Cho tới năm mười chín tuổi, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết lách. Đương nhiên, nhờ giáo dục, tôi phần nào phát hiện ra mình có chút văn tài, và lấy làm tự đắc lắm. Giờ nhớ lại mới thấy bản thân ngây ngô nhường nào, vì viết đâu phải cứ dựa mãi vào cảm hứng, vào thiên phú cho được. Càng viết, càng thấy việc viết khó khăn và chông gai ta tưởng nhiều.
Tác phẩm đầu tiên của tôi, nếu có thể cho đó là tác phẩm, là một bài điểm sách ngắn gọn chừng năm trăm chữ về cuốn Đất máu Sicily của Mario Puzo. Giờ cho tôi đọc lại bài viết đó hẳn tôi sẽ rất ngượng: đọc lại tác phẩm mình viết mới tháng trước đây thôi mà tôi đã thấy xấu hổ rồi. Dấu hiệu tốt đấy chứ, điều này phần nào chứng tỏ tôi vẫn đang tiến bộ từng ngày. Nói thế, chứ thực chất tôi cảm tưởng mình cứ dậm chân tại chỗ thế nào ấy; khi viết, khó tránh khỏi việc lặp lại chính mình. Riêng việc mặc lại một chiếc áo hai lần tôi đã thấy lấn cấn rồi, huống chi đây là việc sáng tác, vậy nên tôi luôn cố để mỗi tác phẩm của mình có một đời sống riêng, dù rằng bất cứ ai từng đọc quá ba tác phẩm của tôi, hẳn thấy nhiều chi tiết trùng lặp và đôi khi là những phần tự thuật thêm thắt rất dễ nhận biết nữa.
Tôi không có ý định bàn về kỹ thuật, phương pháp, hay mánh mẹo viết lách trong bài viết này. Cái đấy tôi chẳng có nhiều, dù quả thực tôi rất quan tâm đến chúng, nhưng hễ ngồi xuống viết là tôi bị cuốn đi, chẳng nhớ được gì nữa cả. Nói tóm lại, việc viết của tôi vẫn mang tính tự phát rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ muốn phân biệt hai khái niệm: cảm hứng và cảm xúc.
Viết có cảm hứng giống như hổ mọc thêm cánh, đặc biệt nếu nhà văn đã thu nạp vào mình đủ mọi quan sát, chiêm nghiệm, thì lúc đó ba giờ ngồi viết ngắn như ba phút đồng hồ. Nhưng không có cảm hứng thì cạy cục mãi chẳng nên câu, nghiến răng cắn lợi, vò đầu bứt tóc, cứ viết rồi gạch đi. Có nhiều nhà văn không viết cả tháng trời, chờ đợi cảm hứng, rồi khi nó đến thì đóng cửa nhiều ngày liền, viết một mạch cho xong. Tiêu biểu như Goethe, Stendhal, v.v. Ngược lại, có những nhà văn kỷ luật hơn, ngày nào cũng ngồi vào bàn, viết cho đủ hạn mức đặt ra, hoặc đơn giản là viết cho trọn thời gian định trước, chất lượng ra sao cũng mặc. Hiển nhiên cách làm thứ hai được cho là chuyên nghiệp hơn. Và thực tế thì nếu được chọn lựa, ai cũng nên làm vậy. Ngày nào cũng nên ngồi vào bàn, viết một chút, gì cũng được, để khỏi cùn nghề. Hồi mới tập tành làm văn tôi đã từng như vậy, tức là vốn dĩ tôi đã coi việc viết rất nghiêm chỉnh. Nhưng công việc không phải ngày nào cũng xuôi, và sáng tác ấy mà, không phải chỉ diễn ra trong lúc ta ngồi xuống viết. Việc viết diễn ra cả ngày, trong lúc ta ăn, đi dạo, nói chuyện với đồng nghiệp, hay thậm chí là trong giấc ngủ. Nếu cứ đợi đến lúc ngồi xuống bàn mới bắt đầu nghĩ, thì việc viết quả thật nhọc nhằn và dễ gây thối chí lắm. Đây là bài học quan trọng nhất tôi nghiệm được trong năm nay. Từ khi phát hiện ra sự thật này, tôi bắt đầu viết chậm hơn, ấp ủ một ý đồ nhiều ngày, nhiều tuần trời, trước khi bắt tay vào viết. Nếu câu văn viết ra ngắc ngứ, mơ hồ, không đạt, thì tức là suy nghĩ của người đó còn chưa rành mạch, lộn xộn. Như vậy là phải từ bỏ thói quen vừa viết vừa nghĩ, hoặc tệ hơn là viết mà không nghĩ gì cả, lỏng tay cho cảm hứng tuôn trào, điều này thoạt chừng đem lại cảm giác phiêu diêu, nhưng ngẫm kỹ lại thì cảm giác đó nên dành cho người đọc chứ không phải người viết. Nếu ai cũng biết một nhà văn đã chật vật ra sao để viết ra một câu hoàn chỉnh, một câu bình thường, có lẽ họ sẽ có thái độ dè dặt và cẩn trọng hơn khi tiếp cận văn chương. Lewis từng bàn về điều này rồi: “Văn chương hay nên được đọc cẩn trọng như cách chúng được viết ra.”
Cảm hứng là một khái niệm khó nắm bắt. Ở nhiều điểm, nó mang đặc tính của giống mèo: mình lại gần thì nó lảng đi, còn mình làm ngơ nó lại sán đến. Hiểu được điều này thì việc viết lách sang một trang mới rồi.
Người ta có thể viết mà không cần cảm hứng hay không? Tôi tin là có. Phần lớn mọi người đều thế, đây cũng là niềm tin của riêng tôi. Nếu cứ ngồi xuống là có cảm hứng, là dòng thác tuôn trào, thì tôi đã bỏ quách cái nghề văn phòng tẻ ngắt đi mà chuyên tâm sáng tác rồi. Rốt cuộc phải quen dần với việc viết mười ngày thì năm ngày tắc tịt, đâm vào ngõ cụt, quẹo trái rẽ phải tìm lối ra, hoặc nhiều khi phải vứt bỏ vài bản thảo không thể làm nổi. Có thể giảm thiểu tình trạng này bằng cách, như tôi nói ở trên, ngẫm kỹ rồi hẵng viết. Và quan trọng hơn là đừng cố ép bản thân phải viết, tỷ như mỗi ngày nhất nhất “viết được một ngàn từ, hai ngàn từ”… Khi đã không muốn viết, hoặc khi thân thể rã rời, tốt nhất nên nghỉ ngơi, hoặc bất lắm thì xoay qua viết nhật ký, tản mạn mà thôi. Trí không vững thì văn viết ra cũng thõng thượt ấy mà.
Người ta thường hay đánh đồng hai khái niệm cảm xúc và cảm hứng. Cảm hứng thì tôi vừa nói phần trên rồi. Bây giờ đến cảm xúc.
Theo tôi, cảm xúc là điều kiện tiên quyết để viết. Khoan bàn đến chuyện ta tài năng ra sao, bút pháp thế nào, hoặc cốt truyện của ta có hấp dẫn, phong cách có độc đáo hay không. Trong trường hợp này, tôi sẽ ví việc viết với tình yêu. Người ta không thể viết, cũng như không thể yêu, mà thiếu vắng cảm xúc. Không có cảm xúc, không có xúc động; hễ nhà văn còn không xúc động với câu chuyện của mình mà đòi hỏi độc giả xúc động quả thực vô lý quá chừng. Đây là lý do tại sao có những câu chuyện tưởng chừng đơn giản, câu cú vụng về, nhưng vẫn khiến người ta thổn thức khó tả. Bởi lẽ khi đặt bút, tác giả đã viết không chỉ bằng khối óc mà còn bằng quả tim của chính mình.
Trong Nàng Lika của Bunin có một câu nói thế này: “Mỗi sáng thức dậy, tôi đều cố chuẩn bị tâm trạng cho mình để viết.” Mấu chốt ở đây là cụm “chuẩn bị tâm trạng”. Tới đây tôi mới đồ rằng Gogol viết dạt dào cảm xúc tới vậy một phần bởi lẽ ông bẩm sinh có tài diễn xuất. Chưa bàn tới việc cảm xúc đó là chân thật hay dối trá (ai mà biết cho được?), nhưng nếu một diễn viên thực sự đắm chìm vào vai diễn, thì lúc đó y không còn diễn xuất nữa, mà y đang hoá thân. Viết cũng vậy thôi, thảy đều là hoá thân, và cái hay, cái nghệ là ở chỗ hoá thân tài tình tới mức người ta không mảy may nghi ngờ, hoàn toàn quên mất sự tồn tại của diễn viên hay tác giả. Trước mặt họ chỉ còn là một câu chuyện, một thế giới hư cấu thực hơn cả đời thực.
Tất cả những điều trên chỉ có thể được thực hiện bằng một nhịp điệu làm việc chậm rãi, lặng lẽ, có ý thức. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất: nhịp điệu. Văn xuôi không bị câu thúc như thơ ca, nhưng thiếu nhạc tính, thiếu âm điệu thì văn khô khan và tẻ nhạt lắm. Mọi câu văn trong một đoạn văn vô thưởng vô phạt nhìn chung đều có những móc nối vô hình, từ câu này ngoắc sang câu kia; nếu được xử lý khéo léo, người đọc gần như bị thôi miên, còn nếu xử lý vụng về, đơn giản là người ta không buồn đọc tiếp.
T.B. Chẳng hiểu sao tôi lại viết bài này nữa. Hôm nay trời nắng, lặng gió, bầu trời không một gợn mây, nhưng không còn xanh ngắt như những hôm trước mà chuyển qua nhờ nhờ. Tay tôi lạnh cóng khi gõ những dòng này. Sớm mai và chiều muộn thường có sương giá, các bạn nên thủ sẵn một chiếc khăn choàng trong cốp xe.
Bình luận về bài viết này