Tản mạn văn chương


Ngày 9 tháng Bảy năm 2025,

Truyện ngắn Andersen của Pautovsky

Nhà văn Nga Pautovsky trong thiên tuỳ bút (tập truyện ngắn) “Bông hồng vàng và Bình minh mưa”, đã viết một truyện ngắn đặc sắc, cảm động về ông hoàng truyện cổ tích Andersen. Pautovsky đã viết:

“Tôi muốn viết hẳn một chương riêng về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng của nó tới đời sống của chúng ta. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã viết thay vào đó một truyện ngắn về nhà văn Andersen. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn này có thể thay thế cho chương sách và hơn nữa, nó có thể làm ta hình dung rõ ràng trí tưởng tượng hơn là những câu chuyện chung chung về đề tài này.”

Truyện ngắn về Andersen đó được biết đến dưới tựa đề “Chuyến xe đêm”, theo chân chàng trai trẻ là Andersen lưu lạc ở thành Venice, và đang khẩn thiết muốn bắt một chuyến xe đêm tới Verona.

Trên xe chỉ có ba hành khách là Andersen, một giáo sĩ có tuổi, vẻ cau có và một thiếu phụ mặc áo choàng màu sẫm. Một lát sau, Andersen đang thiu thiu ngủ bỗng sực tỉnh vì tiếng nói lao xao của người đánh xe với mấy cô gái vừa gọi xe đỗ lại giữa đường. Người lái xe không bằng lòng chở họ đến một thị trấn, với giá tiền họ trả, đôi bên kì kèo một hồi và Andersen lịch sự trả thay phần của ba cô gái lạ mặt.

Các hành khách nhanh chóng làm thân và chẳng mấy chốc Andersen đã chinh phục cả bốn người phụ nữ bằng giọng nói trầm bổng mê ly, bằng trí tưởng tượng vô bờ và những phỏng đoán chính xác, tinh tế về thân thế của từng người. Sức hấp dẫn của ông là không thể phủ nhận. Cuối cùng, binh minh ló dạng, các cô gái lần lượt ôm hôn Andersen và nhảy xuống đất. Chiếc xe tiếp tục lăn bánh…

Ngay tối hôm đó, Andersen tìm đến gặp Elena, cô gái mà chàng say mê trong chuyến xe đêm qua. Nàng đích thân ra đón chàng. Tuy nhiên, chàng thì vì quá tự ái nên chỉ tính chuyện gặp nàng xong sẽ đi ngay để không bao giờ gặp lại. Họ trao đổi tình yêu qua ánh mẳt. Nàng nói:

“Tôi biết ông là ai rồi. Ông là Hans Christian Andersen, nhà thơ và người viết truyện cổ tích danh tiếng. Nhưng hoá ra trong cuộc đời ông lại sợ truyện cổ tích. Đến nỗi ông cũng chẳng có đủ nghị lực và can đảm, thậm chí cho một cuộc tình ngắn ngủi.”

Andersen thú nhận:

“Đó là cây thập tự nặng nề của tôi.”

Họ trao nhau một cái hôn ly biệt, rồi chàng vội đứng dậy, lấy mũ và bước ra ngoài. Chuông gióng từng hồi trên toàn thành Verona.

Hai người không bao giờ gặp lại, nhưng luôn luôn nghĩ đến nhau.

Có lẽ vì thế ít lâu trước khi nhắm mắt, Andersen đã bộc bạch với một nhà văn trẻ:

“Tôi đã trả bằng một giá đắt, có thể nói là vô cùng đắt cho những truyện cổ tích của tôi. Vì chúng, tôi đã chối bỏ hạnh phúc mà lẽ ra tôi được hưởng và đã bỏ lỡ mất khoảng thời gian mà đáng lẽ trí tưởng tượng, dù cho có mạnh mẽ và hào nhoáng đến mấy, cũng phải chường chỗ cho thực tế.”

(Trích lược: Bông hồng vàng và Bình minh mưa – Pautovsky, Kim Ân & Mộng Quỳnh dịch)


Ngày 10 tháng Bảy năm 2025,

Tình thầy trò giữa Flaubert và Maupassant

Trong lao động sáng tác của Flaubert, việc sửa chữa có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trước khi bắt tay vào viết, ông sẽ phác một dàn ý gồm những gì ông muốn nói, giống như Dickens từng làm, rồi ông viết nhanh một loạt trang của tác phẩm tương lai, về sau trong một thời gian liên tục cải biến chúng. Phương châm sáng tác của ông là từ đúng, tức là ở một hoàn cảnh nhất định, sẽ chỉ có một từ nhất định, chính xác nhất để lột tả điều mình muốn diễn đạt. Flaubert đã đi xa tới mức kiên quyết không lặp lại một từ trên cùng một trang, ra công cắt bớt những phần thừa, phần vụng, “tẩy gột những chỗ đã viết cho sạch dầu mỡ và sắt vụn”. Maupassant, người học trò và chứng nhân của công cuộc đày ải ấy, đã ví “công việc điên cuồng” của Flaubert như một “bệnh ghẻ” và nhận xét khá buồn thảm: “Tương lai hứa hẹn với tôi toàn những chỗ sửa chữa, viễn cảnh chẳng mấy gì vui vẻ”.

Sinh thời, mẹ của Maupassant là bạn đồng ấu của Flaubert; bản thân bà cũng yêu thích văn chương, vậy nên đã nhờ cậy nhà văn chỉ dẫn cho con trai mình. Sự kèm cặp của Flaubert chắc chắn đã phát huy tác dụng. Chúng ta được biết rằng truyện ngắn đầu tiên của Maupassant – “Viên mỡ bò” – đã đem lại danh tiếng cho ông ngay lập tức và mở đường cho một văn nghiệp hứa hẹn đầy vinh quang. Tuy vậy, “Viên mỡ bò” đã được chỉnh đi chỉnh lại, nằm trong ngăn kéo rất lâu, chỉ đến khi Flaubert gật đầu ưng thuận thì Maupassant mới được phép đem gửi in.

Thời gian đầu khi mới quen, Maupassant đã trình Flaubert một vài tác phẩm, người thầy nhân từ đọc chúng, không tâng bốc cũng không vùi dập chàng trai trẻ, mà chỉ khuyên: “Anh hãy làm việc đi.”

Maupassant làm việc, và hay trở lại thăm người thầy của mình. Bảy năm trời ông làm thơ, viết truyện dài, truyện ngắn. “Những cái đó chẳng còn lại gì,” Maupassant thú nhận.

Trong lá thư đề ngày mùng 3 tháng Tám năm 1878, Flaubert đã nhắn nhủ chàng trai Maupassant hai mươi tám tuổi những lời giáo huấn hết sức nghiêm khắc về lao động sáng tác như sau: “‘Không có đủ cách khác nhau để diễn đạt một câu ư?’ – cứ tìm đi rồi anh sẽ thấy… Anh phải – anh có nghe tôi không, anh bạn trẻ? – anh phải làm việc chăm chỉ hơn nữa. Tôi nghi rằng anh có hơi biếng nhác.”

Maupassant vừa làm viên chức ở Bộ Hải quan, vừa tranh thủ viết lách. Flaubert kiên nhẫn dõi theo, đưa ra những điều phê bình và dần dần đưa vào sâu trong Maupassant một vài nguyên lý thâu tóm những điều chỉ giải cốt lõi. Thầy bảo trò: “Khi anh đi qua trước một ông hàng thực phẩm đang ngồi ở cửa nhà, trước một bác gác cổng đang hút ống điếu, trước một bến xe ngựa thuê, anh hãy phô bày cho tôi ông hàng thực phẩm, hay bác gác cổng, dáng điệu của họ, toàn bộ ngoại hình của họ, nhờ sự khéo léo của hình ảnh chỉ ra những ngoại hình ấy cũng chứa đựng toàn bộ bản chất tinh thần của họ, sao cho tôi không nhầm lẫn họ với bất kỳ ông hàng thực phẩm nào khác hay bất kỳ bác gác cổng nào khác, và anh hãy làm cho tôi nhìn thấy, qua một từ thôi, vì cái gì mà một con ngựa kéo xe thuê không giống năm chục con khác đi sau nó và đi trước nó.”

Sau này, nguyên tắc về từ đúng của Flaubert đã được Maupassant kế tục và diễn giải rất rõ ràng như sau:

“Bất kể điều ta muốn nói là gì, chỉ có một từ để diễn đạt nó, một động từ để khiến nó có hồn, một tính từ để xác định nó. Vậy phải tìm kỳ cho đến lúc phát hiện được danh từ ấy, động từ ấy và tính từ ấy, và đừng bao giờ bằng lòng với cái na ná, đừng bao giờ trông cậy vào những điều hư nguỵ, dù tài tình, với những trò xiếc chữ để tránh né khó khăn.”

Đạo đức và phương châm sáng tác của Maupassant đã khiến nhiều nhà văn khác cảm phục. Không tính những nhà văn đồng hương, ở bên nước Nga đã có hai tên tuổi nổi tiếng công khai khen ngợi Maupassant. Leo Tolstoy cho rằng tiểu thuyết Một cuộc đời là tiểu thuyết Pháp vĩ đại nhất kể từ sau Nhà thờ Đức Bà của Hugo. Anton Chekhov ngưỡng mộ ở Maupassant tính giản dị, cô đúc, chân xác trong ngôn từ và kỹ thuật kể chuyện xuất sắc. Ông giãi bày với nhà văn đồng nghiệp Bunin: “Maupassant, với sự vĩ đại của mình, đã nâng tiêu chuẩn viết lách lên cao đến mức viết trở nên thật khó khăn; nhưng chúng ta phải viết, đặc biệt là người Nga chúng ta, và đã viết là phải can đảm. Có chó lớn và chó nhỏ, nhưng chó nhỏ không nên nản lòng vì chó lớn. Tất cả đều phải sủa – và phải sủa bằng giọng Chúa ban cho.”


Ngày 11 tháng Bảy năm 2025,

Về cuốn sách mới của Haruki Murakami

Trong tác phẩm mới nhất của Haruki Murakami do Nhã Nam phát hành, tập tuỳ bút có tên gọi Nghề viết tiểu thuyết, ông đã bàn về một vấn đề khá nhức nhối đối với những người làm văn: writer’s block. Nói đơn giản, đây là thời kỳ mà nhà văn bị mất cảm hứng phóng tác, thui chột động lực sáng tạo, không thể viết được gì. Ai từng viết hoặc đơn giản từng dính líu tới sáng tạo nghệ thuật nói chung, có lẽ đều thấm thía tấn thảm trạng mà nó đày đoạ lên tinh thần người nghệ sĩ. Người ta kể rằng vợ của Herman Melville đã sốt ruột thay chồng khi chứng kiến ông ngồi thừ trước bàn viết cả ngày, vò đầu bứt tai mà không viết nổi một đoạn của Moby Dick, hay giai thoại tức cười (phần nhiều bịa đặt) do Stephen King thuật lại về James Joyce, người suốt cả buổi làm việc chỉ viết được… bảy từ.

Lời khuyên thường bắt gặp nhất và tình cờ cũng hiệu quả nhất đối với writer’s block là không viết gì cả. Bỏ đi làm việc khác. Puskin khi không viết được thơ sẽ chuyển qua viết truyện, còn khi hoàn toàn tắc tịt ông sẽ đọc sách, cưỡi ngựa; còn Chekhov thì thẳng thắn tuyên bố rằng “y học là vợ của tôi trên danh nghĩa, còn văn học chỉ là tình nhân”. Khi nào công việc viết lách không xuôi, ông kiếm tìm sự nguôi khuây trong hoạt động y học, về sau này khi không còn hành nghề bác sĩ nữa thì ông chuyển qua trồng hoa (về khoản này Chekhov rất mát tay), làm vườn. Có thể liệt kê ra đây một loạt những nhà văn cùng một loạt những hoạt động ngoài lề văn học mà họ đã sử dụng nhằm khuây lãng sau công cuộc sáng tạo đầy căng thẳng, nhọc nhằn. Còn với Haruki Murakami, như chúng ta đều biết, ngoài viết lách ra ông còn đam mê chạy bộ, bơi lội, dịch thuật, âm nhạc (không thể thiếu). Bản thân ông thừa nhận rằng “chưa bao giờ có kinh nghiệm về việc muốn viết mà không viết được”. Chẳng phải ông có tài xuất khẩu thành chương và lúc nào cũng trong trạng thái dồi dào cảm hứng sáng tạo. Ông giải thích:

“Khi không muốn viết, hoặc khi không thấy có hứng viết, tôi sẽ không viết gì cả. Chỉ khi nào cảm thấy muốn viết, tôi mới quyết tâm “viết thôi” và ngồi viết. Còn hầu hết những lúc không phải như vậy thì tôi ngồi làm công việc biên dịch … Rồi tôi cũng viết cả tuỳ bút khi có hứng. Tôi vừa túc tắc làm những việc đó, và sống với thái độ bất cần ‘không viết tiểu thuyết thì cũng có chết được đâu’.”

Tất nhiên, Murakami là nhà văn sở hữu sự độc lập nhất định trong lao động sáng tác. Ông không bị hối thúc phải viết cho kịp, cho nhanh những câu chuyện để gửi đến tuần san này, tạp chí kia. Ông không phải, như ông nói, ngòi bút nuôi cơm đắp đổi qua ngày. Có lẽ kế sinh nhai của ông không lệ thuộc hoàn toàn vào việc viết lách, đem đến cho ông một khoảng đất dụng võ đủ lớn để ông được tự do viết những điều ông muốn viết, theo bất cứ thời hạn nào mà ông tự đề ra.

Quay trở lại với nội dung cuốn sách, ngoài phần tự thuật về hành trình trở thành nhà văn đầy bất ngờ, về các bước hay các kỹ thuật trong nghệ thuật tiểu thuyết, Murakami còn đề cập tới một phạm trù được quan tâm rộng rãi trong văn chương: giải thưởng.

Về cơ bản, Murakami được ví như một nhà văn xa rời văn đàn, dù chính ông lại thừa nhận rằng mình “bị văn đàn từ chối”. Ông có một fan club trung thành và một anti-fan club trung thành không kém. Ông quán triệt quan điểm sáng tác của mình rằng chỉ viết để làm vui chính bản thân và phục vụ một nhóm độc giả nhất định. Ông giữ cái nhìn nghi hoặc với các giải thưởng, cho rằng chúng lợi bất cập hại, rằng cuộc sống của ông nói riêng và thế giới nói chung sẽ không mấy biến chuyển bất kể ông có đạt được giải thưởng hay không. Nếu có biến chuyển thì ông lo sợ cuộc sống an tĩnh của mình sẽ bị xáo trộn. Chúng ta được biết rằng tiểu thuyết đầu tay của Murakami, Lắng nghe gió hát, được đem in sau khi lọt vào Chung khảo cuộc thi viết do Tạp chí Gunzo tổ chức. Sau khi gửi bản thảo dự thi, chính Murakami đã quên khuấy tác phẩm này. Nó là một thành công ngoài dự đoán, là “vé vào cửa” trong văn nghiệp của ông. Tuy vậy, ngoại trừ màn khai bút ấn tượng ấy ra thì về sau Murakami dường như không có duyên với các giải thưởng, tính cả trong và ngoài Nhật Bản. Bàn về vấn đề này, ông viện dẫn câu nói của Raymond Chandler:

“Tôi muốn trở thành một nhà văn lớn? Hay tôi muốn giành giải Nobel Văn học? Giải Nobel Văn học là cái gì cơ chứ. Nó được trao cho quá nhiều nhà văn hạng hai. Những nhà văn chẳng khơi gợi lên được chút hứng thú đọc nào.”

Tất nhiên tuyên bố trên của Chandler phần nào mang tính bài xích cực đoan, nhưng thông điệp mà Murakami muốn dẫn ra ở đây là: Giải thưởng văn học có thể mang lại hào quang cho một tác phẩm, một tác gia nào đó, nhưng dứt khoát sức sống của tác phẩm hay vị thế của tác gia không thể dựa vào đó được. Chiếc vương miện được đặt lên đầu nhà văn, những người phần lớn thích sống cuộc đời ẩn dật, nhiều người còn rạch ròi tới mức kiên quyết khước từ việc xuất hiện trước báo giới, như J. D. Salinger chẳng hạn. Các giải thưởng, theo một phép so sánh có phần thô thiển, là miếng vải lụa vá víu trên manh áo thổ tả của người nghệ sĩ. Nhân tiện, các bạn có nhớ ai là người đã giành giải Nobel Văn chương vào mười năm trước không?


Ngày 14 tháng Bảy năm 2025,

Ước nguyện của Chekhov

Năm mười tám tuổi, Chekhov rời bỏ quê hương Taganrog lên Moskva đoàn tụ cùng gia đình.

Ông đã sống một mình xuyên suốt ba năm trời, đi dạy kèm thêm cho các cậu bé chậm phát triển để lĩnh chút tiền còm. Trước khi rời đi, ông đến chào bà cô của mình lần cuối. Bà là người đã cưu mang ông rất nhiều lần trong cuộc vật lộn với đời sống khó nhọc tưởng chừng không vượt qua được.

Bà cô bật khóc.

“Đừng buồn cô ạ,” Chekhov nói. “Cháu đi Moskva rồi sẽ thành bác sĩ. Cháu sẽ sống đàng hàng, sống cho ra con người cô ạ!”

“Sống cho ra con người”, “giữa người đời cần phải ý thức được nhân phẩm của mình”, “vắt kiệt từng giọt nô lệ trong mình” – đó cũng là những lời tâm niệm mà suốt đời Chekhov đã tự nhủ mình.

Ông qua đời năm bốn mươi bốn tuổi, trong an tĩnh, giữa thời kỳ sức sáng tạo đang ở độ mãn khai và trong đầu còn ấp ủ biết bao tiểu thuyết, truyện dài, vở kịch… Truyện ngắn cuối cùng của ông, Cô dâu, trong đó ông đã để nhân vật Nadya vĩnh biệt thành phố quê hương của mình, vui vẻ ra đi: “trước mặt nàng hiện ra một cuộc sống tươi mới, rộng lớn, khoáng đạt, và cuộc sống đầy bí ẩn ấy đã lôi cuốn, thu hút nàng.”

Những lời ấy đã vang lên một cách đầy hào hứng và tự tin. Nó làm nảy sinh trong lòng Chekhov biết bao dự tính sáng sủa cho mai này. Khi vừa viết xong Cô dâu, ông lại định bắt tay vào viết một truyện mới…

Nhưng ông đã không kịp viết.

Những dòng chữ về một “cuộc đời rộng lớn khoáng đạt mai sau” đã là những dòng chữ cuối cùng của Chekhov.

… Có lần, được biết một sinh viên trẻ rơi nước mắt khi xem vở kịch của mình, Chekhov đã lạnh lùng nói với anh:

“Đấy, anh kể với tôi rằng anh đã khóc khi xem kịch của tôi. Mà không phải chỉ mình anh. Nhưng tôi đâu có viết để thấy những giọt nước mắt? … Tôi muốn cái khác kia. Tôi chỉ muốn nói thật, nói thẳng với mọi người rằng: ‘Hãy nhìn lại mình, hãy nhìn xem chúng ta đang sống tồi, sống tẻ như thế nào!’

Cái quan trọng nhất là để họ thấu hiểu điều đó, và khi đã thấu hiểu, thế nào họ cũng phải tạo cho mình một cuộc sống khác tốt hơn. Tôi không thấy cuộc sống đó, nhưng tôi biết rằng nó sẽ hoàn toàn khác, không giống gì với cuộc đời hiện tại.

Và bây giờ khi nó chưa tới, tôi sẽ còn nói, còn nói mãi với mọi người: Hãy ngộ ra đi, các người sống thật tồi và thật tẻ!

Vậy thì có gì mà phải khóc?”

Chekhov đã nói như vậy vào cuối đời và đó không phải là lời nói ngẫu nhiên với một người tình cờ bắt gặp. Trước khi từ giã cõi đời, Chekhov đã hướng mọi ý nghĩ của mình về cuộc sống khác mai sau.

Ông khẩn thiết mong sao cho mọi người cảm hiểu được tất cả sự khủng khiếp của cuộc sống tù đọng, trì trệ, nhỏ nhoi của những kiếp người bị tấm lưới tư hữu chằng buộc, níu kéo.

Ông thèm được thấy mọi người cùng chung sức với ông đánh bật tận gốc rễ tất cả những gì ngăn trở con người ta làm việc tốt, sống tốt.

Ông canh cánh trong lòng nghĩa vụ làm thức dậy trong tâm trí người đọc khát vọng về một thế giới đẹp đẽ, công bằng, cao thượng, xứng đáng với danh hiệu Con Người.

Đấy cũng là khát vọng của cả một đời Chekhov, cái khát vọng đã biến những dòng chữ của ông trở thành bất tử.


Ngày 18 tháng Bảy năm 2025,

Danh sách đọc của Lev Tolstoy

Ngày 25 tháng Mười năm 1891, từ điền trang Yasnaya Polyana, đại văn hào Tolstoy, khi đó sáu mươi ba tuổi, đã gửi một bức thư phúc đáp cho Mikhail Mikhailovich Lederle, trong đó bao gồm gần 100 đầu sách để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với ông. Ông chia mức độ ảnh hưởng thành bốn cấp độ, được biểu thị bằng các từ: rất lớn, lớn, rất đáng kểđáng kể, đồng thời phân loại các giai đoạn tuổi đời: 1) thời thơ ấu đến 14 tuổi; 2) từ 14 đến 20 tuổi; 3) từ 20 đến 35 tuổi; 4) từ 35 đến 50 tuổi; và 5) từ 50 đến 63 tuổi.

Dưới đây là nguyên văn bức thư:

… Danh sách này được lập dựa trên những ghi chú của tôi trên danh sách 100 cuốn sách hay nhất được đăng trên tờ Pall Mall Gazette. Tuy nhiên, danh sách này hoàn toàn không phù hợp, thứ nhất, vì nó chỉ liệt kê tên tác giả mà không chỉ rõ tác phẩm cụ thể nào từ những tác giả vốn rất đa dạng và không đồng đều; thứ hai, vì những cuốn sách được coi là “hay nhất” có thể hay hoặc không hay tùy thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn và tính cách của người đọc. Sau khi nghiền ngẫm về vấn đề này, tôi kết luận rằng ý tưởng lập danh sách 100 tác phẩm tuyệt đối vĩ đại là bất khả thi, và việc tôi đã vội vàng tham gia vào việc đánh dấu các cuốn sách theo danh sách của Stead là một ý tưởng thiếu vững chắc.

Tuy nhiên, câu hỏi đầu tiên của ngài về những cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất đến từng cá nhân, theo tôi, là một vấn đề rất đáng lưu tâm, và những hồi đáp chân thành cho câu hỏi này có thể dẫn đến những kết luận thú vị.

Lá thư này, mà giờ tôi đang chép lại, được viết cách đây khoảng ba tuần. Khi đó, tôi đã bắt đầu lập danh sách những cuốn sách để lại ấn tượng mạnh mẽ với tôi, chia mức độ ảnh hưởng thành bốn cấp độ, được biểu thị bằng các từ: rất lớn, lớn, rất đáng kểđáng kể. Tôi chia danh sách theo các giai đoạn tuổi: 1) thời thơ ấu đến 14 tuổi; 2) từ 14 đến 20 tuổi; 3) từ 20 đến 35 tuổi; 4) từ 35 đến 50 tuổi; và 5) từ 50 đến 63 tuổi. Tôi đã lập một phần danh sách này, trong đó tôi nhớ đến khoảng 50 tác phẩm đã để lại ấn tượng mạnh mẽ, nhưng tôi nhận thấy danh sách này còn nhiều thiếu sót vì tôi không thể nhớ hết mọi thứ ngay lập tức, mà chỉ dần dần bổ sung thêm.

Kết luận từ tất cả những điều này là: tôi không thể đáp ứng mong muốn của ngài về việc lập danh sách 100 cuốn sách, và tôi rất lấy làm tiếc về điều đó. Tuy nhiên, danh sách những cuốn sách đã để lại ấn tượng với tôi, như tôi đã đề cập, tôi sẽ cố gắng hoàn thiện và gửi cho ngài.

***

Tôi gửi kèm danh sách chưa hoàn thiện để ngài tham khảo, nhưng đừng vội xuất bản, vì nó còn xa mới đầy đủ.

Các tác phẩm ấn tượng

Thời thơ ấu đến khoảng 14 tuổi

  • Câu chuyện về Joseph trong Kinh Thánh – rất lớn.
  • Nghìn lẻ một đêm: “40 tên cướp”, “Hoàng tử Kamaralzaman” – đáng kể.
  • Con gà đen của Pogorelsky – rất đáng kể.
  • Các sử thi Nga: “Dobrynya Nikitich”, “Ilya Muromets”, “Alyosha Popovich”. Các câu chuyện dân gian – rất lớn.
  • Thơ Pushkin: “Napoleon” – đáng kể.

Từ 14 đến 20 tuổi

  • Phúc Âm theo Thánh Matthew: Bài giảng trên núi – rất lớn.
  • Hành trình tình cảm của Sterne – rất đáng kể.
  • Những lời bộc bạch của Rousseau – rất lớn.
  • Emile của Rousseau – rất lớn.
  • Julie, hay Nàng Héloïse mới của Rousseau – rất đáng kể.
  • Evgeny Onegin của Pushkin – rất đáng kể.
  • Những tên cướp của Schiller – rất đáng kể.
  • Chiếc áo khoác, Ivan Ivanovich và Ivan Nikiforovich, Đại lộ Nevsky của Gogol – đáng kể.
  • Viy của Gogol – rất lớn.
  • Những linh hồn chết của Gogol – rất đáng kể.
  • Bút ký người đi săn của Turgenev – rất đáng kể.
  • Polenka Saks của Druzhinin – rất đáng kể.
  • Anton Goremyka của Grigorovich – rất đáng kể.
  • David Copperfield của Dickens – rất lớn.
  • Một anh hùng thời đại, Taman của Lermontov – rất đáng kể.
  • Chinh phục Mexico của Prescott – đáng kể.

Từ 20 đến 35 tuổi

  • Hermann và Dorothea của Goethe – rất đáng kể.
  • Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo – rất đáng kể.
  • Thơ Tyutchev – đáng kể.
  • Thơ Koltsov – đáng kể.
  • OdysseyIliad (tiếng Nga) – đáng kể.
  • Thơ Fet – đáng kể.
  • PhaedoBữa tiệc của Plato (bản dịch của Cousin) – đáng kể.

Từ 35 đến 50 tuổi

  • OdysseyIliad (tiếng Hy Lạp) – rất đáng kể.
  • Các sử thi – rất đáng kể.
  • Anabasis của Xenophon – rất đáng kể.
  • Những người khốn khổ của Victor Hugo – rất lớn.
  • Các tiểu thuyết của Mrs. Wood – đáng kể.
  • Các tiểu thuyết của George Eliot – đáng kể.
  • Các tiểu thuyết của Trollope – đáng kể.

Từ 50 đến 63 tuổi

  • Kinh Phúc Âm (tiếng Hy Lạp) – rất lớn.
  • Sáng Thế Ký (tiếng Do Thái) – rất đáng kể.
  • Tiến bộ và Nghèo đói của Henry George – rất đáng kể.
  • Diễn văn về tôn giáo của Parker – đáng kể.
  • Các bài giảng của Robertson – đáng kể.
  • Tác phẩm của Feuerbach (quên tiêu đề, về Kitô giáo) – đáng kể.
  • Suy ngẫm của Pascal – rất lớn.
  • Epictetus – rất lớn.
  • Khổng Tử và Mạnh Tử – rất đáng kể.
  • Tác phẩm về Đức Phật của một tác giả Pháp nổi tiếng (quên tên) – rất lớn.
  • Đạo Đức Kinh của Lão Tử (bản dịch của Julien) – rất lớn.

Ngày 21 tháng Bảy năm 2025,

Một ngày ấm áp tháng Tư năm 1934, Arnold Samuelson, một sinh viên báo chí 22 tuổi đã tìm tới tận nhà của Ernest Hemingway, lòng dạ khấp khởi vì một cuộc mạn đàm văn chương. Hôm đầu tiên Hem không có nhà, nhưng ngày thứ hai ông đích thân ra mở cửa.

“Anh thích đọc các tác giả nào?” Hemingway hỏi chàng trai trẻ.

“Kinnapped của Stevenson, và Walden Pond của Thoreau.”

“Từng đọc Chiến tranh và Hoà bình chưa?”

Chàng thanh niên lắc đầu.

“Mẹ kiếp, đó mới là một cuốn sách hay. Anh phải đọc nó đi. Chúng ta sẽ lên phòng làm việc của tôi và tôi sẽ liệt kê cho anh một danh sách những cuốn đáng đọc.”

Danh sách ấy như sau:

  • The Blue Hotel – Stephen Crane
  • The Open Boat – Stephen Crane
  • Madame Bovary (Bà Bovary) – Gustave Flaubert
  • Dubliners (Người Dublin) – James Joyce
  • The Red and the Black (Đỏ và đen) – Stendhal
  • Of Human Bondage (Kiếp người) – Somerset Maugham
  • Anna Karenina – Tolstoy
  • War and Peace (Chiến tranh và Hoà bình) – Tolstoy
  • Buddenbrooks (Gia đình Buddenbrooks) – Thomas Mann
  • Hail and Farewell – George Moore
  • The Brothers Karamazov (Anh em nhà Karamazov) – Dostoevsky
  • Oxford Book of English Verse
  • The Enormous Room (E.E. Cummings)
  • Wuthering Heights (Đồi gió hú) – Emily Brontë
  • Far Away and Long Ago – W.H. Hudson
  • The American – Henry James

Gần một năm sau, vào tháng Hai năm 1935, Hemingway xuất bản trên tờ Esquire một danh sách “những cuốn sách hay nhất”, mà theo ông, ông sẵn lòng được đọc lại chúng như lần đầu tiên hơn có một khoản thu nhập cố định một triệu đô-la mỗi năm.

Danh sách thứ hai này, ngoài những cuốn như danh sách đầu tiên nhắc tới, có bổ sung:

  • Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) – Mark Twain
  • A Sportman’s Sketches (Bút kỳ người đi săn) – Ivan Turgenev
  • Winesburg, Ohio (Sherwood Anderson)
  • La Reine Margot (Hoàng hậu Margot) – Alexandre Dumas
  • La Maison Tellier – Guy de Maupassant
  • The Charterhouse of Parma (Tu viện thành Parma) – Stendhal
  • Autobiographies – W.B. Yeats

Đến tháng Mười năm 1935, Hemingway đăng tải câu chuyện về cuộc gặp gỡ với nhà văn trẻ Arnold Samuelson. Ông đặt tiêu đề cho bài báo thứ hai trên Esquire là Monologue to the Maestro vì Samuelson chơi violin, và sau đó biệt danh của anh ta được rút ngắn thành the Mice. Thay vì bổ sung thêm nhiều tên tác giả vào danh sách, Hemingway lại thêm nhiều tựa sách từ những tác giả yêu thích của mình.

Trong một số trường hợp (Maupassant, Kipling), ông vẫn mơ hồ về việc đề xuất những tựa sách nào. Khi ông viết “tất cả những tác phẩm hay của Maupassant”, ông ngụ ý rằng Maupassant đã viết quá nhiều câu chuyện tuyệt vời đến mức liệt kê không xuể.

  • Midshipman Easy – Captain Marryat
  • Frank Mildmay – Captain Marryat
  • Peter Simple – Captain Marryat
  • L’Education Sentimentale (Giáo dục tình cảm) (Gustave Flaubert)
  • Portrait of the Artist (Chân dung chàng nghệ sĩ) – James Joyce
  • Ulysses – James Joyce
  • Tom Jones (Tom Jones – Đứa trẻ vô thừa nhận) – Henry Fielding
  • Joseph Andrews – Henry Fielding
  • The Idiot (Chàng ngốc) – Dostoevsky
  • The Gambler (Con bạc) – Dostoevsky
  • Kim (Rudyard Kipling)
  • Madame de Mauvers – Henry James
  • The Turn of the Screw (Chuyện ma ám ở trang viên Bly) – Henry James
  • The Portrait of a Lady (Vẽ một phụ nữ) – Henry James

Lần cuối cùng Hemingway trả lời câu hỏi “Những bậc thầy văn học của ông là ai – những người mà ông học được nhiều nhất?” là vào năm 1958, trong một buổi phỏng vấn với George Plimpton của The Paris Review. Danh sách một lần nữa được thay đổi đôi chút, và lần đầu tiên Hemingway đưa vào các họa sĩ và nhà soạn nhạc vì:

“Tôi học được từ các họa sĩ về cách viết cũng nhiều như từ các nhà văn. Bạn hỏi điều này được thực hiện như thế nào? Sẽ mất thêm một ngày để giải thích. Tôi nghĩ những gì học được từ các nhà soạn nhạc và từ việc nghiên cứu hòa âm và đối âm là điều hiển nhiên.”

Dưới đây là những cuốn sách hoàn thiện danh sách các tác phẩm tâm đắc của Hemingway:

  • Truyện ngắn của Anton Chekhov
  • Walden (Walden – Một mình sống trong rừng) – Henry David Thoreau
  • King Lear (Vua Lear) – William Shakespeare
  • Thơ của Francisco de Quevedo
  • The Inferno (Hoả ngục) – Dante Alighieri
  • The Aeneid (Sử thi Aeneid) – Virgil
  • Thơ của San Juan de la Cruz
  • Thơ của Luis de Góngora

Ngày 23 tháng Bảy năm 2025,

Về Raymond Chandler

Năm 1932, Raymond Chandler, giám đốc điều hành công ty dầu mỏ với mức lương 44.000$, tự đá đổ nồi cơm của mình vì ngập đầu trong rượu, gái gú, bỏ bê công việc. Công ty quyết định thải hồi vị giám đốc bất trị và ở tuổi bốn mươi bốn, sự nghiệp Chandler trở về vạch xuất phát. 

Quá cần tiền, ông chọn nghề viết văn để kiếm sống. Trong một thập kỷ tới, ông sẽ viết vô số những truyện nhạt nhẽo đăng báo lá cải, những truyện vô danh không ai thèm đọc, trước khi bom tấn nổ ra và biến ông trở thành tượng đài trinh thám trong lòng bạn đọc – cùng với “đứa con tinh thần” là thám tử Philip Marlowe rắn rỏi mà nhiều người cho rằng còn hấp dẫn hơn cả Sherlock Holmes hay James Bond. 

Phong cách làm việc cứng nhắc như một người máy 

Mỗi ngày, Chandler đặt mục tiêu dành bốn giờ để viết, bốn giờ để đọc và sáu giờ để suy nghĩ về việc viết. 

Đầu tiên là phần viết. Ông ấy thích viết vào buổi sáng, nhưng ông không hề ngồi im trong bốn tiếng trời và gõ phím lách cách. Đoạn dưới đây sẽ tóm gọn toàn bộ phong cách làm việc của ông: 

“Điều quan trọng nhất ở đây là phải có một khoảng thời gian trong ngày, cứ cho là tối thiểu bốn giờ đồng hồ, buộc một nhà văn chuyên nghiệp không làm gì khác ngoài viết cả. Y không cần phải viết, và nếu y cảm thấy không muốn viết thì y không nên cố. Y có thể nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc chồng cây chuối hoặc lăn lộn trên sàn nhà. Nhưng y không được làm bất kể hoạt động nào khác, không đọc, không viết thư, không ngó nghiêng mấy chồng tạp chí, không rà soát bản thảo. Chỉ viết hoặc không làm gì cả… Tôi thấy nó hiệu quả. Hai quy tắc vô cùng đơn giản, a: bạn không cần phải viết. b: bạn không được làm gì khác. Phần còn lại tự nó đến.”

Tóm lại, trong bốn giờ viết, Chandler biến nó thành cuộc chiến đơn độc với chính mình. Ông tự ép bản thân vào kỉ luật, kể cả không viết gì thì vẫn phải dành ra từng ấy tiếng đồng hồ mỗi ngày. Phương pháp này được Haruki Murakami (người rõ ràng là một fan hâm mộ nhiệt thành của Chandler khi đã chuyển ngữ tất cả tác phẩm của ông sang tiếng Nhật) xem như một bài tập rèn sức bền bỉ cho nhà văn. Hiển nhiên, nếu bạn ngồi xuống viết liên tục trong vòng vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và bỏ cuộc ở tuần thứ hai, bạn sẽ không bao giờ viết nổi một cuốn tiểu thuyết. 

Mặt còn lại – mặt không có Chandler – một số nhà văn khác thích đặt ra mục tiêu là số từ trong ngày hơn. Chẳng hạn như Jack London buộc mình phải viết 1.000 từ/ngày, con số này ở Stephen King được nâng lên thành 2.000. Một số nhà văn với tư tưởng khoáng đạt hơn sẵn sàng bỏ đi làm việc khác nếu không thể viết. 

Nếu bạn là một người viết, hãy tự chọn lựa phương pháp phù hợp với bản thân. Có người thà làm việc một giờ thoải mái còn hơn cặm cụi suốt năm tiếng u mê, có người sẵn sàng khoá trái cửa giam mình cả ngày bất kể công việc không xuôi.

Đọc những thứ giúp ích cho việc viết của bản thân 

“Đọc là trung tâm sáng tạo trong cuộc đời nhà văn”, như Stephen King từng nói. Nếu nhà văn không đọc, y không có chất liệu và phương tiện để viết.

Chandler, hiển nhiên, đọc truyện trinh thám nhiều hơn các thể loại khác. Ông cũng đọc cả tiểu thuyết kinh điển, nhưng là một nhà văn, ông biết thứ mình đọc cần gắn bó với thứ mình viết. Ông đọc sách bốn giờ mỗi ngày. Có lẽ Chanlder không ngồi xuống và đọc liên tục bốn tiếng trời. Có lẽ lúc viết xong, ông sẽ ăn trưa, đọc sách một chút, tản bộ, v.v. Nói tóm lại, ông ấy có thể đã chia nhỏ thời gian và xen kẽ việc đọc vào đó. Nhưng chung cuộc là ông sẽ nhắm đến đủ bốn tiếng trong một ngày. 

Học hỏi bằng cách bắt chước thần tượng 

Khi bắt đầu viết truyện trinh thám, Chandler tự học viết bằng cách phân tích và bắt chước một số truyện ngắn của Erle Stanley Gardner. Và ông tiếp tục nghiên cứu các tác giả mà ông ngưỡng mộ ngoài thể loại trinh thám như Hemingway, Shakespeare, v.v. 

Sau đó, ông sẽ chọn một truyện ngắn, chẳng hạn như một truyện bán chạy nhất, rồi cố gắng nhái lại câu chuyện đó. Cách học này giống với những gì Benjamin Franklin từng chia sẻ trong cuốn tự truyện nổi tiếng: chọn ra những bài đăng báo chuẩn chỉnh nhất rồi đọc thuộc, sau đó cố diễn đạt lại bằng ý của mình nhưng vẫn giữ nguyên tinh thần của văn bản gốc. 

Chandler tự nhận ông không mấy thông minh và phải bù đắp sự thiếu sót tài năng của mình (nếu không phải ông ấy đang tỏ ra khiêm tốn) bằng sức tập trung và sự bền bỉ. Ông viết thật chậm rãi và tỉ mỉ, sửa đi sửa lại nhiều lần các bản thảo. Trong khi người thầy của ông – Ngài Gardner – có thể thảo ra một truyện ngắn trong ba hoặc bốn ngày, thì Chandler phải mất tới vài tháng mới hoàn thành một câu chuyện.


Ngày 28 tháng Bảy năm 2025,

How to Write a Thriller (1963)

Ian Fleming

Nghề viết truyện giật gân chuyên nghiệp gần như đã chết. Các nhà văn dường như thấy xấu hổ khi tạo ra nhân vật chính diện da trắng, nhân vật phản diện da đen, và các nữ chính theo kiểu liễu yếu đào tơ.

Tôi không phải một thanh niên hay thậm chí một lão trung niên cáu kỉnh. Tôi không “dấn thân”. Các cuốn sách của tôi không “hứa hẹn”. Tôi không truyền tải thông điệp nào cho nhân loại khổ đau và, mặc dù tôi từng bị bắt nạt ở trường và mất trinh như rất nhiều người chúng ta từng làm trong những ngày xưa, tôi chưa bao giờ bị cám dỗ để áp đặt những thứ này và những trải nghiệm đớn đau khác của bản thân lên công chúng. Truyện của tôi không nhằm mục đích cải biến con người hay thúc họ ra ngoài và làm gì đó. Chúng được viết trên tàu hoả, máy bay và giường ngủ, gửi tới những kẻ lập dị với bầu máu nóng tuôn trong huyết quản. 

Tôi có một người họ hàng duyên dáng, một nhà văn trẻ có số má nhưng cáu bẳn. Anh ta phát cuồng bởi thực tế là nhiều người đọc sách của tôi hơn của anh. Cách đây không lâu, chúng tôi đã trao đổi thân tình về chủ đề này và tôi đã cố gắng xoa dịu cái tôi sôi sục đó bằng cách thừa nhận mục đích nghệ thuật của anh cao thượng hơn tôi rất nhiều.

Anh chàng từng tham gia vào “The Shakespeare Stakes.” Những cuốn sách của anh nhắm tới cái đầu biết thường thức và ở một mức độ nào đó, trái tim. Mục tiêu những cuốn sách của tôi, tôi nói, ngụ đâu đó giữa búi mặt trời và, ừm, đùi trên. Những lời nhận xét hạ cố này xem chừng không xoa dịu cho lắm và cuối cùng, với một chút thiếu kiên nhẫn và có thể với thứ gì đó của ánh nhìn châm chọc trong mắt tôi, tôi hỏi anh rằng anh tự miêu tả bản thân trong hộ chiếu như thế nào.

“Tôi cá anh tự gọi bản thân là một Tác giả,” tôi nói. Anh lưỡng lự gật đầu, có lẽ bởi đã đánh hơi thấy mùi châm biếm trước đó. “Vậy đấy,” tôi nói. “Chà, tôi thì nhận mình là một Thợ viết. Chúng ta có các tác giả và hoạ sĩ, và cũng có những thợ viết và thợ vẽ.” 

Thái độ khá chua cay này đã khiến chàng trai trẻ trở nên giận dữ hơn bao giờ hết và tôi không gặp lại anh nhiều như tôi đã từng nữa. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là nếu bạn quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, nói rộng ra, bạn phải quyết định xem bạn muốn viết vì danh tiếng, vì niềm vui hay vì tiền. Tôi không hổ thẹn mà thừa nhận rằng tôi viết vì niềm vui và tiền bạc.

Tôi cũng cảm thấy rằng, mặc dù thể loại giật gân có thể không phải là văn học với chữ L [Literature] viết hoa, nhưng vẫn có thể viết nên thứ mà tôi có thể mô tả rõ nhất là “Giật gân được thiết kế để đọc như văn học”, những người theo đuổi thể loại này bao gồm Edgar Allan Poe, Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Eric Ambler và Graham Greene. Tôi không thấy có gì đáng xấu hổ khi đặt ra mục tiêu cao như vậy.

Được rồi, vậy là chúng ta đã quyết định viết để kiếm tiền và hướng tới những tiêu chuẩn nhất định trong bài viết của mình. Những tiêu chuẩn này sẽ bao gồm một phong cách văn xuôi tự nhiên, ngữ pháp thông thường và tính nhất quán xuyên suốt trong câu chuyện của chúng ta. 

Nhưng những phẩm chất này sẽ không tạo nên một best-seller. Ở đây chỉ có một công thức duy nhất cho một best-seller và nó rất đơn giản. Bạn phải khiến người đọc lật trang. 

Nếu nhìn lại những cuốn sách bán chạy nhất từng đọc, bạn sẽ thấy rằng tất cả chúng đều có phẩm chất này. Bạn chỉ cần lật trang. 

Tuyệt đối không can thiệp vào động lực thiết yếu này của câu chuyện. Đó là lý do tại sao tôi nói văn xuôi của bạn phải đơn giản và bớt cứng nhắc. Bạn không thể nán lại quá lâu ở những đoạn văn miêu tả. 

Ở đây không cho phép sự phức tạp về tên gọi, mối quan hệ, hành trình hoặc bối cảnh địa lý – chúng khiến độc giả bối rối và khó chịu. Nhân vật không bao giờ được tự hỏi mình “Tôi đang ở đâu? Người này là ai? Tất cả đang làm cái quái gì vậy?” Trên hết, những đoạn văn lan man về việc người anh hùng than vãn về số phận bất hạnh của mình không thể xuất hiện. Bằng mọi cách, hãy dàn cảnh hoặc làm sáng tỏ các đặc điểm của nữ chính thật đáng yêu tuỳ thích, nhưng khi làm vậy, mỗi từ viết ra phải gây hứng thú hoặc kích thích người đọc trước khi mạch truyện tiếp tục. 

Tôi thú nhận rằng tôi thường phạm tội nặng nề về mặt này. Tôi bị kích thích bởi chất thơ của sự vật, và nhịp độ các câu chuyện của tôi đôi khi phải gánh hậu quả trong lúc tôi tóm cổ người đọc và nhét đầy họng y những thứ mà tôi tin rằng sẽ thu hút y, đồng thời lắc mạnh y và hét lên “Như thế này này, đồ chết tiệt!” về một điều gì đó hấp dẫn tôi. Nhưng đây là một sai lầm đáng buồn, và tôi phải thú nhận rằng ở một trong những cuốn sách của tôi, Goldfingers, ba chương liền được viết chỉ để nói về một ván golf. 

Được rồi, sau khi đã đạt được phong cách của một anh thợ viết và nhịp độ tường thuật cần thiết, chúng ta sẽ đưa gì vào cuốn sách—hay nói cách khác, các thành phần của một câu chuyện ly kỳ là gì? 

Tóm lại, bất cứ thứ gì có thể kích thích bất kỳ giác quan nào của con người – hoàn toàn là bất cứ thứ gì. 

Về khoản này, đóng góp của tôi cho nghệ thuật viết truyện ly kỳ là nỗ lực kích thích người đọc hoàn toàn, kể cả vị giác của họ. Chẳng hạn, tôi chưa bao giờ hiểu tại sao các nhân vật trong sách phải ăn những bữa sơ sài và ảm đạm tới vậy. Những người hùng Anh Quốc dường như sống nhờ trà và bia, và khi họ có một bữa thịnh soạn, chúng ta không bao giờ nói gồm những gì. Cá nhân tôi không thuộc hạng sành ăn và tôi ghê tởm việc nhấm nháp rượu vang khi ăn. Món yêu thích của tôi là trứng bác. Trong bản đánh máy ban đầu của Live and Let Die, tôi để James Bond ăn nhiều trứng bác tới nỗi một biên tập viên tinh tường cho rằng lối sống cứng nhắc này hẳn đang trở thành một rủi ro an ninh với Bond. Nếu anh ta bị bám đuôi thì cái đuôi chỉ cần phi vào nhà hàng và hỏi “Ở đây có gã nào vừa ăn trứng bác à?” để biết mình có đang đi đúng hướng hay không. Vì vậy, tôi đã phải soát lại để thay đổi thực đơn. 

Nó chắc hẳn sẽ lôi cuốn người đọc hơn nếu thay vì viết “Anh ấy nấu một bữa qua loa ở Plat du Jour – bánh và rau củ tuyệt vời, sau đó là đồ ăn vặt tự làm” thì bạn viết “Theo bản năng, vốn chẳng tin tưởng gì các Plats du Jour, anh ấy đã gọi bốn quả trứng rán chín cả hai mặt, bánh mì nướng phết bơ nóng và một tách cà phê đen lớn.” Không có sự khác biệt về giá ở đây, nhưng cần lưu ý những điểm sau: thứ nhất, tất cả chúng ta đều thích đồ ăn sáng hơn đồ ăn cho bữa trưa và bữa tối; thứ hai, Bond là một nhân vật độc lập, biết mình muốn gì và đạt được nó; thứ ba, bốn quả trứng rán mang đúng chất bữa ăn của đàn ông thực thụ và, trong trí tưởng tượng của chúng ta, một tách cà phê đen lớn sẽ khơi gợi vị giác triệt để sau món trứng béo ngậy và bánh mì nướng phết bơ nóng hổi. 

Điều tôi hướng tới là một chủ nghĩa ngoại lai có kỷ luật nhất định. Tôi chưa đọc lại bất kỳ cuốn sách nào của mình để xem liệu điều này liệu có hợp lý khi xem xét kỹ lưỡng hay không, nhưng tôi nghĩ bạn sẽ thấy rằng ánh dương kia luôn rọi sáng trên trang sách của tôi – một trạng thái nâng cao tinh thần của độc giả theo lối khá tinh tế – rằng hầu hết các bối cảnh tôi viết ra đều thú vị và dễ chịu, đưa người đọc chu du khắp chốn trên thế giới, và nói chung, tính chất khoái lạc mạnh mẽ luôn hiện diện để bù đắp cho khía cạnh nghiệt ngã trong những cuộc phiêu lưu của Bond. Có thể, điều này “làm hài lòng” người đọc. 

Tới đây, hãy cho tôi nán lại một chút để đảm bảo với bạn rằng, mặc dù tất cả những điều này nghe thật xảo quyệt, nhưng chỉ nhờ nỗ lực mổ xẻ sự thành công của những cuốn sách của tôi nhằm phục vụ mục đích cho bài tiểu luận này mà tôi mới đi đến những kết luận đó. Trên thực tế, tôi viết về những gì làm hài lòng và hấp dẫn chính tôi. 

Chà, có vẻ tôi đang tiến hành rất tốt việc phân tách tác phẩm của mình thành từng mảnh, vì vậy chúng ta có thể đào sâu hơn nữa. 

Mọi người thường hỏi tôi: “Làm sao ông có thể nghĩ ra điều đó? Ông hẳn phải có một trí óc phi thường (hoặc đôi khi cực kỳ bẩn thỉu). 

Tôi dĩ nhiên có trí tưởng tượng sống động, nhưng tôi không thấy có gì kỳ quặc ở đây. Tất cả chúng ta đều lớn lên qua những thiên truyện cổ tích, những cuộc phiêu lưu và những câu chuyện ma quái trong 20 năm đầu đời, và điểm khác biệt duy nhất giữa tôi và bạn có lẽ là trí tưởng tượng của tôi giúp tôi kiếm ra tiền. Tuy nhiên, quay lại cuốn sách đầu tiên của tôi, Casino Royale, có những tình tiết chân thực trong cuốn sách thực tế đều xuất phát từ trải nghiệm cá nhân. Tôi trích xuất từ ký ức thời chiến của mình ở Phòng Tình báo Hải quân của Bộ Hải quân, tô điểm chúng, gắn cho chúng những nhân vật, thế là cuốn sách ra đời. 

Ví dụ như phân đoạn James Bond đánh poker với Le Chiffre, điều này bật ra trong tâm trí tôi từ sự việc sau đây. Tôi và sếp của tôi, Giám đốc Tình báo Hải quân – Đô đốc Godfrey – diện thường phục, bay tới Washington vào năm 1941 để đàm phán mật với Văn phòng Hải quân Hoa Kỳ, trước khi Mỹ tham chiến. Phi cơ của chúng tôi hạ cánh xuống Lisbon để nghỉ qua đêm, và những đồng chí đã kể về việc Lisbon đang rình rập các đặc vụ Đức ra sao. Gã cầm đầu và hai tên trợ lý đánh bạc hàng đêm trong sòng bạc ở Estoril lân cận. Tôi nói với DNI rằng tôi và anh nên thám thính đôi chút. Chúng tôi đi và có ba người đàn ông đang chơi ở bàn chemin de fer cao. Sau đó, ý tưởng kỳ diệu bật ra là tôi sẽ ngồi xuống đánh bạc với những người này và đánh bại họ, từ đó làm giảm ngân sách của Cơ quan Mật vụ Đức. 

Hoặc giả dụ như cảnh tra tấn. Những gì tôi mô tả trong Casino Royale là một phiên bản nhẹ nhàng hơn của kiểu tra tấn Pháp-Maroc được gọi là passer á la mandoline, mà một số đặc vụ của chúng tôi không may mắn phải nếm trải. 

Bạn thấy đấy, ranh giới giữa hiện thực và hư cấu rất mong manh. Tôi nghĩ tôi có thể theo dấu hầu hết các sự kiện trung tâm trong sách của mình để khẳng định nguồn gốc của nó là từ đời sống mà ra. 

Giờ thì, chúng ta đã đi tới chặng cuối và khó nhằn nhất trong việc viết một cuốn sách ly kỳ. Bạn phải lường trước những điều ly kỳ trước khi viết ra chúng. Chỉ tưởng tượng thôi là chưa đủ, nhưng những câu chuyện nghe được từ bạn bè hoặc đọc trên báo có thể được bồi đắp bằng trí tưởng tượng phong phú, cũng như một nỗ lực nghiên cứu và tham khảo tài liệu nhất định. 

Sau khi áp dụng tất cả những lời khuyên đáng khích lệ này, trái tim bạn vẫn sẽ dao động trước đòi hỏi thể chất khi viết lách, ngay cả với một cuốn sách ly kỳ. Tôi nồng nhiệt cảm thông với bạn. Tôi cũng vậy, thật lười biếng. Trái tim tôi chùng xuống khi ngắm nhìn hai hoặc ba trăm tờ giấy ngu ngốc mà tôi phải gạch xoá tứ tung những từ ngữ được chọn lọc kỹ lưỡng để tạo ra một cuốn sách 60.000 từ. 

Trong trường hợp của tôi, một trong những điều cần thiết đầu tiên là tạo ra một khoảng trống trong cuộc sống mà chỉ có thể được lấp đầy bằng các dạng thức sáng tạo, bất kể là viết, vẽ, điêu khắc, sáng tác hay đơn giản là làm một chiếc xuồng. Tôi may mắn về khoản này. Tôi xây một ngôi nhà nhỏ ở bờ biển phía Bắc Jamaica vào năm 1946 và thu xếp cuộc sống của mình để có thể dành ít nhất hai tháng mùa đông ở đó.

Trong sáu năm đầu, tôi có rất nhiều việc phải làm để khám phá Jamaica, làm việc với nhân viên và kết thân với người dân bản địa cũng như kiểm tra tỉ mỉ nhiều thứ. Nhưng đến năm thứ sáu, mọi thứ đã cạn kiệt và tôi chuẩn bị kết hôn – một viễn cảnh khiến tôi kinh hãi và bồn chồn. Để giúp đôi tay nhàn rỗi của mình có việc gì đó để làm, và như một liều thuốc giải tỏa nỗi lo lắng về tình trạng hôn nhân sau 43 năm độc thân, tôi quyết định sẽ ngồi xuống và viết một cuốn sách vào một ngày chết tiệt nào đó.

Liệu pháp đã thành công. Và mặc dù tôi vẫn duy trì viết lách khi ở London, nhưng chính trong những kỳ nghỉ hàng năm tới Jamaica mà tất cả sách của tôi đều ra đời. Tuy nhiên, nếu không có chốn ẩn náu như vậy, tôi có thể đề xuất các phòng khách sạn càng xa “cuộc sống” thường nhật của bạn càng tốt. Sự ẩn dật của bạn trong môi trường buồn tẻ này và việc bạn không có bạn bè cũng như những điều gây xao nhãng ở một địa điểm xa lạ sẽ tạo ra một khoảng trống buộc bạn phải có tâm trạng viết lách và giả dụ nếu ví của bạn nhẵn thín, bạn thậm chí càng có tâm trạng để viết nhanh và có phương pháp hơn nữa. 

Về mặt hành vi viết lách, phương pháp của tôi là thế này. Tôi soạn tất cả trên máy đánh chữ, sử dụng sáu ngón tay. Đánh máy nhàn hơn nhiều so với viết tay và bản thảo ít nhiều cũng sạch sẽ hơn. Điều cần thiết tiếp theo là tuân thủ nghiêm ngặt một thói quen – và ý tôi là nghiêm túc. Tôi viết trong khoảng ba giờ vào buổi sáng – từ khoảng 9 giờ 30 đến 12 giờ 30 – và tôi viết thêm một giờ nữa từ 6 đến 7 giờ tối. Khi kết thúc việc này, tôi tự thưởng cho mình bằng cách đánh số các trang và nhét chúng vào một cặp hồ sơ có thể gập lại. Toàn bộ bốn giờ làm việc hàng ngày này được dành cho việc viết tường thuật. 

Tôi không bao giờ sửa bất cứ điều gì và tôi không bao giờ ngó lại những gì tôi đã viết, cho đến khi tôi tới trang cuối cùng. Bạn chỉ ngoảnh đầu một lần thôi, bạn sẽ lạc lối. Làm sao mày có thể viết ra điều ngớ ngẩn này? Làm sao mày có thể dùng từ “khủng khiếp” sáu lần trên một trang?, v.v… Nếu bạn làm gián đoạn việc viết tường thuật nhanh bằng quá nhiều tranh đấu nội tâm và những màn tự vấn, viết được 500 từ mỗi ngày là may mắn lắm rồi, nhưng bạn sẽ nhanh thấy chán ghét chúng. 

Bằng cách noi theo công thức của tôi, bạn sẽ viết được 2.000 từ mỗi ngày và không thấy chán ghét chúng cho đến khi cuốn sách hoàn thành, và trong trường hợp của tôi, rơi vào khoảng sáu tuần. 

Tôi thậm chí không ngừng gõ để chọn từ đúng. Tất cả có thể dành lại cho khâu biên tập sau đó. 

Khi cuốn sách của tôi hoàn thành, tôi dành khoảng một tuần để duyệt lại và nhặt bỏ những hạt sạn to nhất cũng như viết lại các đoạn văn. Sau đó tôi đánh máy chính xác các tiêu đề chương và xử lý tất cả việc còn lại của khâu hình thức. Rồi tôi xem lại nó, đánh máy lại những trang tệ nhất và gửi cho nhà xuất bản. 

Nhưng sau tất cả những nỗ lực trên, phần thưởng của việc viết lách, hay viết truyện ly kỳ trong trường hợp của tôi là gì? 

Trước hết, chúng là tài chính. Bạn không kiếm được nhiều từ tiền bản quyền và quyền dịch thuật, v.v., trừ phi bạn rất siêng năng, bạn mới có thể sống nhờ những khoản thu nhập này; nhưng nếu bạn bán bản quyền nhiều kỳ và bản quyền phim, bạn sẽ sống rất ổn.

Trên hết, phần thưởng cho việc trở thành một nhà văn tương đối thành công là một cuộc sống tươi đẹp. Bạn không cần phải làm việc mọi lúc và bạn giữ văn phòng của mình trong đầu. Và bạn nhận thức rõ nét hơn về thế giới xung quanh mình. 

Viết khiến bạn trở nên nhạy cảm hơn với môi trường xung quanh và, vì thành phần chính của cuộc sống, mặc dù bạn có thể không nghĩ vậy khi nhìn vào phần lớn mọi người, là được sống. Đây là một tác dụng phụ khá đáng giá của việc viết, ngay cả khi bạn chỉ viết truyện giật gân, trong đó nam chính là người da trắng, phản diện là người da đen và nữ chính theo tuýp liễu yếu đào tơ.


Ngày 30 tháng Bảy năm 2025,

Vẫn là về Lev Tolstoy

Ai cũng nghĩ tới việc thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ tới việc thay đổi chính mình.

— Leo Tolstoy

Vốn thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, Leo Tolstoy đã phung phí phần lớn tuổi trẻ để đánh bạc, nhậu nhẹt, chơi điếm như mọi thanh niên thượng lưu khác. Tuy nhiên, quãng đời từ trung niên cho tới lúc lâm chung, ông bắt đà trở lại và với sức phóng tác phi thường, cho ra mắt hàng loạt các tác phẩm văn học kinh điển, đến nay được xem là mẫu mực và đỉnh cao của văn học hiện thực. Hai trong số chúng là kiệt tác Anna Karenina cùng Chiến tranh và Hòa bình, được đồng tình rộng rãi là hai trong số những tác phẩm hiện thực quan trọng nhất của thế kỷ 19.

Một tiểu thuyết gia vĩ đại như Tolstoy chắc chắn là viết không ngừng tay, chính ông cũng thừa nhận thích giữ cho bản thân bận rộn hơn là nhàn rỗi. Thật đáng ngưỡng mộ và đôi khi là khó hiểu nữa khi được biết ngoài việc dành trọn buổi sáng để sáng tác, ông còn vô số sở thích khác như cày bừa, giảng dạy, đọc sách, chơi đùa cùng lũ trẻ, thậm chí là giàu nứt đố đổ vách nhưng vẫn mày mò tự thiết kế đôi giày của chính mình.

Và dưới đây là cách ông khai thác triệt để thời gian tại thế của mình:

1. Học cách từ bỏ

Gia đình Tolstoy là một danh gia vọng tộc tại Nga. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ và chủ yếu ở với dì. Năm 1844, Tolstoy nộp đơn vào Đại học Kazan rồi bỏ học giữa chừng vì không thấy ý nghĩa của việc tiếp tục học tập.

Đa phần thời gian học tập tại trường đại học, nói rộng ra là cả tuổi trẻ của ông – giống với cuộc đời của những người ở tầng lớp thượng lưu khi ấy: không theo bất cứ một quy chuẩn nào, mọi việc đều phụ thuộc vào cảm hứng và luôn tìm kiếm những thú vui như rượu chè, bài bạc và gái điếm.

Nhưng Tolstoy không thể vô tư chấp nhận để cuộc sống thuận theo tự nhiên. Dù ý thức rất rõ về giai cấp của mình, từ rất sớm, trong nhật ký của ông cho thấy một nỗi dằn vặt khôn nguôi về giá trị đạo đức của cuộc sống, một nỗi thống khổ vô hạn và sự ghê tởm chính mình.

Trong bản danh sách được viết vào năm ông 18 tuổi, nhà văn đề ra những “quy tắc sống” và kiên trì theo đuổi trong suốt cuộc đời, như sau: 

  • Thức dậy lúc năm giờ
  • Đi ngủ trước mười giờ
  • Được phép ngủ hai tiếng giữa ngày
  • Đi bộ một giờ mỗi ngày
  • Chỉ được ghé thăm nhà thổ hai lần một tháng (phần lớn thất bại)
  • Chỉ làm một việc duy nhất tại một thời điểm
  • Thực hiện mọi quy tắc đã đề ra

Sau này, danh sách dần được mở rộng và các quy tắc sau đã được bổ sung: 

  • Ngừng quan tâm ý kiến của người khác về mình
  • Làm điều thiện thật kín đáo
  • Tránh xa phụ nữ
  • Dập tắt ham muốn bằng công việc
  • Giúp đỡ những người kém may mắn

Nhờ kiên trì noi theo những quy tắc trên, Tolstoy từ năm 30 tuổi về sau đã trở thành một con người khác. Những năm cuối đời, trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin nghiêm trọng, ông dần tin tưởng rằng mình đang được hưởng tài sản thừa kế một cách không công bằng, và nổi tiếng trong giới nông dân về những hành động giúp đỡ hào hiệp của mình. Ông giúp đỡ những người hành khất chẳng may gặp nạn trên đường, đưa họ về nhà và chăm sóc tử tế; và thường đưa những khoản tiền lớn cho những người ăn mày mình bắt gặp trên phố.

Năm 1862, nhà văn lúc này đã từ bỏ lối sống hoang đàng thời trẻ, nghiêm túc nghĩ tới chuyện lập gia đình. Ông viết trong nhật ký rằng ở tuổi ba tư, không một phụ nữ nào có thể yêu ông, bởi ông quá già và xấu xí. Nỗi ám ảnh về sự xấu trai vẫn đeo bám ông. Ông viết, “Có nhiều khoảnh khắc tôi đã gắng gượng trong tuyệt vọng: tôi tưởng rằng sẽ không có một hạnh phúc nào trên thế gian dành cho một kẻ mà mũi đã to, môi lại dày và có đôi mắt ti hí màu xám như tôi; và rồi tôi cầu ở Chúa một phép màu, và biến tôi trở nên đẹp trai, và rằng tôi sẵn lòng đánh đổi tất cả những gì mình đang có và sẽ có trong tương lai chỉ để đổi lấy một gương mặt đẹp trai.”

Thế nhưng chỉ vài tháng sau đó, bà Sofia Andreyevna Behrs chấp nhận lời cầu hôn và hai người chính thức trở thành vợ chồng. Cuộc hôn nhân mang lại cho Tolstoy sự giải thoát khỏi những ưu tư vẫn luôn dày vò lâu nay, là “cánh cổng” dẫn tới đời sống tinh thần ổn định và lâu dài mà ông hằng khao khát. Trước ngày cưới, ông đặt vào tay bà một bản “tự thú”, trong đó ông liệt kê tất cả những tội lỗi mà mình đã mắc phải. Bà đọc nó, khóc cả đêm, trả lại cho ông vào sáng hôm sau và chấp nhận tha thứ. Bà đã tha thứ, nhưng bà không quên.

Nhờ có vợ, đời sống của Tolstoy được ổn định phần nào. Chúng ta được nghe kể rằng bà Sofia đã chép lại bảy lần từ đầu tới cuối cuốn Chiến tranh và Hòa bình, mà mỗi cuốn những gần 600.000 từ. Tài sản thừa kế, cùng với sự quán xuyến của người phụ nữ và thu nhập từ việc viết sách, khiến tài sản của nhà Tolstoy ngày càng gia tăng và giúp ông duy trì đời sống thượng lưu vốn có.

2. Việc quan trọng vào buổi sáng

Tolstoy rất quan tâm tới giấc ngủ của mình. Theo bản danh sách trên, ông đặt ra nguyên tắc không đi ngủ muộn sau 10 giờ tối, dậy sớm vào lúc 5 giờ và “cho phép” bản thân được ngủ 2 tiếng vào ban ngày. Trực giác mách bảo ông rằng, các nhiệm vụ quan trọng nhất nên được hoàn thành vào buổi sáng – trước khi các nhà khoa học tuyên bố bộ não con người đạt công suất tốt nhất sau khi ăn sáng và khoảng trước 3-4 giờ chiều. Ông thẳng thắn tuyên bố Dostoevsky đã tự làm hại tài năng của mình khi thường thức đêm viết lách. “Trong mỗi nhà văn đều có một nhà phê bình,” Tolstoy lý giải, “vào ban đêm nhà phê bình đi ngủ, nên nhà văn sẽ viết ra những điều lung tung, những điều mà vào lúc tỉnh táo hơn anh ta hẳn phải hổ thẹn.”

Dậy sớm viết văn dần trở thành thói quen của Tolstoy trong suốt văn nghiệp của mình. Khi làm việc, ông thích trạng thái tự cô lập: nhốt mình trong phòng và không cho phép ai khuấy động sự tĩnh mịch ấy. Ông không thích những chuyến viếng thăm bất ngờ. Ông quan niệm một buổi sáng năng suất là dấu hiệu của một ngày làm việc hiệu quả. Sau khi ngồi uống trà với gia đình, ông nói: “Đến giờ làm việc rồi!” và lập tức lui về thư phòng. Mọi người trong nhà không ai dám làm phiền ông.

Lẽ vậy, Tolstoy sẽ dành hết trí lực để phóng tác trong buổi sáng; trì hoãn tất cả các nhiệm vụ “dễ tiêu” hơn như đọc thư, đi dạo hoặc việc nhà cho tới buổi chiều. Buổi tối, nhà văn dành thời gian bên gia đình, đón tiếp khách khứa và đọc sách.

Trước khi bàn về tài nghệ văn chương của Tolstoy, ta phải chấp nhận sự thật rằng chính thói quen làm việc nghiêm ngặt và có phần máy móc này (thực ra là không máy móc mấy, vì ông thú thực vẫn có những ngày “không làm gì cả”) – đóng góp một phần to lớn giúp ông kiến tạo nên di sản văn học vĩ đại như hậu thế vẫn ca tụng ngày nay.

3. Vận động thường xuyên

Nhiều người nếu chỉ nhìn ảnh chân dung của Tolstoy sẽ nghĩ ông là một lão già khắc khổ, uể oải và có khi mắc bệnh lao cũng nên. Thật khó để tưởng tượng lão già đó từng là một thanh niên tràn đầy năng lượng, và đã duy trì được mức năng lượng đó trong suốt cuộc đời mình. Trên thực tế, Tolstoy ngày còn tại ngũ có thể ngồi trên lưng ngựa cả ngày, đi bộ hơn 20 dặm mà không có dấu hiệu xuống sức.

Nhờ từ bỏ được những thói xấu từ sớm và biết đầu tư cho sức khỏe bản thân, ông duy trì được thể lực đáng ngưỡng mộ cho tới những ngày cuối đời. Người ta kể lại rằng, chỉ với một chiếc ba lô trên lưng và một cây gậy trong tay, Tolstoy dễ dàng “hóa thân” thành lãng khách và xử gọn 200 cây số từ Moscow đến Yasnaya Polyana vào cuối những năm 60.

Ông đã học đạp xe ở tuổi 67, khoảnh khắc được ghi lại sống động trong nhật ký như sau: “Yevgeny Ivanovich đã cố gắng ngăn cản tôi và rất xấu hổ khi thấy tôi đạp xe mà không ái ngại gì (thời đó, đạp xe không được coi là phù hợp với giới thượng lưu). Nếu có bất cứ điều gì, tôi chỉ muốn nói rằng tôi không quan tâm tới ý nghĩ của người ta và việc đạp xe đơn giản khuấy động trong tôi những niềm vui hết sức con trẻ.”

4. Đặt mục tiêu rõ ràng

“Để đạt được điều gì đó vĩ đại, chúng ta phải dồn tất cả sức mạnh của mình vào một mục tiêu này,” Tolstoy từng viết. Tuy nhiên, mục tiêu của những con người vĩ đại không phải lúc nào cũng mang tầm vóc y chang, mà vẫn tồn tại những điều hết sức trần tục, giả dụ như dậy sớm hơn, hút thuốc ít hơn và.. ghé thăm nhà thổ ít hơn.

Năm 18 tuổi, nhà văn viết trong nhật ký của mình: “Có một mục tiêu trong cuộc sống, một mục tiêu cho bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời; một mục tiêu cho năm, tháng, tuần, ngày tiếp theo hoặc thậm chí giờ tiếp theo hay tới từng phút. Điều quan trọng, hãy tập hy sinh những mục tiêu nhỏ cho những mục tiêu lớn hơn.”

Trên thực tế, Tolstoy thời trẻ không ngại vi phạm quy tắc đã đề ra mỗi khi có cơ hội. “Đừng bao giờ bỏ lỡ lạc thú và đừng bao giờ tìm kiếm nó,” ông từng viết. Tuy chệch khỏi đường ray liên miên vì thiếu kỷ luật, đến cuối cùng, Tolstoy gần như đã đạt được tất thảy những gì ông đề ra, thậm chí cả việc hút thuốc (phải thừa nhận là hơi khổ sở).

5. Sống là không ngừng hoàn thiện mình

“Bất chấp tất cả những gì tôi đã đạt được kể từ khi tôi bắt đầu rèn giũa chính mình, tôi vẫn chưa thực sự hài lòng. Càng tiến bộ bao nhiêu, càng nhận thấy mình thiếu sót bấy nhiêu”, đó là lời tự thú trong cuốn nhật ký đầu tiên của Tolstoy. Lúc ngồi viết những dòng này, ông mới 18 tuổi.

Hơn 70 năm sau, nhà văn vẫn nắn nót từng dòng ghi chú: “Tôi đã 82 tuổi nhưng tôi vẫn còn rất nhiều việc phải làm với bản thân mình.” Ở tuổi 73, nhà văn bắt đầu tự học tiếng Hà Lan, biến nó trở thành ngôn ngữ thứ mười lăm trong “bộ sưu tập” của mình. Ông tìm đọc lại các tác phẩm kinh điển, chẳng hạn như Odyssey & Illiad, bằng ngôn ngữ gốc. Khát khao học hỏi của ông là vô biên. Ông thảo lược rất nhiều dự định…


Ngày 31 tháng Bảy năm 2025,

Độc giả không thể đoán ra hung thủ…

Kỷ lục Guinness xướng tên Agatha Christie là một trong những nhà văn bán chạy nhất mọi thời đại, và nhân vật biểu tượng nhất của bà, thám tử Hercules Poirot, về độ nổi tiếng có lẽ chỉ đứng sau Sherlock Holmes.

Thế nhưng ít ai biết, nghiệp viết lách đến với Agatha một cách hết sức tình cờ, từ một lời thách đố của chị gái bà để viết một câu chuyện trinh thám.

Dành phần lớn thời gian với những người bạn tưởng tượng, tuổi thơ độc đáo của Agatha Clarissa Miller đã nuôi dưỡng một trí tưởng tượng khác thường. Trái với mong muốn của mẹ mình, bà tự học đọc và gần như không trải qua bất cứ hình thức giáo dục hợp thức nào cho tới mười lăm tuổi, khi bà được gửi tới Paris.

Agatha Christie luôn nói rằng bà không hề có tham vọng làm nhà văn mặc dù bà trình diện văn đàn ở tuổi mười một, với một bức thư được in trên tờ báo địa phương của London. Nằm liệt giường vì cúm, mẹ bà gợi ý bà thử viết ra những câu chuyện mà bà thích kể.

Tới những năm cuối của tuổi thiếu niên, Agatha đã xuất bản hàng loạt các bài thơ trên tờ The Poetry Review và đã viết một vài truyện ngắn. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1916, chị gái bà, Madge, thách Agatha viết một câu chuyện trinh thám mà độc giả không thể đoán ra hung thủ cho đến cuối truyện. Agatha chấp nhận thử thách và viết cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của mình, The Mysterious Affair at Styles (Vụ án bí ẩn tại Styles), được xuất bản vào năm 1920. Cuốn sách này đã giới thiệu nhân vật thám tử nổi tiếng Hercule Poirot và đánh dấu sự khởi đầu cho sự nghiệp lẫy lừng của bà sau này.

“Độc giả không thể đoán ra hung thủ cho đến cuối truyện” gần như là mẫu số chung cho tất cả các tác phẩm của Agatha Christie. Hai minh chứng hoàn hảo là Vụ ám sát ông Roger Ackroyd Mười người da đen nhỏ (Và rồi chẳng còn ai)

Với mỗi cuốn sách, Agatha dành phần lớn thời gian để đi sâu vào xây dựng cốt truyện và các manh mối trong đầu hoặc trong sổ ghi chép trước khi bà thực sự viết. Con rể của bà, Anthony Hicks, từng nói: “Bạn không bao giờ thấy bà ấy viết”, bà ấy không bao giờ “nhốt mình trong phòng, như các nhà văn khác vẫn làm.”

Như cháu trai Mathew Prichard lý giải, “tiếp đó bà ấy thường thuật lại câu chuyện cho một cái máy được gọi là Dictaphone và rồi một thư ký có nhiệm vụ gõ sang bản đánh máy, và bà tôi sẽ biên tập thủ công lại. Tôi nghĩ là, trước chiến tranh, trước khi Dictaphone được phát minh ra, khả năng cao là bà thường viết những câu chuyện bằng tay và rồi ai đó sẽ đánh máy lại chúng. Bà ấy không máy móc lắm, bà viết rất tự nhiên và viết cực nhanh. Tôi nghĩ… bà chỉ mất vài tháng để viết xong một cuốn và thêm một tháng để chỉnh sửa trước khi gửi bản thảo tới các nhà xuất bản.

Khi toàn bộ quy trình viết sách đã xong xuôi, thi thoảng bà thường đọc những câu chuyện cho chúng tôi nghe sau bữa tối, mỗi lần một hoặc hai chương gì đấy. Tôi nghĩ chúng tôi bị coi như chuột bạch ở giai đoạn ấy; để đo lường xem phản ứng của công chúng sẽ ra sao. Tất nhiên, ngoại trừ gia đình tôi ra, thường sẽ có thêm vài vị khách khác ở đó và phản ứng của họ rất khác biệt. Chỉ có mẹ tôi luôn biết kẻ sát nhân là ai, tất cả còn lại thi thoảng cũng đoán trúng, còn lại thì trật lất. Ông tôi thường gật gù suốt buổi đọc chuyện nhưng chúng tôi lại rất chăm chú. Đó là một dịp để gia đình quây quần và rồi vài tháng sau, chúng tôi sẽ thấy những câu chuyện đó được bày bán khắp các hiệu sách.”

Sau khi ly hôn với người chồng đầu tiên, Agatha Christie mất tích, một sự kiện không kém kịch tính với những câu chuyện bà viết ra là bao. Năm 1930, bà kết hôn với nhà khảo cổ học Sir Max Mallowan, và sống hạnh phúc cho tới cuối đời. Ngoài truyện trinh thám, bà cũng viết tiểu thuyết lãng mạn dưới bút danh Mary Westmacott. Bà qua đời năm 1976, ở tuổi 86.


Tiểu thuyết Bố già được phát hành vào năm 1969, và báo chí cũng như độc giả đều phát sốt vì nó tới nỗi đặt ra nhiều nghi vấn về việc Mario Puzo có quan hệ mật thiết với mafia hay không.

Về điều này, trong một lần phỏng vấn với Associated Press năm 1996, ông trả lời: “Tôi sẽ ở đâu trong Mafia? Tôi đã chết đói trước khi viết nên Bố già. Nếu tôi ở trong mafia, tôi đã kiếm đủ tiền để không phải viết lách.”

Doanh thu bán sách và bản quyền làm phim giúp Mario Puzo trả hết nợ nần, thậm chí có thể sống khá thong dong. Nhưng vì đã quá quen với việc bị phá sản nên ông mất một thời gian để “thích nghi” với vận may bất ngờ của mình.

Con trai Tony của nhà văn kể lại: “Một lần, ông ấy đến thư viện và phát hiện cuốn sách yêu thích đã bị người khác rút ra trước. Chợt nhớ ra bây giờ mình đã có tiền, ông ấy đi thẳng tới hiệu sách và vác về nhà cả một lô.”


Pho tiểu thuyết đồ sộ “Đi tìm thời gian đã mất” ( “À la recherche du temps perdu”) chắc chắn là một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ XX. Người ta nói rằng Marcel Proust luôn viết trên giường, trong một căn phòng gần như cách âm hoàn toàn. Có lẽ trong những điều kiện này mà kiệt tác của ông đã ra đời, một tác phẩm có lịch sử xuất bản lâu dài, phức tạp và không mấy may mắn.

Vào mùa hè năm 1912, Proust đã chuẩn bị một bản đánh máy của tập đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết của mình. Đầu tiên, ông gửi bản thảo cho Fasquelle (người là nhà xuất bản của các nhà văn Pháp khác như Zola và Rostand), nhưng đánh giá của biên tập viên tiêu cực đến mức ông ta tuyên bố rằng mình không biết cuốn tiểu thuyết nói về điều gì.

Để có được một “bài trình bày nghệ thuật hơn”, Proust đã nghĩ đến việc đề xuất cuốn sách với tờ Nouvelle Revue Française, được thành lập bởi một nhóm trí thức như André Gide và chủ biên Gaston Gallimard. Gide, người được giao nhiệm vụ đọc thử, đã từ chối ngay khi nhìn thấy, có lẽ vì thất vọng trước tiếng xấu về tính cách hợm hĩnh của Proust.

Tuy nhiên, Proust vẫn không bỏ cuộc và gửi bản thảo đến một nhà xuất bản khác tên là Ollendorf. Trong trường hợp này, ông cũng nhận được một đánh giá tiêu cực, và một câu trong bài nhận xét này đã trở nên vô cùng nổi tiếng:

“Tôi có thể rất ngu ngốc, nhưng tôi không hiểu nổi tại sao người đàn ông này lại có thể dành ra ba mươi trang chỉ để mô tả cảnh anh ta trằn trọc trên giường trước khi ngủ.”

Sau những thất bại này, vào tháng 2 năm 1913, Proust tìm đến nhà xuất bản trẻ Bernard Grasset, đề nghị tự chi trả chi phí xuất bản và quảng bá tác phẩm của mình. Cuối cùng, Grasset đã đồng ý mà không cần đọc một trang bản thảo nào của cuốn tiểu thuyết.


Ngày 1 tháng Tám năm 2025,

Tolstoy không thể “chịu nổi” kịch của Chekhov

Nhiều người đương thời cảm thấy các vở kịch của Chekhov có cái gì đấy kỳ quặc. Mà bản thân nhà văn cũng không phủ nhận sự khác thường của chúng: ”Tôi sẽ viết một cái gì đấy kỳ quặc”, – ông viết cho Suvorin, ám chỉ vở “Hải âu”. Về sau Tolstoy nhận xét về vở kịch này như sau: “Hải âu” của Chekhov thật vớ vẩn, không ra gì… “Hải âu” rất dở… Hay nhất là đoạn độc thoại của nhà văn, đó là những nét tự truyện, nhưng trong vở kịch nó nửa quê nửa tỉnh”.

Tolstoy coi Chekhov là một ”nghệ sĩ vô song”, thậm chí gọi ông là “Pushkin trong văn xuôi”, thừa nhận rằng Chekhov đã tạo ra “bút pháp mới”. Nhưng ngay cả khi hiểu rằng Chekhov là một cái gì đấy hoàn toàn khác so với Turgenev, Dostoyevsky hoặc chính mình, Tolstoy vẫn không thể thừa nhận nghệ thuật kịch của Chekhov.

Một lần, Chekhov đến thăm Tolstoy bị ốm ở Gasper. Trước khi chia tay, Tolstoy bảo Chekhov hôn ông, sau đó ghé sát tai nhà văn và nói: “Nhưng dù sao tôi cũng không thể chịu được những vở kịch của anh. Shakespeare viết rất kém, anh còn kém hơn!”


Ngày 5 tháng Tám năm 2025,

Chuyện một ông triết gia

Theo triết gia Arthur Schopenhauer, hãm hại người khác chỉ là một hình thức khác của việc tự làm tổn hại mình. Đây chính là nền tảng của mọi luân lý… Khi người này hãm hại người kia, việc đó cũng tương tự như khi một con rắn tự cắn đuôi của mình mà không biết rằng những chiếc răng chứa nọc độc của nó đang cắm ngập vào chính thân xác nó. Như vậy, luân lý cơ bản mà Schopenhauer rao giảng chính là lòng trắc ẩn.

Hiểu một cách đúng đắn, điều đó có nghĩa là tha nhân không hề ở bên ngoài bản thân ta. Tôi quan tâm đến những chuyện xảy ra với anh bởi vì, theo một cách nào đó, anh là một phần của cái mà cả anh lẫn tôi đều thuộc về: Thế giới như là Ý chí.

Đó chính là lập trường đạo đức chính thống của Schopenhauer. Dù vậy, có một nghi vấn là: chính bản thân ông liệu đã quan tâm đến người khác đến mức độ như ông nói hay chưa?

Người ta kể rằng, có một lần, có một bà già tán gẫu ngoài cửa nhà ông khiến ông tức giận đến mức đẩy bà ta ngã từ bậc cửa xuống. Bà ta bị thương và toà án đã yêu cầu Schopenhauer phải trả tiền cấp dưỡng cho bà ta suốt quãng đời còn lại của bà ta.

Vài năm sau, khi bà ta qua đời, Schopenhauer không mảy may thương xót chút nào: thay vì thế ông còn viết nguệch ngoạc một câu bỡn cợt vần vè trong giấy chứng tử của bà ta: “obit anus, abit omus” (một câu tiếng La tinh, có nghĩa là: “bà già chết, gánh nặng hết”).


Ngày 7 tháng Tám năm 2025,

Thần hứng

Đọc sách báo, thi thoảng ta gặp những câu như: “Nhà văn viết cuốn ấy trong cơn sốt”.

“Cơn sốt” đây không phải là bị cảm hoặc làm cữ mà nhiệt độ trong mình tăng lên 39, 40 độ đâu. “Trong cơn sốt” nghĩa là trong khi hứng tới, dịch đúng chữ “fièvre” trong từ ngữ “fièvre de là création” của Pháp.

Khi hứng tới, quả thật là máu chạy nhanh, dồn cả lên đầu, gân thái dương nổi lên, trán hơi nóng như bắt đầu sốt nhẹ vậy. Lúc đó ta suy nghĩ rất mẫn tiệp, ý thao thao bất tuyệt mà lời cứ theo ý tuôn ra, ta hăng hái viết một hơi hàng chục trang một cách dễ dàng, trơn tru, không mảy may thấy mệt.

Công dụng của hứng quan trọng như vậy nên nhiều nhà văn ráng tìm nó, dùng để cách để gợi lên “yên sĩ phi lí thuần”. Họ hoặc ra biển, lên núi để ngắm cảnh; hoặc chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trên bãi cỏ như người khùng (kỳ cục! hình như cơ thể vận động thì dễ suy nghĩ); hoặc ngắm ảnh mỹ nhân treo trên tường, hoặc nhìn sọ người đặt trước mặt; từ nàng tiên nâu – thuốc p-hiện – đến nàng tiên xanh – rượu mạnh – từ tiếng đàn tiếng ca của các cô Hồng, cô Tuyết đến vị đắng vị ngọt của cà phê, trà tàu, có rất nhiều thứ đã được văn nhân, thi sĩ dùng để mời hứng tới! Mời được đã khó, giữ được còn khó hơn. Người ta kể chuyện muốn cho hứng khỏi mất, Balzac phải nhịn ăn, nhịn ngủ, uống toàn cà phê đậm, cởi cả giày, vớ, gác chân lên một tấm đá hoa lạnh và cắm cổ viết, viết luôn hai mươi bốn giờ.

Hứng giúp ta nhiều thật, song ta đừng nên tưởng rằng hứng rất cần thiết, thiếu nó thì không viết được. Người Pháp nói: “Cứ ăn đi rồi sẽ thấy ngon miệng”. Tôi cũng có thể nói: “Cứ viết đi rồi hứng sẽ tới”. Thi sĩ Baudelaire bảo “công việc hàng ngày giúp cho hứng” là nghĩa vậy.

Flaubert bất chấp hứng, khi cây bút không chịu “đi” ông bắt nó “đi”, y như một nông phu bắt con trâu phải tiến. Ông cấm Maupassant nói: “Lúc này, tôi không viết được gì cả. Đầu tôi trống rỗng” và ông bảo: “Ngày nào cũng đúng giờ ngồi vào bàn viết, thế là hứng”.

Không những vậy, ông còn diệt hứng:

Ta phải đề phòng cái sự phấn khích mà người ta gọi là hứng, trong đó thường có nhiều cảm xúc của thần kinh hơn là sức của bắp thịt. Chẳng hạn trong lúc nầy đây, tôi thấy cao hứng lắm, trán tôi nóng như lửa, câu của tôi tuôn ra (…) Đáng lẽ có một ý thì tôi có đến sáu, và đoạn nào cần phải diễn một cách bình dị nhất thì tôi tìm ngay được một hình ảnh. Tôi chắc chắn là có thể viết tới trưa mà không thấy mệt. Nhưng tôi biết sự giả dối và những lời dại dột của óc tưởng tượng. Cái gì cũng phải làm trong sự lạnh lùng, một cách chầm chậm.

Thực vậy, hứng nhiều khi gạt ta. Ta sôi nổi theo nó, chẳng suy nghĩ gì hết, tưởng ý nào cũng hay, lời nào cũng đẹp, chép cả lên giấy; đến lúc bình tĩnh đọc lại mới thấy phải xoá bỏ đi già nửa. Cho nên khi nào ngòi bút đi dễ dàng quá thì… nên coi chừng: phải thấy khó khăn, mà thắng được khó khăn mới là nghệ thuật.

(Nghề viết văn, Nguyễn Hiến Lê)


Ngày 8 tháng Tám năm 2025,

Bốn cấp độ của việc đọc

Mục tiêu mà độc giả tìm kiếm khi đọc sách – dù là đọc để giải trí, lấy thông tin, hay để hiểu rõ – quyết định cách đọc của họ. Hiệu quả của việc đọc được xác định thông qua sự nỗ lực nhiều hay ít, và những kỹ năng đọc của độc giả. Quy luật chung là càng nỗ lực nhiều, hiệu quả càng cao. Việc đọc sách, giống như tự khám phá, chính là học mà không có thầy giáo. Chúng ta chỉ có thể thành công nếu ta biết cách thực hiện như thế nào.

Có bốn cấp độ đọc. Ở đây chúng tôi dùng từ “cấp độ” thay cho “loại” vì loại thì khác hẳn nhau, trong khi cấp độ lại có cấp độ cao, cấp độ thấp. Do đó, các cấp độ của việc đọc mang tính tích luỹ. Cấp độ đầu tiên không bị cấp độ thứ hai lấn át. Tương tự, cấp độ thứ hai không bị cấp độ thứ ba che mất, và cấp độ thứ ba thì không bị cấp độ bốn lấn lướt. Cấp độ bốn cũng là cấp độ cao nhất trong quá trình đọc, bao hàm tất cả các cấp khác. Nói cách khác, cấp này vượt quá tầm kiểm soát của các cấp dưới.”

Cấp độ đọc đầu tiên được chúng tôi gọi là đọc sơ cấp, hay đọc sơ đẳng, đọc cơ bản, đọc khởi đầu. Cách gọi nào cũng nói lên một điều rằng khi độc giả đã nắm vững cấp độ này, tức là họ đã từ chỗ không biết chữ trở thành biết chữ, ít nhất là ở giai đoạn đầu tiên. Khi thành thạo cấp độ này, người ta học được các điều cơ bản nhất trong Nghệ thuật đọc sách (The art of reading), được đào tạo cơ bản về đọc, và học được các kỹ năng đọc đầu tiên. Cấp độ đọc này thường được dạy cho học sinh tiểu học.

Khi bắt đầu học đọc, người ta học cách nhận biết từng từ riêng rẽ trên trang sách. Ví dụ, các em học sinh lớp một nhìn thấy một tập hợp các dấu hiệu màu đen trên nền giấy trắng, các dấu hiệu đó có nghĩa là “Con mèo ngồi trên chiếc mũ.” Nhưng vì mới học đọc nên các em không thật sự quan tâm liệu mèo có ngồi trên mũ thật không, hay điều này ám chỉ gì về mèo, mũ và thế giới xung quanh. Các em chỉ để ý đến ngôn ngữ mà tác giả đang dùng.

Ở cấp độ một, câu hỏi đặt ra cho người đọc là “Câu đó ý nghĩa nói gì?”. Đây có thể xem là một câu hỏi phức tạp và hóc búa. Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến ý nghĩa đơn giản nhất của nó. Trong cấp độ đọc này, có một số vấn đề mất nhiều công sức để xử lý. Ví dụ, khi ta muốn đọc một tài liệu nào đó nhưng nó lại được viết bằng tiếng nước ngoài mà ta không thạo lắm. Lúc này, nỗ lực đầu tiên của chúng ta là phải xác định các từ được dùng. Chỉ sau khi xác định được từng từ, “chúng ta mới có thể tìm cách để hiểu chúng và cố gắng hết sức để hiểu ý nghĩa của chúng.
Thậm chí, khi đọc các tài liệu được viết bằng ngôn ngữ của mình, nhiều độc giả vẫn gặp không ít khó khăn ở cấp độ đọc này. Hầu hết các khó khăn đó mang tính máy móc. Một trong số các nguyên nhân là do cách họ được dạy học đọc như thế nào lúc ban đầu gây nên. Vượt qua các trở ngại này, người ta thường đọc nhanh hơn. Vì thế mà phần lớn các khoá dạy đọc nhanh tập trung vào cấp độ này.

Cấp độ đọc thứ hai được chúng tôi gọi là đọc kiểm soát. Đặc trưng của cấp độ này là sự nhấn mạnh đặc biệt đến thời gian. Khi đọc ở cấp độ này, học sinh được phân bổ một lượng thời gian nhất định để hoàn tất một lượng bài đọc được giao. Nói cách khác, mục đích của cấp độ này là cố gắng hiểu càng nhiều trong một khoảng thời gian ấn định trước – thường là một khoảng thời gian tương đối ngắn, thậm chí là quá “quá ngắn để hiểu được mọi thứ được đề cập trong sách.

“Có một tên gọi khác cho cấp độ đọc này là đọc lướt qua. Nhưng đây không phải là đọc lướt qua một cuốn sách một cách tình cờ hay ngẫu nhiên. Đọc kiểm soát là nghệ thuật đọc lướt “một cách có hệ thống. Khi đọc ở cấp độ này, mục đích của bạn là xem xét bề mặt cuốn sách, và tiếp thu tất cả những gì mà bề nổi của cuốn sách dạy bạn.

Ở cấp độ này, câu hỏi điển hình là “Cuốn sách muốn nói lên điều gì?” hoặc “Kết cấu cuốn sách như thế nào?”, hay “Cuốn sách gồm những phần nào?”.

Khi đọc kiểm soát một cuốn sách, dù thời gian cho phép ít đến đâu, bạn cũng phải trả lời được câu hỏi “Sách này thuộc loại gì: tiểu thuyết, lịch sử hay khoa học?”. Điều chúng tôi muốn lưu tâm là đa số mọi người, ngay cả những người đọc khá tốt, cũng không nhận thức được giá trị của việc đọc kiểm soát. Họ bắt đầu đọc trang đầu tiên, và đọc kỹ cho đến hết mà không đọc phần mục lục. Như vậy, họ vừa phải tiếp thu kiến thức bề nổi của cuốn sách, vừa phải cố gắng hiểu cuốn sách muốn nói gì. Điều này làm cho vấn đề càng khó khăn hơn.

Cấp độ đọc thứ ba chúng tôi gọi là đọc phân tích. Đây là một hoạt động phức tạp hơn, những cũng hệ thống hơn hai cấp độ trước. Tùy thuộc vào mực độ khó của bài đọc mà có nhiều hay ít đòi hỏi khắt khe đối với người đọc.

Đọc phân tích là đọc kỹ lưỡng, đọc toàn bộ hay đọc hiệu quả. Nếu đọc kiểm soát là hình thức đọc tốt nhất, và hoàn chỉnh nhất có thể đạt được trong một thời gian cho trước, thì đọc phân tích là hình thức đọc tốt nhất và hoàn chỉnh nhất có thể đạt được trong một thời gian không xác định.
Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là đọc phân tích luôn luôn tích cực. Trong cấp độ này, độc giả giành lấy một cuốn sách, và nghiền ngẫm nó cho đến khi nó trở thành của riêng họ. Triết gia Francis Bacon (1561-1626) từng nhận xét rằng: “Một số sách chỉ dùng để nếm. Một số khác để nuốt. Và rất ít cuốn sách dùng để nhai và tiêu hoá.” “Đọc một cuốn sách theo kiểu phân tích có nghĩa là nhai và tiêu hoá nó.

Đọc phân tích không thật sự cần thiết nếu mục đích đọc của bạn chỉ để lấy thông tin hay giải trí. Đọc phân tích trước tiên và trên hết là đọc để hiểu. Nếu bạn không có ít nhất một kỹ năng nào đó của cấp độ đọc phân tích, bạn gần như không thể dựa vào sự trợ giúp của một cuốn sách để đi từ chỗ hiểu ít đến hiểu nhiều.

Cấp độ bốn, cũng là cấp độ cao nhất của việc đọc, được gọi là đọc đồng chủ đề. Đây là hình thức đọc phức tạp nhất và có hệ thống nhất trong tất cả các cấp độ. Yêu cầu đối với người đọc rất cao ngay cả khi bản thân những tài liệu họ đọc khá dễ hiểu.

Người ta còn gọi cấp độ này là đọc so sánh. Khi đọc đồng chủ đề, độc giả đọc nhiều sách chứ không chỉ một cuốn và tìm mối liên quan giữa các cuốn sách đó cũng như mối liên quan đến chủ đề mà chúng cùng đề cập. Nhưng chỉ so sánh về chữ nghĩa thôi là chưa đủ. Đọc đồng chủ đề yêu cầu nhiều hơn thế. Thông qua những cuốn sách, độc giả đọc đồng chủ đề có thể xây dựng một lập luận để phân tích một chủ đề mà có thể không nằm trong bất kỳ cuốn sách nào họ đọc. Vì thế, đọc đồng chủ đề không phải là một nghệ thuật dễ dàng, các quy tắc của nó cũng không được nhiều người biết đến nhưng đó lại là hình thức đọc tích cực nhất, đòi hỏi nỗ lực cao nhất. Lợi ích của hình thức đọc này lớn đến mức có thể bù đắp những khó khăn khi học cách thực hiện nó.

(Đọc sách như một nghệ thuật, Mortimer J. Adler)


Đại chúng

Mỗi tác phẩm văn học hay nghệ thuật, dù xuất phát từ nhu cầu nội tại của tác giả hay theo “đơn đặt hàng”, đều cần có công chúng. Trong một số trường hợp nhất định, có những tác giả (hoặc tác phẩm) chỉ có một công chúng hạn hẹp, thậm chí chỉ được ái mộ trong phạm vi một thiểu số chọn lọc, nhưng dù sao cũng không thể thiếu người đồng cảm. Như Bá Nha xưa chí ít cũng có một Tử Kỳ. Ngược lại, có những tác giả (hoặc tác phẩm) chinh phục cả một công chúng rộng rãi – thường gọi là đại chúng.

Lâu nay, người ta thường lấy tính đại chúng làm một tiêu chuẩn quan trọng, thậm chí có khi là chủ yếu, để đánh giá một tác phẩm văn học hay nghệ thuật. Dĩ nhiên, việc các ông bà nhà thuộc Kiều từ đầu đến cuối, có thể đọc lẩy vanh vách bất kỳ đoạn nào để ứng với từng hoàn cảnh thích hợp, là một bảo chứng cho sự vĩ đại của thi hào dân tộc Nguyễn Du.

Nhưng sẽ là một sai lầm đáng buồn nếu đề cao cái tiêu chí đại chúng lên thành thước đo tuyệt đối. Để xét cái đẹp theo quan điểm mỹ học nghiêm chỉnh, tính đại chúng, trong nhiều trường hợp, không hề đồng nghĩa với giá trị, nhất là ở những nước nền dân trí chưa cao. Lấy một ví dụ: Nếu bằng vào sự hâm mộ của đám đông để chấm điểm thì Đặng Thái Sơn chắc chắn thua xa một ca sĩ “sến” kiểu Tuấn Vũ chẳng hạn.

Không ai lạ gì, trong cái mớ đồ sộ những sách gọi là “best sellers”, hiếm khi có được một cuốn hay thực sự. Nhìn vào thị trường sách dịch hiện nay của ta, thật ngao ngán khi thấy hững tác phẩm lớn như Vụ ánHoá thân (F. Kafka), Chàng Gatxby vĩ đại (S. Fitzgerald), Alexis Zorba (N. Kazantzaki), Dịch hạch (A. Camus)… chìm lịm không được nhắc tới trong khi người ta cuồng lên với những Tình sử Angelique… hay cao cấp hơn chút nữa, Tiếng chim hót trong bụi mận gai, hoặc giá trị “dởm” khác còn tệ hơn nữa.

Một thiên tài kiểu James Joyce, nếu xét theo tiêu chuẩn đại chúng ắt phải xếp vào loại bét bởi lẽ, tổng lại, từ xưa tới nay, trên toàn thế giới, không chắc ông có nổi một công chúng độc giả lên tới mức đại lượng năm chữ số. Có lần tôi hỏi một giáo sư người Pháp:

“Ở nước ông, số người đọc Marcel Proust liệu có đạt tỷ lệ 1 / 10.000?”.

Ngẫm nghĩ một lát, ông trả lời:

“Nghiêm chỉnh thì không tới.”

Hình như Hoelderlin ở cả hai nước Đức cũng vậy. Còn ở ta, có bao nhiêu người đọc nghiêm chỉnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát?

Tôi nhớ cách đây hơn chục năm, nhà hát kịch Trung ương của ta có dựng vở Những nhà vật lý, một tác phẩm xuất sắc của F. Durenmatt. Dàn dựng sạch sẽ, diễn viên tốt, vậy mà vở diễn không đậu được đến một tuần, vì quá vắng khách xem. Cùng một số phận ế ẩm như vậy là nhạc giao hưởng. Hình như những cái tên Bach, Beethoven, Tchaikovski… chẳng nói gì với đông đảo công chúng. Có lẽ vì thế nên suốt ba, bốn năm qua không có lấy một cuộc hoà nhạc giao hưởng nào được tổ chức.

Đã đến lúc nên nói với nhau rằng tính đại chúng, cho dù nhiều khi có thể là một phẩm chất, song không thể dựng thành một tiêu chí cưỡng bách, thậm chí trong một số trường hợp còn hạn chế sự phát triển của các nhân cách nghệ thuật khác nhau. Trong thế giới nghệ thuật, có những loại hình và những nhân cách, nếu “đại chúng hoá”, sẽ bị lụi tàn hay chí ít cũng còi cọc đi. Làm sao có thể “đại chúng hoá” nhạc giao hưởng hay vũ ba-lê? Và chẳng lẽ lại có thể bắt những Picasso, Miró, Braque, Kandinski… phải “đại chúng hoá”?

Bởi thế, thay vì “đại chúng hoá”, điều thiết thực hơn cần làm là phấn đấu nâng cao cái nền chung của dân trí lên đủ mức để hấp thụ được những giá trị đích thực ấy.

(Chỉ tại con chích choè, Dương Tường)


Có nên đọc nhiều sách không?

Đọc nhiều và đọc nhiều sách, nghĩa có khác nhau. Người đọc nhiều sách tất nhiên là đọc nhiều, nhưng người đọc nhiều chưa hẳn là đọc nhiều sách. Bạn chỉ có độ vài chục cuốn sách, nhưng ngày nào cũng đọc vài giờ thì bạn cũng là đọc nhiều.

Về điều ấy, các văn nhân không đồng ý với nhau. Goethe cho rằng: “Một cuốn sách dở tới đâu cũng có một chỗ hay”. Pline và Sénèque, trái lại, đều khuyên chỉ nên đọc những tác phẩm rất có giá trị. Một ngạn ngữ cổ của phương Tây còn nói: “Tôi sợ người nào chỉ có một cuốn sách”.

Theo tôi, đọc nhiều hay ít sách, tuỳ mục đích, trình độ của ta.

Nếu bạn chỉ đọc để tiêu khiển thì đọc nhiều sách bao nhiêu cũng được.

Nếu đọc để kiếm tài liệu thì càng nhiều sách càng tốt. Dale Carnegie không có thì giờ, phải mướn nhiều thư ký đọc hết các sách vở báo chí trong các thư viện để kiếm tài liệu giúp ông viết những cuốn Đắc nhân tâmQuẳng gánh lo đi và vui sống.

Như vậy là tuỳ mục đích. Nếu bạn đọc để luyện văn thì lại còn tuỳ trình độ của bạn nữa.

Bạn đã thấu được nghệ thuật viết văn rồi ư? Bạn có thể theo lời khuyên của Goethe, đọc càng nhiều càng hay vì mỗi tác giả dù ít tài đến đâu cũng có được một đoạn, một câu hoặc một ý đáng cho ta bắt chước. Phải có công đãi cát mới lượm được vàng. Có khi cả những chỗ dở của họ cũng có thể làm bài học cho ta được. Lẽ đó tựa lẽ trong câu: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên; trạch kì thiên giả nhi tòng chỉ, kì bất thiện giả nhi cải chỉ” (“Ba người đi, tất có người làm thầy ta vậy, lựa người thiện mà theo, (coi gương) người bất thiện mà sửa mình.”) của Khổng Tử. Bạn đã có đủ óc suy xét, tất không còn sợ những lỗi của họ ảnh hưởng tới văn của mình.

Nhưng nếu bạn mới tập viết văn, óc thẩm mĩ chưa được vững vàng, chưa phân biệt nổi hay cùng dở thì bạn chỉ nên lựa những tác giả bất hủ, những tác phẩm có chân giá trị.

(Luyện văn, Nguyễn Hiến Lê)


Ngày 13 tháng Tám năm 2025,

Raymond Carver – một Chekhov của nước Mỹ hậu hiện đại

Raymond Carver (1939 – 1988) chỉ sống đến tuổi 49 và để lại không hơn bốn tập truyện ngắn và một số bài thơ, song chừng nấy đã đủ để ông được tôn vinh như một bậc thầy thực sự của văn học Mỹ hiện đại. Điều gì đã khiến ông thành công như vậy? Có lẽ đó là cái biệt tài nói được nhiều nhất bằng ít lời nhất. Không trữ tình, không “hoa-lá-cành”, không phẫn nộ cũng chẳng tỏ vẻ thương cảm, chỉ bằng vài dòng, mươi mười lăm từ, ông đã có thể tạo nên một thế giới của tuyệt vọng và hiu hắt.

Đọc Carver, tôi không khỏi liên tưởng tới Chekhov, một Chekhov – dĩ nhiên ở tầm khiêm tốn hơn – của nước Mỹ ngày nay. Một nước Mỹ hậu công nghiệp, một nước Mỹ ngập ngụa trong tàn bạo, nhàm chán, trong sự tầm thường đến ê chề, một nước Mỹ đánh mất sự ngây thơ của mình, đồng thời mất luôn cả khả năng đón nhận hạnh phúc. Truyện ngắn của Carver tựa như những mẫu giáo khoa về phân huỷ. Làm thế nào để đánh hỏng đời mình và đời người khác, làm thế nào để nảy sinh hằn thù, điên loạn và tội ác? Carver đã tạo một thế giới thiếu vắng tình yêu, thiếu vắng đến độ dã man. Chúng tôi nói gì khi bàn về tình yêu là đầu đề một kiệt tác ngắn của ông. Thật là lạ, từ lâu lắm rồi, người ta đã quên hẳn không còn biết nói gì, nói thế nào về tình yêu. Trái tim bị xâm thực bởi quá nhiều tham vọng nhỏ nhoi, đã trở nên khô héo, cằn cỗi, không còn biết đến nhịp đập yêu thương.

Hầu như chẳng có gì xảy ra trong những truyện kể của Carver. Nhưng bên dưới cái “chẳng-có-gì” ấy là sự nghèo nàn tinh thần, sự bất lực không tìm ra lối thoát khỏi vũng lầy nhàn cư bệnh hoạn – đơn giản là bất hạnh. Nhân vật của Carver là những người làm công ăn lương, những thư ký, kế toán, những cô cậu “tạch-tạch-sè”, trẻ hoặc trung niên, có khi thất nghiệp, có khi rượu chè, xì ke, ma tuý, và gần như có thể hoán đổi cho nhau bởi tất cả đều bị bào mòn bởi những nhí nhách vặt vãnh của đời sống, ngột trong cái thông phàm thường nhật. Và những nhân vật ấy giống như những người mắc nạn đắm tàu, giạt vào bãi biển, nằm chềnh ềnh ở đó, không còn sức để cử động, cũng chẳng biết ứng xử ra sao, ngơ ngác, bẽ bàng, cam chịu. Này đây một gã nhiếp ảnh mất cả hai tay, hoặc một cặp vợ chồng cắn xé nhau, kia một ông bố đầy mặc cảm không cách nào nói chuyện được với con trai mình như “giữa cánh đàn ông với nhau”, rồi một anh chồng phản bội vợ hay một chị vợ phản bội chồng… Khá nhiều truyện ngắn của Carver giống như những tấm ảnh chụp nhanh. Như thể ông bấm máy tức thì mỗi khi gặp một tình huống mới lạ. Nói mới lạ là với độc giả thôi, chứ đâu có mới lạ với ông, người đã từng lưu lạc khắp nước Mỹ, đã chia sẻ cuộc sống mù xám và tẻ nhạt của các thị trấn Mỹ. Thời thơ ấu ở bang Oregon cùng với cha mẹ xuất thân làm nghề đốn củi và đánh cá ở bờ biển Bắc Thái Bình Dương. Những năm lăn lộn kiếm sống bằng hàng chục nghề tạm bợ (lái xe hàng, gác đêm, phục vụ trạm xăng, trực khách sạn…) đã đặt ông vào một vị trí thuận lợi để quan sát cuộc diễu hành của những con người mãn kiếp mắc kẹt trong buồn chán, sau này sẽ thành nhân vật của ông.

Carver không phải là nhà văn bẩm sinh. Ông đến với nghiệp văn gần như ngẫu nhiên, kiểu như để xả bớt những cảm xúc dồn nén trước những bất hạnh ẩn giấu mà ông bất chợt thấy. Cuộc sống lưu lạc, những va đập của số phận đã cho phép ông cúi xuống thân phận những con người bất túc mà đôi khi ứng xử bất lực của họ chỉ phản ánh một nỗi đau quá tải. Carver không bao giờ làm văn. Ông kiệm chữ đến mức tối da – câu ngắn, thường là một mệnh đề, lạnh lùng, khô khốc, có vẻ nghèo nàn, nghèo nàn như cái thực tại mà ông muốn biểu đạt. “Trong những truyện ngắn của Carver”, nhà phê bình văn học Mỹ Denis Donaghue viết, “thậm chí cất tiếng cũng là nguy hiểm. Trò chuyện tức là hoàn tất điều ác hại mà người ta đã lặng lẽ gây cho nhau. Phát biểu một câu hoặc thậm chí thốt ra một tên người, cũng không an toàn… Đó là thứ hư cấu do Carver viết nên và tôi chưa từng thấy cái gì có sức mạnh hơn thế”.

Trong tác phẩm của Carver, dường như những gì không nói ra mới là thiết yếu. Tình huống được cô đọng, hối thúc rồi bỏ lửng. Chẳng hạn như trong Cơ khí dân dã mà, đôi vợ chồng ly hôn giành nhau đứa con nhỏ như hai bà mẹ đến cầu vua Salomon phán xử trong tích xưa. Mỗi bên nắm lấy một tay đứa bé, dồn hêt sức kéo về phía mình. Điều khác với chuyện xưa là không bên nào chịu buông ra. Câu kết phập xuống như một nhát dao: “Và vấn đề được định đoạt theo cách ấy”. Khả năng thích ứng với cái xấu, cái ác bắt đầu từ đó. Carver tin chắc thế. “Một con người có thể tuân theo tất cả mọi luật lệ, rồi đùng một cái, anh ta bất cần”. Và thế là tất cả lộn nhào.

(Chỉ tại con chích choè, Dương Tường)


Tôi chưa bao giờ học quá hai bài tiếng Anh trong đời, bởi dù tôi từng viết luận ở trường, tôi không nhớ mình từng được hướng dẫn cách ghép câu. Hai bài học đó được dạy cho tôi quá muộn màng nên tôi e rằng mình không thể hy vọng nhiều vào việc học hỏi từ chúng.

Bài học đầu tiên chỉ mới diễn ra cách đây vài năm. Tôi đã dành vài tuần ở London và thuê một cô gái trẻ làm thư ký thời vụ. Cô ấy nhút nhát, khá xinh xẻo, và đang chìm đắm trong mối tình dan díu với một người đàn ông đã có vợ. Tôi đã viết một cuốn sách tên là Cakes and Ale (Bánh ngọt và rượu bia), và khi bản thảo được gửi đến vào một sáng thứ Bảy, tôi hỏi cô ấy liệu cô có vui lòng mang nó về nhà và sửa chữa trong suốt cuối tuần không. Tôi chỉ toan nhờ cô ấy ghi lại những lỗi chính tả mà người đánh máy có thể đã sơ suất và những lỗi do chữ viết tay không phải lúc nào cũng dễ đọc. Nhưng cô ấy là một người trẻ tận tâm và cô ấy hiểu chuyện hơn tôi tưởng. Khi cô trả lại bản thảo vào sáng thứ Hai, nó kèm theo bốn tờ giấy nháp để sửa lỗi. Phải thú nhận rằng thoạt nhìn tôi hơi bực mình; nhưng rồi tôi nghĩ thật ngớ ngẩn nếu mình không tận dụng, nếu có thể, những công sức mà cô ấy đã bỏ ra, nên tôi đã ngồi xuống xem xét chúng. Tôi đoán cô gái trẻ từng theo một khóa thư ký tại trường cao đẳng và cô đã đọc tiểu thuyết của tôi một cách bài bản như cách các thầy dạy của cô từng đọc các bài luận của cô. Những nhận xét đầy ắp bốn trang giấy trắng tinh thật nghiêm khắc và sắc sảo. Tôi không thể không đoán biết vị giáo sư tiếng Anh tại trường cao đẳng thư ký không hề nói giảm nói tránh. Ông ấy đã gạch một dòng rõ ràng, không thể nghi ngờ gì về điều đó; và ông ấy không cho phép có hai ý kiến về bất cứ điều gì. Học trò thông minh của ông ấy sẽ không mắc mớ gì đến giới từ đặt cuối câu. Một dấu chấm than thể hiện sự không hài lòng của cô ấy với một cụm từ thông tục. Cô cho rằng không nên dùng cùng một từ hai lần trên một trang giấy, và cô luôn thủ sẵn một từ đồng nghĩa để thay thế. Nếu tôi tự cho phép mình được thoải mái viết một câu dài mười dòng, cô ấy sẽ bình: “Rõ ràng hơn đi. Tốt hơn là nên chia thành hai hoặc nhiều dấu chấm.” Khi tôi tận dụng khoảng lặng dễ chịu được biểu thị bằng dấu chấm phẩy, cô nhận xét: “Dấu chấm.”; và nếu tôi mạo muội dùng dấu hai chấm, cô ấy sẽ đánh giá một cách ngoắt ngoa: “Lỗi thời.” Nhưng lời nhận xét gay gắt nhất của cô ấy là về câu nói đùa mà tôi cho là khá hay ho: “Anh có chắc chắn về kiến thức của mình không?”. Tóm lại, tôi buộc phải kết luận rằng vị giáo sư ở trường đại học của cô ấy hẳn sẽ không cho tôi điểm quá cao.

Bài học thứ hai tôi nhận được đến từ một vị giáo sư, vừa thông minh vừa cuốn hút, người tình cờ ở cùng tôi khi tôi đang chỉnh sửa bản thảo cho một cuốn sách khác. Ông lịch sự đề nghị để ông đọc bản thảo đó. Tôi hơi lưỡng lự, vì biết ông đánh giá dựa trên một tiêu chuẩn xuất sắc khó đạt tới; và dù tôi nhận ra ông am hiểu sâu rộng về văn học thời Elizabeth, sự ngưỡng mộ thái quá của ông dành cho Esther Waters khiến tôi nghi ngờ khả năng thẩm định của ông đối với các tác phẩm đương thời. Chẳng ai coi trọng Esther Waters đến thế nếu thực sự am hiểu về tiểu thuyết Pháp thế kỷ mười chín. Nhưng tôi khao khát làm cho cuốn sách của mình tốt nhất có thể, nên tôi hy vọng sẽ học hỏi được từ những lời phê bình của ông. Thực tế, những nhận xét của ông khá nhẹ nhàng. Chúng khiến tôi đặc biệt chú ý, vì tôi đoán đây cũng là cách ông xử lý các bài luận của sinh viên. Tôi nghĩ vị giáo sư này có năng khiếu tự nhiên về ngôn ngữ, điều mà ông đã liên tục rèn giũa thông qua công việc; gu thẩm mỹ của ông với tôi dường như hoàn hảo. Tôi rất ấn tượng với cách ông nhấn mạnh vào sức mạnh của từng từ riêng lẻ. Ông ưa chuộng những từ mạnh mẽ hơn là những từ nghe êm tai. Chẳng hạn, tôi viết rằng một bức tượng sẽ được đặt [place] ở một quảng trường nào đó, và ông gợi ý tôi nên viết: bức tượng sẽ đứng [stand]. Tôi đã không làm thế vì tai tôi khó chịu với sự lặp vần. Tôi cũng nhận thấy ông có cảm giác rằng từ ngữ không chỉ nên được dùng để cân bằng câu văn mà còn để cân bằng ý tưởng. Điều này rất đúng, vì một ý tưởng có thể mất đi uy lực nếu được diễn đạt quá đột ngột; nhưng đó là vấn đề về sự khéo léo, bởi nó dễ dẫn đến sự rườm rà. Ở đây, hiểu biết về đối thoại sân khấu có thể giúp ích. Đôi khi một diễn viên sẽ nói với tác giả: “Liệu anh có thể thêm một hoặc hai từ vào đoạn thoại này không? Câu thoại của tôi mất hết ý nghĩa nếu tôi chẳng còn gì để nói.” Khi lắng nghe những nhận xét của vị giáo sư, tôi không khỏi nghĩ rằng mình sẽ viết tốt hơn biết bao nếu thời trẻ tôi nhận được những lời khuyên nhủ thông minh, cởi mở và tử tế như thế.

(The Summing Up, Somerset Maugham)


Ngày 15 tháng Tám năm 2025,

Tài năng

Vào thời điểm này tôi sống giữa một nhóm bạn trẻ, những người dường như được trời phú cho những tài năng vượt xa tôi. Họ viết lách, vẽ tranh, soạn tác nhạc một cách thanh thoát khiến tôi không khỏi ghen tị. Họ có mắt thẩm mỹ và khả năng cảm thụ nghệ thuật mà tôi nghĩ mình chẳng bao giờ sánh được. Nhưng rồi, một số người trong họ qua đời mà không thực hiện được kỳ vọng tôi từng đặt vào, số còn lại sống tiếp mà chẳng để lại dấu ấn gì đặc biệt. Giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những gì họ có chỉ là sự sáng tạo bộc phát của tuổi trẻ. Viết văn, làm thơ, gảy vài phím dương cầm hay phác thảo vài bức hoạ – đó chỉ là bản năng của nhiều người trẻ, giống như thú tiêu khiển, là sức sống tràn trề của thời xuân sắc, chẳng mang ý nghĩa gì hơn một đứa trẻ xây lâu đài cát trên bãi biển. Có lẽ chính sự ngây ngô của tôi đã khiến tôi ngưỡng mộ quá khích tài năng của bạn bè. Nếu tôi bớt ngô nghê hơn hẳn tôi đã nhận ra rằng những ý tưởng của họ mà tôi cho là độc đáo thực ra chỉ là của vay mượn từ người khác, rằng những bài thơ và bản nhạc của họ dựa nhiều vào trí nhớ tốt hơn là óc tưởng tượng sống động. Điều tôi muốn nói là khả năng sáng tạo ấy rất phổ biến, chẳng có gì đáng kể để kết luận. Tuổi trẻ chính là nguồn cảm hứng. Một bi kịch của nghệ thuật là nhiều người bị sự sáng tạo nhất thời này đánh lừa rồi dành cả đời để chạy theo việc sáng tác. Khi lớn lên, nguồn sáng tạo ấy cạn kiệt, họ phải đối mặt với những năm tháng dài dặc, và do không còn phù hợp với những nghề nghiệp bình thường hơn, họ phải vắt kiệt bộ óc mệt mỏi để tạo ra thứ mà nó không còn sản sinh nổi nữa. Nếu may mắn họ có thể kiếm sống bằng những công việc liên quan đến nghệ thuật, như làm báo hay dạy học, dù trong lòng không tránh khỏi đôi chút cay đắng.

Dĩ nhiên, chính từ những người có khả năng sáng tạo bẩm sinh này mà nghệ sĩ ra đời. Không có nó, họ chẳng thể có tài năng; nhưng đó chỉ là một phần của tài năng. Mỗi chúng ta sống trong thế giới riêng của tâm trí mình, từ những trải nghiệm và sự giao tiếp với người khác, chúng ta xây dựng một thế giới bên ngoài theo cách mình cần. Vì chúng ta đều là sản phẩm của cùng một quá trình tiến hóa, trong một môi trường tương đối giống nhau, nên những thế giới ta tạo ra cũng na ná nhau. Để đơn giản, ta gọi đó là một thế giới chung. Điều đặc biệt của nghệ sĩ là họ khác biệt ở một điểm nào đó, nên thế giới họ tạo ra cũng khác theo. Chính sự khác biệt ấy là phần quan trọng nhất trong hành trang của họ. Khi thế giới riêng mà họ vẽ ra hấp dẫn được một nhóm người – vì sự mới lạ, vì sức hút riêng, hay vì nó chạm đến những suy nghĩ của họ (chẳng ai giống hệt ai, chỉ tương đối thôi, và không phải ai cũng nhìn thế giới chung theo cùng một cách) – tài năng của họ được công nhận. Nếu là nhà văn, họ đáp ứng một nhu cầu nào đó trong lòng độc giả, giúp độc giả sống một đời sống tinh thần thỏa mãn hơn so với đời sống thực tại. Nhưng cũng có những người không thấy sức hút từ sự khác biệt ấy. Họ không kiên nhẫn với thế giới mà nghệ sĩ tạo ra, thậm chí có thể thấy khó chịu là khác. Khi đó, nghệ sĩ chẳng có gì để nói với họ, và họ sẽ phủ nhận tài năng của anh ta.

Tôi không nghĩ thiên tài là thứ hoàn toàn khác với tài năng. Tôi cũng không chắc nó có phụ thuộc vào sự vượt trội trong năng khiếu bẩm sinh hay không. Chẳng hạn, tôi không thấy Cervantes có tài viết lách xuất chúng, nhưng ai dám nói ông không phải thiên tài? Trong văn học Anh, khó tìm nhà thơ nào sở hữu thiên phú hơn Herrick, nhưng chẳng ai coi ông hơn một tài năng duyên dáng. Với tôi, thiên tài là sự kết hợp giữa năng khiếu sáng tạo bẩm sinh và một cá tính độc đáo giúp người sở hữu chúng nhìn thế giới một cách cá nhân ở mức cao nhất, nhưng vẫn đủ phổ quát để chạm đến tất cả mọi người, chứ không riêng một nhóm nào. Thế giới riêng của họ cũng là thế giới của mọi người, nhưng rộng lớn hơn, sâu sắc hơn. Thông điệp của họ lan tỏa khắp nơi, và dù người ta không thể nói chính xác nó mang ý nghĩa gì, họ cảm nhận được tầm quan trọng của nó. Họ hết sức bình thường. Nhờ một sự may mắn của tự nhiên, họ nhìn cuộc sống với sự sôi nổi mãnh liệt, như thể ở cao trào của một bản nhạc, nhìn thấy sự đa dạng vô tận của nó theo cách mà nhân loại nhìn chung vẫn thấy – lành mạnh và trọn vẹn. Như Matthew Arnold từng nói, họ nhìn cuộc đời vững vàng và nhìn nó toàn diện. Nhưng thiên tài chỉ xuất hiện một, hai lần trong một thế kỷ. Chẳng có gì hiếm hơn sự bình thường. Gọi ai đó là thiên tài chỉ vì họ viết vài vở kịch thông minh hay vẽ vài bức tranh đẹp là điều ngớ ngẩn. Có tài năng là tốt, nhưng ít ai có được. Với tài năng, nghệ sĩ chỉ đạt đến hạng hai, nhưng điều đó cũng chẳng sao, vì hạng hai đã có những tác phẩm giá trị như tiểu thuyết Le Rouge et le Noir, những bài thơ trong The Shropshire Lad, hay tranh của Watteau – không cớ gì phải xấu hổ. Tài năng không chạm được đỉnh cao nhất, nhưng nó vẫn dẫn bạn đến những khung cảnh tuyệt diệu, một thung lũng yên ả, một dòng suối róc rách, hay một hang động thơ mộng trên hành trình dẫn tới đỉnh cao. Bản tính con người đôi khi ngại ngần trước những cái nhìn bao quát nhất về nhân loại. Họ có thể lùi bước trước sự vĩ đại của Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoy để tìm sự khoan khoái trong Candide của Voltaire. Sống mãi với trần nhà Sistine của Michelangelo là điều khó khăn, nhưng ai cũng có thể yêu thích một bức tranh về Nhà thờ Salisbury của Constable.

(The Summing Up, Somerset Maugham)


Ngày 19 tháng Tám năm 2025,

Một ngày nọ, nhiều năm trước, khi chúng tôi (Maugham và Shaw) đang ăn trưa cùng nhau, Bernard Shaw nói với tôi rằng các vở kịch của ông thành công hơn nhiều ở Đức so với ở Anh. Ông cho rằng điều này là bởi sự ngu dốt của công chúng Anh và bởi trí thông minh của người Đức. Ông đã sai. Ở Anh, ông khăng khăng rằng mọi từ ông viết ra đều phải được nói ra. Tôi đã xem các vở kịch của ông ở Đức; ở đó, các đạo diễn đã thẳng tay cắt bỏ những lời lẽ không cần thiết cho hành động kịch tính, và nhờ đó đã mang đến cho công chúng một buổi tiêu khiển thực sự thú vị.


Ngày 21 tháng Tám năm 2025,

Dickens đoan chắc George Eliot là nữ giới

Để tránh khỏi định kiến của thời đại Victoria đối với các nhà văn nữ, Mary Ann Evans đã chọn bút danh nam George Eliot để ký tên, và bút danh này sau đó trở thành một trong những cái tên được kính trọng nhất trong lịch sử văn học.

Cơ hội lớn đầu tiên đến với bà ở tuổi 37, vào năm 1857, khi truyện ngắn “Những bất hạnh của Mục sư Amos Barton” – phần đầu tiên trong tập Cảnh đời linh mục – được đăng tải trên Tạp chí Blackwood, rồi xuất bản dưới dạng sách vào đầu năm 1858. Eliot đã khéo léo gửi bản in đến những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thời bấy giờ: Dickens, Thackeray, Faraday, Ruskin, Tennyson và Carlyle ngay trong tuần đầu năm 1858.

Tác phẩm nhận được sự tán dương nồng nhiệt — toàn bộ 1.500 bản in bán hết sạch, và các nhà phê bình sớm khen ngợi tác giả “sâu sắc trong hiểu biết về trái tim con người”. Điều này làm dấy lên những đồn đoán về danh tính tác giả. Có tin đồn cho rằng tác phẩm là của Joseph Liggins, người đã cố phủ nhận nhưng bất thành, rồi cuối cùng đành chấp nhận danh tiếng bị gán nhầm.

Nhưng lời chứng sống động nhất về tài năng của Eliot đến từ một lá thư của chính Charles Dickens, gửi đến nhà xuất bản của bà trước khi danh tính thật của bà được tiết lộ. Dù gửi thư với lời chào “Thưa Ngài”, Dickens, người mà Eliot từng gặp năm 1852 và thấy “thất vọng, không có chút nhân từ trên gương mặt và có lẽ cũng chẳng có trong lòng”, đã nhấn mạnh rằng bất chấp mọi tin đồn, trực giác ông mách bảo rằng rằng tác giả là một phụ nữ.

Dưới đây là nguyên văn lá thư:

London, ngày 18 tháng 1 năm 1858

Thưa Ngài,

Tôi thực sự xúc động sâu sắc trước hai câu chuyện đầu tiên trong cuốn sách mà quý ngài, qua nhà xuất bản Blackwood, đã tử tế gửi đến tôi. Tôi hy vọng ngài sẽ thứ lỗi khi tôi viết thư này để bày tỏ sự ngưỡng mộ trước tài năng xuất chúng của chúng. Sự chân thật và tinh tế tuyệt vời, cả trong nét hài hước lẫn nỗi buồn của những câu chuyện ấy, là điều tôi chưa từng bắt gặp ở đâu; chúng để lại trong tôi một ấn tượng mà tôi khó lòng diễn tả, ngay cả khi tôi đủ trơ trẽn để thử diễn tả chúng.

Khi viết vài lời cảm ơn này đến người sáng tạo ra những bất hạnh của Mục sư Amos Barton và câu chuyện tình buồn của ông Gilfil, tôi cho rằng mình phải dùng cái tên mà nhà văn xuất sắc ấy đã chọn. Tôi không thể nghĩ ra cái tên nào hay hơn; nhưng nếu được tự do lựa chọn, tôi sẽ gọi nhà văn ấy là một phụ nữ. Tôi nhận thấy những nét chạm rất nữ tính trong những câu chuyện cảm động này, đến nỗi lời khẳng định trên trang bìa cũng không đủ để thuyết phục tôi, ngay cả bây giờ cũng thế. Nếu chúng không được viết bởi một phụ nữ, tôi tin rằng chưa từng có người đàn ông nào, từ trước tới nay, có tài hóa thân tinh thần thành một phụ nữ đến vậy.

Ngài đừng nghĩ rằng tôi có ý định hèn mọn muốn dò xét bí mật của ngài. Tôi đề cập điều này vì nó rất thú vị với tôi – không phải chỉ vì tò mò. Nếu một ngày nào đó ngài thấy tiện và muốn cho tôi gặp mặt người đàn ông hay phụ nữ đã viết nên những áng văn tuyệt diệu ấy, đó sẽ là một dịp đáng nhớ đối với tôi. Nếu không, tôi sẽ luôn trân trọng con người vô hình ấy với lòng yêu mến và niềm kính trọng, và sẽ đón nhận mọi tác phẩm tương lai từ cùng nguồn cảm hứng ấy với niềm tin tuyệt đối rằng chúng sẽ khiến tôi sáng suốt hơn và tốt đẹp hơn.

Người bầy tôi trung thành của Ngài,

Charles Dickens


Ngày 22 tháng Tám năm 2025,

Tôi đã viết sách như thế nào?

(Sir Arthur Conan Doyle)

Khi tôi được hỏi phương pháp làm việc của tôi là gì, tôi phải tự hỏi liệu hình thức công việc nào đang được nhắc đến ở đây. Tôi đã thử sức ở nhiều lĩnh vực. Ít có thể loại nào mà tôi chưa từng động đến. Tôi đã viết khoảng hai mươi đến ba mươi tác phẩm hư cấu, lịch sử hai trận chiến, vài cuốn sách về khoa học tâm linh, ba cuốn sách du lịch, một cuốn văn học, vài vở kịch, hai cuốn sách về nghiên cứu tội phạm, hai cuốn sách chính trị nhỏ, ba tập thơ, một cuốn sách thiếu nhi, và một cuốn tự truyện. Dù thế nào chăng nữa, tôi không nghĩ có nhiều người từng có phạm vi hoạt động rộng tới vậy.

Trong truyện ngắn, tôi luôn cảm thấy rằng miễn là bạn tạo ra được hiệu ứng kịch tính, thì độ chính xác của chi tiết không quá quan trọng. Tôi chưa bao giờ cố gắng đạt được sự chính xác đó và thành ra mắc phải vài sai lầm nghiêm trọng. Nhưng điều đó có quan trọng gì nếu tôi có thể giữ chân độc giả? Tôi cho rằng mình có thể tự đặt ra các điều kiện riêng, và tôi đã làm như vậy. Tôi cho phép mình phóng túng trong một số câu chuyện về Sherlock Holmes. Ví dụ, tôi được cho hay rằng trong “Cuộc phiêu lưu của Silver Blaze”, phân nửa nhân vật đáng lẽ đã bị tống vào tù, còn nửa kia thì bị cấm cửa vĩnh viễn khỏi các trường đua. Tôi không mảy may bận lòng vì đây rõ ràng là một câu chuyện giả tưởng.

Tuy nhiên, điều này khác đi khi lịch sử được đưa vào. Ngay cả trong một truyện ngắn, người ta cũng nên tỏ ra chính xác về mặt này. Chẳng hạn, trong các câu chuyện về Brigadier Gerald, ngay cả đồng phục cũng chính xác. Hai mươi cuốn sách về lý lịch quân đội thời Napoleon là nền tảng cho những câu chuyện đó.

Sự chính xác này càng quan trọng hơn đối với một tiểu thuyết lịch sử dài. Nó sẽ chỉ là một cuốn sách phiêu lưu cho trẻ con nếu không phải là một bức tranh chân xác về thời đại đó. Phương pháp của tôi trước khi viết một cuốn sách như Sir Nigel hoặc The Refugees là đọc mọi thứ tôi có thể tìm được về thời đại đó và chép vào sổ tay tất cả những nét điển hình. Sau đó, tôi sẽ lập chỉ mục chéo cho tài liệu này bằng cách chia nó theo các tuýp nhân vật khác nhau. Chẳng hạn, dưới mục “Xạ thủ”, tôi sẽ ghi lại tất cả kiến thức về cung thuật, cũng như những lời thề mà một xạ thủ có thể sử dụng, nơi anh ta có thể đã từng đến, những cuộc chiến, vân vân, để tạo bầu không khí trong lời nói của anh ta… Tất cả những điều này dường như bị lãng phí đối với những lời phê bình thoáng qua ngày nay, nhưng dù sao thì đó cũng chính là muối giữ cho cuốn sách khỏi bị mục nát. Sir Walter Scott vượt trội chính ở điểm này. Gần đây tôi đọc lại tác phẩm của ông, và so với chúng ta thì cũng như mặt tiền của Bảo tàng Anh so với mặt tiền của một cung điện tranh vẽ bằng thạch cao.

Về giờ làm việc của tôi, khi tôi say mê một cuốn sách, tôi sẵn sàng làm việc cả ngày, và đi dạo hoặc nghỉ trưa một hai tiếng vào buổi chiều. Khi tôi già đi, tôi phần nào mất đi khả năng làm việc liên tục, nhưng tôi nhớ rằng tôi từng viết 10.000 từ của The Refugees trong vòng 24 giờ. Đó là phần mà Grand Monarch đứng giữa hai tình nhân, và nó chứa đựng một nỗ lực bền bỉ nhất mà tôi từng thực hiện. Tôi từng hai lần viết các cuốn sách nhỏ 40.000 từ trong vòng một tuần, nhưng trong mỗi trường hợp, tôi được thúc đẩy bởi một sự căm phẫn cháy bỏng, thứ động lực tốt nhất.

Kể từ khi tôi không còn phải viết để kiếm sống, tôi chưa bao giờ nghĩ đến tiền trong công việc của mình. Khi hoàn thành công việc, tiền bạc là điều đáng hoan nghênh, và chính tác giả nên nhận được nó. Nhưng tôi chưa bao giờ ký một hợp đồng chỉ vì nó được trả hậu, và trên thực tế, tôi rất hiếm khi nhận hợp đồng, mà thích đợi cho đến khi có một ý tưởng kích thích tôi, và không cho người đại diện hoặc biên tập viên của mình biết chỉ khi tôi đã tiến xa với công việc. Tôi chắc chắn đây là cách làm việc tốt nhất và cũng là cách hạnh phúc nhất đối với một tác giả.


Tiểu thuyết bợm nghịch

Tiểu thuyết bợm nghịch (picaresque novel) là một trong những mô thức tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất của văn học châu Âu như một sự khiêu khích với thể loại tiểu thuyết hiệp sĩ lãng mạn thuần tuý. Trong đó, Don Quixote của đại văn hào Miguel de Cervantes thường xuyên được nhắc đến nhất như một ví dụ tiêu biểu của kiểu tiểu thuyết này.

“Picaresque” là một từ lóng bắt nguồn từ “pícaro”, được sử dụng lần đầu vào những năm 1600 tại Tây Ban Nha và trong tiếng Anh mang nghĩa là kẻ lưu manh, phóng túng, bợm nghịch, vô lại. Nhân vật chính của các tiểu thuyết bợm nghịch thường xuất hiện từ tầng lớp hạ lưu hoặc đôi khi từ giới quý tộc sa sút. Kết cấu của tiểu thuyết không phức tạp, đặc trưng bởi tính châm biếm, mỉa mai, khám phá các khía cạnh đạo đức và xã hội thông qua góc nhìn của một kẻ ngoài lề.

Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu của thể loại này:

Don Quixote xứ Mancha – Miguel de Cervantes

Kiệt tác này xoay quanh Alonso Quixano, một tiểu quý tộc sa sút trung niên mê muội dòng sách kiếm hiệp, tự xưng là hiệp sĩ Don Quixote và lên đường chu du cùng người giám mã Sancho Panza để làm “sống lại thời kỳ vẻ vang của hiệp sĩ đạo.” Hai thầy trò trải qua hàng loạt cuộc phiêu lưu vừa bi vừa hài, từ chiến đấu với cối xay gió đến đối đầu với những pháp sư tưởng tượng. Qua đó, Cervantes châm biếm các lý tưởng hiệp sĩ lỗi thời, đồng thời phản ánh xã hội Tây Ban Nha thế kỷ 17 với sự phân hóa giai cấp và những mâu thuẫn đạo đức sâu sắc.

Candide (Chàng ngây thơ) – Voltaire

Một tiểu thuyết châm biếm kinh điển của Voltaire, kể về hành trình lưu lạc của Candide, một chàng trai ngây thơ tin vào triết lý “mọi thứ đều sẽ trở nên tốt đẹp hơn” của người thầy triết gia Pangloss. Qua các cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ và bi hài trên khắp thế giới, Candide trải qua chiến tranh, thiên tai, nếm trải sự tàn nhẫn của con người, từ đó phơi bày sự phi lý của chủ nghĩa lạc quan tuyệt đối.

Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn – Mark Twain

Hành trình lang thang trên sông Mississippi của cậu bé Huckleberry Finn và người nô lệ da đen bỏ trốn tên Jim, mang đậm tinh thần trào phúng của Mark Twain qua những cuộc gặp gỡ bất ngờ và cái nhìn châm biếm về xã hội Mỹ thế kỷ 19, đặc biệt là vấn nạn nô lệ.

Joseph Andrews & Tom Jones – Henry Fielding

Joseph Andrews được xem là một trong những tác phẩm đầu tiên định hình thể loại picaresque ở Anh. Câu chuyện xoay quanh Joseph Andrews, một chàng trai trẻ, lương thiện nhưng ngây thơ, làm người hầu cho một gia đình quý tộc. Sau khi bị sa thải và gặp nhiều biến cố, Joseph bắt đầu hành trình phiêu lưu qua vùng nông thôn Anh, đối mặt với đủ loại nhân vật từ kẻ lừa đảo, quý tộc giả dạng đến người dân thường. Tác phẩm kết hợp hài hước, châm biếm và những tình huống bất ngờ để phê phán đạo đức giả, bất công xã hội và sự phân biệt giai cấp thời kỳ đó.

Còn Tom Jones, một kiệt tác khác của Fielding, kể về đứa trẻ mồ côi Tom Jones được nuôi dưỡng trong một gia đình quý tộc. Với bản tính tốt bụng nhưng bốc đồng và yêu đời, Tom trải qua hàng loạt cuộc phiêu lưu khắp nước Anh, từ những mối tình lãng mạn, những vụ đánh nhau, đến các âm mưu và hiểu lầm. Tác phẩm khắc họa xã hội thế kỷ 18 với sự phong phú về nhân vật và tình tiết, đồng thời châm biếm thói đạo đức giả, tham nhũng và định kiến giai cấp.

Chuyện vặt ông Pickwick – Charles Dickens

Chuyện vặt ông Pickwick là một tiểu thuyết mang nhiều đặc điểm của thể loại picaresque dù không hoàn toàn thuần túy. Tác phẩm kể về hành trình của ông Samuel Pickwick, một quý ông tốt bụng nhưng ngây thơ, cùng các thành viên Câu lạc bộ Pickwick, khi họ chu du khắp nước Anh. Những chuyến đi của họ đầy ắp các tình huống hài hước, phiêu lưu bất ngờ, và những cuộc gặp gỡ với đủ loại nhân vật từ mọi tầng lớp xã hội. Qua lăng kính châm biếm, Dickens khắc họa sinh động bức tranh xã hội Anh thế kỷ 19, từ sự ngớ ngẩn của giới thượng lưu đến đời sống khổ cực của tầng lớp lao động. Tác phẩm nổi bật trong gia tài của Dickens với sự dí dỏm đặc trưng, hình tượng nhân vật đáng nhớ và cái nhìn sâu sắc về bản chất con người.

Những linh hồn c-hết – Nikolai Gogol

Những linh hồn chết kể về Chichikov, một gã mưu mô đi khắp nước Nga để mua “những linh hồn c-hết”, tức danh sách các nông nô đã c-hết nhưng vẫn còn trên giấy tờ, nhằm thực hiện một âm mưu kiếm chác gian giảo. Qua các cuộc phiêu lưu, Chichikov gặp gỡ nhiều nhân vật thuộc đủ tầng lớp, từ đám địa chủ giàu có đến dân nghèo cùng đinh, qua đó phơi bày sự tham lam, đạo đức giả và sự suy đồi của xã hội Nga thời bấy giờ.


Mikhain Prisvin

(Pautovsky)

Đã mấy lần tôi nghe thấy những người vừa đọc xong tác phẩm của Prishvin cùng thốt lên một lời như sau: “Đây quả là một thứ phù phép thực sự”.

Câu chuyện tiếp theo với họ cho tôi thấy rằng qua lời nói đó họ đã muốn nói đến cái chất say người khó giải thích nhưng lại rất hiển hiện, chỉ có trong văn xuôi Prishvin.

Cái chất say người ấy là ở đâu? Bí mật của những cuốn sách ấy là ở đâu? Những chữ như “phù phép”, “huyền diệu” thường được dùng để nói tới các truyện cổ tích. Nhưng Prishvin đâu phải là người viết truyện hoang đường. Ông là con người của đất, của “Đất Mẹ hiền từ”, ông là người chứng kiến và tham dự vào tất cả những gì xảy ra chung quanh ông trên thế giới này.

Bí mật của sức hấp dẫn trong văn xuôi Prishvin, bí mật của sự phù phép của ông là ở cái nhìn tinh tường của ông.

Đó là cái nhìn tinh tường cho phép phát hiện ra những điều đáng kể, thú vị trong từng chi tiết nhỏ, dưới lớp vỏ đôi khi đã quá ư nhàm tẻ của các hiện tượng để nhìn thấy nội dung sâu xa của cuộc sống trần thế. Đến cả chiếc lá dương bình thường nhất cũng sống một cuộc sống lý tính riêng.


Ngày 8 tháng Chín năm 2025,

J. R. R. Tolkien – Một cái kết viên mãn

Ở tuổi 16, J. R. R. Tolkien gặp Edith Mary Bratt, cô gái lớn hơn ông ba tuổi, tại ngôi nhà trọ ở số 37 đường Duchess của bà Faulkner. Họ nhanh chóng trở thành tình nhân.

Vì nghèo, Tolkien tích từng xu cho những buổi hẹn hò. Ông thường đưa Edith tới các quán trà ở Birmingham, thảo luận sôi nổi về ngôn ngữ, âm nhạc; tinh nghịch ném những viên đường nhỏ xuống vành mũ của những quý bà. Theo Humphrey Carpenter, nhà viết tiểu sử, tác giả cuốn sách J .R. R. Tolkien: A Biography

“Với hai con người có tính cách và địa vị như nhau, chuyện tình cảm chắc chắn sẽ nảy nở. Cả hai đều là những đứa trẻ mồ côi cần được yêu thương và họ nhận ra rằng mình có thể dành tình cảm đó cho nhau. Vào mùa hè năm 1909, họ quyết định hẹn hò.”

Tuy nhiên, khi nhận thấy Tolkien xao nhãng học hành, Cha Morgan, người giám hộ của ông bấy giờ, đã cấm ông gặp gỡ, trò chuyện hay kể cả liên lạc với Edith cho tới khi 21 tuổi. Vâng lời cha, tới đúng sinh nhật thứ 21 của mình, Tolkien viết một lá thư tới Edith ngỏ lời cầu hôn, nhưng bà hồi âm rằng bà đã đính hôn với một người khác. 

Rồi Thế chiến nổ ra. Hàng đoàn sinh viên lên đường nhập ngũ. Không giống nhiều người cùng thời, Tolkien kiên quyết không xung phong tòng quân ngay lập tức mà ở lại Oxford để hoàn thành nốt chương trình học, sau tốt nghiệp với tấm bằng hạng nhất. Sau đó ông được phong hàm Thiếu uý trong binh đoàn Súng hoả mai Lancashire. 

Theo tiểu sử đề cập, trước khi ra mặt trận, Edith đã tới tiễn ông; họ đứng lặng bên đoàn tàu hoả, và Edith tháo nhẫn đính hôn rồi nói rằng bà sẽ cưới Tolkien. Tolkien lên đường và được giải ngũ về nước năm 1916; trong suốt những ngày nằm viện, Edith không rời ông nửa bước, điều này khiến Cha Morgan cảm động, thừa nhận rằng Tolkien đã đúng khi theo đuổi Edith. Sau đó không lâu, họ về chung một nhà.

Những năm sau này, Tolkien tỏ ra phẫn nộ khi nhiều người tìm kiếm trong tác phẩm của mình nét tương đồng với Thế chiến thứ hai: 

“Người ta phải thực sự kinh qua một cuộc chiến mới thấy được hết toàn vẹn sự bạo ngược của nó; nhưng khi những tháng năm đó đã lùi xa, dường như họ lại quên rằng những người trẻ tuổi cũng từng bị cuốn vào cuộc chiến năm 1914, một cuộc chiến cũng ghê tởm không kém cuộc chiến năm 1939 và những năm về sau.” 

Sau khi giải ngũ, Tolkien vào làm giảng viên tại Đại học Leeds vào năm 1920 và vài năm sau trở thành Giáo sư tại Đại học Oxford. 

Bận bịu cả ngày trên giảng đường, ông dành buổi đêm để tiếp tục phát triển thần thoại và ngôn ngữ của mình. Rất nhiều các tác phẩm của ông như Mr. BlissRoverandom,… thực chất là những câu chuyện ông kể cho các con nghe trước giờ đi ngủ. 

Một ngày nọ, khi Tolkien đang chấm bài thì thấy một thí sinh nộp tờ giấy trắng. Một cách tình cờ, ông viết “Trong một cái hố trên mặt đất có một người Hobbit sống.” 

Vốn tò mò, Tolkien quyết định cần tìm hiểu xem Hobbit là gì, nó sống trong cái hố nào, tại sao nó sống trong cái hố,… Từ cuộc điều tra sơ bộ này, ông nảy sinh ra một câu chuyện để kể cho các con, và thậm chí còn được duyệt đem xuất bản. Năm 1936, bản đánh máy chưa hoàn chỉnh của nó đã tới tay Susan Dagnall, biên tập viên tại Allen & Unwin. 

Cô yêu cầu Tolkien hoàn thành nó và trình bày toàn bộ câu chuyện cho Chủ tịch Unwin nghe. Ông này đem về cho cậu con trai 10 tuổi Rayner đọc, và dưới đây là bài phê bình của cậu: 

“Bilbo Baggins là một người Hobbit sống trong hang Hobbit của mình và không bao giờ thực hiện các cuộc phiêu lưu, cuối cùng, phù thủy Gandalf và những người lùn đã thuyết phục được anh ta đi. Anh đã có một khoảng thời gian rất thú vị khi chiến đấu với yêu tinh và chiến binh. Cuối cùng họ đã có được đến ngọn núi cô đơn; Smaug, con rồng canh giữ nó đã bị giết và sau một trận chiến kinh hoàng với lũ yêu tinh, anh ta trở về nhà – giàu có! Cuốn sách này, với sự trợ giúp của bản đồ, không cần bất kỳ hình ảnh minh họa nào, rất hay và sẽ thu hút tất cả mọi người trẻ em từ 5 đến 9 tuổi.”

Cuốn sách sau đó được xuất bản dưới tên The Hobbit (Anh chàng Hobbit) vào năm 1937 và được xem là sách thiếu nhi, mặc dù Tolkien nói rằng cuốn sách này ban đầu không hướng tới đối tượng này. The Hobbit ngay lập tức đạt được thành công vang dội, và Unwin hỏi liệu Tolkien còn ý tưởng nào khác không. 

Thuận theo chiều gió, Tolkien về nhà, chau chuốt lại tất cả bản nháp rồi đem gửi cho Unwin. Nhưng cuốn sách thứ hai này, Silmarillion, phỏng theo ý kiến phần đông độc giả, sẽ không đem lại thành công thương mại. Unwin đã lựa lời với Tolkien, nhưng hỏi lại liệu Giáo sư có sẵn lòng viết phần tiếp theo cho The Hobbit hay không. 

Tolkien thất vọng ra về, nhưng đồng ý tham gia thử thách cho “The New Hobbit”. 

Ông đã miệt mài 16 năm trời cho một thiên tiểu thuyết trường kỳ, và lúc này thì cậu nhóc Rayner 10 tuổi năm nào đã trưởng thành và nối nghiệp cha. Nhờ sự tác động của anh lên cha mình, Unwin đã quyết định chịu khoản lỗ 1.000 bảng Anh để xuất bản một cuốn sách với tựa đề The Lord of the Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn), chia nó làm ba hồi trong thời kỳ 1954-55. Cả tác giả và nhà xuất bản đều không kỳ vọng nhiều vào thành công của nó. 

Chúa tể của những chiếc nhẫn nhanh chóng được công chúng chú ý. Nó nhận về nhiều phản hồi hỗn hợp, từ “ngây ngất” cho tới “đáng nguyền rủa” và cả lưng chừng khoảng giữa. Đài BBC chia nó làm 12 tập phát sóng radio trên Kênh Ba, được xem là kênh “trí tuệ”. Doanh số sách tăng vọt khiến Tolkien hối tiếc vì đã không nghỉ hưu sớm hơn. 

Ngoài ra, những năm 1960 tại Mỹ là thời kỳ có nhiều thay đổi và hỗn loạn. Mỹ vẫn đang tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam, sự lên ngôi của phong trào “hippie”, làn sóng phản văn hoá cuộn trào; công chúng quay lưng lại với các chuẩn mực truyền thống để tìm kiếm những điều mới mẻ, những thứ phản chiếu rõ nét qua sự phổ biến của ma tuý, tình dục bừa bãi, sự thống trị của rock-n-roll. Những người như vậy dần tụ hợp lại dưới cái tên “Cộng đồng thay thế”. Tới những năm 70, Chúa tể của những chiếc nhẫn được xem là Kinh Thánh của cộng đồng này. 

Sự thành công của cuốn sách đã tạo ra những cảm xúc lẫn lộn trong tác giả. Một mặt, Tolkien rất vui sướng vì bỗng dưng giàu sụ. Mặt khác, ông tiếc nuối vì một số người không sử dụng tác phẩm đúng định hướng ban đầu (một số người quả thực đã nảy ra ý tưởng đọc Chúa tể những chiếc nhẫn và dùng LSD đồng thời).

Ngoài ra, Tolkien chịu phiền hà không ít bởi những người hâm mộ dừng lại trố mắt trước nhà mình và đặc biệt là những người gọi vào 3 giờ sáng chỉ để hỏi liệu Frodo có thành công hay không, hay Balrogs có cánh phải không. Vậy nên ông phải dọn nhà, đổi số điện thoại, và cuối cùng cùng vợ chuyển tới Bournemouth, tận hưởng chút an lạc tuổi già tại vùng biển được cho là “kém hấp dẫn” đó. 

Năm 1971, Edith yêu dấu qua đời, và Ronald Tolkien đoàn tụ với bà hai năm sau đó. Ông và vợ được chôn cất cùng nhau trong một lăng mộ duy nhất ở khu Công giáo của nghĩa trang Wolvercote ở ngoại ô phía bắc Oxford. Trên bia mộ có viết: 

Edith Mary Tolkien, Lúthien, 1889–1971

John Ronald Reuel Tolkien, Beren, 1892–1973 

Bạn còn nhớ cuốn The Silmarillion bị nhà xuất bản từ chối của ông chứ? Sau khi Tolkien mất, con trai ông, Christopher đã đem xuất bản cuốn sách này dưới tựa đề Beren and Lúthien. Câu chuyện diễn ra trong Thời đại đầu tiên của Trung địa, khoảng 6.500 năm trước các sự kiện của Anh chàng Hobbit và Chúa tể của những chiếc nhẫn.

Trong truyện, Lúthien là một tiên nữ thuộc tộc Tiên đem lòng yêu chàng trai người phàm Beren. Tolkien dựa vào nguồn cảm hứng từ chuyện tình yêu của ông dành cho người vợ Edith của mình để viết nên cuốn sách này: “Cha chưa bao giờ gọi mẹ là Edith Luthien – nhưng bà ấy là nguồn gốc cho câu chuyện mà theo thời gian đã trở thành phần chính của Silmarillion.”


Ngày 10 tháng Chín năm 2025,

Vladimir Nabokov – Nhà phê bình xéo xắt

“Ở tuổi 14 hay 15 gì đấy, tôi đã đọc hoặc đọc lại tất cả tác phẩm của Tolstoy bằng tiếng Nga, tất cả của Shakespeare bằng tiếng Anh, và tất cả của Flaubert bằng tiếng Pháp.”

Đó là lời bộc bạch của Vladimir Nabokov, tác giả trứ danh của thiên tiểu thuyết gây tranh cãi Lolita. Nhưng Nabokov chưa bao giờ chỉ là một nhà văn. Ngoài sự nghiệp văn chương, ông còn là học giả, dịch giả, giảng viên, nhà sưu tầm bướm, một kiện tướng tài năng – nói tóm lại – là một người đàn ông có học thức theo nghĩa trọn vẹn nhất của từ này.

Tuy nhiên, trái với sự du dương trong lời văn của mình, Nabokov tỏ ra khá ngoa ngoắt dưới cương vị một phê bình gia. Ông bình phẩm một cách thẳng thắn đến mức không khoan nhượng, thậm chí là cay nghiệt về các nhà văn khác, dù là bậc tiền nhân thì ông cũng chẳng mấy nể nang, như các bạn sẽ được thấy dưới đây:

Jane Austen. Tuyệt vời.

Honoré Balzac. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn.

Henri Bergson. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.

Jorge Luis Borges. Yêu thích. Thật tự do khi được hít thở trong những mê cung tuyệt diệu của ông! Sự sáng suốt trong tư duy, sự tinh khiết trong thơ ca. Một người có tài năng vô hạn.

Rupert Brooke. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, nhưng không còn nữa.

Robert Browning. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa.

Albert Camus. Không ưa ông ta. Hạng hai, phù phiếm, tự cao. Một kẻ vô danh, hoàn toàn không có ý nghĩa với tôi. Kinh khủng.

Lewis Carroll. Luôn yêu thích ông. Nhà văn truyện thiếu nhi vĩ đại nhất mọi thời đại.

Miguel de Cervantes.

Don Quixote. Một cuốn sách cổ lỗ tàn nhẫn và thô thiển.

Anton Chekhov. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Tài năng, nhưng không phải thiên tài. Mến ông ấy sâu sắc, nhưng không thể lý giải cảm giác đó.

G. K. Chesterton. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.

Arthur Conan Doyle. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi, nhưng không còn nữa. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.

Joseph Conrad. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Chắc chắn thua kém Hemingway và Wells. Hoàn toàn non nớt về mặt tinh thần và cảm xúc. Lãng mạn theo nghĩa rộng. Hơi giả tạo.

Fyodor Dostoevsky. Không thích ông ta. Một kẻ giật gân rẻ tiền, vụng về và thô thiển. Một nhà tiên tri, một nhà báo ba hoa và một diễn viên hài cẩu thả. Một số cảnh của ông cực kỳ hài hước. Không ai xem trọng thứ báo chí phản động của ông.

The Brothers Karamazov. Không thích chút nào.

Crime and Punishment. Không thích chút nào. Trò hề kinh khủng.

Theodore Dreiser. Không thích ông ta. Một kẻ tầm thường kinh khủng.

T. S. Eliot. Chưa hẳn là hạng nhất.

Ralph Waldo Emerson. Thơ của ông rất tuyệt.

William Faulkner. Không thích ông ta. Nhà văn của những câu chuyện quê mùa. Coi chúng là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Một kẻ vô danh, hoàn toàn không có ý nghĩa với tôi.

Gustave Flaubert. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi.

E. M. Forster. Chỉ đọc một tiểu thuyết của ông ta (có lẽ là A Passage to India?) và không thích.

Sigmund Freud. Một nhân vật đáng cười. Ghét ông ta. Sự lừa dối đáng khinh. Phân tích giấc mơ theo kiểu Freud là thứ nhảm nhí, gian lận và quỷ quyệt.

John Galsworthy. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.

Nikolai Gogol. Không ai xem trọng thứ thần bí giáo điều của ông. Ở ngưỡng thấp nhất, như trong các tác phẩm Ukraine, ông là một nhà văn vô dụng; ở mức cao nhất, ông là vô song và không thể bắt chước.

Maxim Gorky. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.

Nathaniel Hawthorne. Một nhà văn tuyệt vời.

Ernest Hemingway. Nhà văn của những cuốn sách dành cho thiếu niên. Chắc chắn nhỉnh hơn Conrad. Ít nhất còn có giọng điệu riêng. Về mặt tinh thần và cảm xúc, hoàn toàn non nớt. Ghét các tác phẩm của ông về mấy quả chuông, tinh hoàn và đám bò tót.

The Killers. Tuyệt vời, rất nghệ thuật. Đáng ngưỡng mộ.

The Old Man and the Sea. Tuyệt diệu.

A. E. Housman. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.

Ilf và Petrov. Hai nhà văn cực kỳ tài năng. Văn xuôi tuyệt đối hạng nhất.

Henry James. Không ưa ông ta lắm, nhưng đôi khi cách dùng từ của ông gây ra một cảm giác râm ran như điện giật. Chắc chắn không phải một thiên tài.

James Joyce. Tuyệt vời. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa. Hãy cứ so sánh tôi với Joyce, nhưng tiếng Anh của tôi chỉ là trò trẻ con so với ông ấy. Một thiên tài.

Ulysses. Một tác phẩm thần thánh. Kiệt tác vĩ đại nhất của văn xuôi thế kỷ 20. Vượt xa phần còn lại của các tác phẩm của Joyce.

A Portrait of the Artist as a Young Man. Không bao giờ thích nổi. Một tác phẩm yếu kém và dài dòng.

Finnegans Wake. Một thất bại thảm hại và một nỗi chán ghét kinh khủng.

Franz Kafka.

The Metamorphosis. Kiệt tác lớn thứ hai của văn xuôi thế kỷ 20.

John Keats. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa.

Rudyard Kipling. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.

D. H. Lawrence. Hạng hai, phù phiếm, tự cao. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn. Tệ hại.

Thomas Mann. Không thích ông ta. Hạng hai, phù phiếm, tự cao.

Death in Venice. Ngớ ngẩn. Xem nó là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Sự tầm thường. Tầm thường, nhưng dù sao cũng có vẻ hợp lý.

Guy de Maupassant. Chắc chắn không phải một thiên tài.

W. Somerset Maugham. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn. Chắc chắn không phải thiên tài.

Herman Melville. Yêu mến ông. Muốn được quay cảnh ông ăn sáng và cho mèo ăn cá mòi.

Karl Marx. Ghê tởm.

John Milton. Một thiên tài.

Boris Pasternak. Một nhà thơ xuất sắc, nhưng là một tiểu thuyết gia kém cỏi.

Doctor Zhivago. Viết rất tệ. Xem nó là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Sùng Bolshevik, sai lệch về lịch sử. Một tác phẩm đáng buồn, vụng về, tầm thường, kịch tính hoá, với những tình huống sáo mòn và những sự trùng hợp nhàm chán.

Plato. Không đặc biệt yêu thích ông ta.

Edgar Allan Poe. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, nhưng không còn nữa. Muốn được quay phim đám cưới của ông.

Ezra Pound. Chắc chắn là hạng hai. Đích thực là một kẻ mạo danh.

Marcel Proust. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.

In Search of Lost Time. Nửa đầu pho tiểu thuyết là kiệt tác lớn thứ tư của văn xuôi thế kỷ 20.

Alexander Pushkin. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa. Một thiên tài.

Romain Rolland. Một kẻ tầm thường kinh khủng.

J. D. Salinger. Chắc chắn là một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất trong những năm gần đây. “A Perfect Day for Bananafish” là một câu chuyện tuyệt vời.

Jean-Paul Sartre. Còn tệ hơn Camus.

William Shakespeare. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi. Một thiên tài.

Laurence Sterne. Yêu mến ông.

Rabindranath Tagore. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.

Aleksey Tolstoy. Một nhà văn có chút tài năng với hai hoặc ba câu chuyện hoặc tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đáng nhớ.

Leo Tolstoy. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi. Một thiên tài.

Anna Karenina. Nghệ thuật văn xuôi vô song. Kiệt tác tối cao của văn học thế kỷ 19.

The Death of Ivan Ilyich. Gần như đứng ngay sau Anna Karenina.

Resurrection. Căm ghét.

The Kreutzer Sonata. Căm ghét.

War and Peace. Hơi lan man. Một tiểu thuyết lịch sử được viết cho độc giả phổ thông, đặc biệt là giới trẻ. Nghệ thuật không thỏa đáng. Những thông điệp cồng kềnh, những đoạn giáo điều xen kẽ, những sự trùng hợp giả tạo.

Ivan Turgenev. Tài năng, nhưng không phải thiên tài.

John Updike. Chắc chắn là một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất trong những năm gần đây. Thích rất nhiều câu chuyện của ông đến mức khó chọn ra một cái.

Jules Verne.

Around the World in Eighty Days. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, nhưng không còn nữa.

H. G. Wells. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Một nghệ sĩ vĩ đại, nhà văn yêu thích của tôi khi còn nhỏ. Có thể bỏ qua những suy ngẫm xã hội học của ông, nhưng những câu chuyện lãng mạn và giả tưởng thì tuyệt vời. Một nghệ sĩ lớn hơn nhiều so với Conrad. Một nhà văn mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.

The Passionate Friends. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra.

Ann Veronica. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra.

The Time Machine. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra. Đặc biệt xuất sắc.

The Country of the Blind. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra. Đặc biệt xuất sắc.

The Invisible Man. Đặc biệt xuất sắc.

The War of the Worlds. Đặc biệt xuất sắc.

The First Men on the Moon. Đặc biệt xuất sắc.

Oscar Wilde. Nhà đạo đức hạng bét. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.


Thư Chekhov gửi Grigorovitch

Chekhov bắt đầu cộng tác với các tạp chí khôi hài vào quãng 19, 20 tuổi, khi đang theo học năm nhất tại trường y. Ông viết những truyện ngắn mang hơi hướm tiếu lâm, trào lộng, giễu nhại lề thói xã hội đương thời, hoặc, “những truyện vặt vãnh” như ông thường dè bỉu. Tiền công của ông được tính bằng xu, và một truyện tầm tầm đem về độ chục rúp.

Sau khoảng hai, ba năm lang thang gõ cửa hết toà soạn này đến toà soạn khác, bị quỵt thù lao, hay nhuận bút bị gán cho một vé xem kịch hết hạn, v.v. Chekhov được Leykin, bấy giờ là chủ bút của một tạp chí nơi ông thường xuyên góp chữ, cho phép viết những truyện dài hơn và nghiêm túc hơn. Trong khoảng 1880 – 1885, ông đã viết 300 truyện.

Tuy vậy, Chekhov chưa bao giờ xem trọng tài năng của mình. Có lẽ tài năng đó đã bị uổng phí rồi lụi tàn vào sự lãng quên, nếu không nhờ một lá thư từ nhà văn lão thành V. S. Grigorovitch. Trong thư, Grigorovitch dành lời khen cho truyện ngắn “Người thợ săn” của Chekhov, đồng thời vạch ra một vài chi tiết mà cây bút trẻ nên cải thiện. Ông xem trọng tài năng và con người nghệ sĩ ở Chekhov, và khuyên chàng trai trẻ nên viết những tác phẩm nghiêm túc hơn.

Lá thư đã đánh động Chekhov với sức mạnh của “một tia sét”, và tác giả trẻ 26 tuổi đã hồi âm như sau:

Mátxcơva, ngày 28 tháng 3 năm 1886

[Lược một đoạn giáo đầu trong đó Chekhov cảm tạ sự chiếu cố của Grigorovitch]

Nếu tôi có một tài năng đáng được trân trọng, tôi xin thú nhận trước sự chân thành thuần khiết của trái tim ngài rằng cho đến nay tôi chưa từng trân trọng nó. Tôi cảm được là mình có tài, nhưng tôi vẫn quen cho rằng nó thật tầm thường. Những tác nhân bên ngoài đủ để khiến một người đâm ra bất công với chính mình, hoài nghi và nhạy cảm một cách bệnh hoạn. Và giờ đây, khi nhìn lại, tôi nhận ra mình luôn chịu quá nhiều tác nhân như thế. Tất cả bạn bè và người thân của tôi đều luôn giữ thái độ kẻ cả với công việc viết lách của tôi, không ngừng khuyên nhủ một cách thiện chí rằng tôi đừng từ bỏ công việc thực sự để bám đuổi cái trò viết lách làng nhàng. Tôi có hàng trăm người bạn ở Mátxcơva, trong đó có cả chục nhà văn, nhưng tôi không thể nhớ nổi một người nào từng đọc tác phẩm của tôi hay coi tôi là một nghệ sĩ. Ở Mátxcơva có một cái gọi là Vòng Tròn Văn Học: những tài năng và kẻ tầm thường đủ mọi lứa tuổi, sắc tộc tụ họp mỗi tuần một lần trong căn phòng riêng của một nhà hàng để luyện miệng lưỡi. Nếu tôi đến đó và đọc cho họ nghe dù chỉ một đoạn trong thư của ngài, họ sẽ cười vào mặt tôi. Suốt năm năm trời vất vưởng từ tòa soạn báo này đến tòa soạn báo khác, tôi đã kịp thấm nhuần cái nhận định chung về sự tầm thường trong văn chương của mình. Chẳng mấy chốc, tôi đâm coi thường công việc của tôi, và thế là mọi thứ cứ ngày càng tệ hơn. Đó là lý do trước tiên. Thứ nữa tôi còn là một bác sĩ, ngập đầu trong công việc y khoa, đến nỗi câu tục ngữ về việc đuổi theo hai con thỏ đã khiến tôi mất ngủ nhiều hơn bất kỳ ai.

Tôi viết những dòng này để mong ngài thứ tha đôi chút cho lầm lỗi nghiêm trọng của mình. Cho đến nay, thái độ của tôi với công việc văn chương vẫn luôn hời hợt, bất cẩn, tùy tiện. Tôi không nhớ nổi một câu chuyện nào mà tôi dành quá hai mươi tư giờ để viết, và “Người Thợ Săn”, tác phẩm ngài yêu thích, tôi đã viết trong nhà tắm! Tôi viết truyện như cách các phóng viên đưa tin về những vụ cháy: một cách máy móc, phân nửa là vô thức, chẳng màng đến độc giả hay chính bản thân mình… Tôi viết và cố hết sức để không phí hoài vào truyện những phân đoạn và hình ảnh thân thương với tôi, những thứ – Chúa biết vì sao – tôi luôn trân quý và cẩn thận giữ gìn.

Cú hích đầu tiên khiến tôi tự phê bình đến từ một lá thư rất tử tế và, như tôi tin, chân thành của Suvorin. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc viết một thứ gì đó tử tế, nhưng tôi vẫn không tin mình có thể là một nhà văn giỏi. Và rồi, thật bất ngờ và không thể tưởng tượng nổi, lá thư của ngài đến. Xin rộng lượng với phép so sánh này: nó tác động lên tôi như pháp lệnh của quan tổng trấn, buộc tôi phải rời khỏi thành phố trong vòng hai mươi tư giờ – nói cách khác, tôi đột nhiên cảm thấy một nhu cầu cấp bách phải vội vã, phải khẩn trương thoát khỏi nơi tôi đã mắc kẹt…

Tôi đồng ý với ngài về mọi điều. Khi nhìn thấy “Phù Thủy” được đem in, tôi nhận ra sự cay độc ở những điểm mà ngài đã chỉ ra. Chúng sẽ không ở đó nếu tôi dành ba hay bốn ngày để viết câu chuyện đó, thay vì chỉ một ngày.

Tôi sẽ chấm dứt việc viết trong vội vã, nhưng chưa thể làm ngay lúc này… Thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn mà tôi đã sa vào là điều bất khả. Tôi không ngại việc đói khát, như tôi đã từng trải qua, nhưng vấn đề không chỉ nằm ở bản thân tôi… Tôi dành cho văn chương thời gian rảnh rỗi của mình, hai hoặc ba giờ mỗi ngày và một chút vào ban đêm, tức là khoảng thời gian chỉ đủ cho những thứ ngắn ngủi. Vào mùa hè, khi tôi có nhiều thời gian hơn và ít tốn kém hơn, tôi sẽ bắt tay vào viết một tác phẩm nghiêm túc.

Tôi không thể đặt tên thật lên cuốn sách vì đã quá muộn: bìa sách đã được thiết kế và sách đã in ra. [Ý nói đến tập truyện ngắn “Những câu chuyện đa sắc”]. Nhiều bạn bè ở Petersburg, thậm chí trước cả ngài, đã khuyên tôi đừng làm hỏng cuốn sách bằng một bút danh, nhưng tôi không nghe, có lẽ vì sự kiêu ngạo. Tôi rất không thích cuốn sách của mình. Nó là một mớ hổ lốn, một tập hợp lộn xộn của những thứ vụn vặt tôi viết từ thời sinh viên, bị kiểm duyệt và các biên tập viên của những tờ báo khôi hài cắt xén. Tôi chắc rằng nhiều người sẽ thất vọng khi đọc nó. Nếu tôi biết mình có độc giả và ngài đang dõi theo tôi, tôi đã không xuất bản cuốn sách này.

Mọi hy vọng của tôi đặt vào tương lai. Tôi mới hai mươi sáu tuổi. Có lẽ tôi sẽ làm được điều gì đó, dù thời gian trôi qua rất nhanh.

Xin tha thứ cho lá thư dài dòng này và đừng trách một người, lần đầu tiên trong đời, dám tự thưởng cho mình niềm vui được viết thư cho Grigorovitch.

Nếu có thể, xin gửi cho tôi một bức ảnh của ngài. Tôi tràn ngập trong lòng tốt của ngài đến mức cảm thấy như muốn viết cả một ram giấy cho ngài. Cầu Chúa ban cho ngài sức khỏe và hạnh phúc, và xin hãy tin vào sự chân thành của người kính trọng và biết ơn sâu sắc của ngài.

A. CHEKHOV


“Nói lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi hạnh phúc nhất thật là ảo tưởng, ảo tưởng của những ai đã hết thời son trẻ. Nhưng thanh niên thì biết rằng họ bất hạnh vì tâm hồn họ đã thấm nhiễm biết bao lý tưởng không thực tế rồi khi va chạm với thực tế, mình mẩy họ mới tím bầm đầy thương tích. Dường như họ là nạn nhân của một âm mưu, bởi vì sách vở mà họ đọc được lý tưởng hoá do nhu cầu tuyển chọn, và những câu chuyện của cha anh nhìn lại quá khứ đã bị lãng quên, qua một lớp sương mù màu hồng, đã chuẩn bị cho họ bước vào cuộc đời không thực tế. Họ phải tự mình khám phá rằng tất cả những điều họ đã học, tất cả những điều người ta kể cho họ nghe đều là dối trá và dối trá; và mỗi sự phát hiện chẳng khác gì lại thêm một mũi đinh nữa ghim vào thân thể trên cây thập tự cuộc đời. Có điều lạ lùng là mỗi một người đã trải qua sự vỡ mộng cay đắng đó, bằng một thứ nội lực còn mạnh mẽ hơn, chính anh ta lại đến lượt mình góp phần vào đó mà không hề hay biết.”

(Kiếp người, W. S. Maugham, Hoàng Tuý & Nguyễn Xuân Phương dịch)


Khi Stendhal qua đời, chỉ có hai tờ báo Paris quan tâm đưa tin về sự việc, và chỉ có ba người, tính cả Prosper Mérimée, đến dự tang lễ của ông. Tưởng chừng ông sẽ hoàn toàn bị lãng quên; và quả thực, ông hẳn đã bị lãng quên nếu không nhờ sự tận tuỵ của hai người bạn đã thuyết phục được một nhà xuất bản lớn chịu phát hành một số ấn bản các tác phẩm chính của ông. Tuy nhiên, công chúng đại thể vẫn tỏ ra thờ ơ với chúng.

Về phía mình, Stendhal chưa bao giờ nghĩ rằng các tác phẩm của mình sẽ sống sót, nhưng ông quả đã chuẩn bị chờ đến năm 1880, hoặc thậm chí đến năm 1900, để giành được sự công nhận xứng đáng. Nhiều tác giả đã tự an ủi mình bằng cách tin rằng hậu thế sẽ công nhận công lao của họ, nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Trong trường hợp của Stendhal, ông đã gặp may mắn. Một giáo sư vô danh tại École Normale đã nhiệt tình ca ngợi những tác phẩm của ông, và tình cờ thay, trong số các sinh viên có một chàng thanh niên trẻ sau này sẽ trở nên nổi danh.

Những sinh viên tìm đọc Stendhal, và họ tìm thấy điều gì đó phù hợp với bầu không khí dư luận thịnh hành đương thời ở giới trẻ. Họ trở thành những người hâm mộ cuồng nhiệt. Người tài giỏi nhất trong những chàng trai trẻ này là Hippotyle Taine, và nhiều năm sau, khi đã trở thành một nhà văn nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng, ông đã viết một bài luận dài, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến thủ pháp phân tích tâm lý của Stendhal. Tác phẩm này mở đường cho một loạt những bài viết về Stendhal, và bây giờ người ta thường đồng tình rằng ông là một trong ba tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mà nước Pháp từng sản sinh ra vào thế kỷ XIX. [Trong trường hợp bạn muốn biết hai tác giả còn lại là ai: Flaubert và Balzac.]


Ngày 8 tháng Mười năm 2025,

Cảm ơn bạn đã yêu cầu! Dưới đây là bản dịch sang tiếng Việt của toàn bộ bài tiểu luận “How Should One Read a Book?” của Virginia Woolf mà bạn đã cung cấp. Tôi cố gắng dịch sát nghĩa, giữ được giọng văn trữ tình, sâu sắc và phong cách độc đáo của Woolf, đồng thời đảm bảo ngôn ngữ tự nhiên, dễ hiểu cho người đọc tiếng Việt. Vì bài viết khá dài, tôi sẽ dịch theo từng đoạn để bạn dễ theo dõi, đồng thời giữ cấu trúc giống nguyên bản để phản ánh đúng tinh thần của tác phẩm.


Làm thế nào để đọc một cuốn sách?

(Virginia Woolf)

Vào thời điểm muộn màng này trong lịch sử thế giới, sách xuất hiện ở hầu hết mọi căn phòng trong ngôi nhà – trong phòng trẻ, phòng khách, phòng ăn, thậm chí cả nhà bếp. Nhưng ở một số ngôi nhà, sách đã trở thành một quân đoàn đông đảo đến mức chúng cần được chừa riêng một không gian – một thư phòng, một thư viện, hay một phòng làm việc. Hãy tưởng tượng rằng chúng ta đang ở trong một căn phòng như thế; một căn phòng ngập nắng, với những khung cửa sổ mở ra khu vườn, nơi ta có thể nghe tiếng cây cối xào xạc, tiếng người làm vườn trò chuyện, tiếng lừa kêu, những bà cụ tán chuyện bên giếng nước – và tất cả những hoạt động thường nhật của cuộc sống diễn ra theo cách ngẫu nhiên, ngắt quãng, như chúng đã diễn ra qua hàng trăm năm. Cũng ngẫu nhiên và bền bỉ như thế, sách đã tụ họp trên những kệ sách. Tiểu thuyết, thơ ca, chính sử, hồi ký, từ điển, bản đồ, danh bạ; sách in chữ đen cổ xưa và sách mới tinh; sách bằng tiếng Pháp, tiếng Hy Lạp, tiếng Latin; đủ mọi hình dạng, kích cỡ và giá trị, được mua để nghiên cứu, để giải trí trên một chuyến tàu, được mua bởi những con người khác nhau, với tính khí khác nhau, nghiêm túc hay phù phiếm, người hành động và người viết lách.

Giờ đây, khi bước vào một căn phòng như thế này, ta có thể tự hỏi: Làm thế nào để tôi đọc những cuốn sách này? Cách đúng đắn để bắt đầu là gì? Chúng quá nhiều và quá đa dạng. Khẩu vị của tôi thì thất thường, tùy hứng. Tôi phải làm gì để thu được niềm vui lớn nhất từ chúng? Và liệu đó có phải là niềm vui, hay lợi ích, hay điều gì khác mà tôi nên tìm kiếm? Tôi sẽ trình bày trước bạn một vài suy nghĩ nảy ra trong tôi khi đối diện với một dịp như thế này. Nhưng bạn sẽ nhận ra dấu chấm hỏi ở cuối tiêu đề của tôi. Ta có thể suy nghĩ về việc đọc bao nhiêu tùy thích, nhưng không ai sẽ đặt ra luật lệ cho nó. Ở đây, trong căn phòng này, nếu không phải ở bất kỳ nơi nào khác, ta được hít thở bầu không khí của tự do. Ở đây, người bình dân và người học thức, đàn ông và phụ nữ đều như nhau. Vì dù việc đọc dường như đơn giản – chỉ cần biết bảng chữ cái – nó thực sự khó khăn đến mức khó mà tin rằng có ai đó thực sự hiểu rõ về nó. Paris là thủ đô của Pháp; Vua John đã ký bản Magna Charta; đó là những sự thật; những thứ đó có thể được dạy. Nhưng làm sao để dạy ai đó đọc “Thiên đường đã mất” để thấy rằng đó là một bài thơ vĩ đại, hay “Tess của nhà D’Urbervilles” để nhận ra đó là một tiểu thuyết xuất sắc? Làm sao để chúng ta tự học nghệ thuật đọc sách? Không cố gắng đặt ra luật lệ cho một chủ đề chưa được hệ thống hóa, tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý, hy vọng sẽ giúp bạn thấy cách không nên đọc, hoặc khơi gợi bạn nghĩ ra những phương pháp tốt hơn của riêng mình.

Ngay khi bắt đầu tự hỏi làm thế nào để đọc một cuốn sách, ta đối diện với thực tế rằng sách rất khác nhau; trên kệ sách kia có thơ, tiểu thuyết, tiểu sử; mỗi loại khác biệt như một con hổ khác với một con rùa, một con rùa lại khác một con voi. Thái độ của chúng ta phải luôn thay đổi, điều đó rõ ràng. Từ những cuốn sách khác nhau, ta phải đòi hỏi những phẩm chất khác nhau. Dù nghe có vẻ đơn giản, người ta luôn hành xử như thể mọi cuốn sách đều thuộc cùng một loài – như thể chỉ có rùa hoặc chỉ có hổ. Họ nổi giận khi một tiểu thuyết gia để Nữ hoàng Victoria lên ngôi sớm hơn sáu tháng so với lịch sử; họ sẽ hào hứng khen ngợi một nhà thơ vì dạy họ rằng hoa violet có bốn cánh và hoa cúc hầu như luôn có mười cánh. Bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và cảm xúc – thứ đáng giữ lại cho những mục đích cao cả hơn – nếu bạn cố gắng xác định trước khi đọc những phẩm chất bạn mong đợi từ một tiểu thuyết gia, một nhà thơ, hay một nhà viết tiểu sử. Con rùa thì trơn láng và bóng nhẫy; con hổ có bộ lông vàng dày. Sách cũng vậy: một cuốn có “lông”, cuốn khác thì “trọc”.

Đúng vậy; nhưng dù sao thì vấn đề không đơn giản trong một thư viện như ở sở thú. Sách có rất nhiều điểm chung; chúng luôn vượt ra khỏi ranh giới của mình; chúng luôn sinh ra những loài mới từ những sự kết hợp bất ngờ giữa chúng. Thật khó để biết cách tiếp cận chúng, mỗi cuốn thuộc về loài nào. Nhưng nếu ta nhớ, khi bước tới giá sách, rằng mỗi cuốn sách này được viết bởi một cây bút, có ý thức hay vô thức, cố gắng vẽ nên một thiết kế, tránh cái này, chấp nhận cái kia, mạo hiểm với điều khác; nếu ta cố gắng theo dõi nhà văn trong cuộc thử nghiệm của anh ta từ từ đầu tiên đến từ cuối cùng, mà không áp đặt thiết kế của ta lên anh ta, thì ta sẽ có cơ hội tốt để nắm được đầu đúng của sợi dây.

Để đọc một cuốn sách hay, ta nên đọc nó như thể ta đang viết nó. Đừng bắt đầu bằng cách ngồi trên ghế của quan tòa, mà hãy đứng trong vành móng ngựa cùng kẻ tội phạm. Hãy là đồng sự của anh ta, hãy trở thành đồng phạm của anh ta. Thậm chí, nếu bạn chỉ muốn đọc sách, hãy bắt đầu bằng cách viết chúng. Vì điều này chắc chắn đúng – không ai có thể viết một câu chuyện nhỏ nhất, cố gắng miêu tả sự kiện đơn giản nhất – đơn cử như gặp một người ăn xin trên phố – mà không gặp những khó khăn mà ngay cả những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất cũng phải đối mặt. Để chúng ta có thể nhận ra, dù ngắn gọn và thô sơ, những phân loại chính của các tiểu thuyết gia, hãy tưởng tượng cách mà Defoe, Jane Austen, và Thomas Hardy sẽ miêu tả cùng một sự kiện – cuộc gặp gỡ với một người ăn xin trên phố. Defoe là bậc thầy về kể chuyện. Nỗ lực chính của ông sẽ là đưa câu chuyện của người ăn xin vào một trật tự và sự đơn giản hoàn hảo. Chuyện này xảy ra trước, chuyện kia tiếp theo, chuyện khác nữa tiếp theo sau. Ông sẽ không đưa vào bất cứ điều gì, dù hấp dẫn, làm mệt mỏi người đọc một cách không cần thiết, hoặc làm xao lãng sự chú ý khỏi điều ông muốn người đọc biết. Ông cũng sẽ khiến chúng ta tin, bởi ông là bậc thầy không phải vì chất lãng mạn hay hài kịch, mà là bậc thầy kể chuyện, rằng mọi thứ xảy ra đều là sự thật. Vì thế, ông sẽ cực kỳ chính xác. Chuyện này xảy ra, như ông kể trong những trang đầu của “Robinson Crusoe,” vào ngày mùng một tháng Chín. Tinh tế và khéo léo hơn, ông sẽ thôi miên ta vào trạng thái tin tưởng bằng cách vô tình thả rơi một chi tiết nhỏ không cần thiết – ví dụ, “cha tôi gọi tôi vào phòng ông, nơi ông đang nằm vì bệnh gút.” Bệnh gút của cha ông không cần thiết cho câu chuyện, nhưng cần thiết cho sự thật của câu chuyện, vì đó là cách mà bất kỳ ai nói sự thật sẽ thêm vào một chi tiết nhỏ không liên quan mà không suy nghĩ. Hơn nữa, ông sẽ chọn một loại câu văn trôi chảy nhưng không quá nhồi nhét, chính xác nhưng không quá sắc sảo. Mục tiêu của ông là trình bày sự vật như nó vốn có mà không bị bóp méo bởi góc nhìn của ông. Ông sẽ đối mặt với chủ thể, thẳng thắn, vuông vức, không một khoảnh khắc nào ngó nghiêng để chỉ ra rằng điều này bi thảm, hay điều kia đẹp đẽ; và mục tiêu của ông được thực hiện hoàn hảo.

Nhưng chúng ta đừng nhầm lẫn mục tiêu của ông với mục tiêu của Jane Austen. Nếu gặp một người ăn xin, chắc chắn bà ấy sẽ quan tâm đến câu chuyện của người đó. Nhưng bà sẽ ngay lập tức nhận ra rằng, vì mục đích nghệ thuật của mình, toàn bộ sự kiện phải được chuyển hóa. Đường phố, không khí tự do và những cuộc phiêu lưu chẳng có ý nghĩa gì với bà, về mặt nghệ thuật. Tính cách con người mới là điều bà quan tâm. Bà sẽ lập tức biến người ăn xin thành một người đàn ông trung niên thuộc tầng lớp trung lưu, ngồi thoải mái bên lò sưởi. Thay vì lao vào câu chuyện một cách mạnh mẽ và chân thực, bà sẽ viết vài đoạn giới thiệu chính xác và được nêm nếm khéo léo, tóm tắt hoàn cảnh và phác thảo tính cách của người đàn ông mà bà muốn giới thiệu.

(…) Trước tiên, một người đọc sáng suốt sẽ cho nhà văn mọi cơ hội để chứng minh bản thân.

Giờ hãy để Thomas Hardy chọn cùng chủ đề – một người ăn xin gặp trên phố – và ngay lập tức hai thay đổi lớn sẽ hiện rõ. Con phố sẽ biến thành một cánh đồng hoang rộng lớn và ảm đạm; người đàn ông hay phụ nữ sẽ mang dáng vẻ to lớn và mờ mờ của một bức tượng. Hơn nữa, mối quan hệ của con người này không phải với những người khác, mà với cánh đồng hoang, với con người như nhà lập pháp, với những thế lực chi phối số phận của con người. Một lần nữa, góc nhìn của chúng ta sẽ hoàn toàn thay đổi. Tất cả những phẩm chất đáng ngưỡng mộ trong “Robinson Crusoe,” đáng ngưỡng mộ trong “Emma,” sẽ bị bỏ qua hoặc vắng bóng. Lời kể trực tiếp, thẳng thắn của Defoe biến mất. Không có sự rõ ràng, chính xác rực rỡ của Jane Austen. Thật vậy, nếu ta chuyển từ một trong hai nhà văn vĩ đại này sang Hardy, ta sẽ kêu lên rằng ông ấy “kịch tính” hoặc “phi thực” so với họ. Nhưng ta nên nhớ rằng tâm hồn con người có ít nhất hai mặt: mặt sáng và mặt tối. Trong đám đông, mặt sáng của tâm trí được bộc lộ; trong cô độc, mặt tối hiện ra. Cả hai mặt đều thực, đều quan trọng như nhau. Nhưng một tiểu thuyết gia sẽ luôn có xu hướng bộc lộ một mặt hơn mặt kia; và Hardy, một tiểu thuyết gia của mặt tối, sẽ sắp xếp sao cho không có ánh sáng rõ ràng, ổn định nào chiếu lên khuôn mặt nhân vật của ông, để họ không bị quan sát kỹ lưỡng trong phòng khách, để họ tiếp xúc với đồng hoang, cừu, bầu trời và các vì sao, và trong sự cô độc, họ trực tiếp nằm dưới sự chi phối của các vị thần. Nếu các nhân vật của Jane Austen chân thực là thế trong phòng khách, họ không hề tồn tại khi ở trên đỉnh Stonehenge. Yếu đuối và vụng về trong phòng khách, các nhân vật của Hardy lại to lớn và mạnh mẽ ngoài trời. Để đạt được mục đích của mình, Hardy không thẳng thắn, vuông vức như Defoe, cũng không khéo léo, sắc sảo như Jane Austen. Ông cồng kềnh, lắt léo, ẩn dụ. Nơi Jane Austen mô tả phong thái, ông mô tả thiên nhiên. Nơi bà tỏ ra thực tế, ông lại lãng mạn và thơ mộng. Vì cả hai đều là những nghệ sĩ vĩ đại, mỗi người đều cẩn thận tuân theo quy luật của góc nhìn riêng, và sẽ không khiến ta rối trí (như nhiều nhà văn tầm thường khác) bằng cách đưa hai loại thực tại khác nhau vào cùng một cuốn sách.

Tuy nhiên, thật khó để không mong họ bớt nghiêm ngặt hơn. Người ta thường phàn nàn rằng Jane Austen quá khô khan, Thomas Hardy quá kịch tính. Và ta phải nhắc nhở mình rằng cần tiếp cận mỗi nhà văn một cách khác nhau để nhận được tất cả những gì họ có thể cho ta. Ta phải nhớ rằng một trong những phẩm chất của sự vĩ đại là khả năng đưa trời và đất và bản chất con người hòa hợp với tầm nhìn của họ. Chính nhờ sự thành thạo này, sự độc đáo không khoan nhượng này, mà các nhà văn vĩ đại thường yêu cầu ta nỗ lực phi thường để đọc họ một cách đúng đắn. Họ uốn cong và bẻ gãy ta. Chuyển từ Jane Austen sang Hardy, từ Peacock sang Trollope, từ Scott sang Meredith, từ Richardson sang Kipling, là bị kéo giật và biến dạng, bị ném từ bên này sang bên kia. Hơn nữa, mỗi người sinh ra đã có một thiên hướng tự nhiên theo một hướng nhất định. Theo bản năng họ chấp nhận góc nhìn của Hardy hơn là của Jane Austen, và khi đọc thuận theo tự nhiên, không chống lại nó, họ dễ dàng và nhanh chóng được đưa đến trung tâm thiên tài của tác giả. Nhưng rồi Jane Austen lại trở nên xa lạ với họ. Họ khó lòng lê bước qua sa mạc của các tiểu thuyết của bà.

Đôi khi sự đối kháng tự nhiên này quá lớn để vượt qua, nhưng thử nghiệm luôn đáng giá. Vì những cuốn sách khó khăn và khó tiếp cận này, với tất cả sự khắc nghiệt ban đầu, thường mang lại những trái ngọt nhất vào sau chót, và trí óc con người kỳ diệu đến mức, trong khi một số lĩnh vực văn học khiến ta chán ghét ở một thời điểm, chúng lại trở nên hấp dẫn và cần thiết ở thời điểm khác.

Vậy, nếu điều này đúng – rằng sách thuộc những loại rất khác nhau, và để đọc chúng đúng cách, ta phải uốn cong trí tưởng tượng của mình, lúc này theo cách này, lúc khác theo cách khác – thì rõ ràng việc đọc là một trong những công việc gian nan và mệt mỏi nhất. Thường thì các trang sách trôi qua trước mắt ta, và ta dường như, vì sự hứng thú mãnh liệt, đang sống chứ không chỉ cầm cuốn sách trên tay. Nhưng cuốn sách càng hấp dẫn, ta càng dễ rơi vào nguy cơ đọc quá mức. Những triệu chứng thì quen thuộc. Đột nhiên cuốn sách trở nên nhạt nhẽo như nước ao và nặng như chì. Ta ngáp và duỗi người, không tài nào tập trung nổi. Những đoạn cao trào của Shakespeare và Milton trở nên không thể chịu nổi. Và ta tự hỏi – liệu Keats là kẻ ngốc hay chính ta là kẻ ngốc? – một câu hỏi đau đớn, một câu hỏi mà lẽ ra không cần đặt ra nếu ta nhận ra vai trò quan trọng của nghệ thuật không đọc trong nghệ thuật đọc. Biết cách đọc sách mà không thực sự đọc chúng, lướt qua và tản bộ, trì hoãn việc phán xét, đủnh đỉnh và đi dạo qua những con hẻm và ngõ nhỏ của văn chương là cách tốt nhất để tái tạo sức sáng tạo của chính mình. Tất cả các tiểu sử và hồi ký, tất cả những cuốn sách lai tạp đầy rẫy sự thật, đều giúp khôi phục khả năng đọc những cuốn sách thực sự – tức là những tác phẩm của trí tưởng tượng thuần túy. Chúng cũng mang lại kiến thức và nâng cao trí tuệ, điều này đúng và quan trọng, nhưng nếu ta đang xem xét cách đọc sách để tìm niềm vui, chứ không phải để chuẩn bị lương hưu cho người góa bụa, thì phẩm chất khác này của chúng còn quý giá và quan trọng hơn. Nhưng ở đây, ta cần biết mình đang tìm kiếm điều gì. Ta tìm kiếm sự nghỉ ngơi, niềm vui, sự kỳ lạ, và một chút kích thích cho sức sáng tạo đã mỏi mệt của mình. Ta rời khỏi toà tháp trơ trụi và góc cạnh của mình, tản bộ trên phố, nhìn qua những khung cửa sổ đang mở.

Những khung cửa sổ của các ngôi nhà đang mở; rèm được vén lên. Ta có thể thấy cả gia đình mà họ không hề biết mình đang bị quan sát. Ta thấy họ ngồi quanh bàn ăn, chuyện trò, đọc sách, bày trò chơi. Đôi khi họ dường như đang cãi nhau – nhưng về chuyện gì nhỉ? Hoặc họ đang cười -nhưng cười vì lẽ gì? Ở tầng hầm, người đầu bếp đang đọc to một tờ báo, trong khi cô hầu gái nướng một mẩu bánh mì; bà hầu bếp bước vào và họ bắt đầu nói chuyện cùng mộ – nhưng họ nói gì? Ở tầng trên, một cô gái đang sửa soạn đi dự tiệc. Nhưng cô ấy đi đâu? Có một bà lão ngồi bên cửa sổ phòng ngủ, tay cầm một món đồ len và một con vẹt xanh biếc trong lồng bên cạnh. Và bà ấy đang nghĩ gì? Tất cả cuộc sống này bằng cách nào đó đã tụ lại; có một lý do cho nó; một sự mạch lạc trong đó, nếu ta có thể nắm bắt được. Nhà viết tiểu sử trả lời những câu hỏi vô số mà ta đặt ra khi đứng ngoài vỉa hè, nhìn qua khung cửa sổ đang mở. Thật vậy, không có gì thú vị hơn việc len lỏi giữa những kho tàng sự thật rộng lớn này, để tạo nên cuộc đời của những người đàn ông và phụ nữ, để dựng lên những tâm trí và gia đình phức tạp từ sự phong phú và hỗn độn của những vật liệu nằm rải rác. Một chiếc đê may, một hộp sọ, một chiếc kéo, một tập sonnet, được trao cho ta, và ta phải sáng tạo, kết hợp, đặt những thứ không ăn khớp này lại với nhau. Có một phẩm chất trong sự thật, một cảm xúc đến từ việc biết rằng những người đàn ông và phụ nữ thực sự đã làm và chịu đựng những điều này, mà chỉ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mới có thể vượt qua. Thuyền trưởng Scott, chết đói và chết cóng trong tuyết, tác động đến ta sâu sắc như bất kỳ câu chuyện phiêu lưu nào của Conrad hay Defoe; nhưng nó tác động đến ta theo cách khác. Tiểu sử khác với tiểu thuyết. Yêu cầu một nhà viết tiểu sử mang lại niềm vui giống như một tiểu thuyết gia là lạm dụng và đọc sai họ. Ngay khi ông ấy nói “John Jones sinh vào lúc năm giờ ba mươi sáng ngày 13 tháng Tám năm 1862,” ông ấy đã cam kết, đã tập trung ống kính vào sự thật, và nếu ông ấy bắt đầu thêm thắt lãng mạn, góc nhìn trở nên mờ nhòe, ta trở nên nghi ngờ, và niềm tin vào sự chính trực của ông ấy với tư cách là một nhà văn bị phá hủy. Cũng vậy, sự thật phá hủy hư cấu. Nếu Thackeray, ví dụ, trích dẫn một bài báo thực tế về trận Waterloo trong “Hội chợ phù hoa,” toàn bộ cấu trúc câu chuyện của ông sẽ sụp đổ, như một viên đá phá vỡ một bong bóng.

Nhưng không thể phủ nhận rằng những cuốn sách lai tạp này, những kho tàng sự thật, đóng vai trò lớn trong việc nghỉ ngơi cho trí óc và khôi phục niềm hứng khởi của trí tưởng tượng. Việc xây dựng một cuộc đời từ những hộp sọ, đê may, kéo, và sonnet kích thích sự quan tâm của ta đến sáng tạo và khơi dậy mong muốn thấy công việc được thực hiện một cách đẹp đẽ và mạnh mẽ bởi một Flaubert hay Tolstoi. Hơn nữa, dù sự thật có thú vị đến đâu, chúng là một hình thức hư cấu thấp hơn, và dần dần ta trở nên thiếu kiên nhẫn với sự yếu kém và rời rạc của chúng, với những thỏa hiệp và né tránh, với những câu văn cẩu thả mà chúng tự tạo ra, và ta khao khát làm mới mình với sự mãnh liệt và chân thật hơn của hư cấu.

Cần phải có một nguồn năng lượng tưởng tượng dồi dào để chinh phục những đỉnh cao của thơ ca. Ở đây không có những lời giới thiệu dần dần, không có sự tương đồng với thế giới quen thuộc của đời sống hàng ngày mà tiểu thuyết gia dùng để lôi kéo ta vào thế giới tưởng tượng của họ. Tất cả đều mãnh liệt, đối lập, không liên quan. Nhưng nhiều nguyên nhân khác nhau, như những cuốn sách dở, sự lo lắng của việc sống hiệu quả, những cú sốc mạnh mẽ nhưng ngắt quãng từ vẻ đẹp, và những xung động không thể tính toán của tâm trí và cơ thể ta, thường đặt ta vào trạng thái mà thơ ca trở thành một nhu cầu. Hình ảnh một bông hoa nghệ trong vườn đột nhiên gợi lên tất cả những ngày xuân từng có. Khi đó, ta khao khát cái chung, không phải cái riêng; cái toàn thể, không phải chi tiết; để lật lên mặt tối của tâm trí; để tiếp xúc với sự tĩnh lặng, cô độc, và tất cả mọi người chứ không phải Richard này hay Anne kia. Ẩn dụ khi đó trở nên biểu cảm hơn những câu nói thẳng.

Vì thế, để đọc thơ đúng cách, ta phải ở trong một trạng thái tâm trí táo bạo, cực đoan, hào phóng, nơi nhiều chỗ dựa và tiện nghi của văn học bị bỏ lại. Sức mạnh giả tưởng của nó, khả năng đại diện của nó, bị gạt bỏ để ủng hộ những cực đoan và xa hoa của nó. Sự đại diện thường rất xa vời so với điều được đại diện, đến mức ta phải dùng toàn bộ năng lượng trí tuệ để nắm bắt mối quan hệ giữa, ví dụ, tiếng hót của một con chim sơn ca và hình ảnh cùng ý tưởng mà tiếng hót đó gợi lên trong tâm trí. Đọc thơ thường giống như một trạng thái ngây ngất, nơi vần điệu, nhịp điệu và âm thanh khuấy động tâm trí như rượu và điệu nhảy khuấy động cơ thể, và ta đọc tiếp, hiểu bằng các giác quan, không phải bằng trí tuệ, trong một trạng thái say sưa. Tuy nhiên, tất cả sự ngây ngất và mãnh liệt của niềm vui này phụ thuộc vào sự chính xác và chân thật của hình ảnh, vào việc nó là bản sao của thực tại bên trong. Dù một số hình ảnh của Shakespeare có vẻ xa vời, một số của Keats có vẻ viển vông, tại khoảnh khắc đọc, chúng dường như là đỉnh cao và kết tinh của tư tưởng; là biểu đạt cuối cùng của nó. Nhưng việc phân tích vấn đề này một cách lạnh lùng là vô ích. Bất kỳ ai từng đọc một bài thơ với niềm vui sẽ nhớ đến sự thuyết phục bất ngờ, sự gợi nhắc đột ngột (vì đôi khi dường như ta sắp nói, hoặc đã nói trong một kiếp trước, điều mà Shakespeare đang nói), kèm theo việc đọc thơ, mang lại sự phấn khích và mãnh liệt cho nó. Nhưng việc đọc như thế, dù có ý thức hay không, đòi hỏi sự căng thẳng và tỉnh táo cao độ của các năng lực, của lý trí không kém gì trí tưởng tượng. Ta luôn kiểm chứng những tuyên bố của nhà thơ, thực hiện một so sánh nhanh chóng, trong khả năng của mình, giữa vẻ đẹp mà nhà thơ tạo ra bên ngoài và vẻ đẹp mà ta nhận thức được bên trong. Vì ngay cả người khiêm tốn nhất trong chúng ta cũng được ban tặng khả năng so sánh. Người đơn giản nhất (miễn là họ yêu thích việc đọc) đã có sẵn trong mình thứ mà họ khiến những gì được trao – bởi nhà thơ hay tiểu thuyết gia – tương ứng.

Với lời nói đó, con mèo đã ra khỏi túi. Vì sự thừa nhận rằng ta có thể so sánh, phân biệt, đưa ta đến một điểm khác. Đọc không chỉ là đồng cảm và hiểu biết; nó còn là phê phán và đánh giá. Cho đến nay, nỗ lực của chúng ta là đọc sách như cách một nhà văn viết chúng. Ta đã cố gắng hiểu, trân trọng, diễn giải, đồng cảm. Nhưng giờ đây, khi cuốn sách đã xong, người đọc phải rời khỏi vành móng ngựa và bước lên ghế quan tòa. Họ phải ngừng làm bạn; họ phải trở thành thẩm phán. Và đây không chỉ là một cách nói. Tâm trí dường như (“dường như”, vì mọi thứ diễn ra trong tâm trí đều mơ hồ) trải qua hai quá trình khi đọc. Một quá trình có thể gọi là đọc thực sự; quá trình kia là sau khi đọc. Trong quá trình đọc thực sự, khi ta cầm cuốn sách trên tay, có vô số sự phân tâm và gián đoạn. Những ấn tượng mới luôn hoàn thiện hoặc xóa bỏ những cái cũ. Phán xét của ta bị treo lơ lửng, vì ta không biết điều gì sẽ đến tiếp theo. Ngạc nhiên, ngưỡng mộ, chán nản, hứng thú, nối tiếp nhau nhanh chóng đến mức khi cuối cùng đến cuối sách, ta thường ở trong trạng thái hoàn toàn bối rối. Nó tốt hay dở? Đây là loại sách gì? Nó tốt đến mức nào? Sự ma sát của việc đọc và cảm xúc của việc đọc tạo ra quá nhiều bụi để ta tìm được câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này. Nếu được hỏi ý kiến, ta không thể đưa ra. Một số phần của cuốn sách dường như chìm đi, những phần khác lại nổi bật quá mức. Khi đó, có lẽ tốt hơn là chuyển sang một hoạt động khác – đi bộ, trò chuyện, đào đất, nghe nhạc. Cuốn sách mà ta đã dành bao thời gian và suy nghĩ biến mất hoàn toàn khỏi tầm nhìn. Nhưng đột nhiên, khi ta đang nhặt một con ốc sên từ một bông hồng, buộc dây giày, làm một việc gì đó xa xôi và khác biệt, cả cuốn sách nổi lên trên bề mặt tâm trí, hoàn chỉnh. Một quá trình nào đó dường như đã hoàn tất mà ta không nhận ra. Những chi tiết khác nhau tích lũy trong khi đọc tự sắp xếp vào vị trí của chúng. Cuốn sách mang một hình dạng xác định; nó trở thành một lâu đài, một chuồng bò, một tàn tích kiểu Gothic, tùy trường hợp. Giờ đây ta có thể nghĩ về cuốn sách như một tổng thể, và cuốn sách như một tổng thể khác biệt, mang lại một cảm xúc khác, so với cuốn sách được tiếp nhận từng phần riêng lẻ. Tính đối xứng và cân đối của nó, sự hỗn loạn và méo mó của nó có thể gây ra niềm vui lớn hoặc sự chán ghét lớn, ngoài niềm vui từ từng chi tiết khi được nhận ra riêng lẻ. Giữ hình dạng hoàn chỉnh này trong tâm trí, giờ đây cần phải đưa ra một ý kiến về giá trị của cuốn sách, vì dù có thể nhận được niềm vui và hứng thú lớn nhất từ quá trình đầu tiên, việc đọc thực sự, dù điều này vô cùng quan trọng, nó không sâu sắc hay bền vững bằng niềm vui mà ta nhận được khi quá trình thứ hai – sau khi đọc – hoàn tất, và ta giữ cuốn sách rõ ràng, chắc chắn, và (trong khả năng của mình) hoàn chỉnh trong tâm trí.

Nhưng, ta có thể hỏi, làm sao để quyết định những câu hỏi này – nó tốt hay dở? Tốt đến mức nào, dở đến mức nào? Không thể trông chờ nhiều sự giúp đỡ từ bên ngoài. Các nhà phê bình thì nhiều; các bài phê bình thì tràn lan; nhưng tâm trí con người quá khác biệt để có sự tương ứng chặt chẽ trong các chi tiết, và không gì tai hại hơn việc ép chân mình vào giày của người khác. Khi muốn quyết định một trường hợp cụ thể, ta có thể tự giúp mình tốt nhất, không phải bằng cách đọc phê bình, mà bằng cách nhận ra ấn tượng của mình một cách sắc nét nhất có thể và đối chiếu điều này với những phán xét mà ta đã dần hình thành trong quá khứ. Chúng treo trong tủ quần áo của tâm trí ta – những hình dạng của các cuốn sách ta đã đọc, như cách ta treo chúng lên và cất đi khi đã xong. Nếu ta vừa đọc “Clarissa Harlowe,” ví dụ, hãy xem nó hiện lên thế nào so với hình dạng của “Anna Karenina.” Ngay lập tức, đường nét của hai cuốn sách được cắt ra đối lập nhau như một ngôi nhà với ống khói lởm chởm và mái nghiêng được cắt ra trên nền một vầng trăng mùa thu. Ngay lập tức, những phẩm chất của Richardson – sự dài dòng, sự vòng vo – được đối chiếu với sự ngắn gọn và trực tiếp của Tolstoi. Và lý do của sự khác biệt này trong cách tiếp cận của họ là gì? Và cảm xúc của ta ở những cao trào khác nhau của hai cuốn sách so sánh thế nào? Và ta phải quy kết điều gì cho thế kỷ mười tám, điều gì cho nước Nga và người dịch? Nhưng những câu hỏi nảy ra là vô số. Chúng phân nhánh vô tận, và nhiều câu dường như không liên quan. Tuy nhiên, chính bằng cách đặt ra chúng và theo đuổi câu trả lời xa nhất có thể mà ta đạt được tiêu chuẩn giá trị của mình, và cuối cùng quyết định rằng cuốn sách ta vừa đọc thuộc loại này hay loại kia, có giá trị ở mức độ này hay mức độ kia. Và chính lúc này, khi ta đã bám sát ấn tượng của mình, độc lập hình thành phán xét của mình, ta có thể tận dụng tốt nhất các phán xét của những nhà phê bình vĩ đại – Dryden, Johnson, và những người khác. Chính khi ta có thể bảo vệ ý kiến của mình tốt nhất, ta mới nhận được nhiều nhất từ họ.

Vậy thì, để tóm tắt những điểm khác nhau mà chúng ta đã đạt đến trong bài tiểu luận này – liệu ta có tìm được câu trả lời nào cho câu hỏi, làm thế nào để đọc một cuốn sách? Rõ ràng, không có câu trả lời nào phù hợp cho tất cả mọi người; nhưng có lẽ là một vài gợi ý. Trước tiên, một người đọc tốt sẽ cho nhà văn mọi cơ hội để chứng minh mình; sự hỗ trợ từ toàn bộ trí tưởng tượng của mình; sẽ theo dõi chặt chẽ, diễn giải thông minh nhất có thể. Tiếp theo, họ sẽ đánh giá với sự nghiêm khắc tối đa. Mọi cuốn sách, họ sẽ nhớ, có quyền được đánh giá theo chuẩn mực cao nhất của loại sách đó. Họ sẽ mạo hiểm, rộng rãi trong lựa chọn, trung thực với bản năng của mình, nhưng sẵn sàng xem xét bản năng của người khác. Đây là một phác thảo có thể được lấp đầy, theo sở thích và khi rảnh rỗi, nhưng đọc theo cách này là trở thành một người đọc mà các nhà văn tôn trọng. Chính nhờ những người đọc như thế mà các kiệt tác được giúp đỡ để ra đời.

Nếu các nhà đạo đức hỏi chúng ta làm sao để biện minh cho tình yêu đọc sách, ta có thể dùng một lời biện minh như thế này. Nhưng nếu ta thành thật, ta biết rằng không cần lời biện minh nào. Đúng là ta chẳng nhận được gì ngoài niềm vui từ việc đọc; đúng là người khôn ngoan nhất trong chúng ta cũng không thể nói niềm vui đó là gì. Nhưng niềm vui đó – bí ẩn, vô danh, vô dụng như nó vốn có – là đủ. Niềm vui đó kỳ diệu, phức tạp, nuôi dưỡng tâm trí của bất kỳ ai tận hưởng nó, và có tác động rộng lớn đến mức sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu, vào ngày phán xét khi các bí mật được tiết lộ và điều mơ hồ trở nên rõ ràng, ta phát hiện ra rằng lý do chúng ta đã tiến hóa từ lợn thành con người, rời khỏi hang động, bỏ cung tên, ngồi quanh đống lửa, trò chuyện, uống rượu, vui chơi, bố thí cho người nghèo, giúp đỡ người bệnh, xây vỉa hè và nhà cửa, dựng lên một nơi trú ẩn và xã hội trên mảnh đất hoang của thế giới, chẳng gì ngoài điều này: chúng ta đã yêu việc đọc.


Ngày 9 tháng Mười 2025,

Dostoyevsky mới hai bảy tuổi khi ông bị đày khổ sai ở Siberia. Bốn năm sau ông được trả tự do, nhưng vẫn bị ép ở lại để tòng quân với quân hàm hạng bét. Ông nghiêm túc phục vụ quân đội nhưng rất đau khổ vì biết rằng mình không thể nào hoà hợp với nghề binh đao – thiên hướng của ông vốn là cầm bút.

Ở tuổi ba mươi bốn, chịu hết nổi, ông đã vi phạm mọi quy tắc ứng xử để viết thư cho vị tướng đứng đầu đơn vị mình. Dưới đây là một trích đoạn của lá thư:

“Bốn năm trời đau khổ, kinh hoàng. Tôi sống với lũ trộm cắp, với những con người vô cảm, với những nguyên tắc méo mó; suốt bốn năm trời, tôi chẳng thấy và chẳng thể thấy được điều gì vui vẻ, ngoài cái hiện thực đen tối, ghê tởm nhất. Tôi chẳng có một ai kề cạnh để giãi bày dù chỉ một lời chân thành; tôi trải qua đói khát, rét mướt, bệnh tật, công việc nặng nhọc và sự hiềm oán của lũ bạn trộm cắp… Nhưng… không có nỗi đau nào lớn hơn khi tôi nhận ra… rằng mình đã bị cắt đứt khỏi xã hội, bị lưu đày, và không không thể tỏ ra hữu dụng với năng lượng, khát khao cùng khả năng của mình.”

“Binh đao không phải là lĩnh vực của tôi… Ước nguyện duy nhất của tôi là được xuất ngũ và gia nhập công chức… Nhưng tôi không coi quân dịch là mục tiêu chính của cuộc đời mình… Tôi luôn coi nghề viết văn là một nghề cao quý và hữu ích nhất. Tôi tin rằng chỉ trên con đường đó, tôi mới thực sự có ích, biết đâu đấy, ít nhất tôi cũng sẽ thu hút được dư luận, và ít nhất cũng có thể tự lo liệu được phần nào cho cuộc sống, bởi tôi chẳng có gì, ngoại trừ một ít năng khiếu văn chương, xem chừng rất nhỏ bé.”

“Tôi sẽ không giấu ông rằng ngoài mong muốn chân thành muốn đổi số phận của mình lấy một số phận khác, phù hợp hơn với thiên hướng của tôi, thì một hoàn cảnh nhất định, có lẽ hạnh phúc đời tôi phụ thuộc toàn bộ vào đó (một hoàn cảnh hoàn toàn cá nhân), đã khiến tôi trở nên táo báo đến vậy.”

“Tôi biết rằng khi viết bức thư này, tôi đã đi quá giới hạn của mình. Một tên lính trơn dám viết thư cho một sĩ quan phụ tá! Nhưng ngài rất độ lượng và tôi phó thác số phận mình ở lòng từ bi của ngài.”

Vị tướng đã động lòng trước hoàn cảnh của Dostoyevsky, và vào ngày lễ tình nhân năm 1854, Dostoyevsky được trả tự do để bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình.

Phần còn lại, như các nhà viết tiểu sử thường nói, là lịch sử.


THAM VỌNG: Bất kỳ người đàn ông nào khiến thiên hạ phải bàn tán về mình. “Tôi không tham vọng!” có nghĩa là ích kỷ hoặc bất tài.

CHÂU MỸ: Một ví dụ điển hình về sự bất công: Columbus đã khám phá ra châu Mỹ, và nó được lấy tên theo Americus Vespuce. Nếu không khám phá ra châu Mỹ, chúng ta đã không có bệnh giang mai và rệp rễ nho. Tuy vậy, cứ tung hô nó đi, nhất là khi bạn chưa từng đến đó. Cứ tiếp tục càm ràm về quyền tự chủ đi.

KIẾN TRÚC SƯ: Bọn họ đều là đám ngốc. Họ luôn quên cầu thang trong nhà.

QUÂN ĐỘI: Thành trì của xã hội.

NGHỆ THUẬT: Nó dẫn đến nhà thương. Có ích gì đâu chứ, vì chúng ta đang thay thế nó bằng những thợ máy sản xuất tốt hơn và nhanh hơn.

NGHỆ SĨ: Rặt những trò hề. Khoe khoang về lòng bác ái. Ngạc nhiên vì mình ăn mặc giống người khác. Kiếm được cả núi tiền nhưng lại phung phí. Thường được mời ăn tối trong thị trấn. Nữ nghệ sĩ chỉ có thể là gái điếm. Những gì họ làm không thể coi là công việc.

TÓC VÀNG: Nóng bỏng hơn tóc nâu.

ĐỘC THÂN: Toàn là những kẻ ích kỷ và truỵ lạc. Đám này nên bị đánh thuế. Họ đang chuẩn bị cho một tuổi già buồn thảm.

NHÀ PHÊ BÌNH: Luôn luôn xuất chúng. Được cho là thông tường tất cả, đọc tất cả, chứng kiến tất cả. Khi bạn không thích ông ta, hãy gọi ông ta là Aristarchus, hay hoạn quan.

DARWIN: Người nói rằng chúng ta có tổ tiên là loài vượn.

BẰNG CẤP: Dấu hiệu của khoa học. Không chứng minh được gì.

LY HÔN: Nếu Napoleon không ly hôn, ông ta vẫn sẽ ngồi trên ngai vàng.

DOMINO: Càng say chơi càng hay.

NƯỚC: Nước Paris gây đau bụng. Nước biển giúp bơi lội dễ dàng. Nước hoa Cologne có mùi thơm.

VIẾT: Chữ viết đẹp dẫn đến mọi thứ.

ÍCH KỶ: Phàn nàn về sự ích kỷ của người khác và không để ý đến sự ích kỷ của chính mình.

THỪA CÂN: Dấu hiệu của sự giàu có và lười biếng.

NƯỚC NGOÀI: Say mê mọi thứ đến từ nước ngoài, minh chứng cho tinh thần tự do. Phỉ báng mọi thứ không phải của Pháp, minh chứng cho lòng yêu nước.


Hermann Heese bàn về việc đọc

Mọi người đôi lúc đều đọc một cách ngây thơ. Kiểu người đọc này tiêu thụ một cuốn sách như cách người ta tiêu thụ thức ăn, anh ta ăn uống cho đến khi thỏa mãn, anh ta chỉ đơn thuần là người tiếp nhận, dù đó là một cậu bé với cuốn sách về người da đỏ, một cô hầu gái với tiểu thuyết về các nữ bá tước, hay một sinh viên với tác phẩm của Schopenhauer.

Mối quan hệ của kiểu người đọc này với cuốn sách không phải là mối quan hệ giữa người với người, mà đúng hơn là mối quan hệ giữa con ngựa với người quản lý, hoặc có lẽ là giữa con ngựa với phu đánh xe: cuốn sách dẫn dắt, người đọc đi theo. Nội dung được tiếp nhận một cách khách quan, được chấp nhận như là thực tại. Nhưng nội dung chỉ là một yếu tố cần cân nhắc mà thôi!

Cũng có những người đọc rất có học thức, rất tinh tế, đặc biệt là với văn học nghệ thuật, nhưng họ hoàn toàn thuộc về nhóm những người đọc ngây thơ… Đối với những tâm hồn đơn giản, thứ quan trọng là chất liệu, bối cảnh và hành động; còn đối với những người đọc có văn hóa này, thứ quan trọng lại là nghệ thuật, ngôn ngữ, sự trau chuốt và trí tuệ của nhà văn. (…) Kiểu người đọc này mặc định rằng một cuốn sách chỉ đơn giản là để đọc một cách trung thực và chăm chú, và được đánh giá theo nội dung hoặc hình thức của nó. Giống như một ổ bánh mì tồn tại để được ăn, và một cái giường tồn tại để nằm ngủ.

Nếu người ta thuận theo bản chất tự nhiên chứ không phải theo giáo dục, họ sẽ trở thành một đứa trẻ lần nữa và bắt đầu chơi đùa với mọi vật; chiếc bánh mì trở thành ngọn núi để đào đường hầm, và cái giường trở thành hang động, khu vườn, hoặc cánh đồng tuyết. Một phần của sự ngây thơ như trẻ nhỏ này, cái thiên tài trong trò chơi này, được thể hiện ở kiểu người đọc thứ hai. Người đọc này không trân trọng cả nội dung lẫn hình thức của cuốn sách như là giá trị quan trọng nhất. Anh ta hiểu rõ, theo cách mà trẻ con hiểu, rằng mỗi đối tượng có thể mang mười hoặc một trăm ý nghĩa đối với tâm trí. Chẳng hạn, anh ta có thể quan sát một nhà thơ hay một triết gia đang vật lộn để thuyết phục bản thân mình và người đọc này về cách giải thích và đánh giá sự vật của họ, và anh ta có thể mỉm cười vì anh ta nhìn thấy trong cái vẻ lựa chọn và tự do rõ ràng của nhà thơ chỉ là sự cưỡng bách và tính bị động.

Kiểu người đọc này đã đạt đến một trình độ cao đến mức anh ta hiểu được điều mà hầu hết các giáo sư văn học và nhà phê bình văn học hoàn toàn không biết: đó là không hề có thứ gọi là sự lựa chọn tự do về chất liệu hay hình thức. (…) Chiếu theo quan điểm này, cái gọi là giá trị thẩm mỹ gần như biến mất, và chính những sai sót, rủi ro và sự thiếu chắc chắn của nhà văn lại có thể mang đến sức hấp dẫn và giá trị lớn lao nhất. Vì người đọc này đi theo nhà thơ không phải theo cách con ngựa tuân lệnh người đánh xe, mà theo cách thợ săn lần theo con mồi, và một cái nhìn thoáng qua bất chợt vào điều nằm ngoài sự tự do bề ngoài của nhà thơ, vào sự cưỡng bách và tính bị động của họ, có thể làm anh ta mê hoặc hơn tất cả sự tao nhã của kỹ thuật điêu luyện và văn phong trau chuốt.

Kiểu người đọc thứ ba và cuối cùng… bề ngoài dường như là sự đối lập hoàn toàn với điều mà người ta thường gọi là người đọc “giỏi”. Anh ta hoàn toàn là một cá nhân, là chính mình đến mức đối diện với các tác phẩm bằng sự tự do tuyệt đối. Anh ta không muốn tự giáo dục hay tự tiêu khiển, anh ta sử dụng một cuốn sách chính xác như bất kỳ đối tượng nào khác trên đời; đối với anh ta, đó đơn giản chỉ là một điểm khởi đầu và một sự kích thích. Về cơ bản, việc anh ta đọc gì cũng không tạo ra khác biệt. Anh ta không cần đọc một triết gia để học hỏi từ họ, để tiếp thu giáo huấn, hoặc để công kích hay phê bình họ. Anh ta không đọc một nhà thơ để chấp nhận cách giải thích thế giới của người đó; anh ta tự mình giải thích thế giới. Nếu muốn, bạn có thể xem anh ta hoàn toàn là một đứa trẻ. Anh ta chơi đùa với mọi thứ – và từ một góc độ nào đó, không có gì mang lại nhiều kết quả và đáng giá hơn việc chơi đùa với mọi thứ. Nếu người đọc này tìm thấy một câu văn đẹp, một chân lý, một lời thông tuệ trong sách, anh ta sẽ bắt đầu bằng việc thử nghiệm lật ngược nó. Kiểu người đọc này đã biết từ lâu rằng, đối với mỗi chân lý thì điều ngược lại cũng là sự thật. Anh ta đã biết từ lâu rằng, mỗi quan điểm trí tuệ đều là một cực, và luôn tồn tại một đối cực có giá trị tương đương.

Anh ta là một đứa trẻ ở chỗ anh ta đề cao lối tư duy liên tưởng, nhưng anh ta cũng am hiểu cả lối tư duy khác nữa. Người đọc này có khả năng, hay đúng hơn là mỗi người trong chúng ta đều có khả năng, ở thời điểm đạt đến trạng thái này, để đọc bất cứ thứ gì mình thích, dù là tiểu thuyết hay sách ngữ pháp, lịch trình tàu hoả, hay bản in thử từ nhà in. Vào khoảnh khắc mà trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của chúng ta đạt đến đỉnh cao, chúng ta thực sự không còn đọc những gì được in trên giấy nữa, mà đang thả mình trong một dòng chảy của những xúc cảm và cảm hứng tuôn ra từ thứ chúng ta đang đọc. Chúng có thể tuôn ra từ chính văn bản, hoặc có thể đơn thuần bắt nguồn từ kiểu chữ.

Một quảng cáo trên báo cũng có thể trở thành một khải thị; những ý nghĩ phấn khởi nhất, xác quyết nhất có thể nảy sinh từ một từ ngữ hoàn toàn không liên quan, nếu ta lật ngược nó lại, chơi đùa với các chữ cái như với một trò chơi xếp hình.

Ở giai đoạn này, người ta có thể đọc “Cô bé quàng khăn đỏ” như một vũ trụ học hay một triết lý, hoặc như một bài thơ tình yêu hoa lệ. Hoặc người ta có thể đọc nhãn “Colorado maduro” trên hộp xì gà, chơi đùa với các từ, chữ cái, và âm thanh, và qua đó thực hiện một chuyến du hành qua hàng trăm vương quốc của tri thức, ký ức và suy tưởng.

Kiểu người đọc thứ ba này đại diện cho sự tự do tuyệt đối và khả năng kiến tạo ý nghĩa vô hạn, nơi văn bản chỉ là chất xúc tác. Mối quan hệ giữa người đọc và văn bản lúc này không còn là giữa chủ thể và đối tượng, mà là một sự giao thoa, trong đó, trí tuệ và kinh nghiệm của người đọc làm lu mờ hoàn toàn tính cố định của văn bản, biến mọi thứ được in ấn thành nguyên liệu để sáng tạo.

Người đọc ở giai đoạn cuối cùng đó không còn là người đọc nữa. Người nào cứ mãi ở trạng thái này sẽ sớm không đọc bất cứ thứ gì nữa, bởi vì họa tiết trên một tấm thảm hay cách sắp xếp những viên đá trên một bức tường sẽ có giá trị hoàn toàn tương đương với trang sách đẹp nhất đầy những con chữ được xếp đặt tốt nhất. Cuốn sách duy nhất dành cho anh ta sẽ là một trang có đầy đủ các chữ cái trong bảng chữ cái.

Cứ cho là như vậy: người đọc ở giai đoạn cuối cùng thực sự không còn là người đọc nữa, anh ta chẳng màng gì đến Goethe, anh ta không đọc Shakespeare. Người đọc ở giai đoạn cuối cùng đơn giản là không còn đọc nữa. Tại sao cần sách? Chẳng phải anh ta đã có cả thế giới ngay trong chính bản thân mình rồi sao?

Bất cứ ai cứ mãi ở lại giai đoạn này sẽ không đọc gì nữa, nhưng không một ai ở lại đây vĩnh viễn. Tuy nhiên, người nào chưa từng làm quen với giai đoạn này là một người đọc kém cỏi, một người đọc chưa trưởng thành. Anh ta không biết rằng tất cả thi ca và tất cả triết lý trên đời cũng nằm ngay trong chính bản thân anh ta, rằng thi sĩ vĩ đại nhất cũng chẳng rút ra từ nguồn nào khác ngoài nguồn mà mỗi người chúng ta đều có trong bản thể mình.

Bạn hãy thử một lần trong đời, hãy ở lại một giờ, một ngày tại giai đoạn thứ ba, giai đoạn không-còn-đọc-nữa. Sau đó (thật dễ dàng để giật lùi), bạn sẽ trở thành một người đọc tốt hơn biết bao, một người lắng nghe và phiên giải tốt hơn biết bao đối với mọi thứ được viết ra.

Hãy đứng một lần ở giai đoạn mà hòn đá bên đường có ý nghĩa với bạn cũng nhiều như Goethe và Tolstoy, sau đó bạn sẽ thu hoạch được từ Goethe, Tolstoy, và tất cả các thi sĩ, vô vàn giá trị hơn, nhiều nhựa sống và mật ngọt hơn, nhiều sự khẳng định cuộc sống và chính bản thân bạn hơn bao giờ hết. Bởi vì các tác phẩm của Goethe không phải là Goethe, và các tập sách của Dostoevsky không phải là Dostoevsky; chúng chỉ là một nỗ lực, một nỗ lực còn đáng ngờ và không bao giờ thành công trọn vẹn, để gợi lên thế giới đa thanh, đa diện mà người nghệ sĩ là trung tâm.

(…) Giấc mơ là cánh cửa mở ra để bạn nhìn thấu vào nội dung tâm hồn mình, và nội dung này chính là thế giới, không hơn không kém, chính là cả thế giới từ khi bạn sinh ra cho đến hôm nay, từ Homer đến Heinrich Mann, từ Nhật Bản đến Gibraltar, từ sao Sirius đến Trái Đất, từ Cô Bé Quàng Khăn Đỏ đến Bergson. Và theo mức độ mà nỗ lực ghi chép giấc mơ của bạn liên quan đến cái thế giới bao hàm giấc mơ đó, thì tác phẩm của một tác giả cũng liên quan đến điều mà người đó đã cố gắng nói.

Nếu chưa từng nhận ra điều này, dù chỉ một lần, với tất cả sự đầy đủ vô hạn và ý nghĩa vô tận của nó, bạn sẽ đứng trước mọi nhà thơ và nhà tư tưởng trong tình trạng bị hạn chế; bạn lấy cái nhỏ nhoi làm toàn bộ, bạn tin vào những cách giải thích chỉ vừa chạm đến bề mặt.

Giai đoạn thứ ba – nơi bạn là chính mình nhất – sẽ chấm dứt việc đọc của bạn, sẽ hòa tan thi ca, hòa tan nghệ thuật, hòa tan lịch sử thế giới. Tuy nhiên, trừ phi bạn cảm nhận được bằng trực giác giai đoạn này, nếu không, bạn sẽ không bao giờ đọc bất kỳ cuốn sách nào, bất kỳ khoa học hay nghệ thuật nào, ngoài vai trò của một học sinh đọc sách ngữ pháp của mình.


Ngày 10 tháng Mười năm 2025,

Sách khuyến đọc bởi Gabriel García Márquez

1. Núi thần, Thomas Mann

Thành công vang dội của Núi thần của Thomas Mann… đòi hỏi sự can thiệp của thầy hiệu trưởng để ngăn chúng tôi thức trắng đêm, cốt để ngóng chờ nụ hôn giữa Hans Castorp và Clavdia Chauchat. Hay sự căng thẳng hiếm có khi tất cả chúng tôi ngồi bật dậy trên giường để không bỏ sót một lời nào trong những cuộc đấu khẩu triết học hỗn loạn giữa Naptha và người bạn Settembrini. Buổi đọc đêm đó kéo dài hơn một tiếng đồng hồ và được chào đón bằng một tràng pháo tay rầm rộ trong ký túc xá.

2. Người đàn ông mang mặt nạ sắt, Alexandre Dumas

3. Ulysses, James Joyce

Một ngày nọ, Jorge Álvaro Espinosa, một sinh viên luật đã dạy tôi thông thạo Kinh Thánh và bắt tôi phải học thuộc lòng cả tên đầy đủ của các bạn Job, đã đặt một cuốn sách dày cộp, đồ sộ lên bàn trước mặt tôi và tuyên bố với giọng uy quyền như một đức giám mục:

“Đây là cuốn Kinh Thánh thứ hai.”

Đó dĩ nhiên là tác phẩm Ulysses của James Joyce, mà tôi đã đọc từng đoạn một, lúc thì nhiệt tình, lúc thì chán nản, cho đến khi tôi hoàn toàn mất hết kiên nhẫn. Đó là một sự liều lĩnh quá sớm. Nhiều năm sau, khi đã trở thành một người trưởng thành điềm đạm, tôi tự đặt ra nhiệm vụ đọc lại nó một cách nghiêm túc, và cuốn sách không chỉ giúp tôi khám phá ra một thế giới chân thực mà tôi chưa từng ngờ tới bên trong mình, mà còn cung cấp cho tôi sự hỗ trợ kỹ thuật vô giá trong việc giải phóng ngôn ngữ, cũng như cách xử lý thời gian và cấu trúc trong các tác phẩm của mình.

4. Âm thanh và cuồng nộ, William Faulkner

Tôi nhận ra rằng cuộc phiêu lưu đọc Ulysses năm hai mươi tuổi, và sau này là Âm thanh và cuồng nộ, là những hành động táo bạo quá sớm và không có tương lai. Vì vậy, tôi quyết định đọc lại chúng với một cái nhìn ít định kiến hơn. Quả thật, phần lớn những gì từng có vẻ uyên bác một cách khô khan hoặc khó hiểu trong tác phẩm của Joyce và Faulkner đã hiện ra trước mắt tôi lúc bấy giờ với một vẻ đẹp và sự giản dị đáng kinh ngạc.

5. Khi tôi nằm chết, William Faulkner

6. Cọ hoang, William Faulkner

7. Bi kịch của chàng Oedipus, Sophocles

8. Nhà có bảy đầu hồi, Nathaniel Hawthorne

9. Túp lều bác Tom, Harriet Beecher Stowe

10. Moby Dick – Cá voi trắng, Herman Melville

11. Sons and Lovers, D.H. Lawrence

12. Nghìn lẻ một đêm

13. Hoá thân, Franz Kafka

Tôi không bao giờ có thể ngủ với sự thanh thản như trước nữa. [Cuốn sách này] đã định một lối đi mới cho cuộc đời tôi ngay từ câu đầu tiên, một câu mà ngày nay là một trong những thủ pháp vĩ đại của văn học thế giới: “Khi Gregor Samsa thức dậy một buổi sáng sau những giấc mơ không yên, anh thấy mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ trên giường.”

14. Aleph, Jorge Luis Borges

15. Tuyển tập truyện ngắn của Ernest Hemingway

16. Point Counter Point, Aldous Huxley

17. Của chuột và người, John Steinbeck

18. Chùm nho thịnh nộ, John Steinbeck

19. Tobacco Road, Erskine Caldwell

20. Tuyển tập truyện ngắn của Katherine Mansfield

21. Manhattan Transfer, John Dos Passos

22. Portrait of Jennie, Robert Nathan

23. Orlando, Virginia Woolf

24. Bà Dalloway, Virginia Woolf

Đó là lần đầu tiên tôi nghe tên của Virginia Woolf, người mà anh ấy [Gustavo Ibarra] gọi là Bà già Woolf, giống như Ông già Faulkner. Sự kinh ngạc của tôi đã truyền cảm hứng cho anh ấy đến mức phát cuồng. Anh ấy túm lấy chồng sách yêu thích đã khoe với tôi rồi đặt tất cả vào tay tôi.

Anh ấy nói: “Đừng có ngốc,” (hoặc: “Đừng có dở chứng,”) “cầm hết đi, và khi cậu đọc xong, dù cậu ở đâu, chúng tôi cũng sẽ đến lấy lại.”

Đối với tôi, đó là một kho báu không thể tưởng tượng nổi, tôi không dám mạo hiểm vì lúc đó tôi còn không có nổi một cái góc tồi tàn để cất giữ chúng. Cuối cùng, anh ấy đành chịu thua và đưa cho tôi bản dịch tiếng Tây Ban Nha của tác phẩm Bà Dalloway của Virginia Woolf, kèm theo một lời tiên đoán không thể chối cãi rằng tôi sẽ học thuộc lòng cuốn sách này.

Tôi đi về [nhà] với dáng vẻ của một người vừa khám phá ra cả thế giới.


Ngày 14 tháng Mười năm 2025,

Hóa ra, ngay cả “mẹ đẻ” của những chuyện tình làng quê lãng mạn cũng từng phải đối mặt với lời mời gọi “làm giàu không khó” một cách cực kỳ… lố bịch.

Số là, sau khi cuốn Mansfield Park của bà thất bại thương mại thảm hại vào năm 1815, suýt nữa vét sạch lợi nhuận từ cuốn Emma bán chạy trước đó, bà Austen đang ở thế bí tài chính. Đúng lúc đó, một quý ngài tên là Mr. Clarke – thư ký riêng của Hoàng tử Leopold – đã đánh hơi thấy “tài năng” (và sự kẹt tiền) của bà.

Mr. Clarke, với tư cách là người của Hoàng gia, gửi thư cho Jane Austen với một ý tưởng “kinh doanh” tuyệt vời: “Cô nên viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử để ca ngợi, minh họa về Hoàng tộc Coburg!”

Nói thẳng ra là: “Cô Jane ơi, hãy bỏ mấy chuyện thơ thẩn chốn làng quê đi. Viết đại một cuốn quảng cáo PR hào nhoáng cho Hoàng tử là đảm bảo tiền về ào ào!” (Nghe y hệt mấy lời mời làm clickbait câu view thời nay).

Thật may, Jane Austen không phải dạng vừa. Trong bức thư đáp từ vào tháng 4 năm 1816, bà đã từ chối một cách đỉnh cao và cực kỳ hóm hỉnh, xứng đáng được in lên tờ tiền (mà sau này bà đã thực sự được in lên!).

Nội dung lá thư như sau:

“Kính gửi Ngài,

Tôi vô cùng vinh dự khi nhận được lời cảm tạ từ Hoàng tử và hết sức biết ơn Ngài đã ưu ái đề cập đến tác phẩm của tôi.

Ngài thật tử tế khi gợi ý về thể loại sáng tác có thể mang lại danh tiếng cho tôi vào thời điểm hiện tại. Tôi hoàn toàn nhận thức rõ rằng một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, dựa trên câu chuyện về Hoàng tộc Saxe-Coburg, sẽ có thể mang lại lợi nhuận hoặc sự phổ biến cao hơn rất nhiều so với những “bức tranh về đời sống gia đình nơi thôn quê” mà tôi vẫn thường viết.

Tuy nhiên, tôi xin thú thật rằng, tôi không thể viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn như thế, cũng như tôi không thể viết một trường ca anh hùng vậy.

Tôi không thể nghiêm túc ngồi xuống để chấp bút một câu chuyện lãng mạn nghiêm túc, trừ khi động cơ duy nhất là để cứu lấy mạng sống của tôi. Và nếu việc đó bắt buộc tôi phải giữ vẻ nghiêm trang, không bao giờ được thư giãn mà bật cười nhạo chính mình hay người khác, thì tôi chắc chắn rằng tôi sẽ bị treo cổ trước khi hoàn thành chương đầu tiên.

Không, tôi phải giữ vững phong cách của riêng mình và tiếp tục theo con đường của riêng tôi. Dù có thể tôi sẽ không bao giờ thành công nữa với phong cách ấy, tôi tin chắc rằng tôi sẽ hoàn toàn thất bại với bất kỳ lối viết nào khác.

Tôi xin gửi lời chào kính trọng, Ngài thân mến,

Người bạn vô cùng biết ơn và chân thành của Ngài,

J. Austen.”

Và Jane Austen đã làm đúng như vậy. Ngay sau bức thư đó, bà bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng của mình, ban đầu tên là The Elliots, sau này được xuất bản sau khi bà mất với tựa đề quen thuộc: Persuasion (Thuyết phục).

Chuyện kể rằng, sau này, Jane Austen được vinh danh là người phụ nữ thứ ba xuất hiện trên tờ tiền giấy của Ngân hàng Anh. Bà không cần “bán mình” để nổi tiếng, cô chỉ cần trung thành với chất hài hước và phong cách riêng của mình.

Đúng như nhà văn Bill Watterson (tác giả Calvin và Hobbes) từng nói: “Bán mình đi, tức là bạn đang mua hệ thống giá trị, luật lệ, và phần thưởng của người khác.” Rõ ràng, Jane Austen đã quyết định không mua. Bà tự tạo ra cả một ngân hàng văn học cho riêng mình.


Ngày 17 tháng Mười năm 2025,

Vào mùa thu năm 1938, cô sinh viên năm hai Frances Turnbull đã gửi một truyện ngắn mới sáng tác của mình tới F. Scott Fitzgerald, người bạn của gia đình. Và lá thư phản hồi của tác giả Đại gia Gatsby xứng đáng được đem ra nói ở đây.

Lá thư như sau:

Frances thân mến,

Chú đã đọc kỹ truyện ngắn của cháu và, Frances à, chú e rằng cái giá để làm nghề viết chuyên nghiệp cao hơn nhiều so với những gì cháu sẵn lòng trả lúc này.

Cháu phải bán cả trái tim mình, bán những phản ứng mãnh liệt nhất của cháu, chứ không phải những chuyện vặt vãnh chỉ khẽ lướt qua tâm hồn, những trải nghiệm cỏn con có thể kể vu vơ bên bàn ăn tối. Điều này đặc biệt đúng khi cháu mới bắt đầu viết, khi cháu chưa phát triển được các mánh lới để thu hút người đọc trên trang giấy, khi cháu chưa có chút kỹ thuật nào – thứ cần thời gian mới học được. Nói tóm lại, khi cháu chỉ có cảm xúc của mình để bán.

Đây là kinh nghiệm của tất cả những nhà văn. Dickens đã phải đưa vào Oliver Twist sự căm phẫn nồng nhiệt của một đứa trẻ bị ngược đãi và bỏ đói – những ám ảnh đeo đẳng suốt thời thơ ấu của ông. Những truyện ngắn đầu tay của Ernest Hemingway, trong tập In Our Time, đã lặn sâu xuống tận cùng những gì ông từng cảm thấy và trải qua. Trong This Side of Paradise, chú đã viết về một mối tình vẫn còn rỉ máu tươi rói như vết thương trên da của một người mắc bệnh máu khó đông.

Người viết nghiệp dư, thấy cách người chuyên nghiệp – sau khi đã học hết những gì cần học về viết lách – có thể lấy một chuyện nhỏ nhặt, chẳng hạn như những phản ứng hời hợt nhất của ba cô gái vô danh, và biến nó thành một tác phẩm dí dỏm và duyên dáng, thì nghĩ rằng mình cũng có thể làm được điều tương tự. Nhưng người nghiệp dư chỉ có thể hiện thực hóa khả năng truyền tải cảm xúc của mình đến người khác bằng một phương cách liều lĩnh và triệt để như việc xé toạc câu chuyện tình bi kịch đầu tiên ra khỏi tim và bày nó lên trang giấy cho người đời xem.

Dù sao đi nữa, đó là cái giá của tấm vé vào cửa. Cháu có sẵn lòng trả nó không, hay liệu nó có phù hợp hoặc mâu thuẫn với quan niệm của cháu về cái gọi là điều ‘tử tế’ hay không, đó là điều cháu phải tự quyết lấy. Nhưng văn chương, ngay cả văn chương giải trí bông lơn, cũng sẽ không chấp nhận thứ gì ít hơn thế từ người mới vào nghề. Đây là một trong những nghề nghiệp đòi hỏi sự ‘toàn tâm toàn ý’. Cháu sẽ chẳng hứng thú gì với một người lính chỉ hơi hơi dũng cảm thôi, đúng không?

Chiếu theo điều này, chú thấy việc phân tích tại sao truyện ngắn này của cháu không bán được là không đáng. Nhưng chú quý mến cháu quá, nên chú không thể cứ vờ vịt mà động viên cháu mãi được, như cách người ta thường làm ở tuổi chú.

Nếu cháu thực sự quyết định kể những câu chuyện của mình, sẽ không có ai hứng thú bằng chú đâu.

Người bạn cũ của cháu, F. Scott Fitzgerald

T.B. Chú phải nói rằng lối viết của cháu trôi chảy, dễ chịu, và một số trang rất ấn tượng và duyên dáng. Cháu có tài năng – điều này cũng giống như việc một người lính có đủ điều kiện thể chất để vào trường West Point vậy.

Chậc chậc, giá như hồi tôi mới bắt đầu viết cũng gặp được một mentor tận tâm như thế này. Chỉ biết ước…


Lời khuyên viết lách của John Steinbeck

  1. Hãy gạt đi ý nghĩ rằng bạn phải hoàn thành được nó. Hãy quên đi con số 400 trang và tập trung viết một trang mỗi ngày, điều đó sẽ hữu ích. Rồi đến khi nó thực sự hoàn thành, bạn sẽ luôn cảm thấy bất ngờ.
  2. Hãy viết một cách tự do và nhanh nhất có thể, trút toàn bộ mọi thứ lên giấy. Đừng bao giờ sửa chữa hay viết lại cho đến khi toàn bộ tác phẩm được hoàn thành. Việc chỉnh sửa ngay trong lúc viết thường được xem là một cái cớ để khỏi phải viết tiếp. Nó cũng cản trở dòng chảy và nhịp điệu, vốn chỉ có thể đến từ một loại liên kết vô thức với chất liệu (câu chuyện) của bạn.
  3. Hãy quên đi độc giả đại chúng. Thứ nhất, độc giả vô danh, không mặt mũi sẽ dọa bạn sợ chết khiếp; thứ hai, không giống như sân khấu, độc giả đó không hề tồn tại trong viết lách. Trong viết, độc giả của bạn chỉ là một người đọc duy nhất. Tôi thấy rằng đôi khi, việc chọn ra một người – một người thật mà bạn biết, hoặc một người bạn tưởng tượng – và viết cho người đó sẽ giúp ích rất nhiều.
  4. Nếu một phân cảnh hay một đoạn nào đó làm bạn bế tắc, nhưng bạn vẫn nghĩ rằng mình muốn nó – hãy tạm gạt sang bên và tiếp tục. Khi bạn đã hoàn thành toàn bộ tác phẩm, bạn có thể quay lại. Lúc đó, bạn có thể nhận ra lý do nó gây rắc rối là vì nó vốn dĩ không thuộc về đó.
  5. Hãy cẩn thận với một phân đoạn mà bạn đâm ra quá thích thú, yêu quý nó hơn cả phần còn lại. Thông thường, đó sẽ là phân đoạn bị lệch lạc so với tổng thể.
  6. Nếu bạn đang viết lời thoại – hãy đọc to thành tiếng khi bạn viết. Chỉ khi đó, lời thoại mới mang âm hưởng của một cuộc trò chuyện thực sự.

Tiểu thuyết bị loại khỏi danh sách “đọc sách nghiêm túc.” Thế nên, quý ông nào đang rắp tâm tự trau dồi tri thức, định dành chín mươi phút, ba lần mỗi tuần, để nghiền ngẫm trọn bộ tác phẩm của Charles Dickens, xin hãy mau chóng đổi kế hoạch. Lý do không phải vì tiểu thuyết thiếu nghiêm túc – bởi lẽ, một phần vĩ đại của văn chương thế giới lại chính là văn xuôi hư cấu – mà vì: tiểu thuyết dở thì tuyệt đối không nên đọc, còn tiểu thuyết hay thì lại chẳng hề đòi hỏi sự vận dụng trí óc đáng kể nào từ độc giả.

Chỉ những đoạn dở trong tiểu thuyết của Meredith mới gây khó khăn. Một cuốn tiểu thuyết hay sẽ cuốn bạn đi như chiếc thuyền con xuôi dòng, và bạn sẽ đến đích, có thể thở dốc, nhưng tuyệt nhiên không hề kiệt sức. Những tiểu thuyết xuất sắc nhất là những cuốn ít gây căng thẳng nhất.

Mà gượm đã, trong công cuộc trau dồi trí tuệ, một yếu tố quan trọng bậc nhất lại chính là cảm giác căng thẳng, cảm giác khó nhọc, cảm giác về một công việc mà một phần tâm trí bạn khao khát chinh phục, còn một phần khác lại muốn lẩn tránh. Cảm giác ấy, bạn sẽ chẳng thể nào tìm thấy khi đối diện với một cuốn tiểu thuyết. Bạn không cần phải nghiến răng nghiến lợi để đọc Anna Karenina. Vì lẽ đó, dù bạn nên đọc tiểu thuyết, thì cũng đừng nên đọc chúng trong chín mươi phút quý báu ấy.

Thơ ca giàu trí tưởng tượng lại tạo ra sự căng thẳng tinh thần lớn hơn nhiều so với tiểu thuyết. Có lẽ, nó tạo ra sự căng thẳng dữ dội nhất trong mọi loại hình văn chương. Thơ ca là hình thức văn chương cao quý nhất, mang lại khoái cảm tối thượng và truyền thụ thứ trí tuệ siêu việt. Tóm lại, chẳng có gì sánh được. Tôi nói điều này với một nỗi buồn thấm thía khi ý thức được rằng đa phần nhân loại không hề đọc thơ.

Tôi tin rằng, nếu phải lựa chọn giữa việc đọc Thiên đường đã mất (Paradise Lost) và việc mặc bao bố quỳ gối đi vòng quanh quảng trường Trafalgar vào giữa trưa, thì nhiều người lương thiện sẽ chọn vế sau để chịu đựng sự chế giễu của công chúng. Dẫu vậy, tôi sẽ không bao giờ ngừng khuyên nhủ bạn bè và kẻ thù của mình rằng: hãy đọc thơ trước bất cứ thứ gì khác.

Nếu thơ ca là một “quyển sách đóng kín” với bạn, hãy bắt đầu bằng cách đọc tiểu luận trứ danh của Hazlitt về bản chất của “thơ ca nói chung.” Đây là tác phẩm xuất sắc nhất thuộc thể loại này trong văn chương Anh, và bất cứ ai đã đọc nó thì không thể nào hiểu lầm rằng thơ là một hình thức tra tấn thời trung cổ, là một con voi điên, hay một khẩu súng tự cướp cò giết người ở khoảng cách bốn mươi bước. Quả thực, khó mà hình dung được trạng thái tinh thần của người nào mà sau khi đọc tiểu luận của Hazlitt lại không thấy khao khát đọc ngay một vài vần thơ trước bữa ăn kế tiếp. Nếu tiểu luận đó có thể truyền cảm hứng cho bạn, tôi xin đề xuất rằng bạn hãy khởi đầu với thơ ca thuần tự sự.

Có một cuốn tiểu thuyết Anh còn tinh tế hơn vô vàn so với bất cứ tác phẩm nào của George Eliot, của chị em nhà Brontë, hay thậm chí là Jane Austen, được viết bởi một phụ nữ mà có lẽ bạn chưa từng đọc. Tác phẩm ấy mang tên Aurora Leigh, tác giả là E.B. Browning. Nó tình cờ được viết bằng thơ và chứa đựng một lượng đáng kể những vần thơ thực sự tuyệt diệu.

Hãy quyết tâm đọc hết cuốn sách đó, dù có phải “hy sinh” vì nó. Hãy quên đi việc nó là thơ hay. Đọc nó đơn thuần chỉ vì câu chuyện và những ý tưởng xã hội trong đó. Và khi hoàn thành, hãy tự hỏi bản thân một cách thành thật rằng bạn còn ghét thơ nữa không. Tôi đã biết không ít người nhờ Aurora Leigh mà chứng minh được rằng, việc họ từng cho rằng mình ghét thơ hoàn toàn là sai lầm.

Dĩ nhiên, nếu sau khi đọc Hazlitt, và sau cuộc thử nghiệm đã được soi sáng bởi Hazlitt, mà bạn vẫn quả quyết rằng có một cái gì đó bên trong bạn chống cự thơ ca, thì bạn phải chấp nhận hài lòng với lịch sử hoặc triết học. Tôi sẽ tiếc nuối, nhưng không đến nỗi sầu não không nguôi. Sự suy vong và sự sụp đổ của Đế chế La Mã (The Decline and Fall) không thể đặt chung mâm với Thiên đường đã mất, nhưng nó là một thứ tuyệt vời đáng giá; còn Những nguyên lý đầu tiên (First Principles) của Herbert Spencer thì đơn giản là cười nhạo mọi tuyên bố của thơ ca và từ chối được thừa nhận là bất cứ thứ gì khác ngoài sản phẩm hùng vĩ nhất của trí tuệ con người.

Tôi không cho rằng cả hai tác phẩm này đều phù hợp với một tay mơ trong việc rèn luyện trí não. Nhưng tôi không thấy có lý do gì khiến một người đàn ông có trí tuệ trung bình lại không thể đủ sức tấn công những kiệt tác tối thượng của lịch sử hoặc triết học sau một năm đọc ròng rã. Cái thuận tiện bậc nhất của các kiệt tác chính là chúng minh triết một cách đáng kinh ngạc.

Tôi không gợi ý một tác phẩm cụ thể nào để bắt đầu. Trong khuôn khổ hạn hẹp này, nỗ lực đó sẽ là công cốc. Nhưng tôi có hai gợi ý chung mang tầm quan thiết nhất định.

Thứ nhất là hãy xác định hướng đi và phạm vi nỗ lực của bạn. Hãy chọn một giai đoạn giới hạn, một chủ đề giới hạn, hoặc một tác giả duy nhất. Hãy tự nhủ: “Tôi sẽ tìm hiểu tường tận về Cách mạng Pháp, hay về sự trỗi dậy của đường sắt, hoặc toàn bộ tác phẩm của John Keats.” Và trong một khoảng thời gian đã được định trước, hãy tự giới hạn mình với sự lựa chọn đó. Có vô vàn khoái cảm đến từ việc trở thành một chuyên gia (dù là nghiệp dư).

Gợi ý thứ hai là: hãy suy nghĩ song song với việc đọc. Tôi biết có những người cứ đọc và đọc, nhưng những gì họ thu được cũng chỉ ngang việc cắt bánh mì và bơ mà thôi. Họ tìm đến việc đọc như những người khác tìm đến rượu. Họ phóng qua các vùng đất văn chương bằng xe hơi, mục tiêu duy nhất là sự dịch chuyển. Họ sẽ khoe khoang mình đã đọc bao nhiêu cuốn sách trong một năm.

Trừ khi bạn dành ít nhất bốn mươi lăm phút để suy ngẫm cẩn thận, mệt nhọc (ban đầu sẽ là một sự phiền toái khủng khiếp) về những gì bạn đang đọc, nếu không, chín mươi phút mỗi đêm của bạn sẽ bị lãng phí. Điều này có nghĩa là bạn phải đọc chậm.

Đừng bận tâm.

Hãy quên đi đích đến; chỉ nghĩ đến khung cảnh xung quanh mà thôi. Và sau một thời gian, có lẽ khi bạn ít ngờ tới nhất, bạn sẽ đột nhiên thấy mình đang ở trong một thị trấn xinh đẹp trên đỉnh đồi.

Trang: 1 2


Xếp hạng: 3 trên 5.

Đăng ký theo dõi

Đăng ký để nhận thông báo mỗi khi mình đăng tải bài viết mới nhé!

Được xuất bản bởi


Bình luận về bài viết này

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc