Đôi mắt

Lão Gia chuyên làm nghề đánh kích. Sáng bảnh mắt thấy lão ngồi ngất ngư trên chiếc xe cà tàng, mình mẩy bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cặp môi xám ngoét bặm điếu thuốc cháy dở, vợt kích vắt vẻo trên vai. Ấy là lão vừa đi kiếm ăn về.

Lão có hai con trai nhưng đều nghiện ngập rồi chết cả. Dân làng kháo rằng đáng ra lão đã làm cán bộ, rằng cuộc đời lão có thể đã khấm khá hơn, nhưng ròng rã ba mươi năm, vợ chồng lão vẫn chật vật trong một căn nhà ọp ẹp, mái lợp ngói xi măng, để cãi vã, nhục mạ, đánh đập nhau.

Bà Lợi vợ lão là một người đàn bà tuềnh toàng, xương xẩu, ngực lép kẹp, có cặp lông mày rậm và đôi mắt ti hí hơi xếch lên như người Tàu. Bà bắt nạt chồng khi lão không say còn khi say thì bị bắt nạt lại. Có lần lão cầm dao đuổi khiến bà này phải trốn qua nhà hàng xóm. Buổi chiều người ta kéo đến dàn hoà giúp thì thấy lão đang ú ớ, thân hình tọp tẹp phất phơ giữa trần như một cây sậy. Người ta kịp thời chặt phăng đoạn dây thừng, cứu sống lão.

Sau vụ ấy, hai vợ chồng ăn ở có vẻ hoà thuận hơn. Rồi bà Lợi qua đời, và chưa đầy năm, lão Gia cũng thắt cổ quyên sinh.

Họ cho rằng lão đánh vợ là thế chứ vẫn yêu vợ, và không sống nổi nếu thiếu vắng bà này.

Nhưng đây mới là những gì đã thực sự xảy ra.


Bấy giờ là những năm 1970, lão Gia là con thứ trong gia đình, theo chân anh cả lên đường tòng ngũ. Hai anh em được cất nhắc vào hai sư đoàn khác nhau. Anh trai lão bên đội cận vệ, còn lão xung vô sư đoàn bộ binh. Sau đó không lâu, người anh thiệt mạng vì bệnh sốt rét trên đường hành quân, còn người em thì vẫn bạc đà trên vai, chung nhau một điếu thuốc, góp tiền ăn thịt chó cùng đám bạn đồng ngũ, và đêm đến thường hay nhớ nhà.

Năm 1972, sư đoàn bộ binh của Gia đóng doanh trại ở Quảng Trị trong ít tháng. Đó là chốn làng bản, có những mái nhà lợp ngói, những khoảng sân đầy cứt gà sáp và những bà già đôn hậu xởi lởi. Chủ nhà nơi Gia tới trú nhờ là một bà goá trạc bảy mươi tuổi, gầy sọp, lưng còng như bướu lạc đà, khuôn miệng móm mém lúc nào cũng đỏ chót nhờ chăm chỉ nhai trầu. Bà lão có một người con trai, anh này hơn Gia ba tuổi, ở trong sư đoàn tăng thiết giáp, còn cô con gái thì ở nhà với mẹ. Cô ta chừng mười bảy, mười tám tuổi, mắt trái bị lác, người dong dỏng cao, đường nét có phần thô kệch. Nhà nghèo, hai mẹ con họ sống lần hồi bằng nghề tách chít.

Lão Gia bấy giờ mới có hăm hai, dáng dấp trông cũng không đến nỗi cù lần. Một buổi đứng canh lão nhìn thấy hai mẹ con nhà kia đang ngồi bện cán ở sân giếng. Có lúc ánh mắt lão và cô gái đụng nhau, lúc ấy lão liền ngoảnh mặt đi chỗ khác và huýt sáo mồm.

Những lần sau cứ thế. Rồi họ gửi gắm tình ý đến nhau qua ánh mắt, và lâu dần, Gia thấy cũng thinh thích cô nàng, và tình yêu trong lão nảy nở, nó miễn thứ cho khuyết tật của cô kia. Về phía mình, cô ta yêu lão đắm đuối, yêu say mê, vụng dại. Hiển nhiên là họ đã làm chuyện ấy, và những chung đụng chỉ càng khiến đôi bên gắn bó, quyến luyến hơn, và trước khi binh đoàn rời đi, Gia hứa sẽ trở về rồi hỏi cô Ba làm vợ, giả lão còn sống sót.

Bản tính chất phát, trên đường hành quân, lúc nào lão cũng phấp phỏng một niềm lo âu, sợ rằng ý trung nhân của mình sẽ thay lòng đổi dạ mà đi lấy người khác. Rồi chiến tranh kết thúc, lão may mắn toàn thây và lập tức tìm về căn nhà năm xưa, thì biết được bà chủ nhà đã đi đời, một tháng sau ngày nhận giấy báo tử của cậu con trai. Chàng gặp nàng ở sân giếng, gương mặt uể oải vì buồn lo, rồi thả phịch chiếc ba lô trên tay, chàng ôm chầm lấy người yêu dấu.

Sau ấy là những ngày tuyệt vời. Đôi tình nhân trẻ xăng xái thu vén nhà cửa: dọn dẹp căn buồng của bà lão, thay lại tấm ván lát tường, xây một cái chuồng gà mới… Nhìn họ vui vầy bên bữa ăn đạm bạc, có cảm tưởng họ đã sống với nhau cả cuộc đời, như thể số mệnh sinh họ ra là để dành cho nhau.

Thế rồi nhằm định đoạt cái niềm hạnh phúc thiêng liêng ấy, lão Gia ngỏ ý dẫn cô Ba về ra mắt gia đình.

“Thầy u anh cùng là dân nhà quê chân đất mắt toét, ông bà ắt sẽ thích em,” lão vỗ về người tình. “Trước nay ông bà chưa bắt ép anh điều gì, mọi thứ đều theo nguyện vọng của anh. Thôi thì mình cứ về ăn bữa cơm cùng gia đình anh rồi để anh tính tiếp nhé.”

Người con gái trung hậu thuận lòng.

Hôm ấy, trời mưa phùn. Từng hạt mưa xiên xiên như những mũi kim châm vào da mặt, khi cặp đôi ngồi đợi ở bến phà. Con sông đục ngầu, sau đợt lũ nước dâng cao. Cô Ba ngồi ở thanh lát giữa thuyền, tay giữ quai nón, vẻ thấp thỏm: đó là lần đầu tiên cô rời xa làng mạc. Hôm ấy cô ăn diện rất tươm, một chiếc áo sơ mi dài tay xẻ vạt màu hồng có cổ, khuy bằng gỗ, một chiếc quần thụng đen, êm như nhung, chấm mắt cá chân – tất cả đều toát lên vẻ đoan trang, đúng mực. Viên hạ sĩ lấy làm đắc chí lắm. Chàng ngồi gần ông lái phà, chuyện trò và đốt thuốc với ông ta, rồi chán thì chàng mon men lại gần phía cô Ba, vì lo âu, đang bứt bứt những bím tóc đen dày ngang ngực.

“Đừng lo, em ạ,” chàng nói. “Thầy u anh đều chân lấm tay bùn cả, ông bà dễ tính không ai bằng.”

Ông bà già ngóng con trai, đứng đợi sẵn ở bến phà. Từ xa đã thấy chỏm đầu hói bóng loáng của ông bố, Gia huých tay cô Ba, vẫy vẫy tay ra hiệu. Khi chiếc xuồng gần chạm bờ, Gia ton tót nhảy phắt lên, rồi lão đỡ tay người yêu, đoạn quay ra ôm hôn bố mẹ. Mắt ai cũng rân rấn lệ.

“Khoẻ chứ hả, đồng chí?” ông bố nói to như lệnh vỡ.

“Ba lần khoẻ!” Gia cười nói và làm điệu bộ nghiêm chào.

Cả bốn người bật cười. Và vì mưa đã nặng hạt hơn, họ rảo bước đi nhanh, tay khum đầu, tạm gác lại chuyện trò.

Nhà cấp bốn nằm tít sâu trong ngõ, con đường ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, uốn quanh như mình rắn. Làng mạc hiện dần ra, những mái ngói đo đỏ bám rêu, những con trâu trong chuồng thở phì phò, không khí ẩm ướt lẫn mùi cỏ mục bốc lên ngai ngái. Cảnh yên bình, chậm rãi, hoàn toàn nhàn hạ.

Vừa vào tới phòng riêng, cô Ba liền xăng xái xuống bếp nấu một bữa ngon, để lấy lòng ông bà già. Gia bỏ ra ngoài hiên ngồi uống nước chè với bố, và sau một hồi đắn đo, lão hỏi:

“Này thầy, thế ý thầy như nào?”

“Trông mặt mũi cũng xinh xắn,” ông lão, tính nết vốn xuề xoà, đáp lời con, “nhưng cứ xem đã. Mà mày hỏi mẹ mày ấy, hỏi tao làm cái gì!”

Gia hài lòng. Vậy là một cửa ải đã cho không.

Tới bữa ăn, họ ngồi quây tròn quanh mâm, trên chiếc chiếu cói mà bà mẹ Gia chỉ lôi ra dùng khi có dịp. Cô Ba ngồi sát cạnh nồi cơm, Gia ngồi cạnh cô, sau đó đến hai ông bà già. Họ ăn uống nhỏ nhẻ, rất chừng mực, cảm giác tù túng và ngột ngạt.

Gia cảm thấy cần phải đẩy tí chuyện cho xôm.

“Thầy u nói gì đi cho em nó vui!” lão khích.

Lão thầy cô Ba cười gượng, và nhìn vào mẹ, lão nói tiếp:

“U này, u kể chuyện con mất tích ngày bé đi!”

Đó là một câu chuyện dở khóc dở cười mà từ lâu gia đình lão vẫn đem đãi khách khứa. Năm tám tuổi, lão Gia trốn trong gầm giường cả ngày, còn thầy u lão hớt hải tìm kiếm, lạy lục khắp nơi. Hôm sau, thấy đứa bé chui ra từ cái xó kia, vợ chồng phát hoảng và nhất mực tin rằng con mình bị ma giấu.

Nghe bà lão kể xong, cả nhà cùng cười vang. Cô Ba bớt dè dặt và bắt đầu đưa chuyện. Bữa ăn kéo dài, chuyện trò liên miên. Hai bố con, chuếnh choáng vì hơi men, nắm tay nhau, bắt đầu hát nghêu ngao, người lắc lư bên này bên kia.

Đến lúc dọn bữa, Gia bê giúp người yêu chồng bát đĩa ra ngoài sân giếng, rồi trở vào trong, lão hí hửng kéo bà mẹ lại gần, hỏi:

“Thế nào hở u?”

“Thì,” bà lão đáp sau một thoáng ngập ngừng, “trông cũng xinh xắn, nết na, thật thà…”

Gia mừng thầm và gương mặt lão giãn ra.

“Thế u đã ưng chưa?” lão khoái trá hỏi.

“Tao thì tao ưng rồi,” bà lão đáp, rồi bà che miệng như thể tiết lộ một điều bí mật, “Nhưng mà… có phải con bé này nó bị… tật ở mắt đúng không?”

Vì đã lường trước, Gia nói ngay:

“Phải, nhưng mà bị nhẹ thôi. Nhìn kỹ thì mới thấy.”

“Mày nhầm,” bà già đánh nhẹ vào tay con. “Nó lác nặng thế kia mà mày bảo nhẹ. Nãy nó đơm cơm cho tao mà tao còn tưởng nó nhìn bố mày.”

“U làm sao ấy… Mắt người ta cha sinh mẹ đẻ nó thế, biết tránh đường nào. Nó cũng như khoèo tay khoèo chân, nhìn nhiều là thành quen! Thế cái lão Tuất mắt cũng lác lòi ra mà vẫn được công tác dưới uỷ ban đấy còn gì!”

“Tao thì tao chẳng lo cái đấy! Nhỡ sau này con cháu đẻ ra nó cũng bị thế thì sao…”

Gia giật thót mình như vừa bước hụt. Lão nhìn mẹ trân trân, mồm hơi há ra. Trước nay, đối với lão, chuyện cô Ba bị lác cũng bình thường như bố lão có cái mũi hơi to, mẹ lão có bàn chân hơi dẹt vậy. Quả thực lão chưa bao giờ nghĩ tới việc những đứa con của mình sau này, giả dụ họ đến với nhau, cũng phải chịu những khiếm khuyết hình thể như mẹ chúng. Lão có vì thế mà yêu chúng ít đi không?

“Chuyện hi hữu thôi,” lão an ủi mẹ già, và cũng là an ủi bản thân, rồi hắng giọng: “Để bọn con nói chuyện thêm.”

Vì ý tứ, đêm hôm ấy lão Gia ngủ một mình, để người yêu nằm với bà mẹ già. Lão nghĩ bụng thế mà lại hay. Có khi mẹ lão nói chuyện nhiều với cô Ba đâm ra quý mến.

Về phần mình, cô Ba, vốn tốt nết, việc gì cũng xung phong. Sớm trời cô thức giấc từ năm giờ sáng, quét sân, gánh nước, thái bèo cho lợn ăn. Cô xắn tay dọn dẹp cả căn bếp ám khói bốn vách tường. Cô đỡ lấy ấm nước từ tay bà mẹ và nhẹ nhàng nói:

“Thôi bác, bác cứ để con làm.”

Bà già nhà quê được đỡ đần thì cảm động lắm. Ánh mắt bà nhìn cô hiền hậu hơn, tựa chừng thương cảm. Thế nhưng trước bữa ăn tối, khi lão Gia kéo bà ra để hỏi lại về quyết định của bà, thì bà vẫn mắm môi nói:

“Con bé tốt thật, khổ nỗi… mắt nó lác quá con ạ! Không được đâu! Anh trai mày mất rồi, giờ còn mày nối dõi. Mày sắp là chủ gia đình, mà con mày sinh ra mang tật thì tao đến là chết không yên! Thôi, con ạ, hai đứa tự nói chuyện với nhau nhé! Mày cho em nó về nhà đi. Tiền nong đi đường tao cho, nhưng cưới thì tao không cho cưới đâu!”

Cô Ba đón Gia ở cạnh bậc thềm, gương mặt cô thấp thỏm, nhẫn nhịn chờ đón tin dữ. Trước ánh mắt ngơ ngác của người tình, lão phải cố lắm để khỏi bật khóc, và lão dằn từng tiếng:

“Không được rồi, em ạ! Thầy u anh không ưng, ông bà… biết nói thế nào nhỉ… Ông bà sợ con cái mình sau này sinh ra sẽ mang tật. Em hiểu cho anh nhé. Đừng nghĩ xấu về anh. Thôi, giờ em sửa soạn đồ đi, rồi sáng mai anh tiễn em ra bến…”

Cô Ba không đáp, bấu ngón tay vào nhau, mặt cúi gằm. Tối hôm ấy, họ trút tất thảy vào nhau.

Sáu giờ sáng hôm sau, lúc bước xuống bến, trước mặt ông lái phà đang vắt chân hút thuốc, thì cặp đôi không còn ý tứ gì nữa mà ôm chầm lấy nhau, nước mắt hoà làm một, khóc như mưa như gió. Họ than thở, họ trách phận đời bạc bẽo, họ nguyền rủa duyên số, họ báng bổ cả ông trời… Nhưng rồi vẫn phải chia ly.

Và không gặp lại nhau cho tới ngày chết.

***

Nửa năm sau khi bà Lợi qua đời, có một người phụ nữ trạc ba nhăm tuổi, người xương xương, tìm tới nhà gặp lão Gia.

Lão tiếp đón khách bằng cung cách rề rà, uể oải, vẻ lờ đờ. Người lạ chăm chú nhìn lão, khuôn mặt bất động chỉ có đôi mắt trong veo thi thoảng lại hấp háy. Cô ta ở lại ba mươi phút, uống hết một chén chè, tự xưng là dân miền trong mới đến vùng này và tranh thủ đi thăm láng giềng.

Nhiều hôm sau cô ta trở lại, vào một giờ như thường lệ. Lão Gia lấy làm lạ nhưng vẫn rót chè mời cô, không nói năng, im lặng ngồi hút thuốc, đôi lần còn bỏ đi làm việc riêng.

Thế rồi một buổi chiều, cô ta nói quê cô ta ở thôn Đoài, gần thành Quảng Trị, sát doanh trại 008, thì lão thấy tò mò nên hỏi:

“Ô thế à? Năm 72 tôi đóng quân ở mạn đấy… Thế cô có biết nhà bà Xuyến không? Bà Xuyến nhà ngay cổng doanh trại ấy!”

“Vâng, cháu biết,” cô gái bình tĩnh đáp.

“Thế… thế cô có biết bà Ba con gái bà lão không?” lão Gia nói lập bập.

“Vâng, cháu biết ạ.”

Lão nuốt nước bọt.

“Ừ… chuyện thế này… tôi cũng là chỗ quen thân với bà ấy… lâu lắm rồi…” lão nói nhát gừng, “nhưng… giờ bà ấy lấy chồng đâu rồi?”

Cô gái im lặng vài giây rồi mới đáp:

“Bà mất rồi.”

Lão giật bắn mình, tim tưởng như hẫng một nhịp.

“Làm sao mà mất!?”

“Bà bị chó dại cắn, không đủ tiền chạy chữa nên mất.”

“Thế cô là họ hàng bà đấy hay thế nào?”

Cô gái khựng lại một lát, nhìn trân trân lão già, môi run run:

“Cháu là con của bà, bác ạ… Mẹ cháu đã theo bác về đây năm bảy sáu…”

Trong lúc cô gái nói, lão Gia chỉ nhìn vào đôi mắt của cô, đôi mắt màu nâu sẫm, mà khi cô nhấn giọng thì dường như trở nên sẫm hơn. Lão quờ quạng khắp mình tìm bao thuốc, tay run lẩy bẩy, và quẹt lửa bảy lần mới châm nổi. Nhưng lão không hút, để mặc điếu thuốc tự cháy hết.

Trong chuồng mấy con lợn ủn ỉn đòi ăn, xa xa, trên bờ tường, một con gà trống với cái mào nhăn nheo đỏ thẫm căng mỏ cất tiếng gáy. Lão Gia nhìn trân trân vào con gà, hai tay buông thõng, miệng há hốc. Rồi lão đờ đẫn đứng dậy, phải men theo bờ tường cho khỏi ngã, và lão đặt mình xuống bậc thềm thâm thấp ngoài mái hiên, nhìn thơ thẩn ra vườn nhà.

Cô gái mặt đỏ bừng bước ra sân, cúi đầu chào lão rồi ra về.

Lão nhìn theo cô tới khi cô khuất dạng sau cây si lớn ở đình làng. Nhưng hình ảnh về đôi mắt của cô vẫn chờn vờn trong tâm trí lão, như thể cô vẫn ngồi kia, đăm đăm nhìn lão đầy oán trách.

“Đôi mắt đẹp quá,” lão cay đắng nghĩ. “Ôi! Giá như ngày ấy vì nhau thêm chút nữa! Ba ơi là Ba! Hỏng cả rồi, đời anh thế là đi tong cả rồi!”

Sáng hôm sau, cổng mở toang hoang, chó sủa nhặng, dân xóm kéo qua nhà lão. Một bà già ngất tại chỗ, vì cái xác thõng thượt giữa trần như một bao cát, môi tím ngắt.

Trên bàn uống nước ở góc phòng, người ta tìm thấy một tờ giấy nhàu nát, đặt dưới một chiếc cốc cho khỏi bay, viết bằng nét chữ vụng về, trong đó vỏn vẹn một dòng: “BỐ XIN LỖI CON!”

Người ta tin chắc lão bị điên, vì hai thằng nghịch tử nhà lão đều đã xanh mồ cả! Quái lạ!


Xếp hạng: 3 trên 5.

Đăng ký theo dõi

Đăng ký để nhận thông báo mỗi khi mình đăng tải bài viết mới nhé!

Được xuất bản bởi


Bình luận về bài viết này

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc