Tôi hồi tưởng lại một mùa đông sớm, giá lạnh, cách đây tầm bảy, tám năm về trước. Đầu mùa đông ấy, cầm trên tay tấm bằng tốt nghiệp, tôi vừa phấn chấn vừa lo sợ cảm thấy cái viễn cảnh sắp phải bắt đầu sống một cuộc sống tự do, độc lập, đầy hoài bão mà cũng đầy mơ hồ, mông lung. Tôi vốn sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, cũng khá dư dả về mặt vật chất. Và như mọi anh sinh viên với hầu bao không quá eo hẹp, tôi thấy chẳng việc gì phải lao đầu đi kiếm ăn ngay, mà trước mắt cứ tự thưởng cho mình một quãng giải lao đã. Trở về nhà để nghỉ ngơi, vẫn mang cái ý nghĩ đó, tôi bắt đầu chuỗi ngày rong chơi vô tư lự, suốt ngày dài chỉ nằm ườn đọc sách, sáng tối la cà với bọn bạn cũ thời cấp ba hay sang thăm nhà họ hàng để giết thời giờ.
Cần phải nói là bình sinh tính tôi đã thích nếp sống nhàn nhã, thong dong, cho nên càng ở quê lâu tôi càng đâm ra quen thói, đã lêu lổng cho hết tháng mười mà vẫn toan lần khân chuyện trở lại thủ đô để xin việc. Mẹ tôi thì vô tư, bà vốn rất nuông chiều tôi, nhưng bố tôi, đường hoàng là một quân nhân, chứng kiến con trai mình như vậy thì lấy làm gai mắt lắm. Dạo ấy ông còn đóng quân gần huyện nhà nên càng ra sức thúc giục tôi cho kỳ được. Cực chẳng đã, sang tháng mười một, tôi rục rịch khăn gói trở lại thủ đô, thâm tâm không khỏi luyến tiếc và, còn ngán ngẩm là khác, vì thực chất tôi chưa biết sẽ phải làm gì với cuộc đời mình. Chính lúc ấy thì có tin bà ngoại nhập viện.
Thoạt đầu khi mới hay tin, mẹ tôi đã cuống cuồng cả lên; bà toan đáp tàu về ngay. Thật may sao, ngay hôm sau thì ở quê đã gọi điện báo bệnh nhẹ thôi, bà ngoại sẽ điều trị ít hôm rồi được cho về nhà. Ngoài mặt thì mẹ tôi cũng tạm an tâm, nhưng tôi biết mẹ vẫn áy náy dữ lắm bởi lẽ không thể về quê túc trực bên bà. Phần vì biết thế, phần vì ham chơi, vừa hay cũng chẳng mảy may vướng bận việc gì, tôi mới ngỏ ý để tôi tranh thủ ghé qua xem sao. Tôi không nhớ trong đời có bao giờ mẹ từng biểu lộ niềm tự hào nào với tôi lớn hơn lần ấy không, và sáng sớm hai hôm sau, đích thân mẹ chở tôi ra sân ga. Trước lúc đoàn tàu lăn bánh, người dúi vào tay tôi một chiếc phong bì, bên trong vừa là tiền sinh hoạt của tôi, vừa là tiền gửi gắm cho bà ngoại. Hành lý của tôi ngoài đồ mặc trên người chỉ vỏn vẹn vài bộ quần áo và một cuốn sách dày hai trăm trang…
Quãng đường về tới huyện S. ngót nghét hai trăm cây số. Ngồi trên tàu, tôi đã định trước là mình sẽ đến ghé thăm nhà người bá, chị ruột của mẹ tôi, và nếu tiện thì có thể lưu lại dăm ba bữa. Bá là chị cả trong gia đình, người duy nhất trong ba chị em còn trụ lại cái huyện lị hẻo lánh ấy. Bá tôi tuổi trạc ngũ tuần, xưa nay ở nhà hay ra ngoài đều ăn vận rất diêm dúa, cung cách có phần trưởng giả, nhưng riêng khoản căn cơ và tháo vát thì khó ai bề nổi. Bá làm chủ một xưởng may nức tiếng nhất vùng và góa chồng từ rất lâu rồi, – ông bác rể tôi hồi còn mồ ma từng làm tới chức phó giám đốc kho bạc cơ đấy, bữa nào cũng nhắm một cút rượu và có lẽ bởi thế mà sau khi về hưu ít lâu đã đột ngột từ trần… Cả hai người con của bá đều được nuôi dưỡng trong bầu không khí đủ đầy, như những cậu ấm cô chiêu tỉnh lẻ: cô chị gái tên Vy lúc đó vừa hay đến tuổi cập kê, còn người em trai tên Quyết thì đang theo học hội hoạ ở trường mỹ thuật công nghiệp. Mặc dù cùng tuổi và cùng bôn ba trên thành phố nhưng tôi với anh ta không thân thiết gì cho cam, và thật tâm thì tôi cũng chẳng ưa cái tính giáo điều của bá tôi là mấy. Trong nhà duy có chị Vy là tôi còn muốn gần gũi hơn cả, dù rằng thường khi tính khí chị cũng ngoa ngoắt và cấm cẳn lắm…
Tôi đến nhà bá vào giữa trưa. Đương vào giữa tháng mười một, tháng của những ngày hanh hao, nắng vàng hoe nhưng lạnh vô cùng. Chung quanh im ắng, các nhà dân đã đi ngủ cả, chỉ có vài thằng nhóc lau chau đang nô đùa trên khoanh đất vừa mới dựng móng ngay cạnh cổng chào. Tôi đeo ba lô dọc theo con ngõ chật hẹp với những mặt tiền đơn điệu một màu vàng xỉn, vài nhà lớp sơn đã tróc ra thành từng mảng, có lẽ được xây từ lâu lắm rồi và thậm chí còn hơn tuổi đời tôi nữa kia. Và giữa những gia cư xập xệ cổ lỗ ấy thì ngôi nhà hai tầng kiên cố, bốn bề quét vôi trắng xóa với những ô cửa kính sáng loáng như gương của bá tôi nom có vẻ lạc quẻ và kênh kiệu lắm.
Có một cái nút bấm dưới cái đèn trụ gắn trên cột cổng xây bằng đá trắng, tôi nhấn hai lần chuông và đợi. Lát sau, tôi thấy một cô gái lạ mặt từ trong nhà bước ra. Nàng có vóc người dong dỏng, rất xinh đẹp, trông còn trẻ lắm, có lẽ chưa đến hai mươi; miệng nàng hơi rộng, đôi mắt to tròn ngước nhìn tôi lộ vẻ ngạc nhiên, lúc nàng cúi người mở then chốt cổng, tôi còn để ý thấy gò má của nàng lấm tấm tàn nhang, dải bím tóc màu hạt dẻ của nàng đung đưa ngang khuôn ngực mảnh mai, yếu ớt.
Cô gái đã trở vào nhà trước, thoăn thoắt leo lên thang gác, còn tôi cũng lập cập cởi giày bên bậc thềm tam cấp, rồi vừa xoa tay vào nhau tôi vừa men theo hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp mờ mờ tôi tối. Chị Vy nheo mắt ngó ra, vừa tháo tạp dề vừa nói bằng giọng nhả nhớt thân thuộc:
“Ái chà, ai đấy nhể? Ai mà cứ cái thói đến là đến mà đi là đi thôi, chẳng bao giờ báo trước cả!”
“Còn ai vào đây nữa,” tôi trả lời. “Đây là con người chuyên đem đến sự bất ngờ!”
“Bất ngờ thì khỏi ăn,” chị khẽ đánh vào tay tôi và nói. “Tao lỡ đổ hết đồ thừa đi rồi. Ăn tạm trứng nhé?”
“Vô tư đi,” tôi hồ hởi nói rồi kéo ghế ngồi xuống bàn ăn.
Mọi thứ cơ hồ chẳng mấy đổi khác kể từ lần cuối tôi về đây, hoặc giả nếu có thì cũng rất ít thôi: chiếc quạt trần nhám bụi cứng đờ, bất động giữa trần nhà thâm thấp; mái hiên nhỏ trổ ra sân giếng, gian bếp tinh tươm với những đáy nồi đen thui xếp đều tăm tắp trên đinh gắn tường. Còn cô chị họ của tôi thật vẫn trẻ trung, duyên dáng, hoạt bát như ngày nào – hồi ấy chị mới hai tư tuổi. Ngày thường chị ăn bận rất thoải mái theo cái mốt trên đông dưới hè bấy giờ đang được ưa chuộng: quần bò ngắn màu bạc và áo len sợi xuflê cổ tròn màu xám tro, mái tóc vấn qua loa bằng một chiếc trâm gỗ có khắc hình hai con thiên nga chụm đầu vào nhau. Tôi ngắm cánh tay trần khẳng khiu đang nhấc cao của chị rồi nói giọng đùa đùa:
“Trông bà còn trẻ hơn cả mấy đứa con gái trường tôi đấy!”
Chị vừa cười vừa liệng vỏ trứng vào bồn rửa bát:
“Chứ ai già như mày cho được. Học đâu ra cái thói để râu không biết! Thoạt đầu tao còn không nhận ra cơ đấy, cứ tưởng một ông bác nào ghé chơi mới sợ… Ái à, lại còn cặp mắt kia nữa, thật vẫn đáng ghét như ngày nào!”
“Mắt em làm sao?”
“Mắt này người ta gọi là mắt đĩ, chắc cũng hay liếc ngang liếc dọc lắm đây mà!”
“Trước nay mắt này chỉ quen nhìn thẳng thôi,” tôi trả lời, và càng lúc càng thấy thích thú hơn với cách trò chuyện bông đùa của hai chị em.
Trên bàn ăn đã dọn một đĩa trứng sốt cà chua nóng hổi, một bát cơm xới đầy ắp cũng nóng hổi y chang và hai lon bia Hà Nội ướp lạnh đặt cạnh nhau. Tôi bật nắp một lon bia, tợp một ngụm, vừa nhăn mặt vừa nói:
“Nãy ai ra mở cổng thế?”
“À, con bé An ấy mà. Nãy đang dở tay nên tao nhờ nó mở hộ. An cũng xinh phết chứ phỏng?” chị Vy nhìn tôi đầy tinh nghịch và nói. “Phải mỗi cái là hơi gầy thôi, dù nó ăn cũng chẳng phải ít.”
“Ừ, gầy thật, lưng trước lưng sau như một.”
“Ái chà, đã kịp nhìn rồi đấy! Nhưng cái này chưa khám chưa biết được đâu!”
“Ha ha! Nhưng mà từ giờ cho đến lúc đấy em vẫn cứ cho là vậy.”
“Khiếp, ăn nói tợn chưa kìa! Tôi đùa ông vậy thôi mà ông cũng đốp chát ngay được. Né né ra, nó cặp với thằng Quyết đấy. Thế nào, xịt keo rồi phỏng? Liệu cái thần hồn nha,” chị Vy nói bằng giọng đành hanh, rồi không thấy tôi trả lời, liền đế thêm: “Nghe chửa?”
Tôi hơi sửng sốt trước lời hăm doạ đột ngột và sống sượng ấy, đành cười trừ rồi lẳng lặng ăn tiếp. Chị Vy bật nắp lon bia của mình, tợp một ngụm nhỏ, dẩu môi theo kiểu đàn bà, rồi tiếp tục nhìn tôi bằng ánh mắt giễu cợt hóm hỉnh. Tôi cũng uống một hơi dài.
“Bá đang trên viện với bà à?”
“Ừ, đi cả tuần nay rồi. Cậu út thì trong Nghệ An, còn dì thì…”
“Bá bảo bà bị nhẹ nên mẹ em mới không về,” tôi lên tiếng bênh vực mẹ. “Thì em qua đây chủ yếu để xem tình hình thế nào mà. Tóm lại là bà bị nhẹ hay nặng?”
“Cái này cũng khó nói. Bà bị cái gì về mắt ấy, đại khái là không nhìn được. Khám ở huyện thì chúng nó bảo không sao, nhưng về vẫn thấy đau, thế là lại đưa lên tỉnh. Trên tỉnh vài hôm thấy không đỡ, thế là họ lại chuyển lên mắt trung ương. Tính bá mày thì mày biết rồi đấy, có bao nhiêu cũng vơ hết vào người.”
“Rốt cuộc là bà đang ở Hà Nội đúng không?”
“Ừ,” chị Vy trả lời, im lặng một lát, rồi bất chợt nói thêm, “Mày định đi thăm bà à?”
Tôi chợt tỏ ra lúng túng, và ngần ngừ rút xấp tiền từ trong ngăn ba lô ra, đặt lên bàn.
“Cái này… mẹ em nhờ gửi riêng bá để lo thuốc thang cho bà,” tôi nói mà không nhìn chị.
“Tao lạ gì cái tính của dì,” chị Vy nói xẵng, đảo mắt nhìn xấp tiền rất nhanh rồi lại ngước lên nhìn tôi bằng con mắt giễu cợt. “Nhưng mày đưa tao làm cái gì, cất đi không tao tiêu hết đấy! Chỗ này tao tính sơ sơ cũng nhiều phết đấy, chưa chi mẹ mày đã rút két rồi. À mà đừng có thưa chuyện với dì nhé, tính dì ấy đã cả lo sẵn. Tạm thời đợi xem thế nào đã, nếu không ổn thì bá sẽ báo. Cứ yên tâm là thế.”
Tâm trí tôi rối bời đến mức chẳng thiết đáp lời chị nữa. Trong một khoảng lặng, tôi cứ ngài ngại không biết mình có nên rút lại xấp tiền như lời đề nghị của chị Vy hay không, và đột nhiên nhớ ra ý định thật sự của mình khi đến đây là gì, tôi thấy chán nản thế nào ấy. Chị tiếp tục nhìn tôi bằng ánh mắt dò xét, và sau cuối chị điềm nhiên mở phong bì ra, miệng lẩm bẩm nhẩm tính, rồi sau rốt đặt lại về chỗ cũ.
“Học xong rồi chứ hả?”
“Xong rồi,” tôi trả lời. “Chuẩn bị lên xin việc đây.”
“Vội thế à? Nhưng đang cuối năm chắc xin khó đấy, để sang Tết dương xin có phải tốt hơn không? Hoặc không sau Tết xin cũng được, chẳng sao. Cứ ở đây chơi ít hôm rồi lên… Sao, thế có tiện không?”
“Chị mời là em ở lại thật đấy! Thật ra em cũng chưa muốn đi làm lắm,” tôi trả lời, không giấu được nỗi hồ hởi trong lòng, và lập tức xấu hổ ngay: “Ơ, nhưng nếu thế thì vụ thăm bà tính sao?”
“Tao cứ tưởng mày bận công bận việc gì, còn đang rỗi hơi thì cứ ở đây cũng được chứ sao. Nói thật chứ bá mày lo tất tật rồi, giờ đợi xem bệnh viện họ chốt thế nào đã. Sáng tao cũng vừa gọi điện cho thằng Quyết. Nó bảo hai, ba tuần nữa thi xong mới vào được, nếu đến lúc đó bà vẫn trong viện thì hai thằng cùng vào thăm bà. Thế cho bà vui! Mà nếu bà được cho về sớm thì bà cũng về đây chứ đâu,” chị Vy nói bằng giọng thản nhiên như thể mọi chuyện đều tươm tất cả. “À mà, nhắc mới nhớ, hai thằng trên đấy có hay rủ nhau đi đá bóng không?”
“Chẳng bao giờ,” tôi trả lời. “Với cả em nghỉ bóng bánh lâu rồi.”
“Chán nhở!” chị nói như tự nói với chính mình. “Mày vẫn giận nó phải không?”
Tôi bình thản nhún vai.
“Lại chẳng,” chị nói tiếp, “từ sau vụ ấy mày ít về đây hẳn… Chân đến mùa này chắc buốt lắm hở? Chậc, không muốn nói thì thôi vậy! Sao mày cứ vân vê ria mép mãi thế, để yên ngắm tý xem nào… Thế đấy, trông thế này chắc bá cũng chẳng nhận ra mất, chả mấy mà lấy vợ thôi…”
“Còn lâu đi,” tôi nói, “riêng chuyện cưới xin thì phải nói về chị mới đúng chứ. Chị với ông Huấn định bao giờ phát thiệp đây?”
“Chia tay lâu rồi!”
“Sao lại chia tay?”
Chị Vy bật cười:
“Nhà ông ấy xa bỏ mẹ! Đã thế còn là con trưởng mới chết, cỗ bàn rồi lễ lạt cái gì cũng đến tay. Tao gạ ông ấy về đây ở rể mà không chịu, nhất quyết phải về quê nội cơ! Thế là thôi, chấm hết! Giờ mày tìm đâu ra cho tao một thằng chịu ở rể thì tao cưới ngay.”
“Thôi thì chúc chị sớm tìm được người như thế!”
Và chúng tôi lại cụng lon. Dưới chiếc đồng hồ quả lắc trên tường có một bức tranh khổ rộng, không nhìn ra hình thù gì, chỉ có những đốm sơn loang lổ trên lớp toan được ánh đèn trần rọi chiếu làm cho sáng loáng. Tôi khẽ chạm vào lớp toan.
“Tranh của thằng Quyết đấy,” chị Vy nhanh nhảu nói. “Bức này trước đoạt giải nhì, được đem đi triển lãm hai tuần. À, đợt này đang kỳ tốt nghiệp nên trường nó cũng có triển lãm thì phải. Mà nói thật nhé, tao chẳng nhìn ra nó vẽ cái gì. Chắc do mình không có chuyên môn nên thế. Thôi thì kệ cha nó, nó vẽ vời ra sao thì vẽ, mai mốt nuôi được cái mồm nó là ấm rồi. Bá mày thì cứ khách đến chơi là lại dẫn vào khoe tranh con trai. Con bé An cũng thế nốt, suốt ngày ngắm tranh rồi thì ‘anh Quyết của em’, ‘anh Quyết sắp về chưa chị?’ Buồn cười, tao mới bảo: ‘Mẹ mày chứ! Người yêu mày chứ người yêu tao đâu mà tao biết!’.”
Tôi vừa cười vừa nói bằng giọng bỡn cợt:
“Thế con bé kia nhà ở đâu? Ngày nào nó cũng qua đây chơi à?”
“An là cháu bà Thắm, nhà ngay đầu dốc kia kìa. Bà Thắm trước ghi lô đề ấy! Đấy, giờ thì nhớ chưa? Thì con bé này là cháu ngoại bà đấy. Năm nay cuối cấp nên nó dọn về đây cho tiện đường ra trường, chứ nhà bố mẹ nó thì ở trên thành phố cơ. Cái này nói riêng nhé, bố nó là dân xã hội đấy, nghe đâu giàu lắm thì phải. Nói chung làm cái nghề ấy chưa thấy ai nghèo bao giờ. Còn mẹ nó thì… hơi khó nói, hình như cũng bồ bịch trai gái gì đấy. Con bé này nhìn chung cũng lễ phép, mồm mép, nhưng tính tình cũng dấm dớ lắm, không biết đường nào mà lần… Tao cũng chẳng biết chúng nó quen nhau thế nào. Con bé này dại lắm, thằng Quyết nó cắm cho mấy cái sừng rồi mà chưa chừa! Khóc lóc, chia tay đủ kiểu, rồi lại nhờ chị giảng hoà, xong vẫn yêu nhau đến giờ. Thế tài!”
“Chà, thế nhỡ nó thích em thì không phải tốt cho nó à?” tôi nói giọng cợt nhả.
“Vớ vẩn,” chị Vy bỗng đanh giọng. “Riêng chuyện này thì không đùa được đâu cu. Chúng nó yêu nhau ra sao thì để chúng nó tự giải quyết, mình người ngoài bình phẩm thôi chứ chớ có can thiệp vô. Quan điểm tao trước giờ vẫn vậy! Mà mày cứ nói thế chứ chắc gì mày đã tán nổi nó! Ô dỗi à, sao chưa chi đã gác đũa rồi?”
Vừa dứt lời, chị Vy đứng dậy thu dọn bát đĩa, thản nhiên nhét chiếc phong bì vào ba lô của tôi, rồi chị dẫn tôi về gian phòng sát bàn thờ – ông bác rể tôi đã chết trong căn phòng này. Tôi chẳng thèm cởi đồ mà lập tức lăn phịch xuống nệm, trong đầu cảm thấy ong ong, rã rời vì mỏi mệt, sung sướng. Ban nãy, ngay lúc bước vào trong phòng, tôi ngoái đầu lại thì thấy An đứng thập thò từ ngưỡng cửa ở phía bên kia cầu thang ngó sang. Nàng chỉ liếc trộm tôi rồi lập tức lảng đi ngay. Lúc ấy, tôi bất giác nhớ lại lời đe nẹt ngoa ngoắt của chị Vy trên bàn ăn, nhưng rồi chỉ lát sau là tôi đã quên béng và đánh một giấc hết cả buổi chiều. Tối hôm ấy trôi qua thế nào nhỉ? Hình như trong bữa ăn sớm, chị Vy đã cười tủm tỉm khi tôi nói mình sẽ ở lại ít hôm, và chị nhấn mạnh: “Lần này đi là phải nói trước đấy nhé! Không có chuyện cứ thế mà cắp đít đi đâu!” Sau bữa ăn thì chúng tôi ngồi lại tám chuyện một lúc, gần tám giờ thì ai về phòng nấy, thỏa thuê với những ý nghĩ của riêng mình…
II.
Năm ngày đã qua. Sáng nào cũng có nắng ấm, nhưng tầm năm giờ chiều thì trời đã xâm xẩm tối và về đêm thì lạnh vô cùng. Ngoài đường, trăm bước lại gặp một hàng bán ngô, khoai nướng. Ở nhà, thường nhật chị Vy dậy từ rất sớm và tự nấu bữa sáng, khi thì mì xào, khi thì cơm rang, rồi về phòng giam mình đến quá trưa mới lại hớt hải chạy xuống nấu nướng quấy quá cho xong. Chúng tôi vừa ăn vừa khơi lại chuyện ngày bé – chẳng còn gì hơn để nói, rồi ráng ăn cho nhanh vì chốc chốc gió lại lùa vào qua khung cửa chớp sát trần, hai bàn tay tôi tê buốt. Ăn xong thì chị Vy về phòng nghỉ ngơi cho ca việc chiều vào tầm hai giờ – chị bán giày qua mạng nên chẳng cần đến văn phòng, còn tôi lại ra nằm trên đi văng ngoài phòng khách đọc sách. Niềm vui được gặp lại người thân đã lùi về sau, bắt đầu trơ ra cái cảm giác chán ngán do nếp sống đơn điệu, tẻ nhạt gây nên. Đôi khi xong bữa từ lâu mà tôi vẫn ngồi im trong phòng ăn, thơ thẩn nhìn ra khoảng vườn rậm rạp sau nhà, cảm thấy buồn rầu vô hạn vì cảnh tịch liêu đang bao trùm con phố, căn nhà này, và thế là cứ ăn dầm nằm dề mãi, sách đem theo có mỗi cuốn Hơi thở nhẹ nên phải đọc đi đọc lại, ngoài chị Vy hoàn toàn không có ai để chuyện gẫu – mà nói mãi thì cũng hết chuyện!; có cảm tưởng những giờ khắc như ngưng đọng lại theo từng tiếng thở dài. Trong lúc ngồi đó ngao ngán, tôi nghe tiếng cây cối xào xạc ngoài vườn, tiếng bước chân đi ngoài hành lang và tiếng người trò chuyện trên gác. Những ngày này, tôi chỉ có một niềm an ủi duy nhất: cứ độ chín giờ là An sẽ xuất hiện (nàng chỉ đi học ca chiều), chân xỏ đôi dép lót bông đi trong nhà, băng qua hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp. Thoạt đầu nàng hồ như còn thẹn thùng với tôi, bắt gặp tôi ở một mình, nàng chỉ hỏi một cách rụt rè: “Chị Vy đâu ạ?”, rồi chạy biến lên lầu… Dần dần, vào những lúc chị Vy bận việc, chẳng biết làm gì, nàng vừa bước vẩn vơ quanh nhà vừa ngắm những khung tranh treo trên tường phòng khách, lát sau thì điềm nhiên ngồi xuống ghế đi văng đối diện, giương con mắt tò mò và hỏi tôi đang đọc sách gì. Đôi chập nàng còn đòi tôi đọc to thành tiếng. Và người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hồn nhiên ấy, người con gái có khuôn mặt lúc nào cũng như đang khúc mắc điều gì, hễ nghe tôi đọc được một lát là mí mắt đã lim dim, khuôn miệng đáng yêu khép hờ… Lúc sực tỉnh, nàng vớ vội ba lô và trách tôi bằng giọng ngúng nguẩy dằn dỗi:
“Tại anh đấy! Lại đi học muộn mất rồi!”
Có lần, vào buổi sáng, độ chín giờ, trên đường ra tiệm tạp hoá mua thuốc lá (dù hồi ấy tôi hút cũng có chừng mực thôi), tôi thấy An đang chậm rãi bước xuống con dốc, trên người vận bộ đồng phục thể dục hơi rộng so với vóc người; bắt gặp tôi, gương mặt nàng thoáng ửng hồng, đôi mắt còn hơi ngơ ngác – có lẽ nàng mới ngủ dậy.
“Chị Vy đang làm việc ạ?” nàng cất giọng khe khẽ.
“Ừ,” tôi trả lời.
“Anh đi đâu thế?”
“Đi lang thang.”
Nàng khẽ bật cười. Và rồi cả hai lại lặng lẽ lướt ngang qua nhau, như những người hoàn toàn xa lạ. Nhưng, khi tới chân dốc, tôi nghe tiếng nàng gọi lại:
“Đợi em với!”
Nhìn nét mặt, cử chỉ, giọng nói của An, không hiểu sao tôi lại tin rằng mọi chuyện thật ra chẳng tình cờ như nó vốn thế. Cơn mưa phùn rạng sáng đã tạnh hẳn, nhưng mặt đường còn hơi ướt. Trời nhiều mây và không khí ấm dần lên khi chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. An thả bộ rất ung dung, mỗi khi muốn nói điều gì, nàng dấn lên ngang hàng như để trông rõ mặt tôi.
“Trời! ra ngoài mà anh vẫn đem theo sách,” nàng vừa nhìn cuốn Hơi thở nhẹ tôi cầm trên tay vừa nói ra bộ khó hiểu. “Em để ý rồi, hôm nào cũng thấy anh đọc cuốn này. Anh đọc mãi vậy không chán à?”
“Chán chứ, nhưng vẫn đỡ hơn ngồi không,” tôi trả lời. “Cái khu này buồn thật, đến một cái sân bóng cũng không có.”
Nàng hớn hở:
“Trường em có sân bóng đấy!”
“Không, bóng rổ cơ,” tôi vừa đáp vừa đá một viên sỏi vào lề đường. “Thời cấp ba anh cũng từng đá bóng, nhưng chấn thương nên nghỉ lâu rồi. Từ sau dạo ấy thì chuyển qua chơi bóng rổ, chơi gọi là thôi, không dám va chạm mạnh. Bóng rổ ít ra còn đứng im một chỗ ném bóng được…”
An nhìn tôi từ đầu đến chân, nghĩ rằng một người to cao, vạm vỡ như tôi ắt trên trường đại học phải vào dạng sao số lắm. Nàng bắt đầu gom góp các mẩu chuyện rời rạc mà nàng nghe từng nghe về bộ môn này, dù chưa bao giờ tận mắt chứng kiến một trận giao đấu, nàng vẫn có thể đặt ra những câu hỏi thật sự nghiêm túc. Còn tôi, suốt thời phổ thông luôn thấy lạc lõng vì sở thích ít người biết đến giữa vùng tỉnh lẻ quê mùa, không có lấy một đám bạn để chung bầu đam mê, thì hồ hởi thuật lại chi li mọi giải đấu mình từng tham dự. Nàng im lặng lắng nghe, gật gù và tỏ vẻ thán phục.
Khi chúng tôi về gần đến nhà, An bỗng dừng lại và nói:
“Chị Vy kể rằng anh với anh Quyết từng xích mích và cạch mặt nhau đến giờ. Có đúng thế không? Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?” – nàng khẽ chạm vào tay tôi và nói – “Dẫu sao cũng là họ hàng với nhau, tội gì lại không làm lành cơ chứ?”
“Bởi vì nó là một thằng chó má.”
Nàng cụp mắt xuống và tôi thấy khóe miệng nàng run run.
“Sao anh phải nặng lời thế?” nàng ấm ức kêu lên, và lập tức xẵng giọng một cách ngoa ngoắt: “Nếu anh nói được thế chứng tỏ anh cũng chẳng ra gì!”
“Thôi được rồi,” tôi im lặng một hồi rồi trả lời bằng giọng khô khốc. “Nhìn cái đầu gối này đi, có ba chiếc nẹp vít trong này, và sẽ găm ở đấy suốt đời. Tất cả là nhờ một pha vào bóng ‘không may’ của người yêu em đấy, của ông anh họ quý hoá, dù đếch ai cũng biết là nó cố tình. Những ngày nổi gió thế này, chân anh buốt đến mức muốn chặt phứt đi rồi quăng ra vườn!”
An sững sờ lắng nghe tôi nói, cụp mắt im lặng hồi lâu, rồi đáp lời bằng giọng thổn thức:
“Em xin lỗi, em không biết…”
Những ngày sau đó chúng tôi thường đi dạo cùng nhau. Đương nhiên tôi cũng lờ mờ đoán ra rằng nàng giả đò tình cờ gặp tôi trên con ngõ nhỏ, và về sau này nàng thường đắc chí kể lại chuyện đó. Sáng sáng, nàng đứng ở đầu con dốc cách nhà nàng không xa, bên cạnh một cây bàng trơ cành trụi lá, đơn chiếc chống chọi gió đông. Sương mai đọng trên chiếc khăn choàng cổ màu đỏ nàng hay mang mỗi khi ra ngoài. Thường ngày nàng khoác áo đồng phục màu đen với quần thể thao ống suông màu xanh thẫm. Trong khi đi dạo, tôi kể nàng nghe về tuổi thơ ấu, tuổi niên thiếu của mình, về những khát vọng thuở đôi mươi và cũng lắm những vỡ mộng trên thành phố; nàng chăm chú lắng nghe, mắt nhìn tôi vừa khâm phục vừa tò mò. Nàng vui vẻ bảo rằng nàng thích cái giọng rè rè của tôi. Có đôi khi, nàng nhại lời tôi với vẻ tự nhiên như với một người bạn thân thiết nhất, – quả thật nàng giả giọng rất khôi hài, toàn thân rung lên vì phấn khích, nàng cười, nói lộn xộn từ điều này sang điều khác…
Và cuộc sống bề ngoài đơn điệu của tôi cứ thế trôi qua, nhưng cả tôi lẫn An đều nhận ra mối tình thầm lặng mà trong những chuyến đi dạo ngày càng dài hơn, thường xuyên hơn đã được thổ lộ qua nhiều câu đùa lấp lửng như muốn thăm dò tình ý, qua những cử chỉ quan tâm vụng về, dè dặt.
“Hôm nay chân anh có đau không?” nàng thường hay hỏi tôi…
Tôi còn nhớ: một ngày thứ sáu rất bình thường, trời rét khô, hanh hao làm da dẻ nứt toác. An đến vào giờ chúng tôi đang ăn. Chị Vy mau mắn gác đũa, vớ lấy chiếc nón của bá rồi hai người con gái khoác tay nhau đi: ấy là họ ra tiệm gội đầu. Còn lại một mình, tôi nằm rũ người bên bàn bếp, đầu gối lên tay, tư lự trông ra rẻo vườn sau nhà – tôi nằm đó rất lâu, thấy trong lòng bâng khuâng khó tả, thấy một nỗi buồn thật mơ hồ, thật dịu ngọt, say sưa, và một cảm giác thân thuộc ùa về, cảm giác bồi hồi xao xuyến như khi được trông thấy lại thời thơ ấu… Lát sau, vẫn ngồi đó, tôi lại nghe tiếng cười đùa vui vẻ ngoài sân, tiếng chân bước nhẹ êm trên hành lang rõ dần, rồi có cả tiếng chuông điện thoại quen thuộc và liền đó là cái giọng lanh lảnh của chị Vy: “A lô!” – chắc lại là thằng Quyết đây mà. “Lại xin tiền rồi,” tôi thầm nghĩ trong lúc vẫn nằm yên chỗ cũ. Và liền đó, tôi thấy An bước vào gian bếp một mình. Nàng lẳng lặng tới cúi người trước mặt tôi, áp một bên má xuống bàn, mặt nàng sát đến mức tôi có thể cảm nhận được hơi nóng phả ra từ giọng nói của nàng:
“Anh nghĩ cái gì thế?” nàng tròn xoe mắt hỏi.
Lúc ấy tôi đăm đắm nhìn vào mắt An, rồi không hề báo trước, tôi hôn vào môi nàng. Tôi ngửi thấy mùi hương dìu dịu của tiệm gội đầu toả ra từ mái tóc nàng. Nàng giật mình lùi phắt về sau, bất giác đảo mắt liếc quanh: chị Vy có thấy không? Mặt đỏ bừng, nàng hấp tấp chạy vụt ra ngoài, bất thần va ngay phải chị đang từ hành lang tiến vào.
“Ối, em xin lỗi!”
“Đấy đấy, mắt với cả mũi!”
Chị Vy vào, liếc nhìn tôi, vừa treo nón vừa nói giễu:
“Mày lại trêu gì nó thế?”
“Hở?” tôi làm giọng vờ vịt hết sức.
Chị ngồi xuống bàn, vẫn nhìn tôi bằng con mắt riết róng, ngờ vực như muốn nói: “Anh cứ liệu cái thần hồn đấy!” Vẫn còn sửng sốt vì pha chết hụt vừa rồi, tôi bèn vớ lấy cuốn sách bỏ dở lúc nãy, nâng cao sách che mặt giả vờ đọc. Chị Vy bày đồ lề ra bàn và bắt đầu trang điểm.
“Chị đi đâu à?”
“Ra ngân hàng gửi tiền cho thằng Quyết!” chị vừa dặm phấn vừa đáp gọn lỏn. “Chiều tao còn đi giao hàng nữa, nếu quá năm giờ chưa thấy về thì tự động cắm cơm đi nhé!”
Chị Vy khoác chiếc măng tô màu be bằng dạ, tà áo dài chớm đầu gối, xoa xoa tay vào nhau trong lúc tôi đề ga hộ chị. “Nhớ khóa cổng, nhưng để ý tiếng chuông đấy! Bật cái điện thoại lên!” – chị vừa ngồi lên yên vừa liên miệng dặn dò, tôi nghe mà như không nghe… Lúc bước vào trong nhà, tôi đột nhiên hoảng sợ với cái ý nghĩ rằng chỉ còn lại mình tôi với tôi, lại cảm giác trơ trọi đáng ngán ấy, cảm giác dằn vặt tiếc nuối rằng nửa ngày đã trôi qua phung phí và nửa còn lại sẽ chẳng khá khẩm hơn: biết làm gì cho hết chiều đây? Lại ngủ? Hay đọc sách? – “Xin lỗi, thế là đủ lắm rồi!”; biết thế ban nãy đi luôn cùng chị Vy cho lành, – cực chẳng đã tôi đành mở laptop xem lại bộ phim Trước lúc bình minh. Bộ phim này tôi đã xem từ rất lâu rồi, nhưng nó vẫn để lại trong tôi những dư vị buồn tủi ngọt ngào, gợi nhắc tôi về những tháng ngày xa xưa yêu dấu, về thời gian mãi qua đi không bao giờ trở lại…
Thoạt đầu tôi định sẽ xem bằng hết nhưng giữa chừng thì ngủ thiếp đi, khi tỉnh dậy thì màn hình đã tự tắt rồi, toàn thân tôi ê ẩm. Trong nhà tối sầm, không cả nhìn rõ mặt người trên khung ảnh gia đình treo tường. Qua ô cửa kính trên thềm nghỉ cầu thang, tôi thấy bầu trời xam xám, buồn buồn, như những khi sắp đổ giông. Cơn gió gào rú ngoài vườn thổi những cành lá xơ xác chao đảo, quệt tới tấp vào ô cửa kính. Khi gió ngưng, căn nhà trở lại tĩnh lặng như một nấm mồ; – và chính tôi đang nằm giữa nấm mồ đó, cảm thấy toàn thân mình như mục ruỗng, như tan ra…
“Đi đâu bây giờ đây?” tôi vò đầu tự hỏi. “Đi đâu đây? Làm thế nào để gặp An đây? À, có lẽ giờ này em ấy sắp tan học!”
Vớ vội chiếc áo bành tô treo trên chiếc móc áo gần cửa ra vào và chẳng thèm xỏ giày cho tử tế, tôi đâm bổ ra ngoài đường. Một cơn gió bất ngờ thốc vào má, vào tai tôi lạnh buốt như kim châm. Tôi co ro leo lên con dốc thoai thoải về phía đường ray, băng qua cánh đồng cằn cỗi, qua những đụn rạ toả khói mờ mờ về phía thị trấn, toàn thân rúm ró cả lại. Dần dần, tôi đã thấy người ấm dần lên, bàn chân đã thôi tê cứng, dù đôi tay thì vẫn run run lạnh cóng, mồ hôi rịn ra ướt đẫm… Vừa đi tôi vừa tủm tỉm cười thầm với ý nghĩ rằng có lẽ lúc này An đang tựa cằm vào tay, mắt lim dim nghe cô giáo giảng bài. Trời tối dần, tôi sải bước mau hơn…
Tôi đến ngôi trường ấy kịp giờ tan ca, lúc trời đã chập choạng tối. Phụ huynh đứng tản mát dọc theo bờ hè, mặt mũi ai trông cũng phờ phạc, tê tái vì lạnh, chốc chốc lại nhấp nhổm ngó nhìn khung cổng thép sừng sững đóng kín mít tới tận mái vòm. Rồi tiếng trống gióng lên ba hồi dài, âm thanh trầm trầm lan ra trong không gian trống trải, ông bảo vệ đội chiếc mũ cối từ căn phòng nhỏ quét vôi vàng rề rà bước ra mở thanh chốt cổng. Học sinh nô nức ùa ra như đàn ong vỡ tổ từ các căn phòng cách xa nhau, nối đuôi nhau thành hàng trên những dãy hàng lang chật hẹp. Vài đứa nhanh chân đã tụm thành một tốp rảo bước trên sân trường. Chỉ lát sau là không gian đã tĩnh mịch trở lại, trời đã tối không còn nom rõ mặt người, xa xa chỉ thấy một phòng học ngay sát cầu thang tầng ba là vẫn sáng đèn. Tôi nhớ vài cậu học sinh lớp nhỡ không chịu về ngay mà còn nán lại ném dép chọc tổ ong, lúc sốt sắng chạy ngang qua tôi thì ném đi những tia nhìn ranh mãnh như muốn nói: “Này, anh kia, đến đón người yêu phải không?” Vì bận ôn thi cuối cấp, lớp An thường tan rất muộn. Tôi ngồi ở ghế đá dưới hàng cây xà cừ đợi nàng. Lát sau, tôi thấy nàng chùm khăn kín đầu, khoác tay cùng một bạn học khác chầm chậm bước xuống cầu thang, rồi đôi bạn vẫy tay chào nhau ở khúc rẽ dẫn về nhà để xe. Tôi mừng rỡ tiến đến đón nàng.:
“An!”
Nàng giương cặp mắt ngơ ngác nhìn quanh, khựng lại một thoáng, rồi ngay lập tức bổ nhào về phía tôi. Trong nỗi sửng sốt hân hoan, những câu hỏi nàng đặt ra hấp tấp, không kìm nổi niềm vui sướng:
“Ôi! Anh đợi lâu chưa? Trời ơi, lâu lắm rồi mới có người đi đón thế này!” nàng vừa khoác tay tôi vừa hí hửng nói.
Lúc gần đến cổng trường, An chợt dừng lại: nàng đã để quên chiếc khăn choàng trong gầm bàn. Chúng tôi đành rảo bước trở lại. Những học sinh cuối cùng đã ra về hết, đường nét của căn nhà hoang vắng hiện lên dưới ánh đèn nhập nhoạng trông rờn rợn khó tả, dãy hàng lang dài hun hút và không nhìn rõ nó sẽ dẫn về đâu. Trong lúc An cập rập mở thanh chốt cửa, tôi đứng tựa người vào lan can đợi nàng. Lát sau nàng trở ra, chiếc khăn choàng màu đỏ quấn hờ trên cổ nàng dường như hóa thành màu đen nhờ; và trong bóng tối, tôi có thể thấy đôi mắt của nàng nhìn tôi ngập tràn âu yếm. Đúng ra là lúc ấy, tôi đã chẳng còn nhìn thấy gì khác ngoài đôi mắt của nàng, và lập tức hôn vào đôi môi giá lạnh, rồi nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn giá lạnh y chang, tôi dẫn nàng về góc hành lang tối tăm, heo hút…
III.
Một tuần nữa qua. Ở nhà mọi chuyện cơ hồ vẫn trôi qua như cũ. An và tôi thi hành một thoả ước ngấm ngầm, một mối quan hệ mập mờ giấu diếm dưới sự con mắt riết róng của chị Vy. Cơ hồ chị đã nhận ra điều gì ám muội giữa hai chúng tôi, nhưng ngoài mặt thì chị vẫn hoàn toàn bình thường; thi thoảng, chị vời chúng tôi ra chơi tú lơ khơ. Còn An thì chẳng có gì để bàn; có chị ở cạnh, nàng liền quay ngoắt thái độ, bề ngoài trưng ra vẻ thờ ơ giả hiệu – điều này chẳng còn gây cho tôi nỗi buồn khổ nào nữa, trái lại, tôi thấy vui vẻ một cách khoái trá trước màn đóng kịch của nàng. Thi thoảng, khi đang đi dạo ngoài trời, lựa lúc chung quanh không có ai, tôi kéo nàng lại gần và hôn nàng đắm đuối. Bây giờ thì thật khó mà dứt nàng ra được: nàng ngoan ngoãn chiều theo mọi âu yếm nơi tôi bằng vẻ cam chịu thơ ngây và, còn là tính thẹn thùng của lứa tuổi nàng nữa. Và bao giờ những phút giây lén lút vụng trộm ấy cũng để lại trong tôi dư vị ngọt ngào, đê mê, đồng thời là cảm giác rậm rực, bức bối vì những cuộc ái ân chưa thật đến nơi đến chốn.
Ở quê, mẹ tôi liên tục gọi điện hỏi xem bệnh trạng bà ngoại thế nào, hay bao giờ thì tôi trở lại Hà Nội: cả hai điều này tôi đều tắc tịt, đành cứ trả lời dối dá cho xong. Bấy giờ tôi mới ngộ ra ý thức về thời gian trong mình gần như đã thui chột vì sự vô tư do những cuộc hẹn hò say sưa đem lại. An biết tôi vì nàng mà lần lữa chuyến đi, và bây giờ thật khó đoán biết giữa nỗi buồn phải xa cách tôi với niềm vui được gặp lại Quyết (nó đã đoan chắc rằng cuối tuần ấy buổi triển lãm sẽ kết thúc và ngay hôm sau sẽ đáp tàu về), nàng nghiêng về phía nào hơn. Nàng vẫn thường nhắc đến Quyết. Những ngày cuối bên nhau, thi thoảng nàng bỗng trở nên tĩnh lặng, nói năng mơ hồ, đo đắn; – có lẽ nàng đã bắt đầu hiểu ra tình thế giằng co của mình. Nhìn dáng vẻ ủ rũ của nàng, có cảm tưởng tất cả mọi thứ đã và đang xảy ra đều hết sức nặng nề, kể cả cuộc gặp gỡ với tôi và mối tình éo le này, – nàng nghĩ ngợi rồi đâm ra giận hờn vô cớ, nàng phấp phỏng trong lo âu, nàng cười gượng gạo, tự trách và dằn vặt mình. Tôi không thể không rầu rĩ với ý nghĩ buồn tủi rằng mặc dù nàng vẫn vui tươi với tôi đấy, nhưng thực chất thì nàng đang từng bước, từng bước đẩy mình ra xa khỏi tôi…
Một lần sau bữa ăn trưa, chị Vy kêu mệt rồi đi nằm ở phòng bên, còn tôi ngồi ở góc phòng xem phim trên chiếc bàn gấp được chừng ba mươi phút thì An tới. Nàng vẫn mặc bộ đồng phục thể dục như thường nhật, và trông nàng có vẻ hân hoan.
“Chị Vy đâu rồi?” nàng nói rồi vui vẻ ngồi xuống cạnh tôi, cằm tựa vào đầu gối. “Ồ, phim này hồi bé em xem rồi, cái gì mà… hình như có có một ông sát thủ với một con bé… xong rồi kết buồn phải không?”
“Em yên lặng xem nào,” tôi dịu giọng nói và choàng tay ôm ngang khuôn ngực nhỏ nhắn của nàng. “Mà xem này, trên người em cũng có nhiều tàn nhang, ngộ thật!”
“Thôi nào, anh hư thế,” nàng khẽ đánh vào tay tôi và thì thào…
Bất thần có tiếng chân bước êm ru từ ngoài hành lang. Chị Vy hiện ra trên ngưỡng cửa, đầu tóc rối tung, miếng hạ sốt vắt ngang vầng trán như một dải khăn tang. Thoạt đầu, cặp mắt đen sắc của chị ánh lên một vẻ vừa căm phẫn, vừa ma mãnh như muốn khiêu khích. Chị nhếch mép cười rồi lắc lắc đầu. An vùng khỏi tôi, đứng bật dậy, vừa tủi hổ chỉnh lại áo quần vừa cúi gằm mặt đâm bổ xuống lầu…
Chị Vy chạy vụt vào phòng và vung tay tát tôi một cái rất đau, vừa tức giận thở hắt ra vừa nhìn tôi đầy hằn học, như một người đàn bà bị phản bội. Và càng lúc căn phòng càng như thu hẹp lại, bí bách và nặng nề một cách tai quái. Mặt đỏ gay, mắt vẫn nhìn tôi ráo riết, chị Vy buông xẵng một câu đượm vẻ chua cay nghiệt ngã:
“Sao mày không đội luôn áo ngực nó lên đầu luôn đi? Nào, có gì mà phải ngạc nhiên thế, mày vần vò nó bao nhiêu hôm rồi mà? Mày cứ tưởng tao không biết phỏng? Tao biết hết! Lại còn ngay trong nhà này!”
“Chị ngồi xuống giường đi đã, nghe em…” tôi lắp bắp tìm lời.
Suốt cả chiều tôi nằm ì trên giường và trằn trọc rất lâu, rồi lại nhổm dậy bước ra ban công hút hết điếu thuốc này điếu thuốc khác, đầu óc cứ lẩn vẩn mãi chuyện nhục nhã vừa qua. Thật kỳ lạ làm sao, lúc ấy tôi đã chẳng nghĩ tới An, tới đoạn kết cho mối tình sai trái chính tay tôi đã khơi mào, mà tôi chỉ thấy dâng lên trong mình một niềm tự tôn của giới tính, mỗi nỗi ê chề khi con người trẻ trai trong tôi đã bị dày xéo, bị sỉ vả đến mức không biết trốn mặt vào đâu. Và với sự nông nổi của một lòng tự ái bị chà đạp, tôi định bụng sẽ tìm mua vé tàu về ngay hôm ấy. Nhưng vậy là sẽ không được gặp lại An?
“Thôi, nếu được thì vẫn nên chào tạm biệt nàng cho tử tế!” tôi dằn lòng, búng mẩu thuốc qua khung cửa sổ; – với ngay lấy chiếc áo choàng, tôi vội vàng bước ra ngoài.
Chiều hôm ấy, chiều cuối năm buồn da diết, – buồn vì mùa thu chóng qua và cái lạnh cô liêu đã giăng khắp mọi chốn. Cánh đồng mùa đông trơ trọi với những luống cày đen trũi, những mồ mả nhấp nhổm và những con bù nhìn cao lêu nghêu, manh áo rách như tổ đỉa tung phần phật trong gió… Trên khoảng trời xam xám buồn buồn, một con diều hâu cứ chao liệng mãi; con chim bình thản sà xuống rồi lại đập cánh vươn lên, đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ, dường như nó chẳng mảy may phiền muộn, cũng chẳng thấy lý do gì phải phiền muộn vì tình cảnh đơn độc của bản thân. Trời tối dần, sương mù la đà trên mặt đường ẩm ướt, mưa lạnh buông xuống như một làn bụi.
Như thường lệ, An đứng đợi tôi dưới mái vòm của khung cổng thép. Chúng tôi lặng lẽ lê bước theo ngõ phố vòng vèo và tăm tối, không ai nói một lời nào. Trông nàng rầu rĩ, mỏi mệt, môi nàng mấp máy như muốn nói điều gì.
“Anh này,” nàng bước chậm lại và cất giọng khe khẽ, “từ mai anh không cần đi đón em nữa đâu, em sẽ nhờ bạn chở đi.”
“Ừ,” tôi ngập ngừng trả lời, mắt không nhìn sang nàng, “mai anh cũng đi rồi.”
An khựng lại một thoáng rồi lại tiếp tục bước đi, nàng đi trước còn tôi đi sau. Khi đến cạnh gốc cây bàng, nàng bỗng quay lại và tôi nhìn thấy gò má nàng ướt đẫm: nàng khóc.
“Vậy là cứ thế mà đi thật đấy?” nàng nghẹn ngào nói qua làn nước mắt, bờ vai run run vì sương lạnh – nàng chỉ mặc áo sơ mi mỏng bên trong áo khoác đồng phục. “Là sẽ không gặp nhau nữa đấy?”
Nhìn gương mặt nàng bây giờ, tôi chợt thấy tiếc dáng điệu vô tư thơ trẻ của nàng; quầng mắt nàng trũng xuống nhìn tôi với vẻ bi ai đầy khó hiểu. Người con gái này, người con gái trẻ trung mà tôi đã tán tỉnh một cách bông lơn, coi đó không hơn gì một mối quan hệ tình cờ, chóng vánh giữa cảnh ăn không ngồi rồi; người con gái nhẹ dạ mà tôi đã lợi dụng để thỏa mãn sự hẹp hòi trong mình, – người con gái đó đang đứng nhìn tôi bằng đôi mắt buồn da diết, hoàn toàn không nghi ngờ, vẫn một mực yêu tôi, buồn vì tôi. Vậy ra đây là dấu chấm hết cho những chuyến đi dạo, những cuộc chuyện trò, những lần tay nắm môi hôn? Tôi bỗng nhớ lại dáng vẻ vui tươi, hoạt bát của nàng, nhớ cả những trò đùa ấu trĩ, những quan điểm hồn nhiên vụng dại vốn là đặc trưng của lứa tuổi nàng; và thực sự không thể tin nổi mai đây tôi sẽ quên nàng, hay nàng sẽ quên tôi, như mọi chuyện vốn dĩ phải thế – rằng tất thảy rồi sẽ chìm vào quên lãng và mọi luyến lưu nào có ích gì…
“An này, dù sao thì em sẽ không quên anh ngay đấy chứ?” tôi nói.
Tôi cầm tay nàng rồi áp lên má tôi. An gạt nước mắt, vừa cười gượng vừa áp tay kia của tôi lên má nàng, đôi mắt đen buồn của nàng trong bóng tối như xoáy vào cõi lòng tôi, nhưng tôi cũng đã nhận thấy ở nàng một cái gật đầu khe khẽ, một sự ưng thuận rụt rè. Lúc ấy, tôi bất giác ôm lấy nàng, hôn lên cổ, lên vai, lên tóc nàng.
“Thôi anh, em bảo này,” nàng khẽ gỡ tôi ra và dịu dàng nói. “Nửa năm nữa thôi là em tốt nghiệp rồi. Lúc đó em cũng sẽ lên Hà Nội. Thế… thế… anh đợi em nhé? Em không ngại gì anh Quyết, anh ấy chưa biết gì và có lẽ cũng chẳng thèm để tâm đâu, nhưng chị Vy thì… ôi, em sợ chị ấy lắm… ngộ nhỡ chị ấy lại làm om sòm lên…” – nàng bỗng giật phắt về sau vài bước, ngoái đầu nhìn người bà già nua đang lục tục chống gậy từ mái hiên ngó ra, cất giọng thều thào gọi tên nàng.
“Dạ, con vào ngay đây!”
“Em yêu anh,” nàng nhón người hôn vào môi tôi và vội vàng nói. “Anh nhớ đợi em…. nhớ đấy… phải đợi em…”
Nàng chạy về phía cánh cổng:
“Anh nhớ nhé! Về đi anh, kéo khoá áo lên khỏi lạnh!”
Tôi nhìn theo bóng nàng khuất dần sau hàng hiên tăm tối, cố nán lại nghe tiếng bước chân nàng xa dần. Nước mắt trào ra, những giọt nước mắt hoà lẫn khổ đau và hạnh phúc, tôi lặng nhìn cánh cổng thâm thấp mà mỗi lần đi qua nàng đều phải cúi đầu, nhìn ánh đèn vàng tù mù le lói trên ban thờ treo tường trong gian khách tối tăm, lạnh lẽo. Từ phòng bếp nhỏ gần sân giếng vọng ra tiếng càm ràm – có lẽ bà đang mắng An can tội về muộn. Bóng tối dày đặc đã bao trùm con ngõ, tôi vuốt nhẹ ống tay áo và nhận thấy nó ướt đẫm tự lúc nào.
Mưa đã nặng hạt hơn, tôi kéo khoá áo kín cổ, vừa xoa hai tay vào nhau vừa chậm rãi bước về cuối con ngõ nhỏ, về căn nhà của bá tôi, thầm ước rằng trong ấy sẽ chẳng có ai, rằng một phép màu sẽ xảy đến và, ngủ một giấc là sáu tháng đã trôi qua… Gian khách sáng đèn, cửa để ngỏ, từ sân giếng có tiếng trò chuyện râm ran vọng ra. Liền đó, tôi chạm mặt cả hai chị em trong phòng bếp, chị Vy im lặng nhìn tôi bằng ánh mắt khinh khi dò xét, và tôi bắt được cái liếc nhìn của thằng Quyết xuống đầu gối tôi… Cuối cùng, chính nó cất giọng phá tan bầu không khí gượng gạo bằng cái giọng giả lả cố hữu:
“Chú trốn ở đâu mà kỹ thế?”
Ngay đêm hôm ấy tôi sửa soạn hành lý rồi đáp chuyến tàu sau chót lên thẳng Hà Nội.
IV.
Từ dạo ấy tôi không bao giờ ghé thăm nhà chị Vy nữa. Duy có một lần cách đây hai năm, vào ngày chị ấy lấy chồng, do bố tôi đương đóng quân ở Móng Cái nên tự tôi phải cầm lái để chở mẹ về chung vui. Từ xa tôi đã trông thấy bá tôi, trong bộ áo dài diêm dúa chiết eo lồ lộ những ngấn mỡ ở bụng, lớp phấn bôi trét không gánh nổi dung nhan đã tàn phai ít nhiều… Bá đang niềm nở tiếp đón khách khứa; còn Quyết thì lăng xăng chỉ đạo, thắng lên mình bộ âu phục cắt may đỏm dáng đến mức có thể tưởng lầm anh ta là chú rể cũng nên, thấy mẹ con tôi là lập tức sán đến, hỉ hả tay bắt mặt mừng. Anh ta khoe rằng đã mở được một khóa học “vẽ sáng tạo”, và gian gác xép năm xưa tôi từng trú lại nay đã trở thành phòng triển lãm tranh. Bấy giờ thì tôi buộc phải tin rằng ông anh họ của tôi quả thật cũng có đôi chút tài cán. Còn bà ngoại tôi, cái năm ấy bà đã bị mù bên mắt phải vì chạy chữa quá muộn, mọi người thi nhau chỉ trích rằng bệnh viện đã làm ăn tắc trách, tuyến dưới tuyến trên đều chẩn đoán sai rành rành. Về phần mình, từ vụ ấy bà đâm ra hờn trách nhà bá, và lập tức dọn sang ở cùng chú út ngay khi chú ấy về quê, xây nhà ngoài mặt đường cái.
Lát sau, tôi bắt gặp chị Vy trên phòng trang điểm cho cô dâu, chị đã vận lên người bộ váy cưới xếp nếp căng phồng trắng như bông gòn, gương mặt cơ hồ không già đi chút nào, trái lại, còn có vẻ rạng rỡ và kiêu hãnh hơn. Chị quen một anh chàng ở miền trong và rất hài lòng vì cuối cùng đã thuyết phục được đức ông chồng cam lòng ở rể.
“Nếu Huy (đó là tên chồng chị) không về đây, còn lâu cháu mới cưới!” chị tự hào kháo chuyện với mẹ tôi.
Còn về câu chuyện dạo trước, chị gượng cười coi như chuyện cũ gác sang bên, chẳng đáng nhắc lại làm gì. Theo như chị nói, đến Tết năm ấy thì bà của An ngã bệnh rồi qua đời, giờ ngôi nhà với bờ giậu thâm thấp cùng mái hiên giăng giàn hoa giun đó bỏ không, mỗi tháng một lần có người ghé qua lo chuyện quét tước, hương hoả. Cũng cái năm trời đánh ấy, bố nàng lĩnh án bảy năm trong một pha chết chùm, còn nàng thì tốt nghiệp phổ thông xong liền theo mẹ về quê ngoại ở trong miền Nam. Từ đó không ai nghe tin gì về nàng, và có lẽ chẳng ai còn nhớ tới nàng nữa.
Tôi cũng đã dần quên nàng. An, mối tình đầu của tôi, khi ấy nàng mười bảy tuổi, lúc nàng rảo những bước nhanh qua con ngõ nhỏ, dáng nàng dong dỏng cao và đôi mắt đen buồn của nàng nhìn tôi buồn da diết – riêng điều này thì tôi nhớ mãi. Gò má nàng lấm tấm tàn nhang, càng rành rọt hơn lúc nàng cười, bao giờ cũng ửng hồng vì sương giá… Thi thoảng, khi đợt gió mùa đầu tiên ùa về làm bầu trời chuyển xám, khi tiếng bước chân tôi tản ra trên đường ray bị tiếng gió át chìm, khi tôi buồn rầu vô cớ, và, khi tôi từ ngoài đường trở về nhà, dậm dậm chân và xoa đôi bàn tay giá lạnh, tôi mới sực nhớ rằng đã từng có một mùa đông như thế, một mùa đông gắn liền với mối tình thơ trẻ cùng người con gái mà gương mặt theo năm tháng đã dần phai nhạt trong tâm trí tôi.
Tôi nhớ nàng đã đau khổ ra sao trước tấn bi kịch đổ xuống tới tấp vào cái năm quái ác ấy, nàng khóc lóc mấy hôm ròng, và tôi cũng nhớ hai đứa còn nhắn tin qua lại thêm một thời gian nữa, rồi mới chính thức chia tay, chia tay yên ả như cách các cặp đôi yêu xa vẫn rời bỏ nhau.
“Sao thế, vẫn còn nhung nhớ con bé à?” chị Vy huých khẽ vào tay tôi và nói bằng giọng đùa đùa.
“Ồ, bậy nào…”
T.B. E hèm, tôi đã viết truyện này thành hai phiên bản: một ngắn, một dài. Bản các bạn vừa đọc đây là bản dài, còn bản ngắn khi nào được đăng tạp chí tôi sẽ gắn link. Cần phải nói: tôi đã phải cắn răng cắt bớt nhiều đoạn mà bản thân rất thích, nên tôi muốn đăng bản đầy đủ, chưa chỉnh sửa lên đây; dù nó có thể dài dòng, nhiều chi tiết thừa thãi, nhưng thôi mặc, tôi sẽ đặt lợi ích của bản thân lên trước hết.
Bình luận về bài viết này