Lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh “The Works of Guy de Maupassant”.
Các trước tác của Maupassant
(Lev Tolstoy)
Hình như là vào năm 1881, Turgenev, trong một lần ghé thăm, đã rút từ túi xách ra một tập truyện Pháp có tựa đề Maison Tellier và đưa cho tôi.
“Đọc thử xem sao,” ông nói, vẻ thản nhiên, hệt như năm ngoái ông từng đưa tôi một số báo Russian Wealth, trong có một bài viết của Garshin, một tác giả mới vào nghề. Rõ rành, tương tự trường hợp của Garshin, giờ đây ông e mình sẽ tác động tới tôi theo hướng này hay hướng khác, và ông muốn biết ý kiến không thiên lệch của tôi.
“Anh ta là một nhà văn trẻ người Pháp,” ông nói; “cứ đọc qua đi, – không tồi đâu; anh ta biết cậu và kính trọng cậu vô ngần,” ông nói thêm, như để khích lệ tôi. “Con người anh ta làm tôi nhớ đến Druzhinin. Anh ta là một cậu con trai mẫu mực, một người bạn tuyệt vời, un homme d’un commerce sur, như Druzhinin vậy, và, thêm nữa, anh ta gắn bó với cánh thợ thuyền, anh ta dẫn dắt và đỡ đần họ. Ngay cả thái độ của anh ta với phụ nữ cũng làm tôi nhớ đến Druzhinin.”
Và Turgenev kể tôi nghe một điều đáng kinh ngạc và khó tin về Maupassant trong khía cạnh này.
Thời gian này, cái năm 1881 ấy, đối với tôi là quãng thời gian sôi nổi nhất của sự tái cơ cấu toàn bộ thế giới quan trong tôi, và trong công cuộc tái cấu trúc này, hoạt động được gọi là nghệ thuật mà dạo trước tôi từng cống hiến toàn tâm toàn ý, đã không chỉ mất đi tính quan thiết mà tôi gán cho nó, mà thậm chí còn trở nên đáng ngán rõ rệt bởi vị trí sai lệch mà nó chiếm lĩnh trong cuộc đời tôi và trong quan niệm của những người thuộc tầng lớp thượng lưu nói chung.
Vì lý do này mà vào quãng thời gian đó tôi không hề có chút hứng thú nào với những tác phẩm như cái mà Turgenev đã gợi ý. Nhưng, để chiều lòng ông, tôi đã đọc cuốn sách.
Ngay từ câu chuyện đầu tiên, Maison Tellier, tôi không thể không nhận thấy, mặc dù cốt truyện có phần khiếm nhã và tầm thường, rằng tác giả này sở hữu cái gọi là tài năng.
Tác giả được phú cho một thiên tư đặc biệt, gọi là tài năng, có nghĩa là năng lực điều hướng, tuỳ theo ý thích của anh ta, sức tập trung mãnh liệt, dai dẳng, vào một hoặc nhiều đối tượng, qua đó người sở hữu nhìn thấy ở những đối tượng mà anh ta chú mục tới, điều gì đó mới lạ, điều mà những người khác không thấy. Hiển nhiên Maupassant sở hữu năng lực nhìn thấy trong những chủ thể điều gì đó mà người khác không thấy. Nhưng, chiếu theo tập sách nhỏ mà tôi đã đọc, anh ta hoàn toàn thiếu hụt tiêu chí quan trọng nhất, bên cạnh tài năng, để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Trong ba tiêu chí:
1. một mối quan hệ đúng đắn, tức là, một mối quan hệ đạo đức của nhà văn với chủ đề,
2. sự rõ ràng trong cách trình bày, hoặc vẻ đẹp của hình thức, cũng tương tự nhau, và
3. sự chân thành, tức là, cảm xúc yêu hay ghét thành thật với thứ mà nghệ sĩ mô tả
Maupassant chỉ sở hữu hai cái cuối, và hoàn toàn thiếu cái đầu tiên. Tức là, anh ta không có mối quan hệ đạo đức đúng đắn với những chủ đề được diễn tả. Từ những gì tôi đã đọc, tôi bị thuyết phục rằng Mauppasant có tài, tài ở đây là cái năng lực tập trung mà theo đó những vấn đề và hiện tượng của cuộc sống hé lộ cho nhà văn những phẩm chất mà người khác không nhìn ra; đồng thời anh ta sở hữu một hình thức tao nhã, tức là anh ta diễn tả những gì mình muốn nói một cách rõ ràng, đơn giản, và đẹp, và anh ta cũng đáp ứng cái tiêu chí giúp cấu thành một tác phẩm nghệ thuật đích thực, mà thiếu nó thì không gây nổi ấn tượng gì, — sự chân thành, — anh ta không vờ vĩnh yêu hay ghét, mà thực sự yêu và ghét cái anh ta mô tả. Nhưng thật không may, bởi thiếu sót điều kiện đầu tiên, gần như là điều kiện quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật đích thực, về mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cái mà anh ta miêu tả, hay về sự hiểu biết về khác biệt giữa tốt và xấu, anh ta đã yêu và mô tả những gì không đáng để yêu và mô tả, và lại không yêu và không mô tả những cái đáng ra anh ta phải yêu và mô tả. Thế là anh nhà văn trong tuyển truyện này tỏ ra ưa chuộng và miệt mài mô tả cách đàn bà quyến rũ đàn ông và cách đàn ông cám dỗ đàn bà, và thậm chí còn mô tả vài chi tiết tục tĩu khó hiểu, được phô bày trong La Femme de Paul, và anh ta khắc hoạ người dân lao động nông thôn, không chỉ với sự thờ ơ, mà thậm chí với sự khinh miệt, coi họ không khác gì loài cầm thú.
Sự thiếu phân định phải trái đặc biệt nổi cộm trong câu chuyện Une Partie de Campagne, ở đó, dưới một dạng thức giễu cợt thông minh và dí dỏm nhất , anh ta tỉ mỉ thuật lại cách hai người đàn ông với cánh tay để trần, đang chèo thuyền, cùng lúc cám dỗ hai người đàn bà; một gã quyến rũ bà mẹ già, và gã còn lại dụ dỗ một thiếu nữ trẻ, con gái của bà kia.
Sự cảm thông của tác giả trong suốt thiên truyện rõ ràng thiên về phía hai gã bất lương, theo đó nhà văn phớt lờ, hoặc, tệ hơn, không nhìn thấy những gì mà bà mẹ bị cám dỗ, cô gái, người cha, và chàng trai trẻ, hiển nhiên là vị hôn phu của cô con gái, đã phải hứng chịu, và do đó chúng ta không chỉ nhận được một mô tả thái quá về một tội ác tày đình dưới dạng thức một trò đùa vui nhộn, mà tự bản thân sự kiện cũng bị mô tả sai lệch, vì chỉ có một khía cạnh vô cùng tầm thường của chủ đề được mô tả: khoái cảm mà những kẻ vô lại nhận được.
Trong cùng tập sách đó có một truyện ngắn, Histoire d’une Fille de Ferme, mà Turgenev đặc biệt khuyến nghị với tôi, và truyện này càng làm tôi khó chịu hơn, một phần cũng vì thái độ không đúng đắn của tác giả đối với chủ đề này. Tác giả dường như chỉ nhìn tất cả những người lao động mà anh ta mô tả như những con vật, những kẻ không vượt lên trên được tình mẫu tử và thú nhục dục, nên cách miêu tả này để lại cho chúng ta một ấn tượng nửa vời, giả tạo.
Sự thiếu hiểu biết về cuộc sống và lợi ích của giai cấp công nhân, và việc khắc hoạ những người thuộc tầng lớp đó dưới hình thái nửa người nửa thú, chỉ bị thúc đẩy bởi nhục dục, ác tâm, và lòng tham, là một trong những thiếu sót chính và nổi cộm nhất của phần lớn các tác giả Pháp đương đại, trong đó có Maupassant, không riêng câu chuyện này mà còn ở tất cả các câu chuyện khác, trong đó anh ta bàn phớt về nhân dân và luôn khắc hoạ họ như những con vật thô kệch, ngu đần, chỉ đáng đem ra mà chế nhạo. Tất nhiên, các tác giả Pháp hẳn phải hiểu rõ tình cảnh của nhân dân nước họ hơn tôi; nhưng, dù tôi là người Nga chăng nữa, và chưa từng sống với nhân dân Pháp, tôi vẫn quả quyết rằng các tác giả Pháp đã mô tả sai về quần chúng nước nhà, và nhân dân Pháp không thể giống những gì họ được mô tả. Nếu có một nước Pháp như chúng ta đã biết, nước Pháp với những con người thật sự vĩ đại với những đóng góp to lớn cho khoa học, nghệ thuật, chính sách dân sự và sự trau dồi đạo đức của nhân quần, thì những người dân lao động đã gánh trên vai cả nước Pháp lẫn những nhân vật vĩ đại của nó không thể là loài súc vật, mà phải là những con người có phẩm giá tinh thần cao thượng; và vì vậy, tôi không tin vào các tiểu thuyết như La Terre và các câu chuyện của Maupassant, cũng như tôi sẽ không tin nếu người ta mách tôi về sự tồn tại của một ngôi nhà khang trang mà không cần nền móng. Rất có thể những phẩm hạnh cao quý của nhân dân không hề giống những phẩm hạnh được mô tả trong La petit Fadette và La Mare au Diable, nhưng những phẩm chất này có tồn tại, tôi cam đoan thế, và nhà văn mô tả quần chúng, như Maupassant đã làm, bằng cách kể lể một cách chân thành về “hông” và “khe vú” của những hầu gái người Breton, nhưng lại tỏ ra khinh miệt và giễu cợt cuộc sống của dân lao động, đã phạm một sai lầm lớn về mặt nghệ thuật, bởi vì anh ta chỉ mô tả chủ thể từ một khía cạnh vật chất ít thú vị nhất, mà hoàn toàn bỏ qua khía cạnh còn lại, khía cạnh tinh thần quan yếu nhất, cái cấu thành bản chất của chủ thể.
Nói chung, khi đọc xong cuốn sách mà Turgenev đưa cho, tôi hoàn toàn dửng dưng với nhà văn trẻ này.
Vào thời điểm đó, tôi cực lực chán ghét những câu chuyện Une Partie de Campagne, La Femme de Paul và L’Histoire d’une Fille de Ferme đến nỗi tôi không để ý đến câu chuyện tuyệt đẹp Le Papa de Simon và thiên truyện xuất sắc Sur l’Eau trong đoạn mô tả buổi đêm.
“Thời đại của chúng ta, khi có quá nhiều người muốn viết, thì cũng có rất nhiều người có tài năng nhưng không biết vận dụng vào việc gì, hoặc liều lĩnh áp dụng vào những điều sai trái và không nên được mô tả chút nào,” tôi nghĩ. Thế là tôi nói với Turgenev. Và tôi quên tiệt Maupassant.
Tác phẩm tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Une Vie, do ai đó khuyên tôi đọc. Cuốn sách này ngay lập tức khiến tôi thay đổi suy nghĩ về Maupassant, và sau đó tôi hứng thú đọc mọi thứ được viết dưới tên anh ta. Une Vie là một tiểu thuyết trác tuyệt, không chỉ là tiểu thuyết hay nhất của Maupassant, mà còn gần như là tiểu thuyết Pháp hay nhất kể từ Les Misérables của Hugo. Ngoài sức mạnh đáng kể của tài năng, tức là sức tập trung đặc biệt mãnh liệt dành cho chủ đề, nhờ đó nhà văn nhìn thấy những nét hoàn toàn mới trong cuộc sống mà anh ta mô tả, tiểu thuyết này còn kết hợp, gần như ở mức độ ngang bằng, cả ba điều kiện của một tác phẩm nghệ thuật đích thực:
- mối quan hệ đúng đắn, tức là mối quan hệ đạo đức, của tác giả với chủ đề,
- vẻ đẹp của hình thức,
- sự chân thành, tức là tình yêu dành cho những gì tác giả mô tả.
Ở đây, ý nghĩa của cuộc sống không còn được tác giả nhìn nhận qua những trải nghiệm của các nhân vật phóng đãng nữa, mà nội dung, như tựa đề đã tiết lộ, là mô tả về cuộc đời của một người phụ nữ ngây thơ, ngọt ngào, đón chờ mọi điều tốt đẹp, nhưng bị hủy hoại bởi chính sự thô bỉ, bởi bản năng thú vật, mà trong các câu chuyện trước đó tác giả coi là hiện tượng trung tâm của cuộc sống, chi phối mọi thứ, và ở đây sự đồng cảm của tác giả hoàn toàn hướng thiện.
Hình thức, vốn đã đẹp ngay từ những câu chuyện đầu tiên, giờ được nâng lên một tầm mức hoàn hảo, mà theo tôi, chưa một người viết viết văn xuôi Pháp nào từng đạt đến. Và, bên cạnh đó, điều quan trọng nhất, ở đây tác giả thực sự yêu thương, và yêu thương mãnh liệt, gia đình tốt đẹp mà anh ta mô tả, và thực sự khinh miệt gã đàn ông thô bỉ đã phá hủy hạnh phúc và sự bình yên của gia đình đáng mến này, và đặc biệt là của nhân vật nữ chính.
Chính vì lẽ đó mà mọi sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết này đều quá sống động và đáng nhớ: người mẹ sa ngã, ốm o, tốt bụng; người cha cao thượng, cả nể, đáng mến; và cô con gái, thậm chí còn đáng mến hơn bởi đức giản dị, sự thuần phác và tâm thế háo hức cho mọi điều tốt đẹp; mối quan hệ giữa họ, chuyến đi đầu tiên của họ, những gia bộc, láng giềng của họ, vị hôn phu so đo, thô bỉ, keo kiệt, nhỏ nhen, vô phép, người như thường lệ đã lừa dối cô gái ngây thơ bằng cách lý tưởng hóa một cách đớn hèn những tình cảm thô thiển nhất; cuộc hôn nhân; đảo Corse với những mô tả quyến rũ về thiên nhiên; rồi cuộc sống điền viên; màn lừa dối trắng trợn của gã chồng; việc gã nắm quyền kiểm soát điền trang; những mâu thuẫn của gã với ông nhạc; sự nhượng bộ của những người tốt; chiến thắng của sự trơ tráo; mối quan hệ với hàng xóm – tất cả đều là cuộc sống thực, với tất cả sự phức tạp và muôn màu muôn vẻ của nó. Nhưng không chỉ được mô tả một cách sống động và xuất sắc, tất cả còn được bao phủ bởi một giọng điệu chân thành, cảm thông, khiến người đọc bất giác bị ảnh hưởng. Người ta cảm nhận được rằng nhà văn yêu thương người phụ nữ này, rằng anh ta yêu cô không phải vì hình thức bên ngoài, mà là vì tâm hồn của cô, vì những gì tốt đẹp trong cô, và rằng anh ta đồng cảm với cô và đau khổ vì cô, và cảm giác này bất giác lan truyền sang người đọc. Những câu hỏi về lý do tại sao, vì mục đích gì mà cô gái ngây thơ này bị hủy hoại, và tại sao mọi chuyện phải như vậy, tự nhiên nảy sinh trong tâm hồn độc giả, và khiến họ khựng lại và suy ngẫm về ý nghĩa và giá trị của cuộc sống con người.
Dù có một vài khuyết điểm xuất hiện rải rác trong tiểu thuyết, như việc miêu tả chi li về làn da của thiếu nữ, hay những chi tiết không cần thiết và khó tin về việc người vợ bị ruồng rẫy, theo lời khuyên của vị linh mục, lại trở thành mẹ một lần nữa, những chi tiết tàn phá hết vẻ quyến rũ trong ngần của nữ nhân vật chính; hay câu chuyện trả thù của gã chồng bị xúc phạm, cường điệu hoá và không tự nhiên – bất chấp những khuyết điểm này, cuốn tiểu thuyết không chỉ đẹp trong mắt tôi, mà qua đó tôi không còn coi tác giả như một người kể chuyện tài năng và bỡn cợt, không biết và không muốn biết điều gì tốt, điều gì xấu, như tôi từng đánh giá anh ta qua cuốn sách đầu tiên, mà là một con người nghiêm túc, đào sâu vào cuộc sống con người và bắt đầu hiểu ra những điều trong đó.
Tiểu thuyết tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Bel-Ami.
Bel-Ami là một cuốn sách rất bẩn thỉu. Tác giả dường như phóng túng trong việc mô tả những gì lôi cuốn anh ta, và đôi khi dường như đánh mất quan điểm căn bản, phê phán đối với nhân vật chính và chuyển sang đứng về phía y; nhưng nhìn chung, Bel-Ami, giống như Une Vie, được đặt nền tảng trên một tư tưởng và cảm xúc nghiêm túc.
Trong Une Vie, tư tưởng cốt lõi là nỗi bàng hoàng trước sự tàn nhẫn vô nghĩa về cuộc đời đau khổ của một người phụ nữ đẹp, người bị hủy hoại bởi sự vô luân của một gã đàn ông; ở tiểu thuyết sau thì không chỉ là sự bàng hoàng nữa, mà còn là sự phẫn nộ của tác giả khi nhìn thấy sự thịnh vượng và thành công của một con thú thô tục, người nhờ chính sự thô bỉ của mình mà gây dựng cơ đồ và thủ đắc địa vị cao trong xã hội, cùng với sự phẫn nộ trước sự tha hóa của môi trường mà nhân vật chính công thành danh toại. Ở cuốn trước, tác giả dường như thắc mắc: “Tại sao, vì mục đích gì, sinh vật đáng yêu này bị hủy hoại? Tại sao chuyện đó lại xảy ra?” Ở cuốn sau, anh ta cơ hồ trả lời những câu hỏi đó: “Mọi thứ thuần khiết và tốt đẹp đã và đang bị hủy hoại trong xã hội chúng ta, bởi vì xã hội này thật khủng khiếp, đồi bại và vô nghĩa.”
Đoạn cuối của tiểu thuyết, tả đám cưới trong một nhà thờ thời thượng của gã bất lương chiến thắng, người được thưởng Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, với một cô gái trẻ trong trắng, con gái của người mẹ một thời chính chuyên, người mà hắn từng cám dỗ, đám cưới được giám mục ban phước và được tất cả những người tham dự công nhận đó là điều tốt đẹp và chính đáng, thể hiện ý tưởng này một cách mạnh mẽ bất thường. Trong tiểu thuyết này, dù bị cản trở bởi những chi tiết tục tĩu mà tác giả dường như thích thú, chúng ta vẫn thấy được mối quan hệ nghiêm túc của tác giả với cuộc sống.
Hãy đọc cuộc trò chuyện của nhà thơ già với Duroy, khi họ rời khỏi nhà Walters sau bữa tối, tôi nghĩ vậy. Nhà thơ già hé lộ cuộc sống trước người đối thoại trẻ tuổi và cho anh ta thấy cuộc sống như nó vốn có, với người bạn đồng hành vĩnh cửu và không thể tránh khỏi – cái chết.
“Cái chết đã nắm lấy tôi, la gueuse,” ông ta nói về cái chết. “Nó đã làm răng tôi lung lay, bứt trụi tóc tôi, làm gân cốt tôi tàn tạ, và sắp sửa nuốt chửng tôi. Tôi đã nằm trong tay nó, – nó chỉ đùa giỡn với tôi, như mèo vờn chuột ấy, biết tỏng không đời nào tôi thoát khỏi nó. Vinh quang, giàu có – tất cả phỏng có ích gì, khi không thể dùng chúng để mua được tình yêu của một người phụ nữ, thứ duy nhất khiến cuộc đời này đáng sống. Và cái chết sẽ tước đoạt điều đó. Nó sẽ cướp đoạt điều này trước tiên, rồi đến sức lực, nhiệt huyết, và chính cuộc sống. Và ai mà chẳng thế. Có vậy thôi.”
Đó là ý nghĩa của những lời nhận xét của nhà thơ già. Nhưng Duroy, người tình may mắn của tất cả những người phụ nữ mà y thích, tràn đầy nhục cảm và thôi thúc bản năng đến mức y nghe mà không nghe, hiểu mà không hiểu lời của nhà thơ già. Y có nghe và hiểu, nhưng bản năng trong y tuôn trào dữ dội đến mức cái sự thật không thể chối cãi, rằng y rồi cũng phải đối mặt với cùng một kết cục, không khiến y mảy may sợ hãi.
Chính sự mâu thuẫn nội tại này, bên cạnh ý nghĩa châm biếm, tạo nên ý nghĩa chính của Bel-Ami. Tư tưởng tương tự cũng loáng thoáng trong những phân đoạn đẹp về cái chết của nhà báo bị lao phổi. Tác giả tự đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cách giải quyết mâu thuẫn giữa tình yêu cuộc sống và nhận thức về cái chết không thể tránh khỏi, – nhưng anh ta không trả lời những câu hỏi này. Anh ta dường như đang tìm kiếm và chờ đợi, chưa đưa ra quyết định theo bất kỳ hướng nào. Do đó, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống trong tiểu thuyết này vẫn đúng đắn.
Nhưng trong các tiểu thuyết tiếp theo, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống bắt đầu trở nên rối rắm, việc đánh giá các hiện tượng của cuộc sống bắt đầu dao động, mờ nhạt, và trong các tiểu thuyết cuối thì hoàn toàn bị bóp méo.
Trong Mont-Oriol, Maupassant dường như kết hợp các động cơ của hai tiểu thuyết trước, và lặp lại chính mình về mặt nội dung. Dù có những mô tả đẹp đẽ, đầy hài hước ý nhị về một khu nghỉ dưỡng thời thượng và hoạt động của các bác sĩ ở đó, chúng ta vẫn thấy ở đây một người đàn ông, tên Paul, vừa hèn mạt vừa vô cảm như người chồng trong Une Vie, và một người phụ nữ đáng yêu, bị lừa dối, bị hủy hoại, yếu đuối, cô đơn, luôn luôn cô đơn, và vẫn cùng một sự chiến thắng lãnh đạm của sự tầm thường và sự ti tiện như trong Bel-Ami.
Tư tưởng vẫn như cũ, nhưng mối liên hệ của tác giả với những gì anh ta mô tả giờ đây yếu hơn nhiều, đặc biệt yếu so với tiểu thuyết đầu tiên. Việc phán đoán nội tâm của tác giả về điều gì tốt, điều gì xấu bắt đầu trở nên rối rắm. Dù tác giả có chủ định tinh thần là khách quan, không thiên vị, nhưng gã bất lương Paul rõ ràng nhận được sự đồng cảm tuyệt đối của tác giả. Vì lý do này, câu chuyện về tình yêu của Paul, những nỗ lực mồi chài của hắn, và thành công của hắn gây ra một ấn tượng sai lệch. Người đọc không biết liệu tác giả muốn gì – liệu anh ta muốn phơi bày sự trống rỗng và thấp hèn của Paul, người thờ ơ quay lưng lại với người phụ nữ và xúc phạm cô chỉ vì vóc dáng cô bị tàn phá do mang thai đứa con của hắn, hay ngược lại, anh ta muốn cho thấy sống như Paul là điều dễ chịu và tuyệt vời.
Trong các tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur, mối quan hệ đạo đức của tác giả với các nhân vật càng trở nên rối rắm hơn, và trong tiểu thuyết cuối cùng thì hoàn toàn biến mất. Trên tất cả các tiểu thuyết này đã in dấu sự thờ ơ, vội vã, giả tạo, và trên hết, lại là sự thiếu vắng mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cuộc sống, điều đã thấy trong những tác phẩm đầu tiên của anh ta. Điều này bắt đầu từ khi danh tiếng của Maupassant như một tác giả thời thượng được thiết lập, và anh ta phải đối mặt với cám dỗ khủng khiếp mà mọi tác giả nổi tiếng, đặc biệt là một người hấp dẫn như Maupassant, phải đối mặt. Một mặt, đó là thành công của những tiểu thuyết đầu tay, sự lăng xê của báo giới, và sự tung hô của xã hội, đặc biệt là của phụ nữ; mặt khác, đó là phần thưởng ngày càng tăng, nhưng, không theo kịp những nhu cầu ngày càng lớn; thứ nữa, đó là sự thúc ép từ các nhà xuất bản, những người cạnh tranh nhau, nịnh hót, nài gặng, và không còn đánh giá chất lượng các tác phẩm mà tác giả cung cấp, mà chỉ hân hoan chấp nhận mọi thứ xuất hiện dưới cái tên đã tạo dựng được danh tiếng với công chúng. Rõ ràng tất cả những cám dỗ này quá lớn đến mức khiến tác giả say mê: anh ta chịu khuất phục chúng, và dù tiếp tục trau chuốt các tiểu thuyết về mặt hình thức, thậm chí còn tốt hơn trước, và vẫn yêu những gì mình mô tả, anh ta không còn yêu những gì mình mô tả vì nó tốt và phải đạo, tức là vì nó được mọi người yêu mến, và ghét những gì mình mô tả không phải vì nó xấu và bị mọi người khinh bỉ, mà chỉ vì một sự tình cờ nó khiến anh ta thích thứ này, còn thứ khác thì không.
Trong tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, bắt đầu từ Bel-Ami, đều mang vết tích của sự vội vã và trên hết, của sự giả tạo. Từ đó trở đi, Maupassant không còn làm những thứ anh ta từng làm trong hai tiểu thuyết đầu tiên của mình – anh ta không còn lấy những yêu cầu đạo đức nhất định đặt nền tảng cho tiểu thuyết và dựa trên đó để mô tả hoạt động của các nhân vật, mà anh ta viết tiểu thuyết như mọi tiểu thuyết gia làng nhàng khác, tức là bịa ra những nhân vật và tình huống thú vị nhất, cảm động nhất hoặc hợp thời nhất, rồi từ đó xây dựng tiểu thuyết, trang điểm nó bằng tất cả những quan sát mà anh ta tình cờ có được và phù hợp với bộ khung của tiểu thuyết, mà không màng đến việc những sự kiện được mô tả liên quan thế nào đến các yêu cầu đạo đức. Đó là Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur.
Dù chúng ta quen đọc trong các tiểu thuyết Pháp về các gia đình sống ba người ra sao, và luôn có một gã nhân tình mà ai cũng biết trừ ông chồng, nhưng vẫn khó hiểu làm sao mà tất cả các ông chồng luôn là những kẻ ngu ngốc, mọc sừng, và lố bịch, còn tất cả những người tình, sau rốt kết hôn và trở thành những ông chồng, thì lại không lố bịch và cũng chẳng bị cắm sừng, mà được xem là những bậc trượng phu. Và càng khó hiểu hơn làm sao tất cả phụ nữ đều phóng đãng về mặt đạo đức còn tất cả các bà mẹ thì đều thánh thiện.
Chính trên những tình huống gượng ép, vô lý, và trên hết, vô cùng phi đạo đức này mà Pierre et Jean và Fort comme la Mort được cấu tứ nên, thành thử những đau khổ của các nhân vật trong những cảnh huống này không gây ở ta nhiều mối xúc động. Người mẹ của Pierre và Jean, người đã sống cả đời để lừa dối chồng mình, ít khơi gợi được sự đồng cảm khi phải thú nhận tội lỗi với con trai, và còn ít hơn nữa khi bà ta tự biện bạch, khẳng định rằng bà ta không thể không nắm bắt cơ hội hạnh phúc xảy đến với mình. Chúng ta càng ít thông cảm hơn với người đàn ông trong Fort comme la Mort, người suốt đời lừa dối bạn mình, dụ dỗ vợ bạn, và giờ lại than thở vì, khi đã già, không thể làm hỏng nốt cô con gái của tình nhân. Nhưng tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, thậm chí không có bất kỳ vấn đề nội tại nào, ngoài việc mô tả đủ mọi sắc thái của đam mê thể xác. Những gì được mô tả là một kẻ phóng đãng, nhàn cư, chán chường, không biết mình muốn gì, lúc thì gặp một người phụ nữ cũng phóng đãng, tinh thần suy đồi, không có cả sự biện minh của bản năng, lúc thì chia tay cô ta và quen một cô gái hầu phòng, rồi lại quay về với người đầu tiên và dường như chung chạ cả hai. Dù trong Pierre et Jean và Fort comme la Mort có những phân đoạn cảm động, tiểu thuyết cuối cùng này chỉ gây ra cảm giác ghê tởm.
Câu hỏi trong tiểu thuyết đầu tiên của Maupassant, Une Vie, được đặt ra thế này: Đây là một con người đứng đắn, thông minh, dễ mến, sẵn sàng cho mọi điều tốt đẹp, nhưng vì lý do nào đó, con người này phải hy sinh trước tiên cho một gã chồng thô lậu, nhỏ nhen, ngu ngốc, và rồi cho một người con trai cũng y thế, và chết đi vô nghĩa, không để lại gì cho thế gian. Điều này cốt để làm gì? Tác giả đặt câu hỏi như vậy, và dường như không đưa ra câu trả lời. Nhưng cả tiểu thuyết của anh ta, tất cả những xúc cảm đồng điệu với cô ấy và sự ghê tởm với những gì đã hủy hoại cô, chính là câu trả lời cho câu hỏi của anh ta. (…) Trong tiểu thuyết tiếp theo, Bel-Ami, câu hỏi không còn là tại sao người đáng kính lại chịu đau khổ, mà là tại sao kẻ không xứng đáng lại được hưởng giàu sang và vinh hiển. Và giàu sang, vinh hiển này là gì, và chúng được thủ đắc như thế nào? Và cũng như trước, câu hỏi này chứa đựng một câu trả lời, đó là sự phủ nhận mọi thứ được đám đông tôn sùng. Nội dung của tiểu thuyết thứ hai này vẫn nghiêm túc, nhưng mối liên hệ đạo đức của tác giả với chủ đề được mô tả đã suy yếu đáng kể, và trong khi ở tiểu thuyết đầu tiên chỉ thi thoảng mới xuất hiện vài vết nhơ của sự thô tục làm hỏng tiểu thuyết, thì ở Bel-Ami, những vết nhơ này loang rộng, và nhiều chương được viết trong sự tục tĩu thuần túy mà tác giả dường như cảm thấy thích thú.
Trong tiểu thuyết tiếp theo, Mont-Oriol, những câu hỏi tại sao và vì mục đích gì mà người phụ nữ đáng yêu phải chịu đau khổ và gã đàn ông man rợ lại thành công và vui vẻ không còn được đặt ra nữa, mà dường như được giả định rằng mọi chuyện phải như vậy, và những yêu cầu đạo đức hầu như tắt bặt; thay vào đó ở đây xuất hiện những mô tả tục tĩu, thô lậu, không cần thiết và không được khơi gợi bởi bất kỳ yêu cầu nghệ thuật nào. Một ví dụ nổi bật về sự xúc phạm nghệ thuật này, do mối quan hệ sai lầm của tác giả với chủ đề, là mô tả chi tiết về vẻ ngoài của nữ chính trong bồn tắm, được phô bày trong cuốn tiểu thuyết. Mô tả này hoàn toàn vô ích, và hoàn toàn không tương quan đến ý nghĩa bên ngoài hay bên trong của tiểu thuyết: những bong bóng bám vào cơ thể hồng hào.
“Thế thì sao?” người đọc hỏi.
“Chỉ vậy thôi,” nhà văn trả lời. “Tôi tả thế, vì tôi thích thế.”
Trong hai tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean và Fort comme la Mort, ta không còn thấy bất kỳ yêu cầu đạo đức nào. Cả hai tiểu thuyết đều được xây dựng trên sự phóng đãng, lừa dối, và xảo trá, những thứ đã đẩy các nhân vật đến những tình huống bi kịch.
Trong tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, tình trạng của các nhân vật là kỳ quái, man rợ và vô đạo nhất, và những nhân vật này không còn đấu tranh với bất cứ điều gì, mà chỉ tìm kiếm lạc thú, của dục vọng, của bản năng, của tình dục, và tác giả dường như hoàn toàn đồng cảm với những nỗ lực của họ. Kết luận duy nhất có thể rút ra từ tiểu thuyết cuối này là hạnh phúc lớn nhất trong đời là giao hợp thể xác, và vì thế, chúng ta phải tận dụng niềm hạnh phúc này một cách khoan khoái nhất.
Còn đáng kinh ngạc hơn trong mối quan hệ phi đạo đức với cuộc sống là điều được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng Yvette. Nội dung của tác phẩm cực kỳ vô đạo này như sau: một cô gái quyến rũ, với tâm hồn thơ ngây, nhưng bị tha hóa bởi những kiểu cách mà cô học được từ môi trường suy đồi của mẹ mình, đã khiến một gã phóng đãng say mê. Hắn yêu cô, nhưng tưởng rằng cô gái chủ tâm nói những lời lẽ gợi tình ngu ngốc mà cô thu lượm trong môi trường của mẹ mình, và lặp lại như một con vẹt, không hiểu gì, nên hắn đồ rằng cô nàng hẳn đã sa đoạ, và bất nhã đề nghị một mối lang chạ. Đề nghị này khiến cô thất đảm và bị xúc phạm (cô yêu hắn), mở mắt cho cô về vị trí của mình và của mẹ, khiến cô đau khổ sâu sắc. Tình huống cảm động – sự xung đột giữa vẻ đẹp của tâm hồn ngây thơ với sự đồi truỵ vô luân của thế giới – được mô tả một cách tuyệt bích, và đáng lẽ nên dừng lại ở đây, nhưng tác giả, không vì bất kỳ nhu cầu ngoại tại hay nội tại nào, tiếp tục câu chuyện và cho người đàn ông này lẻn đến chỗ cô gái vào ban đêm và quyến rũ cô. Trong phần đầu của tiểu thuyết, tác giả rõ ràng đứng về phía cô gái, nhưng ở phần sau thì anh ta đột nhiên chuyển sang ủng hộ gã phóng đãng. Ấn tượng này phá hủy ấn tượng kia, và cả tiểu thuyết tan rã, vỡ vụn, như một ổ bánh chưa được nhào kỹ.
Trong tất cả các tiểu thuyết sau Bel-Ami (tôi không nói đến các truyện ngắn, vốn là công lao và danh tiếng chính yếu của anh ta, – về điều này chúng tôi sẽ nói sau), Maupassant rõ ràng đã đầu hàng cái tư tưởng, không chỉ tồn tại trong giới của anh ta ở Paris, mà giờ đây tồn tại ở khắp nơi trong giới nghệ sĩ, rằng một tác phẩm nghệ thuật không chỉ không cần có ý niệm rõ ràng về điều gì tốt, điều gì xấu, mà ngược lại, nghệ sĩ phải tuyệt đối gạt sang bên mọi hoài nghi đạo đức – rằng đó là một phần công lao của người nghệ sĩ. Theo đó, một nghệ sĩ có thể và phải mô tả những gì có thật, những gì tồn tại, hoặc những gì đẹp, tức là những gì làm hài lòng anh ta, hoặc thậm chí những gì có thể hữu ích như tư liệu cho “khoa học,” nhưng việc bận tâm về điều gì là đạo đức hay phi đạo đức, là phải hay trái thì không phải chuyện của nghệ sĩ.
Tôi nhớ một họa sĩ nổi tiếng từng cho tôi xem bức tranh của ông về một đám rước tôn giáo. Mọi thứ được vẽ rất tinh xảo, nhưng tôi không thấy bất kỳ mối tương quan nào giữa nghệ sĩ với chủ đề của mình.
“Thế ông cho rằng những nghi lễ này là tốt, và nên được thực hiện, có hay không?” tôi hỏi họa sĩ.
Họa sĩ trả lời tôi, với chút giọng điệu ban ơn cho sự ngây thơ của tôi, rằng ông ta không biết và cảm thấy không cần phải biết: việc của ông là khắc hoạ cuộc sống.
“Nhưng ít nhất ông cũng yêu thích điều này chứ?”
“Chuyện này cũng khó nói.”
“Thế ông có khinh miệt những nghi lễ này không?”
“Không yêu mà cũng không ghét,” người nghệ sĩ thời thượng, có học thức trả lời với nụ cười thương hại cho sự ngu độn của tôi, người đã thể hiện cuộc sống mà không hiểu ý nghĩa của nó và không yêu hay ghét các hiện tượng của nó.
Đáng tiếc là Maupassant cũng nghĩ như vậy.
Trong phần giới thiệu cho Pierre et Jean, anh ta nói rằng công chúng bảo nhà văn: “Hãy an ủi tôi, hãy làm tôi vui, làm tôi buồn, làm tôi cảm động, làm tôi mơ màng, làm tôi cười, làm tôi rẩy, làm tôi khóc, làm tôi suy nghĩ. Chỉ riêng vài đầu óc ưu việt yêu cầu nghệ sĩ: hãy làm cho tôi cái gì đẹp, trong hình thức nào phù hợp với bạn nhất, tuỳ theo tạng của bạn.”
Chính để đáp ứng yêu cầu của những đầu óc ưu việt này mà Maupassant đã viết các tiểu thuyết của mình, ngô nghê tưởng rằng cái được coi là đẹp trong giới của anh ta cũng là cái đẹp mà nghệ thuật nên phụng sự.
Trong cùng giới mà Maupassant sinh hoạt, phụ nữ, một người phụ nữ trẻ, đẹp, thường là khỏa thân, và việc giao hợp với cô ta, được coi là cái đẹp mà nghệ thuật phải phục tùng. Quan điểm này không chỉ được hậu thuẫn bởi các đồng nghiệp “nghệ thuật” của Maupassant, như họa sĩ, điêu khắc gia, tiểu thuyết gia và thi sĩ, mà còn bởi các triết gia, những người thầy của thế hệ trẻ.
(…)
Vậy là, trong giới mà Maupassant đã sinh trưởng và được giáo dục, việc khắc hoạ vẻ đẹp phái nữ và tình yêu đã được cân nhắc rất nghiêm túc, như một điều được xác quyết từ lâu bởi những người thông minh và uyên bác nhất, là vấn đề thực sự của nghệ thuật đỉnh cao – le grand art.
Chính tư tưởng này, khủng khiếp vì sự vô vị của nó, mà Maupassant đã phải gánh chịu khi trở thành một nhà văn thời thượng. Và, như dự đoán, trong các tiểu thuyết, lý tưởng sai lệch này đã dẫn Maupassant đến một loạt những sai lầm và các tác phẩm ngày càng yếu kém hơn.
Điều này cho thấy sự khác biệt căn bản giữa các yêu cầu cho tiểu thuyết và truyện ngắn. Tiểu thuyết, ngay cả về mặt vấn đề bề mặt, đặt ra nhiệm vụ là mô tả toàn bộ cuộc đời của một con người hoặc nhiều cuộc đời, và vì thế tiểu thuyết gia phải có một khái niệm rõ ràng và vững chắc về điều gì tốt, điều gì xấu trong cuộc sống, và Maupassant thì thiếu sót điều này; trái lại, theo lý tưởng mà anh ta noi theo, người ta còn cho rằng điều đó là không cần thiết. Nếu anh ta là một nhà văn bất tài như một vài tiểu thuyết gia viết dâm thư , anh ta sẽ bình thản mà mô tả cái xấu như cái tốt, và các tiểu thuyết của anh ta sẽ đủ đầy và thú vị đối với những người chung quan điểm với tác giả. Nhưng Maupassant có tài năng, tức là anh ta nhìn thấy mọi thứ trong hình dạng thực của chúng, và vì thế anh ta vô tình phơi bày sự thật: anh ta vô tình nhìn thấy cái xấu trong những gì anh ta muốn coi là tốt. Vì lý do này, sự đồng cảm của anh ta liên tục dao động trong tất cả các tiểu thuyết của mình, ngoại trừ tiểu thuyết đầu tiên: lúc thì anh ta mô tả cái xấu như cái tốt, lúc thì nhận ra cái xấu là xấu và cái tốt là tốt, và lúc thì cứ nhảy từ cái này sang cái kia. Nhưng điều này phá hủy chính bản chất của mọi ấn tượng nghệ thuật, charpente, nền tảng mà trên đó anh ta đứng vững. Những người không nhạy cảm lắm với nghệ thuật thường tưởng rằng một tác phẩm nghệ thuật cấu thành một thể thống nhất, vì có cùng những nhân vật hành động xuyên suốt, vì mọi thứ được xây dựng trên cùng một cốt truyện, hoặc vì mô tả cuộc đời của cùng một người. Điều này không đúng. Nó chỉ gây cảm tưởng như vậy với kẻ quan sát hời hợt thôi: chất keo kết dính mọi tác phẩm nghệ thuật thành một thể thống nhất và tạo ra ảo giác về sự phản ánh cuộc sống không phải là sự thống nhất của các nhân vật và tình huống, mà là sự thống nhất trong mối quan hệ đạo đức cốt lõi của tác giả với chủ đề của mình. Thực tế, khi chúng ta đọc hoặc chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn mới, câu hỏi căn bản luôn nảy sinh trong lòng chúng ta là: “Này, anh là người như thế nào? Anh khác gì với tất cả những người mà tôi biết, và anh có thể nói gì mới mẻ với tôi về cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc sống của mình?” Dù nghệ sĩ mô tả gì – thánh nhân, kẻ cướp, vua chúa, tôi đòi – chúng ta chỉ đang tìm kiếm và nhìn ngắm tâm hồn của người nghệ sĩ. Nếu đó là một nghệ sĩ quen thuộc, câu hỏi không còn là “anh là ai?” mà là, “Này, anh có thể nói gì mới mẻ với tôi? Anh sẽ rọi sáng cuộc đời tôi từ góc độ mới nào?” Và vì thế, một tác giả không có quan điểm rõ ràng, độc đáo về thế giới, và càng tệ hơn, người không coi điều này là cần thiết, thì không thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Anh ta có thể viết hay, và viết nhiều, nhưng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật nào cả. Đó chính là trường hợp của Maupassant trong các tiểu thuyết của anh ta. Trong hai tiểu thuyết đầu tiên, đặc biệt là Une Vie, ta thấy một mối liên hệ rõ ràng, dứt khoát, độc đáo với cuộc sống, và vì thế ta có một tác phẩm nghệ thuật; nhưng ngay khi anh ta, khuất phục trước tư tưởng thời thượng, quyết định rằng không cần bất kỳ mối liên hệ nào của tác giả với cuộc sống, và bắt đầu viết chỉ để faire quelque chose de beau [tạo ra thứ gì đó đẹp], các tiểu thuyết của anh ta không còn là những tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong Une Vie và Bel-Ami, tác giả biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét, và người đọc đồng thuận với anh ta và tin tưởng anh ta, tin vào những nhân vật và sự kiện được mô tả. Nhưng trong Notre Coeur và Yvette, tác giả không biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét; người đọc cũng không biết. Và vì người đọc không biết, họ không tin vào các sự kiện được mô tả và không đoái hoài đến chúng. Vì thế, ngoại trừ hai tiểu thuyết đầu tiên, hoặc nói đúng ra, chỉ một tiểu thuyết đầu tiên, tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, với tư cách là tiểu thuyết, đều yếu kém; và nếu Maupassant chỉ để lại cho chúng ta các tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ là một minh chứng điển hình cho việc một tài năng xuất chúng có thể tàn lụi ra sao do môi trường sai lầm mà trong đó nó phát triển, và do những tư tưởng nghệ thuật sai lầm được thiết lập bởi những người không yêu nghệ thuật và vì thế không hiểu nó. Nhưng may mắn thay, Maupassant đã viết những truyện ngắn, trong đó anh ta không khuất phục trước tư tưởng lệch lạc mà anh ta đã chấp nhận, và viết, không phải quelque chose de beau [thứ gì đó đẹp], mà là những gì chạm đến và khơi gợi xúc cảm đạo đức của anh ta. Chính trong những truyện ngắn này, không phải tất cả, mà là trong những truyện hay nhất, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành về mặt đạo đức của nhà văn.
Thật sự mà nói, chính ở đây, ở phẩm chất đáng chú ý của mọi tài năng đích thực, miễn là nó đừng tự làm phương hại mình dưới ảnh hưởng của một tư tưởng sai lầm, rằng nó dạy cho người sở hữu nó, dẫn dắt anh ta trên con đường phát triển đạo đức, sẽ khiến anh ta yêu những gì đáng được yêu, và ghét những gì đáng bị ghét. Một nghệ sĩ là nghệ sĩ chính vì anh ta nhìn thấy các đối tượng, không phải như anh ta muốn thấy, mà như bản chất đích thực của chúng. Người mang trong mình tài năng – con người – có thể mắc sai lầm, nhưng tài năng, một khi được nới lỏng, như Maupassant đã làm trong các truyện ngắn của mình, sẽ phô bày và bộc lộ chủ đề, khiến nhà văn yêu nó, nếu nó đáng được yêu, và ghét nó, nếu nó đáng bị ghét. (…) Hiếm có nhà văn chân thành nghĩ rằng tất cả những điều tốt đẹp, toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống nằm ở phụ nữ, ở tình yêu, và mô tả phụ nữ và tình yêu của cô ấy từ mọi góc độ với sức đam mê như vậy, và hiếm có nhà văn nào, với sự minh xác như vậy, từng chỉ ra tất cả những mặt khủng khiếp của cùng một hiện tượng, mà với anh ta dường như là cao cả nhất, mang lại điều tốt đẹp lớn lao nhất cho con người. Càng hiểu sâu hơn về hiện tượng này, nó càng trở nên chân xác; những tấm màn che đậy rơi xuống, và tất cả những gì còn lại là những hậu quả khủng khiếp của nó và thực tại còn khủng khiếp hơn.
Hãy đọc Idiot Son, A Night with the Daughter (L’Ermite), The Sailor and His Sister (Le Port), Field of Olives, La Petit Roque, Miss Harriet, Monsieur Parent, L’Armoire, The Marriage trong Sur l’Eau, và biểu trưng tối hậu của mọi thứ, Un Cas de Divorce.
(…)
Sự trưởng thành đạo đức mãnh liệt của Maupassant, trong suốt văn nghiệp của anh ta, được đánh dấu bằng những dấu tích không thể xóa nhòa trong những truyện ngắn tuyệt vời này và trong cuốn sách hay nhất của anh ta, Sur l’Eau.
Và không chỉ trong việc lật tẩy, sự lật tẩy bất tự giác và vì thế càng mạnh mẽ hơn của đam mê nhục dục, mà chúng ta thấy được sự trưởng thành đạo đức của tác giả; chúng ta cũng thấy điều đó trong tất cả những yêu cầu ngày càng cao hơn mà anh ta đặt ra cho cuộc sống.
Không riêng trong đam mê thể xác mà anh ta thấy được mâu thuẫn nội tại giữa các ước vọng của con người bản năng và con người lý trí, – anh ta thấy điều đó trong toàn bộ cấu trúc của thế giới.
Anh ta thấy rằng thế giới, thế giới vật chất, như nó đang tồn tại, không chỉ không phải là thế giới tốt nhất, mà ngược lại, có thể hoàn toàn khác – ý tưởng này được thể hiện một cách ấn tượng trong Horla – và không đáp ứng được các đòi hỏi của lý trí và tình cảm; anh ta thấy rằng có một thế giới khác, hoặc ít nhất là những ước vọng cho một thế giới như vậy, trong tâm hồn con người.
Anh ta bị dày vò, không chỉ bởi sự phi lý của thế giới vật chất và sự thiếu vắng vẻ đẹp trong đó, mà còn bởi sự thiếu vắng tình yêu, bởi sự chia rẽ của nó. Tôi không biết tiếng kêu tuyệt vọng nào của một con người lầm lạc, ngộ ra sự cô đơn của mình, lại đau lòng hơn lời cầu cứu trong câu chuyện tuyệt vời Solitude.
Hiện tượng khiến Maupassant đau khổ hơn bất kỳ điều gì khác, và anh ta thường xuyên trở lại, là trạng thái cô đơn khốn khổ, trạng thái cô đơn tinh thần của con người, rào cản ngáng giữa người này và người khác, cái rào cản mà, như anh ta nói, thể xác càng gần gũi bao nhiêu thì tinh thần càng đau đớn bấy nhiêu.
Điều gì khiến anh ta đau khổ? Và anh ta muốn gì? Điều gì đạp tan rào cản này, chấm dứt nỗi cô đơn này? Tình yêu, không phải tình yêu với phụ nữ, thứ mà anh ta đã chán ngấy, mà là thứ tình yêu tinh thần, thuần khiết, thiêng liêng. Và đó là điều mà Maupassant đã tìm kiếm; hướng tới vị cứu tinh của cuộc đời, thứ đã được hé lộ rõ ràng từ lâu cho mọi người, anh ta đau đớn kéo lê những xiềng xích mà anh ta cảm thấy đang trói buộc mình.
Anh ta chưa thể gọi tên điều mình đang tìm kiếm, anh ta không muốn chỉ gọi tên nó bằng miệng, vì sợ làm ô uế nơi thánh địa của mình. Nhưng khát vọng chưa được đặt tên của anh ta, được thể hiện qua nỗi kinh hoàng trước cảnh cô đơn, chân thành đến mức lan toả sang chúng ta và cuốn hút chúng ta mạnh mẽ hơn nhiều, rất nhiều các bài giảng về tình yêu, những bài giảng chỉ được thốt ra bằng lời.
Bi kịch cuộc đời Maupassant nằm ở chỗ, sống trong một môi trường khủng khiếp vì sự quái dị và phi đạo đức của nó, anh ta bằng sức mạnh của tài năng, bằng tia sáng đặc biệt bên trong, đã vượt ra khỏi thế giới quan của tầng lớp mình, đã đạt gần đến sự giải phóng, đã hít thở bầu không khí tự do, nhưng, sau khi tiêu hao chút sức tàn trong cuộc đấu tranh này, đã gục ngã mà vẫn không được tự do, vì anh ta không đủ sức để thực hiện nỗ lực sau chót này.
Bi kịch của sự sụp đổ này nằm ở cùng một điều mà nó vẫn tiếp tục xảy đến với phần lớn những người được gọi là con người của thời đại chúng ta.
Con người nói chung chưa bao giờ sống mà không có lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống mà họ đang sống. Ở mọi nơi và mọi thời, đã xuất hiện những con người cấp tiến, giàu thiên tư, những nhà tiên tri, như cách họ được gọi, những người đã diễn giải ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc sống cho con người, và vào mọi thời đại, những người bình thường, những người không đủ sức tự làm sáng tỏ ý nghĩa này, đã noi theo lời giải thích về cuộc sống mà các nhà tiên tri của họ đã hé lộ.
Ý nghĩa này đã được Kitô giáo giải thích một cách đơn giản, rõ ràng, không thể ngờ vực và chan chứa vui mừng cách đây một nghìn tám trăm năm, như được chứng minh bởi cuộc sống của tất cả những người đã chấp nhận ý nghĩa này và đi theo chỉ dẫn cuộc sống phát sinh từ ý nghĩa đó.
Nhưng đã xuất hiện những người diễn giải ý nghĩa này theo cách mà nó thành ra vô nghĩa. Và con người rơi vào thế lưỡng nan – liệu có nên công nhận Kitô giáo, như cách nó được diễn giải bởi Công giáo, Lourdes, Giáo hoàng, giáo điều về sự thụ thai vô nhiễm, v.v., hay sống tiếp, được dẫn dắt bởi những chỉ huấn của Renan và những người tương tự, tức là sống mà không có bất kỳ chỉ dẫn và sự hiểu biết nào về cuộc sống, đầu hàng những dục vọng của họ khi chúng còn sôi sục, và theo những thói quen, khi đam mê đã lắng xuống.
Và con người, những người bình thường, chọn cái này hoặc cái kia, đôi khi cả hai, đầu tiên là phóng đãng, rồi tìm đến Công giáo. Và con người tiếp tục sống như vậy qua nhiều thế hệ, bao bọc bản thân bằng những lý lẽ khác nhau, những lý lẽ không nhằm tìm ra sự thật, mà cốt để che giấu nó. Và những người bình thường, đặc biệt là những người ù lì, thì lại cảm thấy dễ chịu.
Nhưng cũng có những người khác – rất ít và cách biệt nhau – và Maupassant là một trong số họ, những người với đôi mắt của mình nhìn thấy mọi thứ như đúng bản chất của chúng, thấy được ý nghĩa của chúng, thấy cả những mâu thuẫn của cuộc sống, những mâu thuẫn bị che mắt khỏi người đời, và hình dung một cách sống động những mâu thuẫn này sẽ dẫn họ đến đâu, và dự kiến những giải pháp. Họ tìm kiếm chúng ở mọi nơi, ngoại trừ nơi chúng có thể được tìm thấy, trong Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đối với họ dường như đã lỗi thời, ngu ngốc và đáng ghê tởm bởi sự quái dị của nó. Cố gắng trong vô ích để tự mình tìm ra những giải pháp này, họ đi đến kết luận rằng không có giải pháp nào cả, rằng đặc tính của cuộc sống nằm ở việc mang trong mình những mâu thuẫn còn bỏ ngỏ này. Khi đã đạt được giải pháp như vậy, những người này, nếu bản chất họ yếu đuối, thiếu nhiệt tâm, sẽ thoả hiệp với một cuộc sống quẩn quanh như vậy, thậm chí tự hào về tình trạng của mình, coi sự thiếu hiểu biết của mình là một công trạng, một dấu hiệu của văn hoá; nhưng nếu bản chất họ mạnh mẽ, trung thực, và tài năng, như Maupassant, họ không thể chịu đựng nổi và theo cách này hay cách khác cố thoát ra khỏi cuộc sống vô vị ấy.
Giống như những người khát nước trong sa mạc tìm kiếm nước ở mọi nơi, ngoại trừ ở gần những người đứng giữa một dòng suối, sẽ làm ô uế nó và đưa lại bùn sình hôi thối thay vì nước sạch, trong khi nước vẫn tiếp tục chảy ra xa hơn, bên dưới lớp bùn. Maupassant đã ở trong tình trạng đó; anh ta không thể tin, – thậm chí không bao giờ nghĩ rằng chân lý mà anh ta hoài công kiếm tìm đã được phát lộ từ lâu và đang ở rất gần anh ta; anh ta cũng không thể tin rằng một người có thể sống trong một mâu thuẫn mà anh ta cảm thấy mình đang sống.
Cuộc sống, theo những lý thuyết mà anh ta được nuôi dưỡng, những tư tưởng bao quanh anh ta, và được xác minh bởi tất cả những đam mê tuổi trẻ và bản chất mạnh mẽ về tinh thần lẫn thể chất của anh ta, nằm ở sự hưởng thụ, chủ yếu là phụ nữ và tình yêu với cô nàng, và trong sự hưởng thụ kép ấy – trong việc thể hiện tình yêu và khơi gợi tình yêu này ở người khác. Tất cả điều đó sẽ rất tốt, nhưng khi soi kỹ vào những sự hưởng thụ này, chúng ta thấy giữa chúng xuất hiện những hiện tượng hoàn toàn xa lạ và thù địch với tình yêu và vẻ đẹp kia: người phụ nữ vì lý do nào đó trở nên xấu xí, khi mang thai trông đến phát hoảng, sinh đẻ trong sự dơ bẩn, rồi thêm những đứa con khác, những đứa con không mong muốn, rồi những sự lừa dối, tàn nhẫn, rồi những khổ đau tinh thần, rồi đơn giản là tuổi già, và sau cùng là cái chết.
Vậy, vẻ đẹp này có thực sự là vẻ đẹp không? Và rốt cuộc, tất cả để làm gì? Sẽ thật tuyệt nếu có thể chặn đứng cuộc sống. Nhưng nó vẫn tiếp diễn. “Cuộc sống tiếp diễn” nghĩa là sao? Cuộc sống tiếp diễn, nghĩa là – tóc bạc và rụng dần, răng thì móm, xuất hiện nếp nhăn, và miệng có mùi. Ngay cả trước khi mọi sự kết thúc, tất cả trở nên kinh hoàng và gờm tởm: ta nhận ra lớp phấn son bôi trét, mùi mồ hôi, sự hôi hám, sự khả ố. Thứ mà tôi hằng phụng sự đâu rồi? Cái đẹp ở đâu? Mà nó lại là tất cả. Nếu không có nó – thì không có gì cả. Cuộc sống cũng không.
Nhưng chưa hết, không chỉ không có cuộc sống trong những thứ dường như chứa đựng cuộc sống, mà chính ta cũng bắt đầu xa rời nó, trở nên tàn tạ, yếu ớt, mục ruỗng, trong khi những người khác, ngay trước mắt ta, tước đoạt từ ta những niềm vui mà toàn bộ điều tốt đẹp của cuộc sống nằm trong đó. Hơn thế nữa: bắt đầu le lói khả năng của một cuộc sống khác, một điều gì đó khác biệt, một mối liên hệ khác của con người với toàn bộ thế giới, thanh trừ tất cả những sự dối trá kia, điều gì đó không thể bị băng hoại bởi bất cứ thứ gì, tỏ chân lý và đẹp đẽ trường tồn. Nhưng điều đó không thể có – nó chỉ là một cái nhìn tréo ngoe về một ốc đảo, khi chúng ta biết rằng nó không có thật và mọi thứ chỉ độc là cát.
Maupassant đã sống đến khoảnh khắc bi kịch của cuộc đời khi bắt đầu cuộc tranh đấu giữa sự dối trá của cuộc sống xung quanh anh ta và sự thật mà anh ta bắt đầu nhìn thấy. Anh ta đã có những dấu hiệu của sự thai nghén tinh thần.
Chính những đau đớn của sự thai nghén này được thể hiện trong những tác phẩm hay nhất của anh ta, đặc biệt là trong các truyện ngắn.
Nếu số mệnh của anh ta không phải là chết trong cơn sinh nở, mà là được thoát thai, anh ta sẽ mang lại những tác phẩm vĩ đại, giàu ý nghĩa giáo dục, nhưng ngay cả những gì anh ta trao cho chúng ta trong quá trình thoát thai của mình cũng đã là nhiều. Hãy biết ơn người đàn ông mạnh mẽ, trung thực này vì những gì anh ta đã đem đến cho chúng ta.
Bình luận về bài viết này