở dậy, nhẹ nhàng tiến về phía bàn viết…

    “Anh không bật quạt cho em à?”

    “Trời mát mà.”

    “Thế anh mở cửa sổ ra cho thoáng.”

    “Ừ.”

    Tôi mở hé cửa sổ, đủ để thấy bên ngoài những cành nhãn đang la đà, đủ để nghe tiếng xe cộ ngoài đường cái vẳng lại, và trên cao tiếng chuông sáo nhà bên đưa nhịp dìu dặt, thong dong. Không thấy chim đâu nhưng tiếng hót của chúng thì rả rích liên hồi. Tôi thở dài thật khẽ và bắt đầu viết.


    Ngày 12 tháng Năm năm 2025,

    Hiện tại tôi đang đọc lại cuốn Những linh hồn chết của Gogol.

    Hôm nay tôi dậy muộn, người mỏi nhừ, đầu nhức và đau họng. Tôi không muốn viết gì vào lúc này, vậy mà hôm nay tôi rảnh đấy. Bây giờ tôi phải nghĩ xem mình sẽ làm gì cho hết thì giờ.

    ***

    Ngày nhỏ, tôi có một người bạn thân, tên là Tuấn Anh, nhưng tất cả mọi người đều gọi nó bằng biệt danh “Bờm” nên tôi cũng gọi theo. Tôi nhớ lần duy nhất tôi gọi nó bằng tên thật là vào năm lớp bốn, đó là một sự cố tình, nhưng ngay khi chữ “Tuấn Anh” bật ra khỏi miệng thì tôi thấy gượng gạo, lúng túng thế nào ấy. Thế là từ ấy trở đi tôi chỉ gọi nó đơn giản là Bờm.

    Bờm hơn tôi hai tuổi. Nhà nó với nhà ông bà tôi có thể xem là sát vách, chỉ cách nhau một giậu mùng tơi thôi. Hiển nhiên, số phận định trước chúng tôi sẽ thành bạn thân. Tôi chỉ nhớ lờ mờ ngày bé, Bờm có một hội bạn rất đông là những thằng chung lớp nó, thường tụ tập trước cánh cổng bằng thép sơn màu xám tro để rủ nó đi chơi. Ngay từ thời ấy, nó đã cao lớn nhất cả bọn, còn tôi thì lọt thỏm giữa cả đám ấy. Mặc dù kém tuổi, đôi khi nó cũng dẫn tôi theo cùng.

    Từ bấy đến giờ đã thấm thoắt gần hai thập kỷ. Bờm vừa mới đi nghĩa vụ về. Nó vẫn hiền lành, nhả nhớt và dường như chưa từ bỏ được cuộc đời ve gái. Có vẻ đối với nó gái gú vẫn chiếm một phần quan trọng của lạc thú cuộc đời. Tuy vậy, nó có một mối tình keo sơn với một cô sinh viên nông nghiệp, cô này bằng tuổi tôi, người mảnh khảnh, nước da tai tái và thường cụp mắt xuống như con rùa rụt cổ mỗi lần gặp tôi. Tất nhiên, đó chẳng phải do cô ta ngại tôi, chỉ là cái thói của cô ta nó thế. Tôi ngờ rằng với bất cứ ai không đủ thân quen, cô ta đều giữ một điệu bộ dè dặt, cả thẹn như vậy. Cô ta rặt gái quê.

    Cuộc tình nào trông bề ngoài đều rất êm thấm. Cuộc tình giữa Bờm và T. cũng vậy. Vẫn có cãi vã, bất đồng, giận dỗi, thường xuyên là đằng khác, nhưng hiển nhiên cô nàng không thể từ bỏ anh bạn thân của tôi. Cô ta đã yêu bằng sự cả tin ngu ngốc, dâng cả tấm lòng chất phác và dung dị của một thiếu nữ mới vào đời – tất cả những điều trên sẽ được định đoạt bằng một cái đám cưới. Hình như cô nàng sắp dọn về nhà Bờm ở hẳn. Mong là không có những chuyện trái khoáy khiến cô ta phải xách vali, bước lên xe khách về quê của mình.

    Còn về phần mình, Bờm khả năng sẽ cưới cô gái. Nó không hẳn yêu cô ta đến mức rồ dại, nó không thuộc tuýp si tình, trái lại, là một con người khá thực tiễn. Đến giờ nó vẫn công kích tôi về vụ tôi chọn ở lại Hà Nội sau khi tốt nghiệp mà không dọn về quê sinh sống. Hà Nội, theo nó, là bụi mịn, tắc đường, chèn ép, tranh đua, và hơn cả là xa gia đình. Cu cậu này sẽ sống một cuộc đời thong dong, hẳn thế, nhưng là một cuộc đời tầm thường và vô vị. Tuổi thanh niên sẽ lướt ngang đời cu cậu mà không để lại ấn tượng gì đáng kể, và, đáng buồn hơn hẳn, tính cách của cu cậu có thể thôi biến chuyển từ sau 30 tuổi.

    Theo tôi, bét cũng phải trụ lại Hà Nội được vài năm. Dốt đến mấy cũng phải trụ lại. Trừ phi được gia đình chống lưng, cắt đặt đâu vào đấy, thì ta có thể thoải mái đem pass hết đồ đạc trong căn trọ đi, dọn về quê đi làm gần nhà, ngày ăn ba bữa, nghỉ trưa không ngủ ở công ty mà về nhà ăn cơm cùng cha mẹ, đánh một giấc và chiều đi làm tiếp. Xăng đổ năm mươi nghìn đi cả tuần mới hết. Đến tối đi đá bóng, bida, uống cà phê, đọc lớt phớt vài cuốn sách, học tiếng, chơi game, v.v. Cuộc đời như thế thì còn gì để bàn… Lắm khi tôi cũng ước.

    Từ khi chuyển sang công việc mới, tôi gần như không có tiền, và vì không có tiền nên tôi gần như thờ ơ với tiền. Mỗi lần về quê đi chơi với nhau, Bờm luôn tỏ ý khó hiểu, nhăn mặt cau mày, thậm chí cười cợt vì tôi gần như một thằng khố rách áo ôm, không có nổi một cắc bạc trong người. Có lần tôi chơi thua bida và phải thanh toán tiền bàn, tôi mới phát hiện mình không đủ tiền trong tài khoản, nó cười sặc sụa vào mặt tôi. Nhưng tôi thì chẳng cảm thấy ngại, cũng chẳng giận nó, tôi chỉ thấy nó đần đần thế nào ấy. Nó đã thanh toán hộ tôi và sau khi về nhà thì tôi chuyển lại, nhưng tôi chán vụ đi bắn bida với nó luôn: nó luôn thích đánh theo lối ai thua trả hết, mà tôi, người chỉ bắn bida khi về quê và chỉ bắn với Bờm để chiều lòng nó (làm gì còn chỗ nào để chơi!), thì luôn là người thua. Một kiểu bắt nạt của mấy thằng lọc lõi, nhưng âu cũng là chuyện thường tình, phàm đã là thể thao thì cứ phải cược tí tiền vào nó mới căng! Còn nếu bạn tỏ ý muốn chơi cưa đôi, chia đều mỗi bên 50-50, thì bạn là thằng lom dom, thằng hèn, kiểu thế… Về quê bạn sẽ gặp rất nhiều thành phần kiểu ông bạn Bờm của tôi, nhưng ngoại trừ những nết xấu đó ra thì chung quy gã là một thằng trai khá được.

    Dạo gần đây tôi ăn cơm ở nhà, sáng hầu như tôi nhịn, từ công sở về tới phòng là tôi lập tức ngồi vào bàn viết, mà toàn viết những cái linh tinh, nhăng nhít gì đấy. Mỗi khi người ta hỏi tôi tại sao lại cứ lông bông như thế, không chịu chọn lấy một miếng nghề cho ổn định, thì tôi bắt đầu rao giảng về chủ nghĩa tự do, về lý tưởng, về tuổi trẻ sục sôi, về “vốn sống quan trọng hơn tiền bạc”, về theo đuổi đam mê, về việc con người ta phải làm một công việc gì đó giá trị và mang tính sáng tạo, về việc tự cho mình một năm rèn giũa viết lách – nhưng hiển nhiên chẳng ai thèm hiểu tôi đâu. Tôi thoáng thấy trong ánh mắt họ sự dè bỉu, khinh khi và tôi biết trong thâm tâm họ ngờ tôi là một thằng điên.

    Sau khi rời bỏ công việc hiện tại, tôi nghĩ mình có thể sống tốt, thậm chí dư dả, với những gì tôi thu hoạch được ở đây. Tôi đã gom được tất thảy những kỹ năng tôi cần cho công việc marketing của mình, công việc tôi chỉ đi làm từ thứ Ba đến thứ Sáu, tức tôi có 3 ngày cuối tuần rảnh rang để viết gì tuỳ thích, đi đâu thì đi hoặc đọc sách cả ngày nếu muốn. Trước giờ, tôi rất ngại nói trước ống kính. Nhưng khi người ta bảo tôi hãy livestream đi, tôi cũng thử, và tôi thấy nó thật bình thường – nhất là khi ta nghĩ chẳng có ma nào xem đâu. Khi ta biết không có ai xem, cũng như khi tôi viết những dòng này mà chẳng có ai đọc, cảm giác tự nhiên và khoan khoái lắm. Nếu giờ tôi viết vì tiền, người ta sẽ ép tôi viết theo mẫu này, văn phong kia, không được quá bao nhiêu từ, đừng miêu tả thiên nhiên quá nhiều, khi ấy tôi sẽ viết một cách lãnh đạm.

    Tuổi trẻ cứ chầm chậm lướt đi, mọi thứ bị bỏ lại đằng sau, ông bà tôi càng ngày càng già, tài chính ngày càng đi xuống, còn trong cuộc chiến lập nghiệp trên thủ đô như một màn thử lửa, trong số 100 kẻ ngoan cố trụ lại thì chỉ có 1, 2 người là thực sự ứng đối được với đời, thực sự thành đạt, còn lại tất cả thui lủi về quê cam phận con sâu cái kiến. Còn tiền bạc ư? Mỗi lần nghĩ tới những con người tầm thường, những kẻ ngu dốt, trí tuệ bậc trung, vẫn đang kiếm hàng mớ tiền mỗi ngày – tôi đều thấy được an ủi. Tới những hạng như thế còn kiếm được tiền thì có gì mà phải sợ hả tôi ơi…


    Ngày 13 tháng Năm năm 2025,

    Tôi còn nhớ một chiều tháng Tám vào cái năm đã xa khuất rồi, tôi đạp xe hơn chục cây số tới nhà của Phương Nam để thăm nàng. Nàng là cô con gái độc nhất của một bác thợ nề và một chị thợ may, gia tài vỏn vẹn của một miếng đất khuất sau luỹ tre cạnh đình làng, trên đó mọc lên một ngôi nhà một tầng trát vôi trắng tinh tươm, có một cửa sổ nhỏ với hàng chấn song sắt han gỉ là nơi tôi thường thấy mẹ nàng ngồi khâu vá. Nhiều khi, tôi bắt gặp nàng đang ngồi chống cằm ở khung cửa đó, nàng thấy tôi và nhoẻn miệng cười tươi tắn, hai bên má lúm của nàng co lại và đôi mắt trong veo như hồ nước mùa thu.

    Con đường xuôi xuống thị trấn trải dài như một dải băng, đồng mạ xanh mướt phủ kín hai bờ đê và những hàng cây bạch đàn rú rít khi tôi băng ngang qua cầu Mẫu Sáu. Dưới chân tôi, đám bèo trôi nổi, lắc lư giữa mặt nước đục ngàu màu đất sét, xa xa thấp thoáng bóng dáng một chiếc bè nhỏ, trên đó có hai nông dân đang vung tay thả lưới. Mái vòm cao ngất của chiếc cổng làng cùng cột mốc chỉ tên thị trấn hiện ra cho tôi biết mình sắp đến nơi, tôi hăng hái đạp nhanh thêm, nhanh nữa, lướt ngang những mái nhà lụp xụp được xây cất giống nhau như những anh em cùng một nhà, lướt ngang phố chợ ồn ào nhớp nhúa, lướt ngang nghĩa trang liệt sĩ, rồi ngang trường mầm non là nơi xưa kia tôi từng theo học, chiếc cầu trượt con voi bạc phếch, xây xước đã thôi được trọng dụng… Thu chưa đến nhưng đã ở trong lòng, vì bầu trời xanh ngắt điểm xuyết một vài ánh bạc của những chùm mây tản mác cô đơn, trên cao, tiếng diều sao đưa dìu dặt, đàn chuồn chuồn bay lượn lăng xăng vội vã như thúc giục con người đừng chậm trễ. Tôi đã bắt đầu mường tượng ra khuôn mặt của nàng, dáng nàng e ấp và giọng nói ngập ngừng của nàng khi đáp lời tôi, rồi tới những nụ hôn vụng dại, mùi hương ngai ngái của tóc nàng phập phồng dọc sống mũi…

    Tôi dừng xe ở khúc quanh, cạnh hàng bán chè và thấy Phương Nam đang đứng khép nép bên phía đối diện, váy đồng phục màu nâu dài quá đầu gối để lộ đôi cẳng chân thon thon, chiếc mũ vải rộng vành đội chếch sang bên, dây mũ chùng xuống dưới cằm nàng. Mắt nàng buồn, nàng ngó nghiêng, tay xoắn lọn tóc buông xoã ngang gò má. Tôi phấn chấn lao về phía nàng…

    “Lạnh không anh?” nàng hỏi tôi, cùng lúc vắt lên vai tôi chiếc khăn quàng len màu đen tuyền do nàng tự thêu lấy. Nàng nhón chân vì tôi cao hơn nàng cả cái đầu, ngay lúc ấy tôi tì tay vào lưng nàng rồi kéo lại sát cạnh.

    “Kìa, đang ở giữa đường đấy,” nàng nói giọng răn đe và toan bước đi…

    Nhà của nàng quả thật rất nhỏ và toả một mùi hương cũ kỹ. Đồ đạc trong nhà vỏn vẹn có một giường gỗ kê sát vách tường, một tấm gương con con viền đỏ thắm nằm chỏng chơ trên nóc chiếc TV lềnh kềnh, màn hình xám xịt như thể nó tự ý thức được sự cổ lỗ của nó. Nàng kéo tôi ngồi xuống cạnh giường và lật giở một cuốn tạp chí nhàu nát, nhiều trang đã bung chỉ và xộc xệch thò ra khỏi lề. Nàng bảo tôi nàng được dặn không nên để đàn ông ngồi chung giường với mình, nhưng với tôi thì nàng mặc kệ và tôi có thể thích làm gì nàng nếu muốn. Con người hẳn là một giống vật kỳ lạ, khi có được thứ hắn muốn rồi thì lại đâm ra chán ghét nó. Những đau đớn do dục vọng chất chứa trong tôi dường như biến mất và tôi chỉ thấy nàng lúc đó thật rạng ngời, thanh tân như một bông hoa huệ, nàng sáng bật lên khỏi cái nền u tối ảm đạm này…

    Trước khi ra về, nàng còn đặt vào tay tôi một xấp thư tay do nàng viết tặng tôi. Tôi ngắm nhìn những nét chữ thon thon như chính thân hình nàng, chỗ này nét thanh, chỗ kia nét đậm, bức thư này nàng viết nét thẳng, bức khác nàng lại đổi nét nghiêng – tất cả đều phảng phất bóng dáng của nàng. Nàng chào tạm biệt và hỏi tôi bao giờ sẽ gặp lại nhau. Tôi ôm nàng và hứa rằng hai tuần nữa sẽ từ thành phố trở về đây thăm nàng.

    ***

    Nàng và anh yêu nhau tha thiết như những người rất gần gũi, gắn bó với nhau, như vợ chồng, như những người bạn âu yếm. Họ cảm tưởng rằng chính số mệnh đã tạo họ ra cho nhau, và không thể hiểu rằng làm sao mà anh lại có vợ và nàng lại có chồng. Họ như hai con chim trời cùng đàn, một con trống, một con mái, bị bắt và đem nhốt vào hai cái lồng khác nhau. Họ tha thứ cho nhau tất cả những gì trong quá khứ mà họ cảm thấy ngượng ngùng, tha thứ tất cả những gì trong hiện tại và cảm thấy rằng mối tình này đã làm thay đổi hẳn cả hai người.


    Ngày 14 tháng Năm năm 2025,

    Video TikTok của tôi hôm nay được tận 20K mắt cơ đấy, từ 7 followers tăng thành gần 200 rồi. Chậc chậc… Đúng là vui thật, nhưng mà chính trong lúc vui tôi đã nghĩ tới chuyện niềm vui này rồi sẽ mai một. Tốt hơn hết là chỉ đăng những gì mình yêu thích, mình tâm đắc, tạm thời chưa lo nghĩ kiếm tiền vội. Bản thân tôi quan niệm thế này: bất cứ chuyện gì, đặc biệt là chuyện mà bạn là một tay mơ, chân ướt chân ráo bước vào, thì đừng vội mong trục lợi từ nó. Bạn cũng chẳng cần nghĩ tới chuyện cung cấp giá trị cho người xem vội – hãy làm hài lòng chính bạn trước. Làm hài lòng người khác là cái động lực không bền. Hãy coi kênh của bạn như một cuốn nhật ký. Bạn đâu viết nhật ký cho người khác đọc, phải chứ? Và kể cả không có ai đọc nó ngoài bạn, bạn cũng không lấy làm buồn phiền. Còn nếu họ biết, họ yêu mến những chia sẻ, suy tư của bạn, thì mừng cho bạn!

    Tôi ghét TikTok lắm! Công việc marketing của tôi ép tôi phải online cả ngày, mỗi chiều về nhìn vào thời lượng sử dụng điện thoại tôi chỉ muốn chặt phăng tay mình đi. Đôi khi tôi còn thấy bàn tay mình nhớp nhúa, ghê tởm chính mình, vì một ngày đã trôi qua rồi đấy, mọi thứ đang lùi dần về sau, nội dung thì đa phần sáo rỗng, giả dối, nghèo giá trị và thiếu đầu tư. Nếu có thể, tôi muốn cung cấp những nội dung thật chất lượng, những nội dung mà người ta phải gật gù, phải chững lại vài giây để suy ngẫm, phải lưu lại, và nội dung đó là từ đầu tôi mà moi ra: kiến thức của tôi, trải nghiệm của tôi, tất cả những gì tôi đã bỏ thời gian, công sức ra để đạt lấy… Kỳ lạ thật, những thứ vô bổ, tẻ nhạt, hợm hĩnh, giả dối, những thứ được làm ra cốt để giành giật sự chú ý từ bạn, thò tay vào túi của bạn, lấy đi những đồng tiền bạn khó nhọc kiếm ra… thì lại được hâm mộ, được hưởng ứng.

    Tự dưng tôi nhớ tới những nhà văn làm việc miệt mài trong thầm lặng, tới những khung cửa sổ mờ mờ ánh sáng leo lắt của ngọn nến bấc, của đèn dầu, về những con người vĩ đại đã kiên tâm theo đuổi sứ mệnh vĩ đại mà nghệ thuật đặt lên vai, ròng rã nhiều năm trời, trong tủi nhục, cô đơn, tự dằn vặt, tự nghi ngờ bản thân, không được ai biết đến, không có lấy một màn pháo tay… Họ cứ quần quật như thế, cho tới một ngày, một tác phẩm của họ, ở thời kỳ mà thiên tài trong họ bắt đầu chín muồi, tìm tới đúng tệp độc giả của nó cũng như được trình làng vào đúng thời điểm của nó, thì nó một bước đưa vĩ nhân trong căn gác xép kia lên tận mây xanh, như cơn gió đẩy cánh diều lên cao, cao mãi…


    Ngày 15 tháng Năm năm 2025,

    Nay mệt quá…

    Ồ, tôi đã bỏ viết mấy hôm nay và thấy mọi chuyện vẫn bình thường. Chỉ là tôi buồn chán hơn chút, trống rỗng hơn chút. Các bạn thử nghĩ mà xem, có tẻ nhạt không nếu ta ngày ngày vác xác tới công sở, chôn mình từ sáng tới chiều, bỏ lỡ cả bình minh lẫn hoàng hôn trong cảnh tắc đường, mà để làm gì cơ chứ? Thật may mắn nếu bạn yêu thích công việc mình làm, bạn được trao cơ hội để sáng tạo và phát triển, bạn không phải cầm điện thoại hay online quá nhiều. Tôi, cứ mỗi tối về, tôi chỉ muốn ngắt kết nối hoàn toàn với thế giới. Nhưng gần đây, chuyện đọc sách của tôi gặp vấn đề. Tôi không thể tập trung đọc trong trạng thái an tĩnh như trước nữa – tâm trí tôi luôn vận động, dòng suy nghĩ trong tôi rối ren, những con chữ lướt qua mắt tôi nhưng không đi vào đầu tôi…

    Tôi đang đọc Sông Đông êm đềm của Sholokhov. Quá dài, quá chán… Có lẽ nên gác lại và tìm một cuốn nào đó thú vị hơn.


    Ngày 16 tháng Năm năm 2025,

    Từ khi phát hiện ra TVE, tôi sẽ đọc kỳ hết tất cả tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của Gogol, Tolstoy, Zola. Tôi sẽ đọc thêm cả Issac Babel.

    … Cuộc sống phồn hoa đã hấp dẫn anh, đã có lúc anh quấn chiếc khăn quàng đẹp, đội chiếc mũ bảnh bao. Dễ bị cám dỗ lắm đấy, người ta có thể hạ mình xuống để vẽ những bức tranh nho nhỏ theo thời thượng, những bức chân dung nho nhỏ đắt tiền. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ làm hư hỏng tài năng đi thôi chứ không sao giúp nó phát triển được. Anh phải kiên nhẫn. Phải suy nghĩ trước mỗi tác phẩm, bỏ những cái lòe loẹt đi. Mặc cho kẻ khác kiếm nhiều tiền. Cái gì là của anh, của riêng anh, anh sẽ không bao giờ mất.

    – BỨC CHÂN DUNG, Nikolai Gogol


    Ngày 17 tháng Năm năm 2025,

    Thứ Bảy là ngày chay tịnh: không mạng xã hội. Nãy đọc sách xong ngủ mơ, trong mơ thấy mình đang đọc.

    Hôm nay đọc Bức chân dung của Gogol, Em làm ơn im đi được không của Raymond Carver (chẳng hiểu mấy), tập truyện ngắn và tiểu thuyết Người con gái viên đại uý của Puskin.

    ***

    Tối qua tôi đọc sách rồi ngủ quên lúc nào không biết. Nửa đêm sực tỉnh, nhổm dậy tắt điều hoà, thấy đèn học vẫn đang bật.

    Buổi sáng ngày nghỉ đón tôi bằng một cơn đau đầu và khàn giọng khủng khiếp. Chẳng thiết ăn gì. Nhưng rồi cũng đưa Hương đi ăn bát cháo. Chúng tôi ăn hai quả trứng vịt lộn, hai bát cháo sườn hết vỏn vẹn bốn mươi nghìn.

    “Quán này rẻ thật, ăn suất bún chả đã ba nhăm nghìn,” Hương nói với tôi trên đường về.

    Sau khi tống tiễn được cô nàng đi, tôi ngồi vào bàn và bắt đầu chữa đề cho học sinh. Dạy thông hai ca chiếm trọn cả buổi sáng, rồi tôi tắm rửa qua loa, ra quán trà đá ngồi, đọc nốt truyện Em làm ơn im đi được không? của Raymond Carver. Chừng hai mươi phút sau thì Hương tới, áo nắng màu xám trùm kín người, chỉ lộ ra hai con mắt to tròn, hai đôi mắt mà mỗi lần cãi vã tôi đều thấy chúng to và tròn hơn. Vẫn là quả sầu riêng hôm qua trong bọc ni-lông treo ở dưới chân, những chiếc gai tua tủa xuyên qua lần túi mỏng.

    Chúng tôi ăn ở một quán mì cay trên đường Triều Khúc, cạnh đó là một quán cơm rang. Tôi đang bị nhiệt và vốn không ưa mì cay lắm, nên tôi tạt qua gọi một suất dưa bò. Anh chủ quán, người cao gầy, gương mặt hiền lành, nói nhỏ nhẹ với tôi:

    “Ừ, cứ sang đi, tý anh bảo người bê đồ qua.”

    Ngay khi bát mì cay cấp 1 của Hương đặt xuống, bốc khói nghi ngót và lủi sủi bọt, tôi đã thấy một con tôm màu cam cam và biết chắc mình chuẩn bị phải bóc nó.

    Bữa ăn trôi qua rất chậm rãi. Quán đông, gồm nhiều bàn chữ nhật với hai cặp ghế đặt đối diện, còn sát vách tường và đi sâu vào gian trong sẽ thấy những bàn dài hơn, có những tấm đệm lót để ngồi bệt như những quán ăn của Hàn Quốc. Ngồi đó gần điều hoà hẳn sẽ mát hơn, nhưng không hiểu sao tôi không thấy ngồi bệt nên đã chọn một góc gần sát cầu thang, chỉ ké được chút gió từ chiếc quạt trần quay lờ đà lờ đờ trên đầu. Bên ngoài trời nắng chang chang, chốc chốc cậu trông xe lại mở cửa bước vào, chắc để tránh nóng. Nhìn mặt tôi đoán cậu ta không quá hai mươi tuổi, người hơi gầy, lưng gù, nhưng phảng phất nét cương nghị và ra vẻ một người biết nhẫn nhịn lắm. Từ lúc bắt đầu tập quan sát mọi người, tôi nhận thấy mình hay dò đoán tính cách của một người qua vẻ ngoài của họ.

    Tôi bảo Hương lên nhà ngủ một chút rồi hẵng phóng xe về quê. Bấy giờ đang giữa trưa. Nhưng cô nàng không chịu, chở tôi tới trước cửa rồi đi ngay.

    Tôi lên phòng, đọc truyện từ trưa cho đến gần một rưỡi, ngủ quên mất, khi tỉnh dậy đã gần ba giờ. Sau khi tắt điều hoà, tôi mở hé cửa sổ: bầu trời âm u, màu xanh xám buồn buồn, hàng cây xào xạc và nghiêng ngả. Vì định trước sẽ viết vào buổi tối, tôi tiếp tục ngồi đọc sách. Đọc cái gì cũng chẳng nhớ nữa…

    Tới hơn bốn giờ thì tự dưng tôi nhớ đến mẹ. Hôm qua bà vừa nhắn tin cho tôi. Bà bảo sao Zalo của bà không hiện ảnh đại diện khi nhắn tin. Tôi gọi điện và hai mẹ con dông dài gần một tiếng trời.

    “Thôi thì cố gắng lên con nhé! Cố lên con! Hai mẹ con mình cùng cố!” bà nói với tôi. Lần nào trước khi tắt máy bà cũng nói vậy.

    “Mẹ không phải lo đâu, con lúc nào cũng cố gắng hết,” tôi nói. “Thôi, thế nhé…”

    Cũng chính vào lúc đó tôi nảy ra ý tưởng cho một truyện ngắn. Tôi đặt tựa đề là “Một cuộc dạo chơi”, kể về một chàng sinh viên vào ngày đầu lên Hà Nội tham quan ngôi trường mà anh ta sắp theo học, đã theo sự rủ rê của một đàn anh tới quán bida và bị vặt sạch tiền. Tôi đã viết xong bản thảo đầu tiên cho truyện ngắn đó, ngày mai sẽ trau chuốt lại.

    Viết đến đây thì tôi mệt lắm rồi. Truyện ngắn của tôi dài hơn 3.000 từ thôi mà giờ gõ tới đây, tôi đã thấy tay run run…


    Ngày 18 tháng Năm năm 2025,

    Ngày Chủ Nhật là ngày chay tịnh nốt. Như thể có một thế lực huyền bí, ngày nghỉ tôi luôn dậy sớm hơn ngày thường. Thật khoan khoái khi biết rằng cả ngày hôm nay sẽ thuộc về ta, ta có thể làm gì tuỳ thích, thích sắp xếp một ngày ra sao thì ra, không có chương trình xen giữa, không có nhiệm vụ cần hoàn thành, giả có thì cũng chỉ lặt vặt như chuyện nước nôi, giặt giũ.

    Tôi dậy từ tang tảng sáng. Phố xá im lìm còn chưa dứt khỏi giấc ngủ, bầu không khí ẩm ướt, màn trời hơi vẩn đục. Chim hót líu lo bên vườn nhà, tiếng chuông gió lanh canh nghe dìu dịu, êm ái, hạnh phúc. Lúc ấy, ta cảm tưởng cuộc đời thật mĩ mãn, ta mơ về một chốn thanh bình, ít nhũng loạn, nhiều cỏ cây, cho phép ta đắm chìm vào thiên nhiên, hít thở hương thơm ngào ngạt từ những dàn hoa leo chăng đầy ban công đã vuốt ve lòng tự hào của các bà nội trợ ít phiền não. Cuộc sống lặng lẽ trôi đi, thong thả như chiếc thuyền giấy ta đem thả xuống dòng nước những ngày trời mưa, nó chao đảo rồi dần lấy lại thế cân bằng, lao tuốt đi trong sự ngỡ ngàng, hân hoan của con mắt thơ trẻ.

    Mỗi sớm ban mai thức giấc, tôi đều vội vã ngồi vào bàn và đắn đo xem mình viết gì hôm nay. Căn phòng yên tĩnh như một nấm mồ, êm ru, phẳng lặng, nàng thơ ghé qua khung cửa sổ nhỏ, tới ngồi vắt vẻo trên những chấn song. Nàng hỏi tôi đợi nàng đã lâu chưa, và tôi nói tôi không bao giờ cố đợi nàng cả. Nhưng thật vui vì nàng đã đến, vẻ đẹp thanh tân của nàng hệt như giọt sương mai đọng lại trên tàu lá kia, trông nàng sảng khoái, vô tư, hoàn toàn không bận tâm đến những người như tôi, những người không may mắc cái tật viết văn. Từ một bàn viết đối diện cửa sổ, trông ra khoảnh vườn nhà bên um tùm sắc xanh, gió hây hây đưa đẩy những nhành cây, tôi không nắm bắt được suy nghĩ nào thật thấu suốt, một ý tưởng thật kỳ khôi cho các truyện ngắn của mình. Salinger từng nói rằng khi người ta không thể viết, họ có thể làm việc.

    Noi theo lời khuyên đó, tôi bắt tay vào sửa những bản nháp của mình. Vừa qua, anh Đức Anh Kostroma đã tình cờ ghé qua cái blog hẻo lánh này và đặt đăng một truyện ngắn của tôi với tựa đề “Cuộc tái ngộ”. Truyện đó tôi đã viết từ những ngày còn ở nhà cũ, nằm sấp trên giường mà viết, còn gối thì kê ngang bụng – một tư thế rất phù hợp nếu muốn đẩy nhanh tiến trình thoái hoá đốt sống cổ. Tôi đã cắt tỉa truyện ngắn ấy, loại bỏ một vài cụm từ, chi tiết thừa thãi. Nhưng có lẽ bạn đọc cũng nên biết câu chuyện nói về cái gì:

    Như tựa đề đã tiết lộ, truyện ngắn kể về cuộc tái ngộ giữa hai người bạn thời cấp ba: Quang và Minh. Minh thời đi học từng là cậu học sinh ngang tàng, lêu lổng, nhưng là người có bản lĩnh. Sau khi lăn lộn ở Sài Gòn bảy năm, cậu ta trở về quê hương như một con người thành đạt. Còn Quang, hiện đang làm uỷ viên ban chỉ huy quân sự, vừa đón đứa con đầu lòng, cam chịu đời sống viên chức quèn ở một tỉnh lỵ hẻo lánh. Bối cảnh của câu chuyện diễn ra phần lớn ở quán cà phê Trạm Hồi Ức, sau đó là một loạt những độc thoại nội tâm của Quang khi trên đường về nhà. Quang ghen tỵ với thành công của Minh, chắc chắn rồi, nhưng nỗi ghen tỵ đó chỉ là phần nổi, còn thứ thực sự dày vò con người ấy là niềm nuối tiếc: tiếc cho một cuộc đời mình đã bỏ lỡ. Các bạn có thể đọc truyện ngắn đó tại đây.

    Sau khi bị cơn đói viết lách vật ra rã rời, ta đổ ra mặt giấy những con chữ lộn xộn, những ý tưởng sơ khai cần được trải nghiệm và trí tưởng tượng bồi đắp thêm. Tất cả những gì ta thảo ra trong bản thảo đầu chỉ như một cái khung, và việc tốt nhất ta có thể làm là quên chúng đi. Tôi thường gọi là “ngâm rượu”. Tôi tìm sự quên lãng và nguôi khuây trong thú đọc sách, cố gắng tách rời bản thân khỏi những gì mình đã viết, nhưng tôi tin trong tiềm thức câu chuyện vẫn đang diễn tiến. Rồi ta đọc, nghe nhạc, xem phim, lướt mạng, đi ngồi cà phê, dạo quanh không mục đích, đi chợ, nấu ăn rồi ngủ.

    Gần đây, tôi đọc Puskin. Tôi đã đọc gần hết các truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của thi sĩ này. Truyện “Con đầm pích” và “Phát súng” của ông hay tuyệt. Ước tính tôi đang đọc 7-8 truyện cùng lúc: tôi đọc lại “Nàng Lika” của Bunin, “Chiếc áo khoác” của Gogol, “Tập truyện của ông Ivan Petrovich Benkin quá cố” của Puskin, “Phía Đông vườn địa đàng” của Steinbeck, “Chuyện vặt ông Pickwick” của Dickens, “Tuyển tập truyện ngắn Maupassant”. Sau khi đọc một truyện ngắn, tôi gần như quên khuấy mình vừa đọc gì, thứ đọng lại trong tôi chỉ là cảm giác lâng lâng, đôi khi là hụt hẫng, như vừa trải qua một giấc mơ. Tôi không kỳ vọng quá nhiều vào việc đọc của mình, không trông đợi nó sẽ khiến tôi trở nên giỏi giang, thành toàn, thanh tao, hay nhãn quan của tôi sẽ được khai mở, bút pháp trở nên tinh tế, v.v. Trước giờ tôi vẫn cho rằng không đọc thì tôi không viết được, nhưng thực ra không đọc tôi sẽ không sống nổi. Người ta viết từ trải nghiệm, người không có trải nghiệm phải đi vay mượn, mà ông chủ nợ hào phóng và lấy lãi ít nhất là sách.


    Ngày 19 tháng Năm năm 2025,

    Một ngày mới lại đến. Tôi đang ngồi gõ những dòng này vào giữa chiều. Đối với tôi mà nói, buổi chiều giống như phần thừa của buổi sáng vậy: tôi chẳng làm được gì ra hồn. Đầu óc tôi cứ luẩn quẩn, nghĩ ngợi không xuôi…


    Ngày 20 tháng Năm 2025,

    Phụ nữ cũng như giống mèo: gọi thì lảng còn làm ngơ thì lại sán đến.

    ***

    … Những người nổi danh vì tài, những nhà thơ lớn, những sử gia danh tiếng thường phải chịu sự ghen ghét của những kẻ lấy việc nhận xét các tác phẩm của người khác làm thú vui duy nhất trong khi bản thân họ không đẻ ra được một thứ gì.

    – Điều đó không lạ, Don Quixote nói, vì có nhiều nhà thần học lên bục giảng thì tồi nhưng lại rất giỏi phát hiện sai sót của những người giảng thay cho họ.

    ***

    Ngõ 193 Trung Kính chứa đựng trong nó cả một khu phố, như thể một cái phễu phình ra ở đầu. Quán xá nơi đây nhiều vô kể, từ các quán cà phê mang hơi hướng hoài niệm, mặt tiền ăn sát ngã ba, ngã tư, cho tới những hàng cháo dặm, tiệm spa, và cả những nhà dân cao tầng, ban công bị che khuất bởi giàn hoa giấy rực sắc vàng, đỏ. Nhìn cảnh ấy, người ta chỉ muốn bỏ quách công việc đang làm, ước mong thời giờ trôi qua nhanh để tự pha lấy một tách trà, ngồi vắt vẻo trên một chiếc ghế gỗ, hít thở sớm mai trong lành và đăm chiêu nhìn dòng người chờn vờn lướt qua. Mặc cho cả thế gian biến mất, ta vẫn thảnh thơi nhàn hạ.

    Trưa nay, vì đã chán ăn xôi, tôi đi vòng ra đường Mạc Thái Tổ, trong đầu tự nhủ sẽ tìm bằng được một quán cơm rang. Tia nắng xuyên qua tán cây thưa lá vương trên mặt đất những đốm lỗ chỗ như vết mực loang. Mùi thơm nức mũi của thịt bò hầm giữ chân tôi trước ngã ba, và tôi quay đầu, hoá ra là bún bò Huế. Tôi không thích món này, vậy nên tôi tiếp tục đi.

    Đây rồi, bên cạnh hàng tạp hoá tôi vẫn thường mua bánh bao ăn sáng, bỗng thấy có một tấm biển treo trên cột điện bên kìa đường, đề: “PHỞ BÒ”. Bên dưới là những dòng chữ cùng phông, nhưng nhỏ hơn, cho biết quán có bán cả cơm rang, mì xào. Hoá ra tôi đã lượn một vòng để rồi phát hiện kho báu nằm ngay dưới chân nhà mình. Tôi ngồi ở bàn trên vỉa hè, cạnh quầy bếp, gọi cho mình cơm rang dưa bò. Trong lúc đợi đồ, tôi dặn mình không được lướt điện thoại. Những giờ phút rảnh rang quý giá có thể bị phí hoài bằng hết nếu ta cứ chăm chắm vô cái màn hình dẹt. Quyết thế, tôi để điện thoại ra xa, tay chống cằm, nhìn sang bên đường, nơi người ta quây những bàn nhựa san sát nhau. Trong đám người ăn vận sang trọng và bình dân hỗn độn ấy, tôi đặc biệt chú ý tới hai người đàn ông trung niên, tới sau tôi một lúc, đang băng qua đường. Một người dáng phốp pháp, mày râu lưa thưa, vầng trán rộng bóng loáng như quét xi, da ngăm ngăm, áo polo đỏ hồng; người còn lại cao lênh khênh, chân tay dài ngoằng khiến ta cảm tưởng như hơi thừa thãi, không được lịch lãm như người kia… Vài phút sau, người phục vụ bê đồ ra, tôi, tay chống cằm, lẳng lặng ăn.

    Nhờ buổi trưa nhai kỹ nên đang bốn rưỡi chiều mà tôi vẫn chưa lả. Thường như mọi hôm thì từ ba giờ đổ đi tôi bắt đầu sập nguồn. Tuy nhiên mắt tôi cũng hơi mờ rồi. Việc trên công ty đã làm xong, sách thì thừa mứa ra chẳng muốn đọc nữa, viết lách không nổi, có lẽ nên đi dạo. Ở văn phòng nhiều khi tôi vẫn lẻn ra ngoài đi dạo một vòng quanh khu phố. Tôi thường bước chậm lại khi ngang qua trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân – đó quả thực là một ngôi trường! Sân dài, rộng, dường như bát ngát, cờ đỏ sao vàng phần phật như một rừng bươm bướm tắm mình trong nắng, và hình ảnh mạ đồng in hình Bác Hồ quàng khăn đỏ cho nữ học sinh in ở chính giữa tầng cao nhất như phát sáng, như ngời ngợi, vĩ đại hơn. Xa xa, ta thấy một mái nhà dành cho bồ câu, cao khoảng ba mét, nhưng không bao giờ thấy con nào chịu ở yên trong tổ mà chúng cứ sà xuống bờ tường, cần cổ gục gặc, nhìn thấy tôi chúng cũng chẳng hoảng sợ, vẫn nhởn nhơ, vô tình.


    Ngày 21 tháng Năm năm 2025,

    Những ngày gần đây tự động dậy sớm như một cỗ máy. Bước ra bàn, gạt thanh cửa sổ, trời không nắng nhưng đã sáng choang. Từ xa, làn gió nóng thổi về khiến tán cây rậm lá rung lên chao đảo theo từng nhịp, như thể hoà quyện với tiếng chuông gió và tiếng mõ ai đó cầu kinh buổi sáng. Dưới thềm sân nhà bên, chắc một bà già đang quét tước, nghe rõ mồn một tiếng loẹt quẹt của chiếc chổi rễ đưa thành đường vòng cung, tống khứ những vị khách không mời và thích làm phiền chủ nhà.

    Một bi thuốc lào buổi sáng đã trở thành lệ, làm thế nào để bỏ đây? Bước ra đường, thấy tiết trời quang quẻ, ấm nồng. Hạ còn chưa đến hẳn nhưng đã mong về thu. Một người con trai, dáng dấp cao ráo, ngồi vắt vẻo trên chiếc yên dài của con xe Wave màu xanh thẫm, trước một cánh cổng thép im lìm như cũng chưa muốn thức giấc.

    “Anh ơi!” cậu ta khẽ gọi tôi.

    Tôi quay lại.

    Cậu ta hỏi bây giờ là mấy giờ. Mặc dù tôi biết đang gần sáu giờ sáng, tôi vẫn rút điện thoại ra khỏi túi, nhìn lướt rồi đáp:

    “Sáu giờ kém…”

    “Anh cho em gọi nhờ một cuộc được không ạ?”

    “À… Máy mình hết tiền rồi… Nhưng…”

    “Thế thôi ạ,” cậu ngắt lời và lủi thủi quay đầu.

    Tôi đi tiếp, lòng hơi tiếc nuối vì không giúp đỡ được người lạ. Có lẽ đó là một sinh viên đi chơi về muộn và để quên chìa khoá. Trước mắt tôi, bên tay phải, một bờ tường đắp từ gạch ba banh cao chừng hai mét, có hàng kẽm gai han gỉ rào qua quýt phía trên; dưới chân tường, cánh hoa trăng trắng rụng ngập, lướp tướp, trông như hành tây xào.


    Ngày 22 tháng Năm năm 2025,

    Chủ trọ hồi năm nhất của tôi là một cặp vợ chồng chừng sáu mươi tuổi. Lão Hưng, ông chồng, là một người quắc thước, nguyên sĩ quan quân đội về hưu, tướng tá phốp pháp, tóc muối tiêu dính bết ở vầng trán loang loáng. Lão càm ràm nhiều vô kể và nói năng bằng giọng khàn khàn như người hút thuốc lâu năm, dù tôi không bao giờ thấy lão hút thuốc. Có lần lão khoe tôi con gái lão ăn học đàng hoàng và có xe riêng, thôi thì trăm bề đủ cả, lão tâng cô ả lên tận mây xanh. Còn bản thân lão luân chuyển giữa nhà lão và nhà trọ như thay áo trong tủ đồ; lão sống đuề huề, có cái bụng bia to của những người ăn sung mặc sướng, ít âu lo; những nếp nhăn hằn sau trên mặt lão như thể lão cố tình tạo ra chúng, và ánh mắt lão vẫn nhuốm vẻ ti tiện, hẹp hòi của một con người tâm địa tủn mủn.

    Lão sợ vợ. Bà vợ là người cầm chuôi. Nhiều lần tôi tìm tới lão Hưng để xin được dùng nhờ máy giặt, được đánh chìa khoá cửa cuốn riêng, lão ậm ừ và gương mặt hơi dịu đi ra vẻ sẵn sàng đồng ý rồi, nhưng lão luôn đem ra trao đổi với vợ. Bà vợ lão thì như loài rắn, hẹp hòi hơn chồng gấp bội và lõi sự đời tới độ có thể đẻ ra chục ông chồng như lão. Bà ta luôn nhìn tụi sinh viên chúng tôi bằng ánh mắt thăm dò, đa nghi, như thể chúng tôi luôn trực chờ kiếm chác hay tuồng khoắng đồ của nhà trọ đi. Hồi ấy tôi còn trẻ nên chưa hiểu được ánh mắt láo liên ấy của mụ già.

    Vì bếp từ mang từ quê lên bị hỏng, tôi buộc phải mượn bếp của anh Tân, người mà tôi nghe phong thanh là con chú con dì của lão Hưng. Anh ta trạc ba mươi tuổi, đã lấy vợ và có một con trai ở Thanh Hoá nhưng vẫn còn trai lơ lắm. Quãng đời ve gái của anh chàng vẫn chưa chấm dứt! Anh ta thường đáp lời tôi bằng chất giọng sền sệt địa phương, hơi ngắc ngứ. Anh ta cũng bị lão Hưng bắt nạt. Lần cuối gặp nhau, anh ta đã chửi thằng vào mặt ông chú của mình và hét lớn:

    “Tôi đếch cần cái loại họ hàng như nhà lão! Đéo phải đuổi, tôi tự về!”

    Tối hôm ấy, anh ta bắt xe về quê nhà. Anh ta để lại cho tôi một ít nồi niêu, xoong chảo, hai cái bát sứ, hai đôi đũa cùng một vài móc treo quần áo. Một tháng sau tôi cuốn gói, lão Hưng, trước khi hoàn lại tiền cọc, đã yêu cầu tôi để lại hết đống đồ lặt vặt kia vì theo lão, mọi đồ đạc của anh Tân đều là tiền lương của lão trả cho anh ta cả. Nếu anh ta không cần nữa, nó phải thuộc về lão.

    Đó là lần đầu tiên trong đầu tôi thực sự biết khinh bỉ một người.


    Ngày 23 tháng Năm năm 2025,

    Mưa dầm.

    Hôm nay Hương mua tặng em Thư một con gấu bông. Con lợn nhồi bông tai cụp. Mong sau này Thư sẽ thích đọc sách, thế thì anh Long không tiếc gì cho Thư cả.

    ***

    Hôm nay truyện ngắn Cuộc tái ngộ của tôi đã được đăng tải trên Văn Plus.

    ***

    Thời tiết hôm nay thật tuyệt vời. Không biết nên uống trà hay thắt cổ tự tử nữa?

    ***

    Có một hội chứng gọi là “tiếc thời gian”. Một người ý thức được về tính hữu hạn của thời gian, ra sức tận dụng thì giờ ít ỏi của bản thân trên cõi đời – nhưng đến mức cực đoan. Anh ta làm gì cũng phải “tiện”, hoạt động nào đối với anh ta cũng phải “có ích”. Anh ta cảm thấy rầy rà chỉ vì chuyện đánh răng, rửa ráy, nấu nướng, phơi phóng áo quần, riết rồi anh ta chẳng cảm biết nổi cuộc sống nữa. Anh ta tiếc rẻ thời gian cho việc ăn uống, tiếc rẻ cả những buổi hàn huyên tâm sự, anh ta ngó lơ những người thân cận. Anh ta ám ảnh với hai chữ “phí hoài”.

    Anh ta là tôi.


    Ngày 24 tháng Năm năm 2025,

    Tôi đã đọc lại Nàng Lika của Bunin lần thứ bốn rồi mà vẫn chưa thấy nó hay chỗ nào.

    ***

    Mãi không đến mùa hè, mong là nó không bao giờ đến.

    ***

    Về chiều mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Bầu trời vẩn đục màu xam xám nhờ nhờ, mây giăng kín, những toà công sở phía xa mờ ảo cũng có màu xám xám. Chiều thứ Bảy, theo lệ thường, cần đảo qua thư viện. Chúng tôi đi trong trạng thái nửa háo hức nửa ngái ngủ. Trên đường đi tôi nói nhiều, những lúc qua hầm chui tôi còn ngửa về sau và gào thật to. Chúng tôi cười, nói, hạnh phúc vì nhàn hạ, khoan khoái vì gió lùa. Mùa đông thì ngắn còn mùa hạ thì dài, thu chưa đến nhưng đã ở trong lòng, dù rất chóng qua.

    Thư viện đóng cửa để tổng vệ sinh. Đáng ra tôi đã bẳn gắt vì toi công lái xe hơn bảy cây số chỉ để thấy tấm biển báo không làm việc. Thế rồi để nguôi khuây, như chúng tôi đã thống nhất trước đó, sẽ ghé qua Tạ Quang Bửu ăn bánh cá. Cái món khoái khẩu này đeo đẵng tôi từ năm nhất tới giờ, ban đầu tôi cũng thinh thích đấy, nhưng giờ thì chán rồi. Quán nhỏ, ngồi trong nhà nhìn ra cảm giác tù túng, cảnh sắc tầm thường, thấy cả téc nước nhà đối diện, trên tầng hai. Tầng rất thấp, có lẽ không bằng bờ tường mấy trại táo tôi thường ăn trộm cũng bè bạn ngày bé. Tôi có thể nhảy từ đó xuống ngon ơ. Bấy giờ tự dưng tôi nghĩ tới câu chuyện một người đàn ông ôm con gái nhảy từ tầng bảy chung cư xuống trong vụ hoả hoạn. Anh ta bị gãy chân còn cô con gái ra sao thì tôi không biết, nhưng đại để họ đã thoát chết. Cần bao nhiêu nghị lực để làm điều đó nhỉ? Hay khi giờ khắc sinh tử cận kề, ta cứ thế mà phó mặc cho số mệnh thôi…

    Ăn xong thì đã chiều muộn. Trời lạnh hơn, gió không còn vuốt ve âu yếm nữa mà như dữ dội hơn, táp vào da thịt làm nổi da gà. Sách cũ Hà Thành nằm trong ngõ 55 phố Lê Thanh Nghị, ngõ chợ Bách Khoa. Một chị bán bánh giò với chiếc xe đạp cà tàng, những chiếc ghế nhựa thấp, cùng vài cặp đôi đang ngồi ăn. Chúng tôi lượn vài vòng quanh con đường chật hẹp bẩn thỉu ấy, những sạp rau dựng san sát hai bên đường như nấm.

    Cuối cùng cũng tìm ra. Chiếc biển hiệu đề “SÁCH CŨ HÀ THÀNH” bạc phếch, chữ mờ nhoè nhìn không ra. Đón tôi là một anh trung niên tầm ba nhăm, bốn mươi tuổi, người thâm thấp, mặc quần cộc lửng kaki màu be, áo ba lỗ màu xanh nước biển, cặp mắt ti hí, hiền hoà nhấp nháy sau mắt kính bàng bạc, với một nụ cười thường trực trên môi như được gắn sẵn trên đó, nhưng không có gì là giả tạo, mà hết sức chân thật, hoà nhã.

    “Em tìm sách gì?” anh ta hỏi tôi khi chúng tôi dựng xe ở mái hiên nho nhỏ ướt nhẹp.

    “Văn học ạ,” tôi nói, “văn học Nga.”

    “Thế theo anh,” anh ta nói rồi bước trước lên cầu thang dẫn đường.

    Ở tầng một, có một khu bếp dựng sát vách, ngay tay trái cửa ra vào. Không có bàn ăn bày biện, tủ lạnh tôi cũng không thấy. Đó là một khu bếp buồn tẻ, lạc lõng, phù hợp với đám sinh viên vốn dành sự quan tâm tối thiểu tới những thứ được đem bỏ vào bụng mình. Nhưng một bà nội trợ yêu chồng thương con, bếp núc là mặt trận nơi chị toả sáng, thì chị hẳn không hài lòng. Ở chân cầu thang, trong góc, có vài chồng sách không cũ không mới được buộc dây, ngoại trừ cái biển hiệu cũ mòn ra thì chúng là nhân chứng duy nhất nói lên rằng nơi đây bán sách.

    Phía trái trên tầng bốn là cả một thiên đường. Trong ánh sáng lờ mờ, những kệ sách cũ trông càng ảm đạm hơn, ít nhiều hứa hẹn những viên ngọc đang chờ được phát hiện. Kho văn học Nga nằm ở cuối kệ đối diện cửa ra vào. Hương xăng xái vào trước. Có một chiếc ghế nhựa thâm thấp, tôi nhường cho cô nàng. Có những cuốn sách cũ mèm đã làm mồi cho lũ mọt gặm nhấm và bị lũ chuột nghịch ngợm kéo tới quấy phá, nhưng tựu trung đó vẫn là một thế giới mới so với những gì ta đã bắt gặp vô số trong các hiệu sách tân thời. Tolstoy và Sholokhov vẫn ngự trị, hàng loạt các ấn bản từ năm 1960 của Sông Đông êm đềm cùng Chiến tranh và hoà bình, bìa cứng có bìa mềm có. Vài cuốn bọc da nom rất đẹp, nét mực rõ ràng, trang giấy ngả vàng nhuốm màu hoài niệm, có cảm tưởng tri thức trong đó đầy ắp và đã được đắp bồi qua nhiều thế kỷ qua tay hết chủ nhân này đến chủ nhân kia. Nhiều cuốn còn lưu giữ bút tích của người đọc trước và may mắn là chữ ký của tác giả. Những ấn bản như vậy thường được đặt giá rất cao. Có một cuốn với giá bìa là 2đ, giấy thủng lỗ chỗ và ố vàng, nhưng ta có thể miễn thứ cho những khiếm khuyết sơ đẳng về hình thức vì ta vốn ưu tiên tư tưởng vĩ đại nằm bên trong hơn.

    Có một cuốn tiểu sử về Turgenev, bìa da thuộc màu xanh đen nhàn nhạt, hình ảnh nhà văn nổi tiếng với ánh mắt lơ đãng và chòm râu bàng bạc được in dập nổi, sờ vào thấy gai gai tay. Cuốn sách thuật lại cuộc đời của Turgenev từ những ngày thơ ấu ở điền trang cùng cha mẹ, cho đến những năm tháng thiếu thời trên Đại học Tổng hợp, những thành tựu văn chương đầu tiên… Mẹ của nhà văn là một điền chủ ác nghiệt, độc đoán, chuyên quyền. Phòng của Turgenev ở gần chuồng ngựa, ông thấy và nghe những gia nhân bị phạt roi vì sự trái tính trái nết của bà mẹ mình, đã gây nên ở ông những công phẫn đầu đời, và sẽ còn đeo bám nhà văn suốt đời, một mối căm thù sâu xa và niềm cảm thương sâu sắc với số phận hẩm hiu, hèn mọn của người nông dân. “Tự truyện của tôi nằm trong chính tác phẩm của tôi,” ông nói.

    Truyện ngắn Sê-khốp của Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin xuất bản năm 2001, giá bìa 90.000 đồng, dày hơn 1.000 trang, chứa đựng hơn 30 truyện ngắn của nhà văn kiệt xuất người Nga, do hai dịch giả nổi tiếng Phan Hồng Giang và Cao Xuân Hạo tuyển chọn. Với một cuốn sách như vậy, chẳng lý gì phải hoãn cái niềm sung sướng được ngắm nó trên kệ sách nhà mình. Mặc dù tôi đã có hai tuyển tập Chekhov ở nhà, nhưng thêm một cũng chẳng sao. Cuốn sách đóng bìa cứng khổ 13 x 19 cm, bìa trước in hình Chekhov với dây đeo mắt kính trứ danh, màu hồng phớt đến là dịu. Trang giấy vàng vàng ở phần mép, nhưng mực in rất đậm, rõ nét. Một tuyển sách còn hơn tuổi đời của tôi nữa. Vì hình thức quá trang nhã, Hương nghĩ nên gọi là “chị sách” – nếu cuốn sách, ngoài hình hài đã được ban phát, còn được trao thêm một giới tính.

    Tuyển tập hai cuốn Lao động nhà văn của A. Xtâylin (nhờ phiên âm thế này nên tôi chưa tìm ra được tên gốc của tác giả) là kết quả của giáo trình giảng dạy mà tác giả, một giáo sư văn học, đã giảng nhiều năm cho sinh viên các trường đại học Moskva. Bộ sách nghiên cứu quá trình sáng tác của các nhà văn, kể lại công việc sáng tác của một số nhà văn đã diễn ra như thế nào, qua đó giúp các cây bút trẻ tăng cường mối quan tâm, lòng trân trọng đối với lao động của nhà văn. Một cuốn sách tuyệt bích, mặt giấy đã vàng mục như thành màu cam cam, vài trang đã bung chỉ, giá bìa 1đ6. Tôi đã mua bộ sách cũ rích ấy với giá hai trăm ngàn. Không hiểu sao tôi hay đọc nhầm Lao động nhà văn thành Lao động khổ sai, mà nghĩ kỹ thì cũng khác nhau là mấy đâu.

    Ngoài ra tôi còn mua tập thơ Épghênhi Ônhêghin của Puskin, bản dịch của Thái Bá Tân, do Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ phát hành, in năm 1984 (hơn cả tuổi mẹ tôi). Puskin đã viết thiên trường ca này ròng rã tám năm ròng. Đấy, tôi mới chỉ biết có thế.

    Và tôi cũng mua cả cuốn Tuyển tập Tolstoy nữa. Cuốn sách bìa da thuộc giống cuốn Turgenev bên trên, dày dặn hơn tuy không đẹp bằng. Trong đó có tất cả các truyện ngắn nổi tiếng của Tolstoy mà nếu giờ bỏ công ra sưu tầm thì đến phải mua hàng mấy cuốn: Sau đêm vũ hội, Cái chết của Ivan Ilyich, Đức cha Serghi, v.v.

    Dạo này tự dưng tôi nghĩ rằng hay là mình bỏ viết nhỉ? Tôi sẽ thôi không viết nữa mà vẫn có thể đam mê văn học ở chừng mực thưởng thức mà thôi. Mỗi ngày, tôi đều thức dậy sớm và cố gắng viết, nhưng con chữ cứ trôi tuột đi đâu, tôi thấy vốn từ vựng trong mình còn ít ỏi, cách hành văn thì gượng gạo, cứng nhắc, những lối so sánh vụng về, những lời thoại sáo mòn… Tôi còn biết ít về cuộc đời quá. Công sở nhốt tôi từ sáng tới chiều, màn hình máy tính như cái nhà giam trói chặt tầm nhìn của tôi…

    … Ở Hà Nội, nếu như muốn thưởng thức chút thanh bình yên ả, phải cố gắng dậy thật sớm. Đợi đến khi tiếng xe máy đầu tiên rú lên, thì biết đã đến lúc nên về nhà. Bây giờ là bảy rưỡi sáng, trong nhà chưa ai dậy, nghe rõ tiếng thở đều đều của người yêu dấu, mà chỉ lát nữa thôi tỉnh dậy sẽ đòi được đi chơi, thì cái khoảng tĩnh lặng, im ắng, cô độc này gây luyến tiếc như gặp lại một tình nhân cũ. Lúc này đây, cảm tưởng thế giới như chậm lại, không cả nghe nổi tiếng xe cộ ngoài đường cái vọng vào, qua hàng chấn song thấy cây cối vườn bên đung đưa rồi im lìm, chững lại. Con chim chích choè ẩn mình khẽ kêu lên…


    Ngày 25 tháng Năm năm 2025,

    Chủ Nhật là ngày nhàn rỗi được lấp đầy bởi những hoạch định. Sớm trời thức giấc từ năm giờ, dạo quanh khu phố một lượt, và, cố gắng nấn ná thật lâu, ta quay về nhà theo con đường dài nhất. Con đường vắng lặng như dài thêm ra, có mấy con chim chào mào đứng bất động san sát nhau trên dây điện, trông như những chấm đen trên một trang nhạc. Một chiếc lá lẻ loi rơi xuống trước khung cửa cuốn trăng trắng, và có lẽ sẽ nằm ở đó cả ngày nếu chủ nhà là một người lười nhác, một cậu sinh viên, hoặc một anh văn phòng thích coi quãng đường từ nhà tới công sở là một cuộc đua nước rút. Mua bánh mì dọc đường đi, nhai nhồm nhoàm trước màn hình máy tính, và sau khi no bụng thì bắt đầu làm hú hoạ, đợi tới giờ ăn trưa.

    Tại sao người già hay dậy sớm? Do không ngủ được, hay dậy sớm làm một ngày cảm giác dài ra? Người ta đi bộ với nhau thành từng cặp, từng nhóm ba, bốn người, vừa đi vừa cập nhật tình hình xung quanh khu phố. Thằng con trai nhà ai mới dậy thì, giọng như lệnh vỡ, nếu không thấy mặt thì đến tưởng bố nó đang nói chuyện. Những cuộc nói chuyện dông dài bắt đầu, cuộc trò chuyện giữa những người già cả, thảnh thơi, sống sung sướng và vô lo vô nghĩ – chẳng cần nghĩ làm gì cho hết thời giờ, không phải vắt óc sao cho cuộc đời ý vị hơn.

    Chúng tôi ăn sáng ở một quán đầu ngõ trông ra hồ Hoàng Cầu. Ăn không ngon. Bên cạnh là một quán cà phê, có một ông trung niên, áo quần tươm tất, vừa châm thuốc nhả khói liền hồi. Ngồi ở chiếc ghế đôn bên cạnh là một con chó poodle lông trắng phau như tuyết, và chẳng cần áo quần, trông nó cũng tươm tất không kém gì ông chủ. Trông cu cậu tròn xoe, ngúng nguẩy như một cục bông gòn, xinh xắn, ngoan ngoãn liếm thức ăn từ chiếc liễn mà chủ giơ sát mõm. Chiếc mõm đen đen bóng nhẫy như giày vừa mới quét xi. Tự dưng tôi thấy ghen tị quá…

    Nhà sách Mão ở Đinh Lễ nằm trên tầng 2 của một khu tập thể. Cầu thang xông lên mùi ẩm mốc đặc trưng ở những khu tập thể. Sách xếp sát vách cao chạm trần nhà. Bàn lễ tân cũng đầy sách, một anh thu ngân, chắc là con chủ nhà, ngồi vắt vẻo, gương mặt sáng sủa đẹp mã nhưng khinh khỉnh, giọng nói ồm ồm, hơi kẻ cả.

    Chừng mười lăm phút sau, cầm trên tay cuốn Sê-Khốp của Phan Hồng Giang, lỡ mồm hỏi:

    “Sách này bán không anh?”

    thì được nghe câu trả lời nhũn nhặn:

    “Sách không bán để làm gì em?”

    Tự cười mình vì sự ngu ngơ. Hương cũng cười, nhưng cô nàng hẳn đã quen với sự lơ đãng của tôi rồi. Bìa sách 32.000đ, thanh toán 25.000đ, đọc một lèo hết trong ngày. Dưới đây là những gì còn nhớ được:

    Chekhov có dòng máu mugich. Ông nội ông là một nông nô, nhờ ý chí quật cường và tài chắt bóp, đã chuộc lại được gia đình. Bố Chekhov mở một tiệm tạp hoá, là người biết trân trọng nghệ thuật, vậy nên mỗi đứa con của ông đều sớm bộc lộ những thiên hướng riêng: Anh cả, Nikolai, có tài viết lách; Chekhov, con thứ, tương tự; còn người em trai khác, quên mất tên, thì có tài vẽ tranh. Năm Chekhov 16 tuổi, bố ông do làm ăn thất bát, đã cùng gia đình dọn đi, một mình ông ở lại để theo học nốt.

    Chekhov bắt đầu viết những truyện ngắn làng nhàng, những mẩu tin vặt, truyện cười, v.v. cho các tờ báo lá cải. Ông ký bằng đủ bút danh: Anh của em anh ta, Người không lá lách… nhưng nổi tiếng nhất là bút danh Antonio Chekhonte… Đó là những ngày liên miên gõ cửa từ tạp chí này sang tạp chí khác. Được in đã khó, được in xong nhận nhuận bút còn khó hơn. Đôi khi, người ta trả ông những coupon hết hạn, những quần áo cũ,…

    Đó là thời kỳ Chekhov viết vì tiền, viết vội vã, cẩu thả, viết những bài mà do không thể lấy làm tự hào, nên buộc phải ký bằng đủ bút danh. Thi thoảng, nếu viết được một bài tử tế, nghiêm túc và tâm đắc, ông sẽ ký Antonio Chekhonte…

    ***

    Quốc tang nên phố đi bộ không quây rào. Mặt hồ Hoàn Kiếm màu xanh rêu sẫm. Hàm Cá Mập đang được tháo dời.

    ***

    Lâu lắm rồi mới có cảm giác thèm ăn. Trứng đúc thịt ngon tuyệt. Ngủ đến ba giờ chiều mới dậy, vừa phi xe ra khỏi ngõ thì hỏng, mất toi 150.000đ.

    ***

    Lâu lâu mới vận động tý chút mà thở khò khè quá. Đội bóng rổ cứ rơi rụng dần như lá mùa thu.

    ***

    Nhận được mail của một người bạn giấu tên. Tôi đoán đó là con gái, Hương đoán là con trai. Có lẽ con trai, linh cảm của phụ nữ bao giờ cũng chuẩn xác hơn đàn ông. Cảm ơn người bạn vô danh nhé! Tôi xin phép được trích dẫn nguyên văn, vì đối với tôi, nó đẹp đẽ và khích lệ tôi như một tấm bằng khen đóng khung trên tường vậy:

    Bạn viết rất hay. Mình đã đọc vài truyện ngắn và toàn bộ tản văn Xuân hạ thu đông mà bạn viết. Những mẩu chuyện rất nhỏ, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống như qua ngòi bút của bạn lại nặng suy tư và giàu cảm xúc. Mình tin với bút lực và niềm say mê viết “chừng nào còn sống”, mình thành tâm hi vọng bạn sẽ trở thành một nhà văn lớn. Bạn xứng đáng với điều đó, miễn là đừng bao giờ bỏ viết nhé. Bạn không thể biết được những con chữ vô cùng riêng tư của mình có thể hàn gắn tâm hồn của ai đâu.

    Hạ sắp về rồi, nhưng lòng tôi thì chộn rộn sắc xuân.


    Ngày 26 tháng Năm năm 2025,

    Tôi luôn bị thu hút bởi phụ nữ. Từ cái thời niên thiếu vô lo tôi đã, như ruồi bị thu hút bởi ánh sáng, không cưỡng được mà sán tới đám con gái. Tôi biết thích, biết nhớ nhung từ những ngày lớp một. Bạn gái của tôi là một cô nàng nhỏ nhắn, da ngăm ngăm, mặt tròn, răng rất trắng. Bàn tay của cô bé mảnh khảnh, những ngón tay thuôn dài và móng tay của cô cũng dài y thế. Mỗi lần đan bàn tay thô ráp trẻ con của mình vào bàn tay ấy, những tưởng nó sẽ tan ra nếu tôi siết chặt thêm chút.

    Vài tuần sau niên học mới, một buổi sáng đẹp trời nơi cả lũ học sinh còn nháo nhác ngoài hiên đợi tiết thể dục đầu giờ, thì cô bé đó đến cùng mẹ. Mẹ cô cao, dáng dong dỏng, gương mặt hiền hậu, nhẹ nhàng nói với tôi:

    “Cháu phải gọi N. (đó là tên cô bé) bằng cô. Nhà hai đứa có họ.”

    Mối tình đầu của tôi đã kết thúc như vậy đấy.

    Hết cấp một, tôi đoạt giải tỉnh nên chuyển trường trên thành phố, còn N. tiếp tục học dưới quê. Những ngày đầu còn bỡ ngỡ, tôi như cánh chim lạc bầy, không đánh bạn nổi với ai. Bọn trẻ thành phố cao tồng ngồng, chúng nó đã mọc lông, hôi nách, còn tôi thì cao một mét ba nhăm, nặng ba nhăm cân, mày râu nhẵn thín, đến buổi khám y tế đầu niên học người ta tưởng tôi suy dinh dưỡng.

    Vì không hoà hợp nổi ở môi trường mới, tôi thường mò về trường cấp hai của các bạn cũ. Nhiều lần, tôi giả danh làm học sinh mới chuyển về lớp, tham dự tiết học như bình thường. Có hôm tôi còn mạnh dạn giơ tay, và, vì lòng tự kiêu được mơn trớn, tôi vô tình để lộ thiên hướng văn chương trong mình. Bà giáo quý tôi ra trò, khen ngợi tôi trước mặt bà tổ trưởng, rồi vài hôm sau bà mới biết tôi chỉ là một gã mật thám. Nhiều năm sau này tôi được biết bà giáo đó suýt nữa đã trở thành bác dâu của tôi. Bà từng có một mối tình keo sơn với bác cả tôi, làm trong quân đội, nhưng gia đình bà xuất thân gia giáo, có nhà ở mặt tiền trông ra đường lớn, còn nhà bác tôi nằm lọt thỏm giữa xóm quê tiêu điều, ruộng vườn mênh mang nhưng tiền nong thì khan hiếm.

    Những ngày tôi về qua trường, N. rất vui. Cô thường đứng khép nép bên cánh cổng thép xam xám chờ tôi. Ba bốn tháng liền tôi cứ đạp xe ròng rã như vậy. Chúng tôi trao đổi thư tay, nhờ một cô bạn hàng xóm của tôi chuyển giúp. Trong thư, tôi bắt đầu biết phàn nàn về sự lạc lõng, cô quạnh, tôi viết mùi mẫn, tưởng chừng mỗi câu chữ đều nhỏ thêm vài giọt đường.

    “N. của tôi ơi, cậu học hành thế nào? Cô giáo có hay mắng cậu không? Cậu nhớ tớ đấy chứ, còn tớ thì vẫn nhớ cậu nhiều. Hôm nay là thứ Hai mà tớ chỉ mong tới thứ Sáu thôi.”

    Cô chẳng bao giờ gửi thư lại cho tôi, mà chủ yếu nhờ cô bạn hàng xóm kia chuyển lời giúp. Nhưng niềm vui dẫu có đi đường vòng cũng khiến tâm hồn tôi chộn rộn, tôi vui, tôi trèo lên đường ray ném đá vào thân cây bạch đàn, rồi tôi nhảy chân sáo về nhà. Suốt ngày dài tôi cứ tưng tưởng như vậy.

    Thế rồi những chuyến ghé thăm cũng trở nên dè xẻn, cơn mưa ngâu nặng hạt giờ đã ngớt, rồi lặng hẳn. Nhiều tuần, nhiều tháng, tôi không trở lại trường thăm N. nữa. Cô có vẻ cũng đã quên tôi. Nhưng tin tức vẫn đến tai tôi thường xuyên. Một ngày, tôi nghe được tin có thằng nào làng dưới đang tán tỉnh N., và tụi bạn tôi vừa kể tôi nghe, vừa mong chờ ở tôi một động thái công phẫn. Chúng nó háo hức nhìn tôi như thể một ông chồng bị cắm sừng. Tôi chẳng màng, từ lâu tôi đã chẳng còn nghĩ đến cô bé kia nữa. Cuộc sống trên thị trấn của tôi bắt đầu đi vào nền nếp, tôi đã đánh bạn được, tụi thành phố còn quý tôi là đằng khác…

    “Thì kệ nó,” tôi nói và quay mặt đi.

    Tụi bạn tôi thở dài đầy thất vọng.

    Nhiều tháng sau, N. gửi tôi một bức thư, bức thư đầu tiên của cô:

    “Tớ vẫn đợi cậu đấy. Nếu cậu không thích tớ nữa thì cứ nói một câu, còn nếu cậu không nói, tớ tưởng hai đứa mình vẫn yêu nhau.”

    Thế đấy! Sau ba, bốn tháng ròng rã bặt vô âm tín, N. vẫn tưởng chúng tôi đang yêu nhau…

    Nhiều năm sau này tôi có gặp lại N.. Cô vẫn gầy, chân tay vẫn mảnh dẻ, nước da ngăm ngăm, nhưng nét hồn nhiên năm xưa đã biến mất. Cô lướt qua tôi như một người lạ trên phố. Tôi được biết cô ăn chơi đổ đốn. Cô không còn trinh bạch, cô ngủ với nhiều người, cô xăm mình, và người cô nhàu nhĩ như tờ giấy nháp.

    Thật kỳ lạ, mỗi lần nhìn cô như thế, tôi đều thấy đau đáu thế nào ấy. Cứ như thể tôi đã góp phần vào cái sự sa đoạ chướng mắt kia. Cô gái hồn nhiên, thơ dại năm xưa, giờ ở phương trời nào, tôi nào biết. Có lẽ cô lấy chồng rồi cũng nên.

    ***

    Bài này tôi đã viết khá lâu rồi, chừng ba, bốn năm về trước:

    Hôm nay là sinh nhật ông bạn thân của tôi. Tôi đã nghĩ tới việc đặt mua cho nó một cái áo hoặc thứ gì đó, đại loại thế nhưng rốt cục lại tặc lưỡi cho qua, tôi nghĩ dăm ba món quà cũng chẳng thấm tháp mấy so với việc tôi rủ nó nó đi và nó rủ tôi, tôi có mặt. Ngẫm lại thì, có nhiều người đã chúc mình những lời thề thốt líu lo như chim hót sau vườn nhà nhưng rồi cũng chẳng một lời mà đi, vậy thì những câu chúc ấy hay những món quà đao to búa lớn suy cho cùng cũng chẳng được gì.

    Nhưng được tặng quà vào dịp sinh nhân cũng là dịp vui, vì trên danh nghĩa có một người đang trưởng thành thì có nhiều thứ đã không còn làm ta vui vẻ được như trước, không còn nhiều dịp để ta nói cười, nên sinh nhật cũng coi như một khoảnh khắc hiếm hoi trong năm để mình có cái cớ được trải lòng mình ra mà đón nhận niềm vui ấy.

    Nhìn lại những gì đã qua, tôi đã bỏ lỡ hoặc đánh mất, dù vô tình hay cố ý nhiều mối quan hệ; nhưng tôi vẫn luôn vui vì tình cảm chúng tôi vẫn bền chặt sau bao thăng trầm. Tôi biết nó cũng vậy, và ai cũng vậy cả thôi. Chúng ta đều phải từ bỏ nhiều thứ, nhiều thứ cũng tự rời bỏ ta dù ta có muốn hay không. Chỉ là sau cùng, người ở lại mới là người đáng trân quý, họ mới là những người xứng đáng để ta thật lòng tin yêu và gửi gắm nỗi niềm.

    Tôi coi việc kết thân với nó là một may mắn trong đời, vì trên tất cả tôi thấy được sự đồng cảm nơi nó. Tôi học được nhiều điều từ nó, nó chắc chắn cũng học được nhiều điều từ tôi, và chúng tôi cùng nhau học được nhiều điều từ những sự việc xảy ra xung quanh cuộc sống của hai thằng. Dần dà rồi lớn, các chủ đề nói chuyện cũng thay đổi, các món ăn yêu thích cũng khác, quán quen xưa nay chẳng thèm lui tới; nhưng vẫn nói chuyện được với nhau, thế là vui rồi !

    Chúng tôi đều từng ngưỡng mộ gia đình người khác và phàn nàn về gia đình của chính mình với những khiếm khuyết của mỗi thành viên. Nhưng rồi chúng tôi cũng đồng thời nhận ra rằng chẳng có mái ấm nào là trọn vẹn cả, vẫn có xung đột cãi vã bất hòa suốt thôi, rồi chúng tôi thu mình lại, dành tâm sức cho gia đình của chính mình. Vun vén, trân quý, tận hưởng những phút giây ở bên người thân và gia đình của chính mình. Trên cả, tôi ngưỡng mộ bố của nó, một người đàn ông gì cũng giỏi; tôi ngưỡng mộ cách mà nó với mẹ ôm ấp nhau tình cảm dù có cãi vã lôi đình gì đi nữa; tôi ngưỡng mộ cách mà hai anh em nó trưởng thành và chung sống với nhau hòa thuận. Tôi chứng kiến nhiều sự việc trong gia đình nó và tôi rất vui vì mọi chuyện vẫn luôn diễn biến theo chiều hướng tích cực, dù đôi lúc có cãi vã bất đồng, nhưng gia đình nào mà chả thế, lo gì !

    Việc kể lể về tình bạn thế này thật sự khó, vì tôi cứ sợ rằng tôi đang khoa trương. Tôi nghĩ không nên thổ lộ nhiều về chuyện tình cảm của mình, tôi cũng không muốn kể nhiều về việc chúng tôi thân nhau như thế nào, vì trong tôi vẫn luôn sợ một ngày chúng tôi không còn thân như trước được nữa, nên tôi sống cho ngày hôm nay thôi.. Tôi mệt mỏi để kỳ vọng quá nhiều cho tương lai và ngoái đầu mỏi cổ dằn vặt cho quá khứ rồi, tôi nên trân quý những khoảnh khắc hiện tại, những con người hiện tại..

    P/s : Dù sao thì cũng chúc mày sang tuổi mới chín chắn, trưởng thành hơn và luôn hạnh phúc bên gia đình cùng tình yêu luôn mặn mà với hạt giống số 1 ( nếu mày đọc được ).

    Chà, đúng là thời mơ mộng trẻ trâu. Giờ thì đố tôi có thể viết mùi mẫn được như thế này.

    Tôi vẫn chưa tặng ông bạn tôi bất cứ một món quà gì vào sinh nhật cả. Tôi từng tặng nó một cuốn Tuyển tập Ếch Ộp thì phải, nhân dịp tôi lượn lờ ở Nhã Nam (cái cơ sở yêu dấu ở Phạm Ngọc Thạch, giờ đã trở thành một chi nhánh BIDV), còn nó tặng tôi một chiếc bịt mắt (tôi thường xuyên khó ngủ vì nhạy cảm với ánh sáng).

    Đã lâu rồi tôi chưa vào thăm nhà Cường. Nửa năm rồi cũng nên. Chưa chi tôi đã tưởng tượng được giọng nói của bác Hằng rên lên ỉ ôi rằng tôi gầy đi nhiều quá, rồi giọng nói trầm trầm, ân cần của bác Thuỷ lúc tôi hỏi han tôi công việc dạo này ra sao. Ôi, tôi nhớ những bữa cơm mà hai thằng chúng tôi phải nán lại ăn cho kỳ hết, cả đôi bàn tay thoăn thoắt của bác Thuỷ lúc bác gọt vỏ táo, bóc vỏ cam, miệng nhai nhóp nhép và chậm rãi nhằn hột. Đá trong ly kêu lanh canh, chiếc quạt trần trên đầu lượn vòng quanh một điệu ngái ngủ, đơn điệu, nhưng chẳng hề nhàm chán! Cuộc đời thật đẹp sao, nhất là khi ta có những người thân yêu ở cạnh và biết rằng họ thực sự để tâm tới chúng ta. Khi ấy, ta tự dưng thấy mình quan trọng, tự dưng thấy bớt lẻ loi, bớt thừa và vô ích trên thế gian này nữa.

    Cuộc đời hai đứa có vẻ như hai đường thẳng song song nhưng chung nhau những cột mốc và biển báo.

    ***

    Hôm trước Hương mua cho con lợn sứ màu hồng, xinh xẻo, có đội chiếc mũ màu vàng hình mặt ếch. Con lợn đất này nhằm đựng tiền nhuận viết lách, bèo bọt lắm, lõng tõng như cháo của trẻ con nhà nghèo. Vừa qua có truyện đăng báo, chắc được một triệu, một nửa cho Hương, một nửa cho con lợn. Không viết vì tiền thấy nhẹ cả đầu. Viết vì niềm vui là chính, nhưng vẫn bị thôi thúc phải gửi bài đăng báo. Biên tập viên chê văn dài, rườm rà, dàn trải, thiếu trọng tâm, v.v. thế mà cũng buồn mất mấy ngày, đòi bỏ viết, nhưng sáng hôm sau vẫn ngồi vào bàn gõ lung tung…


    Ngày 27 tháng Năm năm 2025,

    Tôi bắt đầu tin rằng việc tôi dậy sớm mỗi ngày là do chứng rối loạn giấc ngủ.

    Dù sao thì, mọi chuyện vẫn ổn. Vừa sáng ra đã thấy ông bạn Cường nhắn tin. Ông bạn bảo bác Hằng, mẹ ông bạn, đã gọi điện và khuyên răn ông bạn nên “làm những gì quan trọng.” Tô Đạt vừa thăng hàm trung uý! Ồ, chẳng phải, vốn dĩ sĩ quan chuyên nghiệp nếu tốt nghiệp loại Giỏi sẽ mặc định là hàm trung uý. Nhưng đây vẫn là một tin đáng lo ngại. Thế đấy, hai người bạn, một thằng nhà văn, một thằng kép hát, cùng đi làm văn phòng chống đói. Ít ra thằng Cường còn giỏi cái nghề thiết kế, còn tôi, tôi chẳng biết quách gì về marketing! Đến các tác phẩm của tôi tôi còn không truyền thông nổi nữa là…

    ***

    Bà chủ quán trà đá có lẽ chỉ dậy sớm hơn tôi một chút. Khi tôi ra đến nơi, bà đang lục tục bày biện gian hàng. Đó là một quán nhỏ, mái hiên căng bạt nhô ra như hàm răng vẩu, một bàn nhựa nho nhỏ gồm ba, bốn chiếc ghế cũng bằng nhựa, không lưng tựa xếp chồng lên nhau. Sát vách tường của gian trong là một bệ bếp với chiếc bếp gas lỗi thời, một mảng tường màu vàng nhàn nhạt ám khói đen thui: bà lão bán cả đồ ăn sáng. Bà còn trẻ, đeo vòng bạc ở chân mà mỗi khi bà lật đật bước đi thì nó rung lên leng keng thật tức cười, gương mặt bà thì hồn hậu, dễ mến, lập tức khiến người ta cảm tưởng rằng bà là người chất phác, rằng ta có thể chia sẻ thật lòng với bà nhiều thứ chuyện, rằng bà, trong cái dáng ềnh àng nằm trên võng, mắt ti hí, dẫu nghe câu được câu không, thì vẫn sẵn sàng lắng nghe.

    Một cuộc trò chuyện bâng quơ giữa hai con người, một già một trẻ nhưng chung nhau cái nếp dậy sớm, bắt đầu. Bà khen tôi dậy sớm, chắc chắc rồi, còn tôi, vì lòng tự phụ được vuốt ve nhưng vẫn ý thức được tính chừng mực, khua tay nói rằng tôi dậy sớm vì tôi không thể dậy muộn. Hẳn thế, nếu tôi có thể ngủ nướng và nếu tôi không bị ốm o vì thời giờ bị bỏ phí, sầu não vì công việc trì trệ, không mắc cái tật đam mê viết văn, hoặc có thể viết bất cứ lúc nào ở bất cứ đi chứ không phải tranh thủ lúc mọi người chưa dậy hết, lúc phố xá còn yên tĩnh và những con người ngoài kia còn đang lục tục sửa soạn đi làm hoặc cho con đi học… – nếu thế, dẫu trái đất có biến mất, tôi vẫn sẽ ngủ. Tôi có một người anh họ, người đã nướng cả tuổi trẻ của mình trên chiếc nệm êm, đến nỗi bá tôi, mẹ của anh, vì quá bất lực nên phải cầm chổi đánh anh dù rằng lúc ấy anh đã hai mươi nhăm tuổi và đã lấy vợ. Vừa đánh anh, bá vừa rủa:

    “Mày đúng là cái của nợ! Của nợ! Đàn ông đàn ang ngủ như gấu!”

    Chiếc chổi được quẳng đi, chỏng chơ giữa sàn nhà, và bá tôi thở dài nói:

    “Từ nay cứ gọi anh mày là Chúa Ngủ.”

    Nhưng hãy khoan phán xét anh tôi vội. Nếu tôi có thể khoá trái cửa phòng và giam mình viết lách từ sáng đến đêm, thì anh tôi, người công khai thờ phụng thần Hypnos, có thể ngủ hai ngày hai đêm không dậy, đến nỗi một lần bá tôi đã phải phá cửa vào vì tưởng anh nghĩ quẩn. Ồ, chẳng xi nhê, anh đang ngủ thẳng cẳng và khi bá bực bội bỏ ra ngoài, anh kéo tôi lại, hỏi:

    “Giờ là sáng hay chiều thế Long?”

    Còn vợ anh, một thiếu nữ tần tảo, chịu khó, yêu anh hết lòng và như mọi cô gái nhà quê khác, đã trao thân cho anh không chút nghi hoặc và được mẹ tôi tặng một chiếc xe Wave làm quà cưới, thì sống ở nhà bá tôi như một con ở. Trái ngược với chồng, chị phải dậy từ rất sớm, cơm nước chuẩn bị bữa sáng cho nhà chồng, mà trong bữa ăn, chốc chốc ông bố chồng sẽ vừa nhai rau ráu vừa lắc mặt ngán ngẩm:

    “Món này mặn quá!”

    “Không có dưa chuột cho bố à?”

    “Hôm qua rang cơm rồi mà nay vẫn ăn cơm là sao?”

    Có một lần, chị Phương gọi tôi ra và than phiền về ông chồng quý hoá của mình. Ba mươi tuổi rồi mà vẫn chơi game tối ngày, tiền tiết kiệm xây nhà không có, bố mẹ chồng một mặt chiều chuộng hai đứa cháu cưng, một mặt chì chiết cặp vợ chồng trẻ vô dụng. Chúng tôi đứng ở lan can tầng thượng, qua hàng chấn song có thể nhìn thấy cả một triền đê phía dưới, cỏ dại đua nhau mọc lổm nhổm, có cả một cây xoài sát bờ ao, cành lá la đà trĩu xuống mép nước, là nơi ngày bé tôi thường vặt trộm xoài thái đem về dầm muối.

    “Giờ chị chỉ muốn bỏ hết đi,” chị Phương tỏ bày. “Anh Quyết mày sang Nhật Bản một năm rồi mà gửi về được 2o triệu, sống lay sống lắt…”

    “Chị đi đâu?” tôi ngắt lời chị.

    “Chị cũng sang Nhật Bản, nhưng khác thành phố. Muốn thăm thì đi tàu cũng được. Nhưng giờ chị sống khổ quá, em ạ. Khổ hơn chó. Ba mẹ chồng thì khắc nghiệt, mẹ chị còm cõi ở quê với đứa em trai chị, nhà chị nghèo lắm, mà chị không có tiền cho mẹ…”

    Chị quê ở Bắc Giang, một tỉnh láng giềng của Hải Dương nhưng tôi không biết gì hơn ngoài việc được ông nội bảo rằng đồi vải ở đó rất to, nhưng chung quy không ngon bằng vải Thanh Hà quê mình. Chị Phương tôi đã sống mòn mỏi, sống trong tủi nhục, miếng ăn miếng uống cũng không đường hoàng mà nuốt cho xuôi, trông chị lúc nào cũng thấp thỏm lo âu, sợ người ta quở trách, phàn nàn về mình. Mỗi lần tôi lên chơi nhà bá, ngồi vào bàn ăn, chị đều thết đủ các món (chị có hẳn một cuốn cẩm nang nấu ăn đặt trên bàn trang điểm) và vừa ngắm tôi ăn, chị vừa hỏi bằng giọng hồ hởi:

    “Thế nào? Có ngon không? Có nhạt quá không? Món này chị mới tập nấu đấy!”

    Trong lúc nhà chồng nhai nhóp nhép, mắt chăm chắm nhìn lên chiếc TV gắn tường, chị Phương chật vật cho hai đứa con nghịch ngợm ăn. Hai đứa trẻ sống đủ đầy nhưng còm nhom, mặt quắt, mắt xếch như người Tàu, giống đằng nội. Chúng ngậm cơm trong miệng như ngậm bã mía, thành thử khi chúng ăn xong thì cả nhà đã bỏ lên gian khách rồi, ai làm việc nấy, và dưới nhà bếp vẫn vọng lên tiếng chị Phương quát tháo con. Những năm sau này mỗi độ lên chơi tôi đều ngỏ ý rửa bát giúp chị, nhưng trước mặt bố mẹ chồng thì chị luôn từ khước thẳng thừng, mắt không nhìn tôi, còn khi chỉ có hai chị em thì chị mừng quýnh như các bậc phụ huynh thở phào nhẹ nhõm sau khi chia tay con em ở cổng trường mẫu giáo.

    Bây giờ chị Phương sang Nhật Bản rồi. Còn chồng chị bặt vô âm tín, vì anh tôi đã trốn ra ngoài, trở thành cư dân bất hợp pháp. Gia đình bá tôi thuê cả thám tử tư nhưng vẫn vô dạng. Mọi người đoán rằng anh bị nhốt rồi, đợi vài ba tháng nữa là anh sẽ được gửi về, người gầy tọp và rất hom hem. Không biết chị Phương có đủ mạnh dạn để ly hôn không nữa… Đúng là sống đoạ thác đày, đúng là, như chị nói, khổ hơn chó.

    … Sáng nay tôi có cảm hứng nên viết bị lạc đề. Chỉ từ câu chuyện dậy sớm với bà chủ quán trà đá mà tôi sa lầy ra tận đẩu đâu….

    Bà chủ quán khen tôi cao ráo, sáng sủa, dậy sớm giúp người khoẻ hơn, tinh thần phấn chấn hơn. Bà hỏi tôi làm nghề gì và tôi đáp mình làm marketing. Rồi bà hỏi bồ tôi làm nghề gì và tôi lặp lại câu trả lời.

    “Thế bồ cậu có yêu cậu không?” bà nói lí nhí.

    “Người yêu cháu thì chẳng có gì phải bàn, bà ạ,” tôi thật thà nói, “phải cái là người yêu cháu hơi nhiễu.”

    “Ồ, nhiễu cũng được chứ sao cậu! Nó yêu thì nó mới quấy! Quan trọng là nó phải yêu mình!”

    Tôi mỉm cười.

    “Sao… Chả đúng à? Đàn bà yêu thì người ta mới quấn. Thế là mừng cậu ạ. Chứ yêu mà như không yêu còn chết nữa…”

    “Lạc lõng.”

    “Ừ, thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm…”

    ***

    Cuối tháng Năm. Trời se se như tiết thu. Một thằng bé múp míp, chắc vừa được nghỉ hè, mỡ bụng phình qua lần vải mỏng, da bánh mật, đạp xe vòng quanh khu phố. Trông nó mà tôi cứ cười mãi. Sáng gặp, trưa ăn cơm xong đi dạo cũng gặp.

    “Chào chú,” nó nói lí nhí lúc đạp xe ngang qua tôi.

    Vài phút sau, một bà già, chắc là bà nội của thằng nhóc, bảo nó rằng:

    “Thôi, về ngủ đi con! Tập chăm thế là khoẻ rồi!”

    Đấy, cu cậu này mới thực là vô tư và sảng khoái làm sao…

    ***

    Ngồi sửa lại bản thảo cả tối. Viết chán òm. Rõ là bất tài!

    Hôm nay nghĩ ra nhiều ý tưởng cho truyện ngắn quá, chắc mai bắt tay vào viết sẽ thấy khó quá rồi bỏ dở. Mơ mộng về một cốt truyện luôn sướng hơn là bắt tay vào viết nó ra.

    Tôi đang ấp ủ một tản văn về những ngày sinh viên. Mới viết được 2 chương, khoảng 3.000 từ.


    Ngày 28 tháng Năm năm 2025,

    Sáng trời nồm như tiết xuân. Dậy sớm từ năm giờ, nhưng không viết được.

    Hơn tám giờ, tắm rửa xong, nghe Free Bird. Suýt khóc.

    Đời đẹp quá…

    ***

    Gửi “Mình không muốn tiết lộ”,

    Mình đã đọc được lời nhắn của bạn về hai truyện ngắn Thất nghiệp Đẹp và buồn.

    Vì bạn góp ý quá đúng nên mình sẽ không bào chữa gì cả. Noi theo lời khuyên của bạn, mình sẽ tiết chế hơn những miêu tả rườm rà, hoa lá nhưng xa rời mạch truyện.

    Mình đã đọc lại cả hai truyện ngắn trên và thấy chúng quả thực dài dòng. Cần trau chuốt lại.

    Cảm ơn bạn vì đã lưu tâm và dành thời gian đọc những truyện ngắn của mình. Cũng cảm ơn bạn vì đã góp ý chân thành.

    Mình đã phản hồi trực tiếp qua hòm thư nhưng không tìm thấy địa chỉ. Dù sao, hãy giữ liên lạc với nhau nhé!

    ***

    Hỡi Vệ nữ, thánh mẫu thiên giới, xin kính chào! Nhưng Túng thiếu là mẹ của Tiết độ.

    ***

    Tất cả mọi người giục giã để biết sở thích của anh. Anh đỏ mặt nói: 

    – Thế thì, tôi ấy, tôi những muốn yêu vẫn một người, mãi mãi!

    Điều này được nói ra theo một cách khiến ai nấy lặng thinh giây lát, một số kinh ngạc vì sự ngây thơ ấy, số khác phát hiện trong đó, có lẽ, niềm khát khao thầm kín của tâm hồn mình.


    Ngày 29 tháng Năm năm 2025,

    Chuyện đời vặt vãnh

    Một anh công an. Trạc bốn mươi tuổi. Khoèo tay. Ngồi bệt ở xó đường ăn bim bim, như một gã lang thang. Từng bị tai nạn nghề nghiệp, chấn thương sọ. Ngờ nghệch đến lúc chết.

    ***

    Một cô em gái. Da ngăm, đùi chắc lẳn, xăm hình ở bắp chân. Giọng oang oang như đàn ông. Vừa lái xe máy vừa nghe điện thoại.

    “Phải xét nghiệm ADN ngay xem đấy có phải con ông ấy không?”

    ***

    Nhân viên văn phòng. Bình thường như bao người. Nhiệt tình, hào sảng, cười rất to trước những điều tầm thường. Có hai người tình, một cô yêu sáu năm, một cô yêu bốn năm. Vẫn đang yêu.

    ***

    Một bà lão. Chuyên mò cua bắt ốc. Sống cùng ông chồng là cán bộ về hưu. Con cái rất giàu, nhưng vẫn sống trong gian nhà đất ọp ẹp xây từ những năm 90. Quen miệng gọi bà nội tôi là “cô giáo”, chuyên gạ bà tôi mua ốc. Bị chồng đánh đập rất nhiều. Một lần, được con cái đón về sống chung, vài tuần sau đòi về. Thà bị đánh mỗi ngày còn hơn bị chia cắt khỏi cái xó của mình. Khổ quen rồi sướng không chịu được. Về phần mình, ông chồng, trạc bảy mươi, rãnh má rất sâu, quanh năm ăn diện tề chỉnh như hồi còn làm viên chức, cà vạt khổ to màu đỏ chấm bi đen, sơ mi cổ cồn trắng đóng thùng, áo vest dạ hai cúc xẻ vạt bằng dạ khoác ngoài; mùa đông thì diện áo len cổ tim không tay, khăn choàng nhỏ có riềm tua. Ông ta đi dạo rất nhiều, và không bao giờ đáp lại những lời chào của đám con nít. Dần dà tụi nhỏ không thèm chào ông ta nữa, còn khi lướt ngang bà vợ lão, thấy cái bướu to tướng trên lưng bà già, chúng cũng thấy thương thương.

    “Chẳng việc gì! Bà đấy giàu như quỷ, cứ thích khổ thế thôi!” bố mẹ chúng nói thế.

    ***

    Sinh viên nhưng đã đi làm. Cả ngày dài tới gửi mình ở phòng máy lạnh công sở. Tối về chơi game, rồi vì tiền lương không đủ ăn, nhận thêm job ngoài. Làm tất bật, vừa ăn vừa làm; ngồi ghế văn phòng cả ngày, ngồi trên yên xe qua cảnh tắc đường, vừa mở cửa phòng lại ngồi vào bàn làm việc tiếp. Công ty làm cả thứ Bảy. Chủ Nhật là ngày ngủ bù, tối hôm trước thức đến ba giờ sáng, ngủ đến trưa hôm sau. Đến chiều thì bạn gái qua. Cô này chỉ biết bấm điện thoại trong vô thức, lúc anh bạn trai cắm cúi làm việc. Tầm bốn giờ chiều cô kêu đói, họ chọn một quán gần gần để ăn. Ban đầu cô nhũng nhiễu, càm ràm nhiều vô kể, vì cả ngày cuối tuần đã để uổng phí. Nhưng cô yêu anh quá, nên sẵn sàng chịu đủ thiệt thòi. Có hề gì, nếu đánh đổi một vài buổi hẹn hò để vun vén cho sự nghiệp? Mà anh đang làm việc để lo cho tương lai của hai đứa chứ đâu? Những cuối tuần sau đó, cô cũng tranh thủ, mở lap ra làm job riêng, kiếm thêm chút tiền. Ở nhà chán, họ rủ nhau ra quán cà phê, chụp choẹt một vài tấm hình, gọi là workdate. Tuổi thanh xuân của họ cứ thế trôi qua, mòn mỏi, đầu tắt mặt tối, lúc nào cũng vội vã, cũng tất bật, điên cuồng như con chuột chạy trong con quay… Về đêm, họ ôm lấy nhau, tự nhủ rằng mọi khốn khó rồi sẽ qua, rằng mọi tủi nhục, thiếu thốn, chênh vênh, ở cái độ tuổi này, đều là cần thiết và xứng đáng cả!

    ***

    Trong cuốn sách này, du Camp đã viết: ‘Các tác giả được chia thành hai hạng: những người coi văn học là phương tiện, những người coi văn học là mục đích. Tôi thuộc về, và luôn thuộc về, hạng đầu tiên; tôi chưa bao giờ đòi hỏi ở văn học nhiều hơn quyền được yêu nó và vun đắp nó tốt nhất có thể.”

    Hạng người văn chương mà Maxime du Camp hài lòng được thuộc về luôn chiếm một phần đông đảo. Đây là những người đàn ông có khuynh hướng văn chương, tình yêu văn chương, và thường có tài năng, thị hiếu, văn hóa cùng sự khéo léo; nhưng không có năng khiếu sáng tạo. Khi còn trẻ, họ có khuynh hướng viết những câu thơ hoàn chỉnh hoặc một cuốn tiểu thuyết xoàng xoàng, nhưng sau một thời gian, họ ổn định với những gì họ thấy dễ dàng hơn với họ. Họ viết bài điểm sách hoặc trở thành biên tập viên cho các tạp chí văn học; viết lời tựa cho các tác phẩm của các nhà văn quá cố, tiểu sử của những người nổi tiếng, các bài luận về các chủ đề văn học; và cuối cùng, giống như du Camp, hồi ký của họ. Họ đảm nhiệm một vai trò hữu ích trong thế giới văn chương, và vì họ thường viết một cách tao nhã, nên các tác phẩm của họ thường dễ đọc. Không có lý do gì để coi thường họ như Flaubert đã coi thường du Camp.

    … Du Camp nghĩ rằng người bạn cũ của mình đã phạm sai lầm khi chôn mình ở Croisset; và vào một trong nhiều dịp đến thăm, ông đã thúc giục Flaubert định cư ở Paris, nơi ông có thể gặp gỡ mọi người, và bằng cách hòa nhập vào đời sống trí thức của thủ đô, bằng cách trao đổi ý tưởng với những bạn đồng nghiệp, mở rộng tầm mắt. Trên thực tế, có rất nhiều điều để nói về khái niệm này. Nhà văn tiểu thuyết phải sống giữa những nguyên liệu thô của mình. Y không thể chờ đợi kinh nghiệm đến với mình; y phải đi tìm nó. Flaubert đã sống một cuộc đời rất eo hẹp. Ông biết rất ít về thế giới. Những người phụ nữ duy nhất mà ông tiếp xúc thông thường là mẹ ông, Elisa Schlesinger và ‘Nàng thơ’. Nhưng ông là người bốc đồng và hống hách. Ông không thích bị làm phiền.

    Tuy nhiên, Du Camp không để yên, và trong một lá thư ông viết từ Paris đã đi xa đến mức nói với Flaubert rằng nếu ông tiếp tục sống cuộc đời hạn hẹp đó, ông sẽ sớm bị suy nhược não. Nhận xét đó khiến Flaubert tức giận và ông không bao giờ quên nó. Tất nhiên đó là một điều không may, vì ông luôn lo sợ rằng những cơn động kinh của mình sẽ dẫn đến điều gì đó tương tự. Trên thực tế, trong một trong những lá thư gửi Louise, ông nói rằng trong bốn năm nữa ông có thể trở thành một thằng ngốc.

    Flaubert hồi đáp du Camp bằng một lá thư giận dữ, trong đó ông nói với du Camp rằng cuộc sống mà ông đang sống chính xác là những gì phù hợp với ông, và rằng ông chỉ khinh thường những kẻ khốn khổ tạo nên đời sống văn học của Paris. Một sự xa lánh xảy ra, và mặc dù sau đó đôi bạn cũ đã nối lại quan hệ, họ không bao giờ như trước được nữa.

    Du Camp là một người đàn ông năng nổ, tràn đầy nhiệt huyết, và ông thực sự muốn tạo dựng sự nghiệp của mình trong thế giới văn học thời bấy giờ; nhưng khao khát này của ông khiến Flaubert ghê tởm: ‘ông ấy đã mất tích đối với chúng ta’, ông viết, và trong ba hoặc bốn năm tiếp theo, ông không bao giờ nhắc đến tên du Camp mà không khinh thường. Ông thấy những tác phẩm của bạn thật đáng khinh, phong cách thật đáng ghê tởm và việc du Camp vay mượn từ các tác giả khác thật đáng xấu hổ.

    Tuy nhiên, Flaubert vẫn vui mừng khi du Camp đăng trên tạp chí của ông bài thơ dài ba nghìn câu mà Bouilhet đã viết về chủ đề La Mã, và khi Madame Bovary hoàn thành, ông đã chấp nhận lời đề nghị của du Camp để đăng tiểu thuyết này trên tờ Revue de Paris .

    ***

    Tài sản quý giá nhất tôi từng đánh mất là trí nhớ.

    Tôi từng có một trí nhớ rất tốt, như thể trúng số độc đắc vậy. Tôi sẽ không tỏ ra khiêm tốn, vì tôi, từ năm lớp bốn, đã có thể thuộc lòng sáu mặt A4 sau một buổi trưa, và đọc không sai một chữ nào. Vì lẽ đó, tôi nhiều lần được giao đọc diễn văn, diễn từ, và trong những tiết kể chuyện trên lớp, tôi thường đứng lớp thay cô giáo.

    Tôi kể những chuyện cổ tích mà tôi được ông nội kể cho hoặc tôi đọc được trong sách. Ban đầu tôi đọc y nguyên. Về sau tôi tự biến tấu thêm vào rồi tạo ra những dị bản.

    Thế mà thời dậy thì của tôi đã trôi qua như kỳ sinh đẻ ở người phụ nữ, tức là, trí nhớ của tôi giảm sút rõ rệt. Tôi đã chơi điện tử quá nhiều, và rồi tôi thấy khả năng tập trung của bản thân cũng lao dốc không phanh.

    Ôi, giá như có thể lấy lại tài sản ấy! Bây giờ cái gì tôi cũng phải ghi ra, phải note lại…

    ***

    Mercy Mercy Me.

    ***

    Và anh ta nói có lý: chúng tôi quả thật đã tưởng là sẽ không đi tới nơi, thế nhưng rồi vẫn cứ tới được, và nếu mỗi người đều nghĩ kỹ thêm chút nữa thì hẳn họ đã khẳng định được rằng cuộc đời không đáng để ta bận tâm nhiều đến thế.

    – Lermontov, Một anh hùng thời đại

    ***

    Từ đó tôi bắt đầu đọc sách và học tập, rồi khoa học cũng làm tôi chán ngấy, tôi thấy rằng cả danh vọng lẫn hạnh phúc đều không mảy may do khoa học, vì những kẻ sung sướng nhất lại là những kẻ vô học, còn danh vọng chỉ là một việc may rủi, muốn có nó, chỉ cần khôn khéo là đủ. Từ đó tôi đâm ra buồn…

    – Lermontov, Một anh hùng thời đại

    ***

    Tolstoy từng rất tự ti về ngoại hình của mình. “Tôi ý thức rất rõ rằng tôi không được ưa nhìn,” ông viết. “Có nhiều khoảnh khắc tôi đã gắng gượng trong tuyệt vọng: tôi tưởng tưởng rằng sẽ không có một hạnh phúc nào trên thế gian dành cho một kẻ mà mũi đã rộng, môi lại dày và có đôi mắt ti hí màu xám như tôi; và rồi tôi cầu ở Chúa một phép màu, và biến tôi trở nên đẹp trai, và rằng tôi sẵn lòng đánh đổi tất cả những gì mình có trong tương lai chỉ để lấy một gương mặt đẹp trai.”

    Tự dưng nhớ tới câu của Howl: “Tôi không thiết sống nữa nếu không còn đẹp trai.”

    Có xấu lắm đâu nhỉ???

    Ngày 30 tháng Năm năm 2025,

    Hồi đi học quân sự có chơi bóng rổ với một cậu bạn “dân Hà Nội gốc”. Cậu ta cao, tầm mét tám năm, da trắng, bắp tay bắp chân chắc nịch và có cái răng khểnh rất duyên. Lần nào chơi bóng cùng cậu ta cũng thấy một con bé ra xem, nó chẳng quen biết ai, cứ ngồi một mình một chỗ rồi vừa xem vừa tủm tỉm cười thầm. Một hôm cô bé đó mang nước cho cậu kia, còn lũ bạn gái (chúng tôi chơi bóng rổ cùng cả con gái) chung lớp của cậu ta hò theo:

    “Đừng theo nó em ơi! Nó chơi xong nó bỏ đấy!”

    Cô nàng kia dường như bị điếc, và có lẽ cũng bị mù luôn, bất chấp đâm đầu vào anh này. Chuyện kết thúc ra sao có lẽ chẳng cần bàn thêm.

    ***

    Tôi sẽ đọc tất cả tác phẩm của Somerset Maugham.

    ***

    Chekhov từng viết trong thư rằng ông rất mến mộ tiểu thuyết (về phần tôi, tôi cho rằng nó là một tập bút ký) Một anh hùng thời đại của Lermontov. Thật may vì có bản dịch tiếng Việt, và tôi cũng đến phục sát đất cái tài mô tả nhân vật ngắn gọn mà sắc nét của Lermontov, như được trình bày dưới đây:

    Tôi ngoảnh lại: Grusnixki! Chúng tôi ôm hôn nhau. Tôi quen anh ta trong một đơn vị tác chiến. Anh ta bị một viên đạn làm bị thương ở chân và tới suối nước khoáng trước tôi một tuần.

    Grusnixki là học sinh võ bị mới tại ngũ được một năm. Anh ta làm dáng bằng một cách đặc biệt, mang một chiếc áo ca pốt lính dày cộp và chiếc huân chương Thánh Gióocgiơ, một thứ huân chương thưởng cho lính trơn. Anh ta tầm vóc cân đối, nước da ngăm đen, tóc đen, thoạt nhìn vẻ ngoài người ta tưởng anh đã hai mươi lăm tuổi, mặc dù anh ta chưa đầy hai mươi mốt. Khi nói, anh ta ngửa đầu ra sau và luôn luôn đưa tay trái lên vê ria mép vì tay phải vướng chống nạng. Anh nói nhanh và văn vẻ; anh thuộc hạng người, trong mọi cảnh đời, đều có sẵn những câu khoa trương, hạng người không xúc động trước cái đẹp và rất thích huênh hoang bằng những tình cảm ly kỳ, những ham muốn cao thượng và những đau khổ khác thường. Điều họ thích nhất là gây được ấn tượng mạnh; những cô gái lãng mạn tỉnh lẻ say mê họ như điên như rồ! Về già, họ trở thành hoặc là những chúa đất an phận, hoặc là những tay nát rượu, đôi khi là cả hai. Trong tâm hồn họ thường có nhiều đức tính tốt, nhưng thơ phú thì không đáng một xu. Điều ham thích của Grusnixki là nói những lời hoa mỹ: khi câu chuyện vừa mới vượt ra ngoài những chuyện thông thường thì anh ta thao thao bất tuyệt; tôi không bao giờ có thể tranh luận được với anh. Anh ta không đáp lại những câu bắt bẻ của bạn cũng không nghe bạn nói. Các bạn vừa ngừng một tí là anh ta chộp lấy nói ngay một thôi tràng giang đại hải mà ai nấy đều tưởng là có liên quan ít nhiều đến những điều mình vừa nói, nhưng thật ra thì anh ta vẫn tiếp tục bài diễn thuyết của mình.

    Anh ta khá hay châm chọc, những lời châm chọc của anh thường thì cũng vui nhộn, nhưng không khi nào sắc bén và độc ác: Anh ta không có khả năng chỉ dùng một tiếng mà đủ giết được người; anh ta không hiểu người đời, những khía cạnh yếu của họ, vì suốt đời anh ta chỉ lo toan cho bản thân mình. Mục đích của anh ta là trở thành một nhân vật tiểu thuyết. Anh ta thường gắng công làm cho người khác nghĩ rằng mình sinh ra không phải để sống trên thế gian này, rằng anh ta bị đày ải vào những đau khổ huyền bí nào đó, mà điều này thì chính anh ta cũng tin như thế. Đấy là lý do tại sao anh ta rất hãnh diện mặc cái áo ca pốt lính thô kệch. Tôi hiểu anh ta lắm nên anh ta không ưa tôi tuy bề ngoài hai bên đều rất thân. Anh ta được tiếng là rất can đảm, nhưng tôi đã từng trông thấy anh ta lúc lâm sự: tay vung kiếm, miệng thét vang và xông lên phía trước nhưng hai mắt lại nhắm nghiền. Đó là cái gì chứ đâu phải lòng dũng cảm của dân Nga!

    ***

    Maugham cho rằng không có ai ở Anh viết những truyện ngắn “đọc một mạch”, theo nghĩa tích cực nhất của cụm từ này, tốt hơn Rudyard Kipling.

    ***

    Người ta nói rằng các nhân vật tiểu thuyết của Balzac đúng hơn với thế hệ sau ông hơn là với thế hệ cùng thời mà ông đã mô tả.

    ***

    Một cái kết lấp lửng, một cái kết vụng về, lười biếng, xử lý kém, có thể khiến độc giả cảm thấy như bị lừa. Hụt hẫng như để rơi mất miếng cuối cùng của gói bim bim.


    Ngày 31 tháng Năm năm 2025,

    Đang viết một truyện ngắn có tựa đề “Chuyện ở một uỷ ban”. Liệu có chua cay quá không nhỉ?

    Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa, và đến cảnh mấy bà già ngồi tán chuyện cũng khiến anh ngao ngán. Nơi đây cuộc sống bí bách và buồn tẻ, nó giam hãm những tâm hồn trẻ trung như anh, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của họ là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không; còn lại, họ sống một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá… Nhảy từ thị trấn lên thành phố đã tám năm nhưng không có lấy một cái trường học cho tử tế, – thì cũng có một cái trường đại học đấy! nhưng toàn thu nhận những đứa đầu trâu mặt ngựa, lũ du đãng, đốn mạt, học hành làng nhàng cốt trốn quân dịch; nhìn mà xem, cả thành phố rộng gần ba mươi ngàn héc-ta mà không có lấy một cái thư viện, không rạp chiếu bóng, chỉ lổn nhộn toàn những công sở màu trắng toát chạy dài, tẻ nhạt, khô khốc y hệt những con người ngồi trong; những miếu, đền quanh năm không mở cửa cho khách vào; phá cả công viên thiếu nhi đi để xây vườn hoa nhưng không thấy hoa đâu; còn bệnh viện thì chỉ nhận người quen vào làm, các ông bà già quặt quẹo đứng xếp hàng từ năm giờ sáng, lương y hồn khô như ngói, quát tháo bệnh nhân…

    Kể cũng lạ, thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội tìm về đây lập nghiệp. Cuộc sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, con người hiển nhiên luôn trong trạng thái chuyển động; ấy thế mà không những họ không xê dịch mà còn chây ì, biếng nhác từ những ngày thanh niên. Có những cô giáo, thầy giáo trẻ măng về đây thực tập, nhưng hoàn toàn không phải những vị thức giả miệt mài cống hiến đâu, mà chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận và ngại sống xa nhà. Và có lẽ họ sẽ ở đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng khổ nỗi chỉ thuộc mỗi một câu, thành thử phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…

    ***

    Như hôm qua đã nói, tôi đã mượn thư viện được hai cuốn của Kipling: KimChuyện rừng xanh. Kipling là nhà văn người Anh gốc Ấn Độ, nhận giải Nobel Văn học năm 42 tuổi, trẻ nhất trong lịch sự. Sau khi trở nên nổi tiếng, ông kiên quyết lánh xa báo chí và gần như lãnh đạm trước danh vọng; ông viết tiểu thuyết Kim thay cho lời giã từ Ấn Độ, sau đó lui về một vùng hẻo lánh tại Anh và ở đó cho đến cuối đời. Ôi, chưa cần biết văn ông thế nào, cao siêu ra sao, lấp lửng vài dòng về con người ông thôi đã làm tôi mê điên lên rồi. Còn về cuốn Chuyện rừng xanh, tôi nhớ Lewis từng nói rằng một tác phẩm thiếu nhi mà chỉ có thiếu nhi đọc thì chưa hẳn là xuất sắc, ông viện dẫn câu chuyện về cậu bé Mowgli của Kipling như một trường hợp tiêu biểu cho truyện cổ tích “dành cho cả người lớn và trẻ con.”

    À, hôm qua tôi đọc một lèo truyện ngắn Phòng 6 của Chekhov, đọc xong buồn như chấu cắn…

    ***

    Đàn bà chỉ yêu những gì mà họ không hiểu thôi.

    ***

    Hoá ra bà chủ quán trà đá có một cô em họ. Cô này thường ra trông quán giúp bà vào tầm trưa hoặc cuối chiều, khi bà lão bận bịu chợ chiền hoặc bếp núc gì đó. Cô trạc năm mươi tuổi, da hơi sạm, nám hai bên gò má, trông tướng người mà đoán thì máy móc chắc còn chạy tốt – điều mà, theo cô, là kết quả tất yếu của sự nhàn tản, tập luyện, ăn uống điều độ và kiêng khem. Sáng nay khi tôi vừa bước chân ra khỏi ngõ đã thấy cô đứng cách xa hơn 200 mét hỏi lớn:

    “Nay không đi làm à?”

    Tôi khua tay và một thoáng sau đã ngồi xuống cùng cô. Đó là lần thứ hai gặp mặt, vậy mà cô còn nhớ hẳn mặt tôi cơ đấy! Thú thực tôi không thích chuyện gẫu với cô lắm vì dáng dấp cô làm tôi thấy nhớ mẹ mình, thật trùng hợp vì con trai tôi cũng bằng tuổi tôi. Từ cô, tôi nhanh chóng được biết cô là dân Nghệ An, thực ra điều này tôi phỏng đoán cũng được vì âm sắc của cô vẫn còn lơ lớ. Nhưng, cô có nhiều chuyện để kể, và dường như nhu cầu thổ lộ bị kìm nén lâu ngày nên gặp tôi cô xả như súng liên thanh, chẳng mấy mà tôi đã nhức đầu và tay chống cằm nhìn ra xa. Những lúc đó, có vẻ cô biết ý nên tạm ngừng chốc lát, để thay băng đạn, có lẽ.

    Chúng tôi trò chuyện nhiều, cũng xin nói rằng tính khí tôi vốn buồn rầu, ủ ê, càu cạu, nhưng tôi không ngại ngồi lê đôi mách đâu. Tôi thu được từ những cuộc trò chuyện lẻ tẻ vặt vãnh này đủ thứ, phần lớn chỉ nghe xong để đấy. Đôi khi tôi triển khai một vài truyện ngắn từ những mẩu chuyện cỏn con tôi tình cờ nghe được, nhưng vì kỹ thuật còn yếu, các tác phẩm của tôi vẫn mang tính “sao chép cuộc sống”, tức là, tôi chưa bồi đắp thêm vào cái hạt nhân những da thịt từ trí tưởng tượng. Đại khái tôi mới chỉ là đang kể chuyện, chứ chưa đến mức sáng tác. Suy cho cùng thì tôi mới nghiêm túc viết văn được bốn tháng, còn thời hạn tôi đặt ra cho bản thân là ba năm. Ba năm cố gắng, còn nếu không mảy may triển vọng thành tài, tôi sẽ bỏ.

    Sáng nay, sau khi tôi tiết lộ bản thân từng dự định theo học sĩ quan chuyên nghiệp, cô lập tức bĩu môi, lắc đầu ngán ngẩm và nói:

    “May mà cháu không vào! Được cái ổn định thôi, nhưng ổn định là chết! Chán vãi linh hồn!

    Và khi tôi đả động đến chuyện giới trẻ chúng tôi ngày nay nhiều người ngại sống tha phương, thì:

    “Như con trai nhà cô lúc nó đòi đi nước ngoài, các bà các cô ở quê cứ xúm vào rồi bảo: ‘Ôi giời ơi! Đi nước ngoài làm cái gì, ở quê mà sống có phải hay hơn không?’ – cô thì cô cứ nói thẳng: ‘Đấy các bà cứ ở nguyên trong cái luỹ tre làng của các bà đi.’ Mà buồn cười lắm nhé, không dám đi máy bay! Sợ chết! Bố tổ, chết càng sướng!”

    Càng trò chuyện nhiều, tôi càng thấy cô khoáng đạt và mang tư tưởng cấp tiến ra phết, có lẽ trong thời gian tới tôi sẽ còn viết thêm về cô. Còn tạm thời cứ thế này đã.

    … Về chiều thì tôi đi thư viện cùng Hương. Ở quầy làm thẻ người ta xếp thành hàng dài, tay mỗi người cầm một tấm thẻ đánh số thứ tự. Thủ tục rầy rà, làm việc lâu vô kể, các sách báo trưng bày trên kệ thì tẻ ngắt, dù toàn là tác phẩm tuyển chọn của những cây đa cây đề. Có lẽ chừng một trăm năm sau, cũng có một thằng ất ơ như tôi, khi lật giở những trang sách của chính tôi (giả sử tôi được xuất bản và trở nên nổi tiếng đi), cũng khinh khỉnh nhận xét rằng đây là thứ văn chương cũ nhàm?

    Thật may vì Hương đã đi cùng tôi, nếu không tôi đã bỏ về sau năm phút đứng đợi. Rốt cuộc tôi đã chôn chân ở cái hàng dài đó những ba mươi phút. Tôi nên cảm ơn người yêu tôi vì nàng đã bổ khuyết những phần còn thiếu trong tôi; rằng ý chí viết văn của tôi thì kiên định, tình yêu nghệ thuật thì bao la, nhưng mọi công việc khác đều làm hú hoạ đại khái; và rằng tôi nóng vội, bộp chộp, tính khí thất thường, cáu bẳn và khó chiều, con người như được đan toàn bằng những thứ kỳ quặc và mâu thuẫn nhất. Nàng chuyên hỏi tôi rằng liệu tôi có chán nàng không, tôi không biết phải trả lời ra sao, vì tôi sợ rằng chính nàng sẽ chán tôi trước.

    ***

    Hồi cấp ba cô giáo dạy Giáo dục công dân có một đứa con đồng khoá với tôi. Tôi quen nó từ thời cấp hai. Nó gầy, cận hơn tám độ, cặp kính dày cả tảng nhưng da mặt nó mỏng tèo, trơn láng, còn hàm răng thì vàng khè, mọc lộn xộn. Không hiểu sao nó bị thế, còn tính khí nó cũng khuyết tật nốt. Tôi đánh bạn cùng nó và mặc dù không khinh bỉ hay thương hại gì, đôi lúc tôi cũng thấy ghê ghê. Năm học lớp mười một thì phải, tôi nghe được tin đồn rằng mẹ nó cãi nhau với chồng (bố dượng của thằng kia) vì vụ ông này nhất quyết không muốn có con, sợ rằng đứa con khi sinh ra cũng sẽ khuyết tật bẩm sinh. Họ cãi vã và đánh nhau liên miên. Có lần cô giáo đến dạy mắt sưng húp, đỏ hoe… Có lẽ thằng kia có kể cô nghe về tôi nên nhìn chung cô để ý tôi hơn bình thường…


    Ngày 1 tháng Sáu năm 2025,

    Chà, viết đều đặn thật, hết tháng Năm rồi cơ đấy.

    Mới tuần trước thiên nhiên còn ưu ái tặng cho một đợt khí lạnh giữa hè, lòng phập phồng vì khoan khoái và những dự trù khám phá thủ đô, thì nay hè hùng hổ đổ về, từ tang tảng sáng đã thấy nóng ran cả người, kéo rèm cửa sổ thấy loá mắt.

    Hơn tám giờ sáng mới ra ngoài mà các nhà bên vẫn im thít. Hàng trà đá đóng, ông già gầy gò hay quét lá khô ở thềm nhà cũng không thấy đâu, loa phát thanh thôi làm việc vì đã vào hè, quán bún cá nghỉ, hàng bún chả bỏ không. Trên đường tản mác vài ông già bụng phệ mặc áo ba lỗ trắng bước lật đật. Một đứa bé gái chừng bốn tuổi, mặc váy đen xếp nếp, chạy theo người đàn bà phục phịch ăn mặc thanh lịch phía trước và nó gần như nhảy bổ vào tôi khi bước qua. Con bé kháu quá! Thế là tôi lại được trẻ con yêu mến rồi đấy…

    Ngày bé bà nội nói tôi là một đứa thảo lảo, gặp ai cũng quấn, xin gì cũng cho. Trái khoáy làm sao trưởng thành tôi thành ra vị kỷ, cau có, chuyện bé xé ra to, rồi tự ái vô biên. Tôi sẵn sàng sống mái với một người nếu họ dám chê tôi “dốt”, “tồ”, “đần”, đại loại thế. Tôi ý thức rất cao về phẩm cách của con người, và trong thâm tâm tôi không thể nào chấp nhận việc người ta coi khinh trí tuệ của mình. Nhưng rồi cũng không tránh khỏi những cái vả bôm bốp nhân danh “thực tế”. Đúng là… mình dốt thật!

    Hai mươi ba năm cuộc đời, điều tôi tự hào nhất cho tới giờ là tính chuyển động ở bản thân. Tôi đã từng đi giật lùi, nhưng hiếm khi dậm chân tại chỗ. Đời sống nội tâm của tôi luôn biến chuyển theo những cuốn sách tôi đọc, những con người tôi quen, những cuộc hội thoại lặt vặt tôi nói hàng ngày… – tất cả những thứ ấy, tôi cho là đầu vào. Trong số này, văn chương đóng một vai trò quan trọng hơn thảy. Stephen King từng cho rằng văn chương là “thần giao cách cảm”; còn với tôi, văn chương là sự thoát ly. Các nhà văn sẽ không nói với bạn rằng nhiều khi họ viết chỉ vì đói viết quá, chứ không phải nhu cầu được trò chuyện trong họ đã dâng lên quá cao. Người ta cũng sẽ khuyên các bạn rằng khi viết nên tưởng tượng mình đang viết cho một độc giả duy nhất, một người bạn tưởng tượng hoặc một người thân thích nào đó, nhưng tôi nghĩ độc giả đó nên là chính bạn. Bạn nên viết để thoả mãn, hài lòng chính mình trước, còn những lời hay ý đẹp, những tư tưởng, suy ngẫm… của bạn sẽ tự tìm được chỗ đứng trong lòng những người đồng điệu. Toni Morrison từng nói rằng bà muốn đọc những tác phẩm nói về số phận của người phụ nữ da màu, nhưng vì chưa ai từng viết điều đó nên bà sẽ tự viết. Vẻ đẹp của văn chương còn nằm ở chỗ nó cho phép ta cùng lúc sống nhiều cuộc đời. Đôi khi đó chỉ là sự thoát ly thực tiễn, vì cuộc sống thường ngày vốn nhàm chán, nhiều khi kinh khủng, nên ta buộc phải nương náu nơi toà lâu đài của trí tưởng tượng.

    Văn chương bồi đắp sự đồng cảm, điều mà thiếu vắng hẳn ta không sống nổi. Bản thân tôi vốn dĩ đã là một người dễ đồng cảm, cho đến nay tôi vẫn không thể thản nhiên nhìn những kẻ ăn xin lê la dọc đường tôi đi làm. Tôi luôn thấy bứt rứt, nhiều lần tay tôi tự động lần sờ túi quần nhằm kiếm cho ra một vài đồng bạc. Tôi nhớ có hôm dừng đèn đỏ ở ngã tư Vọng, đoạn cây xăng, có một gã ăn mày với phần bắp chân rách toạc, màu máu khô thâm thẫm như sáp, nằm vạ vật trên vỉa hè. Tôi thấy chộn rộn khó tả khi nhìn gã, tôi muốn cho tiền gã, nhưng tôi chùn. Vài giây sau có một quân nhân trạc năm mươi tuổi, mặt đỏ gay, ánh mắt lừ đừ, nghễnh ngãng dựng chân trống giữa ngã tư và ngất ngưởng tiến về phía gã ăn mày. Ông ta dúi cho gã tờ một trăm, hoàn toàn im lặng, trở về. Tất cả mọi người đều nhìn theo. Rồi khi đèn xanh bật, người ta nườm nượp thả tiền vào rổ cho gã ăn xin. Tôi ấn tượng với sự việc cỏn con ấy tới mức giờ tôi có thể soạn hẳn một bài để miêu tả lại ngày hôm đó. Một lần khác, tôi bắt gặp một cậu “boy phố” đầu không nón bảo hiểm, dựng xe giữa ngã tư phố Huế và băng qua đường đẩy xe lăn giúp một bà cụ. Tôi đã tư lự phát khiếp lên được…

    Tự dưng viết đến đây không nghĩ được nữa. Thôi, khi không viết được thì không nên cố, vậy nên tôi sẽ dành những điều dang dở cho ngày hôm sau.


    Ngày 2 tháng Sáu năm 2025,

    Tôi đang có ý tưởng cho một truyện ngắn, nhưng trời ơi, tôi có nhiều điều để kể đến nỗi có thể biến nó thành một tiểu thuyết. Phải làm sao đây…


    Ngày 3 tháng Sáu năm 2025,

    Cuối cùng cũng đọc xong Một anh hùng thời đại của Lermontov. Chekhov từng nhắc tới cuốn sách này của Lermontov trong thư từ, trong thư, ông ca ngợi tài năng và thiên khiếu kể chuyện của nhà thơ (Lermontov là một nhà thơ viết cả truyện). Thật không tưởng tượng nổi cần bao nhiêu thiên tư và nỗ lực để viết ra một tác phẩm lớn như vậy ở tuổi hai mươi lăm. Và cũng thật đáng tiếc con người đó đã qua đời quá sớm, trong một trận đấu súng, y như những gì ông đã mô tả trong tác phẩm này, chỉ khác một điều rằng Pechorin của ông đã chiến thắng, còn ngoài đời thì ông là kẻ chiến bại. Sau Puskin, một nhà thơ lớn đang giữa thời kỳ dồi dào bút lực đã phải bỏ mạng trong một trận quyết đấu. Haiz…

    ***

    Trong tập hồi ký Looking Back của mình, Maugham đã trích dẫn một câu chuyện của Lamfort trong Anecdotes et Bons Mots, kể câu chuyện về một người đàn ông có thói quen trải qua buổi tối với một cô bồ nhí trong ba mươi năm, và khi vợ ông mất, bạn bè ông đã xúi giục ông nhanh chóng kết hôn với cô tình nhân. “Nhưng nếu tôi làm vậy,” ông nói, “tôi sẽ không biết tiêu buổi tối của mình vào đâu nữa.”

    Thế đấy, tôi đang rơi vào một tình trạng phần nào tương tự. Tôi đã quen tự động dậy sớm và ngồi vào bàn viết mỗi sáng, đến nỗi bây giờ nếu không ngồi viết, tôi sẽ làm gì cho hết thời giờ…

    Khi mơ tưởng tới công việc thì người anh lâng lâng như cánh chim đại bàng, nhưng khi vừa mới bắt tay vào việc anh đã thấy mệt mỏi và chân tay rã rời.

    ***

    Bữa trước tôi tải về một cuốn ebook tên là Creating Short Fiction của Damon Knight, để học hỏi thêm chút ấy mà. Nhưng vừa đọc xong lời tựa, tôi lặng lẽ đóng tab lại.

    Introduction
    Three Reasons Why I Should Not Have Written This Book

    1. Writing can only be learned, not taught.
    2. Even if it can be taught, you can’t learn to write by reading a book.

    Tự dưng nhớ tới giai thoại về Mario Puzo. Người ta đồn rằng sau khi bộ phim Bố già (không phải của Trấn Thành) được công chiếu và đạt được thành công phòng vé, Puzo đã chuyên tâm hơn vào sự nghiệp biên kịch. Để bắt đầu, ông mua một cuốn sách dạy viết kịch bản cho cây bút mới, và ở dòng đầu tiên, ông đọc được: HÃY HỌC TẬP ‘BỐ GIÀ’. Con trai của Puzo kể lại rằng ông đã tống khứ cuốn sách đó không thương tiếc.

    ***

    Hôm qua nắng thật các bạn nhỉ? Hôm nay đỡ hơn xíu, mệt bã người, bải hoải, cả ngày khát nước.

    Cả tối qua chúng tôi không làm gì. Chỉ nằm đọc sách. Hương đọc được 3 truyện, 2 truyện của Chekhov và 1 truyện của Turgenev. Rồi tôi đọc thành tiếng truyện Cái chết của Ivan Ilyich chưa hết một phần ba thì cô nàng mắt đã líu díu rồi. Nóng tới nỗi bật hoà bật không mát. Sáng dậy tôi nhức hết người, ra quán trà đá người ta tiếp chuyện tôi còn chẳng buồn tiếp, tay chống cằm, chỉ ậm ừ cho xong. Về nhà ngồi lên bàn, viết hú hoạ được vài dòng, tự thấy tầm thường, lại để đấy…

    ***

    Nếu tôi là vua, tôi sẽ ban luật rằng nhà văn nào dùng từ mà không giải thích được nghĩa sẽ bị cấm viết và chịu 100 roi.

    Các bạn thử đoán xem câu này của ai nào?

    ***

    Cuối cùng tôi cũng tìm ra nguồn ebook cho tiểu thuyết Cuộc đời Arseniev của Ivan Bunin, nhưng hỡi ơi, tôi phải nhờ Grok dịch từ tiếng Nga sang. Đọc tạm vậy…

    Tạp chí Đường Văn triển khai cuộc thi truyện ngắn cho tới tận tháng Mười năm sau. Tôi có lượn lên website của họ, các truyện ngắn được minh hoạ bằng ảnh do AI tạo 😀 Mà giả tham gia thì viết gì giờ nhở?


    Ngày 4 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng nay giật mình tỉnh giấc từ năm giờ. Ngồi vào bàn viết và nhắm mắt ngủ gật mất ba mươi phút, rồi bước xuống đường. Trời oi nồng, nóng bức. Thú thực là nếu sáng tôi không tắm thì tôi không làm việc được.

    Hôm nay tôi sửa bài Giang, các bạn đọc thử nhé:

    Trong căn phòng rẻ nhất của dãy nhà tập thể trung tâm cơ khí Hà Nội, Thành Nam, một sinh viên quá hạn trường X., ngồi bất động và nghiến răng ken két. Vì chửi đổng nãy giờ nên miệng cậu khô ran, đầu óc bí bách. Dù bụng réo inh ỏi từ sáng nhưng cậu quyết không đứng dậy, nghiền ngẫm mãi về những nhận xét của hội đồng chấm thi. Suốt hai tuần nay cậu mất ăn mất ngủ để chuẩn bị đồ án tốt nghiệp, cất công sửa soạn hơn tám mươi trang, rồi chữa đi, chữa lại, thế mà bài làm vẫn bị chê tơi tả. Một giáo sư tóc mai bạc trắng ghi bên lề độc một dòng “ngán ngẩm quá!” rồi chấm bài cậu không đạt. Đã là lần thứ hai! Cậu không khỏi không nhớ đến những bạn học cấp ba của mình, kể cả những đứa bất tài nhất, đều đã phe phẩy bằng tốt nghiệp trên tay và may mắn được gia đình sắp xếp cho một chức vụ ổn định… Nghĩ tới đây, lòng cậu chợt tê tái se lại…

    Bên ngoài màn mưa trắng xoá khiến dãy cao ốc phía xa mờ nhạt như những đỉnh núi mù sương; trời lạnh căn cắt khiến các đốt tay tím bầm; gian phòng ọp ẹp tuồng như bê trễ theo chủ nhân, ba bịch ni-lông đen nằm chỏng chơ trong góc, bên cạnh là cái xô đựng cát của con mèo đã đi lạc hơn sáu tháng nay; trần nhà thâm thấp mà dưới ánh đèn điện lờ mờ càng trở nên thấp hơn, quang cảnh hỗn độn toát lên mùi tạm bợ và túng thiếu. Vì hết tiền, bốn hôm rồi Nam chưa gọi người tới dọn nhà, còn tự dọn lấy thì cậu không có thời gian, do đó đống rác rưởi cùng những vật dụng linh tinh cứ chây ì ra, choán một vách tường, quần áo bẩn lẫn quần áo sạch tống chung vào một ngăn tủ he hé như một cái bụng căng phồng…

    Ở gian bên cạnh, cách một vách tường mỏng, P. bạn cùng phòng của Nam đang chơi điện tử. Vì trời mưa nên cậu ta ở nhà cả ngày. Chốc chốc cậu ta lại hú hét loạn xạ, không mảy may lưu ý đến tâm trạng bực bội của Nam.

    “Mẹ cái trường khốn nạn!” Nam rủa. “Con mẹ nhà nó nữa… Mẹ kiếp, ngu ngu ngu ngu ngu! Đúng là ngu mới đâm đầu vào đây! Khổ hơn chó!”

    P. gõ gõ vào liếp cửa sổ ngăn cách hai gian phòng và ngây thơ hỏi Nam làm sao thế.

    “Câm mẹ mày đi!”

    “Nóng thế anh bạn!”

    Trong tâm trạng tức tối, sinh viên quá hạn đi đi lại lại trong phòng, bất giác đá quả bóng nhựa khiến nó đập vào tường rồi lăn lông lốc. Cậu nhìn quanh quất, thấy trong lòng tràn lên một khao khát man dại, đó là được xổ tung hết đống này lên. Bây giờ mà có một bao cát để mà đấm, mà đá, thì hả hê biết mấy! Tiếng trẻ con nô đùa ở căn nhà bên vọng sang; mỗi cuối tuần, chúng theo mẹ đến thăm bà ngoại. Đám ranh con vô tư cười cợt thoả thích, tranh cãi với nhau những chuyện nhỏ nhặt, ngọng nghịu đánh vần từng từ ngữ tiếng Anh. Phải gắng lắm Nam mới không hét lên: “Tất cả các người câm đi! Tuần nào cũng kéo đàn kéo đống đến!” Cậu nằm vật xuống giường, miệng há, nhìn trân trân lên trần nhà, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay…

    Hơn mười hai giờ trưa, cậu sực tỉnh vì tiếng mở then cửa, một người con gái bước vào. Đó là Giang, bạn gái của Nam, sinh viên năm cuối trường nhân văn. Cô nhẹ nhàng thu lại chiếc ô màu xanh xanh sũng nước, dựng cạnh cửa và cúi xuống tháo quai giày; trên tay cô lắc lư một bịch nước dùng láng mỡ – đó là bữa trưa. Vừa bước vào trong, trông cảnh nhà cửa nhớp nhúa, cô kêu lên:

    “Anh để cái phòng như này mà được à?”

    “Em mua cái gì đấy?”

    “Anh dọn bàn đi.”

    Nam uể oải bửa các chân trống của chiếc bàn gấp, ngáp ngắn ngáp dài. Họ ngồi đối diện nhau, lặng lẽ ăn. Răng Giang cầm cập vì dính mưa, cô run rẩy so vai, thân hình gầy gò của cô càng trở nên gầy gò hơn; đôi khi cô dùng một tay vén tóc, trông gương mặt cô nhợt nhạt, mệt mỏi và ủ rũ.

    Ăn xong, họ chung nhau một tờ giấy chùi mép; thấy người yêu đã nguôi, cô lựa lời hỏi khẽ:

    “Thế nào rồi anh?”

    “Chẳng thế nào cả!” Nam đáp xẵng.

    “Thôi nào, đừng có bực dọc thế.”

    “Trượt rồi!”

    “Sao mà trượt?”

    “Trượt là trượt! Mẹ kiếp! Chúng nó cho bảo vệ online. Thế mới khổ! Bây giờ biết lấy đâu ra tiền. Đi làm được bao nhiêu nuôi cái trường khốn nạn ấy hết. Đớp sâu thật!”

    Trong lúc Nam ca cẩm thì Giang đã tới cạnh bàn học và khom lưng nhìn vào màn hình máy tính.

    “Người ta bảo anh làm lạc đề này!”

    “Em đâu cần phải nhắc lại những cái ấy!”

    “Anh tự ái quá đáng đấy! Nếu anh không thích thì thôi… nhưng đằng nào cũng phải làm lại. Mình phải biết mình sai ở đâu để còn sửa chứ.”

    “Em… em không hiểu! Em cứ thử vào cái trường của anh đi rồi biết. Trường gì mà đồ án xét tốt nghiệp lại theo hình thức bài tập nhóm và xếp nhóm ngẫu nhiên. Nhóm được ba thằng thì một thằng cũng đi làm rồi như anh đây, nhưng đếch bao giờ vào họp, việc giao cũng không làm, hỏi đến thì bảo ‘Anh bận! Anh bận!’ Tiên sư nó chứ, đếch ai mà chả bận. Có mỗi anh với thằng kia hùng hục làm, mà thằng đấy nó ngu nhưng cứ cãi chem chẻm, lộn hết cả ruột!”

    “Thôi, cái đấy mình tạm thời bỏ qua đi,” Giang xoa dịu người yêu. “Bây giờ phải nghĩ cách để xoay sở… Để em xem nào, tiền học lại là bao nhiêu ấy nhỉ?”

    Nam nhẩm tính một lát rồi trả lời, giọng chán nản:

    “Gần ba mươi triệu.”

    “Anh đang có bao nhiêu?”

    “Năm triệu,” Nam đáp sau một thoáng chần chừ.

    “Anh gọi về nhà chưa?”

    “Chẳng còn một cắc mà xin! Ông già ở quê đang nợ đầm nợ đìa, hôm trước còn gọi lên bảo gửi tiền về.”

    Cả hai cùng im lặng một lát.

    “Anh này?”

    “Gì nữa?”

    “Anh có vay không thì em cho… Em còn…”

    “Vớ vẩn!”

    Đoạn Nam bỏ ra ngoài hiên hút thuốc. Ngồi gập người bên thành giường, Giang bình tĩnh suy xét tình hình…

    Suốt một năm qua, cô đã chứng kiến tất thảy những thay đổi lớn bé trong cuộc sống của Nam, đồng thời cả cuộc sống của chính mình, vì họ luôn kề cạnh nhau. Nam bẳn gắt, khó chiều, dễ tự ái; hiển nhiên anh có tài, anh thừa nghị lực cho những việc mình thích nhưng không có lấy mảy may chút nhẫn nại nào với những việc mình không ưa. Anh ghét thói đặt điều nhưng về phần mình, anh phán xét không kiêng nể ai và luôn đặt bản thân cao hơn những người khác. Bạn bè của Giang không thích Nam; họ thấy anh khó gần, ngạo mạn, hơn nữa anh nói tục quá nhiều, và dù không nói ra nhưng tất thảy đồng thuận rằng mối tình này sẽ chỉ lả lướt chứ chẳng dẫn đến đâu; còn Giang, cô tự khích lệ mình rằng ẩn sau vẻ ngoài tự mãn, vênh vang kia là một trái tim nóng hổi đang đập, tràn đầy hoài bão lớn lao, một tâm hồn cao thượng! Cô tin tưởng vào triển vọng của Nam còn hơn anh tin chính mình, thế nên giờ đây ngồi giữa căn phòng ảm đạm, hẩm hiu này, cô thấy trong lòng xót xa khôn tả. Cô thương người yêu quá, anh ăn uống bữa đực bữa cái mấy tuần nay, người gầy tọp cả đi, mắt thì thâm quầng vì thiếu ngủ. Cần nhanh chóng chấm dứt thảm trạng này và trở lại nếp sống thường nhật. “Phải làm sao đây, làm sao đây,” cô vừa cắn móng tay vừa nghĩ ngợi rất lung, như thể chính cô mới là người đang lầm vào thế bí, chứ không phải Nam.

    Anh đã trở vào, mặt khó đăm đăm ngồi xuống đệm, vẻ ngán ngẩm, âu sầu. Chừng năm phút sau, thanh cửa lách kêu lên một tiếng rít chói tai; P. bước ra, sửa soạn đi ăn trưa.

    “Ô! Chào bạn nhé!” cậu ta hí hửng nói với Giang. “Ngoài trời mưa lắm không bạn?”

    “To lắm, bạn lấy ô của tôi mà che,” cô khẽ đáp.

    Cậu ta liếc nhanh Nam rồi ngần ngừ đáp:

    “Thôi… tôi chạy ù ra đầu ngõ ấy mà.”

    Khi cậu bạn kia đi rồi, chỉ còn hai người với nhau, Giang bèn nhích sang phía Nam, lay lay bắp tay anh và rụt rè nói:

    “Hay là vay thằng P. hả anh?”

    “Nó thì đào đâu ra tiền.”

    “Nó chẳng vừa khoe mới lĩnh tiền học bổng tuần trước còn gì! Anh quên mất à?”

    Nam chợt thấy hổ thẹn vì ban nãy đã nặng lời với anh bạn cùng phòng.

    “Ừ nhỉ? Anh quên mất,” anh lúng túng trả lời. “Thôi được rồi, để anh xem.”

    “Ừ, lát anh vào hỏi luôn nhé, còn thiếu bao nhiêu em bù cho.”

    Một lối thoát dẫu chật hẹp đến thế cũng giúp họ khuây khoả, như những giải pháp nửa vời đôi khi vẫn khiến ta an tâm. Bên ngoài trời mưa liên miên, màn trời xám xịt buồn tẻ, và có lẽ sẽ còn mưa cả ngày dài. Hôm ấy là cuối tuần, ngày mai phải trở lại văn phòng rồi, nên họ mong chờ chiều về trời sẽ ngớt dần và có thể ra ngoài lượn lờ phố xá, ăn một bữa xả xui…

    Thế nhưng đến hơn chín giờ tối mưa mới ngớt, Nam tiễn Giang ra tới bãi đỗ xe. “Anh gắng lên nhé,” cô an ủi và xoa má anh, “dăm ba chuyện này nhằm nhò gì!”.

    Rồi cô đi, tấm áo trùm màu xanh đen ướt sũng chìm lẫn vào màn mưa, mất hút…

    Sau đó, suốt ba tháng ròng, Nam gần như không rời bàn làm việc. Trên văn phòng công việc tẻ nhạt, người ta dành phân nửa thời gian để làm việc riêng, tối về cậu ăn uống qua loa rồi tranh thủ sửa soạn đồ án. Vì không quen nợ nần nên giờ vác nợ vào người, tính mẫn cảm trong cậu gia tăng dữ dội; cậu cảm tưởng mọi lời hỏi thăm của P. đều là: “Này, bao giờ trả tiền tao đấy?”, còn khi nó hỏi cậu sắp lĩnh lương chưa thì cậu tức tối như thể sắp bị tước đoạt. Công ty chạy sự kiện liên miên, mệt bã người, hơn nữa còn hay thức muộn nên Chủ Nhật thường trôi qua chóng vánh, vô vị, phí hoài. Đến giữa trưa thì Giang ghé qua, nàng vẫn xắn tay xăng xái bếp núc; ban đầu nàng thường vận rất tươm, vì nàng mong đợi được đi chơi, rồi nàng cũng hoá tuềnh toàng; gương mặt nàng bơ phờ, uất nghẹn vì ghen tỵ với chúng bạn, những người áo quần là lượt xúng xính và mang bộ dạng nhởn nhơ, mãn nguyện…

    Nhưng tình yêu đủ lớn để san bằng thiệt thòi. Có hề gì, nếu đánh đổi một vài buổi hẹn hò để vun vén cho sự nghiệp? Nam đang làm việc để lo cho tương lai của anh, mà tương lai của anh chính là tương lai hai đứa chứ đâu? Những cuối tuần sau đó, noi gương người tình, Giang cũng tranh thủ nhận thêm vài công việc phụ. Ở nhà chán, họ rủ nhau ra quán cà phê, mỗi người một việc, chụp choẹt một vài tấm hình, gọi là workdate. Họ cảm thấy tự hào ở chính mình cũng như ở đối phương vì sự phát triển song hành này. Họ có những dự thảo sáng sủa cho mai đây, họ lấp đầy cảm giác trống rỗng bằng các kỳ vọng, họ nảy ra những ý tưởng kỳ khôi, hân hoan vì chúng, nhưng không ai nhận ra chúng chỉ như than hồng trong lò, loé sáng, vương lại tàn lửa rồi tắt ngấm. Tuổi thanh xuân của họ cứ thế trôi qua, mòn mỏi, đầu tắt mặt tối, lúc nào cũng vội vã, cũng tất bật, điên cuồng như con chuột chạy trong con quay… Về đêm, họ ôm lấy nhau, tự nhủ rằng mọi khốn khó rồi sẽ qua, rằng mọi tủi nhục, thiếu thốn, chênh vênh, ở cái độ tuổi này, đều là cần thiết và xứng đáng cả!

    Chúc các bạn ngày mới vui vẻ nhé! Bây giờ là 8 giờ 30 phút. Tôi đi làm đây.

    ***

    Sang hè rồi. Tôi còn nhớ ngày bé mỗi đợt nghỉ hè tôi thường được gửi về ngoại. Tôi ở nhà bá. Chị họ của tôi, con gái bá, dạo ấy đang học năm hai đại học. Chị quen một thanh niên hơn mình năm, sáu tuổi; vì cùng phường và vì chị tôi cũng đang nghỉ hè nên anh ta rất năng ghé qua. Mỗi sáng thức dậy, chị sẽ xoa đầu tôi và hỏi:

    “Nay Long thích ăn gì nào?”

    Tôi nheo mắt ngẫm ngợi một hồi, đảo trong đầu một lượt những món ăn. Hai chị em còn tranh cãi thêm một hồi. Sau khi thống nhất được nhu cầu, chị nhắn tin cho anh chàng kia. Chừng ba mươi phút, anh ta mang tới đúng hai suất, vẻ miễn cưỡng và bực dọc gì đấy.

    Hầu như chỉ có tôi ăn. Chị tôi ăn rất ít. Trong lúc tôi ăn, hai anh chị bỏ lên phòng trước.

    Cả ngày dài tôi không có bạn chơi cùng nên sau khi ăn xong, tôi cứ quanh quẩn trong phòng cùng chị; anh ta ngồi cạnh bên, hai người ôm ấp, vuốt ve nhau. Ngày nào anh cũng ghé qua, ngày nào cũng thấy tôi ở đấy, thế rồi một lần, khi ba người chúng tôi đang ở trong phòng thì anh ta khẽ kéo tôi lại gần, hỏi tôi có thích ăn quà vặt không. Ồ, thích chứ! Anh ta nhả cho tôi tờ hai mươi nghìn mới cóng và trước khi xua tôi đi, còn nói với theo bằng giọng sang sảng:

    “Đừng mua tạp hoá gần đây nhé! Mua quán chỗ trường tiểu học ấy!”

    Trời nắng nên tôi đi sát vỉa hè, nép mình dưới tán cây. Thú thực lúc ấy tôi mệt mỏi và chóng mặt, nhưng nghĩ đến những món ăn và đồ chơi sắp được sở hữu thì lòng tôi lại chộn rộn, tôi bước nhanh hơn và khi nhìn thấy cái quầy hàng sặc sỡ lấp ló gần cánh cổng thép của trường tiểu học, tôi đã chạy bổ tới đó như một thằng chết khát giữa sa mạc bỗng tìm ra một hồ nước.

    Bà chủ quán chèo kéo tôi ở lại những hai mươi phút.

    Tôi men theo con đường ban nãy trở về. Tôi đi bên trái đường vì bên phải không có bóng râm. Vừa về đến nhà, mồ hôi đầm đìa và mặt ửng đỏ vì nắng, tôi đã thấy anh chàng kia đang mặc áo nắng vào, chuẩn bị dắt xe ra về. Anh ta hỏi:

    “Mua được những gì? Có ngon không?”

    Tôi hồn nhiên giơ cho anh ta xem những đồ mình mang về.

    Anh ta cười khẩy, hỏi tôi đã đi đến đâu, hứa ngày mai sẽ cho tôi tiền tiếp rồi phóng xe đi.

    Vài hôm sau, mọi chuyện tiếp diễn. Quý ông hào phóng liên tục vung tiền cho tôi, mỗi ngày một nhiều, thành thử sau vài hôm da mặt tôi cháy sạm, đến nỗi bá tôi sinh nghi; và những đồ vặt cứ chất đống dần mà không biết tiền từ đâu ra, bà bắt đầu tra hỏi tôi, bằng giọng uy quyền gần như ra lệnh. Tôi đã kể một lèo, không giấu giếm một thứ gì.

    Tối hôm ấy, bá chửi chị ròng rã một tiếng trời, trước mặt tôi.

    Hôm sau, anh kia quay lại. Vẫn chiêu trò cũ, anh ta gọi tôi lại gần, ve vẩy tờ bạc trong tay, bảo:

    “Nay đi sớm đi không nắng.”

    “Anh thôi cái trò ấy đi,” chị tôi lên giọng. “Anh cứ làm tình làm tội nó mãi, trời thì nắng…”

    “Em làm sao thế?”

    “Chẳng sao cả. Đừng có bắt nó đi nữa.”

    Lúc ấy tôi ngồi lặng yên, ngơ ngác quan sát cặp đôi cãi cọ. Anh chàng kia cố gắng chạm vào người chị tôi nhưng chị tôi dùng dằng gạt ra; sau mươi phút, anh ta bỏ về. Tôi đi theo anh ta xuống đóng cổng.

    “Chị mày làm sao thế?” anh ta hỏi tôi lúc chuẩn bị ngồi lên xe.

    “Hôm qua bá mắng chị.”

    “Sao mà mắng?”

    Tôi thành thực thuật lại câu chuyện.

    “Ờ… ờ… thôi mày vào nhà đi! Anh về đây!”

    “Mai anh có qua không?”

    “Có.”

    … Anh ta trở lại thêm vài ngày, nhưng có vẻ bức bối lắm, vì giờ chẳng đuổi cổ tôi đi đâu được. Hôm nào vào bữa cơm bá cũng hỏi tôi còn bị sai đi mua quà vặt không, trông thấy cái lắc đầu e dè của tôi, bà hài lòng gật gù. Hỡi ôi! Tôi cũng ước anh ta cho tôi thêm tiền để tôi đi mua quà vặt tiếp lắm chứ, nhưng anh ta nhất quyết không nhả ra một đồng nào nữa. Nhất quyết không!

    ***

    Tự làm khó mình bằng cách chọn sai nhưng làm đúng ngành. Cuộc đời đẹp sao, giá có ai để đánh thì tốt biết mấy!


    Ngày 5 tháng Sáu năm 2025,

    Con người ta đôi khi khó mà tránh được việc nói những lời ngu xuẩn, nhưng điều tối kỵ là chớ bao giờ nói những lời ngu xuẩn bằng giọng khôn ngoan.

    ***

    Hôm nay công việc trì trệ, đầu óc bí bách như một căn phòng không có cửa sổ.

    Tối qua tôi ngủ sớm, từ chín giờ. Tôi đã căng mắt đọc Kim của Kipling và sau rốt vì không chịu được sự tẻ nhạt nên đành gác lại, đổi qua đọc Bunin. Tôi ngờ rằng bản dịch của Kim Đồng tệ và nhân tiện gần đây tôi có vài trải nghiệm không mấy thú vị với những bản dịch. Tôi đã mua cuốn ‘Vẽ một phụ nữ’ của Henry James cùng một số sách khác do của nhà formapublic; sách khá đắt, nhưng bản dịch thật sự chán ngắt, không thể đọc nổi. Một độc giả khác tôi quen thậm chí còn nghi ngờ năng lực tiếp thu của bản thân sau khi đọc sách của họ. Chán thật…

    Năm giờ sáng tôi tỉnh, nhưng không dậy: tôi định bụng hôm nay sẽ không viết vời gì cả. Cứ thế, tôi nằm ngủ tiếp đến sáu rưỡi, uống trà đá, lại về phòng, nằm im, hoàn toàn không nghĩ ngợi. Cảm giác như bị tra tấn vậy. Sáng mai tôi sẽ viết trở lại, tạm thời tôi sẽ không gõ bàn phím nữa; đến lúc sắm một cây bút máy rồi.

    Em họ của tôi vừa thi vào 10 xong, nó sẽ lên đây vào thứ Bảy tới. Em của Hương cũng lên. Hai thằng bằng tuổi nhau và sẽ tá túc ở phòng tôi. Tạm thời tôi chưa biết sẽ dẫn chúng nó đi đâu cả. Ngày mai thì sinh nhật Thư. Tôi muốn mua cho em một con gấu bông hoặc một món đồ chơi gì đó, chắc chắn sẽ phải tặng quà muộn rồi, nhưng thôi mặc kệ…

    Tối nay tôi quay lại tập bóng rổ chuẩn bị cho giải Bóng rổ miền Bắc khởi tranh vào tháng Bảy tới. Lực lượng đông như muỗi vậy, không biết tôi có được chọn không nữa. Hương thúc tôi cứ đi đi vì tôi đã bê trễ sức khoẻ của mình quá lâu rồi; thú thực, từ ngày đâm đầu vào viết truyện, tôi ăn uống qua quýt kinh khủng, vận động chỉ là đi dạo quanh khu phố tôi ở và nơi làm việc. Chưa chi tôi đã mường tượng thấy cảnh một buổi tối bị lãng phí rồi.


    Ngày 6 tháng Sáu năm 2025,

    Chiều nay ton tót theo chân chị Chu ra kho Đông Tây. Nóng kinh hồn, không có điều hoà. Dưới đây là những gì mua được:

    Kỳ lạ thế đấy cuộc đời này, Danil Granin, Đoàn Tử Huyến dịch – Tôi không biết tác giả này là ai, không biết cả nhân vật mà ông ta nhắc đến trong tác phẩm là ai. Tôi mua chỉ vì đây là sách cho Đoàn Tử Huyến dịch. Đại khái nó trình bày về một Hệ thống mà nhân vật Liubisev trong cuốn sách đã áp dụng trong suốt cuộc đời mình: ông ghi lại mọi hành động trong ngày cùng thời gian tiêu tốn cho việc đó, đều đặn trong suốt 56 năm, không bỏ ngày nào. Giống như một dạng “kiểm kê thời gian” vậy!

    Tuyển tập thơ trữ tình Puskin – Trước nay tôi chỉ đọc thơ hồi còn đi học, vì bị ép. À không, không hẳn. Vẫn có vài tác phẩm phụ lục mà tôi yêu thích. Giờ thì tôi bắt đầu tập đọc thơ… nhấm nháp giết thời giờ.

    Giọt rừng, Mikhail Prisvin, Đoàn Tử Huyến dịch – Tôi có ebook của cuốn này, nhưng vì nó quá hay nên có bản cứng phải mua vội. Dưới đây là một trích đoạn tiêu biểu:

    Một sự yên ắng đầy rét mướt. Trời đã về chiều. Những bụi cây của cánh rằng hãy còn trụi lá trở nên tối sẫm, dường như chính khu rừng đang gom những suy tư của mình lại để đi vào đêm. Qua màn tối giăng giữa những lùm cây, trông mặt trời hệt như một con mắt bằng hồng ngọc; nhìn qua các bụi cây, con mắt đỏ này không to hơn mắt người là mấy.

    Khi bước ra ngoài đường, trời oi nồng, cái nóng hầm hập đến nhức đầu. Ông bảo vệ, ăn mặc như mọi ông bảo vệ, đang ngồi ở bàn uống nước dưới một lán ô ngay cổng ra vào. Ghế bên trái còn trống, tôi bèn mượn chỗ. Ông ta nhìn tôi một hồi, hỏi tôi có hút thuốc không, rồi khi tôi đáp không thì ông ta gật đầu. Tôi ngồi xuống, chân vắt chữ ngũ, bắt đầu giở sách ra đọc.


    Ngày 7 tháng Sáu năm 2025,

    Kỳ lạ thế đấy cuộc đời này là một cuốn sách tuyệt bích, kể về một nhà khoa học tên Liubisev, người từ năm 26 tuổi, đã đề ra một nhiệm vụ, rằng cần kiểm kê toàn bộ thời gian chi tiêu trong cuộc đời mình. Ông coi đó là Hệ thống để tận dụng tối đa quãng thời gian tại thế của mình. Ngoài hệ thống ra, ông còn có một vài nguyên tắc như sau:

    1. Tôi không có những nhiệm vụ bắt buộc;

    2. Tôi không nhận những nhiệm vụ cấp bách;

    3. Khi quá mệt mỏi, tôi lập tức ngừng công việc lại và nghỉ ngơi;

    4. Ngủ nhiều, khoảng mười tiếng;

    5. Kết hợp những công việc nặng nề với những công việc thích thú.

    Thái độ của Liubisev đối với Thời Gian là rất quý trọng, ông cố gắng không đánh rơi, dù chỉ một mẩu vụn, của thời gian. Bất cứ thời gian nào đối với ông đều có ích. Ông không có khái niệm “giết thời gian”. Ông đọc Kant trên tàu, giải toán trong những buổi họp chán ngán. Soi xét cuộc đời ông, ta nhận ra thời gian không khan hiếm như vẫn tưởng. Bài học của Liubisev là: con người có thể sống từng phút của giờ và từng giờ của ngày, với hiệu suất thường xuyên cao nhất. Cuộc đời thực sự dài, rất dài; trong đó con người có thể tha hồ làm việc và vẫn kịp đọc được rất nhiều sách, học các ngoại ngữ, tham quan du lịch, nghe nhạc thoả thuê, giáo dục con cái, sống ở nông thôn và sống ở thành thị, chăm sóc vườn cây và dạy dỗ lớp trẻ…

    Ngoài ra, dưới đây là một trích đoạn đặc biệt thú vị của cuốn sách, trích từ lá thư Liubisev hồi đáp một nhà khoa học trẻ tuổi tài năng, khi anh ta phàn nàn mình không có đủ thời gian để suy nghĩ:

    Nhà khoa học mà không có thời gian để suy nghĩ (nếu như đó không phải là một thời kì ngắn – một, hai hoặc ba năm), là nhà khoa học đã hết thời, và nếu như anh ta không thể thay đổi chế độ sinh hoạt của mình để có đủ thời gian cho việc suy nghĩ, thì tốt nhất là anh ta nên từ bỏ khoa học sớm… Bây giờ anh đã là tiến sĩ khoa học, có một địa vị vững chắc. Anh chẳng phải đi đâu mà vội cả, và cần phải cố gắng để tự ý thức bản thân. Anh đặt cho mình mục đích gì? Nếu như anh đặt mục đích đạt đến kết quả tối đa có thể có trong khoa học, thì nhất thiết phải dành thời gian để suy nghĩ… ‘Quan sát và suy nghĩ’ – C. Fon Ber vĩ đại đã đặt tên cho các tác phẩm của mình như vậy, còn trong những công trình nghiên cứu hiện đại có rất nhiều quan sát nhưng thường lại quá ít suy nghĩ…

    Vì nó đáng đọc nên sẽ cần note lại thêm chút:

    Tôi muốn dẫn ra tấm gương đáng buồn của một người bạn của tôi, trước đây đã từng là một nhà khoa học không tồi và sau đó lãnh đạo một viện nghiên cứu lớn. Nhưng ngay liền đấy tôi lại nhớ đến số phận giống hệt như vậy của một nhà văn quen thân với tôi, và rồi lại của một nhà văn khác nữa. Chức vụ quả thật đã chiếm mất của họ quá nhiều thời gian và ngăn cản họ làm việc, nhưng rồi họ quen dần với quyền lực của những hoàn cảnh đó. Tất cả bọn họ đều mơ ước được giải thoát, thường nói rằng tới khi đó sẽ thực sự bắt tay vào công việc yêu thích của mình, bởi vì không thể nào viết sách và nghiên cứu khoa học một cách gián đoạn. Cuối cùng, họ được giải phóng. Mỗi người trong bọn họ đã đến được cái ngày họ vẫn hằng mong đợi. Nhưng chẳng bao lâu sau đã thấy rằng không người nào trong số họ còn có thể làm việc được nữa. Rất lâu họ không thừa nhận với mình điều đó, mà đi tìm kiếm những hoàn cảnh, tức là những nhiệm vụ nào đấy, để trì hoãn, để chạy trốn cái tự do mà họ đã nói nhiều đến bao lâu nay và có thể, cuối cùng họ đã đạt được. Người thứ nhất sinh ra nghiện ngập rồi tự tử. Người thứ hai tắt lịm dần một cách lặng lẽ, không ai nhận thấy. Và người thứ ba… Những người khác thì còn sống.

    Chúng ta muốn con người phát triển toàn diện và hài hoà, trong lúc ai cũng rõ rằng bà mẹ lịch sử lại quý chuộng hơn hết những con người suốt đời chỉ say mê một khát vọng nào đó…

    Khả năng nhìn thấy được những điều người khác không nhìn thấy là một khả năng chứa đầy day dứt và đau khổ. Cái năng khiếu tuyệt vời này mang lại cho con người nhiều khốn khổ hơn là vui sướng.

    Tôi giống với nhân vật của Gogol – Akaki Akakievitr, người cảm thấy niềm vui trong việc sao chép lại các thứ giấy tờ… hoá ra tôi viết để rồi ‘bỏ xó’ khá nhiều, những cái mà tôi hoàn toàn không tính là sẽ được in. Việc tóm lược những công trình nghiêm túc tôi làm rất cẩn thận, thậm chí đến bây giờ tôi vẫn bỏ vào việc này rất nhiều thời giờ. Tôi đã tích luỹ được mội khối lưu trữ lớn. Trong đó, đối với những công trình quan trọng tôi viết bản tóm lược, và sau đó là nhận xét phê bình. Vì vậy tôi có nhiều vốn dự trữ, và hễ khi nào gặp khả năng in, thì tất cả có thể lấy ra ngay từ nguồn dự trữ đó, và bài báo sẽ được viết rất nhanh, bởi vì trong thực tế chỉ cần lấy nó từ kho ra.

    Thời trẻ phương pháp làm việc của tôi dẫn đến tình trạng ít nhiều lạc hậu, bởi vì tôi đọc được ít sách hơn so với các bạn của tôi, những người làm việc với sách vở hời hợt. Nhưng trong cách làm việc của họ nhiều điều thú vị bị bỏ sót, và những gì đã đọc sẽ bị quên đi nhanh chóng. Còn với cách làm việc của tôi, ấn tượng về cuốn sách được giữ lại khá rõ ràng, lâu bền. Vì vậy, cùng với năm tháng, kho tàng kiến thức của tôi trở nên phong phú nhiều hơn so với các bạn tôi.

    ***

    Từ hôm chị chàng ở quán trà đá biết tên tôi, đã liên tục gọi thẳng tên riêng.

    “Long sướng nhỉ? Thứ Bảy không phải đi làm.”

    “Chả sướng gì đâu! Cuối tuần là ngày làm việc gấp đôi bình thường.”


    Ngày 8 tháng Sáu năm 2025,

    Cuối tuần được chi tiêu một cách căn ke, cẩn thận. Tôi cố gắng giữ đầu óc bình tâm và hăng hái bắt tay ngay vào công việc. Tôi cảm thấy thèm viết vô kể, ấy thế mà lúc ngồi bào bàn, tôi không thể nghĩ cho xuôi, tôi cố lần tìm những ý tưởng… Được vài phút, tôi cảm thấy mình cần ra ngoài; tôi mở cửa sổ, trước mắt tôi hiện ra một vườn cây ranh rợp xum xuê, ở một phía những tán lá xoè rộng lấp lánh ánh bạc, ở phía còn lại, không được chiếu sáng nên có màu thâm thẫm. Ngắm cảnh chán chê rồi, tôi lại cố đưa mình vào tâm trạng thích hợp, rồi tôi sớm buông bút…

    Tám rưỡi sáng thứ Bảy, tôi xuống đón Cò ở ngay đầu ngõ. Cò là em trai ruột của Hương. Lâm, em họ tôi, lên muộn hơn, chừng mười giờ hơn nó mới tới.

    Lâm dáng gầy, người dong dỏng, quắt queo như nhành củi khô, da dẻ đen đúa, trên gương mặt chỉ thấy rõ đôi mắt sáng quắc nhưng không mấy tinh anh. Cò cao ngang Lâm nhưng dày người, có da có thịt hơn: vai rộng, lưng dài, khi nói thường ngân dài giọng như hát.

    Bọn trẻ con giờ thật lạ! Chúng chẳng yêu thích triệt để thứ gì sất! Lâm không còn lạ trước thú đọc sách của anh nó, nhưng Cò dường như choáng ngợp trước cái kế sách tổ ong hèn mọn của tôi. Tất cả những gì cậu chàng quan tâm là:

    “Trần đời em ghét nhất là đọc sách!”

    hoặc:

    “Chỗ này bán được bao nhiêu hở anh?”

    “Vô giá,” tôi thầm nhủ rồi đáp gọn: “Không biết!”

    “À anh ơi,” Lâm bỗng chen ngang, “con bé Ngọc nó đem trả anh cuốn này.”

    “Thế nó đọc xong chưa?”

    “Nó bảo sách khó hiểu, anh toàn đọc những cái gì ấy!”

    Trong nhà, duy có Ngọc thích đọc sách giống tôi. Nhưng chị này đọc sách lớt phớt lắm. Nó đang ở giai đoạn mà phần lớn mọi thiếu nữ tỉnh lẻ đều trải qua: đắm chìm vào những thiên truyện ngôn tình ba xu, những câu chuyện mà tác giả gần như bóp méo cuộc đời đến nỗi các nhà lãng mạn chủ nghĩa cũng phải lấy làm ngao ngán.

    Về chiều trời oi hơn, nóng hầm hập, điều hoà chạy hết công suất. Sau bữa ăn trưa (bốn người chúng tôi đi ăn bún chả, ngồi trong quán nóng điên người và lũ trẻ bảo bún ở đây còn không ngon bằng ở quê), tôi ngồi bàn đọc nốt truyện ngắn Cuộc sống tươi đẹp của Bunin rồi cùng Hương đến thư viện đổi sách. Tôi lựa được 3 cuốn:

    • Hai vạn dặm dưới đáy biển, Jules Verne
    • Các hung thần lên cơn khát, Anatole France
    • Tuyển truyện ngắn Nikolai Gogol

    Tôi chưa đọc sách của Jonathan Swift và Jules Verne bao giờ. Anatole France cũng vậy. Còn Gogol thì ban đầu đọc tôi cứ nghĩ ông xoàng xoàng cơ đấy, hoá ra là tôi quá gà tồ để hiểu được tầm vóc của ông.

    Chiều tối trời đổ mưa như trút. Đứng trên tầng thượng gióng mắt ra xa có thể thấy màn mưa trắng xoá một vùng trời, mây lướt chậm và đều như thang cuốn. Hương đi học, chỉ còn tôi với hai đứa trẻ con. Tôi cảm thấy mình cần gợi chuyện.

    “Sau này lớn lên Cò sẽ hiểu,” tôi nói, “thế nào là cảm giác đi đâu cũng gặp cái tiếng khoan đục này. Dù có chuyển nhà trăm bận đi nữa vẫn sẽ gặp.”

    “Còn em thì không phải sợ vì em không học đại học,” Lâm nói.

    “Lằng nhằng mày sẽ là thằng đi làm nghề khoan đục, cái nghề phá bĩnh giờ khắc thảnh thơi của người khác đấy.”

    “Mưa sắp đến đây rồi này!”

    “Đâu?”

    Ngay lúc ấy, tiếng mưa rơi lộp độp xuống mái tôn. Chúng tôi xuống gác và về phòng. Vài phút sau, mưa trở nên nặng hạt và quất vào ô cửa sổ nho nhỏ mở hé khiến nước lọt vào trong, chất đầy rãnh cửa như một con kênh, lõng bõng chảy xuống sàn nhà. Cây cối chao đảo như sắp đổ đến nơi. Trong cái thời tiết như vậy, chẳng còn gì thích hợp hơn là nằm đọc sách, đi ngủ, hoặc kể chuyện.

    “Ngày bé anh Long cũng đưa em đi chơi thế này xong vừa bế vừa chạy dưới mưa,” Lâm nói.

    Tôi không ngờ thằng bé còn nhớ được vụ đó.

    “Bất đắc dĩ thôi,” tôi cười nói. “Hồi trước suốt ngày bị bắt trông mày, nên đi đâu cũng phải dẫn theo.”

    “Lâm với anh Long cùng ở với ông bà à?” Cò hỏi.

    “À,” tôi đáp, hơi sượng sùng, “trước thì ở cùng nhau, nhưng giờ nhà nó xây ngay bên cạnh.”

    “Chị Hương cũng ở với ông bà từ nhỏ.”

    “Cái đấy thì anh biết.”

    Im lặng một lát.

    “Ông bà chiều anh Long lắm,” Lâm khoe với Cò.

    “Mày biết tại sao anh được chiều không?” tôi vặc lại.

    Thằng bé lắc đầu, còn Cò trố mắt chờ đợi câu trả lời.

    “Vì anh xứng đáng được chiều,” tôi tự đắc nói, “nhưng khoan. Con bé Ngọc hồi bé cũng chẳng được chiều kinh khủng, song lớn rồi thì không được nữa.”

    “Em chả hiểu,” Lâm nói, “con bé Ngọc chắc con rơi con vãi ở đâu nhặt về! Ông thì chiều anh, bà thì chiều em, riêng nó chẳng ai chiều.”

    “Đấy là lý do mẹ mày ra sức bù đắp cho nó,” tôi trả lời.

    Bọn trẻ ậm ừ một lát, rồi Cò cất giọng ngán ngẩm:

    “Eo chán thật! Nghe hai người kể chuyện ông bà rõ vui, còn ông em ấy, cả ông nội lẫn ông ngoại, đều nát rượu!”

    Lâm cười nắc nẻ còn tôi chỉ cười thầm.

    “Ô thật đấy!” thằng bé nói tiếp. “Hai ông già khú rồi mà vẫn đạp xe rủ nhau đi uống rượu. Đi ngủ là phải có chai rượu trong gầm giường này này! Xong ông bà em còn cãi nhau suốt ngày cơ. Có lần ông bảo bà nấu trứng với mắm tôm cho ông, xong bà không chịu làm. Anh biết tại sao không? Tại mấy lần trước ông cũng thế, cứ sai bà làm món này món kia, kiểu cho vui mồm ấy, xong bà nấu rồi lại chê không ăn. Thế là cãi nhau. Cãi nhau to đến độ chị Hương không chịu được xong còn đứng dậy mắng ông… Ông giơ tay định tát, rồi chị khóc lu loa lên, thế là ông mới thôi…”

    “Ông mình trước cũng nghiện rượu anh Long nhỉ?”

    “Vớ vẩn, ông mày thích ngâm rượu cũng như người này thích câu cá, người kia thích chơi chim thôi!”

    “Bà bảo trước ông hút thuốc lá hơn hai mươi năm, xong…”

    “Ông bảo tao là,” tôi ngắt lời nó, “mà tao biết thừa ông nói phét. Ông bảo một hôm tự dưng nghe loa phát thanh bảo hút thuốc lá gây chết sớm, xong sợ quá nên bỏ. Không hiểu sao ông có thể bịa ra được cái lý do củ chuối ấy. Ai hút thuốc mà chẳng biết hút thuốc gây chết sớm, nhưng chưa ai bỏ thuốc vì sợ chết sớm cả.”

    “Thế ông lừa anh rồi,” Lâm nói. “Còn bà bảo em là trước ông rít liên tùng tục, xong bà doạ nếu ông không bỏ thuốc sẽ không cho ngủ cùng.”

    Cả ba người chúng tôi cùng cười… Mưa ngớt dần, chiều muộn êm ả trôi qua…

    Chừng hơn sáu giờ Hương qua. Bữa tối sửa soạn nhanh chóng và ăn uống cũng nhanh chóng. Sau khi cơm nước xong xuôi, một cuộc chuyện vãn dễ chịu lại bắt đầu. Chúng tôi bàn luận về cái tủ sách. Cò chỉ tay vào kệ sách và nói:

    “Chị Hương, chỗ này bán được bao nhiêu tiền?”

    “Mày đoán xem,” Hương đáp xẵng.

    Thằng bé ra chiều nghĩ ngợi, rồi nói hú hoạ một vài con số chẳng theo tính toán nào cả.

    “Anh Long, chỗ này bao nhiêu?” nó quay sang hỏi tôi.

    Tôi cau mày một thoáng rồi trả lời:

    “Chục triệu, tầm đấy.”

    Và đứng dậy rút vài cuốn bìa cứng trên vách kệ trên cùng, tôi bắt đầu đóng vai một giáo sư văn học, rao giảng về lý tưởng trong mỗi tác phẩm và giá tiền chỉ thuần tuý mang tính thương mại thôi.

    “Có nhiều cuốn bây giờ bán đi phải gấp đôi giá gốc đấy!” Hương phụ hoạ theo.

    “Thế á?” thằng bé kêu lên.

    “Đúng,” tôi gật gù đáp, “nhiều cuốn trên thị trường không bán nữa rồi. Nên có thể đẩy giá lên. Nhưng tất nhiên là anh đây đếch bán đâu!”

    “Chỗ này tầm bao nhiêu quyển hả anh Long?” Lâm vừa đi rửa tay về, mở cửa bước vào và gia nhập nhóm chat.

    “Chắc bảy, tám chục cuốn.”

    “Anh Long mày còn cả đống chất trong góc kia kìa,” Hương đánh mắt về phía bệ đỡ ở cuối phòng, có một đống sách lộn xộn xếp chồng lên nhau.

    “Thế cuốn anh đang cầm trên tay là bao nhiêu?” Lâm hỏi tiếp.

    “Ba trăm.”

    Nó im lặng một lát rồi nói giọng nhả nhớt:

    “Thế mai mất đừng có tìm em nhé! Hê hê!”

    “Mày chỉ thế là nhanh,” Hương cười nói. “Anh Long mày quý sách còn hơn cả chị. Sách ướt có tý mà buồn từ sáng tới giờ.”

    “Ờ… ờ… vẫn đang buồn đây.”

    Hương nhìn tôi, vẻ ngán ngẩm, nhưng lời nói ra thì phấn khích vô cùng:

    “Anh này, cuốn màu đo đỏ hôm qua anh cho em đọc tên là gì nhỉ? Cuốn đấy hay thật!”

    “Của Bunin em ạ! Hay phải không, ông ấy viết đỉnh dã man.”

    “Hôm qua em đọc truyện gì mà nhẹ nhẹ ấy nhở?”

    “Hơi thở nhẹ! Anh đọc cho em truyện hay nhất trong cuốn đó rồi mà em không cảm được.”

    “Truyện nào?”

    “Ruxia.”

    Bọn trẻ không biết tôi viết lách, hẳn rồi. Nhưng Hương đề nghị tôi nên đọc to một vài trang viết của mình. Còn tôi trước hết muốn thú nhận với nàng một điều đau đáu dày vò tôi suốt hai hôm nay.

    “Có chuyện anh cần giãi bày với em,” tôi nói, “đó là… anh đã mua cái bút hôm trước. Và quả thực nó viết như hạch. Đây, nó đây.”

    Tôi đưa chiếc bút thon thon, dèn dẹt màu đen cho Hương.

    “Bao nhiêu đây?”

    “Hơn ba trăm.”

    “Em bảo anh rồi mà! Chỉ tổ phí tiền thôi!”

    “Đâu em xem nào,” Cò hí hửng chen ngang, và khi đã ngắm nghía cây bút đủ lâu, cậu chàng buông lời bình: “Anh bỏ ra hơn ba trăm để mua một cái bút máy á?”

    “Thế đã là gì?” chị cậu ta lên giọng châm chọc. “Anh đưa nó cây bút máy màu đỏ kia đi!”

    Tôi nhấc chiếc bút màu đỏ khỏi hộp đựng và chuyền tay thằng bé. Hương nói to:

    “Rồi, mày đoán xem bao nhiêu đi?”

    Thằng bé mân mê, ngắm nghía một hồi như một người thợ kim hoàn đang xem xét món đồ người ta đem đến cho mình.

    “Năm trăm!”

    “Sai bét.”

    “Bảy trăm.”

    “Vẫn sai.”

    “Thế bao nhiêu hở chị?”

    Hương đánh mắt với tôi làm hiệu.

    “Triệu tư em ạ!” tôi bình tĩnh đáp.

    Cả ba cùng lặng đi một thoáng. Hương vẫn khoái đem vụ cây bút ra để giễu cợt tôi vì tôi đã mua không hề hỏi ý kiến của nàng; sau khi viết vời được vài bữa, tôi đâm chán vì nét bút không trơn, vì chữ viết tay xấu hoắc, và một ngày không đẹp trời tôi đã để ngòi bút toẽ ra như cái lưỡi rắn.

    … Chín giờ tối tôi ra sân bóng rổ. Hai đứa trẻ tôi gửi rạp chiếu phim trông nhờ.

    Tôi ngủ lúc mười hai giờ, sau khi đọc lớt phớt được hai mươi trang sách, truyện Đại lộ Nevsky của Gogol.


    Ngày 9 & 10 tháng Sáu năm 2025,

    Hôm nay người khoẻ re.


    Ngày 11 tháng Sáu năm 2025,

    Dạo này tôi ngủ sớm, chừng hơn mười giờ mắt đã như dính bằng hồ rồi. Sáng ra dậy muộn, ngồi vào bàn viết khoảng một tiếng rồi sửa soạn đi làm.

    Lên văn phòng nhiều khi rảnh lắm, nhưng không thể viết trên này được. Quá nhiều mối xao nhãng.

    … Giữa chiều xuống tầng một gặp chị Phương. Đang hầu chuyện với chị thì con trai chị, một cu cậu chừng lớp ba, lớp bốn, cận thị, nhìn tôi và bảo:

    “Chào chào bác!”

    Ái chà, lười cạo râu có mấy hôm mà đã từ chú lên thành bác rồi.

    Có lẽ nên dẹp ngay cái trò đọc sách tiếng Anh bằng bản dịch của AI. Tất cả những gì đọng lại là một cốt truyện mơ hồ và cảm giác phung phí thời giờ.

    ***

    Tôi còn nhớ thầy giáo toán hồi lớp Sáu của tôi là một người ưa châm chọc thế nào. Tên của thầy cũng thật ấn tượng: Đáng. Ngay từ những buổi học đầu tiên, hỡi ơi, thầy đã để ý tới tôi, thường gọi tôi lên bảng làm những ví dụ và nghiêm nghị bĩu môi mỗi khi tôi không không đáp ứng được kỳ vọng của thầy. Học hết một kỳ tôi mới biết cả lớp tôi đều học phụ đạo ở nhà thầy, chỉ riêng tôi, cuối tuần cứ chạy nhong nhong ngoài đường và la cà hết chỗ này đến chỗ khác.

    Tuy nhiên, sau khi biết vụ đó tôi vẫn không đi học thầy, phần vì tiếc tiền, phần vì sợ thầy quá. Lâu dần thì các bạn khác cũng bị đem ra mai mỉa giống tôi nên tôi bớt xấu hổ hẳn; thằng Sơn bị thầy chê răng vâu, con Trang thì thầy nói môi này thái vội phải được mấy đĩa, cứ thế. Về phía tụi học sinh, vì thầy Đáng lùn tịt nên chúng tôi thường gọi thầy là “quỷ lùn”. Thầy có cái bụng bia to tướng, một cặp kiếng dèn dẹt và đôi mắt của thầy cũng dèn dẹt y thế, lúc nào trông cũng như thể đang dò la thám thính điều gì.

    Thầy khó tính, vặn vẹo học sinh đủ kiểu; nhưng số học sinh ghét thầy và quý thầy vẫn ngang ngửa nhau. Tôi nghiêng về về sau hơn, vì tôi sợ thầy chứ tôi không ghét; thầy dạy giỏi và mỗi lời khen ngợi của thầy, vốn khan hiếm, trở nên quý giá nhường nào.


    Ngày 12 tháng Sáu năm 2025,

    Tối qua tôi chở Hương ra Ocean Park dự fan-meeting của Đăng Khôi (tôi không biết điều này cho đến giữa buổi). Kỷ niệm ba năm. Ban đầu, hai đứa dự định sẽ nấu một bữa cơm tươm tất, đèn nến đủ thứ kiểu. Rồi đổi qua ăn hàng. Sau rốt lúc đi giữa đường, tôi quyết sẽ phóng bằng được ra Hưng Yên.

    Chúng tôi vừa ra tới nơi thì trời mưa. Dưới ánh đèn sân khấu từng hạt mưa liên xiên đâm xuống như một dải bụi vàng; quang cảnh thật rực rỡ, sống động. Năm phút sau mưa ngớt dần, người ta căng những chiếc ô trong suốt, ánh đèn flash nhập nhoạng, chốc chốc lại nghe thấy tiếng một cổ động viên quá khích hét lên những câu từ quên cả thận trọng giữ gìn.

    Người yêu tôi quả là lạ! Khi trên đường, tôi hỏi gì nàng đều đáp “cũng được”, vậy mà ra tới nơi, nàng la hét cuồng nhiệt, mắt đăm đắm, nhón chân nhìn sân khấu qua vai người khác. Nàng nhờ tôi quay lại bằng hết những khoảnh khắc của Trọng Hiếu. Chậc, anh chàng này Tây thật; anh ta mặc chiếc quần thụng màu đen, thắt lưng đính đá; mái tóc anh trông như Jared Leto trong Morbius. Đội ngũ trang điểm đã thành công trong việc biến anh ta thành một gã ma cà rồng đẹp trai.

    “Đẹp trai quá!” Hương reo lên.

    “Ừ, đẹp trai thật!” tôi nghĩ thầm.

    Tôi đói, rủ Hương đi ăn gì đó nhưng nàng từ chối. Nàng chờ Tự Long xuất hiện. Chán nản, cồn cào, tôi rảo bước đi quanh quảng trường. Tôi đi một vòng, ngắm nghía đủ các thứ; tôi vào một quán, xem lướt menu rồi đi ra; tôi ra ngồi ở gần bệ phun nước, những tia nước vồng lên từ miệng của con sư tử bằng đá. Tôi đứng dậy, đi tiếp, sau cùng tạt vào Chang Hi. Nhân viên phục vụ làm tôi nhớ tới em tôi ở quê, chân tay dài lênh khênh, mũ lưỡi trai Gucci, làn da đen rám nắng…

    Lúc trở về, chúng tôi lạc đường, đâm vào một ngõ cụt. Một ông chú đang ngồi xổm hút thuốc gần đó mới hỏi:

    “Đi đâu đấy?”

    Hương lanh chanh đáp:

    “Về Hà Nội đi đường nào chú?”

    “Cầu Vĩnh Tuy hay cầu Thanh Trì?”

    “Vĩnh Tuy ạ.”

    “Thế lên dốc rồi đi thẳng.”

    Tôi rịn ga lên dốc, toan phóng thẳng.

    “Đi đường này chứ anh!”

    “Mẹ kiếp! Đi thẳng mới đúng!”

    “Anh gắt cái gì!”

    Tôi không nhớ mình đã đáp lại thế nào, hẳn là rất thậm tệ. Như thể có ai đó cầm mõ gõ vào phần giữa hai lông mày của tôi. Lời vừa buông ra đã thấy hối hận ngay! Thế là hậm hực nhau suốt đường về.

    “Anh có viết về những thói xấu của anh không?” Hương hỏi tôi khi về tới nhà, lúc chuẩn bị đi ngủ.

    “Không.”

    Dẫu tình cảm hai đứa có thế nào, quán bún ngan ở Thanh Nhàn vẫn ngon bền vững, ngon như lần đầu ta ngồi ăn. Chuyện tình quán bún ngan.

    ***

    Tôi bắt đầu hiểu ra tại sao các truyện ngắn của Bunin đều gây ở độc giả một nỗi buồn man mác, day dứt khôn nguôi. Chủ đề lặp đi lặp lại trong truyện ông là “đời thừa”: một khoảnh khắc vụt sáng giữa cuộc đời, đem lại phút giây thần tiên trong thoáng chốc, rồi tắt lịm; phần đời còn lại sau đó dường như chỉ là phần dôi ra của cái khoảnh khắc kia.

    ***

    Trưa nay chán cơm thèm bánh mì, mới tạt ra đầu Mạc Thái Tông. Tôi ấy mà, cứ ưng quán nào là mua đi mua lại ở đó, miết rồi thành quen. Quán có ba người đàn bà; một người tóc xù, đỏm, môi đỏ chót; người nữa có gương mặt to bè như mặt bàn với chiếc mũi lổm nhổm như một con sâu đang bò, mắt xếch kiểu Tàu, lờ đờ như loài cá chết; hai bà này có thể gọi là chủ quán, có thể gọi là chị em cũng được vì trông trạc tuổi nhau và trông từ đằng mông thì khó nhận ra ai vào ai. Còn người đàn bà thứ ba, người lúc nào đưa cốc trà đá cho tôi tay đều run lẩy bẩy, có lẽ là chân phụ việc. Tôi quý bà này hơn cả; trông bà ta ít làm điệu, rặt vẻ chất phác hồn hậu của dân quê; làn da màu đồng thau cháy nắng và những nếp nhăn hằn rõ hai bên khoé mắt khiến bà già hơn tuổi thật.

    Tôi gọi bánh mì trứng xúc xích.

    “Không nộm và nhớ thêm tương ớt. Sáng nay quên không cho đấy nhé, ăn như bỏ trấu vào miệng!”

    “Cháu ngồi đợi chút nhé… Trứng xúc xích không nộm có tương ớt!”

    Thấy chán, tôi kéo ghế ngồi ngay dưới quầy nguyên liệu và giở sách ra đọc. Ánh nắng rọi vàng những trang sách cũ kỳ vốn đã ngả vàng. Trên tay tôi là cuốn Tuyển tập I. A. Bunin của Đông Tây; cuốn sách này tôi thó được ở văn phòng và đã vớt vát tôi ra khỏi những ngày trì trệ của đời công sở. Gần đây tôi đọc trên TikTok thấy nhiều người than phiền việc không dám đọc sách ở nơi công cộng, sợ bị cho là làm màu. Là một người từng đọc sách ở yên sau xe máy, ở sảnh chờ bệnh viện, ở quán trà đá, ở công viên Thống Nhất lúc chờ pháo hoa, tôi thấy thật nực cười! Thú thực, tôi hiếm khi đọc ở nơi công cộng vì cuốn sách quá hay đến nỗi không đọc không được. Sách hay thì phải để dành đọc ở nơi yên tĩnh, như bản nhạc hay thường được cắm tai nghe để ngâm nga một mình. Tôi đọc ở nơi công cộng phần lớn vì không có gì làm, tức là, cũng thuần tuý như việc một người phụ nữ tranh thủ đan len lúc rỗi rãi mà thôi.

    Trong lúc tôi nghĩ ngợi như vậy, bỗng có hai người đàn ông tiến tới thanh toán. Bà chủ tính nhẩm thành tiếng rồi nói to:

    “Một trăm năm mươi nghìn.”

    Người đàn ông chìa điện thoại trước mặt bà chủ, bà ta gõ số trên màn hình. Hoá ra là hai lão trung niên người Tàu. Tôi đoán chừng bà già này tính lố tiền cho họ cũng nên, thế mà họ vừa đi khỏi thì bà nói:

    “Bọn này nó ăn mới khiếp thật! Mỗi thằng cứ phải hai cái bánh mì như này này, rồi lại đá một bát mì tôm sốt vang. Eo ôi, nó gọi mà tao cứ tưởng nó gọi cho người khác.”

    “Chứng tỏ mấy tay này phàm ăn quá nhỉ?”

    “Ừ, nó ăn khoẻ lắm. Hôm nào ra đây y như rằng mở cỗ.”

    Đồ ăn trao tay, tôi thanh toán tiền rồi lấy sách che đầu khỏi nắng; men theo vỉa hè, tôi dừng chân ở quán trà đá. Không hẳn là quán, đúng hơn là một cái sạp, gồm một bàn nhỏ bằng nhôm trên đựng các thức uống sặc sỡ thông thường.

    “Hôm nay không mát như hôm qua nhỉ?”

    “Ừ, hôm nay gió lặng rồi. Hôm qua gió thổi mát rượi, sướng rơn người.”

    Tôi ngồi xuống một bàn dài. Người phụ nữ ngồi cạnh tôi đội mũ rộng vành kéo sụp xuống ngang tầm mắt, tôi không nhìn được mặt chị ta. Căn cứ vào dáng dấp và trang phục, tôi ướng chừng chị ta khoảng ba nhăm tuổi. Chị mặc sơ mi trắng dài tay, quần âu đen ống loe; đối diện chị là một ông chú mặt đỏ dừ, giọng khô rang, đang tiếp chuyện với ai đó qua điện thoại. Trông họ vừa giống anh em, vừa giống sếp với nhân viên, lại vừa giống nhân tình. Sự kết hợp giữa vế hai và vế ba không phải không khả dĩ.

    Lát sau quả thực có một cơn gió ào ạt thổi từ chung cư phía sau, đẩy bịch túi bóng vo tròn của tôi lăn lông lốc xuống thềm đường. Tôi về văn phòng. Lúc mở cửa, tôi thấy cô chủ nhà đang ngồi vắt chân, mặt hướng ra đằng cửa, nghe điện thoại. Cô là một thi sĩ kiêm văn sĩ; tôi đã từng đọc một truyện ngắn của cô và thấy chúng khá được, còn thơ thì tôi không cảm được. Tôi đã nhiều lần định bắt chuyện với cô, thổ lộ rằng tôi cũng nuôi mộng con chữ nhưng rồi lại thôi. Mọi chuyện cứ bỏ ngỏ như thế thôi. Đến giờ, có lẽ cô ta cũng chẳng biết về tôi gì hơn một thằng nhân viên loắt choắt trên tầng bốn, làm sách, thi thoảng xuống rít trộm thuốc lào của ông bảo vệ ở phòng bếp phía sau.

    Văn phòng của tôi, nếu nó đủ tiêu chí để được gọi là một văn phòng, có một hành lang ngắn thông sang phòng trà. Bên này, chủ nhà, vì thị hiếu, treo trên tường các tấm vải thổ cẩm sặc sỡ nhưng không mấy bắt mắt, trái lại, khá quê mùa và khiến căn phòng đã tối càng trở nên u tối hơn. Dưới những tấm vải có gắn những đồng xèng to to mà mỗi khi tôi bật quạt cây, chúng dội vào tường kêu lên những tiếng leng keng rất khó chịu. Vài bức hoạ vẽ bằng tranh sơn dầu, loang lổ, không ra một hình thù gì, không hiểu dụng tâm của nghệ sĩ là gì, được bày biện so le, cao lớn, đứng án ngữ như mấy tên lính gác; bản thân chúng dường như ý thức được tính trừu tượng và đánh đố của mình nên cũng lặng lẳng, vô hồn, cam chịu sự bạc đãi của người xem thông thường. Thi thoảng vài người đi qua, nhìn liếc chúng và phẩy tay bảo:

    “Eo cái ông Tĩnh (tên của hoạ sĩ và là chủ nhà) này toàn vẽ mấy cái gì gì ấy. Cứ vẽ phong cảnh có phải hay hơn không.”

    Trong phòng dựng một ghế dài đan bằng cói là nơi tôi nằm ngủ trưa. Tôi thường ngả người ra đó, tựa đầu lên chiếc gối ôm hình tròn lút lại ở giữa như một chiếc bánh donut, chân gập lại, đọc hú hoạ được chừng mười, hai mươi trang sách rồi mắt như bơi trong đầu, dần chìm vào giấc ngủ trưa, bải hoải, nhức nhối cả người và đôi khi bực mình vì tiếng piano vọng lên từ dưới tầng bỗng khiến tôi thù oán cả Chopin.


    Ngày 13 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng ra đã nhức hết đầu vì tiếng khoan đục. Chị chủ quán trà đá thì cứ đôi ba câu lại:

    “Ui mày giống y thằng con cô!”

    Dường như điều gì ở tôi cũng gợi nhắc cô nhớ đến con trai mình.

    ***

    Hôm nay mua xôi về ăn cùng mọi người ở văn phòng. Uống trà ổi hồng. Buổi trưa ngồi sửa truyện.

    ***

    – Anh bảo anh đau khổ vì em, sao vẫn thấy anh hát? Sao vậy? Hồi ấy em vẫn nghe thấy anh hát trên bao lơn, – Katerina vừa ôm ấp người tình vừa tiếp tục hỏi.

    – Sao lại hát ấy à? Thì con muỗi đấy thôi, quanh năm vo ve nhưng có phải vì nó vui sướng đâu nào, – Sergei hờ hững đáp.


    Ngày 14 tháng Sáu năm 2025,

    Một ngày sẽ dài như vô tận nếu không có sự can thiệp của con người. Cố tận hưởng nốt buổi sáng vì chiều phải đi concert rồi.


    Ngày 15 tháng Sáu năm 2025,

    Tối qua đi concert tới hơn một giờ đêm mới về. Người ướt sũng như chuột lột, nhưng đi đường gió tạt thì khô cong. Sáng ra bảy giờ đã phải dậy chở bà Hương đi ăn sáng. Trở về nhà, đọc lớt phớt vài trang sách rồi lăn ra ngủ tới gần hai giờ chiều.

    Đọc một lèo Người hành hương mê đắm của Leskov.

    Tối, trời mưa. Đọc truyện ngắn Tamango của Mérimée. Đi chơi bóng rổ, vừa phí thời gian vừa phí tiền. Ăn tối qua loa, về nhà.

    Hôm nay không viết gì cả. Cảm thấy trống rỗng.


    Ngày 16 tháng Sáu năm 2025,

    Nước chè trong tới độ nhìn thấy vân tay in trên thành cốc khi tôi siết mạnh tay. Trời nhiều mây, mát mẻ.

    Không viết được gì. Ngồi ở quán cà phê. Gần cạnh là một cô gái trẻ tóc ngắn, xăm ở bắp tay, da trắng, mặc áo hở lưng. Ngồi ở bàn ngoài cửa là một thanh niên tóc vuốt keo, tờ hồ sơ đặt trên bàn, cả buổi thấy bấm điện thoại. Trời, quán ồn kinh khủng. Thế mà có ông mang cả Kindle với một pho sách dày cộp ra. Sao mình lại chui ra đây làm gì không biết…


    Ngày 17 tháng Sáu năm 2025,

    Cả buổi sáng ngồi lọc các bài viết gửi về cho cuộc thi “Đại lộ của những giấc mơ tan vỡ”, từ những con người cùng mắc một tật là đam mê viết văn. Phần lớn là học sinh, tuổi mười lăm, mười sáu, ít nhiều dính dáng tới môn Văn trên ghế nhà trường. Những giấc mơ tan vỡ của họ, vì trải nghiệm còn ít ỏi, tạm gói gọn trong việc thi trượt vào trường chuyên, hoặc, hiếm hoi hơn, nhận ra sự bất tài và vô vọng của việc xuất bản một cuốn sách. Việc xét duyệt và đăng tải các bài viết thế này giống một bài tập rèn tính kiên nhẫn và đắp bồi lòng vị tha. Tôi phải giữ một tinh thần kiên định và một lý trí không thiên kiến để lượng thứ cho mỗi dấu ngắt nghỉ đặt sai chỗ, những đoạn văn không có dấu chấm câu, ngữ pháp lộn xộn, cách hành văn cẩu thả, đó là chưa kể những pha lạm phát sáo ngữ. Tôi từng đọc được rằng lý do các biên tập viên hiếm khi công thành danh toại trong nghề văn chương được bởi vì “làm sao có thể viết những tác phẩm hay cho được khi phải đọc những tác phẩm tệ của người khác mỗi ngày.” Trêu vậy thôi, Toni Morrison đã làm biên tập viên sách thiếu nhi trong hơn 20 năm trời đấy.

    Gần đây tôi chuyển qua viết tay. Giấy, bút thượng hảo hạng nhưng chữ viết thì xấu hoắc.

    Từ ngày viết cái nhật ký này, tôi liên tục bị thúc giục bởi một fan nữ khiến đời sống tinh thần của tôi nhiều khi bực bội vô kể. Cô ta phàn nàn sao dạo này tôi ít viết nhật ký thế, hoặc sao mỗi lần viết chỉ độc có vài dòng. Chắc hẳn các bạn đều biết cô ta là ai…

    Hôm qua trước khi ngủ đọc cho Hương nghe “Người đàn bà có con chó nhỏ”, chưa đọc hết mười trang đã thấy ngáy rồi.


    Ngày 18 tháng Sáu năm 2025,

    Trưa nay tôi đi ăn mì tôm ở ngoài hàng. Vì tôi đi sớm hơn giờ tan ca thường lệ nên quán còn vắng; quanh quán người ta ngồi lẻ tẻ không theo trật tự nào cả. Trời không nắng không gió. Tôi ngồi ở bàn ngay sát vỉa hè, đầu bàn bên kia có một ông chú trung niên đang ăn trứng lộn. Trong lúc đợi đồ, tôi quan sát người đàn ông.

    Ông ta trạc bốn nhăm tuổi, đầu húi cua, tóc trắng tóc đen đan xen như eo đất cằn cõi được rắc vôi bột, người quắc thước, mũi phập phồng và khuôn miệng rộng, ngập tràn vẻ thoả mãn no nê. Ăn xong, ông rít một hơi thuốc lá dài, lấy làm sung sướng, và bằng giọng sang sảng, ông bắt chuyện với bà chủ quán phục phịch đang nấu bếp ngay sát vách.

    “Ngày nào cũng phải một bao chị ạ!” ông nói. “Hôm nào mà rượu bia vào nữa còn tốn nữa, nên cứ thủ sẵn cả dây trong cốp cho chắc.”

    “Báu bở gì đâu chú ơi, anh nhà chị đây trước mua cũng toàn mua hàng dây, thuốc lào sợi thì cứ hàng cân mà vã,” bà chủ quán lè nhè nói, liếc nhìn khách rất vội rồi lập tức hướng mắt trở lại chiếc chảo nhôm sâu lòng. Bà nhanh nhẹn đổ đồ ăn ra chiếc bát ô tô đặt trên bàn và sai người phụ việc mang ra cho tôi.

    Vì đói, tôi lập tức so đũa và lấy và để. “Cho một trà đá,” tôi vừa nhồm nhoàm nhai vừa nói.

    “Anh nhà chị mất cũng chục năm rồi đấy nhỉ? Mà trước cùng làng rồi lấy nhau hay như nào?” người đàn ông cùng bàn tôi lại hỏi.

    “Đâu! Khác làng, cách một con sông,” bà chủ quán đáp ngay.

    “Chứng tỏ anh nhà cũng dạn phết đấy nhỉ? Qua hẳn làng khác tán gái! Không biết thời chị thế nào chứ thời bọn em muốn tán gái làng bên là bọn trai làng nó phục sẵn ở đầu đình rồi cứ túi bụi mà giã thôi. Nhiều ông sứt đầu mẻ trán, bỏ cả xe đạp để chạy xuống đồng.”

    “Chị chắc trước xấu gái nên trai làng nó chả thèm giữ,” người đàn bà tếu táo nói.

    “Úi, bà chị còn đẹp chán! Giờ đi lấy chồng hai vẫn kịp ấy chứ!”

    Tiếng cười vang rộn gian bếp ọp ẹp; một luồng gió nóng xô những tấm ván nhôm nhám mỡ khiến chúng nghiêng ngả, như thể chúng cũng không thể nhịn cười trước lời bông đùa về bà chủ của mình. Vì ngứa miệng, tôi bèn góp đôi lời cùng người đàn ông; ông ta quay về phía tôi, mắt mở to, tỏ ý rất vui lòng khi có một người chuyện gẫu cùng. Chúng tôi trò chuyện về chuyện trai làng này đánh trai làng kia, về những vụ ẩu đả hay sát hại người tình vì ghen tuông. Chuyển qua chuyện chém giết, tôi bảo với ông ta rằng trong mười thằng lĩnh án tử hình thì chín thằng là buôn ma tuý, và chuyện ở quê tôi người ta gọi đám nghiện hút vạ vật ở đường ray là “kim la”.

    “Bọn trẻ con chân trần đi trên đường ray thi thoảng hét toáng lên vì suýt nữa giẫm vào một cái kim tiêm, mũi kim hướng thẳng lên trời,” tôi nhấp một ngụm trà đá và nói.

    “Ừ cái đấy là chúng nó cứ tiêm chích chung với nhau. Chủ yếu chết là bởi thế, chứ cứ của thằng nào thằng ấy dùng thì có chơi mãi cũng không chết,” người đối diện tôi đáp, và tiếp tục dẫn chứng một loạt những trường hợp xấu số ông biết về vấn đề này. “Hồi của chú những năm chín mươi cũng nghiện suốt, mười thằng thì bảy thằng nghiện. Nhưng giờ thì đi tù hết rồi.”

    Ông ta dừng lại, châm thuốc, rít liền một hơi dài như nghỉ lấy sức, rồi tiếp:

    “Cái bọn đánh xe, nhất là bọn lái đầu máy container, bọn đấy chơi ác hơn cả. Bọn đấy kiếm cũng đẫm phết đấy, mỗi chuyến nó đi vác về cũng gần chục triệu. Đám này cứ phải chơi vào nó mới làm việc được. Cắn nửa hạt thôi, ba bốn ngày không cần ăn gì cả.”

    Tôi im lặng lắng nghe, vì nguyên tắc của tôi là ngậm họng khi gặp chủ đề mình không biết.

    “Tiền nhiều để làm gì đâu? Cứ kiếm đủ tiêu thôi, còn nhiều tiền là nhanh hỏng lắm!” ông ta vỗ vai tôi, cười nói, ra giọng ôn tồn như đang khuyên bảo một kẻ đàn em.

    Rồi ông đi, nghêng ngang, hai tay khuỳnh sang bên, vô tư và khoan khoái.

    Lúc ấy tôi bỗng nhớ tới câu nói của Chekhov: “Anh chưa bao giờ có tiền, nên anh hoàn toàn dửng dưng với nó.”

    Không viết nổi nữa. Mũi máy khoan như khoét qua đầu.

    ***

    Sáng nay trên TikTok có một bạn comment vào post của tôi:

    “PR sách cho nhà N à?”

    Tôi đáp:

    “Mình không quan tâm vụ nhà N bạn ạ! Họ có sách mình thích thì mình đọc thôi!”

    Người kia trả lời ngay:

    “Nói thế chịu rồi, mong con gái bạn không bị.”

    Tôi không biết. Tôi thích con trai hơn. Nếu là con gái, chắc chắn nó sẽ bị tôi nuông chiều đến hư hỏng.


    Ngày 19 tháng Sáu năm 2025,

    Trời oi bức cả ngày. Trưa ngủ tôi nằm thẳng cẳng trên sàn nhà, rồi tôi quay nghiêng, gác chân lên chiếc bàn như một ván gỗ cắt bừa, bốn chân thấp tủn củn. Nay làm việc thì ít đọc sách thì nhiều. Dạo này tôi lười viết quá… Tôi đang tính thời gian tới sẽ dịch văn học trở lại.

    Hôm nay thèm kể chuyện quá, nhưng ngày trôi qua nhanh, ảm đạm, không có gì để kể ấy.


    Ngày 20 tháng Sáu năm 2025,

    Hơn tháng trời mới gọi điện cho mẹ. Bà vui lắm, mắt cười miệng cười.

    “Ui con giai mẹ nay gọi điện cho mẹ!”

    Vẫn những lời căn dặn, nhắn nhủ thông thường, lặp đi lặp lại, và sau một hồi chuyện trò bâng quơ, bà bỗng hỏi bằng giọng thật sự tò mò:

    “Con sống có hạnh phúc không con?”

    Lúc đấy tim tôi đột ngột thắt lại, như bước hụt một bậc cầu thang. Tôi trả lời, giọng ủ ê:

    “Vẫn thế thôi mẹ à! Buồn vui lẫn lộn, nhưng buồn nhiều hơn vui.”

    “Mẹ con mình giống nhau.”

    Mùa hè năm sau là tròn mười năm kể từ lần cuối hai mẹ con ta gặp nhau. Thú thực con ít khi nhớ mẹ… vì cũng chẳng có gì mà nhớ.

    ***

    Hôm nay người ta từ chối bản thảo của tôi. Tôi đón nhận trong một tâm trạng nửa hụt hẫng, nửa lãnh đạm. Dần dà việc bị từ chối sẽ chẳng đủ làm tôi buồn nữa. Người ta chê truyện tôi viết còn đơn giản quá, cốt truyện không đủ kịch tính, và khuyên tôi nên tham khảo các truyện ngắn (tất nhiên là trên tạp chí của họ) để học hỏi thêm. Lạ thật, lần trước bị từ chối tôi đã muốn bỏ quách đi, giờ thì tôi càng nôn nóng muốn viết hơn. Bây giờ tôi sẽ viết chậm, thật từ tốn, bình tĩnh. Còn việc gửi truyện đăng tạp chí thì thi thoảng túng tiền quá tôi mới nghĩ đến thôi, còn đâu là do tôi hám danh. Đúng là phông bạt mà!

    À, có một tin vui: Chữ viết tay của tôi đã cải thiện đáng kể. Hương bảo trông giống mấy ông cụ (với hàm ý tích cực). Dạo này tôi nghĩ ra thú tiêu khiển mới là ngồi chép lại những tác phẩm yêu thích. Từ tối qua đến nay tôi đã chép gần xong truyện ngắn Ruxia của Bunin.


    Ngày 21 & 22 tháng Sáu năm 2025,

    Tôi vừa xem xong 28 Years Later. Tạm được.

    Trần đời ghét nhất bọn khôn lanh. Nếu là trẻ con thì còn ghét hơn nữa.

    Ngày còn nhỏ, tôi có một thằng bạn hàng xóm nhà sát sườn. Đám trẻ ngày ấy mê băng đĩa siêu nhân. Thằng đó nhà nghèo, thi thoảng mới được bố mẹ mua cho vài cái đĩa, vì thế nên nó cất công lựa rất kỹ. Nó toàn chọn được những đĩa hay. Nó xem hai, ba lần, hoặc đôi khi một lần duy nhất, rồi đem ra nhấp nhả với bọn trẻ con quanh xóm, bắt đầu bán chác, với giá bán lại gấp đôi giá gốc. Có thằng nghe mê quá đã trộm cả tiền đi chợ của mẹ để mua của nó. Tôi thì bàng quan, tôi đầy băng đĩa, chẳng bao giờ tôi phải đi mua của thằng nào; nhưng từ hồi ấy tôi đã biết ghét cái trò trục lợi trẻ ranh ấy. Người nào dễ tính hơn sẽ bảo đó là dấu hiệu của một doanh nhân tương lai, còn tôi, nghiêm túc mà nói, tôi cho rằng đấy là dấu hiệu của thói trục lợi, khôn lỏi và ti tiện. Và thời gian đã chứng minh với tôi rằng cái thói ấy nếu không ra sức gột rửa sẽ đeo đẳng con người ta cả đời, vì đến giờ tôi vẫn quen thằng đấy, nó vẫn thế, lần mò, đánh hơi ra mùi kiếm chác ngay trong mọi tình huống nhỏ nhặt nhất, như một con chó.


    Ngày 23 tháng Sáu năm 2025,

    Chán thật, nay ngồi cả sáng mà viết chưa đầy hai trang. Isak Dinesen từng nói rằng bà viết mỗi ngày, không hy vọng cũng không tuyệt vọng. Nhưng cũng có những nhà văn hoàn toàn không động đến giấy bút trong một thời gian rất dài, vậy mà lúc phóng tác câu chữ vẫn ào ạt như thác triều dâng. Turgenev chẳng hạn. Khi không viết được thì nên làm gì nhỉ?

    Từ qua tới nay tôi đọc Jekyll và Hyde của Robert Louis Stevenson và Những lá thư từ Tây Ban Nha của Merimee. Ngày mai tôi sẽ đọc Lao động biển cả của Victor Hugo (nói thật là tôi không có thiện cảm với ông nhà văn này lắm!)


    Ngày 24 tháng Sáu năm 2025,

    “Mọi thứ rồi sẽ qua!” Khi buồn, những lời ấy khiến ta vui; và khi vui, chúng khiến người ta buồn.


    Ngày 25 tháng Sáu năm 2025,

    Gần đây tôi ngủ mơ hoài, mơ về thời cấp ba.

    Sáng nào cũng dậy sớm nhưng không viết nổi một dòng tử tế.

    À, ông Hugo lại làm tôi thất vọng lần nữa. Tôi không thể chịu được cái lối hành văn lan man của ổng, nên tôi bỏ dở cuốn Lao động biển cả, điều mà tôi từng làm với Nhà thờ Đức BàNhững người khốn khổ.


    Ngày 26 tháng Sáu năm 2025,

    Hôm nay buổi sáng tôi không viết, mà ngồi học từ điển. Tôi vừa nảy ra một ý tưởng (không hay cho lắm): lấy một tờ giấy trắng, liệt kê từng từ mà tôi biết liên quan tới một âm nào đó, sau đó rà soát lại xem mình đã hiểu hết nghĩa của chúng chưa.

    Ví dụ hôm nay tôi học được từ “riết róng”, “rậm rật”. “Phiêu linh”? Thế mà trước nghe Trung Quân Idol hát cứ tưởng lão phiên âm “feeling” thành “phiêu linh”!


    Ngày 27 tháng Sáu năm 2025,

    Hương thường gọi cuốn Tuyển tập I. A. Bunin của tôi là “quyển đỏ đỏ”, còn cuốn Tuyển tập Chekhov thì là “quyển hồng hồng”. Thi thoảng tôi sẽ đọc to một vài truyện của hai nhà văn này trước giờ ngủ.

    Còn dưới đây là hồi ký của Bunin về Chekhov:

    Tôi gặp Chekhov lần đầu ở Moskva, vào cuối năm 1895. Lúc ấy, chúng tôi chỉ gặp nhau thoáng qua, vài lần trò chuyện, chẳng có gì đáng nhớ lắm, nếu không vì những câu nói rất đặc trưng của ông.

    “Anh viết nhiều không?” một lần ông hỏi tôi.

    Tôi đáp rằng mình viết ít.

    “Tệ đấy,” ông nói, giọng trầm và gần như nghiêm khắc. “Phải làm việc… không ngừng nghỉ… cả đời mình.”

    Rồi, sau một khoảng lặng, chẳng liên quan gì, ông nói thêm:

    “Khi viết xong một truyện, tôi nghĩ nên bỏ đi phần đầu và phần cuối. Đó là chỗ chúng ta, những nhà văn, hay nói dối nhất. Và phải viết ngắn thôi—càng ngắn càng tốt.”

    Rồi chúng tôi nói về thơ, và anh bỗng trở nên hào hứng. “Nói tôi nghe, anh có thích thơ Alexey Tolstoy không? Với tôi, ông ta cứ như một diễn viên. Hồi nhỏ, ông ta vận lên mình bộ lễ phục buổi tối và không bao giờ cởi ra nữa.”

    Sau những lần gặp thoáng qua, mà ở đó chúng tôi bàn về những chủ đề ông yêu thích—như phải lao động không ngừng và phải viết một cách giản dị, không chút giả dối—chúng tôi không gặp lại cho đến mùa xuân năm 1899. Tôi đến Yalta vài ngày, và một buổi tối, tôi gặp Chekhov trên bến cảng.

    “Sao anh không đến thăm tôi?” là câu đầu tiên ông nói. “Nhất định mai phải đến nhé.”

    “Mấy giờ?” tôi hỏi.

    “Sáng mai, khoảng tám giờ.”

    Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, ông nói thêm:

    “Chúng tôi dậy sớm. Anh cũng thế chứ?”

    “Có, tôi cũng dậy sớm,” tôi đáp.

    “Vậy khi nào dậy hãy đến đây. Chúng tôi sẽ mời anh cà phê. Anh uống cà phê chứ?”

    “Thi thoảng.”

    “Anh nên uống thường xuyên. Đó là một thức uống tuyệt vời. Khi tôi làm việc, tôi chỉ uống cà phê và nước hầm gà đến tận tối. Cà phê cho bữa sáng, nước luộc gà vào bữa trưa. Nếu không như thế, công việc của tôi sẽ không xuôi.”

    Tôi cảm ơn ông vì lời mời, và chúng tôi lặng lẽ băng qua bến cảng rồi ngồi xuống một băng ghế.

    “Anh yêu biển không?” tôi hỏi.

    “Có,” ông trả lời. “Nhưng biển cô đơn quá.”

    “Đó là điều tôi thích ở biển,” tôi đáp.

    Ông trầm ngâm, qua cặp kính đôi mắt ông hướng về phía xa. “Tôi tự hỏi,” ông nói, “làm một anh lính hay một sinh viên trẻ chắc thú lắm… ngồi giữa đám đông, nghe ban nhạc chơi…”

    Rồi, như thường lệ, sau một khoảng lặng, ông nói thêm, chẳng liên quan gì:

    “Tả biển rất khó. Anh biết một cậu học sinh đã tả thế nào trong bài tập không? ‘Biển mênh mang.’ Chỉ có vậy. Tuyệt vời, tôi thấy thế.”

    Có người sẽ nghĩ ông làm màu khi nói vậy. Nhưng Chekhov—làm màu ư?

    “Thú thật,” một người quen thân Chekhov từng nói, “tôi đã gặp nhiều người chân thành như Chekhov. Nhưng người mà giản dị, không chút phô trương hay giả tạo như ông ấy thì chưa từng thấy!”

    Đúng thế thật. Ông yêu tất cả những gì chân thành, sống động và vui tươi, miễn là chúng không thô thiển hay nhàm chán. Ông không chịu nổi những kẻ học đòi, hay những con mọt sách quen buông những lời sáo rỗng đến mức chẳng biết nói theo kiểu khác. Trong văn chương, ông hiếm khi nói về bản thân hay quan điểm của mình, khiến người ta nghĩ ông là người vô nguyên tắc hay thiếu trách nhiệm với xã hội. Trong cuộc sống, ông cũng chẳng ích kỷ, ít khi nói về sở thích hay sở ghét. Nhưng cả hai đều rất mạnh mẽ và bền bỉ, và ông yêu nhất là sự giản dị. “Biển mênh mang.”… Với ông, với niềm đam mê giản dị và sự ghê tởm những gì gượng ép, câu đó thật “tuyệt vời.” Những lời về người lính và âm nhạc cho thấy một nét khác của ông: sự kín đáo. Chuyển từ biển sang người lính chắc hẳn bắt nguồn từ khát khao thầm kín về tuổi trẻ và sức khỏe. Biển thì cô đơn… Còn Chekhov yêu cuộc đời và niềm vui. Trong những năm cuối cùng, khát khao hạnh phúc, dù là đơn sơ nhất, thường lấp ló trong lời nói của ông. Nó được gợi lên chứ không nói thẳng.

    Ở Moskva, năm 1895, tôi thấy một người đàn ông trung niên (Chekhov lúc đó 35 tuổi), đeo kính gọng kẹp, ăn bận giản dị, dáng dấp cao ráo, nhẹ nhàng và thanh thoát. Ông đón tôi lặng lẽ đến mức tôi, khi ấy còn trẻ, cho sự lặng lẽ đó là lạnh lùng… Đến Yalta, năm 1899, tôi thấy ông đã thay đổi nhiều; ông gầy đi, trông ưu tư hơn; sự tao nhã vẫn còn, nhưng là nét tao nhã của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều đau khổ và được khổ đau trui rèn. Giọng ông dịu dàng hơn… Còn lại, ông vẫn như hồi ở Moskva; thân thiện, chuyện trò sôi nổi, nhưng ngày càng đơn giản và ngắn gọn hơn, và trong lúc nói, ông vẫn chìm đắm vào những suy nghĩ riêng. Ông để tôi tự đoán mối liên tưởng giữa những suy nghĩ của ông, trong khi ông nhìn ra biển qua cặp kính, mặt hơi ngẩng lên. Sáng hôm sau, tôi đến nhà ông. Tôi vẫn nhớ buổi sớm nắng vàng rực rỡ ấy, trong khu vườn của Chekhov. Ông rất sôi nổi, cười nhiều, và đọc cho tôi nghe bài thơ duy nhất, theo ông nói, mà ông từng viết, “Ngựa, Thỏ và Người Tàu, một câu chuyện ngụ ngôn cho trẻ con.” (Chekhov viết nó cho con của một người bạn.)

    Có lần băng qua cầu
    Người Tàu mũm mĩm,
    Phía trước họ, đuôi vểnh cao,
    Thỏ chạy nhanh.
    Bỗng người Tàu hét lên:
    “Dừng! Dừng! Hô! Hô!”
    Thỏ càng vểnh đuôi cao hơn
    Rồi trốn vào bụi cây.
    Bài học của chuyện này thật rõ ràng:
    Ai muốn ăn thịt thỏ
    Mỗi ngày thức dậy
    Phải nghe lời cha mình.

    Sau lần đó, tôi đến thăm ông thường xuyên hơn. Thái độ của Chekhov với tôi cũng thay đổi. Ông trở nên thân thiện, gần gũi hơn… Nhưng ông vẫn kín đáo, không chỉ với tôi mà cả với những người thân cận nhất. Tôi tin rằng sự kín đáo đó không xuất phát từ sự lạnh lùng, mà từ điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.

    Ngôi nhà đá trắng xinh xắn, sáng bừng dưới nắng; khu vườn nhỏ, do chính Chekhov giồng giọt và chăm sóc, vì ông yêu hoa, cây cối và động vật; căn phòng làm việc với vài bức tranh, và khung cửa sổ lớn nhìn ra thung lũng sông Utchan-Spo, cùng một eo biển xanh hình tam giác; những giờ, ngày, thậm chí hàng tháng tôi ở đó, và tình bạn với người đàn ông cuốn hút tôi không chỉ bởi tài năng mà còn bởi giọng nói nghiêm nghị và nụ cười thơ trẻ—tất cả sẽ mãi là một trong những ký ức đẹp nhất đời tôi. Ông niềm nở với tôi, đôi lúc gần như dịu dàng. Nhưng sự kín đáo mà tôi nhắc đến không bao giờ biến mất, kể cả khi chúng tôi thân thiết nhất. Ông kín đáo về mọi thứ.

    Ông rất hài hước và yêu tiếng cười, nhưng chỉ cười vang, lôi cuốn khi người khác kể chuyện vui: còn ông, ông nói những điều thú vị nhất mà không hề mỉm cười. Ông thích đùa, đặt biệt danh ngộ nghĩnh và trêu chọc mọi người… Ngay cả khi gần cuối đời, lúc sức khỏe khá hơn đôi chút, sự hài hước của ông vẫn không kìm được. Và ông khiến người ta cười bằng một sự tinh tế đến thế nào! Chỉ cần buông vài từ và nháy mắt qua cặp kính… Những lá thư của ông, dù hình thức hoàn hảo, cũng tràn ngập sự hóm hỉnh duyên dáng.

    Nhưng sự kín đáo của Chekhov còn thể hiện ở nhiều cách khác, chứng tỏ sức mạnh tính cách của ông. Không ai từng nghe ông than vãn, dù chẳng ai có lý do để than vãn hơn ông. Ông sinh ra trong một gia đình đông con nghèo khó. Ông phải kiếm tiền trang trải trong điều kiện có thể dập tắt cả nguồn cảm hứng mãnh liệt nhất. Ông sống trong một căn hộ nhỏ, viết ở góc bàn, giữa tiếng cười nói ồn ào của cả gia đình và thường là vài vị khách. Nhiều năm ông rất túng… Nhưng ông hiếm khi càu nhàu về số phận. Không phải ông đòi hỏi ít từ cuộc đời: ngược lại, ông ghét cay ghét đắng những gì tầm thường và nhỏ nhen, dù ông sống giản dị một cách cao quý. Mười lăm năm ông chịu đựng căn bệnh quái ác cuối cùng đã cướp đi mạng sống của ông, nhưng độc giả của ông chẳng hề hay biết. Điều đó không phải ai cũng làm được. Quả thật, sự mạnh mẽ mà qua đó ông gánh chịu đau khổ và đối mặt cái c.hết thật đáng khâm phục. Ngay cả vào thời khắc tồi tệ nhất, ông gần như vẫn giấu kín nỗi đau của mình.

    “Anh không khỏe à, Antosha?” mẹ hoặc chị ông sẽ hỏi, thấy ông ngồi cả ngày với đôi mắt nhắm nghiền.

    “Tôi á?” ông đáp, giọng nhẹ nhàng, mở đôi mắt trong trẻo và hiền hậu khi không đeo kính. “Ồ, không có gì. Chỉ hơi nhức đầu thôi.”

    Ông yêu văn chương nồng nàn, và nói về các nhà văn, ca ngợi Maupassant, Flaubert, hay Tolstoy là niềm vui lớn với ông. Ông đặc biệt hào hứng khi nói về họ và cả về “Taman” của Lermontov.

    “Tôi không hiểu nổi,” ông nói, “làm sao một chàng trai trẻ lại viết được Taman! Ôi, nếu viết được như thế và một vở hài kịch hay—thì đến là mãn nguyện mà c.hết!”

    Nhưng cách ông nói về văn chương rất khác với lối nói chuyện tầm thường của các nhà văn, với sự nhỏ nhen, hẹp hòi và những nghi kỵ cá nhân. Ông chỉ bàn về sách với những người yêu văn chương hơn mọi nghệ thuật khác và yêu nó một cách vô tư, thuần khiết.

    “Đừng đọc bản thảo của mình cho người khác trước khi xuất bản,” ông thường nói. “Và quan trọng nhất, đừng bao giờ nghe lời khuyên của ai. Nếu làm hỏng thì tự chịu trách nhiệm. Maupassant, với sự vĩ đại của mình, đã nâng tiêu chuẩn viết lách lên cao đến mức viết trở nên thật khó khăn; nhưng chúng ta phải viết, đặc biệt là người Nga chúng ta, và đã viết là phải can đảm. Có chó lớn và chó nhỏ, nhưng chó nhỏ không nên nản lòng vì chó lớn. Tất cả đều phải sủa—và phải sủa bằng giọng Chúa ban cho.”

    Mọi thứ trong thế giới văn chương đều khiến ông quan tâm, và ông phẫn nộ với sự ngu ngốc, giả dối, phô trương và những trò bịp bợm sống ký sinh trên văn học. Tuy căm giận, ông không bao giờ cáu kỉnh, và sự giận dữ của anh không mang tính cá nhân. Người ta thường nói về các nhà văn đã qua đời rằng họ vui mừng trước thành công của người khác và không ghen tị. Nếu tôi ngờ rằng Chekhov có chút ghen tị nào, tôi sẽ chẳng nói gì. Nhưng sự thật là ông vui mừng trước tài năng, một cách tự nhiên. Từ “bất tài” có lẽ là lời chê bai nặng nề nhất ông từng dùng. Thất bại và thành công của chính ông, ông đón nhận theo cách chỉ ông biết.

    Ông viết trong hai mươi lăm năm, và trong thời gian đó, tác phẩm của ông liên tục bị công kích. Là một trong những nhà văn Nga vĩ đại và tinh tế nhất, ông không bao giờ dùng nghệ thuật để rao giảng. Vì thế, các nhà phê bình Nga không hiểu nổi ông, cũng chẳng tán thành ông. Họ chẳng từng đòi Levitan phải “tô điểm” tranh phong cảnh của ông—nghĩa là vẽ thêm con bò, con ngỗng, hay bóng dáng một người phụ nữ sao? Những lời phê bình ấy làm Chekhov đau lòng, và khiến ông thêm chán chường với cuộc sống Nga vốn đã làm ông chán ngấy. Sự cay đắng ấy chỉ thoáng qua—trong một khoảnh khắc.

    “Sắp đến ngày kỷ niệm của anh rồi, Anton Pavlovitch!”

    “Tôi biết mấy cái kỷ niệm của các người. Hai mươi lăm năm họ chỉ chửi bới và chế giễu một nhà văn, rồi các người tặng anh ta một cây bút bằng nhôm, rồi khóc lóc, hôn hít, và bộc bạch suốt cả ngày!”

    Khi nói về danh vọng hay sự nổi tiếng của mình, ông đáp bằng vài từ hoặc một câu nói đùa.

    “Anh đọc bài đó chưa, Anton Pavlovitch?” ai đó hỏi, sau khi đọc một bài viết về ông.

    Ông giương mắt qua cặp kính, thưỡn mặt một cách hài hước, và trả lời bằng giọng trầm trầm:

    “Ôi, cảm ơn ngàn lần! Hẳn một cột báo dài, và ở cuối, ‘Còn có một nhà văn tên Chekhov: một kẻ bất mãn, hay càu nhàu.’”

    Đôi khi ông nghiêm túc nói thêm:

    “Khi bị phê bình, hãy nhớ đến chúng tôi, những kẻ tội lỗi. Các nhà phê bình bạt tai chúng tôi vì những chuyện vặt vãnh, như thể chúng tôi là đám học trò. Một người còn tiên đoán tôi sẽ c.hết trong rãnh nước. Ông ta cho rằng tôi bị đuổi học vì say rượu.”

    Tôi chưa bao giờ thấy Chekhov nổi giận. Hiếm khi ông bực bội, và vị thể ông có bực bội thì khả năng kiểm soát của ông luôn đáng phục. Tôi nhớ có lần ông tỏ ra khó chịu khi đọc một cuốn sách nói rằng ông “thờ ơ” với các vấn đề đạo đức và xã hội, và rằng ông là kẻ bi quan. Nhưng sự khó chịu ấy chỉ thể hiện qua hai từ:

    “Đồ ngu!”

    Tôi cũng không thấy ông lạnh lùng. Ông nói rằng mình lạnh lùng khi viết, và chỉ viết khi những ý nghĩ và hình ảnh sắp phải diễn đạt đã trở nên hoàn toàn rõ ràng, rồi ông viết liên tục, không ngừng, cho đến khi hoàn thành.

    “Chỉ nên viết khi hoàn toàn bình tâm,” ông từng nói.

    Nhưng sự bình tâm ấy rất đặc biệt. Không nhà văn Nga nào sở hữu sự nhạy cảm và phức tạp như ông.

    Quả thật, cần một trí tuệ phong phú để làm sáng tỏ tâm hồn sâu sắc và phức tạp này—một “nghệ sĩ vô song” như Tolstoy gọi ông. Tôi chỉ có thể chứng thực rằng ông là người có tâm hồn cao quý hiếm có, thanh lịch và tinh tế theo nghĩa trọn vẹn nhất, hoà hợp sự dịu dàng và vi tế với sự chân thành tuyệt đối, lòng tốt và nhạy cảm với sự thẳng thắn tuyệt đối.

    Việc chân thật và tự nhiên mà vẫn giữ được nét duyên dáng lớn lao cho thấy một tư chất đẹp đẽ, chính trực và vững vàng hiếm có. Tôi thường nói về sự điềm tĩnh của Chekhov vì sự điềm tĩnh ấy, với tôi, là minh chứng sức mạnh tính cách ở ông. Nó luôn thuộc về ông, tôi nghĩ thế, ngay cả khi ông còn trẻ và tràn đầy sức sống, và có lẽ chính điều đó đã khiến ông độc lập đến vậy, và có thể bắt đầu công việc một cách khiêm tốn và can đảm mà không hề thỏa hiệp với lương tâm.

    Ông có “ý thức tự do cá nhân” ở mức cao nhất, và không thể chịu nổi khi chứng kiến sự thiếu sót cái đó ở người khác. Ông sẽ trở nên cay độc và không khoan nhượng nếu nghĩ rằng ai đó đang xâm phạm sự tự do ấy.

    Sự “tự do” ấy, ai cũng biết, đã khiến ông trả giá đắt; nhưng ông không phải loại người có hai lý tưởng—một cho mình, một cho công chúng. Thành công của ông, trong thời gian rất dài, ít hơn những gì ông xứng đáng nhận được. Nhưng suốt đời ông không hề nỗ lực để gia tăng sự nổi tiếng. Ông cực kỳ nghiêm khắc với mọi chiêu trò giờ đây được dùng để đạt tới thành công.

    “Các người vẫn gọi họ là nhà văn sao? Họ là phu xe ngựa!” ông cay đắng nói.

    Niềm căm ghét thói phô trương của ông đôi khi có vẻ cực đoan.

    “Công ty Scorpion quảng cáo sách tệ thật,” ông viết cho tôi sau khi xuất bản “Hoa Bắc Cực.” “Họ đề tên tôi lên đầu, và khi đọc quảng cáo trên tờ Russkya Vedonosti, tôi thề sẽ không bao giờ dính dáng đến lũ bọ cạp, cá sấu hay rắn rết nữa.”

    Đó là mùa đông năm 1900, khi Chekhov, vì hứng thú với một số điểm của công ty xuất bản mới “Scorpion,” đã gửi cho họ, theo đề nghị của tôi, một truyện ngắn thời trẻ với tựa đề “Trên Biển.” Họ cho in nó trong một tập truyện và ông nhiều lần hối tiếc vì điều đó.

    “Tất cả nghệ thuật mới của Nga này đều vô nghĩa,” anh sẽ nói. “Tôi nhớ từng thấy một tấm biển ở Taganrog: Ở đây có bán nước khoáng nhân tạo! Ừ, loại nghệ thuật mới này cũng chỉ thế thôi.”

    Sự kín đáo của ông xuất phát từ một tâm hồn cao thượng và sự nỗ lực không ngừng nhằm diễn đạt chính xác. Rồi một ngày, người ta sẽ biết rằng ông không chỉ là “nghệ sĩ vô song,” không chỉ là bậc thầy ngôn từ, mà còn là một con người trác việt. Nhưng sẽ mất nhiều năm để người ta hiểu hết sự tinh tế, sức sống và vẻ đẹp nơi ông.

    “Anh khỏe không, Ivan Alexeyevitch thân mến?” ông viết cho tôi từ Nice. “Chúc anh năm mới vui vẻ. Tôi nhận được thư anh, cảm ơn nhé. Ở Moskva mọi thứ vẫn an toàn, lành lặn, và tẻ nhạt. Chẳng có tin tức gì (trừ năm mới) và cũng chẳng mong có tin gì. Vở kịch của tôi chưa được dựng, và tôi cũng chẳng biết đến khi nào. Khả năng tháng Hai tôi sẽ đến Nice… Gửi lời chào của tôi đến mặt trời nóng bỏng đáng yêu và biển lặng. Vui vẻ, hạnh phúc, đừng nghĩ về bệnh tật, và viết thư thường xuyên cho bạn bè… Giữ sức khỏe, vui vẻ, và đừng quên những người bạn phương Bắc xanh xao, những kẻ khổ sở vì khó tiêu và tâm trạng xấu.” (8 tháng 1, 1904).

    “Gửi lời chào của tôi đến mặt trời nóng bỏng đáng yêu và biển lặng”… Tôi hiếm khi nghe ông nói thế. Nhưng tôi thường cảm thấy ông nên nói thế, và rồi lòng tôi buồn đau.

    Tôi nhớ một đêm đầu xuân. Đã muộn. Bỗng điện thoại reo. Tôi nghe giọng trầm của Chekhov:

    “Anh bạn, gọi xe đến đây đi. Đi dạo một vòng nào.”

    “Đi dạo ư? Vào giờ này á?” tôi đáp. “Có chuyện gì sao, Anton Pavlovitch?”

    “Tôi đang yêu.”

    “Chuyện tốt đấy. Nhưng đã hơn chín giờ rồi… Anh sẽ bị nhiễm lạnh.”

    “Chàng trai à, đừng cãi!”

    Mười phút sau, tôi đến nhà Antka. Ngôi nhà, nơi Chekhov sống một mình với mẹ suốt mùa đông, tối tăm và tĩnh lặng, trừ tia sáng lọt qua khe cửa phòng mẹ ông, với hai ngọn nến nhỏ leo lét cháy trong gian phòng làm việc tối mờ mờ. Như thường lệ, lòng tôi se lại khi thấy căn phòng lặng lẽ ấy, nơi Chekhov đã trải qua biết bao đêm đông cô đơn, có lẽ cay đắng suy ngẫm về số phận đã biệt đãi ông nhiều mà cũng tàn nhẫn trêu người ông.

    “Trời đêm đẹp quá!” ông nói với tôi, dịu dàng hơn thường lệ và mang vẻ vui tươi trầm tư, khi đón tôi ở cửa. “Tẻ nhạt quá! Niềm phấn khích duy nhất là khi điện thoại reo và Sophie Pavlovna hỏi tôi đang làm gì, tôi đáp: ‘Bắt chuột đây.’ Nào, đi đến Orianda. Tôi chẳng thiết nếu bị cảm!”

    Đêm ấm áp và tĩnh lặng, với ánh trăng soi tỏ, mây mỏng nhẹ và vài ngôi sao lác đác trên nền trời thẳm xanh. Cỗ xe êm ái lăn trên con đường trắng, và, dịu đi bởi sự tĩnh lặng của đêm, chúng tôi ngồi im ngắm nhìn mặt biển lấp lánh ánh sáng vàng mờ… Rồi đến khu rừng phủ đầy bóng tối, nhưng đã mang hơi thở mùa xuân và đẹp đẽ… Những hàng cây bách khổng lồ đen sẫm vươn cao lên trời một cách uy nghi. Chúng tôi dừng xe và đi bộ, qua những tàn tích lâu đài màu xanh nhàn nhạt dưới ánh trăng. Chekhov bỗng nói:

    “Anh biết tôi sẽ được đọc trong bao lâu nữa không? Bảy năm.”

    “Sao lại bảy?” tôi hỏi.

    “Thì bảy năm rưỡi.”

    “Không,” tôi nói. “Thơ sống lâu, và càng lâu càng đẹp—như rượu.”

    Ông không nói gì, nhưng khi chúng tôi ngồi xuống một băng ghế nhìn ra mặt biển lấp loáng ánh trăng, ông tháo kính ra và cất lời, nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ, mệt mỏi:

    “Nhà thơ, thưa anh, là những người dùng những cụm từ như ‘khoảng bạc,’ ‘hòa âm,’ hay ‘tiến lên, tiến lên, đương đầu với bóng tối’!”

    “Tối nay anh buồn, Anton Pavlovitch ạ,” tôi nói, nhìn gương mặt hiền từ và đẹp đẽ của ông trở nên nhợt nhạt dưới ánh trăng.

    Ông trầm ngâm bới những viên sỏi nhỏ bằng đầu gậy, mắt nhìn xuống đất. Nhưng khi tôi nói ông buồn, ông nhìn sang tôi với vẻ hài hước.

    “Anh mới là người đang buồn,” ông đáp. “Buồn vì tốn tiền thuê xe.”

    Rồi ông nghiêm túc nói thêm:

    “Ừ, tôi sẽ chỉ được đọc thêm bảy năm nữa; và tôi sẽ sống thêm được ít hơn thế—có lẽ sáu năm. Nhưng đừng nói điều này với mấy tay phóng viên báo chí.”

    Ông đã nhầm: ông không sống thêm được sáu năm…

    Ông qua đời an yên, không đau đớn, trong sự tĩnh lặng và vẻ đẹp của một bình minh mùa hạ mà ông luôn yêu dấu. Khi ông mất, một vẻ hạnh phúc hiện trên gương mặt, và trông ông như một chàng trai rất trẻ. Tôi chợt nhớ lời của Leconte de Lisle:

    Tôi ghen tị với anh, trong lăng mộ tĩnh lặng và u tối
    Được giải thoát khỏi cuộc sống và không còn biết
    Nỗi hổ thẹn của suy nghĩ và nỗi kinh hoàng của việc làm ngườ
    i.


    Ngày 28 tháng Sáu năm 2025,

    Một trong những điều kỳ lạ về ông là mặc dù ông luôn cảnh giác không để ai đem mình ra làm trò cười, nhưng ông luôn tự đem mình ra làm trò cười.

    Ông đã dành cả cuộc đời để theo đuổi hạnh phúc, và chưa bao giờ ngộ ra rằng hạnh phúc chỉ đạt được khi ta thôi tìm kiếm; và hơn nữa, hạnh phúc chỉ được thấu hiểu khi mất đi. Thật khó có ai có thể nói ‘Tôi hạnh phúc’; mà chỉ có thể nói ‘Tôi đã hạnh phúc’. Bởi vì hạnh phúc không phải là sự khỏe mạnh, sự hài lòng, sự thoải mái của trái tim, sự vui thích, sự tận hưởng: tất cả những điều này đều tạo nên hạnh phúc, nhưng chúng không phải là hạnh phúc.


    Ngày 29 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng nay dậy muộn. Dạo này ngồi viết tay chăm chỉ quá xá. Cả buổi chiều ngất ngưởng như thằng say rượu, trầm uất, u sầu, mặt mày ủ ê. Tối qua ngồi đọc lại Carmen của Mérimée, thề, sao ông ấy có thể viết hay được như vậy nhỉ?


    Ngày 30 & 31 tháng Sáu năm 2025,

    Trời cái kênh TikTok vô danh của tôi mà cũng có người booking. Phúc Minh Books sắp ra mắt một cuốn sách có tên Trường mẫu giáo, hình như có cả ảnh minh hoạ, hình thức nom khá tươm tất, chỉn chu. Tôi bảo rằng kênh TikTok của tôi chủ yếu là tự phát nên tôi sẽ chỉ nhận sách rồi truyền thông miễn phí thôi. Không chừng cái kênh này lại là lối thoát của tôi cũng nên. Sắp tới tôi sẽ quay video nhiều hơn chút, một nỗ lực sau cùng để không nghỉ việc…


    Ngày 1 tháng Bảy năm 2025,

    Rồi đến phải bỏ cái trò viết lách này đi thôi. Cuối tuần sẽ về quê, sau hai tháng lăn lộn trên Hà Nội, chính thức trở thành trai đất cảng. Có lẽ sắp tới chúng tôi sẽ đi du lịch đâu đó. Và rồi thi nốt chứng chỉ, tìm một công việc mới, đợi tới tháng Mười xem có bị gọi đi lính không. Hiện tại tôi chán nản tới mức nếu có bị gọi thì tôi cũng chẳng tiếc gì, ngoại trừ… tình yêu của hai đứa. Hồi trước tôi từng lo ngại về sức khoẻ của ông bà, chỉ nghĩ tới việc hai người đổ bệnh thôi mắt tôi đã rấn lệ… thú thực bây giờ tôi vẫn sợ…

    Hơn ba giờ chiều tôi đột ngột rời văn phòng để dạo quanh khu phố. Tới ngã tư, thấy quán bít tết cửa đóng im lìm, tôi bất giác nhớ về cái nút giao Chùa Bộc – Phạm Ngọc Thạch quỷ quái. Thật khó lòng tin nổi mỗi tuần trên đường đến thư viện băng qua khu đó, chúng tôi đều thấy một cửa hàng bị thanh lý. Vừa qua cửa hàng quần áo cũ của tôi, cơ sở Chùa Bộc, đã bị khai tử – hồi còn đi làm chúng tôi cứ đoán mãi xem bao giờ nó sẽ đi đời. Điều này nhắc nhở tôi về cái nền kinh tế ảm đạm thê lương mà chúng ta đang trải qua đây, và dù là người gần như lãnh đạm với thời thế, tôi không khỏi nhiễm cái không khí âu sầu bủa vây này (hoặc chỉ đơn giản là tác dụng phụ của sự kết hợp giữa bụi mịn, tắc đường, đèn đỏ domino và những suy ngẫm về cuộc đời).

    Đến trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân, đám trẻ đang mải miết nô đùa; hai đầu sân đặt hai cột trụ bóng rổ, một thằng bé còm nhom đang dẫn bóng, nó chỉ dẫn bằng tay phải, giống ai đó, như thể tay trái của thằng bé không hề biết đến sự tồn tại của chính nó. Lúc tôi bước ngang qua phòng bảo vệ, một người ông đang sửa dáng cho cháu trai cạnh tấm biển tên của trường.

    “Qua phải một tý… đúng rồi… thế mới nhìn thấy tên trường.”

    Trông thấy ánh nhìn châm chọc và cái cười khẩy của tôi, thằng bé ngượng nghịu, tay giơ chữ V; mặt cu cậu tròn vo, béo múp míp… Ông nó cười, ngắm nghía tác phẩm của mình và xua xua tay bảo nó vào học đi.

    “Chào ông ạ,” nó nói với lại lúc bước lên bậc thềm.

    Ở góc khuôn viên trường, cạnh bờ tường vẽ hình làng quê với một triền đê trải dài tít tắp, có một chiếc chòi là nhà của lũ bồ câu. Một con bồ câu đực hay cái chẳng rõ đứng nghiêm nghị, trông cái dáng nó oai vệ như các quân nhân vào thế, khe khẽ gù gù cần cổ; từ các ô cửa nhỏ của chiếc chuồng được xây thành một chái nhà, mấy con chim chích choè với phần lông xanh xanh dưới khoé mắt chộn rộn bay đi, lẩn khuất giữa những tán cây, cùng lúc cất tiếng hót ra rả liên hồi, như những ca sĩ giấu mặt ẩn sau cánh gà.

    … Tôi nhớ gần đây mình từng ước mùa hạ không bao giờ tới; giờ đứng giữa con đường trống trải, vắng lặng trong cơn gió se se thoáng lướt qua mình, con tim tôi rộn ràng, tôi càng khẩn thiết ao ước điều đó hơn. Mùa thu ơi, tới mau đi.


    Ngày 2 tháng Bảy năm 2025,

    Chà, hôm nay là sinh nhật anh bạn Bờm.

    Đêm qua tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng sấm nổ đùng đoàng, rền vang như lan đi trong bốn vách tường. Tôi cố ru mình vào giấc ngủ nhưng con mắt dẫu nhắm nghiền vẫn choi chói, nhưng nhức, và sau cùng tôi buộc phải thừa nhận một cảm giác không mấy dễ chịu. Phải, tôi sợ. Bây giờ nằm đây giữa gian phòng u tối mà luồng sáng duy nhất là dòng số màu xanh lá cây nhàn nhạt trên chiếc điều hoà, tôi đột nhiên thấy trống trải vô cùng. Có cảm tưởng như chiếc giường của tôi rộng mãi ra còn tôi nhỏ lại đến khi chìm nghỉm trong đó, rồi tôi trùm chăn kín đầu, trở mình, thử đủ mọi tư thế trong tuyệt vọng. Ngay lúc đấy tôi đã ước rằng giá như Hương ở đây bên tôi thì xem chừng tôi sẽ không bơ vơ đến thế; không hiểu sao trong trí tôi tự động bật ra hàng loạt những câu, những từ mà tôi đã viết trong các bản nháp gần đây của tôi, thế là tôi định bụng chồm dậy tiến tới bàn viết, sửa chữa một cái gì đó. Hay là đọc sách nhỉ? Không được, tôi phải ngủ đủ để đi làm – những ngày vô lo vô nghĩ của tôi đã lùi về sau rồi. Tôi bật đèn học, nhưng lại không đọc, giảm độ sáng hết cỡ. Trong ánh sáng lờ mờ tôi cảm thấy bớt sợ hơn, có lẽ vì giờ đây tôi đã trông thấy rõ cái nhà giam của mình, rằng không có ai đang ngồi ghế nhìn tôi cả. Sấm vẫn rền vang, tôi mong sao trời mưa thật to, thế mà đến sáng ra bước lên sân thượng, tôi lại phải khum tay che mắt vì ráng bình minh lấp loáng phía chân trời, hứa hẹn một ngày oi nồng khó chịu.


    Ngày 3 tháng Bảy năm 2025,

    Bài này viết khá lâu rồi, trên Spiderum:

    Khó khăn lớn nhất trong đời tôi cho tới giờ vẫn luôn là học cách phớt lờ những cám dỗ. Đúng vậy, phớt lờ thay vì vượt qua. Tôi vẫn đủ tỉnh táo để không sa đà vào bất cứ tệ nạn nào quá nghiêm trọng, nhưng chỉ riêng game thôi đã khiến tôi khổ sở đôi ba lần, và cũng ngốn không ít nước mắt của người nhà tôi (kỳ lạ là không phải của tôi vì tôi chưa bao giờ ăn đập vì bị bắt đi net).

    Như bất cứ thằng con trai nào với gia cảnh bình thường, sống ở miền quê, cộng thêm việc hiếm khi được tiếp xúc với các trò chơi điện tử từ bé, sự ra đời của các quán net bỗng thu hút tôi một cách lạ lùng. 

    Các quán net sớm trở thành mái nhà thứ hai của tôi, chỉ còn nước là chưa cắm trại ăn ngủ ở đó thôi. 

    “Nắng tháng Sáu chết cả cá cờ” nhưng tinh thần game thủ thì còn khuya mới chết. Tôi vẫn nhớ những ngày đạp xe lóc cóc 4, 5 cây số giữa trưa hè 40 độ ra quán net rồi an tọa ở đó cả buổi chiều, trong căn gác mái nóng nực kinh hồn, ngột ngạt, không khí nồng nặc nicotine và học được cách nghe tiếng chửi thề như nghe cô giáo giảng bài trong giờ Văn.

    Ngẫm lại những ngày đó không làm tôi hối hận mà thấy ngớ ngẩn, dù không ít lần tôi trốn học, nói dối ông bà để đi chơi game, nhưng tôi tự hào vì ít ra nó còn vui, và vì tôi có bạn, những người tới giờ vẫn là bạn thân của tôi. 

    Tôi không ngần ngại mà nói rằng đa số tiền tôi nạp vào để mua trang phục đến từ ‘tiền đóng học’ theo cách gọi của tôi, và tệ hơn là nguồn gốc của nó lại là tiền lương hưu của ông bà. Một phép so sánh đơn giản sẽ khiến vấn đề này trở thành nỗi dằn vặt ám ảnh: tôi đã đánh đổi tiền dưỡng già của ông bà để mua lấy chút niềm vui phù phiếm. Song tôi vẫn luôn giấu nhẹm chuyện ‘tiền học’ đó, và vì không muốn tự nhận mình là một thằng khốn lừa đảo, tôi tự nhủ rằng thất bại đầu đời này — như tất cả các thất bại khác trong cách hành xử của tôi — đều được xem là trải nghiệm. 

    Không chỉ chơi mỗi một game, tôi cũng chỉ chơi ở đúng một quán, một thành tích mà tôi vỗ ngực cho đó là biểu hiện của đức tính trung thành. Điều này xem chừng không đúng cho lắm vì tuổi đời đã chứng minh tôi không phải một người may mắn có được đức tính trung thành, mà phải qua kha khá lần nhào nặn thì mới thành hình. Nhưng cái hình đó đến nay vẫn chưa đẹp cho lắm, tôi nghĩ vậy. 

    13 tuổi, tôi bắt đầu tập tành làm ‘báo đêm’. Một lời nói dối sang nhà bạn ngủ đã khởi đầu cho chuỗi 2 tuần trời cắm trại xuyên đêm ở quán net, trở về nhà vào rạng sáng với đôi mắt thâm quầng, bụng réo inh ỏi vì đói và lương tâm có đôi chút dằn vặt. 

    Tôi vẫn nhớ một ngày hè oi ả chừng 40 độ C, ba thằng chôn chân trong căn phòng nhỏ với hai hàng ghế dài mà chỉ có chúng tôi là kẻ duy nhất ngồi đó, một niềm vui nho nhỏ đã gieo vào trong lòng tôi.

    Tầm 1 giờ đêm, có vẻ nghĩ bọn tôi đang đói (mà đúng là thế thật), ông chủ quán hạ cửa cuốn rồi thình lình vỗ vai tôi với 3 gói bim bim, cùng một nụ cười mà tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ tìm thấy ở một ông chủ quán net nào khác. Khoảnh khắc đó đã mở khóa trong trái tim một thằng bé như tôi một điều gì đó, rằng những thứ mà người lớn vẫn luôn khinh miệt và cấm tiệt chúng tôi dính tới bằng mọi cách, vẫn ẩn giấu một vẻ đẹp ngời sáng của tâm hồn. Giây phút đó tôi hiểu, quán net cũng chỉ là cớ sinh nhai của hai ông bà, việc họ mở một ‘quán trọ’ đầu độc trẻ vị thành niên – theo cách mà giáo viên vẫn thường nhắc tới – hoàn toàn không can dự tới việc họ sống ra sao, hành xử thế nào.

    Dù gì tôi cũng đóng họ ở nhà ông bà ròng rã 4 năm trời, một gói bim bim thì có hề hà gì. Nhưng gói bim bim đó đã tượng trưng cho một điều gì đó mà tôi khó lòng giải thích nổi, chỉ biết khi ông bà dọn đi, tôi cũng chẳng thiết tha gì tới quán net nữa. Lâu lâu không có gì làm tôi lại té vô quán bật máy lên chỉ để nghe nhạc lướt web, và ông bà sẽ luôn chào đón tôi với nụ cười rạng rỡ: “Dạo này sao ít ra thế con?” Tôi không đáp. Có lẽ ông bà cũng chỉ mong tôi ra quán nhiều hơn để ông bà kiếm chút tiền lẻ nhưng tôi cũng kệ. Dù gì người ta cũng tốt với tôi, mà tôi thì vốn đa sầu đa cảm nên nghĩ ngợi là chuyện thường tình.

    Ngày ông bà chủ quán đó dọn đi, tôi thấy lòng mình hơi trĩu. Một thứ gì đó đã biến mất, và tình yêu của tôi với game cũng theo đó mà đi. Có lẽ đối với tôi, game không còn là một thú vui mà là một trải nghiệm. Lại là trải nghiệm, đúng thế. 

    Tôi không thể nói mình chính thức bỏ game, vì thực sự là tôi không bỏ, tới giờ tôi vẫn chơi. Chỉ là tôi đã chơi ít đi rất nhiều, càng ngày càng ít. Thói phù phiếm từng là cứu cánh của tôi trong những đợt nghỉ hè chán chường nay hóa nhạt thếch, niềm đam mê từng giữ mí mắt tôi không cụp thâu đêm suốt sáng nay đã thui chột ít nhiều. Rồi tôi đứng đó, nhìn lại những tháng ngày đã qua với vẻ chán chường. 

    Những tháng ngày chán chường đó đã dạy tôi nhiều điều, và cũng là nút thắt giúp tôi từ bỏ game. Có lẽ một mối bận tâm hiếm khi biến mất mà chỉ có thể chuyển sang một mối bận tâm khác. Nói đơn giản, tôi hết nghiện game vì tôi có cái khác để nghiện rồi, và tâm trí tôi chỉ đủ chỗ cho một đam mê duy nhất cư ngụ mà thôi. 

    Năm lớp 10, mối bận tâm mới của tôi đã đến. Thể thao, rất dễ đoán. Bóng rổ. Tôi ra sân vào mỗi buổi chiều, luyện tập tới khi áo vắt ra nước và giày Asia rẻ tiền lăn trên mặt sân xi măng chẳng khác nào trứng chọi đá, mỗi tháng tôi thay một đôi. Dễ hiểu là chẳng còn thì giờ đâu mà game gủng nữa, vì cứ rảnh là tôi lại ngồi xem highlights của Jordan với Kobe. 

    Tới giờ tôi vẫn chơi bóng rổ, nhưng như một điệp khúc muôn thuở, tôi thấy mình không còn quá nhiều đam mê như dạo trước. Thì đó, tôi lại có một mối bận tâm khác rồi, nhưng lần này thì may mắn, mối bận tâm đó chính là công việc hiện tại của tôi, cũng là thứ tôi đang theo đuổi: viết lách. 

    Quay trở lại với câu chuyện ban đầu. Gần đây tôi bắt đầu chơi game lại, với một tần suất mà theo tôi thấy là lý tưởng: 1, 2 lần/tháng. Tôi tự hào là một trong số những thằng hiếm hoi nghe theo cảnh báo không chơi quá 180 phút mỗi ngày. Dù vẫn vui nhưng động cơ đã thay đổi phần nhiều. Tôi không ra net vì thích chơi game mà vì muốn tụ tập với bạn bè là chính, vì thứ tôi cần là cảm giác, là bầu không khí quen thuộc nhuốm màu hoài niệm. 

    Vì thi thoảng, tôi chợt nhớ bát mì tôm ốp trứng và cốc Sting đỏ cùng ông bà chủ quán net 22, nơi mà tôi đã gửi gắm cả quãng đời cấp 2 của mình và cũng là nơi tôi không bao giờ đặt chân tới nữa. 

    … Thế đấy, tôi đã bỏ net, bỏ bida, bỏ bóng rổ cả rồi.


    Ngày 4 tháng Bảy năm 2025,

    “Chẳng thể khổ hơn được nữa đâu!”

    “Sẽ khổ hơn đấy.”

    ***

    “Sao tiếng hót của chim ngắn thế,” có lần người ta hỏi chim. “Hay là chim không đủ hơi?”

    “Tôi có rất nhiều điệu hót, và tôi muốn hót được hết các điệu.”

    ***

    Chà, mai về quê rồi.


    Ngày 5 & 6 & 7 tháng Bảy năm 2025,

    Cảnh nhà ảm đạm và đơn sơ tới độ vừa bước vào sân đã thấy buồn. Căn phòng của tôi vẫn y nguyên kể từ hai tháng trước khi tôi rời đi, vẫn vài cuốn sách bám bụi chỏng chơ trên chiếc bàn học mà mặt bàn đã bị khắc trạm đủ những hình thù ngộ nghĩnh từ thời tôi còn học sinh. Vườn nhà um tùm, cỏ mọc cao ngang mình, cây vải ở góc vườn đã bị phạt mất vài cành trên đỉnh, nhìn từ xa cứ như một ông lão hói đầu. Trên khoảng sân đón gió của nhà chú tôi đem phơi đệm và rất nhiều lạc, độ bốn, năm giờ chiều khi nắng đã dịu, một cô hàng xóm đẩy chiếc xe cút kít cùng một con nhóc chừng ba, bốn tuổi, mắt xếch kiểu Tàu, không lông mày, tay cầm một chiếc súng bắn bong bóng màu hồng hồng. Trông mẹ nó cũng trẻ mà đã ba con rồi, và đứa lớn trạc tuổi tôi…

    Bệnh trạng của bác tôi không thuyên giảm; bây giờ bán thân bất toại, bác trở thành nỗi đau khổ triền miên cho người bà già cả của tôi. Bà đã sụt mất hơn chục ký từ đầu năm tới giờ, cảm tưởng đang già đi từng giờ, trũng mắt bà sâu hoắm, con ngươi bắt đầu mờ đục một màu xám xỉn như màu chì. Bà nói với tôi bằng giọng van nài khẩn thiết:

    “Tối nay con đừng có đi chơi muộn nữa nhé, bà đến chết vì lo mất thôi!”

    Giọng nói của bà có vẻ thống thiết làm tôi mủi lòng, tôi trấn an bà chiếu lệ và lại ra đi. Những tối hiếm hoi tôi ở nhà, bà thở phào đầy nhẹ nhõm và mười giờ đêm vẫn thấy ngồi cố xem nốt chương trình trên TV. Công việc chăm lo người ốm khiến bà gầy rạc, bà gắt gỏng với bác rất nhiều, vì bác tôi thường thốt ra những lời báng bổ và bất kính tới độ tôi đã bất giác nghĩ rằng rốt cuộc bà đã làm những gì để phải khổ sở như thế. Mẹ tôi nói tôi nên làm ngơ, tất nhiên, vì mẹ tôi chẳng mấy ưa nhà nội. Bà có cái lý của bà, còn tôi, nỗi bất lực trong tôi ngày càng lớn. Tôi yêu gia đình của mình, nhưng sống gần họ tôi không chịu đựng nổi. Tôi không thể điềm nhiên hít thở cái mùi ốm đau tạm bợ này mà không đưa ra một giải pháp triệt để. Người ta bảo ngôi nhà của bác tôi với vợ cũ, giờ đây có thêm một người đàn ông tới ở. Bà tôi, có lẽ nghĩ rằng mình nên tỏ ra cao thượng, đã nhận về mình độc một chiếc giường, một chiếc xe máy và chút đồ đạc lặt vặt nhét đầy trong túi du lịch để vác theo mỗi khi lên viện. Mỗi tuần, hai đứa con gái của bác sẽ đạp xe vào thăm; nhưng gần đây chúng không đến. Con bé lớn hay đến hơn cả, nó là đứa con duy nhất thuộc máu mủ của bác tôi.

    … Ngay buổi chiều đầu tiên về nhà, tôi đã dẫn Thư đi mua quà sinh nhật. Tôi hỏi nó:

    “Thích quà gì thì anh tặng?”

    Tuy góc cầu thang chất chồng hàng lô đôi dép màu hồng, con bé này vẫn một mực đòi mua dép tiếp và dứt khoát phải là màu hồng nó mới chịu. Nó thậm chí còn đặt ra tiêu chuẩn về màu hồng đậm, hồng nhạt. Diêm dúa như mọi bé gái cùng tuổi mình, nó chọn những đôi có gắn nơ, đính ngọc và đế càng cao càng tốt. Ông chủ quán đã chật vật trong cái nóng hầm hập của buổi chiều khát mưa, bên cái gian hàng căng bạt sập xệ, bộc lộ một sự kiên nhẫn không mấy ngạc nhiên ở những người bán hàng để chiều theo sở thích của vị khách lau chau. Tuy vậy chiếc dép quá nhỏ, tôi buộc phải dẫn Thư vào gian trong và tự tay chọn cho nó hai đôi – theo ý tôi, một đôi đi chơi và một đôi đi học.

    “Một đôi đi chơi, một đôi đi học,” nó nhại lại lời tôi bằng giọng ngọng nghịu.

    Vì trời mưa, tôi buộc phải tấp vào quán chè. Cái quán chè này tôi đã ăn ở đây tám năm ròng, nhưng chủ quán không nhớ mặt tôi, và ngần ấy năm không lắp nổi một cục wifi. Xúc xích giờ thành xúc xích chiên ngập dầu rồi chứ chẳng phải xúc xích quay nữa nên ăn cũng chẳng ngon. Thư vòi một cốc trà sữa, mà theo lời nó, tôi xin trích nguyên văn:

    “Anh gọi cho em món gì màu hồng!”

    Và không hiểu sao, tôi buột miệng nói thẳng với bà chủ quán khiến những người khách khác quay sang nhìn tôi đầy sửng sốt như thể tôi là một thứ sinh vật quái dị nào đó:

    “Cho cháu nước gì cũng được miễn là màu hồng!”

    À, tôi quên, nãy giờ còn cậu em Lâm đi cùng nữa. Nó thì tôi cho đi theo như lính lác thôi, để trông xe, đại loại vậy. Cu cậu có vẻ hài lòng với chức vụ này và biết rõ hơn ai hết về cái nết chuộng màu hồng của cô em gái. Hai đứa có vẻ thân nhau.

    Sau khi đưa được bà cụ non kia về thì mưa đã ngớt. Hoá ra chỉ là mưa bóng mây. Mặt trời đằng sau và mặt trăng trên đầu. Tôi với Lâm lượn trên đê, phía dưới là con đập mênh mang, cỏ dại mọc um tùm tứ phía, giữa đập tản mác một vài chiếc xuồng đen đen mà nhìn từ xa chẳng khác nào một chấm đen bất động giữa mặt nước êm ru. Con đập này rộng, vạt cỏ lan rộng tạo thành một đầm lầy, xa xa thấy cả một vũng nước hình tròn như một cái giếng trời, nước xanh ngắt, trái ngược hẳn với mặt nước hồ đùng đục chung quanh. Hồi lớp sáu, khi “khai trương” con đập này, người ta đổ xô ra đây tắm, đông nghịt, tưởng như đang ở Sầm Sơn. Hôm ấy tôi cùng bơi với một thằng bạn tên Khải, một thằng làng bên mà theo lời ông tôi thì bố nó đã mượn bố tôi con dao rựa rồi cuỗm luôn. Khải có một bà mẹ đúng tuýp bà chằn theo nghĩa trọn vẹn nhất của từ này. Bà ta dẫn hai thằng bọn tôi ra đập, ngồi trên bờ và liên tục quắc mắt đe doạ mỗi lần một trong hai thằng tỏ ý muốn bơi ra xa… Chính quyền cho tắm vài hôm, rồi cấm ngặt, thế là hai thằng chúng tôi bèn lỉnh về mấy cái hồ trên núi đằng sau nhà thằng Khải. Ôi, nước màu cà phê hoà tan và đáy hồ lởm chởm những đá là đá, mỗi lần ngoi lên da tôi láng bóng, kin kít như vừa tắm bùn. Thằng Khải bơi giỏi hơn tôi, một lần tôi sang tìm nó thấy nhà cửa vắng tanh, chỉ nghe tiếng chó sủa từ xa vọng lại và tiếng đập nước chậm rãi. Tôi nhanh nhẹn bám vào cái mỏm đá để trượt xuống con dốc cho khỏi ngã, đất sét bám đầy lên dép, rồi giữa hồ, thằng Khải cất giọng sảng khoái bảo với tôi:

    “Hồi xưa hồ này có người chết đấy!”

    Tôi nhát đến nỗi không dám xuống nữa, bụng bảo dạ rằng hôm nay chỉ nên ngồi trên bờ ném thia lia thôi. Rồi một lát sau, thằng Khải lên tận mỏm đá nơi tôi đang ngồi, nằng nặc kéo tôi xuống bơi cùng, và sốt ruốt nên nó đành thú nhận:

    “Ôi giời ạ, mẹ tôi doạ thế thôi. Ông sợ thì mặc áo phao vào, thế thì chục con ma cũng chẳng kéo chân nổi!”

    … Đến tối tôi ăn cùng ông bà. Bữa ăn trôi qua rất nhanh. Từ ngày bác tôi về ở, nhà tôi luôn phảng phất cái mùi đau ốm tạm bợ, đến ăn uống bà tôi cũng qua loa, hoặc chẳng phải, có lẽ trước nay bà vẫn ăn nhanh nhưng tôi không để tâm đấy thôi. Ăn giữa sân, như ngày bé, muỗi đốt đầy tay và đùi. Tôi bảo với bà rằng nếu tôi bị gọi đi lính và ông bà có xảy ra cơ sự gì thì tôi sẽ khóc lụt doanh trại, và bà tôi cười…


    Ngày 8 & 9 & 10 tháng Bảy năm 2025,

    Tôi đang cố yêu lấy công việc của mình. Gần đây tôi vẫn viết đều. Tôi viết nháp bằng tay, sau đó gõ và chỉnh sửa trên máy. Tôi viết đi viết lại một truyện. Dù gì cũng không bị thúc ép phải viết vội (nhuận bút tôi nhận từ việc viết lách gần như không có), tôi sẽ trau chuốt bản thảo cho tới kỳ láng bóng mới thôi. Phải rồi, việc cần làm là viết từ tốn, đều đặn. Đọc sách thì tôi đọc ít thôi, cả tuần nay không đọc rồi. Thi thoảng tôi mới vớ lấy một cuốn truyện cũ, đọc lại những tác phẩm ưa thích. Tôi đã đọc Nàng Lika của Bunin bốn lần trong hai tháng nay rồi.

    Đột nhiên nhớ ra bản thân kiếm được gần hai trăm ngàn từ tiếp thị liên kết trên TikTok. Nếu Hương không tò mò kiểm kê gian hàng của tôi thì có lẽ đến giờ tôi vẫn không biết. Nhìn chung tôi thấy công việc tay trái này khá dễ chịu…

    Lần cuối gọi điện với mẹ, tôi bảo với bà sẽ điện lại vào ngày mai. Thế mà từ hôm ấy đến nay đã gần tuần rồi.


    Ngày 11 tháng Bảy năm 2025,

    Vì cuốn sách mới ra mắt của Haruki Murakami mà tối qua tôi đi ngủ muộn, nhưng sáng ra thì vẫn dậy đúng sáu rưỡi sáng. Đồng hồ sinh học của tôi đã hoạt động trở lại. Sáng dậy bước lên sân thượng thấy lòng khoan khoái, tràn ngập cảm giác tự tại, đột nhiên yêu đời lạ lùng – cảm giác lâu lắm rồi tôi không có được. Thật yêu xiết bao những buổi mát trời như hôm nay đây. Tôi nhớ trên khúc quanh từ Khuất Duy Tiến rẽ sang Trần Duy Hưng, phóng giữa đại lộ bề bề, tôi đã không kìm lòng được mà hú hét lên như một thằng dở người. Thật may vì không có ai nghe thấy và ngoái lại nhìn, thế thì tôi sẽ chết vì ngượng mất.

    Lên văn phòng, tôi đọc nốt cuốn sách bỏ dở tối qua và ngay lập tức viết một bài về nó. Trước đó, trên đường rẽ tới văn phòng, tôi đã tỏ ra vô cùng lần chần, phóng đi rồi lại ngoặt lại, không biết có nên mua một thức uống gì hay không. Sau rốt, tôi mua thứ nước trái cây có cái tên thật kêu – nước ổi hồng ruby. Có một con chó poodle lông trắng như tuyết, mắt đen láy, được chủ bận cho một chiếc váy màu hồng, nom nó ngộ nghĩnh, điệu đà và gần như yêu kiều trong cái cảnh mờ nhạt của quầy hàng. Con chó rất dạn, nó ngay lập tức xun xoe dưới chân tôi, tôi cúi xuống xoa đầu nó và hình như đã vội rút điện thoại ra chụp một tấm. Chủ quán bảo con chó:

    “Con này mê trai quá!”

    Tôi mải vuốt ve cục bông gòn kia nên không đáp lại, chỉ nhìn anh ta rồi cười… Rồi thì tôi lên văn phòng, chật vật viết xong một bài đăng, chưa kịp thiết kế ảnh thì đã tới giờ ăn trưa. Tôi ăn thịt băm xào hành, đậu xốt, gà popcorn và canh rau cải. Ngồi ăn với tôi có chị Vy, mà mọi người trong văn phòng quen miệng gọi là Táo; chị có một ông bố hồi hưu thường xăng xái vào bếp chuẩn bị bữa trưa cho con gái – hộp cơm của chị thì hết ý. Nhưng hôm nay chị ăn xôi xéo, khi tôi hâm đồ lên xong thì chị đã ngồi bệt giữa bàn, vừa xem điện thoại vừa ăn gần xong rồi. Tôi ngồi xuống đối diện chị, và tôi ngắm chị, để ý ở chị luôn có vẻ gì rất thơ trẻ, cảm tưởng như thân hình gầy gầy còn chưa phát triển hết. Tôi nghe bảo chị đang quen một anh trai làm ở BIDV; một ngày chị đã ngây ngô đến mức vô tình bật mí chuyện tình của mình bằng cách bảo với Cún (cháu trai của sếp tôi, đang học ngành ngân hàng) rằng Cún nên tập uống rượu dần đi, sắp tới phải tiếp khách nhiều lắm đấy. Cô nàng này quả thực nai tơ hết thuốc chữa!

    … Sáng nay thức dậy tôi đột nhiên thấy thờ ơ với công việc viết lách của mình kinh khủng, đến mức suốt nửa tiếng trời ngồi vào bàn viết, tôi đã không làm gì ngoài chống tay lên cằm và ngắm khoảnh vườn nhà bên. Tầm bảy rưỡi sáng sẽ có một bà đứng trên sân thượng tập thể dục, tay vỗ bèn bẹt vào nhau, – dẫu biết thế nhưng lần nào tôi cũng ngó ra nhìn rồi bất giác nghĩ rằng từ trên cao ấy bà ta có nhìn xuyên được vào cửa phòng tôi không, có thấy tôi đang cặm cụi ngồi viết và thi thoảng lại cắn bút hay không. Tại sao tôi không thể thả lỏng cho bản thân mình, rằng những lúc không viết được thì đừng cố viết, mà hãy kiếm việc gì đó làm tạm, nhưng rồi tôi lại nghĩ “như vậy liệu có đang lãng phí thời gian không?” Suy cho cùng, tôi đâu có dậy sớm để làm gì khác ngoài cái công việc đày ải và căng thẳng triền miên này? Tôi không viết vì tiền, quả thực tôi cũng hơi thèm khát danh vọng đấy, nhưng tôi viết vì lòng vị kỷ của mình nhiều hơn thảy – tôi muốn mình viết hay tới mức làm cảm động chính mình; tôi hiện tại quá thiếu vốn sống, còn bút lực của tôi ư, tôi chẳng biết bút lực của mình ra sao nữa. Tôi đang viết một truyện, rất khó, có lẽ khó nhất từ trước tới nay, nhưng tôi biết rồi mình sẽ làm được thôi, sẽ vượt qua thôi, mọi chướng ngại dọc đường đi rồi sẽ bị san bằng…


    Ngày 12 & 13 tháng Bảy năm 2025,

    Tôi không nhớ bằng cách nào đó tôi đã quyết đoán nói với Hương rằng: “Chúng ta sẽ đi Hoà Bình”. Có lẽ tôi đã bắt gặp một video trên TikTok, khả năng là về thác nước, vì bản thân tôi chưa bao giờ đi tắm thác nên viễn cảnh đó càng lôi cuốn tôi hơn bao giờ hết. Bạn gái tôi đồng thuận gần như tức khắc, và liền mấy hôm sau ra công sửa soạn một lô một tràng những bản kế hoạch, dự trù chi phí, đủ sức nói về nó cả ngày, – còn tôi thì sau khi ra được cái quyết định kia lập tức biến mất như thể một lão thuyền trưởng chỉ ra hiệu lệnh khi cần thiết, còn không sẽ ru rú mãi trong cái khoang chỉ huy của mình. Tôi sắm cho Hương một đôi dép xỏ ngón màu trắng, theo yêu cầu của cô nàng, bản thân tôi không thích nó lắm và thậm chí còn nghi ngại tính hữu ích của nó là khác, nhưng xem chừng nó đã tỏ ra khá đắc dụng vào những trường hợp ta cần đến nó nhất. Có lẽ nếu nó biết nói, nó sẽ tự đắc mà vênh vang bảo với tôi rằng: “Biết mặt tao chưa thằng khốn!”

    Công cuộc chuẩn bị bắt đầu từ tối thứ Sáu. Hôm ấy ban ngày thì mát mẻ mà về tối oi bức đến lạ; chừng hơn bảy giờ tôi tới nhà Hương, sau nửa tiếng vạ vật bên nhà cũ để mượn chiếc ba lô du lịch. Chuyện ở nhà cũ cũng đáng để thuật lại lắm nhưng xem chừng phải khất lại tới một dịp khác. Vì dự tính sẽ mua một chiếc váy trắng cho đủ lệ bộ của dân du lịch, chúng tôi lượn ra Phạm Ngọc Thạch, nhanh chóng thoái chí không hiểu do đâu, có lẽ vì đói, và tôi gợi ý nên vào ăn cơm niêu Tố Uyên – kỳ lạ làm sao tôi lại nhớ được tên cái quán quỷ quái này! – tôi đã để mắt nhiều lần nhưng chưa ăn ở đây bao giờ. Từ sau lưng tôi, Hương nói bằng cái giọng khuyên nhủ quen thuộc của mình:

    “Chắc là đắt đấy anh.”

    “Quán nào cũng nghĩ đắt rồi chẳng vào được quán nào, toàn ăn đi ăn lại quán cũ.”

    Sở dĩ tôi đáp trả thế này cũng đơn giản thôi. Hồi năm nhất, bạn gái của tôi khi ấy cũng rất biết tiếc tiền thay tôi, mỗi lần chúng tôi đi qua một quán ăn lạ mắt là y rằng cô ta đòi vào, rồi chính bản thân cô ta lại dùng dằng không chịu vì sợ rằng “quán nom thế này chắc đắt lắm”, đại loại vậy… Và quả thực tôi đã để cô ấy ăn đi ăn lại một vài quán, những quán ăn tạm bợ của tụi sinh viên… Mãi sau này khi đã chia đôi ngả, dạo ấy tôi còn độc thân và thậm chí khá bi luỵ, đã lần lượt vào từng quán xá mà cô gái kia từng ao ước được vào. Lạ thay, giá cả cũng mềm thôi, thế chẳng phải tôi vì mấy đồng bạc mà từ khước niềm vui của người mình yêu hay sao?

    Chuyện là thế, tôi không muốn lặp lại điều tương tự với Hương. Nhưng rốt cuộc chúng tôi vẫn vào một quán cũ, có phần sập xệ, tù túng (trời oi nồng kinh khủng mà quán không bật điều hoà), bàn ăn thì là dạng bàn tròn màu đen giống mấy quán nướng bên Hàn Quốc và thực tế cũng thiết kế theo lối này luôn; mặt bàn cáu bẩn, nhờn nhờn, chiếc quạt cây với nồng quạt và cánh quạt bám bụi quay lờ đờ, uể oải… Tôi gọi món cơm trộn khoái khẩu còn Hương sau một hồi lần chần cũng chọn được món cơm chiên cà ri. Bữa ăn tẻ nhạt, tôi không nhớ hai đứa đã nói những gì, có lẽ bàn tính về chuyến đi sắp tới và nàng nghe tôi kể lại chuyện tôi về nhà cũ ra sao. Thôi thì cũng xin thừa nhận với các bạn rằng tôi đã mua một gói bánh gạo ở quán tạp hoá quen thuộc ngày trước, đó là quà dành tặng bà Xuân, bà hàng xóm sát sườn phòng cũ trong khu nhà tập thể cơ khí của tôi. Bà ngơ ra vài giây rồi mới nhận ra tôi, và liền đấy, bà bước lại phía tôi với vẻ hồ hởi, với ánh mắt hân hoan dường như trong thoáng chốc làm trẻ lại những con người già cả, với điệu bộ ân cần xởi lởi như cách ta đón tiếp một vị khách không hẹn mà gặp sau những tháng ngày bặt vô âm tín. Bà nói:

    “Trời, thằng Long đấy hả? Càng lớn càng đẹp trai!”

    Thú thực từ năm cấp ba trở đi thì những người duy nhất khen tôi đẹp trai, loại trừ những cô bạn gái của tôi ra, chủ yếu là người trung niên hoặc người cao tuổi. Có lẽ “đẹp trai” trong mắt họ là “ưa nhìn”, và họ thẩm định ngoại hình của tôi theo những quy chuẩn khác với các thế hệ gần gũi tôi hơn. Khi tôi kể tới chuyện đó, Hương nhìn tôi đầy châm chọc và nói giọng giễu cợt:

    “Này, này, chắc lúc đấy chẳng sướng rơn lên chứ hả?!”

    Ồ, chẳng phải nói!

    … Tôi rất thất vọng với sự mù đường của bạn gái tôi. Cô nàng sống ở Hà Nội năm, sáu năm rồi nhưng kiến thức cơ bản về địa lý thủ đô vẫn hết sức hạn chế. Nhưng tôi biết ngoài kia có hằng hà sa số những cô nàng với cái đầu óc đãng trí kiểu vậy, – có lẽ họ cho rằng những thứ như vậy là không cần thiết, còn với người yêu tôi thì cái lý của cô nàng là: “Có anh nhớ hộ em rồi!”

    “Thế không còn anh nữa thì ai nhớ thay em?” – rất may tôi đã chẳng nói thế.

    Chúng tôi sắm sửa chút đồ ăn vặt. Lạm chi vài chục ngàn, vì tôi ít có cơ hội ăn đồ vặt tới nỗi mỗi khi có thể, tôi sẽ ăn bù cho bằng hết. Về tới phòng, tôi đọc lớt phớt vài trang truyện ngắn Peasants của Chekhov, rồi lên giường, đọc tiếp một cuốn gì đấy tôi không nhớ rõ. Có lẽ tôi định đọc thêm, nhưng Hương bảo tôi nên đi ngủ thôi vì mai chúng tôi cần khởi hành sớm, tôi cự nự một hồi rồi cũng tắt đèn…

    Hình như tôi đã ngủ chập chờn đêm đó. Phải rồi, giữa đêm, ba giờ sáng tôi tỉnh giấc vô nguyên cớ… rồi tôi mơ… hình như tôi đã mơ thấy mình trở lại hồi cấp ba (dạo gần đây những giấc mơ thế này thường xuyên lặp lại)… Tôi thấy mình đứng giữa hành lang, bên dưới cầu thang đang có hai cô gái đi lên, mỗi người vác vai một bình nước. Một bình nước đổ kềnh xuống và tôi may mắn đỡ được, và tôi bê cho cô ta về tận lớp (tôi vẫn như như in mặt của cô gái này vì tôi từng nuôi giữ một mối tình ít nhiều trong sáng với cô ta – nghĩ thử xem, tôi đã cảm động chỉ vì cô ta xinh xắn và từng nhắc bài tôi bằng một giọng hết sức nhỏ nhẹ, tôi cũng nhớ thêm rằng ngực cô nàng đó lép kẹp, “hai lưng”, theo cách nói của tụi học sinh chúng tôi). Lát sau, cô ta cảm ơn tôi rối rít và không hiểu sao còn quá khích tới độ hét toáng lên:

    “Em cảm ơn anh ạ!”

    Năm rưỡi sáng báo thức reo. Nàng thơ uể oải tỉnh dậy và bắt đầu điểm trang. Ôi, lúc đấy tôi thấy lòng nhẹ bẫng, suy cho cùng cũng chỉ giống như quãng đường phóng về quê thôi mà. Cuối tuần đáng ra phải viết, phải sáng tác hăng say (nói dối!), nhưng tôi ngộ ra rằng mình không thể sống nhiều hơn mình viết được (điều mà tôi từng nhét vào miệng một nhân vật của mình để rồi bây giờ đem ra răn dạy chính tôi), rằng tôi đang đặt quyển sách lên trên cuộc đời chứ không phải ngược lại… Nói tôi đi vì trải nghiệm cũng đúng, vì ngơi nghỉ cũng đúng, nhưng có lẽ đơn giản chỉ vì muốn du lịch cùng người yêu; tôi vẫn luôn có cảm giác chúng tôi nợ nhau một chuyến du lịch sau nhiều dự tính bỏ ngỏ…

    Tôi vẫn kịp nán lại rít một bi thuốc lào ở quán trà đá thân quen. Vì không có thuốc, bà chủ quán bóc một bao thuốc mới, bảo tôi vo lấy một bi rồi đút trả lại như thể nguyên si. Tôi không khỏi cười thầm, tôi cảm thấy một nỗi hả hê nanh ác như cái thời còn là học trò cưng của các giáo viên và được họ dành tặng nhiều biệt đãi; dẫu biết có bất công với nhiều người khác nhưng tôi cũng mặc, toàn chuyện cỏn con ít phương hại đến ai…

    “Rít thuốc lào xong là không được vội! Không được vội!” – hình như tôi đã lẩm bẩm thế khi nhìn thấy Hương ngồi vắt vẻo trên yên xe, liếc nhìn tôi bằng ánh mắt đầy ngao ngán, chán chường.

    Đường sá thẳng băng. Mặt trời chưa lên cao hẳn…


    Ngày 16 tháng Bảy năm 2025,

    Tỉ mỉ, cặn kẽ là nét đặc trưng trong văn xuôi của Tolstoy, điều từng khiến Turgenev bực mình vì cho rằng ông “muốn làm cho người đọc tin rằng ông đã biết hết thảy mọi thứ nên sa vào những cái tủn mủn như vậy, nhưng trái lại là ông không biết gì ngoài những cái tủn mủn đó”.


    Ngày 18 tháng Bảy năm 2025,

    Hương xem Young Sheldon làm tôi không tập trung dịch bài được. Tôi đành mở phim xem: Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love). Phim đẹp quá nhưng chưa đủ buồn, hôm nào ở một mình sẽ xem lại!


    Ngày 19 tháng Bảy năm 2025,

    Buổi chiều trôi qua hoàn toàn lãng phí. Giờ đây, tôi đang ngồi viết những dòng này trong sự trống rỗng tột cùng. Buổi sáng tôi bắt tay vào viết Thương và viết được kha khá, nhưng nhận thấy quá nhiều sự ảnh hưởng từ các tác giả khác trong đó. Hai khiếm khuyết lớn nhất trong công việc viết lách của tôi: thiếu độc đáo và không biết xây dựng cốt truyện. Kỳ lạ thật khi hôm nay tôi tình cờ đọc được từ nhật ký của Tolstoy: “Nếu một ý tưởng tuyệt vời trong đầu mà khi thảo ra giấy lại trở nên tầm thường, tác giả của nó hẳn là bất tài.” Tại sao tôi lại viết một câu chuyện về người con dâu hục hặc với bà mẹ chồng nhỉ? Công việc tiến triển chậm, tôi đang nhồi nhét quá nhiều chi tiết vào một truyện ngắn, và lúc nhận ra nó đã biến thành một truyện vừa thì muộn quá rồi!

    Viết từ tám rưỡi sáng đến mười hai rưỡi trưa, sau đó đi ăn. Đọc Chuyện rừng xanh. Nếu Hương không gọi điện có lẽ sẽ ngủ đến hết chiều.

    Tối mưa. Ăn uống qua loa đồ ở tạp hoá. Đọc nhật ký của Tolstoy, và đã ngồi thừ hơn ba mươi phút mà vẫn chưa quyết nổi nên chi tiêu buổi tối thế nào. Rốt cuộc đã đọc Trên thảo nguyên của Chekhov rồi đi ngủ.


    Ngày 20 tháng Bảy năm 2025,

    Đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội hưởng lạc và đừng bao giờ tìm kiếm nó.

    ***

    Sáng dậy từ sáu giờ. Viết từ bảy giờ đến mười hai giờ. Công việc có tiến triển, nhưng không đáng kể. Vẫn chưa biết xử lý cốt truyện ra sao cho thoả đáng, mặc dù đã soạn xong chương kết. Giữa buổi bị cắt ngang bởi shipper gọi điện giao Từ điển Ca dao – Tục ngữ. Rất nóng lòng đọc tiếp Trên thảo nguyên.

    Buổi chiều đọc Người nhạc sĩ mù của Korolenko. Lãng phí phần lớn buổi tối, đi ngủ sớm và dậy khá muộn.


    Ngày 21 tháng Bảy năm 2025,

    Sáng dậy từ bảy giờ, nhưng chín giờ mới bắt đầu viết tiếp Thương. Vẫn không tiến triển mấy, dường như càng viết càng đâm vào ngõ cụt. Buổi tối qua nhà bạn gái tránh bão, té ra cơn bão chẳng đáng kể cho lắm. Ngày mai được nghỉ làm. Tôi bắt đầu đọc Kiếp người (Of Human Bondage) của Maugham, song song với Chuyện rừng xanh của Kipling.


    Ngày 22 tháng Bảy năm 2025,

    Viết tiếp Thương từ chín đến mười hai giờ, sau đó đi ăn trưa, trở về viết tiếp đến ba giờ. Không tiến triển mấy. Đã nhận Hán Việt Từ Điển – cuốn sách này hầm hố hơn tôi nghĩ và hiện tại tôi chưa biết nhét anh chàng bự con này vào đâu, thành thử nó vẫn nằm chình ình trên bàn học của tôi, ngay dưới bậu cửa sổ. Hơi thất vọng vì cơn bão…

    Tôi ngồi trau chuốt lại bản dịch cho tiểu luận The Short-Story của Maugham từ bảy giờ đến tám giờ. Sau đó, tôi nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt và lật giở lớt phớt một vài trang của cuốn Hán Việt Từ Điển. Tôi học thêm được vài từ mới, “chằng chằng”, “chành chạnh”, “chẻo lẻo”, “ải tử”….

    Đọc SevastopolCái chết của Ivan Ilyich tới quá nửa đêm. Ngủ ngon.


    Ngày 23 tháng Bảy năm 2025,

    Dậy từ sáu giờ. Bảy giờ bắt đầu ngồi vào bàn, tiếp tục viết Thương. Mọi thứ dần trở nên rõ rệt hơn trong tâm trí. Hôm nay viết khá xuôi tay, công việc quả thực có tiến triển, dù không đáng kể.

    Hôm qua lại mơ về thời đi học, nhưng không nhớ rõ đã mơ những gì. Hình như là một giấc mơ đẹp, vì tôi thức dậy với cảm giác phấn chấn, sảng khoái của người vừa thức dậy sau một giấc mơ đẹp.


    Ngày 28 tháng Bảy năm 2025,

    Chà, ông bạn giấu tên, tôi đã đọc được tin nhắn của ông và tạm thời xin trả trước, một vài tâm sự vụn vặt, những điều mà theo thời gian tôi sẽ hoàn thiện dần.

    Tôi viết thế nào?

    Thoạt đầu mới viết tôi không bao giờ nghĩ trước mình sẽ cần viết gì cả. Tôi vừa viết vừa nghĩ, và thú thực đến giờ phần lớn tôi vẫn làm thế. Tôi từng đọc được rằng chỉ có những tay mơ mới làm việc theo cái hướng như vậy, rằng một nhà văn chuyên nghiệp sẽ suy tính trước tất tật mọi thứ, từ ý đồ, tư tưởng, hình tượng, sườn và cốt truyện, v.v. rồi mới bắt tay vào viết. Điều này hiển nhiên thích đáng, và chỉ có ai dại dột mới toan phản bác. Nhưng Flannery O’Connor từng nói rằng bà không hề biết câu chuyện sẽ dẫn bà đi đâu cả; nói chung, những người như Flannery – chúng ta tạm coi là một trường phái khác – sẽ bắt tay viết với một ý tưởng có phần mờ mịt, nhưng càng viết thì cốt truyện sẽ càng sáng rõ trong tâm trí họ. Đây cũng là phương pháp của Gorki hay Zola, người tự nhận mình không có năng khiếu “dựng chuyện”. Tôi buộc phải lấy một ví dụ khác của một nhà văn mà tôi không mấy ưa thích – Rowling. Bà đã nung nấu ý tưởng về Harry Potter trong suốt năm năm trời, chúng ta được nghe kể vậy. Nếu một nhà văn không bị thúc giục viết vì cơm ăn áo mặc, tôi nghĩ tốt nhất anh ta nên noi gương bà, tức là nhào nặn ý tưởng của mình thật kỹ, ngắm nghía nó từ mọi góc độ, và ghi chú thật nhiều. Phần lớn những ghi chú đó sẽ thành ra vô dụng trong mắt người nghệ sĩ, bởi ta không thể nhét bừa một đoạn ghi chú vào giữa một tác phẩm, nhưng trong quá trình viết phác, ý tưởng cho câu chuyện sẽ liên tục được đắp bồi. Có lẽ người ta phải viết chục trang mới tới được trang đầu tiên. Sự tình cờ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này, vì, chiểu theo kinh nghiệm riêng tôi, rất nhiều ý tưởng ẩn tàng trong tiềm thức của ta như thể chúng không hề tồn tại, nhưng một sự việc bất ngờ, đôi khi chỉ là một cánh hoa ngưu bàng bị dập nát thôi (trường hợp của Tolstoy với Kha-gi Mu-rát), cũng đủ khiến một cơn say phóng tác dội về.

    Những người mới bắt đầu viết thường mang tư duy ăn xổi. Ta những muốn viết thật nhanh, câu cú lai láng trơn tuột như được bôi dầu, muốn viết như chim hót. Và nếu có thiên phú thì việc này càng dễ dàng hơn nữa. Nhưng càng dấn sâu vào viết lách thì một nghịch lý xảy ra, đó là người viết sẽ cảm thấy viết càng ngày càng khó khăn hơn với anh ta. Đây là một tín hiệu tốt dù không lấy gì làm vui vẻ. Một cây bút non trẻ sẽ sớm ngộ ra rằng trước nay anh ta hoàn toàn chỉ viết theo lối tài tử, được chăng hay chớ, và kết quả rõ rành là hiếm một tác phẩm nào thiếu sự nung nấu và trau chuốt lại có thể toát ra sức sống nổi. Sáng tác là một công việc mệt mỏi và dễ gây thoái chí, nhưng nếu một người cặm cụi viết trong vòng một tuần và nhận ra mình không kham nổi, thì hoặc vấn đề chỉ đơn thuần nằm ở sức chịu đựng, hoặc anh ta không hợp với việc viết lách. Về chuyện này tôi xin trích dẫn một câu nói của Chandler:

    “Điều quan trọng nhất ở đây là phải có một khoảng thời gian trong ngày, cứ cho là tối thiểu bốn giờ đồng hồ, buộc một nhà văn chuyên nghiệp không làm gì khác ngoài viết cả. Y không cần phải viết, và nếu y cảm thấy không muốn viết thì y không nên cố. Y có thể nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc chồng cây chuối hoặc lăn lộn trên sàn nhà. Nhưng y không được làm bất kể hoạt động nào khác, không đọc, không viết thư, không ngó nghiêng mấy chồng tạp chí, không rà soát bản thảo. Chỉ viết hoặc không làm gì cả… Tôi thấy nó hiệu quả. Hai quy tắc vô cùng đơn giản, a: bạn không cần phải viết. b: bạn không được làm gì khác. Phần còn lại tự nó đến.”

    … Tôi không biết các cây viết khác thực hiện công đoạn world building (tôi không thích thuật ngữ này lắm), rồi đến character building, v.v. nói chung là cân nhắc mọi khía cạnh của truyện ra sao. Nhưng tôi nghĩ vẫn nên trình bày vắn tắt phương pháp của bản thân về phương diện này. Tôi thường bắt đầu từ nhân vật. Nhân vật là sẽ toa đầu kéo cả đoàn tàu theo sau. Như chúng ta đều biết, câu chuyện phải có một người hùng, phản diện hay chính diện, nhưng y sẽ đóng vai trò là mặt trời, còn tất tật những yếu tố khác sẽ xoay quanh y như một thái dương hệ. Hiếm ai nảy ra hình tượng cho một nhân vật từ hư không, tức là ngồi tưởng tượng ra anh ta, mà thường họ sẽ xây dựng anh ta từ một nguyên mẫu trong đời thực, và trong quá trình đó nhà văn sẽ liên tục điều chỉnh, nhào nặn nhân vật của mình như một hình nhân đất sét vậy. Y đẽo, gọt, giữ lại những gì cần giữ, còn những phần khác y tự bịa ra, rồi y đặt nhân vật đó vào một môi trường trong đó làm nổi bật tất thảy những nét tính cách của nhân vật, ngoài cái hình hài mà y đã phác cho anh ta. Nếu hình tượng nhân vật đủ rõ rệt, nhân vật đó sẽ bắt đầu phản kháng, bắt đầu từ khước những ý đồ mà nhà văn muốn áp đặt lên anh ta, và tới đấy thì phần còn lại của cốt truyện mới nhẹ nhàng làm sao! Nhân vật đã sống, đã thoát thai, và gần như tự mình lèo lái cốt truyện. Chính Chandler, một nhà văn trinh thám, từng nói rằng ông viết để biết kết truyện ra sao. Đến bản thân người viết đôi khi còn không rõ các nhân vật sẽ dẫn dắt mình tới đâu. Đây là một phương pháp nghe khá nghiệp dư, nghe như thể nhắm mắt bắn bừa, nhưng chúng ta há chẳng phải những cây bút nghiệp dư đó sao?

    Về thủ pháp dựng chuyện, thú thực bản thân tôi không có năng khiếu cho lắm. Tôi vẫn đang mày mò. Đôi khi tôi ăn cắp cốt truyện của người khác, rồi biến tấu lại theo ý mình. Thoạt đầu tôi thấy khá tội lỗi vì chuyện này, nhưng lâu dần tôi phát hiện ra đa số các nghệ sĩ đều bắt chước ai đó, cho đến khi họ đủ khả năng để thôi bắt chước (hoặc che đậy kín đáo hơn) và chuyển qua bị bắt chước. Tôi nghĩ những người bị tôi đánh cắp sẽ đủ độ lượng để tha thứ cho sự kém cỏi nơi tôi. Stendhal viết trong nhật ký rằng ông có thể xem xong một vở kịch rồi lập tức biến vở kịch đó thành của mình; người ta thấy ông cặm cụi ghi chép cốt truyện trong khi xem kịch một cách vô liêm sỉ, và nhân tiện, rất nhiều trong số các tác phẩm của ông là sự cải biên các tác phẩm khác (thậm chí ông từng ăn cắp cốt truyện một cách trắng trợn tới mức không thèm đổi tên nhân vật chính). Tôi, phần nào giống Stendhal, thiếu vắng năng khiếu sáng tạo. Trí tưởng tượng của tôi rất yếu. Tôi vật lộn với đối thoại. Tôi viết dài dòng lan man về những điều không cần thiết. Nếu nghĩ mãi không ra nổi một cốt truyện thoả đáng, có lẽ nên tự thừa nhận rằng mình bất tài về bình diện này, rồi dành thời gian chăm chút cho những bình diện khác, nơi tiềm năng dày hơn và niềm vui theo đó cũng cao hơn. Dù sao mỗi nhà văn sẽ có một biệt tài riêng, dù có khiêm tốn đến mấy, cũng phải cố bằng được để phô nó ra.

    Tôi sẽ nói sơ qua về lịch trình làm việc của mình. Dạo trước tôi thường viết vào buổi tối, sau khi tan làm, từ tám giờ đến quá khuya. Tôi viết khá sung mãn và thậm chí còn phiêu diêu là khác, nhưng lối làm việc như vậy khiến ngoài viết ra tôi chẳng làm gì ra hồn. Rõ ràng ta không thể chỉ viết, ta còn phải sống và biết bao bổn phận khác nữa. Dần dà tôi chuyển qua viết buổi sáng. Bây giờ thì nếu không thể viết sáng tôi sẽ không viết; tôi cố tránh bằng được thói viết về đêm, dù chỉ là chỉnh sửa bản thảo. Tôi ngủ hơi muộn, nhưng dậy sớm, thường trước bảy giờ, viết cho đến giờ đi làm. Phần còn lại trong ngày, ngoài công việc trên công ty, tôi chủ yếu đọc sách, học hỏi thêm nhiều món khác (tạm thời là nghiên cứu từ điển – chà, tôi biết ít từ xiết bao!). Việc viết buổi sáng có những ưu điểm đáng kể: sớm mai trong lành, sự yên bình đầy khoan khoái, nhưng vào những hôm viết không xuôi, tôi buộc phải đem cái tâm trạng ủ ê bức bối và vác bộ mặt bí sị đến văn phòng. Điều quan trọng: chỉ nên viết lúc bình tâm! Nếu trong lòng còn lợn cợn một mối lo toan dù nhỏ bé tới mấy thì cũng đừng đặt bút viết. Và không hiểu sao nhưng tôi không thể viết nếu không ở một mình – về chuyện này tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình. Viết, với tôi, như thể khoả thân, và tôi ngượng ngùng, dè dặt với sự hiện diện của bất cứ ai bên cạnh, dù họ chẳng gây phiền nhiễu gì tới tôi…

    Giờ thì về sách. Tôi mê viết đến nỗi từng bỏ bê chuyện đọc sách, dù chắc mẩm nếu không đọc thì mình chẳng viết được gì ra hồn đâu. Hai việc này tương hỗ mật thiết đến nhau. Nếu có cơ hội, nên đọc những cuốn làm ta hao tâm tổn trí, còn đọc các tác phẩm văn học là mặc nhiên… Vì đã soạn sẵn một bài viết về những reading-list của bản thân, tôi xin phép kết thúc vấn đề này ở đây.

    Chekhov đã nói không ngoa khi cho rằng viết lách phần lớn là cắt bỏ. “Ngắn gọn là chị tài năng,” ông viết. Suy cho cùng thì phần lớn những gì ta viết trong bản thảo đều đáng liệng vào sọt rác hết. Và nếu sự thể vốn vậy thì việc viết sẽ không còn đáng để bận tâm tới thế. Cứ đi rồi sẽ đến, nhưng đến đâu? Hãy cứ mong nó là một cái đích. Còn nếu đi mãi, đi mãi mà vẫn hun hút như một đường hầm, tốt nhất nên quẳng hết đi và dẹp luôn cái trò viết lách đau khổ! Về điều này hãy noi theo những điều tôi khuyên, đừng noi theo những điều tôi làm.

    ***

    Gần như mất toi cả buổi sáng chỉ vì cuộc họp diễn ra vào cái giờ trái khoáy (10 giờ?). Buổi chiều sẽ phải bù lại. Chưa chi đã thấy lười.

    Công việc biên tập diễn ra khá trôi chảy. Tôi ngủ một tiếng rưỡi vào buổi trưa – bây giờ thì giấc ngủ cứ tự nó đến, đặc biệt là sau khi đọc những bản dịch tồi. Thật khoan khoái và nhẹ nhõm làm sao khi có một ngày làm việc êm xuôi, đầu óc thanh thản, vô ưu, tràn đầy sảng khoái… Thời tiết khá tệ, nhưng có sao đâu vì ta nhốt mình trong nhà cả ngày, chẳng giao du với ai, chẳng chịu cảnh tắc đường… Hê hê!


    Ngày 29 tháng Bảy năm 2025,

    Hôm nay tôi cố đọc cho hết Sevastopol.

    Ở Paris, tôi chẳng bao giờ đi ra ngoài, bởi phố xá nào khác gì những căn phòng không trần.

    – Maupassant, “Mùa chim giẽ”


    Ngày 30 & 31 tháng Bảy năm 2025,

    Hai ngày gần đây tôi đọc xong Sevastopol, một trong những truyện ngắn đầu tay đăng báo của Tolstoy. Cá nhân tôi thấy nó tàm tạm. Tôi đọc hết Tuyển tập truyện ngắn Guy de Maupassant của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, một cuốn sách dài hơn nghìn trang, tổng hợp 50 truyện của nhà văn người Pháp. Riêng Viên mỡ bò tới nay tôi đã đọc hai lần.

    Tôi tự đặt ra cho mình mục tiêu phải:

    1. Đọc ít nhất 1 truyện ngắn mỗi ngày;
    2. Đọc ít nhất 1 bài thơ mỗi ngày;
    3. Đọc ít nhất 1 tiểu luận / bài phê bình mỗi ngày;
    4. Đọc ít nhất 1 tiểu thuyết mỗi tuần;
    5. Viết mỗi ngày, dù ít dù nhiều, nhưng tối thiểu là 1 tiếng.

    Phúc Minh Books vừa gửi sách: Trường mẫu giáoĐương đầu với lửa. Hôm nay là một ngày làm việc năng suất, cả sáng lẫn chiều. Chỉ hơi đói bụng một chút, dù trưa tống đẫy một bát ô tô cơm.


    Ngày 2 tháng Tám năm 2025,

    Hôm nay tôi dậy sớm đưa Hương ra công ty cho kịp giờ chuyến xe đưa sẽ cô nàng xa khỏi Hà Nội hơn hai trăm cây số. Có lẽ lúc tôi đang nằm trên giường viết những dòng này đây, cô gái của tôi đang nhai rau ráu một món hải vị nào đó chăng? Chưa chi tôi đã mường tượng ra cái mùi mặn chát của biển rồi…

    Gần bảy giờ sáng, tôi nán lại quán trà đá lâu hơn thường lệ, những bốn mươi phút, vì một anh bạn không quen biết, có mái tóc bờm xờm màu trắng màu đen lẫn lộn, cằm nhọn, hai mắt sáng rực, cho thấy anh ta là người linh lợi, hoạt bát. Anh ta mặc áo đồng phục Be còn khá mới, nhưng bên dưới lại diện quần cộc có hộp màu xam xám đính khuy, đeo đôi tất Nike kéo cao ngang cặp bắp chân rắn rỏi, bận dép sục theo mốt dân thể thao. Người xưa có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, còn trong trường hợp của tôi, chiếu theo những gì tôi có dịp trải nghiệm, thì đúng ra là điếu cày là đầu câu chuyện. Phải, anh chàng nhỏ nhẻ nhờ tôi với giúp cây điếu cày ở ngay bên trái tôi. Tôi nhoài người đưa cho anh ta. Anh ta khẽ cảm ơn e dè như một thục nữ, rồi vừa vón thuốc vừa hỏi bằng giọng lúng túng:

    “Anh ơi, sao em thấy họ hút cứ đổ hết nước ra ngoài nhỉ?”

    Tôi không nghe rõ nên anh ta lặp lại câu hỏi và diễn đạt cho nó sáng nghĩa hơn. Rồi tôi bật cười, trả lời anh ta rằng như thế nó mới phê. Anh ta cũng cười, khoe hàm răng đều tăm tắp nhưng xin xỉn, cái bộ nhá đặc trưng của người hút thuốc lâu ngày.

    Chúng tôi tiếp tục tán chuyện. Tôi hỏi anh ta, rồi anh ta hỏi tôi. Anh ta quê ở Thanh Hoá, nhưng nghe cái giọng lanh lảnh của anh ta thì khó đoán định cho nổi – tôi đã phải nhờ tới đầu biển sổ chiếc xe Wave trắng dựng ngay sau xe tôi, đuôi xe hơi chếch vào tường. Thoạt đầu anh ta nói năng còn nhát gừng, nhưng có lẽ bị lây cái cung cách xuề xoà nơi tôi, anh dần dần bốc hơn, nói liên miệng và chỉ thi thoảng mới chịu dừng lại để nhấp nước chè. Anh ta uống hết một cốc, rồi gọi thêm một cốc bỏ đá không để pha nước ngọt. Tôi cũng gọi thêm một cốc chè loãng, thầm nhủ cuộc trò chuyện này chắc hẳn sẽ lai rai đây.

    Tôi có đánh sang công việc xe ôm của anh chàng, nhưng nhắc tới đấy trán anh ta bỗng nhíu lại, đầu hơi chúi về trước, khuỷu tay chống lên đầu gối, giọng liến thoắng:

    “Em không có ý định làm lâu dài đâu!”

    “Ồ,” tôi tiếp lời, “thì đâu ai nghĩ đến chuyện lái xe ôm lâu dài!”

    Hẳn tôi đã hơi tọc mạch, vì tôi lần lượt biết được anh ta sống ở vùng nào Thanh Hoá, cấp ba học ở đâu, giờ theo ngành gì, trường nào, vân vân. Anh ta thật thà trả lời tất tật, nhưng tóm lại tôi chỉ nhớ anh ta giống tôi, học marketing, ở cao đẳng FPT, và chưa đến kỳ quân sự năm nhất thì đã bỏ học. Tôi nhẹ nhàng giễu nhãi rằng dường như truyền thống của FPT là bỏ học, và anh chàng ngước lên nhìn tôi bật cười, trông hơi rúm ró như bị ép buộc phải cười vậy…

    Tôi không biết tên anh ta. Anh ta chủ động thanh toán tiền nước, loạt xoẹt đống tiền lẻ một thoáng rồi đứng lên. Tôi cũng đứng dậy theo. Chúng tôi chào nhau qua loa, không nhiệt tình cho lắm, và tôi cũng chẳng biết tên anh ta là gì, tuổi cũng không. Nhưng đó là một gương mặt rất ấn tượng, tôi chỉ có thể nói thế.

    Tôi về nhà, tắm táp (không thể thiếu), đọc nốt 30 trang Xulamif của Kurpin bỏ dở từ tối qua, rồi tôi bắt đầu làm việc. Tự dưng trong lúc viết tôi đã nghĩ rằng vì tôi dường như không bỏ viết ngày nào cả, có lẽ sắp tới, khi hoàn thành truyện vừa này, tôi sẽ rộng lượng trao cho chính tôi một kỳ nghỉ ngắn ngày – có lẽ một, hai tuần gì đấy. Trong thời gian đó, tôi sẽ không sáng tác gì cả, dồn lực đọc sách và ghi chép nhật ký… Tôi đang mong tới ngày ấy đây…

    Tôi viết từ tám đến mười hai giờ. Tôi nghĩ mình nên giảm ca làm việc xuống còn ba tiếng, vì về cuối tôi bắt đầu thấy hơi lả. Rồi tôi đọc tiếp truyện của Kuprin đến hơn một giờ, chỉnh trang sơ sài và đến thư viện đổi sách. Tôi lựa được 3 cuốn: Từ điển vần, Ở nhà trọ Đức của Mansfield và một cuốn hồi ký nhập ngũ năm 68-69 (tên tác giả không nhớ).

    … Trở về nhà đã gần bốn giờ, tôi nằm dài đọc hết Kuprin và hơn ba chương của Người nhạc sĩ mù (Korolenko). Lâu rồi mới có cảm giác thư thái thế này… Cảm tạ trời đất!

    Khiếm khuyết duy nhất ngăn ngày hôm nay trở nên trọn vẹn: lướt TikTok quá ba mươi phút. Phải chấn chỉnh lại thôi.


    Ngày 3 tháng Tám năm 2025,

    Một ngày dài vô tận. Nguyên hai ngày cuối tuần tôi áng chừng mình đã đọc 1.000 trang sách. Phần lớn là truyện ngắn. Mưa của Maugham hay tuyệt, các truyện khác tàm tạm. Tôi đọc lại Phu nhân Macbeth của Leskov, và Taman của Lermontov (hoá ra Taman là tên một vùng biển, và nó chiếm một chương ngắn trong Một anh hùng thời đại, điều mà lần đọc trước tôi đã bỏ qua). Hình như Chekhov rất ngưỡng mộ Taman, ông viết: “Thật không ngờ một chàng trai 25 tuổi có thể viết được thế.”

    Tôi vẫn viết đều, nhưng tôi bắt đầu lờ mờ nghiệm ra tại sao mấy lão nhà văn thường chết sớm. Tôi làm việc liên tục hơn bốn tiếng, từ chín giờ đến một rưỡi chiều, đói lả, mắt mờ, bụng gần như tóp lại, và riêng việc kiếm gì đó ăn cũng làm tôi ngao ngán…

    Tôi đã đọc xong Người nhạc sĩ mù của Korolenko, và đang đọc dở Đời Tolstoy của Romain Rolland. Đây là một cuốn sách mỏng nhẹ, nhưng không dễ đọc chút nào. Tuy vậy, tôi biết thêm khá nhiều về Tolstoy và những phát hiện đó cộng hưởng một cách lạ kỳ với bài tiểu luận Chiến tranh và hoà bình của Maugham. Tolstoy không xem trọng hai tiểu thuyết lớn của mình – tạm thời tôi chỉ có thể nói vậy.


    Ngày 5 tháng Tám năm 2025,

    Điều quan trọng: viết thật chính xác, cô đúc và dung dị. Tránh rườm rà, tránh lối “làm văn”, tránh những sự kiểu cách, những điều phô trương, làm duyên làm dáng trong viết lách. Cực lực tránh lặp từ. Bằng lòng với tài năng nhỏ mọn của bản thân, nhưng luôn viết tốt nhất trong khả năng của mình. Viết chân thật, chỉ viết những điều thực sự khuấy động tâm can bản thân, tránh lối dàn dựng, khiên cưỡng.

    Khuyết điểm hiện tại: viết quá lan man, thiếu vốn từ trầm trọng, lạm dụng khẩu ngữ phương ngữ, câu cú không mạch lạc, thiếu nhịp điệu. Văn chương cũng như một điệu nhạc, cần biết chỗ nào nên nhấn nhá, chỗ nào nên buông lỏng, chỗ nào cần đẩy nhanh, chỗ nào cần nán lại. Hiện tại tôi đang viết quá dài dòng cho những phần cần ngắn gọn và quá sơ sài cho những phần cần tỉ mỉ. Ít ra cũng tự nhủ bản thân còn tự nhìn nhận được các khuyết điểm ở mình. Sẽ cật lực bổ khuyết.

    Thêm một điều cuối: tôi có khuynh hướng tuyệt thực vì viết. Tôi chẳng thiết ăn, ngâm ở một chỗ quá lâu (thường từ ba đến bốn tiếng). Hẳn tôi sẽ không thể sáng tác lâu dài với cái lối làm việc lao lực thế này. Sẽ cần đề ra phương hướng giải quyết. Không biết nữa… Tôi vừa muốn viết kiệt tác vừa muốn sống lâu.

    Sáng nay tôi hoàn thành Một anh hùng thời đại của Lermontov. Đây là lần đọc thứ hai, tác phẩm hay đến mức tôi trân quý cuốn sách mỏng dẹt với những trang giấy ố vàng như một bảo vật thiêng liêng nhất. Tôi không hiểu tại sao một chàng trai hai nhăm tuổi có thể viết được những dòng như thế. Vào tôi, chắc phải sống đến cả nghìn năm.

    À, tôi vừa mua Từ điển chính tả tiếng Việt.


    Ngày 12 tháng Tám năm 2025,

    Chúng tôi cập bến Giáp Bát vào sáu rưỡi sáng, trở về sau chuyến đi ba ngày hai đêm tới Đà Nẵng. Vùng đất tuyệt đẹp! Lại còn Huế nữa, quả là chốn thiên đường để nghỉ hưu…


    Ngày 13 tháng Tám năm 2025,

    Hôm nay tôi dậy sớm, chừng sáu rưỡi. Tôi ngồi vào bàn từ bảy giờ nhưng tới tám giờ, tức là khi Hương cuốn gói, tôi mới có thể bắt tay sửa chữa bản thảo. Tôi cố gắng đẽo gọt câu văn của mình cho thật gãy gọn, bớt diêm dúa, bỏ đi những thứ hoa lá cành…

    Trên văn phòng tôi đọc Chỉ tại con chích choè của Dương Tường và Looking Back của Somerset Maugham. Tôi làm việc năng suất, hơi hài lòng, và tối về chúng tôi cùng nấu ăn. Tôi chưa biết nên chi tiêu buổi tối của mình thế nào cho hiệu quả – hiện tại tôi chỉ đọc sách rồi đi ngủ. Thi thoảng tôi muốn dịch thuật nhưng việc này tốn thời gian và vốn từ của tôi còn hạn hẹp, nên trước mắt tôi sẽ tự bổ túc lấy một khoá.


    Ngày 14 tháng Tám năm 2025,

    TikTok là một trò hề. Bất cứ điều gì xổ ra ở trên nền tảng này đều phải kèm theo cụm “ý kiến riêng”. Mà, kể cả thế, vẫn sẽ vô số thành phần nhảy vào táp bạn, hoặc, tử tế hơn, ra giọng thầy tu rao giảng. Tối qua có một lão già bình luận vào bài đăng “chê” vài cuốn sách kinh điển của tôi, lão dạy tôi cần đọc thế nào, ra sao, nhìn chung được hưởng ứng rất nhiệt liệt. Lão biến tường nhà tôi thành cái bục giảng à? Chà, tôi chỉ lặng lặng xoá cái bình luận được hơn 1.000 tim đó đi, rồi tôi đóng luôn hộp comment. Và có lẽ khi chán rồi tôi sẽ xoá luôn cái bài đăng đấy (gần đây tôi đã xoá kha khá), hoặc đến một ngày sẽ xoá luôn cái kênh TikTok ấy đi. Mệt mỏi! Chỉ có ở đây tôi mới được là chính mình.


    Tôi có quá nhiều điều muốn nói đến nỗi không thể lãng phí một từ nào.


    Ngày 15 tháng Tám năm 2025,

    Kẻ thù của nhà văn

    … Nhưng nguy cơ lớn nhất đe dọa nhà văn chuyên nghiệp là điều đáng tiếc mà chỉ ít người phải đề phòng. Thành công. Đây là điều khó khăn nhất mà nhà văn phải đối mặt. Sau một cuộc đấu tranh dài dặc và gian khổ, khi sau cùng anh ta đạt được thành công, anh ta phát hiện ra rằng nó giăng ra một cái bẫy làm vướng chân và hủy hoại anh ta. Ít ai trong chúng ta có quyết tâm để tránh những nguy hiểm đó. Nó phải được đối phó một cách cẩn trọng. Quan niệm phổ biến rằng thành công làm hư hỏng con người bằng cách khiến họ kiêu ngạo, ích kỷ và tự mãn là sai lầm; trái lại, phần lớn nó giúp họ trở nên khiêm tốn, khoan dung và nhân hậu. Thất bại khiến con người trở nên cay độc và tàn nhẫn. Thành công cải thiện nhân cách của con người; nó không phải lúc nào cũng cải thiện nhân cách của tác giả. Nó có thể tước đi sức mạnh đã mang lại thành công cho anh ta. Cá tính của anh ta được hình thành bởi những trải nghiệm, những cuộc đấu tranh, những hy vọng tan vỡ, những nỗ lực thích nghi với một thế giới thù địch; nó phải rất ngoan cường nếu không bị ảnh hưởng bởi những tác động làm mềm của thành công.

    Thành công thường ẩn chứa trong nó hạt mầm của sự hủy diệt, vì nó có thể chia cắt tác giả khỏi nguồn cảm hứng đã tạo nên nó. Y bước vào một thế giới mới. Y được coi trọng. Y phải gần như thoát phàm nếu không bị cuốn hút bởi sự chú ý của những người quyền quý và lãnh đạm trước sự quan tâm của những phụ nữ xinh đẹp. Y quen với một lối sống khác, có lẽ sang trọng hơn cách y từng sống, và với những người giàu phong thái xã hội hơn những người y từng giao du trước đây. Họ thông minh hơn và sự rạng rỡ bề ngoài của họ rất cuốn hút. Làm sao y có thể tự do di chuyển trong những giới quen thuộc từng trao cho y đề tài sáng tác? Thành công khiến những người bạn cũ nhìn y khác đi và họ không còn cảm thấy thoải mái khi ở bên y. Họ có thể nhìn y với sự ghen tị hoặc ngưỡng mộ, nhưng không còn coi y là một trong số họ. Thế giới mới mà thành công đã đưa y vào kích thích trí tưởng tượng của y và y viết về nó; nhưng y nhìn nó từ bên ngoài và không bao giờ có thể thâm nhập vào nó đến mức trở thành một phần của nó. Không có ví dụ nào tốt hơn để minh họa điều này hơn Arnold Bennett. Ông chưa từng biết cặn kẽ điều gì ngoài cuộc sống của Five Towns là nơi ông sinh trưởng, và chỉ khi ông viết về chúng, tác phẩm của ông mới có sức sống. Khi thành công đưa ông vào giới văn chương, giới thượng lưu và những phụ nữ thông minh, và ông ra sức nghiên cứu họ, những gì ông viết thành ra vô giá trị. Thành công đã hủy hoại ông.

    (The Summing Up, Maugham)


    Ngày 16 tháng Tám năm 2025,

    Tôi có theo dõi một nhà văn trên Facebook, khá tên tuổi, đã xuất bản trên dưới 10 tác phẩm, nhưng chuyên về tiểu thuyết lịch sử. Vài lần bắt gặp sách của anh ta ở trong thư viện công cộng, tôi cũng tò mò giở đọc thử. Một giọng văn khinh bạc và trào lộng khiếp! Tất nhiên chỉ đọc vài trang mà bình phẩm như thế xem chừng phiến diện, nhưng tôi tin tưởng vào cảm nghĩ của riêng tôi, và không đòi hỏi cũng như tìm kiếm ai phải nghĩ giống mình. Ban đầu tôi theo dõi nhà văn này chỉ vì anh ta là biên tập viên của một tờ báo mà tôi muốn gửi truyện ngắn đến. Bản thảo của tôi bị từ chối, sau ba, bốn lần tôi nhắn tin giục giã (máu tôi lúc nào cũng sôi lên!); hoàn toàn không có lời khen, nhưng chê bai thì cũng không hẳn, nếu có, hẳn nó rất nhẹ nhàng đến mức tôi hài lòng chấp nhận. Cơ bản anh ta đã chỉ ra phần lớn những thiếu sót mà chính tôi cũng nhận thấy được. Nhà văn này không chỉ độc một ngón viết lách mà còn dạy viết lách. Thi thoảng tôi bắt gặp vài bài khoe học trò – phần lớn là những cây viết không trẻ cũng không già, hiển nhiên là có năng lực, tôi tin thế, dù tôi chưa bao giờ đọc trọn vẹn một truyện ngắn của họ. Tôi chỉ nghĩ rằng ở tuổi ba mươi, bốn mươi mà họ vẫn nuôi mộng với con chữ ắt hẳn họ phải tâm huyết lắm. Tôi viết lan man thế này chỉ để thông báo với bạn rằng tôi sẽ ngừng theo dõi nhà văn kia. Anh ta bợ đít Nguyễn Huy Thiệp (phải nói là rất tinh tế vì nhà văn này đã qua đời), Nguyễn Quang Thiều, và giờ là đến Y Ban. Ban đầu tôi nghĩ đó chỉ là những dòng tuỳ bút (vì các nhà văn thường khen ngợi, nhiều khi tâng bốc lẫn nhau rất nhiều, đặc biệt nhiều nữa khi âm dương cách biệt), nhưng giờ tôi đoan chắc đó là bợ đít. Tôi không hiểu, hay văn chương phải như thế?

    Nhân tiện, gần đây tôi hơi bỏ bê bên này, tôi viết nhiều bên Tản mạn văn chương hơn. Và cuối cùng tôi cũng viết xong truyện ngắn Làng . Tôi sẽ tạm thời ngưng sáng tác dăm ba tuần. Tôi đang sửa soạn đồ. Hơn tháng rồi tôi chưa về thăm quê.


    Ngày 17 tháng Tám năm 2025,

    Sáng tôi dậy sớm, hồi sáu giờ kém mười lăm. Tôi quyết định tản bộ dọc theo đường ray một vòng, băng ngang qua mô đất trồng keo, nơi ngày bé lũ trẻ con chúng tôi thường tụ tập, và tôi cảm tưởng như cả tuổi thơ của mình đã chỉ trôi qua ở đó, gói gọn trong đó. Bảy giờ ba mươi tôi đi ăn sáng cùng Bờm. Rồi đi bắn bida, chơi điện tử; về nhà, tôi đọc hú hoạ cho Thư nghe vài chuyện cổ tích, hình như là Sự tích con cá mập, và tôi ăn bữa ăn đạm bạc cùng ông bà. Tôi mang sáu quyển sách về nhưng không đọc quyển nào.


    Ngày 20 tháng Tám năm 2025,

    Tôi vừa nhận cuốn Người thợ dệt ở Raveloe (nguyên tác: Silas Marner) từ Phúc Minh Books. Và tôi tự hào tuyên bố rằng tôi đã có trong tay cuốn Những linh hồn chết của Gogol.


    Ngày 21 tháng Tám năm 2025,

    “Cô ấy được bộ mặt đẹp tuyệt.”

    “Mặt thì quan trọng gì?”


    Ngày 22 tháng Tám năm 2025,

    Đã vào cuối tháng Tám, còn tôi đang mong tới tháng Mười. Hôm nay lúc leo cầu thang, tự dưng tôi thèm viết kỳ lạ, nhưng khi leo đến những bậc trên cùng thì tôi lại không muốn viết nữa, càng lên cao cảm hứng càng xuống thấp. Tôi sẽ viết cái gì đây?


    Ngày 23 tháng Tám năm 2025,

    “Chàng buồn rầu nghĩ đến khoảng cách giữa chàng và họ, và cay đắng nghĩ mình đã từng ước mơ thật nhiều nhưng kết quả chẳng bao nhiêu. Đối với chàng dường như những năm tháng ấy đã vĩnh viễn qua đi không trở lại và hoàn toàn uổng phí.”


    Ngày 27 tháng Tám năm 2025,

    Miền trong hẳn đã đối đãi rất tốt với Tuấn. Anh bạn của tôi vẫn cao, nhưng giờ thì đậm người, to ngang, chóp đầu nhọn, mái tóc nham nhở mà tôi sẽ gọi là tóc chó gặm. Anh ta vẫn ăn nói ngắc ngứ, có cái tật hay gãi khắp người như người ghẻ, dễ ngủ và ngủ ngáy. Anh ta đã thôi đọc sách, tôi đoán thế, vì giữa chừng của cuộc trò chuyện khi tôi hỏi rằng anh ta làm gì vào thời gian rảnh, anh ta đáp trả một cách mông lung. Sau khi hoàn thành chương trình chính quy trên trường đại học, Tuấn xin vào thực tập ở khách sạn hiện tại và trụ lại đó cho tới giờ. Tính chất công việc không cho phép anh ta được về thăm nhà vào dịp lễ lạt, thẳng hoặc anh về cũng chỉ vì có công chuyện cấp bách, không thể không về, như lần này chẳng hạn. Khách sạn nơi anh ta làm việc thuộc hàng cao cấp, kiểu khách sạn nghỉ dưỡng chìm lút trong rừng, được bao quanh bởi một lối đi quanh co lát đá hoa cương và khi đi bạn có thể trông thẳng xuống biển. Một khung cảnh mê ly, thi thoảng bọn nhân viên cũng rủ nhau xuống tắm, nhưng chung quy nhìn lâu thì cảnh vui cũng hoá nhàm, và tôi không bất ngờ nếu Tuấn nói rằng bây giờ cảnh sắc ấy đối với anh ta cũng chỉ giống như cái màn hình TV. Khu đó có rất nhiều rắn, rắn hổ mang, rắn cạp nong, cạp nia, và đôi khi khách khứa nằm im nhìn chúng trườn trên sàn phòng mình, như ở Úc; có cả những câu chuyện nhân viên bị ma giấu vào rừng, tát chục cái chưa tỉnh, và khi tỉnh dậy lại chẳng nhớ mô tê chi; có những chuyện trai gái, chuyện đánh ghen, chuyện mật thám được thuê tới theo dõi một ông chồng ngoại tình, gã mật thám chìa thẳng camera vào mặt ông chồng và hôm sau khách sạn ăn một đơn kiện. Nhân viên được bao ăn bao ở, có căng tin, khi rảnh thì rất rảnh và ngược lại; họ sống bốn người một phòng như thể phòng ký túc, và bắt cặp với nhau. Tuấn hẹn hò với một chị gái hơn mình bốn tuổi, khá nhỏ con, tôi nghĩ thế, tính tình cũng hồn nhiên. Quê chị ta ở Phú Yên và theo những gì nghe được, tôi đoán chừng chị chàng không muốn về làm dâu ở quê chúng tôi. Còn khách hàng của khách sạn là những người tách biệt với phần đông như thể họ sống ở một thế giới khác hay một chiều không gian khác. Họ giàu có, no đủ, làm những công việc quan trọng. Tuấn nói rằng anh không nghĩ người Việt giàu tới thế. Anh cũng kể với tôi rằng có những đoàn thương gia nước ngoài lái phi cơ riêng sang Việt Nam, và mỗi bận như vậy cả khách sạn lại rối rít chuẩn bị trước cả tuần trời. Cuối cùng họ đến, tiêu tiền thả cửa, đám nhân viên đi qua đi lại, thấp thỏm trước từng cái nhăn mặt của khách tại bàn ăn, còn sếp sòng luôn sẵn sàng hoàn trả cả tỷ đồng cho mỗi vụ rầy rà. Tiền boa đôi khi vượt quá lương cứng, và nếu là quản gia thì đây được coi là chuyện mặc nhiên. Nhưng lũ Tàu và Ấn Độ boa không hậu, đôi khi còn không boa, và tất thảy cùng chưng hửng vì sau nhiều ngày ròng rã nai lưng phục dịch (tôi xin lỗi vì đã dùng một cách diễn đạt thô thiển thế này), thậm chí chúng không nhả ra một đồng kẽm. Đám nhân viên nhìn theo chúng đầy hằn học. Khách Tây thì hào phóng hơn, dù túi tiền chưa chắc đã rủng rỉnh bằng, nhưng họ giữ một quy tắc ngầm là tiền boa ít nhất sẽ rơi vào độ 5% tổng hoá đơn. Tôi nghĩ anh bạn Tuấn của tôi khi phục vụ họ hẳn đã tính nhẩm rất nhiều.


    Ngày 4 tháng Chín năm 2025,

    Tôi quyết định đọc bằng hết Đồi gió hú, cuốn sách mà tôi từng hai lần bỏ ngang. Tôi định mua Bánh ngọt và rượu bia của Maugham ở Nhã Nam, chính bản dịch quá tồi, tự tay tôi dịch còn tốt hơn.


    Ngày 5 tháng Chín năm 2025,

    Sau khi bố mẹ qua đời, tôi được ông bà nội đón về nuôi dưỡng. Trước những lời đe nẹt của bà nội về một cuộc sống nhọc nhằn đang đón chờ tôi nếu tôi không chịu khó làm bài tập về nhà, tôi đã tin như tin tôi là con của bố mẹ tôi vậy. Như mọi đứa bé cùng tuổi, tôi được gửi tới trường làng; tôi được phong làm lớp trưởng, tôi học thuộc các bài văn mẫu, khóc khi không làm được bài; tôi mót ra quần khi tập viết chính tả; tôi thả hai tay phóng xe trên đường đi học; tôi chở chè tới biếu bà giáo để được ưu tiên. Nếu tôi là một khúc gỗ xù xì thì hẳn bà tôi là một nghệ nhân, bà ra sức đẽo gọt, tỉa tót và ngắm nhìn tôi với niềm tự hào vô biên như một nghệ sĩ ngắm nhìn kiệt tác của mình. Dù sao thì, tôi xin thú nhận, tôi đã nghe lời bà, tôi tỏ ra lanh lẹ, được việc, do đó được thầy yêu bạn mến; tôi học hành rất tấn tới, dù phần lớn chỉ toàn ăn may. Nhân vụ này, tôi có một chuyện muốn kể. Năm mười một tuổi, tôi được gửi đến trường chuyên trên thành phố nhờ đã quay cóp thành công bài làm của một cậu bạn ngồi bên. Tôi vẫn nhớ cậu ta có khuôn mặt trắng bệch như người bạch tạng, thân hình còi cọc, đeo mắt kính dày cộp và dùng bút mực tím. Cậu ta để mặc tôi thích chép bài cậu ra sao thì ra. Như thế, tôi giành được học bổng và ngang nhiên bước vào ngôi trường mới, trên thị trấn, thâm tâm không khỏi dằn vặt vì sự thật kia, nhưng tôi đủ tỉnh táo và hèn nhát để giữ điều đó cho riêng mình.

    Lần vỡ mộng đầu tiên đến với tôi ngay vào những buổi học đầu tiên tại ngôi trường mới. Bà nội đích thân đạp xe chở tôi tới nhập học. Đó là một ngôi trường cũ, với cánh cổng cao bằng thép quét sơn màu đỏ gạch, có những thanh sắt như những mũi giáo chĩa thẳng lên mái vòm uốn cong hình bán nguyệt. Trời trong xanh, nắng chan hoà, không khí dịu nhẹ, thoáng đãng; gió hây hây làm lòng ta phấn chấn, mơ mộng. Cánh cổng đồ sộ nom lạc lõng giữa cảnh náo động chung quanh, như một đứa bé lầm lì lạc giữa một đàn anh chị em rặt lũ hiếu động; người ta thường đóng cổng luôn, chỉ có cánh cửa phụ giáp phòng bảo vệ mở he hé; trong gian phòng ọp ẹp ngồi trên giường một ông bảo vệ mặc đồng phục tươm tất, râu ria, gầy gò, khuôn mặt đôn hậu, trông lúc nào cũng như đang gà gật; khi có khách, ông ta nhướn mày, nhổm về phía trước, chường bản mặt nhăn nheo như quả táo héo tới sát hàng chấn song bằng gỗ, dò xét một hồi rồi nói, giọng ề à:

    “Này, đi đâu đấy, chị kia?”

    Bà tôi có vẻ hơi hốt khi có người gọi bà bằng “chị”. Bà mỉm cười thân ái chào ông bảo vệ, đáp:

    “Bác cho tôi hỏi, lớp 6B ở đâu ấy nhỉ? Nay thằng bé nhà tôi nhập học.”

    Bà liếc sang tôi.

    “Con út đấy hả?” ông bảo vệ nhìn tôi săm soi rồi nói, trong âm giọng có vẻ gì như giễu cợt.

    “Ối chao, bác khéo đùa! Đây cháu nội. Kìa, chào bác đi chứ.”

    Tôi cúi đầu chào ông ta theo đúng phép tắc. Bà tôi gật đầu hài lòng, và sau khi trao đổi, chỉ trỏ, rồi vỗ cả vai nhau, bà bảo tôi đứng đợi một lát và một mình rảo bước về phía nhà để xe. Tôi đứng lặng, gần như choáng ngợp trước quang cảnh rộng lớn bày ra trước mắt: một dãy nhà quét vôi vàng chạy dài, những khung cửa gỗ, lớp rêu bám trên nền gạch dưới chân tôi, và đám học sinh cuối cấp cao lớn tồng ngồng đang rượt đuổi theo một trái bóng nhựa màu xanh lá cây. Tôi đảo mắt một vòng và đột nhiên cảm thấy rùng mình vì sự vắng mặt của người bà bệ vệ; tôi phóng tầm mắt và thấy chiếc áo sơ mi màu xanh lốm đốm hoa huệ của bà. Bà tôi, dáng thấp thỏm, tay cầm nón, nheo nheo mắt ngó qua hàng lan can. Một quả bóng lăn ngang chân tôi, tôi suýt nữa đã giơ chân ra đá, nhưng liền đó mấy thằng trai đã bổ nhào theo, đưa lại mùi mồ hôi chua ngòm làm tôi bất giác bịt mũi. Hôi quá!

    … Lớp tôi gồm năm mươi hai người, trong khi giới hạn cho phép của một lớp học trung bình rơi vào tầm bốn mươi em. Có bốn đứa tên Trang, ba đứa tên Tùng; năm đứa ngồi một bàn dài, và hầu như đứa nào đứa nấy cũng cận lòi mắt. Có vài cậu bé rất cao, có lẽ phải hơn tôi một đến hai cái đầu; lũ con gái thành phố cũng to lớn, chúng nhìn tôi với bộ điệu khinh khỉnh và dè chừng khi tiếp xúc với tôi. Tôi đã rất buồn khổ và thường xuyên mò về trường quê, nơi các bạn cũ của tôi đang theo học cấp hai, đóng giả làm một học sinh mới chuyển đến và vào lớp dự giảng như bình thường. Tôi có một mối tình keo sơn với một cô bé quê kệch mà theo đằng nội tôi phải gọi em ấy bằng cô. Cuộc sống của tôi ở ngôi trường mới thoạt đầu rất khốn khổ, tôi cảm thấy cô quạnh, lẻ loi, hoàn toàn không tìm được bạn tâm giao. Hơn nữa, tôi nhanh chóng ngộ ra sự ngu độn của bản thân, như một con cá trước nay chỉ vùng vẫy trong ao giờ bị quăng ra giữa biển. Dần dà tôi bắt đầu để ý tới những đứa có hoàn cảnh giống mình, ít nhất là về bộ dạng. Đám trẻ thành phố thường ăn mặc tươm tất, tính tình nếu không khó gần thì cũng kẻ cả; nhưng những đứa nhà quê như tôi thì luôn ăn bận giản dị, tính tình chân chất, nhút nhát. Tôi rất bất ngờ khi chúng bạn không lấy gì làm ngạc nhiên khi biết tôi là trẻ mồ côi; chúng nói trong lớp cũng có vài bạn như thế. Thằng Tuấn, một thằng cao lênh khênh, chân tay èo uột như loài nhuyễn thể, có giọng nói ngắc ngứ, vừa mất mẹ năm ngoái. Một buổi trưa sau khi tan học, bố nó ra đón nó ngay ở đầu ngõ và bảo rằng mẹ nó chết rồi. Nó lẩn thẩn một vòng quanh thị trấn, cả chiều hôm đó không thấy đâu, và tối nó trở về nhà ăn tối như thường lệ. Nó không khóc, điều này làm tôi sốc tận óc. Ngoài ra trong lớp còn có một bạn, khi chúng tôi nhập học chưa được ba tuần, con bé đó tên là Ngọc Anh. Tôi biết nó từ trước, nó cùng học cấp một với tôi và cũng thuộc diện học bổng giống tôi. Bố nó bị ung thư gan đã lâu, và lúc ông nội nó tới đứng trước ngưỡng cửa, nhìn quanh quất khắp phòng tìm cháu; mắt ông đỏ hoe, vẻ bối rối, nó nhìn lại ông và la toáng lên. Mọi người đều biết thế là bố nó toi rồi! Nhưng trong lớp cũng có những đứa trắng trợn nói rằng bố hoặc mẹ nó đã về chầu tiên tổ, mà nguyên do chỉ vì bố mẹ nó đã ly hôn và nó nghĩ tốt hơn là coi đấng sinh thành mà nó căm ghét chết rồi còn hơn. Rồi đến tôi, bố mẹ chết cả vì tai nạn, trong trường có vài vụ tương tự, mỗi năm một lần chúng tôi được trao một giỏ quà khích lệ, gồm dầu ăn, nước tương, cà phê, đậu phộng, nói chung là không mấy đáng kể và chúng bạn chỉ thở dài nuối tiếc khi vô tình chạm tới vấn đề trên; chúng sợ tôi sẽ buồn, dù tôi chẳng mảy may cảm thấy điều gì. Tôi không nhớ gì về bố mẹ mình, tôi chưa từng cảm nhận được sự hiện diện của họ và do đó không cảm nhận được khi thiếu vắng họ thì đời sống của tôi sẽ thay đổi ra sao. Tôi giữ tâm thế thản nhiên của một kẻ mù bẩm sinh, hoàn toàn không nhận thức được nỗi đau đớn của một kẻ từng được ông trời trao cho một đôi mắt để rồi bị chính Người tước đoạt đi.

    Có một đứa bé mồ côi trong lớp mà không ai dám bén mảng tới. Đó là Hà. Bố nó mất vì căn bệnh thế kỷ, mẹ nó thủ tiết hơn chục năm nay, nhưng trông nó hoàn toàn đủ đầy như bất cứ đứa trẻ thành phố nào. Nó không làm đỏm, nhưng ăn mặc tươm tất, gọn gàng và mấy cái búi tóc xinh xinh vấn cao trông phát mê lên được. Thành thật mà nói thì nó không đẹp, nhưng xấu thì cũng không hẳn, nếu buộc phải khen thì tôi sẽ khen nó có duyên. Mặt vuông bèn bẹt, cằm nhô, mũi tẹt, gần như không có lông mày, miệng nhỏ, môi mỏng. Nó chinh phục đám trai trong lớp bằng vẻ nhũn nhặn, gia giáo, bằng điệu cười duyên dáng cho thấy nó hoàn toàn chú tâm lắng nghe câu chuyện của bạn, nó có cái thói vỗ nhẹ vào tay người đối diện để tỏ rằng nó thích thú ra sao. Đó là một cô gái lớn trước tuổi, cả về thể chất lẫn tinh thần; ngực cao, nhọn qua lần vải mỏng của áo đồng phục, quần jean xanh bó tôn lên cặp mông nở nang, một đặc điểm gia truyền; con bé nói năng như khướu, phân định yêu ghét rất rõ rệt, ở nó toát ra một bầu nhiệt huyết khiến những người quen thân với nó cảm tưởng như họ đang nắm giữ một ưu thế so với đám thần dân kia vốn chẳng bao giờ được vị nữ thần ngó ngàng tới. Bây giờ thật kỳ lạ khi nhớ rằng tôi và đám trai trong lớp đã mê đắm con bé điệu đàng ấy ra sao, nhưng hỡi ôi, hãy đổ lỗi cho sự ngờ nghệch của lứa tuổi và đôi mắt của kẻ si tình.

    Không mất nhiều thời gian để tôi phát hiện ra mình đã yêu. Phải, tôi đã yêu! Tôi có cơ may được đánh bạn với Hà, và tôi nuôi giữ một tình cảm mến với nó mà giây phút ấy tôi tưởng chừng chỉ cái chết mới có thể định đoạt. Tôi lân la tán tỉnh cô bé, và rồi cô bé mời tôi đến nhà chơi. Mẹ cô làm việc ở quầy dược phẩm ngoài chợ và do đó vắng mặt cả ngày. Trong gian phòng chật chội sặc mùi nhà thương (mẹ cô chất đống thuốc thang trong nhà), tôi được tiếp đãi long trọng như một thịnh khách, với trà nhạt và bánh quy để trong các hộp đựng mà ở quê tôi người ta hay dùng để chất kim chỉ; biết tôi thích đọc sách, cô thân hành dẫn tôi ra hiệu sách thành phố, lượn qua lượn lại, tay chắp sau lưng, đầu gật gù như một viên giám thị, và nhướn mày, cô nói:

    “Thích cuốn nào thì chọn đi.”

    Tôi chọn một tiểu thuyết ngôn tình, loại đóng bìa cứng trắng tinh. Hà thanh toán tiền và tôi xách túi đồ lẽo đẽo theo sau. Lúc chia tay, cô tiễn tôi ra đầu ngõ, dúi cuốn sách vào tay tôi, và nhanh nhảu ấn định thời gian cho buổi gặp tới. Tôi đạp xe như bay trên đường và thấy cuộc đời sao mà ý vị, đáng sống đến thế!

    Tôi trở lại thăm Hà, và vì những rung cảm tinh thần dần chuyển thành thể xác, tôi tiếp tục trở lại.

    Ít lâu sau thì cả lớp đã biết chuyện trai gái giữa hai chúng tôi. Tôi không hiểu tại sao chúng nó phải bận tâm đến hai đứa tôi nhiều tới thế. Thoạt đầu tôi dự tính chống đỡ theo lối chủ hoà, nhưng Hà lại bạo dạn hơn tôi tưởng nhiều. Rắn như đanh, cô khẳng định chúng tôi đang quen nhau, và dù không nói ra, tôi biết cô mong ở tôi một động thái quyết đoán tương tự. Tất nhiên tôi yêu cô, nhưng tôi chỉ yêu ở chừng mực vừa phải thôi và tôi không muốn những màn tán tỉnh công nhiên nó phương hại tới uy tín của tôi trong lớp học. Tôi rất nhút nhát, là một thằng bé ốm yếu, mắt lên lẹo hai dịp trong năm, thân hình chìm lút trong chiếc áo sơ mi quá khổ, mà lũ trẻ trong lớp độc miệng bảo tôi mặc áo của bố dù chúng biết tỏng bố tôi đã chết lâu rồi. Giờ thì tôi thấy Hà sao mà kệch cỡm, thô thiển đến thế! Cô ta cứ xía vào những chuyện riêng tư của tôi, cô ta lên giọng mạt sát đám bạn dám đem hoàn cảnh côi cút của tôi ra bỡn cợt, và tôi biết lắm chứ, tôi biết vài đứa ác khẩu sẵn lòng đốp vào mặt chúng tôi là: “Mày bênh nó cũng phải thôi, vì chúng mày cùng một giuộc với nhau mà!” Tất nhiên mọi suy nghĩ này hoàn toàn do tôi tưởng tượng ra, nhưng đâu ai biết miệng lưỡi thế gian có thể cay độc thế nào. Tôi tủi hổ cùng cực và đâm thẹn vì sự quá khích của người yêu, dù tôi biết đó là hành động cao thượng chỉ có thể xuất phát từ một tình yêu, một tâm hồn và trên cả, là sự đồng cảm lớn lao.

    Vài tuần trôi qua. Tôi dần nhích ra khỏi sự bao bọc của Hà và kỳ lạ thay, đi nhập hội với những đứa vẫn luôn nhìn tôi bằng ánh mắt khinh miệt. Tôi không biết! Tôi những tưởng rằng việc đánh bạn với chúng sẽ chứng tỏ rằng tôi chai lì, tôi là một chính nhân quân tử, lòng lim dạ sắt, hoàn toàn trơ lì trước những lời xỏ xiên châm chích. Cùng lúc tôi vẫn lén lút đến chơi nhà Hà, thản nhiên lợi dụng tấm lòng quảng đại của cô và đôi bận còn gạ gẫm chút đỉnh. Cô bảo tôi rằng chúng tôi còn bé quá và nếu lớn thêm chút thì cô sẽ chẳng khước tôi điều gì. Tôi vui như mở cờ trong bụng, nhưng đồng thời kiên quyết không để những cuộc tình riêng tư này lọt ra ngoài. Tôi yêu cầu phải giữ kín mối quan hệ giữa chúng tôi, trên lớp không được tỏ ra chú ý đến tôi và ngược lại tôi cũng sẽ làm vậy. Khi tôi nói những điều này cô đơ ra một thoáng, rồi nhìn tôi bằng ánh mắt trách móc, môi mấp máy như sắp tuôn ra một tràng sỉ vả. Nhưng cuối cùng cô chỉ đáp cụt lủn:

    “Được thôi.”

    “Nhất trí thế nhé,” tôi nói.

    Tôi ngả người gối đầu lên đùi cô và giơ tay nghịch đám tóc mai lơ thơ của cô. Cô đón nhận mọi ve vuốt một cách hững hờ, mắt nhìn vô định. Trước khi ra về, lúc tôi dắt xe qua cổng và cố ý nán lại để chờ một nụ hôn, như thường lệ, thì cô lùi về sau và nói xẵng:

    “Khốn nạn!”

    Tôi nghiền ngẫm câu nói đó trên đường về và thâm tâm cảm thấy dằn vặt dữ dội. Tôi hoàn toàn không thể chối cãi điều đó.


    Ngày 6, 7 & 8 tháng Chín năm 2025,

    Điểm xem mấy ngày qua đã làm được gì nào…

    Không gì cả!

    Đọc hết Đồi gió hú, thay đổi hoàn toàn quan điểm về tiểu thuyết này, và đọc trọn Một cuộc đời của Maupassant trong chủ nhật. Bắt đầu đọc sách triết học, chuẩn bị đọc Spinoza. Hiện tại đang đọc cuốn Quyền lực của Russell (không hiểu mấy). Nhận ra bản thân ngu độn đến mức nào. Đang đọc dở Tom Jones của Fielding.


    Ngày 9 tháng Chín năm 2025,

    Tôi đếm từng ngày cho tới tháng Mười. Sáng tôi dậy sớm, nhưng phải làm những việc tôi không ưa. Tôi cảm tưởng mình đang lê lết qua những ngày dài lê thê và vô vị này. Hoàn toàn không có chút động lực nào.


    Ngày 10 tháng Chín năm 2025,

    Một ngày buồn tẻ. Thức dậy, đi làm, ngủ trưa, đi dạo giữa giờ làm, về nhà, ăn cơm bụi, tắm rửa và đọc Tom Jones.


    Ngày 25 tháng Chín năm 2025,

    Bắt đầu viết trở lại từ ba hôm nay.

    ***

    Chúng ta nghe nhiều lời than phiền rằng các nhà văn ngày nay đều đến các trường đại học, sống đàng hoàng thay vì ra ngoài tìm thông tin trực tiếp về cuộc sống. Sự thật là bất kỳ ai sống sót qua tuổi thơ đã có đủ thông tin về cuộc sống để dùng suốt đời. Nếu bạn không thể làm gì đó từ một ít trải nghiệm, có lẽ nhiều trải nghiệm cũng chẳng giúp ích hơn. Công việc của nhà văn là chiêm nghiệm trải nghiệm, không phải hòa mình vào nó.


    Ngày 27 tháng Chín năm 2025,

    Hôm nay tôi ngồi ở bàn làm việc năm tiếng trời nhưng không viết được gì ra hồn. Bằng một nỗ lực tuyệt vọng tôi cũng dứt ra được để đứng dậy, hâm lại đồ và ăn trưa. Trong lúc ăn, tôi xem Jojo Rabbit, đọc một vài truyện của Bunin (rất buồn, như mọi khi), rồi gần bốn giờ cố gắng chợp mắt tí chút. Khi trở dậy thì chân trời đằng xa đã nhuốm màu hồng cam phơn phớt, trời sáng sủa và nóng nực, nhưng chỉ lát sau gió đã ùa về. Tôi hơi lười và quyết định trong lúc đầu óc trì trệ, sẽ đọc lại truyện ngắn Tanhia của Bunin, và tôi đã đọc rất cẩn trọng. Tôi vẫn không hiểu sao ông ta có thể viết hay được đến thế.


    Ngày 28 tháng Chín năm 2025,

    Cách tôi viết

    (I. A. Bunin)

    Tôi viết thế nào nhỉ? Hồi trẻ, tôi rất đãng trí. Tôi luôn muốn viết, nhưng đồng thời cũng muốn sống, nên việc viết lách không phải lúc nào cũng diễn ra như tôi mong đợi. Hồi trẻ, tôi gần như lúc nào cũng viết quá vội vàng, bừa bãi. Ngày ấy tôi cũng vậy thôi, trong khi mọi người viết về tôi như thể tôi có một cách viết tuyệt vời trong từng câu chữ vậy.

    …Sáng tạo câu chữ! Nhưng tôi chưa bao giờ làm vậy cả. Mà “sáng tạo” là gì cơ chứ? Suy cho cùng, đối với một nhà văn, hình thức gắn bó mật thiết với nội dung và bắt nguồn từ đó.

    Sau này, công việc của tôi diễn tiến suôn sẻ hơn, bình thản hơn. Tôi đã quen làm việc trong sự yên bình – thành thử, tôi thường lui về nơi cô độc, về miền quê, hoặc như sau này tôi đã làm, là về Ý, về Capri. Nhưng tôi luôn viết một cách say mê. Tôi ngồi xuống viết, và điều đó có nghĩa là tôi sẽ nán lại rất lâu, cho đến khi hoàn toàn tự do. Và, tiện đây, tôi không bao giờ viết, và chưa bao giờ viết, vào ban đêm. Nói chung, tôi không làm việc khi tôi lo lắng…

    Cảm hứng viết đến với tôi như thế nào? Thông thường, nó đến hoàn toàn bất ngờ. Cảm hứng viết luôn xuất phát từ một cảm giác phấn khích, một xúc cảm buồn vui, thường gắn liền với một bức tranh nào đó đang bày ra trước mắt, với hình ảnh một con người cụ thể, với một tình cảm con người… Đó chính là khoảnh khắc khởi phát. Đôi khi tôi giấu kín sự khởi phát này trong lòng rất lâu, đôi khi tôi ngồi xuống viết ngay lập tức, nếu điều đó diễn ra ở làng quê, trong im lặng, trong cô đơn, trong một lối mòn công việc. Nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là, khi cầm bút lên, tôi đã biết trước mọi thứ nói chung mà mình sẽ viết. Điều này hiếm khi xảy ra. Tôi thường bắt đầu công việc của mình không chỉ khi chưa có một cốt truyện rành mạch trong đầu, mà còn chưa hiểu rõ mục đích cuối cùng của nó. Chỉ có ý nghĩa chung nhất mới hiện ra trong tôi khi tôi bắt đầu. Không phải một ý tưởng có sẵn, mà chỉ có ý nghĩa bao quát nhất của tác phẩm mới chiếm hữu tôi vào khoảnh khắc khởi sự này – có thể nói là chỉ có âm điệu của nó. Và tôi thường không biết mình sẽ kết thúc thế nào: đôi khi ta hoàn thành một tác phẩm hoàn toàn khác so với dự tính ban đầu, hoặc thậm chí khác so với khi ta đang làm việc. Nhưng, tôi xin nhắc lại, điều quan trọng nhất là âm điệu tổng thể của toàn bộ tác phẩm phải được xác định ngay từ đầu…

    Đúng vậy, câu đầu tiên rất quan trọng. Trên hết, nó quyết định nhịp điệu của tác phẩm, âm thanh tổng thể của tác phẩm. Và còn một điều nữa. Nếu bạn không thể phát âm đúng âm đầu, chắc chắn bạn sẽ bị nhầm lẫn và gạt nó sang một bên, hoặc đơn giản là vứt nó đi vì nó vô giá trị…

    …Tôi chưa bao giờ viết dưới ảnh hưởng của bất cứ tác nhân nào bên ngoài, mà luôn viết “từ bên trong”. Một điều gì đó phải thoát thai bên trong tôi, và nếu điều đó không tồn tại, tôi không thể viết. Tôi chưa bao giờ có thể, và không thể, cách điệu hóa. Tôi không thể và sẽ không viết “theo tinh thần” của bất cứ điều gì. Tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình bất kỳ nhiệm vụ bên ngoài nào trong văn chương… Khi làm thơ, tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình nhiệm vụ cố tình phá vỡ câu thơ, đưa “sự đổi mới” vào đó. Nhân tiện, tôi không phân biệt thơ với văn xuôi. Cả hai đều có cùng nhịp điệu… vấn đề chỉ là thay đổi tiết tấu của nó.

    “Từ bên ngoài” cũng không ảnh hưởng đến tôi theo cách nào khác. Tôi chưa bao giờ được truyền cảm hứng viết lách từ văn chương của người khác. Nhưng dĩ nhiên, tác phẩm hay của người khác luôn khơi dậy khát khao viết lách. Về điểm này, tôi hoàn toàn trái ngược với một nhà văn từng nói rằng khi không muốn viết, ông ta sẽ lấy Kruglov hay Zlatovratsky từ kệ sách ra. “Tệ quá, tôi muốn tự mình viết!” Tôi nhắc lại – bí mật của cảm giác ban đầu thôi thúc một nhà văn sáng tác rất khó nắm bắt. Cảm giác này đã đến với tôi trên cánh đồng, trên đường phố, trên biển, ở nhà, khi đáp lại ánh sáng này hay ánh sáng kia, hay khuôn mặt một người mà tôi gặp, đôi khi trong lúc đọc. Nhưng bằng cách nào? Chỉ một từ, thường là từ bình thường nhất, một cái tên nào đó, đã khơi dậy cảm giác mà từ đó ý chí viết lách được khơi nguồn. Và rồi, bằng cách nào đó, ta ngay lập tức nghe thấy tiếng gọi mà từ đó toàn bộ tác phẩm được sinh ra…


    Thu 2025

    Tôi nhớ hồi nhỏ tôi rất thích mùa hè, mà đúng hơn là thích nghỉ hè. Một ngày, tôi hỏi bà tôi rằng bà thích mùa gì nhất. Bà bảo bà thích nhất là mùa thu.

    “Mùa thu thì có gì mà thích kia chứ! mùa hè của mình đẹp hơn nhiều!” lúc đó tôi đã nghĩ thế…

    Tôi cũng nhớ hồi nhỏ tôi rất ghét mưa. Mưa làm gián đoạn những hoạt động ngoài trời của đám con nít, nhưng nếu cho chúng được bêu đầu ngoài mưa thì chúng lại trầm trồ: “Ồ! hoá ra mưa cũng chẳng tệ lắm!”

    Nhân tiện, tối qua suýt nữa thì tôi dính một cơn cảm mưa.

    Thi cử đã xong xuôi. Tôi chính thức trở lại.


    Ngày 29 tháng 10 năm 2025,

    Gần đây tôi vẫn viết đều. Tôi dậy sớm lắm, thường năm giờ rưỡi là tôi đã tỉnh thao láo rồi.


    Ngày 3 tháng 11 năm 2025,

    Từ hôm nay tôi làm việc tại nhà. Tôi bắt đầu suy nghĩ lại về việc viết lách của bản thân. Tôi dành cho nó quá nhiều thời gian, quá nhiều thể lực lẫn trí lực, nhưng túi tiền thì vẫn mòn vẹt, trong khi chẳng biết bản thân có tài hay không nữa.


    Ngày 21 tháng 11 năm 2025,

    Chiều nay tôi ngồi ở bàn viết trông ra cửa sổ, thấy chân trời đằng xa nhuốm màu đỏ ối của buổi chiều tà. Tôi chẳng viết gì cả, đã hơn tuần nay rồi, thêm nữa tôi không muốn viết cho lắm. Người ta cần tích luỹ bao nhiêu, nhìn ngắm bao nhiêu, dung nạp vào mình bao nhiêu để cho ra một câu văn đích thực? Vả lại còn việc đọc, gần đây tôi thấy chán đọc lắm. Sáng nay tôi nằm thừ trên giường đọc lại Lika của Bunin, có những phút đọc mà như không đọc, có những phút lại cảm nhận sâu sắc, trọn vẹn từng lời văn. Chekhov đã không nói ngoa khi cho rằng ở Bunin có những trang được viết rất tài tình, đến nỗi gây cảm tưởng rằng nếu không phải là ông ấy thì không ai viết nổi cả.

    Buổi trưa tôi bước ra hàng trà đá, mua một bắp cải, hai gói mì tôm, nhưng không trở về ngay, mà đã bị lôi cuốn bởi một con ngõ nhỏ hẹp là nơi người dân thường hay dẻo bộ sáng sáng. Trời có gió nhẹ, nắng vàng hoe, những tán cây như càng thêm xanh tốt, còn bên trên thì bầu trời xanh xanh trong vắt không một gợn mây cứ vời vợi ra mãi. Thế mới nhớ, hồi còn đi học, trong tiết giảng, tôi thường gối đầu lên tay nhìn thơ thẩn ra ngoài cửa sổ, ao ước được hoá thành một cánh chim, tự hình dung mình có một đôi cánh và mình sẽ bay đi đâu, cảm giác trên cao nhìn xuống sẽ ra sao…


    Ngày 22 tháng 11 năm 2025,

    Sáng nay tôi đi thử livestream buổi đầu ở Nhã Nam. Tầng tám. Ngồi cùng tôi là Nhi, cô này kém tôi một tuổi, có gương mặt xinh xắn, mái tóc đen dày búi gọn, nhưng lúc xoã ra thì lọn tóc loăn quăn rủ xuống ngang lưng, trông giống người đàn bà ở logo của Starbucks. Tôi ngồi đủ gần để thấy cô gái dặm phấn khá kĩ, gương mặt cô ta thon gầy, có hàng lông tơ mịn mịn, nhưng trông hơi gớm vì lớp phấn dày cộm. Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ, thực ra công việc cũng không đến nỗi nào, đơn giản và hanh thông, mong là những ngày kế theo cũng vậy…

    Hôm nay trời không mây, hanh khô, mặt rát cả ngày, đi ngoài đường cũng không vui, tựu chung là mệt. Điều an ủi duy nhất là tôi với Hương đi ăn bánh chưng rán ở quán quen nằm sâu trong ngõ chợ Trung Tự; bà chủ quán tuổi ngoài bốn mươi, người tròn lẳn, mặt bè bè. Lúc chúng tôi mới ngồi vào, bà ta nói:

    “Hai đứa này lâu lắm mới thấy đến!”

    Rồi, lát sau thì:

    “Thế bao giờ thì cưới nhau?”

    Tôi toan lờ đi câu hỏi này nhưng Hương đã huých khẽ vào tay, và tôi nói nhỏ:

    “Còn lâu!”


    Ngày 26 tháng 11 năm 2025,

    Còn hơn tháng nữa là hết năm rồi. Quanh đi ngoảnh lại đã một năm trôi qua, không mấy tiến triển, trái lại, còn có cảm giác như sa đáy.

    Sao mà tôi yêu cái khung cửa sổ phòng tôi vào buổi chiều muộn thế không biết? Hầu như tôi luôn viết những dòng nhật ký thế này vào quãng chiều tà, khi chân trời đằng xa sáng toả hôm thì một màu đỏ rực như lửa cháy, hôm thì trong trong phớt hồng. Tôi nghe tiếng tụi học sinh của ngôi trường lân cận hò reo… Vài cánh chim cứ chờn vờn mãi, nó chẳng chịu cố định chỗ nào, cứ nhảy loạn xạ từ cành này qua cành khác…

    Vì xin được một chân cộng tác với Nhã Nam, tôi có thể thoả thích mượn sách về nhà rồi đọc bao nhiêu thì đọc. Gần đây, tôi bắt đầu sờ mó đến văn học châu Á, cụ thể là Nhật Bản và Trung Quốc. Tôi đã đọc Kokoro của Soseki, thấy rất mến mộ phong cách dung dị, trầm mặc của nhà văn này (đến mặt ông ta tôi trông còn có thiện cảm nữa là!); Hương mua tặng tôi Minh Ám cho dịp sinh nhật, tôi thấy biết ơn và yêu nàng lắm lắm. Đấy, chuyện đọc sách của tôi hiện giờ như thế đấy.

    Còn việc viết thì, thật sự, chán chẳng buồn nói. Tôi đã thu gom được kha khá ý đồ cho các truyện ngắn, nhưng không màng bắt tay vào viết. Mới hôm qua thôi, tôi còn ngồi được hai tiếng để viết tầm ngàn chữ về một bà già sống gần nhà tôi dưới quê; tôi cố viết thật chậm rãi, bình thản, ý thức được mạch truyện và kiểm soát được tốc độ của mình. Không biết rồi nó sẽ ra sao… Dạo này tôi lại nổi hứng đem các bản thảo của mình đi gửi các toà soạn, tôi định bụng là nếu họ từ chối tôi phen này, tôi sẽ hạ quyết tâm dứt khoát một thể với công chuyện viết lách luôn. Trước nay tôi vẫn luôn tâm niệm mình chỉ viết vì sở thích, thế mà rồi vẫn đem bán con để lấy tiền. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ mình sắp cùng đường đến nơi rồi… Tôi sẽ kiếm lấy một ngón nghề đàng hoàng, ổn định mà chu toàn cuộc sống thôi – tôi sắp hai nhăm tuổi rồi, chẳng thể rong chơi bông lông mãi được nữa. Chính tôi đây, còn không kiên nhẫn được với tôi nữa là.


    Ngày 28 tháng 11 năm 2025,

    Sáng nay tôi mệt, chẳng muốn làm gì cả. Tôi thức dậy vào cái giờ muộn hơn lệ thường, chừng hơn bảy giờ gì đấy, rồi còn cố nằm lại trên giường lúc lâu, nghe nhạc. Gần tám giờ tôi nhấc mình dậy đi tắm, đầu óc hơi váng vất, và rồi việc tắm táp cũng không khiến tinh thần tôi khá lên, trái lại, còn làm tôi thêm bệ rạc. Tôi không muốn làm việc. Mà làm cái quái gì cơ chứ? Viết ư? Chẳng lẽ ngày nào cũng cố rặn cho ra vài thứ dớ dẩn mà viết?

    Chiều nay tôi đi livestream thay ca cho một bạn trẻ trong nhóm. Nằm trên giường, tôi nghĩ giá như mình đừng chấp nhận thì hơn; hôm nay tôi mệt, chẳng muốn làm gì cả. Riêng việc suy nghĩ thôi đã ngốn của tôi đủ sức lực rồi. Nằm trên giường, tôi hết đắp rồi vùng chăn ra, tôi thử quơ tạm một cuốn sách, đọc, nhưng những dòng chữ xoắn xuýt vào nhau làm tôi phát mệt – chẳng hiểu đang đọc cái gì nữa… Có tiếng chuông gió ngoài vườn vọng vào. Sáng nay, khi đi ăn cháo, tôi cũng đã nghe thấy tiếng chuông gió. Chiếc chuông gió với sáu thỏi chuông dài màu đồng nhẵn thín lanh canh, lanh canh, thanh gỗ thả thõng xuống như cái gầu nước, quay tít lự trong gió… Trời nắng nhưng lạnh lắm. Nếu ra đường, đừng chủ quan mà hãy mặc ấm nhé!

    Trang: 1 2


  • Những cuốn sách yêu thích

    Đọc thử

    Tất cả những lời bình dưới đây đều là quan điểm cá nhân.

    Cảnh báo: Spoil nặng.

    TIỂU THUYẾT

    1. Giáo dục tình cảm, Gustave Flaubert, Lê Hồng Sâm dịch

    Quá hay để được biết tới.

    2. Bà Bovary, Gustave Flaubert, Trọng Đức dịch.

    3. Chiến tranh và hoà bình, Leo Tolstoy

    4. Anna Karenina, Leo Tolstoy, Nhị Ca dịch.

    5. Đỏ và đen, Stendhal, Tuấn Đô dịch.

    6. Lão Goriot, Balzac

    7. Bút ký người đi săn, Turgenev

    Người giỏi viết bút ký cũng thành kiệt tác.

    8. Cha và con, Turgenev

    Tiểu thuyết được biết đến nhiều nhất và theo tôi cũng là tiểu thuyết hay nhất của Turgenev.

    9. Pierre và Jean, Guy de Maupassant

    Câu chuyện về hai anh em thù hằn nhau “do hoàn cảnh”. Pierre, người anh, vô tình phát hiện ra Jean, em trai của mình, là kết quả của mối tình vụng trộm giữa người mẹ mà anh hằng tôn kính với một quý ông đã qua đời.

    10. Chùm nho thịnh nộ, John Steinbeck

    Steinbeck là một nhà văn có lối sống không mấy đáng kính, nhưng văn của lão thì tuyệt hảo.

    11. Bay trên tổ chim cúc cu, Ken Kesey

    Một trong số hiếm những tác phẩm văn học hiện đại mà ta có thể nhai đi nhai lại.

    12. Oliver Twist, Charles Dickens

    Có lẽ trong tác phẩm này giọng văn trào phóng của Dickens đã đạt tới tầm bậc thầy.

    13. Hội chợ phù hoa, William Thackeray

    Chưa đọc hết nên tạm thời chưa bình.

    14. Đại gia Gatsby, F. Scott Fitzgerald

    Cuốn sách mỗi năm tôi đọc lại một lần.

    15. Những kỳ vọng lớn lao, Charles Dickens

    Cuốn sách dẫn lối tôi vào địa hạt văn chương kỳ vĩ của Dickens.

    16. Hai kinh thành, Charles Dickens

    Một tiểu thuyết tràn trề tham vọng của Dickens nhưng chưa đủ tính bi kịch.

    17. Bên phía nhà Swann & Dưới bóng những cô gái đương hoa, Marcel Proust

    Suốt một thời gian dài, tôi đã thường đi ngủ sớm….

    18. Hội hè miên man, Ernest Hemingway

    Hemingway nên viết ký nhiều hơn.

    19. Người Dublin, James Joyce

    Bản dịch của Thiên Lương quá tệ. Nhưng đây là một tuyển tập truyện ngắn đáng đọc, nếu không muốn nói là một trong những tập truyện ngắn được đánh giá cao nhất.

    20. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Mark Twain

    Jack London từng nói rằng viết hài kịch là khó nhất, nhưng cũng được trả công hậu hĩnh nhất. “Như Mark Twain chẳng hạn.”

    21. Tiếng gọi của hoang dã, Jack London

    Dữ dội, hoang dại và thấm nhuần tinh thần tự do.

    22. Mặt trăng và đồng xu, Somerset Maugham

    Đơn giản, khúc chiết, giọng văn gần như lạnh lùng nhưng không ngừng lôi cuốn người đọc lật trang – đơn giản vì tự thân câu chuyện đã quá hay: Strickland (dựa trên danh hoạ Paul Gauguin), một nhà buôn chứng khoán tuổi tứ tuần, có vợ đẹp con khôn, bỗng dưng bỏ tất cả đi để tới sống trong một căn buồng tồi tàn, ăn uống kham khổ, chỉ để được vẽ tranh.

    23. Chuyến tàu định mệnh, Georges Simenon

    Một chuyện tình bi kịch thời chiến tranh. Tôi nhớ mình đã buồn mất mấy ngày sau khi gấp cuốn sách lại.

    24. Truyện trinh thám của Agatha Christie

    Trước khi xuất bản mỗi cuốn sách, Agatha Christie thường đọc bản thảo cho cả nhà cùng nghe. Con cháu bà xúm vào đoán xem ai là hung thủ, và thường thì họ đoán trật lất.

    25. Tuyển tập Sherlock Holmes, Arthur Conan Doyle

    Đừng mua lẻ truyện của Holmes, hãy mua tuyển tập, thường được chia làm ba phần. Cá nhân tôi đọc bản của Huyhoangbooks.

    26. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor

    Thú thực đọc Flannery O’Connor vài truyện không hiểu lắm, nhưng vẫn thấy hay và có thể đọc lại nhiều lần.

    27. Của chuột và người, John Steinbeck

    Tiểu thuyết “truyện vừa” của Steinbeck. Tính khúc chiết và giản dị trong ngôn từ được đẩy tới mức cao nhất, nhưng vẫn thấm đượm màu sắc bi kịch và khiến độc giả thổn thức khôn nguôi.

    28. Người vô hình, H. G. Wells

    Tôi ít đọc sách giả tưởng nhưng của Wells thì tôi không dám chê cuốn nào.

    29. Những linh hồn chết, Gogol

    Nếu Những linh hồn chết được hoàn thành, vị thế tiểu thuyết gia người Nga vĩ đại nhất thế kỷ 19 của Tolstoy sẽ bị lung lay.

    30. Ông bạn đẹp, Guy de Maupassant

    31. Don Quixote, Cervantes

    Pho tiểu thuyết khiến ta khóc, cười và suy ngẫm.

    32. Tuyển tập truyện ngắn Edgar Allan Poe

    33. Một tổ quý tộc, Turgenev

    34. Lolita, Vladimir Nabokov

    Dễ bị lạc vào mê cung ngôn từ của Nabokov mà quên mất sự tha hoá nhân cách của nhân vật chính.

    35. Tiếng cười trong bóng tối, Vladimir Nabokov

    Một tiểu thuyết dài vừa phải và cũng hay vừa phải.

    36. Tội ác và hình phạt, Dostoevsky

    Bản thân tội ác không đáng sợ bằng việc che giấu tội ác.

    37. Nhật ký viết dưới hầm, Dostoevsky

    Thực ra thì đọc xong cuốn này tôi cũng không hiểu tại sao Dos có thể viết tài tình tới mức thế.

    38. Cá voi trắng, Herman Melville

    39. Frankenstein, Mary Shelley

    40. Chìm nổi giữa Paris và London, George Orwell

    41. Middlemarch, George Eliot

    42. Câu chuyện dòng sông, Herman Heese

    43. Rừng Na Uy, Haruki Murakami

    44. Mãi đừng xa tôi, Kazuo Ishiguro

    45. Châu Phi nghìn trùng, Isak Dinesen

    46. Những người khốn khổ, Victor Hugo

    47. Một cuộc đời, Guy de Maupassant

    48. Vẽ một phụ nữ, Henry James

    49. Sông Đông êm đềm, Sholokhov

    50. Phục sinh, Tolstoy

    51. Phía Đông vườn địa đàng, Steinbeck

    52. Chuyện vặt ông Pickwick, Dickens

    53. Nghệ nhân và Margarita, Mikhail Bugakov

    54. Một anh hùng thời đại, Lermontov

    55. Kiếp người, Somerset Maugham

    Tôi vừa đọc xong Kiếp người (Of Human Bondage) của Maugham – hơn một nghìn trang. Có lẽ là thử thách lớn nhất với tôi từ sau Chiến tranh và hoà bình. Vì từng đọc khá nhiều hồi ký lẫn ghi chép của Maugham, tôi không khỏi nhận thấy Maugham thường lặp lại chính mình. Ông viết cuốn tiểu thuyết bán tự truyện này vào năm 1915, ở tuổi trung niên. Và ở những tiểu luận ông viết vào những năm cuối cùng, ông lần nữa đưa ra một vài định kiến đã gắn chặt với ông trong suốt cuộc đời. Ông xem trọng tài năng ở người nghệ sĩ (không có nó họ không là gì cả), nhưng với ông cá tính mới cốt yếu hơn tất cả. Xét về mặt chuyên môn, ông không phải là người đem đến những cách tân cho văn học; ông làm điều mà mọi nhà văn phải làm – kể chuyện, và không thể chấp nhận việc một tác phẩm lại thiếu đi cốt truyện. “Nếu hoạ sĩ suy nghĩ bằng đường nét và màu sắc, thì nhà văn suy nghĩ bằng cốt truyện”. Lý lẽ khó phản bác. Ông đọc rộng, phần vì công việc, phần vì không có nhiều thứ hơn để làm; ông coi kỹ năng đọc lướt là phẩm chất quan trọng của một độc giả; nhưng tôi thực sự không hiểu nổi quan điểm của ông cho rằng việc đọc đi đọc lại một tác phẩm là vô ích. Ông đã mượn lời Philip Carey để diễn giải lập trường của mình như sau:

    – Tôi không hiểu cứ đọc đi đọc lại mãi một thứ thì ích lợi gì – Philip nói – Đây chỉ là hình thức nặng nề của bệnh lười nhác.

    – Nhưng liệu anh có nghĩa rằng trí nhớ của anh tuyệt vời đến nỗi chỉ đọc một lần đầu là anh có thể hiểu được một nhà văn uyên thâm nhất không?

    – Tôi không cần hiểu họ. Tôi không phải nhà phê bình. Tôi quan tâm đến họ vì lợi ích của tôi, chứ không phải vì lợi ích của họ.

    – Vậy thì anh đọc để làm gì?

    – Một phần để mua vui, vì đó là thói quen, nếu tôi không đọc, tôi thấy khó chịu ngay cũng như không hút thuốc lá, một phần là để hiểu được mình. Khi đọc sách, dường như tôi chỉ đọc bằng mắt, nhưng thỉnh thoảng tình cờ tôi bắt gặp một đoạn văn, có thể chỉ một câu thôi có ý nghĩa với tôi, thế là nó trở thành một bộ phận của cơ thể tôi. Thế là từ sách vở tôi đã rút ra được mọi điều có ích cho tôi, nên dù có đọc đến hàng chục lần tôi cũng chẳng thu nhận được gì hơn.

    Hiển nhiên chúng ta đọc sách như những kẻ vụ lợi; người kiếm tìm niềm vui (những niềm vui rất khác nhau!), người kiếm tìm tri thức, và dĩ nhiên họ nên làm vậy. Nhưng không có minh chứng nào cho thấy chỉ qua một lần đọc người ta có thể “rút ra được mọi điều có ích” cho bản thân, vì chúng ta há chẳng vẫn nhiều phen ngạc nhiên vì nhiều ý tưởng mới lạ hiển hiện trong một tác phẩm ở một lần đọc lại, điều mà dù cẩn trọng mức nào ta vẫn sẽ bỏ lỡ ở lần đọc trước. Tuy nhiên, đó chỉ là quan điểm của riêng tôi, tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình; tôi cũng không ở đây để bàn về cách đọc sách, do đó tôi sẽ mau chóng trở lại với chủ đề.

    Vì Kiếp người là một tiểu thuyết bán tự truyện, ta không thể không điểm qua vài nét về cuộc đời Somerset Maugham. Tôi sẽ nói vắn tắt. Maugham sinh năm 1974. Ông nội của ông là một luật gia, một người có chức tước và thành đạt; ông hành nghề tại Paris, và chính tại đây, cha mẹ Maugham đã cưới nhau và đứa con trai duy nhất của họ chào đời mang quốc tịch Pháp, biết nói tiếng Pháp trước cả tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Năm 1882, người mẹ qua đời vì bệnh lao, hai năm sau người bố nối gót, và cậu bé Maugham tám tuổi được gửi về Anh để sống với người chú ruột Henry, một linh mục. Maugham bình sinh nhút nhát và mắc chứng nói lắp, cố tật sẽ đeo đẳng ông suốt đời. Mặc dù được nuôi nấng trong bầu không khí tôn nghiêm ở nhà người chú linh mục của mình, Maugham sớm đánh mất niềm tin vào Chúa và trở thành người vô thần. Cuộc sống ở trường học không mấy êm ả với một chú bé nhút nhát, còi cọc, ăn nói ngắc ngứ, hơn nữa còn hững hờ với thể thao. Mười sáu tuổi, Maugham vui sướng được thoát khỏi King và thuyết phục thành công cô chú cho mình đến Đức. Năm ấy ông mười sáu tuổi. Trong một năm rưỡi tiếp theo, ông học văn học, triết học và tiếng Đức, có mối tình đồng tính đầu tiên với John Brooks, một học giả người Anh hơn ông mười tuổi. Chính Brooks đã nhen nhóm tham vọng trở thành nhà văn của Maugham và giới thiệu ông với các triết luận của Schopenhauer và Spinoza – những tác phẩm mà Maugham đã đọc nghiến ngấu. Cũng ở Đức mà Maugham đã viết cuốn sách đầu tiên của mình, một thiên tiểu sử về Meyerbeer, nhưng nó không được chấp nhận và sau đó ông đã tiêu huỷ bản thảo.

    Maugham trở về Anh năm 1892, như mọi thanh niên khác, đứng trước những ngã rẽ về tương lai của mình. Chứng nói lắp ngăn cản ông phụng sự trong nhà thờ hay kế tục nghề luật của gia đình. Ông được giới thiệu cho một chức vụ kế toán tại London, nơi ông chịu đựng được một vài tháng, và sau rốt tự xin từ chức để nhận về lời nhận xét là “bất tài và lười nhác”. Ông thừa nhận vế đầu đúng và vế sau sai. Cuối cùng một bác sĩ địa phương đề xuất nghề y, và chú của Maugham đã ưng thuận. Và năm 1987, ông nộp đơn vào Trường Y khoa Bệnh viện St Thomas ở Lambeth, vui sướng vì được hoà mình vào đời sống London.

    Tuy chỉ gắn bó với nghề y năm năm, trải nghiệm y khoa đối với Maugham đã không hề uổng phí. Trên thực tế, ông hối tiếc vì đã không gắn bó với nghề này lâu hơn. “Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn,” ông viết. “Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.” Maugham chưa bao giờ viết nhật ký, nhưng rất năng ghi sổ tay. Ông sống khá thoải mái trong bầu không khí gây tê của nhà thương, miệt mài viết lách trong lúc cần cù lấy bằng y khoa. Công việc yêu cầu ông phải tiếp xúc với những người bần cùng ở khu ổ chuột, những ngõ hẻm nhớp nhúa, những mảnh đời leo lắt cùng cực, và tất cả trở thành chất liệu để ông viết nên tiểu thuyết đầu tay của mình, Liza xứ Lambeth. Cuốn sách nhận về nhiều đánh giá trái chiều, nhưng Rudyard Kipling đã ca ngợi cuốn sách trên báo chí và nhiều bỉnh bút ở các tạp chí khác tung hô kỹ thuật của tác giả. Tác giả trẻ được ví với Zola về tài tả chân của mình, và cuốn sách nhanh chóng được tái bản. Maugham đủ ngây thơ để bỏ quách nghề y và quyết tâm trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Sau này ông tỏ ra hối hận vì đã từ bỏ y nghiệp sớm thế; ông yêu thích công việc và những trải nghiệm quý giá mà nó đem lại, nhưng quan trọng hơn cả, tôi nghĩ, là bởi nghề y giúp ông cáng đáng chuyện tiền nong. Dù sao thì ông cũng chỉ hai bảy tuổi, và một tiểu thuyết đầu tay thành công không hứa hẹn gì nhiều. Có lẽ ông đã may mắn. Không phải một tay chơi bạt mạng, quan điểm về tài chính của ông rất rõ ràng, dù không mấy khác lạ với phần đông. Ông có tài sản và chi tiêu tiết kiệm. Ông kiểm soát tài chính tốt, giữ mọi nhu cầu trong khuôn khổ cho phép, tin rằng đó là điều kiện tiên quyết để một nhà văn có thể yên tâm sáng tác, điều mà ta khó lòng phủ nhận.

    Giờ thì, truyện ngắn được coi là khoá học nghề hoàn hảo cho một nhà văn. Maugham đã viết một vài truyện ngắn gửi tới các tạp chí, vì không được lưu trữ nên tôi chỉ có thể đoán định, rằng chúng ít nhiều bộc lộ một sự thông minh nào đó và có lẽ là mắt quan sát sắc sảo, những phẩm chất mà Maugham tiếp tục trui rèn trong suốt sự nghiệp. Nhưng những truyện đó không được nhận, việc viết tiểu thuyết bấp bênh, ông sớm thấy mình ngấp nghé bên bờ phá sản. Ông tự nhận thấy truyện ngắn của mình không hay, và quyết định bỏ dở thể loại này, đâu đó khoảng hai thập kỷ. Ngày nay chúng ta thường ca ngợi tài viết truyện ngắn của Maugham; trên thực tế, tôi từng bắt gặp một độc giả khen ngợi Maugham là thiên tài truyện ngắn. Nó không đúng. Có lẽ chính Maugham sẽ là người trước tiên phản bác điều này: chính ông thừa nhận thoạt đầu mình viết truyện ngắn quá kém nên mới phải quay sang viết kịch. Chỉ sau khi thành đạt trong sân khấu, ông mới quay lại với thể tài này. “Tôi là nhà văn đứng đầu trong hạng nhà văn trung bình,” ông viết. Tất nhiên ông không quá khiêm nhường tới mức nói rằng mình bất tài, có lẽ ông sẽ nhận đó là tài mọn; ông có tài năng, không quá lớn nhưng đủ độc đáo, khả năng lèo lái cốt truyện của ông gợi nhớ đến Maupassant; có người gọi đùa ông là Maupassant của Anh, và lâu dần cách gọi ấy được công nhận trong lịch sử văn học. Lời văn của ông rõ ràng, chính xác, du dương – ba phẩm chất mà chính ông đặt ra theo thứ tự ưu tiên. Tuy nhiên, ông vật lộn với những phân đoạn miêu tả thiên nhiên; cảnh sắc, phong tục trong văn ông ít nhiều tiết chế (tuy không phải lúc nào cũng vậy), mà theo lời Chekhov, là “ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm”. “Tôi biết mình chẳng có năng khiếu trữ tình,” ông viết. “Tôi có vốn từ hạn hẹp và không hề nỗ lực mở rộng nó. Tôi không có tài ẩn dụ; những phép so sánh độc đáo và ấn tượng hiếm khi đến với tôi.” Là một nhà văn và một con người, Maugham có những khiếm khuyết ở mình, hoặc về tính cách hoặc về nghệ thuật, và đương nhiên tính cách của ông ảnh hưởng đến nghệ thuật của ông; nhưng ít ai dám phủ nhận tài viết đối thoại sáng rõ của Maugham, và có lẽ chính phẩm chất đặc trưng này đã dẫn lối ông đến với kịch nghệ, lĩnh vực đã giúp ông rạng danh và đưa tên tuổi ông vượt khỏi địa phận Anh Quốc.

    Trong The Summing Up, Maugham kể rằng thời trẻ ông từng đưa kịch bản của mình cho một nhà viết kịch khá thành công để xin nhận xét, và quý ông kia đã tuyên bố rằng chàng trai này rồi sẽ trở thành kịch tác gia vĩ đại nhất thế hệ của mình. Lời tiên tri đã ứng nghiệm. Công việc viết kịch giúp Maugham trang trải tốt hơn, và kể cả một vài vở kịch không đem lại nhiều tiền bạc như ông trông đợi thì nó cũng đem lại danh tiếng; ông chưa bao giờ rơi vào cảnh túng bấn, giờ đây ông càng khá giả, có phần dư dật; ông mua một ngôi nhà, sống ổn định, thường xuyên dự tiệc và được chào đón bởi giới thượng lưu. Bản tính ông vẫn nhút nhát và kín đáo, dù qua những trang hồi ký của ông, có vẻ ông có tài kể chuyện, hóm hỉnh đúng nơi đúng chỗ và quan trọng nhất, là một người có cá tính. Thiên hạ quý chuộng ông và về phần mình, ông ra sức quan sát họ, sớm biết họ sẽ nhanh chóng trở thành nguyên mẫu cho nhiều nhân vật của mình. Ông tự tin viết rằng mình có thể sáng tác một câu chuyện từ một cuộc trò chuyện một tiếng đồng hồ với bất kỳ người nào. Ông còn trẻ, sung mãn, và viết như chim hót. Năm 1935, hơn hai thập kỷ sau khi Maugham khiến Shakespeare phải ghen tỵ, ông từ bỏ nghề viết kịch. Ông nói rằng mình đã cạn ý tưởng. Nhưng ông vẫn để mắt đến nghệ thuật này và sẵn lòng bàn về nó mọi khi có thể. Ông không tự mãn về thành công của mình, cho rằng ít nhiều nó chịu ơn sự ngẫu nhiên và sự may mắn.

    Chúng ta sẽ cần lộn lại một chút vì trong khoảng thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, Maugham đã tham gia chiến trận rất sôi nổi. Năm 1914, Thế chiến I bùng nổ, quá già để nhập ngũ, ông đã phục vụ tại Pháp với tư cách là tài xế xe cứu thương tình nguyện cho Hội Chữ thập đỏ Anh. Cùng khoảng thời gian này ông hẹn hò với Syrie Wellcome, đồng thời có một mối quan hệ đồng tính với Frederick Haxton, một tiểu thuyết gia và nhà viết kịch mà sau này chỉ được nhớ tới như người tình của Maugham. Năm 1915, Of Human Bondage trình làng. Tháng Chín năm đó, Maugham được John Wallinger, một sĩ quan tình báo cấp cao, tuyển dụng vào Cục Tình báo mật. Dưới vỏ bọc một nhà văn, ông hoạt động bí mật trong vai trò liên lạc viên trung gian cho mạng lưới điệp viên tại Thuỵ Sĩ và trụ sở Cục Tình báo tại Anh. Ông không nhận lương, nhưng ông được hậu đãi và gặp gỡ nhiều nhân vật vai vế. Năm 1917, toà án xét duyệt đơn ly hôn của Syrie với người chồng trước, và Maugham lập tức kết hôn với bà. Ban đầu bà ít nhiều phụ thuộc chồng về mặt tài chính, nhưng rồi bà trở nên nổi tiếng dưới tư cách một nhà thiết kế nội thất. Bà vẫn duy trì lối sống hoang phí, và hoang đàng. Maugham biết Syrie vẫn lén lút qua lại với nhiều nhân tình, nhưng ông thờ ơ, như ông vốn thế, và ông bận rộn với những chuyến đi nước ngoài thường xuyên của mình, thêm nữa mối quan hệ bất chính với Haxton cũng dấy lên nhiều dị nghị. Đó là một cuộc hôn nhân đầy phong ba bão táp, và cặp đôi chính thức ly dị vào khoảng những năm 1927. Năm 1944, Haxton qua đời, và Maugham trở về Anh, rồi ngay năm sau tới định cư ở Pháp cho tới cuối đời, trừ những chuyến du lịch dài thường xuyên.

    “Sự bình yên cho phép tôi viết tất cả những gì tôi muốn viết mà không lãng phí thời gian quý báu hay xao nhãng tâm trí; sự bình yên và một lối sống ổn định, đàng hoàng. Tôi kiếm tìm tự do và nghĩ rằng mình có thể tìm thấy nó trong hôn nhân,” Maugham viết. “Tôi đã hình thành những ý tưởng này khi còn đang viết cuốn ‘Of Human Bondage’, và biến những mong muốn của mình thành tiểu thuyết, như các nhà văn vẫn làm, vào cuối tác phẩm, tôi đã vẽ nên một bức tranh về cuộc hôn nhân mà tôi hằng mong ước. Nhìn chung, độc giả thấy đây là phần kém thoả đáng nhất trong cuốn sách của tôi.”

    “Như các nhà văn vẫn làm”, như Tolstoy, người cũng từng tìm đến hôn nhân như một sự cứu rỗi cho những bất an tinh thần, những hoài nghi tôn giáo, coi nó là nơi nương tựa. Chất liệu cho những Kitty và Levin, Pierre và Natasha đến từ chính cuộc hôn nhẫn giữa Tolstoy với bà Sofia. Tolstoy ít nhiều đã vỡ mộng, nhưng ông không lường trước điều này, và tất cả đã được ông phô bày trong tiểu thuyết ngắn Bản Sonata Kreutzer; còn Maugham lại rất ý thức về tấn bi kịch mà ông sắp phải chịu đựng khi kết hôn với Syrie. Khi cưới nhau, Syrie mang nợ rất nhiều; “nhưng nếu không cưới cô ấy,” Maugham nói với một người bạn, “tôi sẽ hối hận cho tới lúc chết.” Syrie là người hấp dẫn, nhưng phóng đãng; Maugham biết bà từng ngủ với tất cả bạn bè của ông, và ông từng không dám thừa nhận bà là vợ mình khi một người lạ hỏi tới bà như một hạng gái làng chơi. Họ có với nhau một người con gái, được đặt tên là Mary, nhũ danh là Liza. Maugham đã vướng víu khá nhiều thủ tục pháp lý trước khi đứa con được công nhận là con hợp pháp của mình.

    Về lý do Of Human Bondage ra đời, Maugham viết trong hồi ký: “Nhiều năm trôi qua và tôi đã trở thành một nhà viết kịch nổi tiếng. Nhưng những ký ức về một quá khứ bất hạnh cứ đè nặng lên tôi, và rồi tôi cảm thấy mình chỉ có thể thoát khỏi chúng bằng cách viết chúng ra; thế là tôi nghỉ hưu và dành hai năm để viết cuốn sách mà bây giờ bạn đã biết.” Maugham đã gặp may. Of Human Bondage rất dài và không ai thèm đọc, nó không hẳn là một thất bại, nhưng cũng chẳng đáng được gọi là một thành công. Nhưng George Doran, lúc đó là một nhà xuất bản chuyên về dòng sách tiếng Anh, đã cân nhắc nó; ông này đưa cho vợ mình đọc, chủ yếu vì bà bị ốm, cần được tiêu khiển và cuốn sách lại rất dài. Thật may sao vì bà Doran thích cuốn sách, và quý ông kia chiều lòng vợ, quyết định xuất bản nó. Nó nhanh chóng nhận về những bài đánh giá rất dài, có lẽ vì không thể viết ngắn hơn, nhìn chung khá tích cực. Tuổi thọ của một cuốn tiểu thuyết ngày đó rơi vào độ ba tháng, và kết thúc chu kỳ này, Of Human Bondage khả năng cao sẽ lụi tàn và chịu chung số phận bị lãng quên như hàng ngàn tiểu thuyết khác. Nhưng rồi Maugham lại gặp may. Vì một lý do nào đó, cuốn sách đã thu hút nhiều cây bút nổi tiếng thời bấy giờ; họ bàn tán về nó trên các chuyên mục do họ đảm trách, và lần lần nó tìm được ngày càng nhiều độc giả hơn.

    Như chúng ta đều biết, bên cạnh The Moon and Sixpence, Of Human Bondage được công nhận rộng rãi là kiệt tác của Maugham. Nhiều độc giả đương thời coi nó là một cuốn tự truyện, nhưng Maugham phản bác, “Mặc dù nhiều nội dung trong đó mang tính tự truyện, nhưng phần lớn là do tôi sáng tác.” Quả vậy, ông đã hoà quyện sự thật và tưởng tượng vào cuốn tiểu thuyết đến mức nhiều năm sau này nhìn lại, ông không phân định nổi đâu là hư đâu là thực. Ông đã viết cuốn sách bằng cách tận dụng “món quà sáng tạo mà tôi được ban cho”. Nó từng được đưa vào chương trình phổ cập tại các cơ sở giáo dục, các tạp chí ca ngợi nó, còn Ernest Hemingway xem nó là một trong những tiểu thuyết phải đọc trong đời.

    Nhân vật chính của Of Human Bondage, Philip Carey, là hiện thân văn học của chính Maugham. Philip mắc tật khoèo chân, côi cút từ khi còn nhỏ, được gửi đến sống với ông chú William làm mục sư tại Blackstable, một thị trấn ở Kent. Sau một thời gian bị cầm tù ở trường nội trú, Philip đến học ở Heidelberg, thử sức với hội hoạ một thời gian ở Paris, rồi trở về Anh. Anh ta gặp Midred, một cô hầu bàn lẳng lơ, và cuộc hành hương dài dặc của anh ta thực sự bắt đầu. Mildred khinh miệt Philip, cô phản bội anh luôn, đi chơi với những người bạn khác của anh, coi thường cảm xúc của anh. Mối tình của họ là một ải đoạ đày, sớm nắng chiều mưa; Mildred có mang với một người đàn ông khác, ngoại tình với người bạn thân của Philip, nhưng Philip vẫn chìm đắm trong tình yêu. Philip nguyền rủa tính nhu nhược ở mình và nguyền rủa cả tình yêu của anh ta với Mildred; và, tôi không rõ lắm, anh ta dường như có khuynh hướng khổ dâm (tôi không chắc lắm về thuật ngữ này). Một mặt, anh ta đau đớn vì bị khinh thường, hổ thẹn vì tật nguyền của mình, nhưng anh ta thích sắm vai một quý ông cao thượng, người sẵn lòng chi trả tiền du lịch cho chính cặp gian phu dâm phụ đã phản bội anh ta. Tôi biết có những người thích nhấm nháp đau đớn, thích bị làm nhục, và Philip gây ở tôi cảm tưởng như vậy. Điều này có thể khiến nhiều độc giả khó chịu. Philip có thể vừa nhỏ nhen vừa hào phóng, vừa ích kỷ vừa rộng lượng, vừa khao khát hạnh phúc vừa đâm ra chán chường ngay khi ước vọng của mình thành hiện thực. Mặc dù xuyên suốt tiểu thuyết là hành trình kiếm tìm hạnh phúc của Philip, nhưng anh ta hoàn toàn không bộc lộ một ý chí đủ mãnh liệt, anh ta thụ động, nhu nhược, bất lực. Anh ta yêu một con điếm, không được nó yêu lại, và thâm tâm thèm khát ả ta dữ dội cùng lúc khinh bỉ bản thân vì đã yêu ả. Anh ta bỏ lỡ nhiều cơ hội, cho đến nửa già tiểu thuyết, anh ta mắc những sai lầm liên tiếp và gần như không học được cách rút kinh nghiệm. Nhưng bất chấp tất thảy những khuyết điểm trên, anh ta hiện lên sống động tới từng chân tơ kẽ tóc. Bức chân dung về Philip Carey là một bức chân dung mà thanh thiếu niên, thông thường, sẽ đồng cảm hơn cả. Tiểu thuyết giống như lịch sử tâm hồn của anh ta, và vô số tình tiết, ấn tượng, trải nghiệm được rút ra từ chính cuộc đời của tác giả. Có lẽ kể từ sau David Copperfield, chưa có một nhà văn người Anh nào khai thác cuộc đời mình một cách sinh động và triệt để đến vậy.

    Tại Việt Nam, Of Human Bondage lần đầu được chuyển ngữ bởi nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê. Đó là một bản dịch không đầy đủ, vì dịch giả đã lược bỏ những đoạn tả phong tục và đời sống bên Anh để tác phẩm bớt rườm rà mà thêm phần hấp dẫn. Đến năm 2000, chúng ta có bản dịch đầy đủ của dịch giả Hoàng Tuý và Nguyễn Xuân Phương. Tôi xin trích dẫn những dòng sau từ cuốn Đời viết văn của Nguyễn Hiến Lê:

    “Không có một tác phẩm nào tả được nhiều nỗi đau khổ của kiếp người như thế: đau khổ của một đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở nhờ nhà ông bác, xa chị vú thân yêu; đau khổ của một kẻ tàn tật, hồi đi học thì bị bạn giễu, lớn lên bị thiên hạ khinh; cảnh khổ ở nội trú, nỗi chua chát khi mất lòng tin Chúa, nỗi chán chường khi phải học một nghề mình không ưa; sau khi tranh đấu với ông bác để được phép học nghề mình thích thì lại thất vọng nhận ra rằng mình không có khiếu về nghề đó; đau khổ tủi nhục nhất là yêu một con điếm mà nó không yêu lại, bị nó phản với bạn thân của mình, vậy mà vẫn không quên nó được; rồi cảnh đầu cơ nhẵn túi phải lang thang ở ngoài đường, uống nước máy, ngủ công viên, nhịn đói ba bốn ngày, phải bỏ học, nhận một chân chỉ dẫn khách hàng trong một tiệm buôn; sau cùng chỉ muốn có cái mộng đi du lịch thế giới mà đành phải bỏ, chịu sống cuộc đời vô vọng của một y sĩ trong một vùng quê nghèo.”

    Đó là sườn truyện của Kiếp người. Tôi thấy không có gì phải bàn cãi ở đây, ngoại trừ đoạn kết của tác phẩm. Dụng ý của Maugham, theo tôi hiểu, khi để Philip không thực hiện được ước mơ du lịch thế giới hoàn toàn mang tính lạc quan. Anh ta tưởng mình đã làm Sally có thai và tính đến chuyện cầu hôn cô nàng. Anh ta sẵn lòng từ bỏ giấc mơ du lịch thế giới, anh ta thấp thỏm, dù không phải không ngậm ngùi, vì sau rốt cũng nương náu nhờ ở hôn nhân. Kết thúc này không nhuốm sắc thái uỷ mị, đau đớn như các nỗi gian truân khác của Philip. Đến cuối thiên tiểu thuyết, anh ta đã hoàn toàn chấp nhận cái số kiếp của mình. Anh ta có được tự do, nhưng là một tự do hạn chế: thoải mái đi lại trong mảnh vườn của mình. Kết cục này gợi nhắc tôi đến Candide của Voltaire. Dù sao thì, Philip đã giác ngộ sự vô nghĩa của kiếp người, cùng lúc kết luận rằng “mô hình đơn giản nhất – mô hình mà một người đàn ông sinh ra, làm việc, kết hôn, sinh con và chết đi – cũng chính là mô hình hoàn hảo nhất.” Philip đã dành cả tuổi trẻ để đeo đuổi hạnh phúc mà không hay biết rằng hạnh phúc chỉ đến khi ta không cố đeo đuổi nó, và, hơn nữa, hạnh phúc không phải là sự an lạc, vinh hiển, thịnh vượng, hay kể cả là bình yên trong tâm khảm, là ước vọng thành sự thực, là khoái lạc hay niềm vui – tất cả những điều trên góp phần tạo nên hạnh phúc, nhưng bản thân chúng không phải là hạnh phúc. Chung cục, Philip ngừng theo đuổi nó và quyết định bằng lòng với số phận của mình. Đó chẳng phải một kết cục hẩm hiu, thậm chí có vẻ khai sáng, nhưng như chính Maugham từng thú nhận, nó không làm độc giả hài lòng.

    56. Các hung thần lên cơn khát, Anatole France, Trần Mai Châu dịch

    57. Phu nhân Macbeth ở Mtsensk, Nikolai Leskov

    Trước hết, xin thú thực với mọi người tôi chưa đọc Macbeth của Shakespeare.

    Còn về truyện vừa này của Leskov, nó kể về một thiếu phụ trẻ tên Katerina, người được gả cho Zinovy, một thương gia, điền chủ giàu có. Chồng già vợ trẻ sống cùng bố chồng tên Boris trong điền trang; cuộc sống tẻ vắng nơi đây nhanh chóng làm cô gái trẻ héo hon dần. Tình cảnh càng trở nên tù túng hơn khi Katerina mãi không sinh được con, điều mà, người vợ trước đó từng chung sống hơn hai mươi năm với Zinovy, cũng không làm nổi.

    Thế rồi Zinovy có việc công cán xa nhà; Katerina bắt đầu ngả ngớn với Sergei, thằng làm công mới đến. Họ thản nhiên chim chuột ngay trong buồng ngủ của Katerina; một ngày nọ, ông già Boris phát giác chuyện tằng tịu giữa đôi gian phu dâm phụ, ông ta phạt roi Sergei và nhốt y trong hầm. Katerina bỗng trở nên xốc nổi, yêu cầu bố chồng thả nhân tình của mình ra, và, sau cùng, đã hạ độc ông già bằng một liều thuốc chuột.

    Cặp tình nhân tiếp tục hạ sát Zinovy khi ông này trở về, rồi chôn ông ta ngay trong chính căn hầm mà mình từng bị giam giữ. Sau đó, Katerina và Sergei ngang nhiên cai quản điền trang, chờ đợi món tiền thừa kế vì lúc này Katerina đã mang chửa. Mọi chuyện đều êm thấm cả, nếu không vì Fyodor, người cháu ruột của Zinovy, tìm đến. Tài sản thừa kế buộc phải phân chia; Katerina tỏ ra thờ ơ trước điều này, nhưng trước những xúi giục của Sergei, ý tưởng hạ sát cậu cháu trai kia dần trở nên sống động trong tâm trí cô. Nhân một lần người bà của Fyodor bận đi nhà thờ, Katerina và Sergei đã bóp cổ cậu bé tới chết, nhưng cùng lúc ấy, tội ác đã được phát giác bởi một tốp người tình cờ đi ngang.

    Sergei thú nhận tội ác và khai cả nơi giấu xác Zinovy; Katerina tỏ ra thờ ơ, cho rằng tất cả mọi việc cô làm đều bởi Sergei. Cô nói không sai, tất cả mọi hành vi sai trái của cô xuyên suốt thiên bi kịch này, đều xuất phát từ tình yêu mù quáng với Sergei.

    Toà đày cả hai người đi Siberia.

    Trong khi Sergei tỏ ra chán ngán, thậm chí khinh bỉ Katerina, liên tục đặt điều và khích bác người tình cũ; thì Katerina vẫn một lòng một dạ yêu mến gã. Trong đoàn người khổ sai, có hai người đàn bà phóng đãng tên Fiona và Sonya. Sergei, với bản tính trai lơ, nhanh chóng chinh phục cả hai cô nàng này. Katerina ghen lồng ghen lộn, nhưng cô vẫn không thể ngừng yêu gã đốn mạt kia. Lần duy nhất Sergei gọi cô đến, họ đã ân ái và sau khi Sergei than phiền về bàn chân lạnh cóng, Katerina đã không ngần ngại mà dúi cho gã đôi bít tất mới tinh, duy nhất của mình. Ngay sau khi cô rời đi, Sonya lỉnh tới.

    Sáng hôm sau đoàn khổ sai tiếp tục đi. Họ lên thuyền qua sông Volga. Katerina tức trợn tròng mắt khi thấy đôi bít tất kia đang trùm lên bàn chân của Sonya. Cay đắng vì bị phụ bạc, nhục nhã vì bị lợi dụng, cùng lúc Sergei ngang nhiên thuật lại những tội ác của họ lúc còn ở điền trang, Katerina bị nhấn chìm bởi niềm uất hận và túm chân Sonya kéo xuống nước. Người ta hoảng hốt quăng móc, Sonya nổi lên; “nhưng cũng lúc ấy từ một ngọn sóng khác, Katerina dướn cả nửa người lên khỏi mặt nước, lao về phía Sonya như con cá mập lao đến con cá mương bé nhỏ. Thế là cả hai chìm lỉm hoàn toàn.”

    Sau khi đọc câu chuyện này, câu hỏi duy nhất đọng lại trong tôi là: Tại sao Leskov không để Sergei chết, mà lại là Sonya, dù so về độ đáng chết thì họ cũng một chín một mười. Sonya tỏ ra trâng tráo và thoả mãn khi đay nghiến vết thương lòng của Katerina – nhưng cô nàng không đáng phải chết. Tôi đã nghĩ rất lung, và kết luận rằng khi để Katerina giết Sonya thay vì Sergei, đơn thuần là một xảo thuật của người viết truyện, theo đó, với cái kết này, có hai điều được đảm bảo:

    1. Tính khả dĩ của hoàn cảnh: Katerina khó có thể mưu sát Sergei, vì suy cho cùng cô vẫn chỉ là phái nữ. Hoặc có thể khoảng cách chỗ ngồi giữa họ không thuận lợi. Và mặc dù cô căm phẫn Sergei, phải thừa nhận cô vẫn yêu gã, do đó, nếu giết gã, thiên bi kịch này sẽ mất tính bi kịch đi khá nhiều.
    2. Tính thống nhất của tính cách nhân vật: Tình yêu mê muội, cực đoan của Katerina là xung lực chính thúc đẩy cốt truyện. Các tội ác lần lượt thảo ra, từ việc hạ sát bố chồng, chồng và người cháu trai, giống như những nấc thang đo đếm sự sa đoạ của Katerina vào vũng lầy tình yêu với Sergei. Hiển nhiên Katerina đã yêu đến mất trí; một thứ tình yêu cuồng si, đại loại vậy, nhưng dứt khoát cô không phải kẻ điên tình, vì nếu thế hẳn cô đã giết quách gã tình nhân. Việc cô giết Sonya chứng tỏ cô vẫn yêu Sergei, và bảo đảm rằng tình yêu của cô với gã, cái xung lực như tôi đã nhắc đến, vẫn duy trì và được bảo toàn từ đầu tới cuối truyện. Khi đặt ra một cái kết như vậy, cái xung lực kia, giống như một chiếc thuyền, đã không bất ngờ bẻ lái vào phút chót mà cứ theo một đường thẳng băng, lao xuống thác nước, chìm nghỉm như chính Katerina và Sonya.

    58. Người hành hương mê đắm, Nikolai Leskov

    Người hành hương mê đắm (nguyên bản: Очарованный странник) xuất hiện lần đầu trên tạp chí Russkiy Mir năm 1873, là một tiểu thuyết vừa phải bao gồm 20 chương, không có cốt truyện mạch lạc. Cấu trúc của truyện khá đơn giản: chương đầu tiên dùng để vào đề, còn các chương sau thuật lại cuộc đời của nhân vật chính – Ivan Flyagin – một tu sĩ đang trên đường hành hương. Logic của câu chuyện được xác định không theo trình tự thời gian của các sự kiện, mà bởi ký ức rời rạc của Ivan (“những gì tôi nhớ, mà, nếu các bạn muốn, tôi sẵn lòng kể”).

    Cuốn sách tạo cảm giác như ta đang đọc một nhật ký hành trình, trong đó toàn bộ cuộc đời của Ivan trải dài theo từng chương. Ivan, một người đã được “gán cho Chúa” bởi mẹ mình nhưng một mực từ chối gia nhập tu viện khi còn trẻ, trải qua một cuộc đời long đong, chìm nổi, một bể trầm luân, mà ông tự coi là “hình phạt” của mình tới mức cầu Chúa ban cho mình một linh hồn khác. Cuối cùng Ivan cũng trở thành một thầy dòng, tuy thế, số mệnh của ông vẫn là một dấu hỏi đối với độc giả.

    Tôi đánh giá cao cuốn sách này ở lối kể chuyện mê đắm y chính tựa đề của nó. Ngoài ra, kỹ thuật đối thoại trong truyện, dẫu cảm tưởng như được viết cẩu thả, lại vô cùng đơn giản, dễ đọc. Từng câu chữ như xếp gọn vào trong trí óc, đúng như những gì Chekhov từng nói về tiêu chí của một câu chuyện hay.

    Ban đầu, tôi những tưởng một cuốn sách với chủ đề “hành hương” ắt hẳn đáng ngán và tẻ nhạt lắm, nhưng không hề: có thể gọi cuộc đời ba chìm bảy nổi của Ivan như một chuyến phiêu lưu. Ông lang bạt cùng đám du mục Tatar ăn thịt ngựa, mười năm trời đằng đẵng chôn mình trên thảo nguyên, phải đi bằng gót chân vì gan bàn chân đã bị rạch rồi đem gắn bờm ngựa vào. Sau đó, nhờ mưu mẹo và phần lớn bởi may mắn, ông tìm được cách hồi hương, làm người coi ngựa cho một viên sĩ quan hoàng thân. Vị hoàng thân cho ông là người không khôn ngoan, nhưng thật thà, tốt bụng; trong một lần “bỏ đi chơi”, ông bị thôi miên và tiêu một lèo hết năm ngàn rúp của chủ cho một cô gái Digan tên là Grusha. Trở về dinh cơ, không những Ivan không bị quở phạt mà còn được biết vị hoàng thân đã mua đứt cô nàng Grusha kia với cái giá năm mươi vạn rúp – số tiền lớn hơn nhiều gia sản của ông ta. Ông ta sớm trở nên chán ngán cô nàng và vì sa cơ lỡ vận, bắt đầu tính kế “lấy vợ giàu”. Grusha bị ông ta đem nhốt và giao cho ba người đàn bà lực lưỡng canh gác. Sau đó, cô bỏ thoát được và gặp lại Ivan, lúc này đang rối bời vì người tình, ở bờ sông. Tại đây, Grusha thúc ép Ivan lập một lời thề và yêu cầu dùng dao đâm chết cô – điều mà anh đã không làm, mà đẩy cô xuống dòng nước, thay vào đó.

    Ivan sau đó tòng ngũ thế chân cho một thanh niên trẻ. Một lần đại đội của ông cần vượt sông để tóm lũ Tatar, ông xung phong với một mong muốn tối thượng là được chết. Ông đã không chết, trớ trêu thay, trái lại, còn được phong hàm Sĩ quan; sau khi giải ngũ, nhận một lá thư giới thiệu hứa hẹn một chức nghiệp ổn định trong ngạch quan lại. Bàn giấy nhanh chóng làm ông chán ngán, và ông gia nhập tu viện. Nhưng ngay cả ở đó, hành trình cuộc đời của ông có lẽ vẫn chưa an bài; ông tin chắc một cuộc chiến tranh lớn sắp xảy ra và ông sẽ phải “chết vì nhân dân” trong cuộc chiến đó.

    59. Hadji Murad, Leo Tolstoy

    60. Người nhạc sĩ mù, Korolenko

    61. Người thợ dệt ở Raveloe (Silas Marner), George Eliot

    Tôi từng đọc sơ qua cốt truyện của Silas Marner của Eliot trên Wiki, qua lời bình của Walter Besant rằng đó là “cuốn tiểu thuyết Anh hay nhất từng được viết ra”. Giờ đây tôi vừa đọc xong bản dịch của cuốn tiểu thuyết ấy, tựa Việt là Người thợ dệt ở Raveloe, và tôi ngờ rằng Besant đã hơi quá lời khi tâng bốc người bạn văn đồng hương của mình.

    Tôi nghĩ cuốn sách khá khó đọc với nhiều người, có lẽ chủ yếu bởi những phân tích tâm lý tỉ mỉ của Eliot. Nửa đầu cuốn sách khá chậm, nhưng tiết chế ở những đoạn miêu tả cảnh sắc, phong tục. Bạn đọc gần như được thông báo về mọi thứ cần biết. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Silas Marner, một người thợ dệt sống ở Lantern, sau khi bị vu khống trắng trợn trong một vụ mất trộm đã phải rời bỏ quê hương trong nhục nhã. Anh ta dọn đến Raveloe, bối cảnh chính của câu chuyện, và tiếp tục làm nghề quay sợi. Tuổi trẻ của anh trôi qua mòn mỏi, vô vị, và bộ dạng của anh ta phản ánh tình trạng tinh thần của anh ta: bệ rạc, u uất, tự cô lập. Dân làng dè chừng anh ta và ngày lại ngày, anh ta miệt mài kéo sợi, như con nhện giăng tơ, âm thầm tích cóp “những đồng vàng” của mình. Eliot hé lộ rằng anh ta là kẻ keo kiệt, chi li, và rằng thú vui duy nhất đối với anh chàng này là mỗi tối được ngồi “kiểm kê” tài sản đang ngày càng gia tăng của mình. Anh ta sống như vậy suốt mười lăm năm.

    Cho tới nửa đầu cuốn sách, Silas Marner gần như độc chiếm một tuyến truyện riêng biệt. Một bên là Silas cùng cái khung dệt của ông ta, một bên là dân làng Raveloe với những mối quan tâm thôn điền của họ. Nút giao đầu tiên xảy ra khi Dunstan, đứa con thứ mạt hạng của một Địa chủ trong vùng, sau khi để chết con ngựa yêu quý của người anh trai Godfrey, đã lẻn vào ăn cắp tiền của người thợ dệt. Gã trộm sau đó biệt tăm. Cố nhiên Marner rất đau khổ; cho đến một đêm giao thừa, giữa cảnh tuyết rơi mịt mùng, ông ta bỗng tìm lại được đống vàng của mình, nhưng dưới một hình hài khác: một bé gái hai tuổi, tóc vàng hoe. Mẹ đứa bé, người vợ vô thừa nhận của Godfrey và cũng là nỗi đoạ đày của anh ta bấy lâu, đã chết vùi trong tuyết. Marner tin chắc đứa bé là món quà “đền bù” của Thượng đế và nhận nó về nuôi.

    Và hãy dõi xem sự biến chuyển của Silas qua ngòi bút của Eliot:

    “Trong lòng ông hỗn độn với hàng loạt suy nghĩ và cảm xúc, đến mức nếu cố thốt lên thành lời, có lẽ ông chỉ có thể nói rằng đứa trẻ này đến thay cho số vàng đã mất – rằng số vàng đó đã hoá thân thành đứa bé.”

    “Không giống như số vàng kia của ông – thứ chẳng cần gì cả và chỉ có thể thờ phụng trong nỗi cô đơn khép kín, bị giấu biệt khỏi ánh sáng ban ngày, điếc với tiếng chim hót nhưng giật mình trước những âm thanh lạ thường – Eppie là một sinh linh với nhu cầu bất tận và khát khao không ngừng tăng lên. Cô bé luôn tìm kiếm và yêu thích ánh sáng mặt trời, những âm thanh sống động và chuyển động của sự sống; thử nghiệm mọi thứ với niềm tin vào niềm vui mới mẻ, và khơi dậy lòng tử tế trong ánh mắt của bất cứ ai nhìn vào nó. Số vàng ấy trói buộc suy nghĩ của ông theo một vòng lặp bất tận chẳng đi đến đâu ngoài chính nó, nhưng Eppie là hiện thân của những thay đổi và hy vọng, thúc đẩy tâm trí ông tiến về phía trước, rời xa con đường cũ chỉ miệt mài dẫn đến một giới hạn trống rỗng như nhau. Tâm trí ông hướng đến những điều mới mẻ của những năm tháng sắp tới, khi Eppie đủ lớn để hiểu rằng bố Silas đã chăm sóc nó như thế nào. Ông cũng kiếm tìm những hình ảnh tương lai ấy trong mối liên kết và tình cảm gắn bó giữa hàng xóm với nhau. Vàng buộc ông ngồi dệt ngày càng lâu, khiến ông ngày càng điếc lác và mù mờ với mọi thứ ngoài tiếng lạch cạch của khung dệt và tấm vải dệt đơn điệu. Còn Eppie kéo ông rời khỏi khung dệt, khiến ông coi mỗi lần tạm dừng như một ngày lễ, đánh thức mọi giác quan của ông bằng sức sống mới mẻ của con bé – đến cả những con ruồi già sống qua mùa đông cũng bò ra dưới ánh nắng đầu xuân – và sưởi ấm lòng ông thành niềm vui rộng ràng chỉ vì con bé thấy hạnh phúc.”

    Tiền bạc, trong trường hợp của Silas, khiến con người ta hèn mọn, ti tiện, quẩn quanh, sống mòn sống mỏi. Đó là một sự cứu rỗi, một ân điển của Thượng đế khi Người đặt Eppie vào tay Silas, một người thợ dệt độc thân, người chưa từng có lấy bất cứ một hy vọng nào trong đời ngoài số tiền đã mất. “Những giờ đây,” Eliot viết, “một điều gì đó đã thay thế kho báu cũ, mang đến mục đích ngày một rõ ràng hơn cho việc kiếm tiền – nó thúc đẩy hy vọng và niềm vui của ông liên tục vươn về phía trước, vượt xa khỏi bản thân đồng tiền.” Hẳn bạn đọc nào cũng tìm thấy trong những lời này một quan điểm đáng giá về tiền bạc. Nếu trước đây tiền bạc đối với Silas là mối quan tâm độc hữu, là mục đích tối thượng, là tâm điểm của cuộc đời, thì sau khi có Eppie, tiền bạc chỉ là phương tiện để qua đó người ta sống cho hạnh phúc hơn.

    Cuốn sách nhảy cóc mười sáu năm, tới thời kỳ mà Eppie đã ra dáng thiếu nữ, còn Silas thì trở thành một lão thợ dệt già năm mươi lăm tuổi. Không còn gì nhiều để nói. Mọi chuyện kết thúc tốt đẹp đúng như tiêu chí của các tiểu thuyết thời Victoria mà ta thường bắt gặp ở Dickens. Một cái chết và một đám cưới là đủ cho phần hồi kết viên mãn, và trong trường hợp của câu chuyện này, chúng ta có hẳn hai đám cưới.

    Nếu có thể tán chuyện ngoài lề đôi chút, tôi xin bình phẩm rằng hình ảnh của Silas trên bìa sách làm tôi liên tưởng đến lão Goriot của Balzac. Chung cục, Người thợ dệt ở Raveloe là một cuốn sách đáng đọc, được cấu trúc chặt chẽ, hóm hỉnh một cách duyên dáng. Tôi chưa đọc Eliot trong nguyên bản, nhưng với bản dịch này của Phúc Minh, cảm tưởng của tôi về Eliot là bà có giọng điệu rất khoan thai, từ tốn, và hơi thở của tôn giáo luôn phảng phất qua các trang văn, hé lộ một mối quan tâm mạnh mẽ tới chủ đề này của tác giả. Điều này khiến tôi đôi chập phải khựng lại vì ngỡ đang đọc văn của Tolstoy (Tolstoy quả thực có thích văn của Eliot). Ngoại trừ điều đó ra, cuốn sách đem đến một trải nghiệm rất thú vị và thư giãn, đặc biệt sau một thời gian dài nhấm nháp đủ loại tiểu thuyết bi kịch trên đời.

    62. Chuyện ma ám ở trang viên Bly (The Turn of the Screw), Henry James

    63. Bánh ngọt và rượu bia, Somerset Maugham

    64. Đồi gió hú, Emily Bronte, Dương Tường dịch

    65. Kiêu hãnh và định kiến, Jane Austen, Diệp Minh Tâm dịch

    66. Núi thần, Thomas Mann

    67. Faust, Goethe

    68. Trăm năm cô đơn, Gabriel García Márquez

    69. Bài ca Solomon, Toni Morrison

    70. Minh Ám, Natsume Soseki

    71. Nỗi lòng, Natsume Soseki

    72. Botchan, Natsume Soseki

    73. Chữ A màu đỏ, Nathaniel Hawthorne

    74. Narcisse và Goldmund, Hermann Hesse


    TRUYỆN NGẮN

    1. Người đàn bà có con chó nhỏ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    2. Câu chuyện của một hoạ sĩ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    3. Người trong bao, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    4. Một chuyện tình yêu, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    5. Khóm phúc bồn tử, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    6. Nàng Lika, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    7. Ruxia, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    8. Natali, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    9. Cuộc đời tươi đẹp, Ivan Bunin

    Đừng để tựa đề đánh lừa. Đây là một câu chuyện cho thấy cuộc đời của con người có thể trở nên bẩn thỉu và đáng tởm đến mức nào. Câu chuyện kể về “hành trình tiến thân” của một người phụ nữ, để ngoi được lên khỏi phận con ở, đã không từ một thủ đoạn gì, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, nhân phẩm, cốt cách của con người, chỉ vì TIỀN.

    10. Bố của Simon, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    11. Boitelle, Maupassant

    Boitelle là một gã làm nghề hót phân. Lão có mười bốn người con cả thảy. Khi người ta hỏi tại sao lão phải đi làm cái nghề bẩn thỉu này, thì lão đổ tất cả là do ông bà thân sinh lão đã không tác thành mối tình giữa lão và cô gái da đen năm xưa. Dĩ nhiên là lão yêu vợ mình thật, nhưng nhất quyết không thể bằng cô gái da đen kia. “Cô gái da đen của tôi ấy, cổ chỉ cần nhìn một cái là tâm hồn tôi lên mây.”

    12. Clochettle, Maupassant

    13. Viên mỡ bò, Maupassant

    14. Đi ngựa, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    15. Cái thùng con, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    Maupassant thường lấy tên một đồ vật mang tính then chốt trong truyện ngắn để đặt tựa đề. Chiếc thùng con trong truyện này là thùng rượu, qua đó ông đồng thời lột tả sự tha hoá của hai con người: tên lái buôn quỷ quyệt nhăm nhe miếng đất của bà già, nhưng bà ta nhất mực không bán. Gã bèn lập văn tự đóng thuế hộ bà lão từ giờ cho tới lúc bà lão qua đời để đổi lại quyền sở hữu sau khi bà lão đi chầu. Nhưng bà lão sống dai quá, hắn cay cú. Cuối cùng, hắn mời bà lão về nhà mình một hôm, chiêu đãi bà già nhà quê những vo rượu và bà này mê mệt. Dần dần, bà ta đâm nghiện rượu, vài năm sau thì mất.

    16. Chiếc dây chuyền, Maupassant

    17. Vật tư trang, Maupassant

    18. Cái chết của Ivan Ilyich, Leo Tolstoy

    19. Đức cha Serghi, Leo Tolstoy

    20. Xổ số, Shirley Jackson

    21. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor

    22. Ả Rập, James Joyce

    23. Số phận con người, M. Sholokhov

    24. Chiếc tủ, V. Pyetsukh

    25. Con bọ vàng, Edgar Allan Poe

    26. Con mèo đen, Edgar Allan Poe

    27. Khóm hoa tử đinh hương, A. Kuprin

    28. Tuyết, K. Paustovsky

    29. Một con người ra đời, M. Gorky

    30. Phát bắn, Puskin

    31. Mùa xuân, Anton Chekhov, Đào Tuấn Ảnh dịch

    32. Nhà thờ, Raymond Carver

    33. Trụ cột của gia đình, Frank O’Connor

    34. Ban thờ người chết, Henry James

    35. Chúng tôi nói gì khi nói chuyện tình, Raymond Carver

    36. Chuyện kỳ lạ về Benjamin Button, F. Scott Fitzgerald

    37. Nỗi buồn, Anton Chekhov

    38. Ngôi nhà của Matryona, A. Solzhenitsyn

    39. Mặt trời, ông già và cô gái, V. Shukshin

    40. Hoa nở muộn, Chekhov

    41. Mumu, Turgenev

    42. Con đầm pích, Puskin

    43. Con gái viên đại uý, Puskin

    44. Những điền chủ nếp xưa, Gogol

    45. Con quỷ, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    46. Trên mặt nước, Maupassant

    47. Hai tư giờ trong đời một người đàn bà, Stefan Zweig

    48. Carmen, P. Mérimée

    49. Phòng 6, Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch

    50. Axya, Turgenev, Anh Trúc dịch

    51. Đại lộ Nevsky, Gogol, Phạm Thuỷ Ba dịch

    52. My Life, Chekhov

    53. Rip Van Winkle (1819), Washington Irving, Lê Huy Bắc dịch

    Rip Van Winkle, một người Mỹ gốc Hà Lan, việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng, sợ vợ, sống ở một ngôi làng dưới chân núi Catskill vào những năm trước Cách mạng Hoa Kỳ. Một ngày, trong lúc đi săn trên núi cùng chú chó Wolf của mình, Rip Van Winkle nghe thấy tiếng người gọi mình và lát sau bắt gặp một người đàn ông Hà Lan vác trên lưng một thùng rượu. Là “một ma men từ trong bản chất”, Winkle nhập hội với hội bạn của người đàn ông kia, những người đang chơi ky chín hòn, say đến nỗi “hai mắt bơi trong đầu” và nhanh chóng ngủ thiếp đi.

    Khi tỉnh dậy, Winkle thấy chân tay rã rời, con chó Wolf không thấy đâu, những người đàn ông tối qua cũng biến mất. Anh uể oải trở về làng; mọi vật đã đổi thay, làng mạc không còn như xưa nữa. Bị thiên hạ xì xồ, Winkle mới nhận ra bộ râu của mình đã dài đến ba tấc. Anh tìm tới quán rượu, dò hỏi về những bạn hữu cũ, thì được cho hay trong lúc anh ngủ vùi, hai mươi năm đã trôi qua, nhiều bạn bè của anh đã qua đời trong chiến trận. Winkle bắt gặp một thiếu niên giống mình đang tựa người ở gốc cây; lát sau, một người phụ nữ bước vào, anh nhanh chóng được biết bà vợ độc đoán của anh đã qua đời, còn người phụ nữ trước mặt chính là con gái anh, còn cậu thiếu niên giống anh kia chính là con trai của anh.

    Qua một già làng, Rip Van Winkle được biết về giai thoại những hồn ma của thuỷ thủ đoàn Hà Lan. Con gái ông đưa ông về nhà. Ông trở lại với nếp sống nhàn rỗi thường ngày, tiếp đãi bất cứ khách khứa nào tới thăm bằng câu chuyện kỳ lạ của chính mình. Người ta bán tính bán nghi, tuy nhiên những người Hà Lan nghiêm túc đặc biệt ghi nhớ; họ cho rằng mỗi khi sấm rền ở trên núi, tức là những hồn ma đang chơi ky chín hòn. “Và ước muốn chung của những anh chồng sợ vợ trong vùng một khi phải chịu quá đỗi áp bức thì hẳn họ sẽ ao ước được lặng lẽ uống cạn cả hũ rượu của Rip Van Winkle.”

    54. Tamango, Prosper Mérimée

    Viên thuyền trưởng Ledoux rời Nantes trên con tàu “Hy Vọng” để buôn lậu nô lệ da đen. Trên sông Joale, y đã mua 160 người da đen từ một tên buôn nô lệ da đen Tamango với giá bằng “những ly rượu nhỏ”. Tamango đã bắn chết một người mẹ của ba đứa con nhỏ chỉ vì Ledoux không chịu mua thêm, sau đó, vì say tuý luý, hắn gả luôn một trong hai người vợ của mình – Ayché – cho tên kia.

    Khi tỉnh rượu, Tamango hốt hoảng nhận ra sai lầm của mình và vội vã đuổi theo con tàu. Gã đã đuổi kịp, và nhanh chóng bị đám thuỷ thủ người Pháp chế ngự rồi nhốt chung trong boong cùng những nô lệ khác. Vết thương từ trận ẩu đả khiến Tamango nằm liệt vài ngày, rồi, khi đã hồi phục, gã bắt đầu hô hào những nô lệ đồng hương, vốn cả tin và mê tín, cùng ấp ủ một màn nổi loạn. Qua Ayché, Tamango có một cái giũa nhỏ; nhờ nó, các tù nhân đã tự giải thoát cho mình. Một trận thảm sát diễn ra, tất cả thuỷ thủ trên tàu đều bị giết.

    Lênh đênh giữa biển, đám người da đen giờ chỉ biết phó mặc số phận cho thủ lĩnh Tamango, người rõ ràng chẳng biết nhiều hơn họ là mấy. Nhiều người chết vì đói, vì ẩu đả, vì ngã xuống biển. Khi tàu chiến Anh “Bellona” đi qua, Ayché đã chết, còn Tamango thân bọc xương, thoi thóp. Thống đốc Kingston đã trả tự do cho Tamango; nhưng hắn dần đắm chìm trong rượu chè và sau rốt chết vì sưng phổi ở nhà thương.

    55. Hai sự hiểu lầm, Prosper Mérimée

    Julie de Chaveny không thể yêu chồng mà còn khó lòng tôn trọng chồng đôi chút. Trong sáu năm đầu của cuộc hôn nhân tính toán, tẻ nhạt, nàng dần thấu triệt nỗi bất hạnh của mình và dần thu mình vào sự cô đơn. Nàng được săn đón, và không ai có thể chê trách nàng điều gì.

    Một ngày nọ, Darcy, một nhà ngoại giao, trở về từ Constantinople và đến định cư tại Paris. Julie nhớ lại mối tình dang dở giữa họ khi cô chưa lấy chồng, và cảm thấy hối tiếc khi anh phải đi xa để lập nghiệp. Khi gặp lại anh, cô tin rằng mình đã tìm lại được tình yêu mà anh dành cho cô. Và khi anh nhẹ nhàng gợi lại ký ức này, cô thú nhận sự vỡ mộng trong hôn nhân rồi ngả vào vòng tay anh.

    Darcy ngạc nhiên, tin rằng việc chinh phục người đẹp này quá dễ dàng. Julie, người ấp ủ khát khao được yêu thương mãnh liệt, một lần nữa thất vọng, xấu hổ, gờm tởm bản thân vì đã ngã lòng. Nàng tức tốc lên đường về với mẹ để ẩn nấu, nhưng đã chết dọc đường đi.

    Sau khi nàng chết, Darcy không bao giờ nói đến nàng. Vài tháng sau, chàng cưới vợ có gia tài.

    56. Quỷ Sứ và Tom Walker, Washington Irving, Lê Minh Đức dịch

    57. Nữ gia sư, Stefan Zweig

    58. Người thợ săn, Anton Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch

    59. Colomba, Mérimée

    60. Mưa, Maugham

    61. Bất khuất, Maugham

    Thực ra tôi không thích cái kết của truyện này lắm, dù cảm xúc đọng lại trong tôi khá rõ rệt. Nó hao hao sự căm tức và bí bách mà Pierre và Jean của Maupassant từng gây cho tôi.

    62. Gambrinut, Kuprin, Xuân Du dịch

    63. Sự sa ngã của Edward Barnard, Maugham

    64. Một người có lương tâm, Maugham

    65. Bản Sonata Kreutzer, Lev Tolstoy, Trần Thị Phương Phương dịch

    66. Những quần đảo thần tiên, Maugham, Nguyễn Hiến Lê dịch

    67. Zadig hay Số phận, Voltaire, Lê Tư Lành dịch

    68. Tanhia, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    69. Ở Paris, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch


    TIỂU LUẬN

    1. Truyện ngắn là gì? (1958), Somerset Maugham, Thành Long dịch

    2. Ten Novels and Their Authors (1954), Somerset Maugham

    3. Vài khía cạnh của truyện ngắn (1970), Julio Cotázar, Đức Anh dịch

    4. Kinh nghiệm viết truyện ngắn của Raymond Carver, Thanh Diệp dịch

    5. How to Write a Thriller (1963), Ian Fleming

    6. The Philosophy of Composition, Edgar Allan Poe

    7. Как я пишу, Maxim Gorky

    8. Kì lạ thế đấy cuộc đời này, Danil Granin, Đoàn Tử Huyến dịch

    9. The Art of Fiction, Henry James & Walter Besant

    10. Books and You, Somerset Maugham


    HỒI KÝ & TUỲ BÚT

    1. The Summing Up, Somerset Maugham

    2. LETTERS OF ANTON CHEKHOV TO HIS FAMILY AND FRIENDS

    3. Afloat, Maupassant

    4. Looking Back (1962), Somerset Maugham

    5. Mystery and Manners, Flannery O’Connor

    6. Dagestan của tôi, Rasul Gamzatov, Phan Hồng Giang dịch


  • Người đàn bà ngốc nghếch

    Đọc thử

    Bà Văn là bà lão chuyên mò cua bắt ốc gần nhà tôi. Thật ra Văn là tên chồng bà, một viên chức đĩnh đạc với hai nếp rãnh cười hằn lên làn da mai mái như thể được cố tình vẽ ra, còn tên thật bà là gì thì tôi không rõ, mà tôi nghĩ trong làng cũng chẳng ai rõ, hoặc có rõ thì cũng đã quên từ lâu.

    Bà Văn tuổi ngoài bảy mươi, lưng còng rạp như cái cây oằn mình trước gió, và khuôn mặt, dáng dấp, giọng nói, – tất cả ở bà đều cho thấy bà là một người đã bị cuộc đời vò cho nhàu nhĩ. Bà đẻ được bốn mụn con, ba trai một gái, và thảy đều được cho ăn học đàng hoàng, lớn lên thành người tử tế, những người có chỗ đứng. Ông chồng bà về hưu đã chục năm nay nhưng ngày lại ngày, ông đóng bộ tươm tất như đi dự họp, thắt cà vạt thẳng thớm, quần là áo lụa, ông chống cây gậy gỗ nhiều mấu đi dạo trên đường làng với khuôn mặt khắc khổ như một kẻ hành hương, vừa đi vừa lầm bầm trong hơi thở. Ông ta tề chỉnh, mẫu mực, đường hoàng, tác phong nghiêm cẩn như thể mọi chuyện nhỏ nhặt nhất đối với ông cũng mang tầm quan trọng khôn lường. Dân làng khiếp sợ ông vì ông đánh vợ không chùn tay. Hở ra là đánh.

    Tôi nhớ có lần vào buổi trưa, bà Văn sang nhà tôi rao cá. Bà thường bắt được những mẻ cá rô đồng rất ngon, và ông bà nội tôi là khách hàng thường xuyên của bà. Thường thì ngồi trong nhà đã nghe thấy tiếng dép loẹt quẹt của bà Văn trên con đường rải sỏi, và thời bé tôi có thói quen đoán xem bà bước bao nhiêu bước nữa thì tới trước cổng nhà tôi. Bà cất tiếng gọi:

    “Cô giáo ơi! Cô giáo!”

    Bà nội tôi thưở trước từng làm nhà giáo, nên bà Văn cứ quen miệng gọi vậy hoài, kể cả khi bà nội đã chẳng còn nhớ nổi ngày trước mình từng làm nhà giáo, khi mà tất cả những gì gợi nhắc về một sự nghiệp đã qua chỉ là tấm bằng khen đóng khung thếp vàng treo cạnh khung cửa sổ.

    “Cô giáo ơi! Có cá rô đây này!” bà Văn gọi tiếp.

    Bà tôi lật đật trở ra từ phòng ngủ, lướt qua tôi, bấy giờ đang ngồi xem TV trên chiếc ghế gỗ ở phòng khách, và bà vẫn kịp ném vào tôi một ánh nhìn đe doạ vì tội không ngủ trưa, trước khi bà với lấy chiếc nón chạy ra khoảng sân vàng rộm những thóc là thóc. Tôi ra đứng cạnh thềm cửa, ngơ ngác nhìn theo hai người đàn bà và cố hiểu từng lời mà họ trao đổi với nhau. Họ xì xầm to nhỏ một hồi, rồi bà nội tôi đánh khẽ vào tay bà Văn, nói:

    “Mặt mũi làm sao thế này?”

    Bà Văn không đáp. Bà tôi hỏi tiếp:

    “Thằng ấy nó lại đánh à?”

    “Ừ, nó đánh đấy,” bà Văn im lặng, vẻ sợ sệt thêm một lát rồi mới đáp. “Vài bữa nay nó đánh liên tục.” Đoạn bà ta liếc mắt ngó quanh như thể lo sợ ông chồng đang rình rập mình và có thể nhảy ra từ bất cứ chỗ nào. Trông bà rúm ró, tội nghiệp. Bà mỉm cười, răng đã rụng gần hết, mớ tóc trên đầu xoà xuống rũ rượi, rồi bà vừa loạt xoạt lật giở xấp tiền lẻ bà tôi đưa cho vừa lắc lơ cái giỏ cá không về nhà, nơi ông chồng bà rất có thể đang khó ở chuyện gì đó và sẵn sàng tương cho bà vài tát vào mặt can tội nắng chang chang còn đâm ra đường, hoặc có khi là chẳng can tội gì cả. Thật khó hiểu làm sao! Ông Văn rất giàu và con cái ông ta cũng rất giàu, nhưng bà mẹ thì sống như thể một gia nhân, một người thừa trong cái cảnh giàu sang của mình. Vợ chồng ông Văn, cái đôi vợ chồng không yêu thương nhau ấy, đã chung sống gần nửa thập kỷ, từ một căn nhà vách đất cho tới căn nhà cấp bốn có mái lợp ngói như hiện tại, xây từ những năm chín mươi.

    Mỗi lần tết nhất, con cái ông bà dựng xe ô tô thẳng hàng chắn hết cả lối đi. Và từ thưở nhỏ, khi bắt gặp mắt tôi rơm rớm khi chứng kiến cảnh ngộ của bà Văn, bà nội tôi cao giọng bảo rằng chẳng cần cám cảnh cho bà ấy làm gì, có lẽ cũng vì mỗi người đều có nỗi khổ của mình, và nếu chỉ nhìn bằng con mắt trần tục thì đâu biết ai khổ hơn ai.

    Bà Văn vẫn đi mò cua bắt ốc, vẫn gọi bà nội tôi là cô giáo, vẫn gọi tôi là cháu cô giáo, vẫn bị chồng đánh tối ngày, và vẫn luôn mỉm cười đầy ngờ nghệch khi bước trên đường, như thể mọi chuyện đối với bà chỉ là những hòn đá ném xuống nước, khuấy động sự phẳng lặng của mặt nước trong chốc lát, và thời gian qua đi, dòng nước sẽ êm ả chảy lại như cũ. Một người đàn bà ngốc nghếch và kiên cường, tôi nghĩ thế.

    T.B. Tôi luôn muốn viết một truyện ngắn về bà Văn, nhưng kỳ thực tôi chẳng mấy xúc động và cảm thông với bà già này. Tôi chỉ thấy ngồ ngộ và khó hiểu thế nào ấy. Tạm thời tôi ghi lại trường hợp của bà ấy tại đây.


  • Ba tiểu luận của Arthur Schopenhauer

    Đọc thử

    Arthur Schopenhauer, triết gia u sầu và thất tình nhiều nhất lịch sử, có một series tiểu luận dài hơi về văn chương, trong đó ông thảo luận (với thái độ cả quyết) về nhiều khía cạnh của nghề cầm bút: từ hình thức, phong cách, phê bình, hay về các thiên tài văn học, v.v..

    Dưới đây là ba trong số những bài tiểu luận thuộc series ấy:


    Bàn về nghề viết

    – Arthur Schopenhauer

    Trước hết, có hai loại tác giả: những người viết vì chính chủ đề của mình, và những người viết chỉ để mà viết. Trong khi kiểu người thứ nhất có những suy tư hay trải nghiệm mà họ thấy xứng đáng để truyền đạt, thì kiểu người thứ hai lại chỉ muốn tiền; và vì thế họ viết, vì tiền. Việc suy tư của họ chỉ là một phần trong công việc kinh doanh viết lách. Có thể nhận diện kiểu người này qua cách họ bôi vẽ và kéo dài ý nghĩ của mình ra đến độ dài tối đa có thể; rồi cũng qua chính bản chất những ý nghĩ ấy: chỉ đúng một nửa, sai lệch, gượng ép, chao đảo; và lại còn qua thái độ ghét bỏ mà họ thường thể hiện đối với việc nói thẳng ra bất cứ điều gì, cốt để họ tỏ ra khác với bản chất thực của mình. Do đó, văn chương của họ thiếu đi sự rõ ràng và rành mạch, và chẳng bao lâu họ sẽ để lộ ra rằng mục đích duy nhất của họ khi viết lách chỉ là để phủ kín mặt giấy. Điều này đôi khi cũng xảy ra với cả những tác giả xuất sắc nhất; thỉnh thoảng, chẳng hạn, với Lessing trong cuốn Kịch luận của ông, và ngay cả trong nhiều cuốn tiểu thuyết diễm tình của Jean Paul. Ngay khi nhận ra điều này, độc giả hãy quăng ngay cuốn sách đi; bởi thời gian là vàng bạc. Sự thật là khi một tác giả bắt đầu viết chỉ để bôi kín mặt giấy, ông ta đang lừa dối độc giả; bởi ông ta viết dưới vỏ bọc giả tạo rằng mình có điều gì đó để nói.

    Tựu trung lại, việc viết vì tiền và giữ bản quyền chính là sự hủy hoại văn chương. Không ai viết ra được điều gì đáng giá, trừ khi người đó viết hoàn toàn vì lợi ích của chính chủ đề. Sẽ là một ân huệ vô giá biết bao, nếu trong mỗi nhánh của văn học chỉ có vài cuốn sách, nhưng lại là những cuốn thực sự xuất sắc! Điều này sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực, chừng nào người ta còn có thể kiếm tiền từ việc viết lách. Dường như đồng tiền mang theo một lời nguyền; bởi mọi tác giả đều tha hóa ngay khi bắt đầu đặt bút xuống giấy vì mục đích tư lợi dưới bất kỳ hình thức nào. Những tác phẩm tuyệt luân của những vĩ nhân đều ra đời vào thời kỳ mà họ phải viết mà chẳng nhận lại được gì, hoặc nhận được những đồng thù lao rẻ mạt. Và ở đây, câu tục ngữ Tây Ban Nha nọ lại ứng nghiệm, câu nói răn rằng danh dự và tiền bạc không thể chung một túi – honora y provecho no caben en un saco. Lý do khiến Văn chương ngày nay rơi vào tình cảnh tồi tệ như vậy, đơn giản và duy nhất, là vì người ta viết sách để kiếm tiền. Một kẻ đang túng thiếu ngồi xuống viết một cuốn sách, và công chúng thì lại đủ ngu ngốc để mua nó. Hệ quả phái sinh của việc này chính là sự suy tàn của ngôn ngữ.

    Rất nhiều tay viết tồi tệ kiếm sống hoàn toàn dựa vào cái chứng cuồng dại ngu ngốc của công chúng khi chỉ khăng khăng đọc những gì vừa mới được in ra, – ý tôi là những nhà báo. Quả thực, một cái tên thật thích đáng. Nói một cách trần trụi thì đó là những kẻ làm thuê, những người làm công nhật!

    Lại nữa, có thể nói rằng có ba kiểu tác giả. Đầu tiên là những người viết mà không suy nghĩ. Họ viết từ một trí nhớ đầy ắp, từ những hồi tưởng; và thậm chí có thể lấy thẳng từ sách của người khác. Lớp người này đông đảo nhất. Tiếp đến là những người vừa viết vừa suy nghĩ. Họ nghĩ cốt để mà viết; và nhóm này cũng không hề thiếu. Cuối cùng mới là những tác giả suy nghĩ thấu đáo trước khi bắt đầu viết. Họ là những người hiếm hoi.

    Các tác giả thuộc nhóm thứ hai, những kẻ trì hoãn việc suy nghĩ cho đến lúc bắt tay vào viết, giống như một tay thợ săn đi săn một cách ngẫu hứng và khả năng cao là sẽ chẳng mang được mấy chiến lợi phẩm về nhà. Mặt khác, khi một tác giả thuộc nhóm thứ ba – nhóm hiếm hoi – viết lách, nó giống như một cuộc săn lùa. Ở đó, con mồi đã bị tóm gọn từ trước và bị nhốt trong một không gian rất hẹp; từ đó, chúng được thả ra, từng đàn một, vào một không gian khác cũng bị giới hạn. Con mồi không thể nào trốn thoát khỏi tay thợ săn; anh ta chẳng có việc gì khác ngoài ngắm và bắn – nói cách khác, viết những dòng suy nghĩ của mình xuống. Đây là kiểu đi săn mà một người chắc chắn sẽ có thành quả để phô bày.

    Nhưng ngay cả khi số lượng những người thực sự suy nghĩ nghiêm túc trước khi viết vốn đã ít ỏi, thì số người suy nghĩ về chính bản thân chủ đề đó lại càng cực kỳ hiếm hoi: phần lớn chỉ nghĩ về những cuốn sách đã được viết về chủ đề đó, và những gì người khác đã nói. Để có thể tư duy, những nhà văn như vậy cần một thứ xúc tác trực tiếp và mạnh mẽ hơn, đó là phải có sẵn suy nghĩ của người khác ở ngay trước mắt họ. Những điều này trở thành chủ đề trực tiếp của họ; và kết quả là họ luôn nằm dưới sức ảnh hưởng của chúng, và do đó, không bao giờ có được tính nguyên bản theo đúng nghĩa thực sự của từ này. Ngược lại, nhóm người trước lại được khơi gợi suy tư bởi chính chủ đề, và vì vậy tư duy của họ hướng trực tiếp đến nó. Đây là nhóm duy nhất sản sinh ra những nhà văn có danh tiếng trường tồn.

    Tất nhiên, cần hiểu rõ rằng ở đây tôi đang nói về những nhà văn bàn luận về những chủ đề vĩ đại; chứ không phải những người viết về nghệ thuật chưng cất rượu brandy.

    Trừ khi một tác giả lấy chất liệu để viết từ chính khối óc của mình, tức là, từ chính sự quan sát của bản thân, ông ta không đáng để đọc. Những kẻ “gia công” sách, những nhà biên soạn, những người viết sử tầm thường, và nhiều người khác cùng loại, lấy chất liệu trực tiếp từ các cuốn sách; và chất liệu ấy đi thẳng xuống đầu ngón tay của họ mà không hề phải “trả phí vận chuyển” hay qua khâu kiểm duyệt khi đi xuyên qua đầu họ, chứ đừng nói đến chuyện được gọt giũa hay hiệu đính. Sẽ uyên bác biết bao nếu nhiều người biết được tất thảy những gì nằm trong chính những cuốn sách của họ! Hệ quả của việc này là những nhà văn đó ăn nói một cách lỏng lẻo và mơ hồ đến mức, độc giả có vắt óc suy nghĩ cũng hoài công trong việc hiểu xem thực sự họ đang nghĩ gì. Bởi họ chẳng nghĩ gì cả. Đôi khi có thể xảy ra trường hợp cuốn sách mà họ sao chép cũng được tạo ra theo đúng cách như vậy: thế nên thứ văn chương kiểu này chẳng khác nào một khuôn thạch cao đúc lại từ một khuôn đúc khác; và cuối cùng, đường nét trơ trọi của khuôn mặt, mà cũng khó lòng nhận ra nổi, là tất cả những gì còn sót lại cho bức tượng Antinous của bạn. Hãy đọc các tác phẩm biên soạn càng hiếm hoi càng tốt. Thật khó để tránh chúng hoàn toàn; bởi lẽ các tài liệu biên soạn cũng bao gồm cả những cuốn sách giáo khoa chứa đựng khối kiến thức tích lũy của nhiều thế kỷ trong một không gian nhỏ gọn.

    Không có sai lầm nào lớn hơn việc cho rằng tác phẩm ra đời sau cùng luôn luôn chính xác hơn; rằng những gì được viết sau, trong mọi trường hợp, đều là sự cải tiến so với những gì được viết trước đó; và rằng sự thay đổi luôn đồng nghĩa với tiến bộ. Những nhà tư tưởng đích thực, những người có óc phán đoán chuẩn xác, những người chân thành nghiêm túc với chủ đề của mình, tất cả những người này chỉ là những ngoại lệ. Bọn ăn bám mới là quy luật ở khắp mọi nơi trên thế giới: chúng luôn rình rập, chộp lấy những ý kiến chín muồi của các nhà tư tưởng, và cần mẫn tìm cách “cải thiện” chúng (lạy Chúa tôi!) theo cái cách kỳ quặc của riêng chúng.

    Nếu độc giả muốn nghiên cứu bất kỳ chủ đề nào, hãy thận trọng đừng vội vàng lao vào những cuốn sách mới nhất về nó, và giới hạn sự chú ý của mình chỉ vào chúng, dưới ý niệm rằng khoa học luôn tiến bộ, và rằng những cuốn sách cũ đã được tham khảo để viết nên những cuốn sách mới. Quả thực là chúng đã được tham khảo; nhưng theo cách nào? Tác giả của cuốn sách mới thường không hiểu thấu đáo những cuốn sách cũ, nhưng ông ta lại không sẵn lòng trích dẫn chính xác ngôn từ của họ; vậy nên ông ta làm hỏng chúng, và diễn đạt theo lối tệ hại của riêng mình những điều vốn đã được nói hay hơn và rõ ràng hơn rất nhiều bởi những bậc tiền nhân, những người đã viết từ vốn kiến thức sống động của chính họ về chủ đề đó. Tác giả mới thường xuyên bỏ sót những điều tinh túy nhất mà người trước đã nói, những ví dụ minh họa sắc sảo nhất của họ, những lời bình luận đắc địa nhất của họ; bởi vì ông ta không thấy được giá trị của chúng hay cảm nhận được chúng súc tích đến nhường nào. Thứ duy nhất hấp dẫn ông ta là những gì nông cạn và vô vị.

    Thường có chuyện một cuốn sách cũ xuất sắc bị hất cẳng bởi những cuốn sách mới tồi tệ, những tác phẩm được viết vì tiền, xuất hiện với vẻ ngoài vô cùng tự phụ và được bạn bè tâng bốc tung hô hết lời. Trong khoa học, một người cố gắng ghi dấu ấn bằng cách đưa ra một điều gì đó mới mẻ. Điều này thường chẳng có ý nghĩa gì hơn ngoài việc ông ta tấn công một học thuyết đã được công nhận vốn hoàn toàn chính xác, cốt để dọn đường cho những quan điểm sai lầm của chính mình. Đôi khi nỗ lực ấy thành công trong một khoảng thời gian; và sau đó người ta lại trở về với học thuyết cũ và đúng đắn. Những nhà cách tân này chẳng nghiêm túc với bất cứ điều gì ngoài cái bản ngã quý giá của chính họ: đó là thứ mà họ muốn đưa lên bệ phóng, và cách nhanh nhất để làm điều đó, theo tư duy của họ, là khởi xướng một nghịch lý. Những cái đầu cằn cỗi của họ vươn tới con đường phủ định một cách tự nhiên; vì vậy họ bắt đầu chối bỏ những chân lý đã được thừa nhận từ lâu – chẳng hạn như sinh lực, hệ thần kinh giao cảm, quá trình tự sinh (generatio equivoca), sự phân định của Bichat giữa hoạt động của đam mê và hoạt động của trí tuệ; hoặc không thì họ muốn chúng ta quay trở lại với thuyết nguyên tử thô thiển, và những thứ đại loại như vậy. Vì thế, điều thường xuyên xảy ra là tiến trình của khoa học lại đang đi lùi.

    Thuộc về lớp nhà văn này còn có những dịch giả không chỉ dịch tác giả của mình mà còn sửa chữa và hiệu đính ông ta; một việc làm mà đối với tôi luôn có vẻ xấc xược. Đối với những người như vậy, tôi nói: Tự anh hãy viết ra những cuốn sách đáng để dịch, và để yên cho tác phẩm của người khác như vốn có của chúng!

    Độc giả nên nghiên cứu, nếu có thể, những tác giả đích thực, những người đã kiến tạo và khám phá ra các sự vật; hoặc ít nhất là những người được công nhận là các bậc thầy vĩ đại trong mỗi nhánh tri thức. Hãy mua sách cũ còn hơn là đọc nội dung của chúng qua những cuốn sách mới. Rõ ràng, rất dễ để thêm thắt vào một khám phá mới – inventis aliquid addere facile est; và do đó, người học, sau khi đã nắm vững những nền tảng của chủ đề, sẽ phải tự làm quen với những bổ sung mới hơn cho hệ tri thức đó. Và, nhìn chung, quy tắc sau đây có thể được áp dụng ở đây cũng như ở bất kỳ đâu: nếu một thứ là mới, thì nó hiếm khi tốt; bởi vì nếu nó tốt, thì nó chỉ mới trong một khoảng thời gian ngắn mà thôi.

    Giống như địa chỉ đối với một bức thư, tiêu đề cũng có ý nghĩa tương tự đối với một cuốn sách; nói cách khác, mục tiêu chính của nó là đưa cuốn sách đến với những độc giả trong công chúng có sự quan tâm đến nội dung của nó. Do đó, nó phải mang tính biểu đạt; và vì bản chất của nó phải ngắn gọn, nó cần súc tích, khúc chiết, cô đọng, và nếu có thể, truyền tải được nội dung chỉ bằng một từ. Một tiêu đề rườm rà là tồi; và tương tự là một tiêu đề trống rỗng, hay tối nghĩa và mơ hồ, hoặc thậm chí có thể là sai lệch và gây hiểu nhầm; trường hợp cuối cùng này có thể khiến cuốn sách chịu chung số phận với một bức thư ghi sai địa chỉ. Những tiêu đề tệ hại nhất là những tiêu đề bị ăn cắp, ý tôi là những tiêu đề đã được các cuốn sách khác sử dụng; bởi vì trước hết chúng là sự đạo văn, và thứ hai là minh chứng thuyết phục nhất cho sự vắng bóng hoàn toàn tính nguyên bản ở tác giả. Một người không có đủ sự sáng tạo để nghĩ ra một tiêu đề mới cho cuốn sách của mình, sẽ lại càng không có khả năng mang đến cho nó những nội dung mới mẻ. Tương tự với những tiêu đề ăn cắp này là những tiêu đề sao phỏng, tức là, ăn cắp đến một nửa; ví dụ, rất lâu sau khi tôi xuất bản luận văn Về Ý chí trong Tự nhiên (On Will in Nature), Oersted đã viết một cuốn sách có tựa đề Về Tâm trí trong Tự nhiên (On Mind in Nature).

    Một cuốn sách không bao giờ có thể là gì hơn ngoài dấu ấn những suy nghĩ của tác giả; và giá trị của những suy nghĩ này sẽ nằm ở chất liệu mà ông ta đã nghĩ tới, hoặc ở hình thức mà những suy nghĩ của ông ta thể hiện, nói cách khác, chính những gì ông ta đã tư duy về chất liệu đó.

    Chất liệu của các cuốn sách là vô cùng đa dạng; và cũng đa dạng không kém là những nét xuất sắc gắn liền với các cuốn sách dựa trên khía cạnh chất liệu của chúng. Bằng từ “chất liệu”, ý tôi muốn nói đến tất thảy những gì nằm trong phạm vi của những trải nghiệm thực tế; nghĩa là, các dữ kiện lịch sử và các sự kiện tự nhiên, được xem xét tự thân chúng và theo nghĩa rộng nhất của chúng. Ở đây, chính sự vật được bàn luận mang lại đặc tính riêng biệt cho cuốn sách; vì vậy mà một cuốn sách có thể trở nên quan trọng, bất kể ai là người đã viết ra nó.

    Nhưng xét về hình thức, đặc tính riêng biệt của một cuốn sách phụ thuộc vào con người đã viết ra nó. Nó có thể bàn về những vấn đề mà ai cũng có thể tiếp cận và đã rất quen thuộc; nhưng chính cách thức chúng được xử lý, những gì được người ta tư duy về chúng, mới tạo nên giá trị của cuốn sách; và điều này xuất phát từ chính tác giả. Do đó, nếu từ góc độ này mà một cuốn sách là xuất sắc và vô song, thì tác giả của nó cũng vậy. Hệ quả là nếu một nhà văn đáng để đọc, giá trị của ông ta tăng lên đúng theo tỷ lệ với việc ông ta ít vay mượn từ chất liệu của mình đến đâu; vì thế, chủ đề càng quen thuộc và càng bị nhai đi nhai lại bao nhiêu, thì nhà văn sẽ càng vĩ đại bấy nhiêu. Ba nhà soạn bi kịch vĩ đại của Hy Lạp, chẳng hạn, đều sáng tác trên cùng một chất liệu chủ đề.

    Vậy nên khi một cuốn sách được ca tụng, cần phải lưu tâm xem liệu điều đó là do chất liệu hay hình thức của nó; và cần phải có sự phân biệt tương ứng.

    Những cuốn sách có tầm quan trọng lớn lao nhờ chất liệu của chúng có thể xuất phát từ những người hết sức tầm thường và nông cạn, bởi thực tế là chỉ riêng họ có cơ hội tiếp cận chất liệu này; ví dụ, những cuốn sách mô tả các chuyến du hành đến những vùng đất xa xôi, các hiện tượng tự nhiên hiếm gặp, hay các cuộc thí nghiệm; hoặc những biến cố lịch sử mà các tác giả là nhân chứng, hoặc những thứ mà họ đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu và khảo sát chuyên sâu từ các tài liệu gốc.

    Mặt khác, nơi chất liệu là thứ ai cũng tiếp cận được hoặc đã rất quen thuộc, thì mọi thứ sẽ phụ thuộc vào hình thức; và chính những suy tư về chất liệu ấy sẽ mang lại cho cuốn sách mọi giá trị mà nó sở hữu. Ở đây, chỉ một người thực sự xuất chúng mới có thể tạo ra được bất cứ thứ gì đáng đọc; bởi những kẻ khác sẽ chẳng nghĩ ra điều gì ngoài những điều mà bất kỳ ai khác cũng có thể nghĩ. Họ sẽ chỉ tạo ra một bản in tâm trí của chính mình; nhưng đây lại là một bản in mà ai cũng đang sở hữu bản gốc.

    Tuy nhiên, công chúng lại quan tâm nhiều hơn đến việc thu nhận chất liệu thay vì hình thức; và chính vì lý do này mà họ khiếm khuyết đi bất cứ mức độ văn hóa cao cấp nào. Công chúng thể hiện sự ưu ái của mình về mặt này theo cách nực cười nhất khi tiếp cận với thi ca; bởi ở đó họ cất bao công sức chỉ để lần theo những sự kiện thực tế hay những hoàn cảnh cá nhân trong cuộc đời thi sĩ, vốn đóng vai trò là cơ duyên cho các tác phẩm của ông; thậm chí, những sự kiện và hoàn cảnh này đến cuối cùng lại trở nên quan trọng hơn cả chính tác phẩm; và thay vì đọc bản thân Goethe, người ta thà đọc những gì người khác viết về ông, và miệt mài nghiên cứu truyền thuyết về Faust hơn là đọc vở kịch mang tên đó. Và khi Bürger tuyên bố rằng “người ta sẽ viết những bài luận hàn lâm xoay quanh câu hỏi, Leonora thực sự là ai”, chúng ta thấy điều này ứng nghiệm theo đúng nghĩa đen trong trường hợp của Goethe; bởi hiện nay chúng ta sở hữu rất nhiều bài luận hàn lâm về Faust và truyền thuyết gắn liền với ông. Việc nghiên cứu kiểu này là, và vẫn luôn là, chỉ dành riêng cho khía cạnh chất liệu của vở kịch mà thôi. Việc ưu ái chất liệu hơn hình thức như thế, chẳng khác nào một người cầm lấy một chiếc bình Etruscan tinh xảo, không phải để chiêm ngưỡng hình dáng hay màu sắc của nó, mà là để tiến hành phân tích hóa học về chất đất sét và lớp sơn làm nên chiếc bình ấy.

    Nỗ lực nhằm tạo ra hiệu ứng thông qua chất liệu được sử dụng—một nỗ lực nhằm a dua theo xu hướng tai hại này của công chúng—là điều đáng lên án nhất trong những nhánh văn học mà mọi giá trị của chúng đều nằm hiển nhiên ở hình thức; ý tôi muốn nói, trong các tác phẩm thi ca/kịch thơ. Dù vậy, không hiếm để thấy những nhà soạn kịch tồi đang cố lấp đầy khán phòng bằng thứ chất liệu mà họ viết. Chẳng hạn, những tác giả loại này không ngần ngại đưa lên sân khấu bất kỳ nhân vật nào có danh tiếng theo bất cứ cách nào, bất kể cuộc đời của anh ta có hoàn toàn vắng bóng những biến cố kịch tính hay không; và đôi khi, thậm chí họ còn chẳng thèm đợi cho đến khi những người có liên hệ trực tiếp với nhân vật ấy qua đời.

    Sự phân định giữa chất liệu và hình thức mà tôi đang đề cập ở đây cũng hoàn toàn đúng trong giao tiếp. Những phẩm chất cốt lõi cho phép một người trò chuyện lôi cuốn là trí thông minh, sự sáng suốt, sự dí dỏm và vẻ hoạt bát: những yếu tố này cung cấp hình thức của cuộc trò chuyện. Nhưng chẳng bao lâu sau, sự chú ý sẽ phải hướng đến nội dung/chất liệu mà anh ta đang nói; nói cách khác, những chủ đề mà người ta có thể đàm đạo với anh ta – chính là vốn tri thức của anh ta. Nếu vốn tri thức này quá ít ỏi, cuộc trò chuyện của anh ta sẽ chẳng có chút giá trị nào, trừ phi anh ta sở hữu những phẩm chất hình thức kể trên ở một mức độ cực kỳ xuất chúng; bởi anh ta sẽ chẳng có gì để nói ngoại trừ những sự thật về đời sống và tự nhiên mà ai ai cũng biết. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ hoàn toàn ngược lại nếu một người thiếu vắng những phẩm chất hình thức này, nhưng lại có một khối lượng tri thức mang lại giá trị cho những gì anh ta nói. Giá trị này khi ấy sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào chất liệu nội dung cuộc trò chuyện của anh ta; bởi vì, như câu tục ngữ Tây Ban Nha đã chỉ rõ, mas sabe el necio en su casa, que el sabio en la agena – kẻ ngốc biết rõ chuyện nhà mình hơn người khôn biết chuyện nhà người khác.


    Bàn về việc tự suy nghĩ

    – Arthur Schopenhauer

    Một thư viện có thể rất khổng lồ; nhưng nếu nó lộn xộn, nó cũng chẳng hữu ích bằng một thư viện nhỏ bé nhưng được sắp xếp khoa học. Tương tự như vậy, một người có thể sở hữu một khối lượng tri thức khổng lồ, nhưng nếu anh ta không nhào nặn nó bằng cách tự mình suy ngẫm, thì giá trị của nó kém xa một lượng kiến thức nhỏ hơn nhiều nhưng đã được anh ta nghiền ngẫm thấu đáo. Bởi chỉ khi một người nhìn nhận tri thức của mình từ mọi góc độ, và kết hợp những điều anh ta biết bằng cách đối chiếu chân lý với chân lý, anh ta mới có được sự nắm bắt hoàn toàn và làm chủ được nó. Một người không thể lật đi lật lại bất cứ điều gì trong tâm trí nếu anh ta không biết nó; do đó, anh ta phải học một điều gì đó; nhưng chỉ khi anh ta đã lật đi lật lại nó thì mới có thể nói là anh ta đã biết nó.

    Đọc và học là những việc mà bất cứ ai cũng có thể làm theo ý chí tự do của mình; nhưng suy nghĩ thì không. Suy nghĩ phải được thổi bùng lên, giống như ngọn lửa nhờ luồng gió lùa; nó phải được duy trì bởi một sự quan tâm nào đó đối với vấn đề đang đối mặt. Sự quan tâm này có thể hoàn toàn mang tính khách quan, hoặc thuần túy chủ quan. Loại sau chỉ phát huy tác dụng trong những vấn đề liên quan đến cá nhân chúng ta. Loại khách quan thì bị giới hạn ở những cái đầu sinh ra để suy nghĩ; đối với họ, việc suy nghĩ tự nhiên như hơi thở; và họ là những người rất hiếm hoi. Đó là lý do tại sao hầu hết những người có học lại thể hiện phẩm chất này ít ỏi đến thế.

    Thật khó tin khi thấy việc tự mình suy nghĩ lại tạo ra một hệ quả khác biệt đến nhường nào lên tâm trí, so với việc đọc. Nó tiếp nối và khuếch đại sự khác biệt nguyên thủy trong bản chất của hai kiểu tâm trí: một loại hướng đến việc suy nghĩ và loại kia hướng đến việc đọc. Điều tôi muốn nói là, việc đọc cưỡng bách những ý nghĩ xa lạ vào tâm trí—những ý nghĩ vốn hoàn toàn xa lạ với dòng chảy và tâm trạng hiện tại của tâm trí, giống như con dấu đóng lên sáp để lại vệt hằn. Do đó, tâm trí hoàn toàn bị áp đặt từ bên ngoài; nó bị lùa đi để nghĩ về điều này hay điều kia, dù cho lúc đó nó có thể không hề có một chút thôi thúc hay hứng thú nào để làm vậy.

    Nhưng khi một người tự mình suy nghĩ, anh ta tuân theo sự thôi thúc của chính tâm trí mình, điều được xác định cho anh ta vào thời điểm đó, hoặc bởi môi trường xung quanh, hoặc bởi một hồi ức cụ thể nào đó. Thế giới hữu hình xung quanh một người không in hằn một ý nghĩ duy nhất và xác định lên tâm trí anh ta như việc đọc sách làm, mà chỉ cung cấp chất liệu và cơ hội dẫn dắt anh ta suy nghĩ những gì phù hợp với bản tính và tâm trạng hiện tại của mình. Chính vì thế, đọc quá nhiều sẽ tước đi mọi sự đàn hồi của tâm trí; giống như việc liên tục giữ một chiếc lò xo dưới áp lực. Cách an toàn nhất để không có bất kỳ ý nghĩ nào của riêng mình là cầm một cuốn sách lên vào mọi khoảnh khắc ta không có việc gì khác để làm. Chính thói quen này giải thích tại sao sự uyên bác lại khiến hầu hết con người trở nên ngu ngốc và ngớ ngẩn hơn so với bản chất tự nhiên của họ, và ngăn cản các tác phẩm của họ đạt được bất kỳ mức độ thành công nào. Họ mãi mãi mang dáng vẻ, như lời của Pope:

    Mãi mãi đọc sách, chẳng bao giờ được ai đọc!

    Những người có học là những kẻ đã thực hiện việc đọc của mình trên các trang sách. Còn những nhà tư tưởng và những bậc thiên tài là những người đi thẳng đến cuốn sách của Tự nhiên; chính họ là những người đã khai sáng thế giới và đưa nhân loại tiến xa hơn trên con đường của mình. Nếu những suy nghĩ của một người muốn có được chân lý và sức sống trong đó, thì rốt cuộc, chúng phải là những suy nghĩ cốt lõi của chính anh ta; bởi đây là những suy nghĩ duy nhất mà anh ta có thể hiểu một cách toàn vẹn và trọn vẹn. Đọc suy nghĩ của người khác giống như ăn đồ thừa của một bữa tiệc mà ta không được mời, hoặc mặc lại bộ quần áo mà một vị khách vô danh nào đó đã cởi ra. Suy nghĩ mà ta đọc so với suy nghĩ nảy mầm trong chính chúng ta, giống như dấu vết hóa thạch của một loài cây tiền sử so với một cái cây đang đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân.

    Đọc sách không là gì khác ngoài một sự thay thế cho việc tự mình suy nghĩ. Nó đồng nghĩa với việc đặt tâm trí vào những sợi dây dắt mũi. Vô số sách vở chỉ phục vụ mục đích cho thấy có biết bao ngã rẽ sai lầm, và một người có thể đi lạc xa đến đâu nếu đi theo bất kỳ ngã rẽ nào trong số đó. Nhưng người được dẫn dắt bởi thiên tài của chính mình, người tự suy nghĩ, người suy nghĩ một cách tự phát và chính xác, sẽ sở hữu chiếc la bàn duy nhất giúp anh ta đi đúng hướng. Một người chỉ nên đọc khi những suy nghĩ của chính anh ta bị đình trệ ngay tại cội nguồn, điều vốn dĩ cũng sẽ xảy ra thường xuyên ngay cả với những bộ óc vĩ đại nhất. Mặt khác, cầm một cuốn sách lên nhằm mục đích xua đuổi những suy nghĩ nguyên bản của chính mình là một tội lỗi chống lại Thánh Linh. Việc đó chẳng khác nào chạy trốn khỏi Tự nhiên để vào xem một bảo tàng toàn những loài cây khô ép lá, hay ngắm nhìn một bức phong cảnh được khắc trên bản đồng.

    Một người có thể đã khám phá ra một phần chân lý hay sự khôn ngoan nào đó, sau khi dành rất nhiều thời gian và công sức để tự mình suy ngẫm và chắp nối hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác; và đôi khi có thể xảy ra trường hợp anh ta đã có thể tìm thấy toàn bộ những điều đó sẵn sàng trong một cuốn sách và đỡ tốn công nhọc sức. Nhưng ngay cả như vậy, điều đó vẫn có giá trị gấp trăm lần nếu anh ta có được nó bằng cách tự mình suy nghĩ. Bởi vì chỉ khi ta đạt được tri thức theo cách này, nó mới đi vào như một phần tích hợp, một thành tố sống động, trong toàn bộ hệ thống tư duy của chúng ta; nó mới đứng trong mối liên hệ hoàn chỉnh và vững chắc với những gì chúng ta đã biết; nó mới được thấu hiểu cùng với mọi nền tảng và hệ quả của nó; nó mới mang màu sắc, sắc độ chính xác, và dấu ấn phân biệt của cách tư duy của riêng ta; nó mới đến đúng lúc, ngay khi ta cảm thấy sự cần thiết của nó; nó mới bám rễ vững chắc và không thể bị lãng quên. Đây là sự ứng dụng hoàn hảo, hay đúng hơn, là sự diễn giải lời khuyên của Goethe về việc hãy tự mình giành lấy tài sản thừa kế để có thể thực sự sở hữu nó:

    Was due ererbt von deinen Välern hast,

    Erwirb es, um es zu besitzen.

    Người tự suy nghĩ hình thành quan điểm của riêng mình, và chỉ tìm hiểu những thế giá (sách vở/học giả) ủng hộ chúng về sau, khi những thế giá ấy chỉ phục vụ mục đích củng cố niềm tin của anh ta vào chúng và vào chính mình. Nhưng triết gia-mọt sách thì bắt đầu từ những thế giá. Anh ta đọc sách của người khác, thu thập quan điểm của họ, và từ đó nhào nặn thành một tổng thể cho riêng mình, thứ giống như một cỗ máy tự động được tạo nên từ bất cứ vật liệu gì ngoại trừ máu thịt. Ngược lại, người tự suy nghĩ tạo ra một tác phẩm giống như một con người sống động do Tự nhiên nhào nặn. Bởi tác phẩm ấy ra đời y hệt như cách một con người ra đời; tâm trí tư duy thụ thai từ bên ngoài, rồi tự nó hình thành và mang nặng đẻ đau đứa con của mình.

    Chân lý chỉ học vẹt mà có giống như một cái chân giả, một chiếc răng giả, một cái mũi sáp; cùng lắm cũng chỉ như một cái mũi được đắp từ thịt của người khác; nó gắn vào ta chỉ vì nó được dán lên. Nhưng chân lý đạt được bằng tư duy của chính mình thì giống như một chi thể tự nhiên; chỉ có nó mới thực sự thuộc về chúng ta. Đây là sự khác biệt nền tảng giữa nhà tư tưởng và kẻ chỉ có học vấn đơn thuần. Thành tựu trí tuệ của một người tự suy nghĩ giống như một bức họa tuyệt đẹp, nơi ánh sáng và bóng tối chuẩn xác, tông màu ổn định, màu sắc hòa quyện hoàn hảo; nó chân thực với cuộc sống. Trái lại, thành tựu trí tuệ của kẻ chỉ có học vấn đơn thuần giống như một bảng pha màu khổng lồ, đầy đủ mọi loại màu sắc, cùng lắm là được sắp xếp một cách có hệ thống, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng sự hài hòa, tính liên kết và ý nghĩa.

    Đọc sách là suy nghĩ bằng cái đầu của người khác thay vì cái đầu của mình. Suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình luôn nhắm đến việc phát triển một tổng thể mạch lạc—một hệ thống, dẫu nó chưa thực sự hoàn chỉnh nghiêm ngặt; và không gì cản trở điều này nhiều bằng một luồng ý nghĩ quá mạnh mẽ từ người khác, như hệ quả của việc đọc sách liên tục. Những ý nghĩ này, mỗi ý nghĩ nảy sinh từ một tâm trí khác nhau, thuộc về các hệ thống khác nhau, và được nhuốm bằng những màu sắc khác nhau, không bao giờ tự thân chúng chảy vào nhau để tạo thành một tổng thể trí tuệ; chúng không bao giờ hình thành một sự thống nhất về tri thức, hay thấu suốt, hay niềm tin; mà thay vào đó, chúng lấp đầy cái đầu bằng một mớ ngôn ngữ hỗn độn kiểu tháp Babel. Tâm trí bị chất quá tải bởi những ý nghĩ xa lạ do đó bị tước đoạt đi mọi sự thấu suốt rõ ràng, và gần như trở nên vô tổ chức. Đây là trạng thái có thể quan sát thấy ở rất nhiều người có học; và điều đó khiến họ thua kém về lẽ phải thông thường, óc phán đoán chuẩn xác và sự nhạy bén thực tế so với nhiều người thất học, những người, sau khi tiếp thu một chút tri thức từ bên ngoài thông qua kinh nghiệm, giao tiếp với người khác, và đọc một lượng ít ỏi, đã luôn biết cách đặt nó dưới sự phục tùng và hòa nhập nó vào tư duy của chính mình.

    Nhà tư tưởng khoa học đích thực cũng làm điều tương tự như những người thất học này, nhưng ở một quy mô lớn hơn. Dù anh ta cần nhiều tri thức, và vì thế phải đọc rất nhiều, tâm trí anh ta vẫn đủ mạnh mẽ để làm chủ tất thảy, đồng hóa và hợp nhất nó vào hệ thống tư duy của mình, và do đó khiến nó ăn khớp với tính thống nhất hữu cơ trong sự thấu suốt của anh ta, thứ mà dù rộng lớn, vẫn luôn không ngừng trưởng thành. Và trong quá trình đó, tư duy của chính anh ta, giống như âm trầm trong một cây đại phong cầm, luôn thống trị mọi thứ và không bao giờ bị chìm lấp bởi những âm sắc khác, như những gì xảy ra với các tâm trí chỉ chứa đầy những mớ kiến thức đồ cổ đơn thuần; nơi những mảnh vụn âm nhạc, có thể nói như vậy, ở mọi cung bậc, hòa lẫn lộn xộn vào nhau, và chẳng thể nghe thấy một nốt nhạc chủ đạo nào.

    Những kẻ dành cả đời để đọc, và rút ra sự khôn ngoan từ sách vở, giống như những người có được thông tin chính xác về một đất nước qua những lời miêu tả của vô số lữ khách. Những người như vậy có thể kể lể rất nhiều về nó; nhưng, rốt cuộc, họ chẳng có một sự hiểu biết liền mạch, rõ ràng và sâu sắc nào về tình trạng thực sự của đất nước ấy. Ngược lại, những ai dành cả đời để suy nghĩ, lại giống như chính những vị lữ khách đó; chỉ có họ mới thực sự biết mình đang nói về điều gì; họ quen thuộc với tình trạng thực tế của vấn đề, và hoàn toàn am hiểu chủ đề đó như ở ngay trong nhà mình.

    Mối quan hệ giữa nhà tư tưởng và những triết gia-mọt sách thông thường cũng hệt như mối quan hệ giữa một nhân chứng mắt thấy tai nghe và một nhà sử học; anh ta nói từ chính sự hiểu biết trực tiếp của mình. Đó là lý do tại sao tất cả những ai tự mình suy nghĩ đều đi đến cùng một kết luận cốt lõi. Những khác biệt họ đưa ra là do lăng kính góc nhìn khác nhau; và khi những điều này không ảnh hưởng đến bản chất vấn đề, họ đều nói giống nhau. Họ chỉ đơn thuần diễn đạt kết quả của sự nhận thức khách quan của chính họ về vạn vật. Có rất nhiều đoạn trong tác phẩm của tôi mà tôi chỉ đưa ra công chúng sau đôi chút ngần ngại, vì tính chất nghịch lý của chúng; và sau này tôi đã trải qua một sự ngạc nhiên thú vị khi tìm thấy cùng một quan điểm như thế được ghi lại trong tác phẩm của những vĩ nhân đã sống từ thời xa xưa.

    Triết gia-mọt sách chỉ đơn thuần báo cáo lại người này đã nói gì và người kia có ý gì, hoặc những lời phản bác do người thứ ba đưa ra, v.v… Anh ta so sánh các quan điểm khác nhau, cân nhắc, chỉ trích, và cố gắng chạm đến chân lý của vấn đề; ở điểm này anh ta ngang hàng với một nhà sử học phê phán. Ví dụ, anh ta sẽ bắt tay vào việc điều tra xem liệu Leibnitz có từng là một môn đệ của Spinoza trong một thời gian hay không, và những câu hỏi có tính chất tương tự. Một sinh viên tò mò về những vấn đề như vậy có thể tìm thấy những ví dụ nổi bật cho điều tôi muốn nói trong cuốn Làm rõ mang tính phân tích về Đạo đức và Quyền Tự nhiên (Analytical Elucidation of Morality and Natural Right) của Herbart, và trong cuốn Những bức thư về Tự do (Letters on Freedom) cũng của chính tác giả này. Có thể ta sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi một người như thế lại phải tự rước lấy bao phiền toái nhường ấy; bởi vì, nhìn ở bề ngoài, nếu anh ta chỉ việc tự mình khảo sát vấn đề, anh ta sẽ nhanh chóng đạt được mục đích của mình bằng cách vận dụng một chút suy tư. Nhưng có một rào cản nhỏ ngáng đường. Điều đó không phụ thuộc vào ý chí của riêng anh ta. Một người lúc nào cũng có thể ngồi xuống và đọc, nhưng không thể ngồi xuống và—nghĩ. Ý nghĩ cũng giống như con người; không phải lúc nào ta cũng có thể triệu hồi chúng theo ý muốn; ta phải đợi chúng đến. Suy nghĩ về một vấn đề phải tự nó xuất hiện, bằng sự kết hợp hài hòa và may mắn giữa kích thích bên ngoài với tâm trạng và sự tập trung của trí óc; và đó chính xác là thứ dường như chẳng bao giờ tìm đến với những người này.

    Chân lý này có thể được minh họa bằng những gì diễn ra trong các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân của chúng ta. Khi cần phải đưa ra một quyết định trong một vấn đề loại đó, ta không thể cứ ngồi xuống vào bất kỳ khoảnh khắc nào rồi cân nhắc các mặt lợi hại của vấn đề và chốt lại quyết định; bởi vì, nếu cố gắng làm vậy, ta thường thấy mình không thể, tại chính khoảnh khắc đó, giữ cho tâm trí tập trung vào chủ đề; nó sẽ lang thang sang những chuyện khác. Đôi khi, chính sự ác cảm với vấn đề đó lại là nguyên nhân. Trong một trường hợp như vậy, ta không nên dùng sức ép, mà hãy chờ đợi cho một trạng thái tâm trí phù hợp tự tìm đến. Nó thường đến một cách bất ngờ và trở đi trở lại nhiều lần; và sự đa dạng trong tâm trạng mà chúng ta dùng để tiếp cận vấn đề ở những thời điểm khác nhau luôn đặt vấn đề đó dưới một lăng kính mới mẻ. Quá trình lâu dài này chính là điều được hiểu qua thuật ngữ một quyết định chín muồi. Vì quá trình đi đến một quyết định phải được dàn trải ra; và trong quá trình đó, nhiều điều bị bỏ sót ở khoảnh khắc này sẽ nảy ra trong tâm trí ta ở khoảnh khắc khác; và sự miễn cưỡng sẽ tan biến khi ta nhận ra, như ta thường thấy khi xem xét kỹ lưỡng hơn, rằng mọi chuyện không quá tồi tệ như ta tưởng.

    Quy luật này áp dụng cho đời sống tri thức cũng giống như các vấn đề thực tiễn. Một người phải chờ đợi thời cơ thích hợp. Ngay cả bộ óc vĩ đại nhất cũng không có khả năng tự suy nghĩ ở mọi thời điểm. Do đó, một bộ óc vĩ đại nên dành thời gian nhàn rỗi để đọc, điều mà như tôi đã nói, là một sự thay thế cho tư duy; nó mang chất liệu đến cho tâm trí bằng cách để người khác làm công việc suy nghĩ thay ta; mặc dù việc đó luôn được thực hiện theo một cách thức không phải của riêng ta. Vì vậy, một người không nên đọc quá nhiều, để tâm trí không bị quen với thứ đồ giả và nhờ đó mà quên đi thứ thật; để nó không hình thành thói quen bước đi trên những lối mòn đã mòn vẹt; hay vì mải mê theo đuổi một dòng tư duy ngoại lai mà trở nên xa lạ với chính mình. Ít nhất là một người không bao giờ nên rút hẳn tầm mắt khỏi thế giới thực tại chỉ vì mục đích đọc sách; vì sự thôi thúc và tâm trạng để khơi gợi những suy nghĩ của riêng ta đến từ thế giới thực tại nhiều hơn hẳn so với từ thế giới sách vở. Cuộc sống thực tế mà một người nhìn thấy trước mắt là đối tượng tự nhiên của tư duy; và với sức mạnh của nó như là yếu tố cơ bản của sự tồn tại, nó có thể dễ dàng hơn bất cứ thứ gì khác trong việc đánh thức và gây ảnh hưởng lên tâm trí tư duy.

    Sau những sự xem xét này, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi một người tự suy nghĩ có thể dễ dàng được phân biệt với một triết gia-mọt sách thông qua chính cách mà anh ta trò chuyện, bằng sự nghiêm túc rõ rệt, và tính nguyên bản, sự trực diện, cùng niềm tin cá nhân được in dấu trên mọi suy nghĩ và cách diễn đạt của anh ta. Mặt khác, triết gia-mọt sách lại để lộ ra rằng mọi thứ anh ta có đều là đồ cũ [second-hand]; rằng những ý tưởng của anh ta giống như đống hàng họ và rác rưởi của một cửa hàng đồ nội thất cũ, được gom nhặt từ khắp mọi nơi. Về mặt tinh thần, anh ta đần độn và vô vị—một bản sao của một bản sao. Văn phong của anh ta được tạo thành từ những sáo ngữ rập khuôn, thậm chí là thô tục, và những thuật ngữ tình cờ đang thịnh hành; ở khía cạnh này, anh ta rất giống với một Tiểu bang nhỏ bé nơi tất cả lượng tiền lưu thông đều là tiền ngoại quốc, vì nó không có đồng tiền riêng của mình.

    Kinh nghiệm đơn thuần, cũng ít ỏi y như việc đọc, không thể thay thế cho tư duy. Nó đứng trong cùng một mối quan hệ với tư duy giống như việc ăn uống đối với quá trình tiêu hóa và đồng hóa. Khi kinh nghiệm khoác lác rằng chỉ nhờ vào những khám phá của nó mà nhân loại mới tiến bộ, thì điều đó chẳng khác nào cái miệng lớn tiếng tự nhận toàn bộ công lao trong việc duy trì một cơ thể khỏe mạnh.

    Tác phẩm của tất cả những bộ óc thực sự xuất chúng được phân biệt bởi một nét tính cách của sự quyết đoántính dứt khoát, nghĩa là chúng rõ ràng và không hề có sự tối tăm. Một bộ óc thực sự xuất chúng luôn biết chắc chắn và rõ ràng điều mà nó muốn diễn đạt, bất kể phương tiện là văn xuôi, thơ ca hay âm nhạc. Những bộ óc khác không có sự quyết đoán và dứt khoát; và nhờ đó người ta có thể nhận ra chân tướng của chúng.

    Dấu hiệu đặc trưng của một bộ óc bậc nhất là nó luôn phán xét ở ngôi thứ nhất. Mọi điều nó đưa ra đều là kết quả của việc tự tư duy; và điều này hiển hiện rõ ràng ở mọi nơi qua cách nó thốt lên những suy nghĩ của mình. Một bộ óc như vậy giống như một Vị Quân Vương. Trong vương quốc trí tuệ, thẩm quyền của nó là thẩm quyền đế vương, trong khi thẩm quyền của những bộ óc bậc thấp hơn chỉ là thẩm quyền được ủy nhiệm; như có thể thấy trong văn phong của họ, thứ không có một dấu ấn độc lập nào của riêng mình.

    Mọi người thực sự tự suy nghĩ do đó đều giống như một vị quân vương. Vị thế của anh ta không do ai ủy quyền và là vị thế tối cao. Các phán quyết của anh ta, giống như các sắc lệnh hoàng gia, bắt nguồn từ chính quyền lực tối cao của anh ta và tiến thẳng từ chính bản thân anh ta. Anh ta ít thừa nhận thế giá (authority) cũng như một vị quân vương không chấp nhận một mệnh lệnh nào; anh ta không phục tùng bất cứ điều gì ngoại trừ những gì chính anh ta đã ban quyền. Đám đông những bộ óc tầm thường, chật vật dưới đủ mọi loại dư luận, thế giá, thành kiến hiện hành, thì giống như thần dân, ngoan ngoãn tuân theo luật pháp và nhận lệnh từ cấp trên.

    Những kẻ quá hăng hái và háo hức muốn giải quyết các câu hỏi tranh luận bằng cách trích dẫn các thế giá, thực chất là đang vui mừng khi họ có thể đưa sự hiểu biết và thấu suốt của người khác ra trận mạc để thay cho sự hiểu biết của chính họ, thứ vốn dĩ đang khuyết thiếu. Số lượng của họ nhiều vô kể. Bởi vì, như Seneca đã nói, không ai lại không thích tin tưởng hơn là phải rèn luyện khả năng phán đoán—unusquisque mavult credere quam judicare. Trong các cuộc tranh luận của mình, những người như vậy sử dụng vũ khí thế giá một cách lộn xộn, và lấy đó làm đòn giáng vào nhau. Nếu có ai tình cờ bị cuốn vào một cuộc thi thố như vậy, anh ta nên biết điều mà đừng sử dụng lý trí và lập luận như một phương thức phòng thủ; vì đối mặt với một loại vũ khí như thế, những người này giống như những gã Siegfried (nhân vật thần thoại Đức mình đồng da sắt), với lớp da sừng, và được ngâm mình trong dòng lũ của sự bất lực trong việc tư duy và phán xét. Họ sẽ đáp trả cuộc tấn công của anh ta bằng cách mang các thế giá của họ ra như một cách làm anh ta bẽ mặt—argumentum ad verecundiam, và rồi gào lên rằng họ đã thắng trận.

    Trong thế giới thực, dẫu nó có công bằng, thuận lợi và dễ chịu đến đâu, chúng ta luôn phải sống phục tùng định luật trọng trường mà ta phải không ngừng vượt qua. Nhưng trong thế giới tri thức, chúng ta là những linh hồn thoát xác, không bị xiềng xích bởi bất kỳ định luật nào như vậy, và thoát khỏi cảnh bần cùng và đau khổ. Vì vậy, trên cõi đời này không có niềm hạnh phúc nào giống như niềm hạnh phúc mà, vào thời khắc thuận lợi, một bộ óc tinh tế và phong phú tìm thấy trong chính nó.

    Sự hiện diện của một ý nghĩ giống như sự hiện diện của một người phụ nữ ta yêu. Ta ảo tưởng rằng ta sẽ không bao giờ quên đi ý nghĩ đó hay trở nên dửng dưng với người yêu dấu. Nhưng xa mặt thì cách lòng! Ý nghĩ tuyệt diệu nhất có nguy cơ bị lãng quên vĩnh viễn nếu ta không viết nó xuống, và người yêu dấu có nguy cơ bị bỏ rơi nếu ta không cưới nàng.

    Có rất nhiều ý nghĩ có giá trị đối với chính người đã nghĩ ra chúng; nhưng chỉ một vài trong số đó có đủ sức mạnh để tạo ra hành động dội lại hoặc phản xạ—ý tôi là, để giành được sự đồng cảm của độc giả sau khi chúng được đưa lên trang giấy.

    Nhưng dù vậy, không được quên rằng một giá trị đích thực chỉ gắn liền với những gì một người đã nghĩ ra ngay từ đầu cho chính bản thân anh ta. Các nhà tư tưởng có thể được phân loại tùy theo việc họ suy nghĩ chủ yếu cho bản thân họ hay cho người khác. Những người thuộc nhóm thứ nhất là những nhà tư tưởng độc lập chân chính; họ thực sự suy nghĩ và thực sự độc lập; họ là những triết gia đích thực; chỉ có họ mới thực sự nghiêm túc. Niềm vui và hạnh phúc trong sự tồn tại của họ bao gồm việc suy nghĩ. Nhóm còn lại là những ngụy biện gia; họ muốn tỏ ra là những gì họ không phải, và tìm kiếm hạnh phúc trong những gì họ hy vọng sẽ nhận được từ thế giới. Họ chẳng nghiêm túc về bất cứ điều gì khác. Một người thuộc về nhóm nào có thể được nhìn thấy qua toàn bộ văn phong và cung cách của anh ta. Lichtenberg là một ví dụ cho nhóm thứ nhất; còn Herder, không còn nghi ngờ gì nữa, thuộc về nhóm thứ hai.

    Khi một người xem xét việc vấn đề về sự tồn tại lớn lao và gần gũi với chúng ta đến nhường nào—sự tồn tại đầy mơ hồ, đớn đau, phù du, tựa như giấc mộng này của chúng ta—lớn lao và gần gũi đến mức một khi một người phát hiện ra nó, nó sẽ lập tức che bóng và làm lu mờ mọi vấn đề và mục tiêu khác; và khi một người thấy tất cả mọi người, chỉ trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, đều không có ý thức rõ ràng về vấn đề này, hay nói đúng hơn, dường như hoàn toàn không nhận ra sự hiện diện của nó, mà lại bận rộn với mọi thứ khác ngoài điều này, và cứ sống tiếp, không mảy may suy nghĩ gì ngoài những ngày đang trôi qua và cái nhịp tương lai cá nhân chẳng dài hơn là bao của chính họ, hoặc là dứt khoát gạt bỏ vấn đề sang một bên, hoặc là quá dễ dãi thỏa hiệp với nó bằng cách chấp nhận một hệ thống siêu hình học bình dân nào đó và để nó làm họ thỏa mãn; khi, tôi nói, một người khắc cốt ghi tâm tất cả những điều này, anh ta có thể đi đến nhận định rằng con người chỉ có thể được gọi là một sinh vật tư duy theo một nghĩa rất xa xôi, và từ đó trở đi sẽ không cảm thấy đặc biệt ngạc nhiên trước bất kỳ đặc điểm nào của sự vô tâm hay sự ngu xuẩn của con người; mà thay vào đó, hiểu rằng, tầm nhìn trí tuệ của một người bình thường quả thực có vượt xa tầm nhìn của một con thú (kẻ mà toàn bộ sự tồn tại của nó, có thể nói, là một hiện tại liên tục, không có ý thức về quá khứ hay tương lai), nhưng khoảng cách đó không hề xa vời vợi như người ta vẫn thường lầm tưởng.

    Điều này, trên thực tế, được chứng thực qua cách mà hầu hết mọi người giao tiếp; nơi những suy nghĩ của họ được nhận thấy là bị băm nhỏ nát vụn, như vỏ trấu, đến mức họ không thể kéo dài một cuộc đàm luận về bất cứ độ dài nào.

    Nếu thế giới này được lấp đầy bởi những sinh vật thực sự biết tư duy, thì không thể nào đủ mọi loại tiếng ồn lại được cho phép hoạt động với những giới hạn rộng rãi như thế, như trường hợp của dạng tiếng ồn kinh khủng nhất và đồng thời cũng vô mục đích nhất này. Nếu Tự nhiên có ý định để con người tư duy, bà đã không ban cho họ đôi tai; hoặc, ít nhất, bà cũng đã trang bị cho chúng những cái nắp đậy kín hơi, giống như vật sở hữu đáng ghen tị của loài dơi. Nhưng, thực ra, con người cũng chỉ là một loài động vật tội nghiệp như bao loài khác, và sức mạnh của họ chỉ nhằm duy trì họ trong cuộc đấu tranh sinh tồn; do đó, họ cần phải luôn mở to đôi tai, để chúng tự động báo động, bất kể ngày đêm, khi kẻ săn mồi đang đến gần.

    Trong kịch nghệ, vốn là sự phản chiếu hoàn hảo nhất của sự tồn tại con người, có ba giai đoạn trong việc trình bày chủ đề, với sự đa dạng tương ứng trong thiết kế và phạm vi của tác phẩm.

    Ở giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn phổ biến nhất, vở kịch không bao giờ là cái gì hơn ngoài sự thú vị. Các nhân vật thu hút sự chú ý của ta bằng cách theo đuổi các mục tiêu của riêng họ, những mục tiêu giống với chúng ta; hành động tiến triển thông qua mưu mô và sự diễn xuất của tính cách cũng như sự cố; trong khi đó sự hóm hỉnh và sự chế giễu làm gia vị cho toàn bộ tác phẩm.

    Ở giai đoạn thứ hai, vở kịch trở nên đa cảm. Sự cảm thông được khơi dậy với người anh hùng và, một cách gián tiếp, với chính chúng ta. Hành động chuyển sang một bước ngoặt cảm động; nhưng kết cục thì yên bình và thỏa đáng.

    Đỉnh điểm đạt được ở giai đoạn thứ ba, cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Ở đó, vở kịch nhắm đến tính bi kịch. Chúng ta bị đưa ra đối mặt với những đau khổ lớn lao và những giông tố, căng thẳng của sự tồn tại; và kết quả của nó là để phơi bày sự phù phiếm của mọi nỗ lực con người. Bị xúc động sâu sắc, chúng ta hoặc là được thúc giục trực tiếp rút lui ý chí của mình khỏi cuộc đấu tranh của cuộc sống, hoặc là một hợp âm nào đó trong ta bị rung lên để vang vọng một cảm giác tương tự.

    Người ta nói, vạn sự khởi đầu nan. Trong kịch nghệ thì điều ngược lại mới đúng; đối với chúng, cái khó luôn nằm ở phần kết. Điều này được chứng minh bởi vô số vở kịch hứa hẹn rất tốt ở một hoặc hai hồi đầu, và sau đó trở nên lộn xộn, mắc kẹt hoặc lảo đảo—nổi tiếng là ở hồi thứ tư—và cuối cùng kết thúc theo một cách gượng ép, hoặc không thỏa đáng, hoặc đã được mọi người đoán trước từ lâu. Đôi khi, phần kết lại thực sự gây phẫn nộ, như trong vở Emilia Galotti của Lessing, thứ đã tống khán giả về nhà trong sự bực tức.

    Khó khăn này đối với phần kết của một vở kịch nảy sinh một phần là vì ở đâu cũng vậy, làm rối tung mọi thứ thì dễ hơn nhiều so với việc gỡ rối chúng ra; một phần cũng vì lúc đầu chúng ta cho tác giả carte blanche [toàn quyền] để làm bất cứ điều gì anh ta thích, nhưng, vào phút cuối, chúng ta lại đặt ra những đòi hỏi nhất định và rõ ràng đối với anh ta. Do đó, chúng ta yêu cầu một kết cục phải hoàn toàn hạnh phúc hoặc phải hoàn toàn bi kịch; trong khi những chuyện của con người lại không dễ dàng rẽ sang một bước ngoặt rõ ràng như thế; và rồi chúng ta mong đợi rằng nó phải tự nhiên, phù hợp và đúng đắn, không chút gượng ép, và đồng thời không ai đoán trước được.

    Những nhận xét này cũng có thể áp dụng cho sử thi và tiểu thuyết; nhưng bản chất cô đọng hơn của kịch nghệ khiến khó khăn này trở nên rõ ràng hơn bằng cách nhân nó lên.

    E nihilo nihil fit. Rằng không có gì có thể sinh ra từ hư vô là một phương châm đúng trong mỹ thuật cũng như ở những nơi khác. Trong việc sáng tác một bức tranh lịch sử, một họa sĩ giỏi sẽ dùng những người sống làm người mẫu, và lấy cấu trúc cơ bản của khuôn mặt từ đời thực; và sau đó tiến hành lý tưởng hóa chúng về mặt vẻ đẹp hay biểu cảm. Một phương pháp tương tự, tôi tưởng tượng, được các tiểu thuyết gia giỏi áp dụng. Khi phác họa một nhân vật, họ lấy những nét phác thảo chung của nó từ một người thực nào đó mà họ quen biết, và sau đó lý tưởng hóa và hoàn thiện nó cho phù hợp với mục đích của mình.

    Một cuốn tiểu thuyết sẽ thuộc về một đẳng cấp cao và cao quý hơn, nếu nó càng thể hiện nhiều đời sống bên trong, và càng ít thể hiện đời sống bên ngoài; và tỷ lệ giữa hai yếu tố này sẽ cung cấp một phương tiện để phán xét bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào, dù thuộc thể loại nào, từ cuốn Tristram Shandy cho đến câu chuyện thô sơ và giật gân nhất về hiệp sĩ hay tên cướp. Tristram Shandy, quả thực, gần như không có cốt truyện/hành động nào; và trong La Nouvelle HeloïseWilhelm Meister cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Thậm chí Don Quixote cũng có tương đối ít; và những gì có ở đó, lại rất không quan trọng, và được đưa vào chỉ vì mục đích gây cười. Và bốn tác phẩm này là những cuốn tiểu thuyết hay nhất trong tất cả các tiểu thuyết hiện có.

    Hơn nữa, hãy xem xét những câu chuyện lãng mạn tuyệt vời của Jean Paul, và xem biết bao nhiêu đời sống nội tâm được phô diễn trên một cái nền hẹp nhất của các sự kiện thực tế. Ngay cả trong các cuốn tiểu thuyết của Walter Scott cũng có một sự áp đảo lớn của đời sống nội tâm so với bên ngoài, và các sự cố không bao giờ được đưa vào ngoại trừ mục đích tạo không gian cho suy nghĩ và cảm xúc phát huy; trong khi đó, ở những cuốn tiểu thuyết tồi, sự cố lại hiện diện vì lợi ích của chính nó. Kỹ năng nằm ở việc làm cho đời sống nội tâm chuyển động với một mảng tình tiết nhỏ nhất có thể; vì chính đời sống nội tâm này mới là thứ thực sự kích thích sự hứng thú của chúng ta.

    Nhiệm vụ của tiểu thuyết gia không phải là kể những sự kiện lớn lao, mà là làm cho những sự kiện nhỏ bé trở nên thú vị.

    Lịch sử, môn mà tôi thích nghĩ đến như là sự đối lập với thi ca [tiếng Hy Lạp: istoroumenon—pepoiaemenon (những gì được kể lại—những gì được sáng tạo ra)], đối với thời gian cũng giống như địa lý đối với không gian; và nó cũng chẳng đáng được gọi là một môn khoa học, theo bất kỳ nghĩa nghiêm ngặt nào của từ này, hơn gì môn địa lý, bởi vì nó không giải quyết những chân lý phổ quát, mà chỉ giải quyết những chi tiết cụ thể. Lịch sử luôn là môn học yêu thích của những ai muốn học một cái gì đó, mà không phải đối mặt với nỗ lực đòi hỏi bởi bất kỳ nhánh tri thức thực sự nào, thứ gây áp lực lên trí thông minh. Vào thời đại chúng ta, lịch sử là một sự theo đuổi được yêu thích; minh chứng là vô số cuốn sách về chủ đề này xuất hiện mỗi năm.

    Nếu độc giả không thể không nghĩ giống như tôi, rằng lịch sử chỉ là sự lặp lại liên tục của những điều tương tự, giống như trong một kính vạn hoa nơi cùng những mảnh kính vỡ được đại diện, nhưng trong những tổ hợp khác nhau, anh ta sẽ không thể chia sẻ tất cả sự hứng thú sống động này; tuy nhiên, anh ta cũng sẽ không chỉ trích nó. Nhưng có một đòi hỏi lố bịch và vô lý, do nhiều người đưa ra, là coi lịch sử như một phần của triết học, hay nói đúng hơn, như chính triết học; họ ảo tưởng rằng lịch sử có thể chiếm lấy vị trí của nó.

    Sự ưu ái dành cho lịch sử của đông đảo công chúng trong mọi thời đại có thể được minh họa qua kiểu trò chuyện rất thịnh hành ở khắp mọi nơi trong xã hội. Nó thường bao gồm việc một người kể lể một điều gì đó và sau đó một người khác lại kể lể một điều gì khác; nhờ vậy theo cách này, mọi người đều chắc chắn nhận được sự chú ý. Cả ở đây và trong trường hợp của lịch sử, rõ ràng là tâm trí bị chiếm đóng bởi những chi tiết cụ thể. Nhưng cũng giống như trong khoa học, trong bất kỳ cuộc trò chuyện xứng đáng nào, tâm trí vươn lên đến việc xem xét một chân lý chung nào đó.

    Sự phản đối này, tuy nhiên, không tước đi giá trị của lịch sử. Cuộc đời con người thì ngắn ngủi và thoáng qua, và hàng triệu triệu cá nhân chia sẻ trong đó, những người bị nuốt chửng bởi con quái vật của sự lãng quên đang chực chờ họ với bộ hàm luôn há rộng. Vì vậy, đó là một nhiệm vụ rất đáng biết ơn khi cố gắng giải cứu một điều gì đó—ký ức về những sự kiện thú vị và quan trọng, hoặc những đặc điểm và nhân vật hàng đầu của một thời đại nào đó—khỏi vụ đắm tàu chung của thế giới.

    Từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi lịch sử như phần tiếp theo của động vật học; bởi vì trong khi với tất cả các loài động vật khác, chỉ cần quan sát giống loài là đủ, thì với con người, phải nghiên cứu các cá nhân, và do đó phải nghiên cứu các sự kiện cá nhân; bởi vì mỗi con người sở hữu một tính cách như một cá thể. Và vì các cá nhân và các sự kiện là vô số kể hay không có điểm kết, một sự khiếm khuyết thiết yếu luôn gắn liền với lịch sử. Trong việc nghiên cứu nó, tất cả những gì một người học được không bao giờ góp phần làm giảm đi những gì anh ta vẫn còn phải học. Với bất kỳ môn khoa học thực sự nào, một sự hoàn hảo về tri thức, chí ít, là có thể hình dung được.

    Khi chúng ta có được sự tiếp cận với lịch sử của Trung Quốc và của Ấn Độ, sự vô tận của chủ đề này sẽ phơi bày cho chúng ta những khiếm khuyết trong việc nghiên cứu, và buộc các nhà sử học của chúng ta phải thấy rằng mục đích của khoa học là nhận ra cái nhiều trong cái một, nhận thức các quy luật trong bất kỳ ví dụ cụ thể nào, và áp dụng vào đời sống của các quốc gia một sự hiểu biết về nhân loại; chứ không phải là tiếp tục đếm các sự kiện đến vô tận.

    Có hai loại lịch sử; lịch sử chính trị và lịch sử văn học, nghệ thuật. Một cái là lịch sử của ý chí; cái kia là của trí tuệ. Cái đầu tiên là câu chuyện của nỗi bi thương, thậm chí là sự kinh hoàng: đó là hồ sơ của sự thống khổ, đấu tranh, lừa lọc, và những cuộc thảm sát đẫm máu hàng loạt. Cái thứ hai thì ở đâu cũng làm người ta hài lòng và thanh thản, giống như trí tuệ khi được để mặc cho chính nó, dẫu cho con đường của nó có thể là con đường của sai lầm. Nhánh chính của nó là lịch sử triết học. Đây, trên thực tế, là âm trầm nền tảng của nó, và những nốt nhạc của nó được nghe thấy ngay cả trong loại lịch sử kia. Những tông trầm sâu thẳm này dẫn dắt việc định hình quan điểm, và quan điểm thống trị thế giới. Vì vậy, triết học, nếu được hiểu đúng, là một thế lực vật chất thuộc loại hùng mạnh nhất, mặc dù nó hoạt động rất chậm chạp. Triết lý của một thời đại do đó chính là âm trầm nền tảng cho lịch sử của nó.

    TỜ BÁO là chiếc kim giây trên đồng hồ của lịch sử; và nó không chỉ được làm từ kim loại rẻ tiền hơn so với những kim chỉ phút và giờ, mà nó còn hiếm khi chỉ đúng.

    Cái gọi là bài xã luận chính là dàn đồng ca cho vở kịch của những sự kiện đang diễn ra.

    Sự cường điệu dưới mọi hình thức đều thiết yếu đối với báo chí cũng như đối với nghệ thuật kịch; vì mục đích của báo chí là làm cho các sự kiện đi xa nhất có thể. Chính vì vậy mà tất cả các nhà báo, trong chính bản chất nghề nghiệp của họ, đều là những kẻ giật gân; và đây là cách họ tạo ra sự hứng thú cho những gì họ viết. Về mặt này, họ giống như những con chó nhỏ; hễ có bất cứ thứ gì nhúc nhích, chúng lập tức sủa ầm ĩ.

    Do đó, chúng ta hãy điều chỉnh một cách cẩn thận sự chú ý cần dành cho chiếc kèn báo động này, để nó không làm rối loạn sự tiêu hóa của ta. Hãy nhận thức rằng một tờ báo cùng lắm cũng chỉ là một chiếc kính lúp, và rất thường khi, chỉ là một cái bóng trên tường.

    Cây bút đối với suy nghĩ cũng giống như cây gậy đối với việc đi lại; nhưng anh đi lại dễ dàng nhất khi không dùng gậy, và anh suy nghĩ với sự hoàn hảo nhất khi không cầm bút trên tay. Chỉ khi con người bắt đầu già đi, ông ta mới thích dùng gậy và vui sướng cầm bút lên.

    Khi một giả thuyết đã một lần được sinh ra trong tâm trí, hay giành được chỗ đứng ở đó, nó sẽ dẫn dắt một đời sống ở mức độ nào đó có thể so sánh với vòng đời của một sinh vật, ở chỗ nó chỉ đồng hóa vật chất từ thế giới bên ngoài khi vật chất ấy cùng loại với nó và mang tính hữu ích; và ngược lại, khi loại vật chất ấy không cùng loại mà mang tính gây hại, giả thuyết, cũng giống y như sinh vật, sẽ vứt bỏ nó, hoặc, nếu bị ép phải hấp thụ nó, sẽ lại tống khứ nó ra một cách trọn vẹn.

    Để giành được sự bất tử, một tác giả phải sở hữu thật nhiều những phẩm chất xuất sắc đến mức, trong khi không dễ để tìm được ai có thể hiểu và trân trọng tất thảy chúng, thì ở thời đại nào cũng sẽ có những người có khả năng nhận ra và đánh giá cao một vài phẩm chất trong số đó. Bằng cách này, danh tiếng cho cuốn sách của ông ta sẽ được duy trì xuyên suốt chiều dài nhiều thế kỷ, bất chấp một thực tế rằng những mối quan tâm của con người luôn luôn thay đổi.

    Một tác giả như thế, người có quyền đòi hỏi sự tiếp nối của cuộc đời mình ngay cả với hậu thế, chỉ có thể là một người mà, trên khắp cõi địa cầu rộng lớn này, sẽ cất công tìm kiếm một người giống mình trong vô vọng, và mang đến một sự tương phản rõ rệt với mọi người khác nhờ vào sự xuất chúng không thể nhầm lẫn của mình. Thậm chí còn hơn thế nữa: nếu ông ta, giống như người Do Thái lang thang, phải sống qua nhiều thế hệ, ông ta vẫn sẽ duy trì nguyên vẹn cái vị thế bề trên ấy. Nếu không phải như vậy, sẽ thật khó để thấy lý do tại sao những suy nghĩ của ông ta lại không tàn lụi đi giống như suy nghĩ của bao người khác.

    Ẩn dụso sánh mang một giá trị rất lớn, ở chỗ chúng giải thích một mối quan hệ chưa biết bằng một mối quan hệ đã biết. Ngay cả sự so sánh chi tiết hơn vốn phát triển thành ngụ ngôn hay phúng dụ, cũng không có gì khác ngoài việc phơi bày một mối quan hệ nào đó dưới hình thức đơn giản nhất, dễ thấy nhất và dễ cảm nhận nhất. Sự phát triển của các ý tưởng dựa, ở điểm mấu chốt, vào các phép so sánh; bởi vì các ý tưởng nảy sinh thông qua một quá trình kết hợp những điểm tương đồng và bỏ qua những điểm khác biệt giữa các sự vật. Hơn nữa, trí thông minh, theo nghĩa chặt chẽ nhất của từ này, rốt cuộc bao gồm việc nắm bắt các mối quan hệ; và một sự nắm bắt rõ ràng, thuần túy các mối quan hệ thường đạt được nhiều nhất khi sự so sánh được thực hiện giữa các trường hợp nằm cách xa nhau, và giữa các sự vật có bản chất hoàn toàn khác biệt. Chừng nào một mối quan hệ được tôi biết đến như chỉ tồn tại trong một trường hợp duy nhất, tôi chỉ có một ý niệm cá biệt về nó—nói cách khác, chỉ là một sự hiểu biết trực giác về nó; nhưng ngay khi tôi nhìn thấy cùng một mối quan hệ đó trong hai trường hợp khác nhau, tôi có một ý niệm tổng quát về toàn bộ bản chất của nó, và đây là một tri thức sâu sắc và hoàn hảo hơn.

    Vì vậy, do sự so sánh và ẩn dụ là một cỗ máy tri thức mạnh mẽ như thế, đó là dấu hiệu của một trí thông minh lớn lao ở một nhà văn nếu những phép so sánh của anh ta bất thường và, cùng lúc đó, lại trúng đích. Aristotle cũng đã quan sát rằng điều quan trọng hơn cả đối với một nhà văn là có được năng lực ẩn dụ này; vì đó là một năng khiếu không thể học được, và nó là dấu ấn của thiên tài.

    Đối với việc đọc sách, đòi hỏi một người phải giữ lại mọi thứ anh ta từng đọc, cũng giống như bắt anh ta phải mang theo bên mình mọi thứ anh ta từng ăn. Loại thức ăn này mang lại cho anh ta sự nuôi dưỡng cơ thể, và loại thức ăn kia là sự nuôi dưỡng tinh thần; và thông qua hai phương tiện này mà anh ta đã trưởng thành để trở thành con người như hiện tại. Cơ thể chỉ đồng hóa những gì giống với nó; và vì thế một người chỉ giữ lại trong tâm trí những gì anh ta quan tâm, nói cách khác, những gì phù hợp với hệ thống tư tưởng hay mục đích sống của anh ta.

    Nếu một người muốn đọc sách hay, anh ta phải kiên quyết tránh đọc sách dở; vì cuộc đời thì ngắn ngủi, còn thời gian và năng lượng thì có hạn.

    Repetitio est mater studiorum [Sự lặp lại là mẹ học vấn]. Bất kỳ cuốn sách nào thực sự quan trọng đều nên được đọc lại lần thứ hai ngay lập tức; một phần vì, ở lần đọc thứ hai, mối liên kết giữa các phần khác nhau của cuốn sách sẽ được hiểu rõ hơn, và phần mở đầu chỉ được thấu hiểu đầy đủ khi phần kết đã được biết; và một phần vì chúng ta không ở cùng một tâm trạng và thiên hướng trong cả hai lần đọc. Trong lần nghiền ngẫm thứ hai, chúng ta có một cái nhìn mới về từng đoạn văn và một ấn tượng khác về toàn bộ cuốn sách, thứ sau đó sẽ hiện lên dưới một ánh sáng khác.

    Tác phẩm của một người là tinh túy từ tâm trí anh ta, và dẫu cho anh ta có thể sở hữu một năng lực rất vĩ đại, thì chúng vẫn sẽ luôn luôn có giá trị hơn hẳn vô song so với cuộc trò chuyện của anh ta. Thậm chí, trong tất cả những vấn đề cốt yếu, tác phẩm của anh ta sẽ không chỉ bù đắp cho sự thiếu hụt giao tiếp cá nhân với anh ta, mà chúng còn vượt xa nó ở những lợi ích vững chắc. Các bài viết ngay cả của một người có tài năng vừa phải cũng có thể mang tính khai sáng, đáng đọc và đầy tính giáo dục, bởi vì chúng là tinh hoa của anh ta—là kết quả và trái ngọt của toàn bộ tư duy và học vấn của anh ta; trong khi việc trò chuyện với anh ta có thể lại chẳng thỏa mãn chút nào.

    Chính vì thế mà chúng ta có thể đọc sách của những người mà trong sự hiện diện của họ ta chẳng thấy có gì làm ta vui thích, và rằng một mức độ văn hóa cao dẫn dắt chúng ta tìm kiếm sự giải trí gần như hoàn toàn từ sách vở chứ không phải từ con người.


    Về thiên tài

    – Arthur Schopenhauer

    Không có sự khác biệt nào về cấp bậc, địa vị, hay xuất thân lại to lớn bằng hố sâu ngăn cách giữa hàng triệu triệu kẻ chỉ dùng cái đầu để phục vụ cho cái dạ dày của mình—nói cách khác, coi nó như một công cụ của ý chí—và một số cực kỳ ít ỏi những người hiếm hoi có đủ can đảm để nói rằng: Không! cái đầu của ta quá tốt để làm việc đó; nó sẽ chỉ hoạt động để phục vụ cho chính nó; nó sẽ cố gắng thấu hiểu vở kịch kỳ diệu và đa dạng của thế giới này, rồi tái tạo lại nó dưới một hình thức nào đó, dù là nghệ thuật hay văn chương, sao cho tương xứng với tính cách cá nhân của ta. Đây mới là những kẻ quý tộc đích thực, tầng lớp noblesse [quý tộc] thực sự của thế giới. Bọn còn lại chỉ là lũ nông nô gắn liền với mảnh đất—glebae adscripti. Dĩ nhiên, ở đây tôi đang nói đến những người không chỉ có lòng can đảm, mà còn có tiếng gọi (thiên hướng), và do đó có quyền, ra lệnh cho cái đầu phải rời khỏi sự phục vụ cho ý chí; với một kết quả chứng minh rằng sự hy sinh đó là hoàn toàn xứng đáng. Đối với những người mà điều này chỉ có thể áp dụng một phần, hố sâu ngăn cách không quá rộng; nhưng dẫu cho tài năng của họ có nhỏ bé đến đâu, miễn là nó có thực, thì sẽ luôn luôn có một ranh giới phân định rõ rệt giữa họ và hàng triệu kẻ khác.

    Những tác phẩm mỹ thuật, thơ ca và triết học do một quốc gia sản sinh ra chính là thành quả của phần trí tuệ dư thừa tồn tại trong quốc gia đó.

    Đối với người có thể hiểu đúng—cum grano salis [với sự châm chước]—mối quan hệ giữa thiên tài và người bình thường có lẽ được diễn đạt tốt nhất như sau: Một thiên tài sở hữu một trí tuệ kép, một dành cho chính mình và để phục vụ ý chí của mình; cái còn lại dành cho thế giới, nơi anh ta trở thành tấm gương phản chiếu, nhờ vào thái độ hoàn toàn khách quan của anh ta đối với nó. Tác phẩm nghệ thuật, thơ ca hay triết học do thiên tài tạo ra đơn giản là kết quả, hay tinh túy, của thái độ chiêm nghiệm này, được nhào nặn theo những quy tắc kỹ thuật nhất định.

    Mặt khác, người bình thường chỉ có một trí tuệ đơn nhất, thứ có thể gọi là mang tính chủ quan để đối lập với trí tuệ khách quan của thiên tài. Dù trí tuệ chủ quan này có sắc bén đến đâu—và nó tồn tại ở những mức độ hoàn hảo rất khác nhau—nó cũng không bao giờ cùng đẳng cấp với trí tuệ kép của thiên tài; cũng giống như những nốt trầm giọng ngực mở của giọng người, dù có cao đến mấy, về bản chất vẫn khác biệt với những nốt giọng gió. Những nốt này, giống như hai quãng tám trên của sáo và âm bồi của vĩ cầm, được tạo ra bởi cột không khí tự chia thành hai nửa rung động, với một điểm nút ở giữa; trong khi những nốt giọng ngực mở của giọng người và quãng tám dưới của sáo được tạo ra bởi cột không khí không bị phân chia, rung động như một thể thống nhất. Sự minh họa này có thể giúp độc giả hiểu được sự đặc thù riêng biệt đó của thiên tài, thứ được in dấu không thể nhầm lẫn lên các tác phẩm, và thậm chí cả lên diện mạo của người được ban phú cho nó. Đồng thời, rõ ràng là một trí tuệ kép như thế này, như một quy luật, ắt hẳn phải cản trở sự phục vụ cho ý chí; và điều này giải thích cho năng lực tồi tệ thường thấy ở các thiên tài trong việc lèo lái cuộc sống trần tục. Và điều đặc biệt định hình nên thiên tài là nó hoàn toàn không có sự điềm tĩnh chừng mực vốn luôn được tìm thấy ở trí tuệ đơn giản thông thường, dù trí tuệ đó sắc bén hay đần độn.

    Bộ não có thể được ví như một loài ký sinh trùng, được nuôi dưỡng như một phần của cơ thể con người nhưng không đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế nội tại của cơ thể đó; nó trú ngụ an toàn ở tầng cao nhất, và ở đó nó dẫn dắt một cuộc sống tự cấp tự túc và độc lập. Theo cùng một cách, có thể nói rằng một người được ban tặng những món quà trí tuệ lớn lao sẽ dẫn dắt, tách biệt khỏi cuộc sống cá nhân chung cho tất cả mọi người, một cuộc sống thứ hai, thuần túy thuộc về tri thức. Anh ta cống hiến bản thân cho sự gia tăng, điều chỉnh và mở rộng không ngừng, không phải những kiến thức học thuật đơn thuần, mà là sự thấu suốt và tri thức hệ thống thực sự; và anh ta không hề hấn gì trước số phận ập xuống đầu cá nhân mình, miễn là nó không quấy rầy anh ta trong công việc. Do đó, đây là một cuộc sống nâng đỡ con người và đặt anh ta lên trên số phận cùng những biến thiên của nó. Luôn suy nghĩ, học hỏi, thử nghiệm, thực hành tri thức của mình, người đó sẽ sớm coi cuộc sống thứ hai này là phương thức tồn tại chính, còn cuộc sống cá nhân đơn thuần của mình chỉ là thứ yếu, chỉ phục vụ để thúc đẩy những mục tiêu cao cả hơn chính nó.

    Một ví dụ về sự tồn tại độc lập, tách biệt này được cung cấp bởi Goethe. Trong suốt cuộc chiến tranh ở vùng Champagne, và giữa tất cả sự huyên náo của doanh trại, ông vẫn tiến hành những quan sát cho lý thuyết về màu sắc của mình; và ngay khi vô số tai ương của cuộc chiến ấy cho phép ông rút lui trong một thời gian ngắn về pháo đài Luxembourg, ông đã cầm lên bản thảo cuốn Farbenlehre (Lý thuyết về màu sắc) của mình. Đây là một tấm gương mà chúng ta, những hạt muối của trần gian, nên nỗ lực noi theo, bằng cách không bao giờ để bất cứ điều gì quấy rầy ta trong việc theo đuổi đời sống tri thức của mình, mặc cho bão táp của thế gian có thể xâm lấn và khuấy động môi trường cá nhân của ta đến mức nào; luôn nhớ rằng chúng ta là những người con, không phải của nữ tỳ, mà là của người đàn bà tự do. Để làm biểu tượng và gia huy cho chúng ta, tôi đề xuất hình ảnh một cái cây bị gió lay động dữ dội, nhưng vẫn trĩu quả chín mọng trên từng cành nhánh; với khẩu hiệu Dum convellor mitescunt [Càng bị lay động, tôi càng chín muồi], hoặc Conquassata sed ferax [Bị chấn động nhưng vẫn sinh sôi].

    Đời sống tri thức thuần túy của cá nhân đó có bản sao của nó trong toàn thể nhân loại. Bởi ở đó cũng vậy, đời sống thực sự là đời sống của ý chí, cả trong ý nghĩa kinh nghiệm lẫn ý nghĩa siêu nghiệm của từ này. Đời sống tri thức thuần túy của nhân loại nằm ở nỗ lực gia tăng tri thức thông qua các ngành khoa học, và khát khao hoàn thiện các nghệ thuật. Do đó, cả khoa học và nghệ thuật đều tiến bước chậm chạp từ thế hệ này sang thế hệ khác, và lớn lên cùng nhiều thế kỷ, mỗi chủng tộc khi hối hả đi qua đều đóng góp phần của mình. Đời sống tri thức này, giống như một món quà nào đó từ thiên đường, lơ lửng bên trên sự xáo động và chuyển dịch của thế giới; hay nói cách khác, nó giống như một luồng không khí thơm ngát được sinh ra từ chính quá trình lên men—tức đời sống thực sự của nhân loại, bị thống trị bởi ý chí; và sánh vai cùng lịch sử của các quốc gia, lịch sử của triết học, khoa học và nghệ thuật cất bước trên con đường vô tội và không đổ máu của riêng mình.

    Sự khác biệt giữa thiên tài và người bình thường, không nghi ngờ gì nữa, là một sự khác biệt về lượng, ở chỗ nó là sự khác biệt về mức độ; nhưng tôi bị cám dỗ coi nó cũng là một sự khác biệt về chất, dựa trên thực tế là những bộ óc bình thường, bất chấp sự đa dạng của cá nhân, đều có một khuynh hướng nhất định là suy nghĩ giống nhau. Do đó, trong những dịp tương tự, ý nghĩ của bọn họ ngay lập tức đều rẽ về một hướng tương tự, và chạy trên cùng một đường ray; và điều này giải thích tại sao những phán xét của bọn họ liên tục đồng nhất—tuy nhiên, không phải vì chúng dựa trên chân lý. Điều này đi xa đến mức có những quan điểm nền tảng nhất định luôn được duy trì giữa nhân loại ở mọi thời đại, và luôn được lặp đi lặp lại và đưa ra như mới, trong khi những bộ óc vĩ đại của mọi thời đại lại nằm trong tư thế đối lập công khai hoặc bí mật với chúng.

    Thiên tài là một người mà trong tâm trí của anh ta, thế giới được trình hiện giống như một vật thể được trình hiện trong gương, nhưng với một mức độ rõ ràng hơn và sự tách biệt đường nét sắc nét hơn so với những gì người bình thường đạt được. Chính từ anh ta mà nhân loại có thể trông đợi được giảng dạy nhiều nhất; bởi vì sự thấu suốt sâu sắc nhất vào những vấn đề quan trọng nhất phải được tiếp thu, không phải bằng sự chú ý quan sát từng chi tiết, mà bằng một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về vạn vật như một tổng thể. Và nếu tâm trí anh ta đạt đến độ chín muồi, lời giảng dạy mà anh ta mang đến sẽ được truyền tải lúc thì dưới hình thức này, lúc thì dưới hình thức khác. Do đó, thiên tài có thể được định nghĩa là một ý thức cực kỳ rõ ràng về vạn vật nói chung, và vì thế, cũng là ý thức về thứ đối lập với chúng, cụ thể là, bản ngã của chính mình.

    Thế giới ngước nhìn một người được ban phú như vậy, và kỳ vọng học được điều gì đó về cuộc sống và bản chất thực sự của nó. Nhưng phải có sự kết hợp của một vài hoàn cảnh cực kỳ thuận lợi mới có thể sản sinh ra thiên tài, và đây là một sự kiện rất hiếm hoi. Chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra, hãy nói là khoảng một lần trong một thế kỷ, một người được sinh ra với trí tuệ vượt trội mức bình thường một cách dễ dàng nhận thấy đến mức đạt tới cái năng lực thứ hai đó, thứ năng lực dường như là ngẫu nhiên, bởi nó nằm ngoài mọi mối liên hệ với ý chí. Anh ta có thể sống một thời gian dài mà không được công nhận hay trân trọng, bởi sự ngu dốt cản trở điều trước và sự đố kỵ cản trở điều sau. Nhưng một khi điều này xảy ra, nhân loại sẽ xúm lại quanh anh ta và các tác phẩm của anh ta, với hy vọng rằng anh ta có thể soi sáng chút bóng tối trong sự tồn tại của họ hoặc cung cấp thông tin cho họ về nó. Thông điệp của anh ta, ở một mức độ nào đó, là một sự mặc khải, và bản thân anh ta là một sinh thể cao cấp hơn, ngay cả khi anh ta có thể chỉ nhỉnh hơn tiêu chuẩn bình thường một chút.

    Cũng giống như người bình thường, thiên tài là những gì anh ta là chủ yếu cho chính bản thân anh ta. Điều này là thiết yếu đối với bản chất của anh ta: một thực tế không thể tránh khỏi cũng không thể thay đổi, việc anh ta có thể là gì đối với người khác vẫn là một vấn đề của sự may rủi và có tầm quan trọng thứ yếu. Trong mọi trường hợp, người ta không bao giờ có thể nhận được từ tâm trí anh ta nhiều hơn một sự phản chiếu, và khi đó cũng chỉ khi anh ta hợp tác với họ trong nỗ lực đưa tư tưởng của mình vào đầu họ; nơi mà, tuy nhiên, nó không bao giờ là gì khác ngoài một loài cây ngoại lai, còi cọc và yếu ớt.

    Để có được những suy nghĩ nguyên bản, khác thường, và có lẽ là cả bất tử, chỉ cần một người tự xa lánh bản thân mình một cách hoàn toàn khỏi thế giới sự vật trong vài khoảnh khắc, sao cho những vật thể và sự kiện bình thường nhất cũng hiện lên hoàn toàn mới mẻ và lạ lẫm. Bằng cách này, bản chất thực sự của chúng sẽ được phơi bày. Điều được đòi hỏi ở đây, có lẽ, không thể nói là khó khăn; nó hoàn toàn không nằm trong quyền hạn của chúng ta, mà chính là lãnh địa của thiên tài.

    Tự bản thân nó, thiên tài có thể sản sinh ra những suy nghĩ nguyên bản cũng ít ỏi như một người phụ nữ tự mình có thể sinh con. Những hoàn cảnh bên ngoài phải đến để làm cho thiên tài đơm hoa kết trái, và, có thể nói, đóng vai trò như một người cha đối với những đứa con của nó.

    Tâm trí của thiên tài giữa những tâm trí khác giống như viên hồng ngọc giữa những viên đá quý: nó tự phát ra ánh sáng của riêng mình, trong khi những viên khác chỉ phản chiếu lại những gì chúng đã nhận được. Mối quan hệ của thiên tài với tâm trí bình thường cũng có thể được mô tả như mối quan hệ của một vật thể tự phát điện đối với một vật thể chỉ đơn thuần là chất dẫn điện.

    Kẻ chỉ có học vấn đơn thuần, người dành cả đời để dạy những gì anh ta đã học, hoàn toàn không thể được gọi là một bậc thiên tài; cũng giống như những vật thể tự phát điện không phải là chất dẫn điện. Thậm chí, thiên tài đối với sự học vấn đơn thuần giống như ca từ đối với giai điệu trong một bài hát. Một người có học vấn là một người đã học được rất nhiều điều; một bậc thiên tài, là người mà từ anh ta chúng ta học được điều gì đó mà thiên tài ấy chưa từng học từ bất kỳ ai. Những bộ óc vĩ đại, mà trong hàng trăm triệu người chưa chắc đã có một, do đó chính là những ngọn hải đăng của nhân loại; và nếu không có họ, nhân loại sẽ lạc lối trong biển cả bao la của những sai lầm và sự hoang mang quái dị.

    Và vì thế, một người có học vấn đơn thuần, theo nghĩa khắt khe của từ này—chẳng hạn như một vị giáo sư thông thường—nhìn thiên tài giống hệt như cách chúng ta nhìn một con thỏ rừng, thứ chỉ ngon khi đem ăn sau khi nó đã bị giết và làm thịt sạch sẽ. Chừng nào nó còn sống, nó chỉ tốt để dùng làm bia tập bắn.

    Kẻ nào muốn nếm trải lòng biết ơn từ những người cùng thời, kẻ đó phải điều chỉnh tốc độ bước đi của mình cho phù hợp với họ. Nhưng những điều vĩ đại không bao giờ được tạo ra theo cách này. Và kẻ nào muốn làm những điều vĩ đại, phải hướng ánh nhìn về phía hậu thế, và trong một niềm tin vững chắc, hãy trau chuốt tác phẩm của mình cho các thế hệ mai sau. Không nghi ngờ gì nữa, kết quả có thể là anh ta sẽ vẫn hoàn toàn vô danh đối với những người cùng thời, và có thể so sánh với một người, bị buộc phải dành cả đời trên một hòn đảo hoang vắng, đã nỗ lực hết mình để dựng lên một tượng đài ở đó, nhằm truyền đạt cho những người đi biển trong tương lai biết về sự tồn tại của mình. Nếu anh ta nghĩ đó là một số phận khắc nghiệt, hãy để anh ta tự an ủi mình bằng suy ngẫm rằng người bình thường sống chỉ vì những mục đích thực dụng, thường cũng phải chịu một số phận tương tự, mà không có bất kỳ sự đền bù nào để hy vọng; bởi vì anh ta có thể, trong những điều kiện thuận lợi, dành cả đời cho việc sản xuất vật chất, kiếm tiền, mua sắm, xây dựng, vun xới, quy hoạch, sáng lập, thiết lập, làm đẹp bằng nỗ lực hàng ngày và lòng nhiệt thành không mệt mỏi, và suốt thời gian đó cứ ngỡ rằng mình đang làm việc cho chính mình; thế nhưng rốt cuộc chính con cháu anh ta mới là những người gặt hái lợi ích từ tất cả những điều đó, và đôi khi thậm chí còn chẳng phải là con cháu anh ta. Người mang thiên tài cũng vậy; anh ta, cũng thế, hy vọng vào phần thưởng của mình và ít nhất là được vinh danh; và cuối cùng nhận ra rằng mình chỉ làm việc cho hậu thế mà thôi. Chắc chắn rằng, cả hai đều đã thừa hưởng rất nhiều từ tổ tiên của họ.

    Sự đền bù mà tôi đã đề cập như một đặc quyền của thiên tài nằm ở, không phải nó là gì đối với người khác, mà nó là gì đối với chính nó. Liệu có con người nào theo bất kỳ ý nghĩa thực sự nào lại sống nhiều hơn kẻ mà những khoảnh khắc tư duy của anh ta khiến tiếng vang của chúng được nghe thấy xuyên qua sự hỗn loạn của nhiều thế kỷ? Có lẽ, suy cho cùng, điều tốt nhất cho một thiên tài là đạt được sự sở hữu tĩnh tại đối với chính bản thân mình, bằng cách dành cả đời để tận hưởng niềm vui từ những suy nghĩ của chính mình, những tác phẩm của chính mình, và chỉ cho phép thế giới đóng vai trò là người thừa kế sự tồn tại phong phú của anh ta. Khi đó, thế giới sẽ chỉ tìm thấy dấu vết sự tồn tại của anh ta sau khi anh ta qua đời, giống như cách nó tìm thấy dấu vết của hóa thạch chân thú.

    Không chỉ trong hoạt động của những năng lực cao nhất mà thiên tài mới vượt trội hơn những người bình thường. Một người có cơ thể đặc biệt săn chắc, mềm dẻo và nhanh nhẹn, sẽ thực hiện mọi chuyển động của mình với sự dễ dàng hiếm có, thậm chí là với sự thoải mái, bởi vì anh ta có được niềm vui trực tiếp trong một hoạt động mà anh ta được trang bị đặc biệt tốt, và do đó thường xuyên rèn luyện nó mà không vì mục đích gì cả. Hơn nữa, nếu anh ta là một người nhào lộn hay một vũ công, anh ta không chỉ thực hiện được những cú nhảy mà người khác không thể làm được, mà anh ta còn phô bày một sự đàn hồi và độ linh hoạt hiếm có trong những bước đi dễ dàng hơn mà người khác cũng có thể thực hiện, và ngay cả trong dáng đi thông thường. Theo cùng một cách, một người có trí tuệ siêu việt sẽ không chỉ tạo ra những ý nghĩ và tác phẩm mà không bao giờ có thể đến từ một người khác; không chỉ ở đây anh ta mới thể hiện sự vĩ đại của mình; mà vì tri thức và tư duy hình thành nên một phương thức hoạt động tự nhiên và dễ dàng đối với anh ta, anh ta cũng sẽ luôn tìm thấy niềm vui trong chúng, và do đó nắm bắt được những vấn đề nhỏ nhặt nằm trong tầm với của những bộ óc khác một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn họ. Nhờ vậy, anh ta sẽ có được một niềm vui trực tiếp và sống động trong mọi sự gia tăng của Tri thức, mọi vấn đề được giải quyết, mọi ý nghĩ dí dỏm, dù là của chính anh ta hay của người khác; và do đó tâm trí anh ta sẽ không có mục đích nào xa hơn ngoài việc liên tục hoạt động. Đây sẽ là một suối nguồn niềm vui không bao giờ cạn kiệt; và sự buồn chán, cái bóng ma luôn ám ảnh người bình thường, sẽ chẳng bao giờ có thể đến gần anh ta.

    Kế đó, những kiệt tác của các thiên tài trong quá khứ và đương đại tồn tại trong sự trọn vẹn của chúng là dành cho riêng anh ta. Nếu một sản phẩm vĩ đại của thiên tài được giới thiệu cho một bộ óc đơn giản, bình thường, nó sẽ cảm thấy thích thú với tác phẩm đó y hệt như niềm vui mà một nạn nhân của bệnh gút nhận được khi bị mời đến một buổi dạ vũ. Một kẻ thì đi vì lý do hình thức, còn kẻ kia thì đọc cuốn sách để khỏi bị tụt hậu. Bởi La Bruyère đã hoàn toàn đúng khi nói: Mọi sự dí dỏm trên đời đều là vô nghĩa đối với kẻ chẳng có chút dí dỏm nào. Toàn bộ phạm vi tư duy của một người tài năng, hay của một thiên tài, so với những ý nghĩ của kẻ phàm phu, ngay cả khi cùng hướng đến những đối tượng về cơ bản là giống nhau, cũng giống như một bức tranh sơn dầu rực rỡ, tràn đầy sức sống, so với một nét phác thảo sơ sài hay một bức vẽ màu nước nhạt nhòa.

    Tất cả những điều này là một phần phần thưởng của thiên tài, và đền bù cho anh ta vì một sự tồn tại đơn độc trong một thế giới mà anh ta chẳng có điểm chung nào và cũng chẳng có chút đồng cảm nào. Nhưng vì kích thước là mang tính tương đối, nên dù tôi nói “Caius là một người vĩ đại” hay “Caius phải sống giữa những kẻ nhỏ bé thảm hại”, thì kết quả cũng như nhau: vì xứ Brobdingnag [xứ khổng lồ] và xứ Lilliput [xứ tí hon] chỉ khác nhau ở điểm xuất phát mà thôi. Dù cho một hậu thế lâu dài có thể nghĩ tác giả của những tác phẩm bất hủ là vĩ đại đến đâu, đáng ngưỡng mộ hay đầy tính giáo dục đến nhường nào, thì trong suốt cuộc đời của mình, ông ta sẽ xuất hiện trước những người cùng thời nhỏ bé, thảm hại và vô vị theo đúng tỷ lệ đó. Đây là điều tôi muốn nói khi phát biểu rằng cũng như có ba trăm bậc thang từ chân tháp lên đỉnh tháp, thì cũng có chính xác ba trăm bậc từ đỉnh tháp xuống chân tháp. Những bộ óc vĩ đại do đó nợ những bộ óc nhỏ bé một sự bao dung nào đó; vì chỉ nhờ vào những bộ óc nhỏ bé này mà bản thân họ mới trở nên vĩ đại.

    Vậy thì, chúng ta đừng ngạc nhiên nếu thấy những bậc thiên tài thường không thích giao du và có vẻ cự tuyệt. Lỗi không nằm ở sự thiếu hòa đồng của họ. Con đường họ đi qua thế giới này giống như con đường của một người đi dạo vào một buổi sáng mùa hè rực rỡ. Anh ta ngắm nhìn với niềm say mê vẻ đẹp và sự tươi mát của thiên nhiên, nhưng anh ta phải dựa hoàn toàn vào điều đó để giải trí; bởi anh ta chẳng thể tìm thấy một xã hội nào ngoài những người nông dân đang cúi gập mình trên mặt đất và cày xới đất đai. Thường thì một bộ óc vĩ đại thích độc thoại hơn là tham gia vào những cuộc đối thoại mà anh ta có thể có trong thế giới này. Nếu thỉnh thoảng anh ta hạ cố tham gia vào đó, sự rỗng tuếch của nó rất có thể sẽ xua anh ta quay trở lại với sự độc thoại của mình; bởi vì trong sự quên lãng người đối thoại, hoặc chẳng màng bận tâm xem liệu người đó có hiểu hay không, anh ta nói chuyện với người đó như một đứa trẻ nói chuyện với một con búp bê.

    Sự khiêm tốn ở một bộ óc vĩ đại, không nghi ngờ gì nữa, sẽ làm hài lòng thế giới; nhưng, thật không may, nó lại là một contradictio in adjecto [sự mâu thuẫn trong chính thuật ngữ]. Nó sẽ ép buộc một thiên tài phải dành sự ưu tiên cho những suy nghĩ và quan điểm, thậm chí là phương pháp và văn phong, của hàng triệu kẻ khác hơn là của chính mình; phải đánh giá chúng cao hơn; và, dẫu cho chúng khác xa nhau đến đâu, phải đưa quan điểm của anh ta vào sự hài hòa với bọn họ, hoặc thậm chí là dập tắt chúng hoàn toàn, cốt để những kẻ khác được làm chủ trận địa. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, anh ta hoặc là sẽ chẳng tạo ra được gì cả, hoặc là những thành tựu của anh ta sẽ chỉ ngang hàng với của bọn họ. Những tác phẩm vĩ đại, đích thực và phi thường chỉ có thể được tạo ra chừng nào tác giả của nó coi thường phương pháp, những ý nghĩ, những quan điểm của những người cùng thời, và lặng lẽ tiếp tục làm việc, bất chấp sự chỉ trích của bọn họ, và về phần mình, khinh bỉ những gì bọn họ ngợi ca. Không ai trở nên vĩ đại mà không có loại kiêu ngạo này. Nếu cuộc đời và tác phẩm của anh ta rơi vào một thời đại không thể nhận ra và trân trọng anh ta, anh ta chí ít vẫn trung thực với chính mình; giống như một vị lữ khách quý tộc buộc phải qua đêm trong một nhà trọ tồi tàn; khi bình minh đến, ông ta thỏa mãn tiếp tục bước đi trên con đường của mình.

    Một nhà thơ hay triết gia không có lý do gì để bắt lỗi thời đại của mình nếu nó chỉ việc cho phép anh ta làm công việc của mình không bị quấy rầy trong góc riêng; cũng không bắt lỗi số phận của mình nếu cái góc được ban cho ấy cho phép anh ta theo đuổi tiếng gọi đời mình mà không phải bận tâm về những người khác.

    Việc bộ não chỉ là một gã làm thuê phục vụ cho cái dạ dày, quả thực là số phận chung của hầu hết tất cả những ai không sống bằng sức lao động của đôi tay; và họ thì khác xa với việc bất mãn với số phận của mình. Nhưng nó lại giáng một đòn tuyệt vọng vào một người có bộ óc vĩ đại, kẻ có sức mạnh trí não vượt xa mức cần thiết để phục vụ cho ý chí; và anh ta thà, nếu cần, sống trong những hoàn cảnh eo hẹp nhất, miễn là chúng ban cho anh ta sự tự do sử dụng thời gian của mình để phát triển và ứng dụng những năng lực của bản thân; nói cách khác, nếu chúng cho anh ta sự nhàn rỗi, thứ vốn là vô giá đối với anh ta.

    Chuyện lại khác với những người bình thường: đối với họ, sự nhàn rỗi không có giá trị tự thân, và quả thực, nó cũng không thiếu những cạm bẫy, như những người này dường như đều biết. Công việc kỹ thuật của thời đại chúng ta, thứ được thực hiện đến một mức độ hoàn hảo chưa từng có, bằng cách gia tăng và nhân lên các đồ vật xa xỉ, đã trao cho những kẻ được số phận ưu ái một sự lựa chọn giữa việc có nhiều thời gian rảnh rỗi và văn hóa hơn ở một mặt, và thêm phần xa xỉ và sống sung sướng, nhưng với sự gia tăng hoạt động, ở mặt kia; và, đúng với bản chất của mình, họ chọn cái sau, và thích rượu sâm panh hơn là sự tự do. Và họ hoàn toàn nhất quán trong sự lựa chọn của mình; bởi vì, đối với họ, mọi sự cố gắng của tâm trí mà không phục vụ cho các mục tiêu của ý chí đều là điên rồ. Nỗ lực tri thức vì chính lợi ích của nó, họ gọi là sự lập dị. Do đó, sự kiên trì với những mục tiêu của ý chí và cái dạ dày sẽ là sự đồng tâm; và, chắc chắn rồi, ý chí chính là trung tâm, là hạt nhân của thế giới.

    Nhưng nhìn chung, rất hiếm khi có một sự lựa chọn nào như vậy được đưa ra. Bởi cũng giống như với tiền bạc, hầu hết con người không có sự dư dả, mà chỉ vừa đủ cho nhu cầu của họ, trí thông minh cũng vậy; họ chỉ sở hữu vừa đủ những gì phục vụ cho ý chí, tức là, để duy trì công việc làm ăn của họ. Sau khi đã kiếm được gia sản, họ hài lòng với việc há hốc mồm ra nhìn hoặc đắm chìm vào những thú vui nhục dục hay những trò giải trí trẻ con, bài bạc hay súc sắc; hoặc họ sẽ nói chuyện theo cách tẻ nhạt nhất, hoặc ăn diện và cúi chào nhau. Và thật hiếm hoi biết bao những kẻ có được dù chỉ một chút dư thừa sức mạnh trí tuệ! Giống như những người kia, họ cũng tạo ra cho mình một niềm vui; nhưng đó là niềm vui của trí tuệ. Hoặc là họ sẽ theo đuổi một môn học khai phóng nào đó chẳng mang lại cho họ đồng nào, hoặc họ sẽ thực hành một môn nghệ thuật; và nhìn chung, họ sẽ có khả năng duy trì một sự quan tâm khách quan đối với vạn vật, nhờ vậy mới có thể trò chuyện với họ. Nhưng đối với những người kia, tốt nhất là không nên thiết lập bất kỳ mối quan hệ nào; bởi vì, ngoại trừ khi họ kể về kết quả từ những kinh nghiệm của bản thân hoặc tường thuật về nghề nghiệp chuyên môn của mình, hay chí ít là truyền đạt những gì họ học được từ ai đó khác, những cuộc trò chuyện của họ sẽ không đáng để lắng nghe; và nếu ta nói bất cứ điều gì với họ, họ sẽ hiếm khi nắm bắt hoặc hiểu đúng, và trong hầu hết các trường hợp, nó sẽ đối lập với quan điểm của chính họ. Balthazar Gracian mô tả họ một cách rất sắc sảo là những con người không phải là người—hombres che non lo son. Và Giordano Bruno cũng nói điều tương tự: Thật là một sự khác biệt to lớn khi phải làm việc với những con người thực sự so với những kẻ chỉ được tạo ra theo hình ảnh và bộ dạng của họ! Và đoạn văn này mới đồng điệu một cách tuyệt vời làm sao với nhận xét đó trong sử thi Kurral: Đám dân đen trông giống con người nhưng ta chưa từng thấy thứ gì thực sự giống chúng. Nếu độc giả xem xét mức độ đồng thuận của những tư tưởng này trong ý nghĩa và thậm chí trong cả cách diễn đạt, cũng như sự khác biệt to lớn giữa chúng về mặt thời gian và quốc tịch, anh ta không thể nghi ngờ gì nữa ngoài việc chúng hoàn toàn trùng khớp với những sự thật của cuộc sống. Chắc chắn không phải dưới sức ảnh hưởng của những đoạn văn đó mà, khoảng hai mươi năm trước, tôi đã cố gắng đặt làm một chiếc hộp đựng thuốc lá nghẹt mũi, mà nắp của nó phải có hai quả hạt dẻ tuyệt đẹp được khắc lên đó, nếu có thể là bằng nghệ thuật khảm; cùng với một chiếc lá để cho thấy rằng chúng là hạt dẻ ngựa. Biểu tượng này nhằm mục đích giữ cho ý nghĩ đó luôn hiển hiện trước tâm trí tôi. Nếu có ai mong muốn được giải trí, theo cách sẽ ngăn cản anh ta cảm thấy cô đơn ngay cả khi anh ta ở một mình, hãy để tôi tiến cử sự bầu bạn của những con chó, mà những phẩm chất đạo đức và trí tuệ của chúng gần như có thể mang lại sự vui thích và mãn nguyện.

    Tuy nhiên, chúng ta nên luôn luôn cẩn thận để tránh trở nên bất công. Tôi thường xuyên ngạc nhiên trước sự thông minh, và đôi khi là sự ngốc nghếch của con chó của tôi; và tôi cũng có những trải nghiệm tương tự với nhân loại. Vô số lần, trong sự phẫn nộ trước sự bất lực của họ, sự thiếu vắng hoàn toàn óc phán đoán của họ, tính thú vật của họ, tôi đã bị buộc phải lặp lại lời than phiền cổ xưa rằng sự ngu xuẩn chính là mẹ và là nhũ mẫu của toàn bộ nhân loại:

    Humani generis mater nutrixque profecto

    Stultitia est.

    Nhưng vào những lúc khác, tôi lại phải kinh ngạc rằng từ một giống loài như vậy lại có thể phát khởi ra biết bao nghệ thuật và khoa học, dồi dào về sự hữu dụng lẫn vẻ đẹp đến thế, dẫu cho những kẻ tạo ra chúng luôn luôn chỉ là một thiểu số. Tuy nhiên những nghệ thuật và khoa học này đã đâm rễ, nảy mầm, và cứ thế.

    ,

  • Narcisse và Goldmund, Hermann Hesse

    Đọc thử

    Đây là một tiểu thuyết rất khó để đánh giá và truyền tải giá trị của nó một cách toàn vẹn bởi vì nó bao hàm quá nhiều tầng bậc ý nghĩa. Có thể xếp tiểu thuyết này vào dạng bildungsroman – tiểu thuyết trưởng thành, cũng có thể xếp nó vào thể loại triết – văn học hiện sinh, nêu ra vấn đề nhị nguyên về lý tính và cảm tính. Nhưng hơn cả, nó là một câu chuyện tuyệt đẹp về tình bạn cao thượng của cặp đôi chính trong tựa đề.

    Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc lại lỗi lầm cho cuộc sống phóng túng, lầm lạc trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Nhưng thầy chóng nhận ra rằng cuộc đời tu viện không phù hợp với khuynh hướng của Goldmund, và thầy giúp cậu chọn con đường đi.

    Từ ấy, Goldmund lao vào đời sống phiêu bạt: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được diện mạo của người phụ nữ “Eva vĩnh cửu”, gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời. Hành trình của Goldmund trải dài phần lớn cuốn sách – một chuyến phiêu lưu tình ái không ngơi nghỉ. Bất cứ nơi nào chàng trú lại, dù là thôn quê hay thành phố, chàng đều ra sức thoả mãn dục vọng của mình thông qua vô số cuộc chung đụng ngắn ngủi với phụ nữ. Chàng đẹp trai, tốt bụng, chân thành, dịu dàng và đầy yêu thương, do đó hiếm khi chàng thất bại trong việc đưa những đối tượng của mình lên giường. Nhưng chàng không bao giờ nán lại một nơi đủ lâu để hình thành một mối quan hệ bền chặt, khăng khít với bất cứ ai; trong khi tình cảm mến của chàng với Narcisse, dẫu đôi bạn đã nhiều năm bặt tin, vẫn luôn âm ỉ trong lòng chàng, là thứ tình cảm mà chàng luôn trân trọng, cảm thấy gắn bó, được thấu hiểu, – tình bạn ấy tiếp tục ảnh hưởng đến chàng và đóng vai trò kim chỉ nam trong cuộc đời chàng.

    Goldmund tiếp tục đi, chàng trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, chàng quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để truy tìm cái đẹp. Chàng được một điêu khắc gia lành nghề, người thầy Niklaus thu nhận, nhưng ngay khi chàng tạo ra được kiệt tác của mình – một bức tượng thánh Jean lấy cảm hứng từ chính khuôn mặt của người bạn Narcisse – chàng liền dứt áo ra đi, một lần nữa bước chân vào đời sống phiêu lãng, vô định. Đối với chàng, cuộc sống luôn là một bí ẩn, và nếu loại trừ tính bí ẩn đó đi thì cuộc sống sẽ không còn vẻ đáng sống nữa. Nhờ dốc cạn lòng để yêu thương và đau khổ, chàng cảm nhận rõ rệt sự phù du của kiếp sống ngắn ngủi, vô thường, rằng hạnh phúc luôn mong manh, và càng cảm nhận sâu sắc điều ấy, chàng càng cố gắng bất tử hoá sự sống thông qua nghệ thuật…

    Goldmund gặp lại Narcisse vào thời điểm khốn cùng nhất của cuộc đời, khi chàng sắp phải bêu đầu trước giàn treo cổ. Nhờ sự can thiệp của Narcisse, chàng được phép trở về tu viện và tại đây, trong những ngày tháng cuối đời, chàng đã gom hết tất cả mọi trải nghiệm phong phú trong cuộc phiêu lưu đời mình trước nay, để miệt mài chế tác các bức tượng để tô điểm cho tu viện thân yêu của mình. Vào giờ khắc ấy, chàng là một nghệ sĩ hơn bao giờ hết. Chính tại những trang cuối này đã diễn ra những cuộc đối thoại triết lý sâu sắc về hai thái cực trong cuộc truy tìm chân lý của con người, về hai con đường song song giữa nhà tư tưởng (tu viện trưởng Narcisse) và người nghệ sĩ (Goldmund). Narcisse, người từ sớm đã hiến dâng cuộc đời của mình cho sự nghiệp thờ phụng Chúa, là con người của lý trí, của sự nghiêm cẩn, chuẩn mực, thầy luôn tiếp cận mọi chuyện bằng tư duy trừu tượng, bằng logic; trong khi Goldmund thì suy nghĩ bằng hình ảnh, bằng giác quan, đã không ngừng nếm trải lạc thú trần gian, không thể sống mà không cảm nhận, không thể sống thiếu phụ nữ kề bên, hoặc đúng hơn, không thể sống mà không yêu, mà không đau khổ.

    Mặc dù phần lớn cuốn sách theo chân cuộc phiêu lưu của Goldmund, nhưng sự chuyển biến tâm lý quan trọng nhất ở cuối truyện lại thuộc về Narcisse. Khi Goldmund trở về tu viện trong hình hài tàn tạ, chờ đợi cái chết, chàng đã hỏi Narcisse một câu hỏi “như một ngọn lửa đốt cháy con tim” của ông: “Khi cậu chết, cậu sẽ chết như thế nào, Narcisse, khi cậu không có một người mẹ? Thiếu người mẹ thì không thể yêu, cũng không thể chết được.”

    Câu nói này đánh gục sự kiêu hãnh lý trí của tu viện trưởng. Narcisse nhận ra rằng, mặc dù triết lý tu tập của mình rất thanh cao, nhưng nó lại khô cằn và thiếu vắng tình yêu thương sinh động của con người. Sự thuần khiết của Narcisse có được là nhờ lẩn tránh thế giới, trong khi sự thánh thiện của Goldmund đạt được bằng cách lội qua vũng bùn của nó. Hesse không đặt con đường nào lên trên con đường nào, mà cho thấy chúng ta cần cả hai: sự tĩnh lặng của tu viện để giữ gìn tri thức, và sự cuồng nhiệt của thế giới để sản sinh ra sự sống và nghệ thuật.

    – Goldmund, mình học được của bạn rất nhiều, mình bắt đầu hiểu thế nào là nghệ thuật. Trước đây, mình không nghĩ là người ta phải rất coi trọng nghệ thuật, sánh với khoa học và tư tưởng. Mình đã tự bảo gần gần như thế này: Bởi lẽ con người là một hợp thể đáng ngờ về tinh thần và thể chất, bởi lẽ tinh thần mở ra cho con người sự hiểu biết về tính vĩnh hằng, trong khi đó thể chất kéo người ta xuống tầng dưới thấp của xã hội và cột họ vào vứoi những sự vật sớm nở tối tàn, hẳn họ phải giải thoát khỏi các xúc cảm nhục dục và cố gắng vươn tới đời sống tinh thần để nâng cao cuộc sống của họ và trao cho nó một ý nghĩa. Mình ra vẻ có thói quen tôn vinh nghệ thuật, nhưng trong thâm tâm, mình nhìn nó từ trên cao với một cảm giác kiêu căng. Chỉ đến nay mình mới nhận biết rõ rằng có nhiều con đường dẫn đến sự hiểu biết và con đường của tư duy trừu tượng không phải là duy nhất, có lẽ cũng không hẳn tốt nhất. Quả thực đó là con đường của mình, và mình sẽ giữ vững con đường ấy. Nhưng mình thấy bằng con đường trái ngược lại, bạn cũng nắm được sâu sắc điều bí ẩn của sự tồn tại và diễn đạt nó một cách sống động hơn phần đông các nhà tư tưởng có thể làm được.

    Narcisse và Goldmund là tác phẩm tôi đọc lại ngay sau khi đọc xong lần đầu. Bận này tôi cũng đang đọc lại Siddhartha của Hermann Hesse. Đây là nhà văn mà mỗi lần đọc xong, tôi đều phải tự hỏi: Rốt cuộc ông ta đã viết như thế nào? Và ông ta đã sống ra sao để viết được nhường ấy?


  • C.S. Lewis & 8 lời khuyên viết lách

    Đọc thử

    C.S. Lewis (1898 – 1963)

    GỬI MỘT NỮ SINH Ở MỸ, người đã viết thư (theo gợi ý của giáo viên) để xin lời khuyên về cách viết lách.

    Ngày 14 tháng 12 năm 1959

    Rất khó để đưa ra bất kỳ lời khuyên chung chung nào về việc viết lách. Dưới đây là nỗ lực của tôi.

    (1) Hãy tắt radio đi.

    (2) Hãy đọc tất cả những cuốn sách hay mà bạn có thể, và tránh xa gần như tất cả các loại tạp chí.

    (3) Luôn luôn viết (và đọc) bằng tai, chứ không phải bằng mắt. Bạn nên nghe thấy từng câu mình viết như thể nó đang được đọc thành tiếng hoặc đang được nói ra. Nếu nghe không hay, hãy thử lại.

    (4) Hãy viết về những gì thực sự khiến bạn quan tâm, cho dù đó là những điều có thật hay những điều tưởng tượng, và không gì khác nữa. (Lưu ý điều này có nghĩa là nếu bạn chỉ quan tâm đến việc viết lách, bạn sẽ không bao giờ trở thành một nhà văn, bởi vì bạn sẽ không có gì để viết cả…)

    (5) Hãy dốc sức để viết một cách rõ ràng. Hãy nhớ rằng mặc dù bạn bắt đầu bằng việc hiểu ý mình muốn nói, nhưng người đọc thì không, và một từ chọn sai có thể dẫn họ đến sự hiểu lầm hoàn toàn. Trong một câu chuyện, người ta rất dễ quên mất rằng mình chưa kể cho người đọc điều mà họ muốn biết — toàn bộ bức tranh đã quá rõ ràng trong tâm trí bạn đến nỗi bạn quên mất rằng nó không hề giống như vậy trong tâm trí người đọc.

    (6) Khi bạn từ bỏ một phần tác phẩm nào đó, đừng vứt nó đi (trừ khi nó dở đến mức vô phương cứu chữa). Hãy cất nó vào ngăn kéo. Nó có thể sẽ hữu ích sau này. Phần lớn những tác phẩm tốt nhất của tôi, hoặc những gì tôi cho là tốt nhất, là việc viết lại những thứ đã bắt đầu và bị bỏ dở từ nhiều năm trước.

    (7) Đừng dùng máy đánh chữ. Tiếng ồn của nó sẽ phá hủy cảm nhận về nhịp điệu của bạn, thứ vốn cần nhiều năm rèn luyện mới có được.

    (8) Hãy chắc chắn rằng bạn hiểu nghĩa (hoặc các nghĩa) của mọi từ mà bạn sử dụng.


  • Bí mật thiêu đốt tâm can, Stefan Zweig

    Đọc thử

    Cuốn sách này đã thiêu đốt tôi theo một cách nào đó. Tôi đã mong chờ được đọc cuốn sách này từ cách đây nửa năm, nhưng phải đến cuối tháng Một vừa qua, tôi mới có cơ hội được cầm nó trên tay và, nhấm nháp cuốn sách này trong một buổi tối rảnh rỗi, với nhiều lần đọc ngắt quãng.

    Về bản chất, Bí mật thiêu đốt tâm can là một tiểu thuyết ngắn. Cốt truyện có thể được hiểu như một cuộc đi săn, xoay quanh ba nhân vật chính: một chàng nam tước hào hoa phong nhã, kẻ chinh phục và thành thạo mọi ngón nghề quyến rũ đàn bà; đối tượng của nam tước – một thiếu phụ thượng lưu xinh đẹp, nghiêm nghị; và Edgar, cậu con trai nhút nhát, ốm yếu, cô độc của người thiếu phụ.

    Rất nhanh chóng, nam tước chủ động làm quen với Edgar, lợi dụng cậu để tiếp cận bà mẹ. Thoạt đầu Edgar gần như choáng váng, phát cuồng vì sự quan tâm bất ngờ tới từ quý ông lịch duyệt này; cậu ngưỡng mộ nam tước vô ngần. Nhưng cậu sớm nhận ra ý đồ thật sự của nam tước: ông ta gạt phăng cậu khi đã làm quen được bà mẹ, và mẹ cậu, người hiển nhiên trong cảnh cô đơn chán chường đã ngã lòng, cũng cật lực tìm cách tống khứ cậu đi cho khuất mắt đặng giúp những cuộc hẹn hò vụng trộm dễ bề trót lọt. Ở đây có một sự chuyển biến ngoạn mục về mặt tâm lý của Edgar: từ một cậu bé ngoan ngoãn, có phần nhút nhát và khép kín, Edgar, sau khi trải qua sự thù ghét, căm hờn, đã vùng lên và “tuyên chiến” với cặp đôi. Cậu bắt đầu sắm vai một kẻ do thám, và một cách vô thức, cậu trở thành người bảo vệ phẩm giá cho mẹ mình (hãy đọc phân đoạn khi Edgar nhấn mạnh từ “cha” trước mặt nam tước và mẹ mình và đắc ý khi nhận thấy nét hoảng loạn trên khuôn mặt cả hai người lớn). Cậu dần dần nhận thức được quyền lực của mình và ra sức bám sát cặp đôi, mặc dù cậu vẫn không hiểu được cái bí mật của thế giới người lớn, rằng rốt cuộc họ dính lấy nhau để làm gì. Ngược lại, người đọc chúng ta đều biết họ sẽ làm gì với nhau, rằng mọi cuộc dạo chơi vụng trộm rồi sẽ dẫn đến chiếc giường, nhưng Edgar không biết gì cả, tuyệt nhiên không. “Bí mật” trong tiêu đề không chỉ là cuộc ngoại tình, mà còn là sự khám phá (hoặc vỡ mộng thì đúng hơn) của Edgar về thế giới người lớn – một thế giới đầy nhục dục mà cậu cảm nhận được nhưng chưa thể hiểu hết bằng lý trí.

    Điều kỳ lạ về cuốn sách này là: tôi không đặc biệt yêu thích hay ghét bỏ một nhân vật nào cả. Tôi cũng chẳng cảm thông với họ. Stefan Zweig để xử lý ổn thoả để khiến nam tước không quá đểu giả, người thiếu phụ không quá đáng khinh, và cậu bé Edgar không quá đáng thương. Trên thực tế, đôi lúc tôi còn thấy Edgar phiền phức là khác: cứ để quách cho hai người họ ngủ với nhau đi, rồi xem điều gì sẽ xảy ra? Cứ để thằng Edgar khám phá ra sự thật ấy đi, rồi xem trái tim bé bỏng ấy sẽ tan vỡ thế nào?

    Và cách Stefan Zweig xử lý những thách thức này đã khiến tôi bất ngờ. Đoạn kết của cuốn sách, đầy cảm động và cao thượng, đã khiến câu chuyện tưởng đâu phù phiếm về một cuộc ngoại tình ở một khách sạn hẻo lánh trở nên đáng đọc hơn bao giờ hết.


  • Mấy ngày cuối năm

    Đọc thử

    Dạo này tôi chẳng làm gì. Từ khi viết xong Mưa xuân, cảm tưởng như một phần thiết cốt trong mình bị rút hẳn ra. Sách thì tôi vẫn đọc đều, nhưng chủ yếu là đọc lại những truyện cũ.

    Sáng nào thức giấc ở Hà Nội, tôi cũng tưởng như mình vừa từ dưới mồ ngoi lên. Thật may là tôi không phải đâm ra ngoài trong tiết mưa phùn bẩn thỉu này. Rất thường xuyên, tôi không biết làm gì cho hết ngày, nên tôi cứ nhàn nhã nhấm nháp từng trang sách một. Với kiểu sống thế này, ngay giữa tuổi thanh niên, tôi dễ bị cho ăn vài phát tát. Nhưng người ta không hiểu được…

    … Trước nay tôi luôn viết từ ký ức. Lắm lúc tôi nghĩ cũng buồn cười, phần nhiều những tác phẩm tôi viết đa phần là viết để trút bỏ một hồi ức, một kỷ niệm, một gương mặt, hay một nỗi dằn vặt nào đó. Mà có lẽ chúng chẳng đáng được coi là sáng tác; chúng mang quá nhiều nét tự truyện. Phơi bày trần trụi tâm hồn mình như thế có ổn không, có thoả đáng không? Tôi có ngại không? Ừ, cũng hơi ngài ngại đấy! Và tôi cũng chẳng bao giờ đặt ra cho mình câu hỏi rằng tôi viết cho ai; nói cách khác, tôi không có cho mình một độc giả tưởng tượng, điều mà tôi cho mọi người thường ngộ nhận về công việc của nhà văn. Tôi nghĩ nghệ thuật là lặn ngụp trong thế giới nội tâm để đi tìm chính mình, và sự thoả mãn trước tiên là thuộc về người nghệ sĩ. Niềm vui của sáng tạo đến trong quá trình làm việc… Tôi nhớ từng đọc được một câu của Proust rằng ông ấy bận rộn “phục dựng toà dinh thự nguy nga của kỷ niệm”. Văn chương hay nắm bắt trọn vẹn một khoảnh khắc, một lát cắt của đời sống, và hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy ở trong những sát na ấy mà thôi.

    … Gần đây tôi đọc nhật ký của Bunin. Thời trẻ, ông ấy thừa nhận bản thân không có khiếu bịa chuyện, – các tác phẩm đầu tay của ông ấy thật ra đúng với dạng tuỳ bút, tản văn ngày nay hơn. Ông cũng từng nói thể loại nhật ký trong văn học sẽ lên ngôi một ngày nào đó. Nhưng, đến những năm bốn mươi tuổi, Bunin thừa nhận trí tưởng tượng của ông ấy đột nhiên bùng phát – sao lại thế được nhỉ… Và tôi cũng bắt đầu nhận ra tính chất dài dòng, lan man trong văn xuôi của ông ấy. Tôi sẽ không cố gắng viết giống ông ấy nữa, mà sẽ cố gắng viết càng khác ông ấy càng tốt. Sẽ không có một dấu vết nào cho thấy sự ảnh hưởng ở đây.

    Tôi sẽ về nhà vào thứ Năm tới. Tôi đã sắm sửa kha khá cho khoản bày trí nhà cửa, giờ chỉ còn lo việc tút tát lại chính mình thôi – một năm rồi tôi chưa mua quần áo mới. Tôi thấy diện mạo của mình ngày càng ổn: mặt mũi bắt đầu hiền hoà hơn (dù tính nết vẫn kỳ quặc như cũ), cân nặng ổn định, giọng nói bớt phần lè nhè; tôi chỉ hơi tiếc mấy bắp thịt trên người, từ ngày bỏ chơi bóng rổ, người ngợm cứ nhão nhoét hết cả ra.


  • Bài ca Solomon, Toni Morrison

    Đọc thử

    Toni Morrison vốn nổi tiếng với các tác phẩm theo khuynh hướng nữ quyền của người da màu, khắc họa những thách thức của việc lớn lên dưới thân phận một người phụ nữ da đen trong nền văn hóa do đàn ông da trắng thống trị (Yêu dấuMắt nào xanh nhất là hai ví dụ điển hình). Vì thế, thành công vang dội của Bài ca Solomon, một tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là nam giới da đen, là một màn đổi gió khá ngoạn mục.

    Khi được hỏi tại sao lại chọn một nhân vật nam làm trung tâm cho Bài ca Solomon, Morrison trả lời: “Vì tôi nghĩ anh ta có nhiều điều phải học hỏi hơn là một người phụ nữ.” Bà cũng thú nhận rằng mình đã cố ý “thử cảm nhận những điều vốn không hấp dẫn tôi nhưng tôi nghĩ lại hấp dẫn đàn ông, như cảm giác chiến thắng, cảm giác đá vào ai đó, hay lao vào một cuộc đối đầu; cái cảm giác phấn khích khi họ gặp nguy hiểm.” Lấy cảm hứng từ nhiều câu chuyện, thần thoại và truyền thuyết, tác phẩm tập trung vào hai tích truyện chính: truyện dân gian của người Yoruba về những người châu Phi biết bay và sách Song of Solomon, cuốn sách thứ 22 trong Cựu Ước.

    Nhân vật chính của chúng ta là Macon “Milkman” Dead III, biệt danh Hàng Sữa. Cuốn tiểu thuyết mở đầu và kết thúc với cảnh bay lượn, luân phiên giữa thực tại và quá khứ, giữa miền Bắc và miền Nam, trong khi Hàng Sữa, ban đầu vốn là một chàng trai da đen ngoài ba mươi với lối sống lông bông, ích kỷ, ưa hưởng lạc, dần khám phá ra cội nguồn cùng bản sắc của mình, hay nói cách khác, Hàng Sữa đã trưởng thành. Và thông qua đó, như Toni Morrison ngụ ý, Hàng Sữa đã học được cách bay.

    Hàng Sữa sinh ra trong một gia đình da đen giàu có tại miền Bắc nước Mỹ nhưng lại nghèo đến thảm hại về mặt tinh thần. Cha anh là một người sùng bái vật chất, lạnh lùng và tàn nhẫn; mẹ anh sống mòn mỏi trong sự ghẻ lạnh (ông đã phớt lờ nhu cầu tình dục của bà hàng thập kỷ, và thực chất Hàng Sữa chui được ra ngoài là nhờ mẹ anh “bẫy” cha anh). Và cứ thế, Hàng Sữa lớn lên như một kẻ ích kỷ, lạc lối, một đứa em út được nuông chiều, một gã công tử bột ba mươi tuổi vẫn chưa cai sữa về mặt tinh thần, hoặc một người tuy còn trẻ nhưng đã “chết” (Câu nói “I’m already Dead!” được nhại lại rất nhiều) về mặt tâm hồn.

    Cốt truyện thực sự bắt đầu khi Milkman quyết định đi tìm kho báu – một túi vàng được cho là gia sản thất lạc của bà cô Pilate – đây có lẽ là nhân vật ấn tượng nhất cuốn sách, nhưng ta sẽ bàn về bà ấy sau. Cuộc hành trình đưa Hàng Sữa ngược về miền Nam nông thôn, quê gốc của gia đình anh. Trớ trêu thay, Hàng Sữa không tìm thấy vàng. Thay vào đó, anh tìm thấy lịch sử đau thương nhưng hào hùng của tổ tiên mình, những bài hát đồng dao của đám trẻ con chứa đựng kiến giải về dòng họ, và huyền thoại về Solomon, một người nô lệ da đen đã cất cánh bay về Phi Châu, bỏ mặc vợ con của mình.

    Solomon đã bay đi mất, Solomon đã đi thật rồi

    Solomon băng qua bầu trời, Solomon về lại quê nhà.

    Chuyến đi tìm vàng biến thành hành trình tìm lại bản ngã, hành trình lần về cội nguồn và hành trình trưởng thành về mặt nhận thức. Thực tại và quá khứ hoà nhập vào nhau, tất cả trải ra trước Hàng Sữa là một lịch sử về dòng họ mình. Thật sự là đến đoạn Hàng Sữa giải được bài vè, mình có cảm tưởng như đang đọc truyện trinh thám của Agatha Christie vậy (Mười người da đen nhỏ). Từ một kẻ ích kỷ, hưởng lạc, không cá tính, không biết mình phải làm gì trong đời, một chàng trai sống cuộc đời quá an toàn – một con côn trùng nằm trong kén, Hàng Sữa đã phá được lớp bọc để vỗ cánh bay vào thinh không…

    Bây giờ là về nhân vật gánh cả cuốn sách: bà cô Pilate. Pilate là em gái ruột của cha Hàng Sữa. Hai anh em từng xảy ra hiềm khích và dù cách nhau vài dãy phố, đôi bên đã đoạn tuyệt từ lâu. Bà sinh ra không có rốn, sống nghèo khổ nhưng tự tại, mang theo cái tên của mình trong một chiếc hộp bằng đồng đeo ở tai – ngụ ý cho việc dù đi đâu về đâu, bà vẫn luôn giữ liên hệ với gốc rễ của mình. Pilate đại diện cho cội nguồn, cho tình yêu thương bao dung và những giá trị truyền thống mà những người da đen hiện đại như cha của Hàng Sữa đã đánh mất. Dù cơm không lành canh không ngọt với ông anh, Pilate rất quý mến đứa cháu Hàng Sữa và trong phần lớn cuốn sách, bà đóng vai trò người định hướng, kim chỉ nam trong hành trình trưởng thành của anh.

    Mình phải thú nhận đây không phải một cuốn sách dễ đọc. Dù câu từ chẳng có gì trúc trắc, cách hành văn cũng rất nhịp nhàng, sẽ hơi chật vật nếu các bạn lao vào đọc cuốn này mà trong đầu không có chút trang bị gì về bối cảnh, chủ đề chung, và mình khuyên các bạn nên đọc trước vài nét về cốt truyện. Phi tuyến tính mà, nếu không nắm rõ thì dễ nản lắm.

    Và mình cũng nói trước rằng có thể sau khi đọc xong bạn cũng chưa hiểu gì ngay đâu. Sách rất nhiều chi tiết ẩn dụ, từ tên nhân vật, phục sức (tỉ dụ như cái vòng đeo tai của bà cô Pilate), hay đến cả cái biệt danh Hàng Sữa cũng là ẩn dụ nốt. Một cuốn sách không hợp để chill, nhưng rất phù hợp nếu bạn thích giải đố, và sẽ là cuốn sách cần đọc ít nhất hai lần.


  • Washington Square, Henry James

    Đọc thử

    Tính đến hiện tại, Washington Square là tác phẩm dễ hiểu, dễ cảm và xem chừng là dễ viết về nhất của Henry James mà mình đọc được. Tiểu thuyết này kể câu chuyện về những nỗ lực của một người cha, một danh y nổi tiếng vào những năm 1880 tại New York, nhằm cứu rỗi cô con gái độc nhất của mình khỏi nanh vuốt của một gã tài tử mà ông tin rằng là một kẻ đào mỏ.

    Kịch bản này gợi mình nhớ đến truyện vừa Của hồi môn của Maupassant, cũng kể về một cuộc hôn nhân vụ lợi với giọng văn mỉa mai, nhưng ở đây Henry James đã xử lý câu chuyện theo một cách khiến mình khá bất ngờ.

    Thoạt đầu, James để mình lơ lửng giữa hai bên; mình không biết Morris (đó là tên gã thanh niên) có thực sự là một gã đào mỏ hay không. Người đọc được cho biết gần như tất tật những gì cần biết về nhân vật chỉ trong vài chương đầu: ông bố, Đốc tờ Sloper, một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng, kiếm bộn tiền, đã goá vợ từ lâu và sống với Catherine, cô con gái duy nhất (một cô gái lành như đất) cùng bà em ruột đồng bóng của mình. Morris, một người đàn ông trạc ba mươi tuổi với diện mạo bảnh bao, có quá khứ bí ẩn, bất ngờ xuất hiện ở New York và tiếp cận Catherine, rồi thông qua sự tiếp tay của bà dì, gã nhanh chóng chiếm được cảm tình của nàng tiểu thư.

    Riêng có Đốc tờ Sloper vẫn khăng khăng rằng Morris là một kẻ đào mỏ, rằng trong thâm tâm và qua “con mắt quan sát nhà nghề” của mình, Đốc tờ đinh ninh gã kia thực chất rất ích kỷ (ông đã đúng!), và chính ông cũng biết thừa rằng con gái mình chẳng thể liệt vào dạng giai nhân để mà được theo đuổi sốt sắng tới vậy. Quả thật Catherine là một cô gái rất bình thường: cô không xinh (ít nhất qua những nét phác hoạ của James là cô không hề “nổi bật”), cô rất nhút nhát, không biết ăn diện, trí tuệ tầm thường, và trong phần lớn cuốn sách cô nhẫn nhịn phục tòng ý chí của ông bố mình, người, dù rất yêu thương con gái mình, lại luôn đối xử với cô một cách trịch thượng, mai mỉa. Và cứ thế, điều duy nhất khiến Catherine khác biệt là ở tấm lòng chân chất, ngây thơ, thuần phác của nàng, nhưng chủ yếu vẫn là ở đống tài sản kếch xù.

    Mặc Đốc tờ ngăn cấm, Morris vẫn năng lui tới nhà thăm Catherine nhân lúc bác sĩ vắng nhà, vẫn là qua sự tiếp tay của bà dì goá chồng xuẩn ngốc. Bà này đui mù đến mức không nhận ra được sự đểu cáng rành rành của Morris, hoặc không, bà ta không muốn nhận ra, trong vô thức bà ta dần dần coi anh ta như con đẻ của mình (vâng, bà ta không có con). Bà tìm mọi cách để se duyên đôi lứa, thậm chí táo tợn đến mức mách Morris nên cùng Catherine kết hôn trong bí mật, bà sẽ là chứng nhân cho tấn kịch ấy, và, biết đâu, bằng tình yêu son sắt thuỷ chung, kiểu gì ông bác sĩ chẳng nguôi giận mà chấp nhận ban phước cho đứa con gái ngu dại của mình.

    Cốt truyện diễn tiến thì các nhân vật chia thành hai phe: một bên là ông bác sĩ với sự quả quyết không xê dịch của mình, ông đã tìm đến tận bà chị ruột của Morris để hỏi thăm về anh chàng và nhận được câu trả lời đã xác nhận mối nghi ngờ của ông bấy lâu nay là chính xác, ông hài lòng và đắc thắng; bên còn lại là Morris, vẫn không thôi hào hoa phong nhã, thở ra câu nào là bay bướm câu đấy, cùng sự phù trợ của bà dì giàu trí tưởng tượng, người đã quyết định phản bội anh mình. Thế Catherine ở đâu? Cô nàng bất hạnh nằm ở giữa sợi dây thừng làm điểm mốc, còn hai bên kia ra sức giành giật cô về phía mình. Cô cố gắng giữ tròn bổn phận với cha, không đời nào cô dám bất tuân mệnh lệnh của ông, nhưng cô cũng không thể để Morris héo mòn vì chờ đợi. Cô nàng cũng đui mù hệt như bà dì mình, trong khi người đọc thì từ lâu không ai là không nhận ra bộ mặt giả trá cùng cái động cơ bẩn thỉu của anh chàng.

    Mối tình cứ dằng dai như thế cho đến khi ông bác sĩ đưa ra miếng đòn tối hậu: cắt sạch tiền thừa kế của con gái, thậm chí chấp nhận mất con, nếu Catherine dám cả gan kết hôn với tên Morris kia. Ông cực lực tìm cách để cứu con gái ra khỏi vũng lầy mà cô sắp ngập ngụa trong đấy: “Thà đau khổ vì thất tình ba tháng rồi thôi còn hơn lâm cảnh cùng cực trong cả phần đời còn lại…”

    Cuối cùng thì Morris đã thoái lui và bỏ rơi Catherine một cách tàn nhẫn. Bác sĩ tự đắc vì con mắt nhìn người chưa bao giờ sai của mình, và cuộc sống trong ngôi nhà ốp gạch ở Washington Square tiếp tục trôi qua trong phẳng lặng. Bác sĩ già đi rồi qua đời, trước khi chết vẫn một mực ngăn cản Catherine, lúc này đã là một bà cô bốn mươi tuổi, là cô không được kết hôn với Morris sau khi ông khuất núi. Nếu cô làm vậy khác nào ông thua cuộc? Đó cũng là lần đầu tiên Catherine dám cưỡng lệnh cha mình. Chuyện tái ngộ của Morris và Catherine ra sao, xin bạn đọc tự khám phá ở chương cuối…

    Giờ thì đến một vài suy tưởng của mình sau khi gấp cuốn sách lại. Câu chuyện bi kịch này cho thấy cuộc đời một người phụ nữ yếu đuối, ngây thơ, tốt nết có thể bị huỷ hoại ra sao bởi những ham muốn đớn hèn của chính những người thân cận. Morris nhắm Catherine chỉ vì tiền; bà dì, người được giao trọng trách kèm cặp nàng, thì lại cảm mến gã đốn mạt kia và bán đứng nàng; ông Đốc tờ, người bố cứng nhắc, gia trưởng, người chưa bao giờ nhìn nhận Catherine như một con người tự do với những nhu cầu và khát khao riêng, thì luôn tâm niệm mình đang cứu rỗi nàng, trong khi thực chất ông mới là người huỷ hoại nàng nhiều nhất. Ông giàu có, kiêu hãnh và hiếu thắng – ông nhất định phải khiến con gái sáng mắt ra. Và ông đã đúng, đã thắng, nhưng cái giá phải trả là gì? Mình nghĩ đến lúc chết người đàn ông kiêu mạn ấy vẫn không ngộ ra rằng ông ta đã “giết chết” con gái mình ra sao. Tuổi trẻ, cái phần sinh lực quý giá nhất đời người, đã qua đi trong mòn mỏi, trong đợi chờ vô vọng. Tình yêu đã chết, kỷ niệm đau đớn chôn vùi nơi đáy tim, và Catherine của chúng ta hoá chai sạn – trái tim của nàng đã bị phong ấn. Mà bi kịch của nàng là gì? Nàng không được phép sai.


  • Mưa xuân

    Đọc thử

    Thật ngọt ngào khi hồi tưởng lại những gì

    Mà khi trước ta ít thèm để ý.

    Và đau đớn và u sầu đến thế –

    Chỉ hy vọng sao thêm được một mùa xuân.

    Vào cái thời sinh viên của mình, tôi từng thuê trọ ở phố S. thuộc quận Thanh Xuân, gần mặt đường Lê Trọng Tấn, chung chủ với một lão già tên Hưng, một người phốp pháp tuổi trạc lục tuần, có mái tóc muối tiêu bò liếm, thường dậy từ sớm tinh mơ, mình mặc chiếc áo khoác rằn ri không tay và ngồi gác chân lên bàn xem thời sự buổi sáng. Lão sung túc và thong dong, sống ở căn nhà ba tầng ngoài mặt đường với bà vợ trắng lốp và cô con gái bỏ chồng, còn tôi thuê của lão một phòng đơn trên tầng thượng trong cái nhà nghỉ năm tầng cổ lỗ mà lão đem chắp vá thành nhà trọ cho đám sinh viên rồi thu giá cắt cổ. Đồ đạc trong phòng ngoài chiếc giường chân cao đối diện cửa ra vào thì chỉ có một chiếc quạt trần nhám bụi, một chiếc TV đã hỏng và một chiếc điều hoà hiệu Casper còn khá mới. Phòng không có cửa sổ, duy có một khung cửa chớp sát trần là nơi ánh sáng le lói ngoài con ngõ tối tăm rọi vào; những ngày mùa đông u ám, nhiều khi tôi sực tỉnh giữa chiều mà không phân định nổi đang là ngày hay đêm…

    Thoạt tiên lão Hưng đối xử khá niềm nở, lão cùng vợ cũng xăng xái đỡ đần này kia, mấy ngày đầu còn mời tôi qua nhà dùng bữa, rồi dần dà chẳng rõ sự thể ra sao, lão bắt đầu giở thói ương gàn, hách dịch. Dường như chuyện vợ chồng lão không êm thấm cho lắm, nên lão cứ mò sang nhà trọ hoài, sau rốt còn ngủ hẳn ở phòng tầng trệt sát gian khách. Từ ấy lão biến cuộc đời tôi thành ác mộng. Mặt lúc nào cũng hằm hằm, lão chăm chăm bới bèo ra bọ và riêng về tính nết thì là con người ki bo nhất hạng. Đến giờ sau khi đã gặp đủ mọi hạng người, tôi vẫn tin trần đời hiếm có ai keo kiệt hơn lão già ấy; tiền nhà đắt đỏ đã đành, đằng này lão còn thu thêm mỗi tháng trăm nghìn tiền nước nhưng nhất quyết không cho tôi dùng chiếc máy giặt Panasonic mà lão kê ngoài sân thượng, nói rằng đó chỉ dành cho những khách trọ đến nghỉ ngắn ngày mà thôi (dù tôi thấy phần đông chỉ là mấy cặp đôi vào hú hí với nhau)… Nhưng thôi mặc lão la lối, thi thoảng lười quá tôi vẫn giặt trộm, còn thì quần áo cũng chẳng có mấy nên tự giặt tay cho nhanh. Từ ngày phát hiện ra việc lén lút ấy, lão càng căm ghét tôi hơn, còn về phần mình tôi cũng chỉ mong đến ngày hết hợp đồng để mà cuốn gói.

    Sang tháng mười một, khi những đợt khí lạnh đã bắt đầu, tôi xin được một chân hầu bàn ở một tiệm cà phê nho nhỏ theo phong cách bao cấp, nằm ở con ngõ vắt ngang phố Chùa Bộc và phố Tam Khương. Dạo ấy tôi ít ở nhà hẳn, thảng hoặc mới đụng mặt lão Hưng, vả lại tôi cũng đóng tiền đúng hạn nên lão chẳng có gì mà bắt bẻ. Cuộc sống sinh viên của tôi bắt đầu đi vào nền nếp: sáng học trên trường, chiều lên ngồi thư viện, tối đi làm thêm. Thật ra tôi vào làm cái quán cà phê vắng tanh ấy cũng chỉ vì nó gần trường của An Dung, bạn gái của tôi từ thời cấp ba, thành ra rất tiện đường cho tôi tạt qua thăm nàng mỗi ngày. An Dung trọ ở khu tập thể X trong một căn phòng rộng rãi, sáng sủa, với một khung cửa sổ lớn thường được để ngỏ mà chiều chiều nàng hay tựa tay chống cằm ngó xuống sân chơi. Cạnh cái sân chơi ấy, dưới tán một cây đa xoè rộng hay có mấy ông già ngồi chụm đầu đánh cờ tướng, cãi nhau ỏm tỏi cả lên cứ như mấy đứa con nít. Tôi cũng hay đứng đó đợi nàng luôn… Giờ hồi tưởng lại thì khi ấy nàng quả thật rất xinh xắn: nước da trắng trẻo, bên dưới tấm áo sơ mi may rộng lộ ra xương quai xanh thanh tú và cần cổ thanh thanh, trắng muốt, ngực nàng nhô cao và khi nấu ăn nàng giữ lưng thẳng đuột, mái tóc hung hung mỏng mượt loà xoà chấm vai. Lúc đứng một mình, nàng trông có vẻ một tiểu thư tỉnh lẻ, một cô gái xinh xắn, tự tin và ý thức rất rõ về sức hút của mình; nàng làm duyên làm dáng dễ sợ và nếu ai không biết nàng thì dễ nghĩ nàng là người đỏng đảnh vô cùng. Nhưng lúc ở bên cạnh tôi thì bao giờ nàng cũng là An Dung, là người con gái chân phương, khoan hoà, dễ chịu. Nàng yêu tôi dịu dàng, âu yếm, thường ngày nói năng rất nhỏ nhẹ, chỉ lâu lâu mới giở thói ngang ngạnh, bướng bỉnh; những lúc ấy nàng đã muốn gì là đòi cho bằng được, ép tôi phải phục tùng ý chí của nàng, nhưng, suy cho cùng thì con gái khi yêu ai mà không thế nhỉ…

    Một tối thứ sáu nọ, trước lúc về quê ăn Tết vài tuần, An Dung sang trọ thăm tôi. Sau khi lòng vòng quanh những con phố nhớp nhúa và ăn một bữa ăn tạm bợ, chúng tôi đi dạo ở công viên. Trời đã tối lắm, trên con đường lát đá quanh co chỉ thấy mấy ông bà già đang chầm chậm rảo bước, bao quanh những rặng cây khẳng khiu đen sẫm là một dải sương lam nhờ nhờ đục. Trong làn gió lành lạnh đưa lại mùi hương của mưa, của cỏ non mới cắt, và trên bầu trời cao thăm thẳm, lốm đốm những vì sao đứng cách xa nhau như giận hờn điều chi, còn mặt trăng chừng như rụt rè nên cứ nấp mình sau những phiến mây mỏng. Khi chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá cạnh bồn hoa, tiếng xe cộ ngoài phố chỉ còn như những tiếng vo ve bên tai, và nghe rõ tiếng sóng vỗ nhịp nhàng, êm ái vào mạn hồ. Cảnh hoàn toàn thơ mộng… Chúng tôi vừa ngắm mặt hồ gợn sóng lấp loáng những dải vàng rực vừa hăng say chuyện trò. An Dung tựa đầu vào vai tôi và kể những chuyện bâng quơ không đầu không cuối, cơ hồ cứ nhớ ra điều gì là nàng kể lại điều ấy. Và chẳng chốc thì tôi cũng đâm ra lắm lời nữa kia! Trong lòng cảm thấy lâng lâng, êm ái, chúng tôi toàn nói những chuyện cao xa, chuyện của sau này, và tranh nhau phác thảo những dự đồ cho tương lai hai đứa, trong khi vẫn chen chúc nhau trong những con phố tồi tàn và có khi ngày mai còn chưa biết mình sẽ ăn gì.

    Đến chín giờ thì tốp người đi bộ đã ra về hết, chỉ còn lại mấy tay câu cá là vẫn lẳng lặng ngồi im như tượng trong bóng tối mờ mờ. Vạt cỏ dưới chân chúng tôi ướt đẫm. Màn sương lãng đãng trên mặt hồ đã dày tới mức như cắt được ra thành từng mảng.

    “Sương xuống nhiều quá,” An Dung xoa xoa tay vào nhau và nói. “Này anh thử sờ váy em xem, cứ như đang mặc quần áo ẩm ấy!”

    “Ừ,” tôi trả lời, “có lẽ phải về thôi, cảm lạnh mất.”

    “Mới gặp nhau được có tý,” nàng phụng phịu bĩu môi. Tôi nhìn vào đôi mắt đen rất đẹp của nàng và thấy trong vẻ nũng nịu của nàng có gì đó thật đáng yêu, hồn nhiên như con trẻ. Trong lòng cảm thấy xao xuyến, tôi liền ôm ghì lấy nàng, hôn liên tiếp vào môi, vào má nàng, vào vành tai nàng, khiến nàng gập người vì nhột và ngả ra cười rúc rích.

    “Về phòng anh nhé?” tôi hỏi.

    Nàng bối rối chỉnh lại món tóc loăn xoăn trên trán và rụt rè gật đầu: “Vâng…”

    … Sáng hôm sau, khi tôi mở mắt thì An Dung đã dậy trước và đi chợ mua đồ ăn sáng về. Hai đứa vừa ăn vừa hí hửng vạch kế hoạch đi chơi cho buổi cuối tuần. Thế rồi từ dưới tầng ba vọng lên cái giọng khàn khàn của lão Hưng: lão gọi tôi xuống nói chuyện. Tôi xuống. Lão ngồi tựa lưng trên chiếc ghế dài, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối. Lão nhìn tôi chòng chọc và gằn giọng: “Hôm qua con bé kia ngủ đây đấy à?” Tôi lúng búng: “Vâng, thưa bác…”. Liền đó lão lồng lên, hai bên lông mày như chập lại thành một con sâu róm đen ngòm và phun ra những lời văng tục bẩn thỉu vô cùng. Trước những cãi cự yếu ớt của tôi mà lão khăng khăng là xỏ lá, lão nhướng mày và đứng phắt dậy, tưởng đâu sắp lao vào tôi không chừng, rồi vừa chỉ ngón tay vào mặt tôi vừa gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Tao đếch cần biết! Mày thuê trọ nhà tao thì mày phải ăn ở theo ý tao, tức là sao? Là mày phải ăn ở cho đàng hoàng con ạ, chứ không phải dẫn con này con kia về rồi chúng mày ngủ với nhau. Tao còn lạ gì cái lũ sinh viên bọn mày, chúng mày đi ở thuê mà làm như là ông tướng!”

    Cuối cùng, sau một hồi đôi co vô nghĩa, lão yêu cầu tôi thu dọn đồ đạc rồi “cút xéo” khỏi nhà lão ngay trong tuần này.

    An Dung ngồi bên mép giường. Trông thấy tôi mở cửa bước vào, nàng hơi nhổm dậy rồi lại buông mình xuống đầy lo lắng, môi mím chặt. Có lẽ trông vào dáng vẻ bực dọc, vào cái nhíu mày của tôi thì nàng phần nào đã đoán định ra duyên do là gì, – nàng im lặng như tủi hổ và, có lẽ còn sợ sệt cơn tam bành của tôi là khác. Sau đó nàng cứ ngồi tựa cằm vào đầu gối còn tôi thì nằm ngửa trên giường, mắt nhìn trân trân lên chiếc quạt trần cứng đờ đáng ghét. Tôi nhìn quanh quất khắp phòng, thấy đâu đâu cũng toát lên vẻ tạm bợ, trong lòng vừa thấy nhục nhã vừa căm giận cái cảnh túng thiếu của chính mình. Ngoài sân thượng, mưa gõ long tong xuống mái tôn.

    “Em nghĩ cái gì đấy?” tôi hỏi chỉ vì không chịu nỗi cảnh thinh lặng.

    Nàng không đáp ngay mà ngả đầu lên bắp tay tôi, vừa choàng tay ngang ngực tôi vừa thủ thỉ:

    “Nãy ông ấy bảo gì anh? Anh xin lỗi ông ấy rồi chứ?”

    Tôi im lặng không đáp. Nàng dịu dàng nói tiếp: “Thôi nào, có gì anh phải kể ra thì em mới giúp anh được chứ.”

    “Xin lỗi cái chó gì,” tôi đáp. “Em không biết lão khốn nạn thế nào đâu. Anh chẳng kể em nghe rồi còn: ở trọ với lão còn khổ hơn con dâu với mẹ chồng. Lão xét nét anh từ li từng tí, đến khổ! Riêng cái lần phát hiện ra anh dùng trộm máy giặt là lão đã doạ tống cổ anh khỏi đây. Mẹ kiếp! Cứ làm như báu lắm! Nếu không phải vì… vì… mà thôi kệ đi.”

    “Vì anh hết nhẵn tiền rồi đúng không?” An Dung nói. “Đáng ra hôm qua em phải về nhà mới đúng.”

    “Thôi em đừng nói lăng nhăng. Không vì chuyện này thì cũng vì chuyện khác, kiểu đếch gì lão cũng đuổi anh đi thôi. Em thấy đấy, ngoài anh ra làm gì có ai bị ngu mà đâm đầu vào cái chỗ này. Anh chán lắm rồi!”

    Trong lúc nói chuyện, vì quá bực tức mà không biết tự lúc nào tôi đã đứng dậy đi đi lại lại khắp phòng, còn An Dung thì cũng đã ngồi dậy, tiếp tục nhìn tôi với vẻ cam chịu, như thể nàng nghĩ thảy là lỗi của nàng. Tôi những muốn đập tan một cái gì đó cho hả dạ, nhưng nào có cái gì mà quăng? Có mỗi cái bàn học chỏng chơ trong góc, một cái giá quần áo bằng gỗ, rồi thì một cái va li nhét trong gầm giường. Thế rồi tôi đành ngồi xuống cạnh nàng, ngồi rất lâu, không ai nói một lời nào. Bỗng An Dung đứng phắt dậy:

    “Anh, mặc áo vào rồi xuống nhà với em đi!”

    Tôi gần như tá hoả với cái ý nghĩ hai đứa sẽ chường mặt ra trước lão chủ trọ và thành thật xin lỗi lão. Tôi khẩn khoản nói với nàng:

    “Ôi! Em bị dở hay sao thế? Anh không bao giờ xin lỗi lão đâu. Mai có phải ra ngủ đường thì anh cũng không…”

    “Nào ai bắt anh xin lỗi,” nàng ngắt lời bằng giọng quả quyết. “Thế giờ anh định ngồi đây cắn móng tay mãi à? Anh xuống dắt xe đi, mình sẽ đi tìm trọ.”

    “Nhưng… nhưng…”

    “Nhưng cái gì mà nhưng. Cứ nghe em, anh xuống dắt xe đi.”

    Trước tiên An Dung đòi tôi chở nàng về nhà. Tới trước cổng nhà, vừa gạt chân trống là nàng đã nhảy phắt xuống, lanh lẹ tra chìa vào ổ khoá rồi leo ba tầng gác về phòng mình. Tôi khẽ khép cổng, khoá xe rồi cũng chạy vù lên theo nàng. Bạn của nàng về quê, thành thử trong phòng chỉ có hai đứa tôi. Nàng cứ đi đi lại lại khắp phòng, ngón trỏ bập bập vào môi dưới, nhón chân ngó lên chạn bếp, nóc tủ quần áo, miệng lẩm bẩm: “Đâu rồi ấy nhỉ? Đâu rồi ấy nhỉ?”

    “Đâu cái gì?” tôi nôn nóng hỏi.

    “Con lợn đất của em,” nàng vừa trả lời vừa nằm sấp xuống nền đất lạnh, dòm mắt vào trong gầm giường. “À, kia kìa, anh nhoài vào lấy cho em đi!”

    Tôi chống tay cúi xuống nhòm thì quả là có một con lợn đất thật. Tôi chỉ hơi thò đầu vào là đã kéo được nó ra: một chú heo hồng với cái chóp màu xanh hình mắt ếch, toàn thân bám đầy bụi và tóc rối. “Đời thuở nào lại nhét lợn đất ở đây bao giờ!” tôi thầm nghĩ lúc đưa cho An Dung. Nàng phù miệng thổi bụi, đoạn đánh mắt ra hiệu cho tôi lùi về sau, rồi buông tay: con lợn đất vỡ tan tành. Nàng bắt đầu nhặt nhạnh từng đồng chẵn, đồng lẻ như đang gắp bằng hai đầu ngón tay, lẩm nhẩm tính thầm, đoạn phất xấp tiền vào tay tôi và nói dõng dạc: “Gần bốn triệu. Chừng này chắc đủ cho anh xoay sở tháng đầu…”

    Vẫn với vẻ sôi nổi như thế, cả ngày hôm ấy nàng cùng tôi lặn lội tới hang cùng ngõ hẻm thuộc quận Hai Bà Trưng, quyết tìm cho ra một nhà trọ ưng ý. Thoạt đầu thì tôi cũng bị lây cái vẻ cả quyết của nàng, nên tôi còn hồ hởi, nhưng khi đã xem đến phòng trọ thứ năm trong ngày mà vẫn không chốt nổi, nhiệt hứng trong tôi suy kiệt dần, tôi đâm ra cáu bẩn và thối chí. Cơn giận ban nãy đã nguôi, trong lòng chợt thấy hèn nhát, lúc đứng chờ đổ xăng tôi mới lựa lời nói với nàng: “Hay là xin lão ấy lui cho vài ngày? Chứ em xem, trời thì vừa mưa vừa rét, đường sá lầy lội, đã thế còn tắc đường. Bây giờ cũng sắp tối rồi.”

    “Không được, nhất định phải tìm cho ra!” nàng dằn giọng trong lúc tôi ngán ngẩm đẩy xe, tiếp tục cuộc hành trình vô vọng ấy. Mưa vẫn rơi liên miên. Vừa đi tôi vừa nguyền rủa số phận mình, cứ như thể tôi đây là người khổ nhất thế giới. Ngồi phía sau, An Dung tì trán vào lưng tôi, cắm cúi gọi hết số này đến số khác. Đến chín giờ thì mưa đã nặng hạt lắm rồi, bụng tôi réo lên ùng ục, răng cắn vào nhau lập cập vì rét, thì bất đồ An Dung đốp mạnh vào vai tôi.

    “Đây rồi!” nàng reo lên. “Ngay gần trường anh này. Nào anh, quay đầu đi!”

    Tôi ngán ngẩm thở dài: không hiểu nàng lấy đâu ra nhiều nghị lực tới thế. Gần chín rưỡi, chúng tôi phóng xe vào một con hẻm âm u dưới bóng đèn vàng vọt từ trên cột điện rọi xuống, đường hẹp đến mức hai xe máy ngược chiều phải nhường nhịn nhau. Mưa rây bụi. Trên đầu là mớ dây điện chằng chịt, chung quanh toát lên cái mùi khăm khẳm điển hình của một phố sinh viên nghèo. Khi người quản lý nhà, một anh chàng chừng ba mươi tuổi mặc áo phao đen, đến mở khoá cổng và dẫn chúng tôi lên xem phòng, nàng khẽ nói vào tai tôi: “Anh đừng nói gì cả, cứ để em lo!” Phòng ở bên trái cầu thang tầng hai. Ngay lúc bước lên cầu thang tối mù hôi hám, tôi đã ngửi thấy cái mùi ẩm mốc do cài then đóng cửa quanh năm suốt tháng, và có cảm tưởng nếu dậm chân hơi mạnh chút xíu thì vữa trên trần nhà sẽ rắc xuống như mưa. “Đấy”, tôi cay đắng nghĩ thầm, “đời sinh viên của mày đấy! Chỗ này thì đến chó còn chê nữa là!”

    Viên quản lý kéo thanh cửa nhôm sang bên rồi bước vào trước, lần tay quanh bờ tường tìm công tắc điện. Tôi với An Dung đứng ngoài ngưỡng cửa ngó vào. Ôi! Căn phòng bé như cái lỗ mũi, hoàn toàn không có đồ đạc gì; một vách ngăn lợp nhựa mỏng dính dán giấy in hoa chia tách với phòng bên: vốn dĩ đây là một phòng lớn được bọn chủ nhà tách ra để kiếm lợi, như phân lô bán nền. Nghe rõ mồn một tiếng nhạc từ phòng bên vọng sang. Viên quản lý nhìn tôi rào trước ngay: “À, phòng bên cạnh bạn ấy đi làm suốt ấy mà, ít khi ở nhà lắm. Chắc hôm nay mưa nên thế thôi!” Tôi chỉ biết cười trừ và nhìn sang An Dung, thấy nàng vẫn mải miết ngắm nghía căn phòng. Đoạn nàng bước vào và lại gần sát khung cửa sổ có hàng chấn song bằng gỗ, hà hơi vào ô cửa kính. Sau đó nàng sải bước quanh phòng, cứ bước gióng một như đi diễu hành rồi quay lại đứng cạnh tôi, gật gù đầu. Nàng nói giọng khôi hài: “Được đúng năm bước chân!”

    “Mình về thôi chứ em?” tôi rầu rĩ đáp lại.

    “Không anh, mình sẽ lấy phòng này!”

    “Em điên rồi!” tôi thốt lên. “Cái phòng bé như cái chuồng xí này! Không thể được!”

    “Anh be bé cái mồm thôi chứ,” nàng huých vào tay tôi và nói bằng giọng răn đe. “Anh xem xem, ít ra nó còn có cửa sổ, vả lại còn rất gần trường. Quả là nó bé thật, có khi chỉ nhỉnh hơn cái nhà tắm ở trọ em một tí tí thôi, nhưng anh yên trí đi. Em sẽ thu xếp được! Anh có tin em không nào? Thế… thế… giờ anh ở im đây đợi em. Em sẽ vào bàn với ông kia tiền nhà xem sao.”

    Trong lúc nàng trao đổi với viên quản lý, tôi nhìn quanh quất căn phòng và thấy chán nản cực độ. Thoạt đầu viên quản lý đòi hai triệu tiền phòng – lúc ấy tôi chỉ muốn tọng cho gã một đấm vào mồm. An Dung liếc mắt sang tôi như thể canh chừng, rồi nàng đon đả nói lý với gã, trình bày tình trạng cần kíp của hai đứa, rằng chúng tôi đều là sinh viên mới lên nhập học, tiền nong cũng chẳng lấy làm nhiều nhặn gì. Gã gật gù đầu ra vẻ cân nhắc nhưng vẫn chối đây đẩy rằng việc giảm tiền không nằm trong thẩm quyền của gã. Đến nước này thì chỉ còn cách kể lại toàn bộ câu chuyện ban sáng. Trong lúc nghe chuyện, gã cứ gãi gãi sống mũi, đầu gật gù, mắt nheo lại tựa hồ bán tính bán nghi. Ít ra gã cũng còn chút lương tâm: sau rốt gã đồng ý giảm tiền nhà xuống một triệu tám, với điều kiện phải ký hợp đồng ngay lập tức. Tôi nghĩ thôi thì chết đuối có bọt cũng phải cố mà vớ, nên đã đặt bút ký ngay. Liền đó gã đóng cặp xách, đưa tôi hai chiếc chìa khoá, một khoá cổng và một khoá phòng, rồi chúng tôi cùng theo gã xuống nhà…

    “Em đã bảo cứ để em lo mà,” An Dung hào hứng thốt lên khi chúng tôi ngồi đợi đồ ở quán thịt nướng. “Nhưng chúng nó đớp mới ác chứ, cái phòng bé tí hin mà đòi những hai triệu. Nếu không vì vội quá đời nào em để anh phải chui lủi trong cái xó ấy. Thôi ở tạm vậy, sau này khấm khá hơn mình tìm chỗ khác. Nhưng anh ạ, ít ra cái phòng đấy còn có cửa sổ… Anh biết không, em không thể nào sống trong một căn phòng không có cửa sổ. Em cần ánh nắng và khí trời. Không hiểu sao anh ở trong cái phòng hiện tại được, tối hút lại còn ngột ngạt như cái phòng giam… Sau này dọn sang đây rồi anh nhớ phải mở toang cửa sổ cho thoáng phòng, nghe chửa?”

    Lúc ấy, tôi vừa hổ thẹn vừa cảm động đến nỗi chỉ biết siết chặt tay nàng mà lắp bắp: “Cảm ơn em, cảm ơn em!”

    Tám giờ sáng hôm sau, An Dung xắn tay thu xếp đồ lề trên gác trong lúc tôi bàn chuyện với lão Hưng. Lão ngồi gác chân lên mặt bàn, chóp mũi đỏ gay như quả nhót, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai có tai cụp. Nhận thấy thái độ bất cần của tôi, lão bớt khệnh khạng và chuyển qua nói giọng cha chú, bắt đầu rao giảng về cách sống trên đời, than thở rằng thật ra lão cũng chẳng muốn bắt bẻ tụi sinh viên như tôi làm gì, nhưng nếu tôi vẫn quyết ra đi và muốn nhận lại đủ tiền cọc thì trước mắt hãy vận sức khiêng giúp lão cái tủ lạnh ở tầng một về nhà bên đã. Cái lão già khốn kiếp ấy, cứ mỗi lần nhờ vả gì đó thì lão tử tế và nhu mì đến lạ… Dù sao thì tôi cũng dằn lòng mà bê giúp lão, trong lòng cứ thấp thỏm nhỡ lão gây khó dễ, không hoàn tiền cọc thì sao? Sau cùng đích tay lão trả số tiền ấy cho tôi, nhưng còn soát lại từng chiếc móc treo quần áo mà lão từng cho tôi mượn hồi mới dọn vào. Thế đấy!

    Ngã tư, đèn đỏ, hẻm nhỏ, khúc quanh – tôi còn nhớ gì nữa nhỉ? À phải rồi, làm sao mà tôi quên được cái ông lão cụt chân lái xe ba gác, cái ông lão có cái chân bên phải bằng nhựa ấy, người đã lụi cụi trút hết đồ đạc của tôi ngay trước đầu hẻm như một cuộc phát mại. Tôi với An Dung lái xe theo sau, và khi đến nơi, tôi cơ hồ chỉ còn muốn chui xuống đất trước cảnh tượng bày ra trước mắt: thảy hành lý của tôi, từ chiếc vali gãy chân lăn, chăn ga gối đệm, bàn học, ghế ngồi, quần áo, thau chậu, đang nằm lổn ngổn dưới mặt đường nhầy nhụa, sát cạnh một quán cà phê nhốn nháo kẻ ra người vào. Chung quanh ồn ã tấp nập, hơi ẩm sớm mai còn đang bảng lảng, tiếng còi rú, tiếng chợ phiên, tất cả họp vào nhau tạo nên một khung cảnh huyên náo vô cùng, cái huyên náo đặc trưng của một phố Hà Nội. Từng hàng xe nối đuôi nhau, người người chen chúc, dậm chân, phả thuốc ở đèn đỏ ngã tư… Tôi chẳng còn nghe rõ tiếng An Dung kì kèo giá cả với ông thương binh nữa, mà cứ đứng đực ra đó, ngượng ngùng như thể đang trần truồng giữa thanh thiên bạch nhật, như thể cảnh nghèo khổ của tôi đang bị phô ra trước toàn thể bàn dân thiên hạ, trước hàng trăm con mắt hiếu kỳ đang chiếu vào tôi – ắt hẳn thảy đều đang ái ngại, dè bỉu, lắc đầu ngán ngẩm, hoặc tệ hơn nữa là thương hại tôi.

    “Anh, nhìn em này!” bỗng giọng lanh lảnh của An Dung cất lên.

    Tôi quay sang: với dáng điệu thản nhiên nàng ngồi xuống chiếc ghế và xoay tròn một vòng, rồi ngước lên nhìn tôi, nhoẻn miệng cười đầy vô tư, không ngại ngùng. Dòng người vẫn nườm nượp diễu qua, tiếng còi vẫn rú rít liên hồi, nhưng đúng là tôi đã chẳng còn nghe được gì nữa, chẳng còn thấy được gì nữa. Đúng ra là vào lúc ấy, vạn vật chung quanh đã mờ nhoè đi, giữa phố xá ảm đạm một màu xam xám nhờ nhờ, giữa màn mưa phùn li ti, chỉ còn thấy được tấm áo len màu đỏ thẫm, tấm áo may rộng lấm tấm nước mưa trùm lên thân hình gầy gầy, non nớt của nàng…

    “Em yêu, mọi người đang nhìn mình đấy.”

    “Anh à, ở đây không ai biết mình là ai, chỉ có hai đứa mình với nhau mà thôi…”

    Lúc ấy tim tôi dịu dàng thắt lại, trong lòng ngập tràn lòng âu yếm và thương cảm với người con gái nhỏ bé, người con gái yêu tôi hết lòng hết dạ ấy. Đáng ra lúc ấy tôi đã phải bế nàng lên rồi ôm ghì lấy nàng như thể thế giới này ngoài chúng tôi ra hoàn toàn chẳng có ai cả. Đáng ra tôi đã phải nói với nàng rằng nàng xinh đẹp thế nào, nàng quý giá với tôi ra sao, rằng vào khoảnh khắc ấy, trên thế giới này, đối với tôi không còn ai gần gũi hơn, thân quý hơn, quan trọng hơn nàng. Nhưng vì cái tính cả thẹn và hèn nhát của tuổi trẻ, tôi đã chẳng nói một lời nào. Mãi những năm về sau này, khi cuộc sống của tôi vẫn bình thản tiếp diễn mà thiếu vắng bóng dáng nàng cạnh bên, khi tôi thong thả tản bộ trên những con phố thân quen, lòng tôi chợt đâm ra buồn buồn, tôi vu vơ hồi nhớ lại buổi sáng hôm ấy, nhớ tấm áo len màu đỏ thẫm của nàng, nhớ nụ cười rạng rỡ đầy hồn nhiên và lòng tôi dâng lên một nỗi dằn vặt lẫn luyến tiếc không thể nào chịu nổi.


  • Tản mạn về việc viết

    Đọc thử

    Cho tới năm mười chín tuổi, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết lách. Đương nhiên, nhờ giáo dục, tôi phần nào phát hiện ra mình có chút văn tài, và lấy làm tự đắc lắm. Giờ nhớ lại mới thấy bản thân ngây ngô nhường nào, vì viết đâu phải cứ dựa mãi vào cảm hứng, vào thiên phú cho được. Càng viết, càng thấy việc viết khó khăn và chông gai ta tưởng nhiều.

    Tác phẩm đầu tiên của tôi, nếu có thể cho đó là tác phẩm, là một bài điểm sách ngắn gọn chừng năm trăm chữ về cuốn Đất máu Sicily của Mario Puzo. Giờ cho tôi đọc lại bài viết đó hẳn tôi sẽ rất ngượng: đọc lại tác phẩm mình viết mới tháng trước đây thôi mà tôi đã thấy xấu hổ rồi. Dấu hiệu tốt đấy chứ, điều này phần nào chứng tỏ tôi vẫn đang tiến bộ từng ngày. Nói thế, chứ thực chất tôi cảm tưởng mình cứ dậm chân tại chỗ thế nào ấy; khi viết, khó tránh khỏi việc lặp lại chính mình. Riêng việc mặc lại một chiếc áo hai lần tôi đã thấy lấn cấn rồi, huống chi đây là việc sáng tác, vậy nên tôi luôn cố để mỗi tác phẩm của mình có một đời sống riêng, dù rằng bất cứ ai từng đọc quá ba tác phẩm của tôi, hẳn thấy nhiều chi tiết trùng lặp và đôi khi là những phần tự thuật thêm thắt rất dễ nhận biết nữa.

    Tôi không có ý định bàn về kỹ thuật, phương pháp, hay mánh mẹo viết lách trong bài viết này. Cái đấy tôi chẳng có nhiều, dù quả thực tôi rất quan tâm đến chúng, nhưng hễ ngồi xuống viết là tôi bị cuốn đi, chẳng nhớ được gì nữa cả. Nói tóm lại, việc viết của tôi vẫn mang tính tự phát rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ muốn phân biệt hai khái niệm: cảm hứng và cảm xúc.

    Viết có cảm hứng giống như hổ mọc thêm cánh, đặc biệt nếu nhà văn đã thu nạp vào mình đủ mọi quan sát, chiêm nghiệm, thì lúc đó ba giờ ngồi viết ngắn như ba phút đồng hồ. Nhưng không có cảm hứng thì cạy cục mãi chẳng nên câu, nghiến răng cắn lợi, vò đầu bứt tóc, cứ viết rồi gạch đi. Có nhiều nhà văn không viết cả tháng trời, chờ đợi cảm hứng, rồi khi nó đến thì đóng cửa nhiều ngày liền, viết một mạch cho xong. Tiêu biểu như Goethe, Stendhal, v.v. Ngược lại, có những nhà văn kỷ luật hơn, ngày nào cũng ngồi vào bàn, viết cho đủ hạn mức đặt ra, hoặc đơn giản là viết cho trọn thời gian định trước, chất lượng ra sao cũng mặc. Hiển nhiên cách làm thứ hai được cho là chuyên nghiệp hơn. Và thực tế thì nếu được chọn lựa, ai cũng nên làm vậy. Ngày nào cũng nên ngồi vào bàn, viết một chút, gì cũng được, để khỏi cùn nghề. Hồi mới tập tành làm văn tôi đã từng như vậy, tức là vốn dĩ tôi đã coi việc viết rất nghiêm chỉnh. Nhưng công việc không phải ngày nào cũng xuôi, và sáng tác ấy mà, không phải chỉ diễn ra trong lúc ta ngồi xuống viết. Việc viết diễn ra cả ngày, trong lúc ta ăn, đi dạo, nói chuyện với đồng nghiệp, hay thậm chí là trong giấc ngủ. Nếu cứ đợi đến lúc ngồi xuống bàn mới bắt đầu nghĩ, thì việc viết quả thật nhọc nhằn và dễ gây thối chí lắm. Đây là bài học quan trọng nhất tôi nghiệm được trong năm nay. Từ khi phát hiện ra sự thật này, tôi bắt đầu viết chậm hơn, ấp ủ một ý đồ nhiều ngày, nhiều tuần trời, trước khi bắt tay vào viết. Nếu câu văn viết ra ngắc ngứ, mơ hồ, không đạt, thì tức là suy nghĩ của người đó còn chưa rành mạch, lộn xộn. Như vậy là phải từ bỏ thói quen vừa viết vừa nghĩ, hoặc tệ hơn là viết mà không nghĩ gì cả, lỏng tay cho cảm hứng tuôn trào, điều này thoạt chừng đem lại cảm giác phiêu diêu, nhưng ngẫm kỹ lại thì cảm giác đó nên dành cho người đọc chứ không phải người viết. Nếu ai cũng biết một nhà văn đã chật vật ra sao để viết ra một câu hoàn chỉnh, một câu bình thường, có lẽ họ sẽ có thái độ dè dặt và cẩn trọng hơn khi tiếp cận văn chương. Lewis từng bàn về điều này rồi: “Văn chương hay nên được đọc cẩn trọng như cách chúng được viết ra.”

    Cảm hứng là một khái niệm khó nắm bắt. Ở nhiều điểm, nó mang đặc tính của giống mèo: mình lại gần thì nó lảng đi, còn mình làm ngơ nó lại sán đến. Hiểu được điều này thì việc viết lách sang một trang mới rồi.

    Người ta có thể viết mà không cần cảm hứng hay không? Tôi tin là có. Phần lớn mọi người đều thế, đây cũng là niềm tin của riêng tôi. Nếu cứ ngồi xuống là có cảm hứng, là dòng thác tuôn trào, thì tôi đã bỏ quách cái nghề văn phòng tẻ ngắt đi mà chuyên tâm sáng tác rồi. Rốt cuộc phải quen dần với việc viết mười ngày thì năm ngày tắc tịt, đâm vào ngõ cụt, quẹo trái rẽ phải tìm lối ra, hoặc nhiều khi phải vứt bỏ vài bản thảo không thể làm nổi. Có thể giảm thiểu tình trạng này bằng cách, như tôi nói ở trên, ngẫm kỹ rồi hẵng viết. Và quan trọng hơn là đừng cố ép bản thân phải viết, tỷ như mỗi ngày nhất nhất “viết được một ngàn từ, hai ngàn từ”… Khi đã không muốn viết, hoặc khi thân thể rã rời, tốt nhất nên nghỉ ngơi, hoặc bất lắm thì xoay qua viết nhật ký, tản mạn mà thôi. Trí không vững thì văn viết ra cũng thõng thượt ấy mà.

    Người ta thường hay đánh đồng hai khái niệm cảm xúc và cảm hứng. Cảm hứng thì tôi vừa nói phần trên rồi. Bây giờ đến cảm xúc.

    Theo tôi, cảm xúc là điều kiện tiên quyết để viết. Khoan bàn đến chuyện ta tài năng ra sao, bút pháp thế nào, hoặc cốt truyện của ta có hấp dẫn, phong cách có độc đáo hay không. Trong trường hợp này, tôi sẽ ví việc viết với tình yêu. Người ta không thể viết, cũng như không thể yêu, mà thiếu vắng cảm xúc. Không có cảm xúc, không có xúc động; hễ nhà văn còn không xúc động với câu chuyện của mình mà đòi hỏi độc giả xúc động quả thực vô lý quá chừng. Đây là lý do tại sao có những câu chuyện tưởng chừng đơn giản, câu cú vụng về, nhưng vẫn khiến người ta thổn thức khó tả. Bởi lẽ khi đặt bút, tác giả đã viết không chỉ bằng khối óc mà còn bằng quả tim của chính mình.

    Trong Nàng Lika của Bunin có một câu nói thế này: “Mỗi sáng thức dậy, tôi đều cố chuẩn bị tâm trạng cho mình để viết.” Mấu chốt ở đây là cụm “chuẩn bị tâm trạng”. Tới đây tôi mới đồ rằng Gogol viết dạt dào cảm xúc tới vậy một phần bởi lẽ ông bẩm sinh có tài diễn xuất. Chưa bàn tới việc cảm xúc đó là chân thật hay dối trá (ai mà biết cho được?), nhưng nếu một diễn viên thực sự đắm chìm vào vai diễn, thì lúc đó y không còn diễn xuất nữa, mà y đang hoá thân. Viết cũng vậy thôi, thảy đều là hoá thân, và cái hay, cái nghệ là ở chỗ hoá thân tài tình tới mức người ta không mảy may nghi ngờ, hoàn toàn quên mất sự tồn tại của diễn viên hay tác giả. Trước mặt họ chỉ còn là một câu chuyện, một thế giới hư cấu thực hơn cả đời thực.

    Tất cả những điều trên chỉ có thể được thực hiện bằng một nhịp điệu làm việc chậm rãi, lặng lẽ, có ý thức. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất: nhịp điệu. Văn xuôi không bị câu thúc như thơ ca, nhưng thiếu nhạc tính, thiếu âm điệu thì văn khô khan và tẻ nhạt lắm. Mọi câu văn trong một đoạn văn vô thưởng vô phạt nhìn chung đều có những móc nối vô hình, từ câu này ngoắc sang câu kia; nếu được xử lý khéo léo, người đọc gần như bị thôi miên, còn nếu xử lý vụng về, đơn giản là người ta không buồn đọc tiếp.

    T.B. Chẳng hiểu sao tôi lại viết bài này nữa. Hôm nay trời nắng, lặng gió, bầu trời không một gợn mây, nhưng không còn xanh ngắt như những hôm trước mà chuyển qua nhờ nhờ. Tay tôi lạnh cóng khi gõ những dòng này. Sớm mai và chiều muộn thường có sương giá, các bạn nên thủ sẵn một chiếc khăn choàng trong cốp xe.

    ,