Ngợi ca sự nhàn rỗi (tiểu luận)

của Bertrand Russell


Bertrand Russell (1872 – 1990), triết gia, nhà toán học người Mỹ, một trong những cây bút có ảnh hưởng lớn của thế kỷ XX.

Bertrand Russell luôn thể hiện một tư tưởng khoáng đạt, tư duy đi trước thời đại của mình trong tất cả các trước tác của mình, dù là bàn về tâm lý, xã hội hay chính trị. Trong một tiểu luận ngắn gọn với tựa đề In Praise of Idleness, vào những năm giữa của thế kỷ trước, ông đã chủ trương “ngày làm việc bốn giờ”, theo đó, song hành với sự tiết giảm trong khối lượng công việc mà một người lao động phổ thông phải đảm trách, lợi ích thu về sẽ không chỉ nằm ở bản thân cá nhân ấy, mà chính nền kinh tế – xã hội cũng sẽ hưởng lợi to lớn, và cao cả hơn là nữa hạnh phúc toàn thể của nhân loại sẽ được gia tăng. Đây hoàn toàn không phải một bài viết ca ngợi thói ăn không ngồi rồi, mà là một lời kêu gọi mọi người cùng chung tay thiết lập một hệ thống lao động tối ưu, giải phóng người lao động khỏi tư tưởng làm việc điên cuồng, rằng không phải cái gì nhiều hơn cũng là tốt hơn.


Giống như hầu hết những người cùng thế hệ, tôi lớn lên với câu nói “Nhàn cư vi bất thiện” [nguyên văn: “Satan luôn tìm ra trò nghịch ngợm cho những bàn tay rảnh rỗi”]. Vốn là một đứa trẻ vô cùng ngoan ngoãn, tôi tin tất cả những gì mình được chỉ dạy và định hình một lương tâm khiến tôi lao động cần mẫn cho đến tận lúc này. Nhưng mặc dù lương tâm đã kiểm soát các hành động của tôi, quan điểm của tôi lại trải qua một cuộc cách mạng. Tôi cho rằng thế giới đang làm việc quá nhiều, rằng vô vàn tác hại đã sinh ra từ niềm tin rằng làm việc là đức hạnh, và những gì cần được rao giảng ở các quốc gia công nghiệp hiện đại hoàn toàn khác với những gì luôn được rao giảng trước đây. Ai cũng biết câu chuyện về một du khách ở Naples, khi thấy mười hai người ăn mày đang nằm ườn dưới nắng (đó là thời điểm trước thời của Mussolini), ông ta đã hứa cho người lười nhất một đồng lira. Mười một người lập tức nhảy cẫng lên để đòi tiền, vì vậy ông ta đã đưa nó cho người thứ mười hai. Vị du khách này đã đi đúng hướng. Nhưng ở những quốc gia không được tận hưởng ánh nắng Địa Trung Hải, sự nhàn rỗi khó khăn hơn nhiều, và sẽ cần đến một cuộc tuyên truyền công chúng quy mô lớn để khởi xướng nó. Tôi hy vọng rằng sau khi đọc những trang dưới đây, các nhà lãnh đạo của tổ chức Y.M.C.A. sẽ bắt đầu một chiến dịch nhằm thuyết phục những thanh niên tử tế đừng làm gì cả. Nếu được vậy, tôi đã không sống uổng phí.

Trước khi đưa ra những lập luận của riêng mình ủng hộ sự lười biếng, tôi phải loại bỏ một lập luận mà tôi không thể chấp nhận. Bất cứ khi nào một người đã có đủ tiền để sống lại có ý định làm một công việc thông thường nào đó, chẳng hạn như dạy học hay đánh máy, họ đều bị nói rằng hành động đó là cướp đi miếng cơm manh áo của người khác, và do đó, thật tàn nhẫn. Nếu lập luận này là đúng, thì tất cả chúng ta chỉ cần ngồi không là ai nấy đều có bánh mì ăn no nê. Điều mà những người thốt ra những lời như vậy thường quên là những gì một người kiếm được thì họ thường sẽ tiêu xài, và khi tiêu xài, họ tạo ra công ăn việc làm. Chừng nào một người còn tiêu xài thu nhập của mình, thì việc họ chi tiêu cũng đem lại chừng ấy miếng ăn cho người khác giống như việc họ đã lấy đi miếng ăn của người khác khi kiếm tiền. Kẻ phản diện thực sự, từ góc độ này, chính là người tiết kiệm. Nếu anh ta chỉ nhét tiền tiết kiệm vào một chiếc vớ, giống như người nông dân Pháp trong tục ngữ, thì rõ ràng số tiền đó không tạo ra việc làm. Nếu anh ta mang tiền tiết kiệm đi đầu tư, vấn đề sẽ bớt rõ ràng hơn, và các trường hợp khác nhau sẽ phát sinh.

Một trong những việc phổ biến nhất để làm với tiền tiết kiệm là cho một chính phủ nào đó vay. Xét đến thực tế là phần lớn chi tiêu của hầu hết các chính phủ văn minh đều bao gồm việc chi trả cho các cuộc chiến tranh trong quá khứ và chuẩn bị cho các cuộc chiến trong tương lai, thì người cho chính phủ vay tiền cũng ở cùng vị thế với những gã tồi tệ trong kịch Shakespeare chuyên thuê mướn những gã sát nhân. Kết quả ròng từ thói quen tiết kiệm của người này là làm gia tăng lực lượng vũ trang của Quốc gia mà anh ta cho vay tiền tiết kiệm. Rõ ràng sẽ tốt hơn nếu anh ta chi tiêu số tiền đó, ngay cả khi anh ta nướng nó vào rượu chè hay bài bạc.

Nhưng, người ta sẽ bảo tôi rằng, trường hợp này hoàn toàn khác khi tiền tiết kiệm được đầu tư vào các doanh nghiệp công nghiệp. Khi những doanh nghiệp này thành công và sản xuất ra thứ gì đó hữu ích, điều này có thể được chấp nhận. Tuy nhiên, trong thời buổi này, không ai có thể phủ nhận rằng hầu hết các doanh nghiệp đều thất bại. Điều đó có nghĩa là một lượng lớn sức lao động của con người, lẽ ra có thể được dùng để sản xuất ra thứ gì đó đáng để tận hưởng, lại bị tiêu tốn vào việc sản xuất ra những cỗ máy mà khi được làm ra lại nằm đắp chiếu và chẳng mang lại lợi ích cho ai. Do đó, người đầu tư tiền tiết kiệm của mình vào một công ty phá sản đang làm hại người khác cũng như chính bản thân anh ta. Giả sử anh ta tiêu tiền, ví dụ như để mở những bữa tiệc cho bạn bè, họ (chúng ta có thể hy vọng) sẽ có được niềm vui, và tất cả những người mà anh ta tiêu tiền vào cũng vậy, chẳng hạn như người bán thịt, thợ làm bánh và kẻ buôn rượu lậu. Nhưng nếu anh ta tiêu nó (chẳng hạn) vào việc đặt đường ray cho xe điện mặt đất ở một nơi mà hóa ra người ta không cần xe điện mặt đất, anh ta đã chuyển hướng một lượng lớn sức lao động vào những kênh chẳng mang lại niềm vui cho ai. Thế nhưng, khi anh ta trở nên nghèo khó do sự thất bại của khoản đầu tư, anh ta sẽ được coi là nạn nhân của một rủi ro không đáng có, trong khi kẻ tiêu xài hoang phí vui vẻ, người đã tiêu tiền của mình một cách đầy lòng nhân ái, lại bị coi thường như một kẻ ngốc và một kẻ phù phiếm.

Tất cả những điều này chỉ là màn mào đầu. Tôi muốn nói một cách hoàn toàn nghiêm túc rằng, thế giới hiện đại đang phải chịu vô vàn tác hại từ niềm tin vào đức tính cao đẹp của công việc, và con đường dẫn đến hạnh phúc và sự thịnh vượng nằm ở việc cắt giảm công việc một cách có tổ chức.

Trước hết: công việc là gì? Công việc có hai loại: thứ nhất, thay đổi vị trí của vật chất ở trên hoặc gần bề mặt trái đất tương quan với các vật chất khác; thứ hai, bảo người khác làm như vậy. Loại thứ nhất không mấy dễ chịu và bị trả lương bèo bọt; loại thứ hai thì dễ chịu và được trả lương cao. Loại thứ hai có khả năng mở rộng vô hạn: không chỉ có những người ra lệnh mà còn có những người đưa ra lời khuyên về việc nên ra mệnh lệnh gì. Thông thường, hai loại lời khuyên trái ngược nhau được đưa ra đồng thời bởi hai nhóm người khác nhau; điều này được gọi là chính trị. Kỹ năng đòi hỏi cho loại công việc này không phải là kiến thức về các chủ đề được đưa ra lời khuyên, mà là kiến thức về nghệ thuật nói và viết có tính thuyết phục, tức là nghệ thuật quảng cáo.

Khắp châu Âu, mặc dù không phải ở Mỹ, có một tầng lớp thứ ba, được tôn trọng hơn cả hai tầng lớp lao động kia. Đó là những người mà thông qua quyền sở hữu đất đai, có thể buộc người khác phải trả tiền cho cái đặc quyền được phép tồn tại và làm việc. Những chủ đất này nhàn rỗi, và do đó, đáng lẽ tôi phải ca ngợi họ. Thật không may, sự nhàn rỗi của họ chỉ có thể thành hiện thực nhờ vào sự siêng năng của người khác; quả thực, khao khát về một sự nhàn rỗi thoải mái của họ xét về mặt lịch sử chính là nguồn gốc của toàn bộ chân lý về công việc. Điều cuối cùng mà họ từng mong muốn là người khác sẽ noi gương mình.

Từ thuở sơ khai của nền văn minh cho đến cuộc cách mạng công nghiệp, theo quy luật, một người đàn ông làm việc cực nhọc cũng chỉ sản xuất ra được nhiều hơn đôi chút so với những gì cần thiết để nuôi sống bản thân và gia đình, mặc dù vợ ông ta cũng làm việc chăm chỉ không kém và những đứa trẻ cũng tham gia lao động ngay khi chúng đủ lớn. Phần thặng dư nhỏ bé vượt mức nhu cầu thiết yếu không được để lại cho những người làm ra nó, mà bị chiếm đoạt bởi các giáo sĩ và chiến binh. Trong những thời kỳ nạn đói, không có thặng dư; tuy nhiên, các chiến binh và giáo sĩ vẫn bảo đảm phần của mình nhiều như những lúc khác, dẫn đến hệ quả là nhiều người lao động phải chết đói. Hệ thống này tồn tại ở Nga cho đến năm 1917, và hiện vẫn đang tiếp diễn ở phương Đông; ở Anh, bất chấp Cuộc Cách mạng Công nghiệp, nó vẫn duy trì toàn bộ sức mạnh trong suốt các cuộc chiến tranh của Napoléon, và cho đến tận một trăm năm trước, khi tầng lớp các nhà sản xuất mới giành được quyền lực. Ở Mỹ, hệ thống này đã cáo chung cùng với cuộc Cách mạng, ngoại trừ ở miền Nam, nơi nó tồn tại cho đến tận Nội chiến. Một hệ thống kéo dài quá lâu và chỉ mới kết thúc gần đây tự nhiên đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong suy nghĩ và quan điểm của con người. Phần lớn những điều chúng ta coi là hiển nhiên về sự khao khát công việc được bắt nguồn từ hệ thống này và, vì là đặc trưng của thời kỳ tiền công nghiệp, nên nó không còn phù hợp với thế giới hiện đại. Kỹ thuật hiện đại đã tạo điều kiện để sự nhàn rỗi, trong những giới hạn nhất định, không còn là đặc quyền của các tầng lớp đặc quyền nhỏ bé, mà trở thành một quyền lợi được phân bổ đồng đều trên toàn cộng đồng. Đạo đức của công việc là đạo đức của những kẻ nô lệ, và thế giới hiện đại không có nhu cầu về chế độ nô lệ.

Rõ ràng là, trong các cộng đồng nguyên thủy, những người nông dân, nếu được để mặc cho tự do, sẽ không chịu giao nộp đi phần thặng dư ít ỏi mà các chiến binh và giáo sĩ dùng để duy trì cuộc sống, thay vào đó họ sẽ sản xuất ít đi hoặc tiêu thụ nhiều hơn. Lúc đầu, sức mạnh cưỡng ép thuần túy đã buộc họ phải sản xuất và giao nộp phần thặng dư. Tuy nhiên, dần dần, người ta nhận thấy có thể thuyết phục nhiều người trong số họ chấp nhận một nền đạo lý rằng làm việc chăm chỉ là nghĩa vụ của họ, mặc dù một phần công sức của họ lại được dùng để nuôi dưỡng những kẻ khác trong sự nhàn rỗi. Bằng cách này, mức độ cưỡng ép cần thiết được giảm bớt, và các chi phí cũng được thu hẹp lại. Cho đến tận ngày nay, chín mươi chín phần trăm những người làm công ăn lương ở Anh sẽ thực sự bị sốc nếu có ai đó đề xuất rằng Nhà vua không nên có thu nhập cao hơn một người lao động. Khái niệm về nghĩa vụ, xét về mặt lịch sử, là một công cụ được những người nắm giữ quyền lực sử dụng để xúi giục kẻ khác sống vì lợi ích của giới chủ thay vì lợi ích của chính họ. Tất nhiên, những người nắm giữ quyền lực giấu giếm sự thật này với chính mình bằng cách cố gắng tin rằng lợi ích của họ hoàn toàn đồng nhất với lợi ích lớn lao hơn của nhân loại. Đôi khi điều này là đúng; chẳng hạn, các chủ nô ở Athens đã sử dụng một phần thời gian nhàn rỗi của mình để tạo ra những đóng góp vĩnh cửu cho nền văn minh, điều mà lẽ ra không thể xảy ra dưới một hệ thống kinh tế công bằng. Sự nhàn rỗi là yếu tố thiết yếu đối với nền văn minh, và trong quá khứ, sự nhàn rỗi cho một số ít người chỉ có thể thực hiện được nhờ vào sức lao động của vô số người khác. Nhưng công sức lao động của họ có giá trị, không phải vì làm việc là tốt, mà vì nhàn rỗi là tốt. Và với kỹ thuật hiện đại, chúng ta hoàn toàn có thể phân bổ sự nhàn rỗi một cách công bằng mà không làm tổn hại đến nền văn minh.

Kỹ thuật hiện đại đã giúp làm giảm đáng kể lượng sức lao động cần thiết để sản xuất ra những nhu yếu phẩm cho mọi người. Điều này đã được chứng minh rõ ràng trong Thế chiến. Vào thời điểm đó, tất cả những nam giới trong lực lượng vũ trang, tất cả nam nữ thanh niên tham gia sản xuất đạn dược, tất cả những người làm công tác gián điệp, tuyên truyền chiến tranh, hoặc làm việc trong các văn phòng chính phủ liên quan đến Chiến tranh đều bị rút khỏi các công việc sản xuất. Mặc dù vậy, mức độ hạnh phúc về thể chất nói chung của những người làm công ăn lương ở phe Đồng minh vẫn cao hơn cả trước và sau đó. Ý nghĩa của thực tế này đã bị che đậy bởi yếu tố tài chính; việc vay mượn khiến mọi thứ có vẻ như tương lai đang nuôi dưỡng hiện tại. Nhưng điều đó, tất nhiên, là bất khả thi; một người không thể ăn một ổ bánh mì chưa hề tồn tại. Chiến tranh đã cho thấy một cách thuyết phục rằng bằng việc tổ chức sản xuất một cách khoa học, chúng ta hoàn toàn có thể giữ cho dân số hiện đại sống trong sự thoải mái tương đối chỉ bằng một phần nhỏ năng lực làm việc của thế giới hiện đại. Nếu vào cuối cuộc chiến, tổ chức khoa học từng được tạo ra nhằm giải phóng con người cho chiến đấu và làm đạn dược được giữ lại, và giờ làm việc được cắt giảm xuống còn bốn giờ, thì mọi chuyện đã êm đẹp cả. Thay vì thế, mớ hỗn độn cũ đã được khôi phục, những người có công việc được yêu cầu thì phải làm việc nhiều giờ, còn những người còn lại bị bỏ mặc cho chết đói trong tình trạng thất nghiệp. Tại sao? Bởi vì làm việc là một nghĩa vụ, và một người không nên nhận được mức lương tương xứng với những gì anh ta làm ra, mà phải tương xứng với đức hạnh của anh ta được thể hiện qua sự chăm chỉ.

Đây là đạo đức của Nhà nước Nô lệ, được áp dụng trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt với những hoàn cảnh mà nó ra đời. Không có gì ngạc nhiên khi kết quả lại thảm họa đến vậy. Hãy lấy một ví dụ. Giả sử tại một thời điểm nhất định có một số lượng người tham gia vào việc sản xuất đinh ghim. Họ làm ra lượng đinh ghim vừa đủ cho nhu cầu của thế giới, làm việc (giả sử) tám giờ một ngày. Có người phát minh ra một cỗ máy giúp với cùng ngần ấy người có thể làm ra số lượng đinh ghim gấp đôi so với trước. Nhưng thế giới không cần số lượng đinh ghim gấp đôi: đinh ghim đã rẻ đến mức hầu như sẽ không có thêm người nào mua chỉ vì giá thấp hơn. Trong một thế giới hợp lý, tất cả những người làm công việc sản xuất đinh ghim sẽ chuyển sang làm việc bốn giờ thay vì tám giờ, và mọi thứ khác vẫn sẽ tiếp diễn như cũ. Nhưng trong thế giới thực tại, điều này sẽ bị coi là làm suy đồi đạo đức. Những người công nhân vẫn làm việc tám giờ, có quá nhiều đinh ghim, một số ông chủ phá sản, và một nửa số người trước đó làm công việc sản xuất đinh ghim bị ném ra ngoài đường thất nghiệp. Rốt cuộc, vẫn có một khoảng thời gian nhàn rỗi ngang bằng với phương án kia, nhưng một nửa số người thì hoàn toàn vô công rồi nghề trong khi một nửa còn lại thì vẫn làm việc quá sức. Bằng cách này, người ta đảm bảo rằng sự nhàn rỗi khó tránh khỏi đó sẽ gây ra sự khốn khổ cho tất cả thay vì trở thành một cội nguồn hạnh phúc chung cho nhân loại. Có thể tưởng tượng ra điều gì điên rồ hơn thế không?

Ý nghĩ rằng người nghèo nên có sự nhàn rỗi luôn là một cú sốc đối với người giàu. Ở Anh vào đầu thế kỷ mười chín, mười lăm giờ là thời gian làm việc bình thường trong ngày của một người đàn ông; trẻ em đôi khi cũng làm từng đó, và rất phổ biến là làm việc mười hai giờ một ngày. Khi những kẻ hay lo chuyện bao đồng gợi ý rằng có lẽ những giờ làm việc này là khá dài, họ nhận được câu trả lời rằng làm việc sẽ giúp người lớn tránh xa rượu chè và trẻ em khỏi trò táy máy nghịch ngợm. Khi tôi còn là một đứa trẻ, ngay sau khi những người dân lao động thành thị giành được quyền bầu cử, một số ngày nghỉ lễ công cộng đã được thiết lập bởi luật pháp, trước sự phẫn nộ tột độ của giới thượng lưu. Tôi nhớ từng nghe một Nữ công tước lớn tuổi nói: “Người nghèo thì cần gì ngày nghỉ? Họ phải làm việc.” Mọi người ngày nay ít thẳng thắn hơn, nhưng tư tưởng này vẫn tồn tại, và nó chính là nguồn gốc của vô vàn sự hỗn loạn về kinh tế.

II

Hãy thử, trong giây lát, xem xét đạo đức của công việc một cách thẳng thắn, không mê tín. Mỗi một con người, theo lẽ tất yếu, đều tiêu thụ trong quá trình sống của mình một lượng nhất định sản phẩm từ sức lao động của con người. Nếu giả định rằng, như chúng ta thường làm, lao động nói chung là một việc không lấy gì làm dễ chịu, thì thật bất công khi một người tiêu thụ nhiều hơn những gì anh ta tạo ra. Tất nhiên anh ta có thể cung cấp dịch vụ thay vì hàng hóa, chẳng hạn như một bác sĩ; nhưng anh ta nên cung cấp một thứ gì đó để đổi lấy cái ăn cái mặc của mình. Tới giới hạn này, nghĩa vụ làm việc phải được thừa nhận, nhưng cũng chỉ tới giới hạn này mà thôi.

Tôi sẽ không xoáy sâu vào thực tế rằng trong mọi xã hội hiện đại bên ngoài Liên Xô, nhiều người thậm chí còn trốn tránh được cả mức công việc tối thiểu này, cụ thể là những người thừa kế tài sản và những người kết hôn với người giàu có. Tôi không nghĩ việc những người này được phép nhàn rỗi lại có tác hại bằng thực tế là những người làm công ăn lương bị kỳ vọng là phải làm việc cật lực hoặc nếu không sẽ chết đói. Nếu người làm công ăn lương bình thường làm việc bốn giờ một ngày thì sẽ có đủ cho tất cả mọi người, và không có thất nghiệp – với giả định là có một sự tổ chức hợp lý ở mức độ rất vừa phải. Ý tưởng này gây sốc cho những người khá giả, bởi họ đinh ninh rằng người nghèo sẽ không biết cách sử dụng ngần ấy thời gian nhàn rỗi. Ở Mỹ, nam giới thường làm việc nhiều giờ ngay cả khi họ đã giàu có; những người như vậy, dĩ nhiên, phẫn nộ trước ý tưởng về sự nhàn rỗi cho người làm công ăn lương trừ khi đó là hình phạt tàn nhẫn của sự thất nghiệp, thực tế là, họ ghét sự nhàn rỗi ngay cả đối với con trai của mình. Kỳ lạ thay, trong khi họ muốn con trai mình phải làm việc chăm chỉ đến mức không còn thời gian để trau dồi văn hoá, nhưng họ chẳng bận tâm mấy nếu vợ và con gái mình rảnh rỗi ngồi không. Sự ngưỡng mộ học đòi kiểu cách đối với sự vô dụng, thứ mà trong một xã hội quý tộc áp dụng cho cả hai giới, thì dưới chế độ tài phiệt lại chỉ giới hạn ở phụ nữ; tuy nhiên, điều này không làm cho nó trở nên hợp lý hơn chút nào.

Cần phải thừa nhận rằng, việc sử dụng thời giờ nhàn rỗi một cách khôn ngoan là sản phẩm của nền văn minh và giáo dục. Một người đã đầu tắt mặt tối suốt cả cuộc đời sẽ đâm ra buồn chán nếu anh ta đột nhiên trở nên nhàn rỗi. Nhưng nếu không có một lượng thời gian nhàn rỗi đáng kể, con người sẽ bị tước đoạt đi rất nhiều điều tuyệt vời nhất. Không còn bất kỳ lý do gì để đại bộ phận dân chúng phải gánh chịu sự thiếu thốn này nữa; chỉ có một chủ nghĩa khổ hạnh ngu ngốc, thường là chịu sự khổ hạnh thay cho người khác, mới khiến chúng ta cứ khăng khăng một cách khe khắt về việc phải lao động quá mức khi mà nhu cầu đó không còn tồn tại.

Trong tín ngưỡng mới đang kiểm soát chính phủ Nga, mặc dù có nhiều điều rất khác biệt so với những lời giáo huấn truyền thống của phương Tây, nhưng có một số thứ hoàn toàn y nguyên. Thái độ của các giai cấp thống trị, và đặc biệt là của những người kiểm soát công tác tuyên truyền giáo dục, đối với chủ đề về phẩm giá của lao động gần như giống hệt với những gì mà các giai cấp cai trị trên thế giới vẫn luôn rao giảng cho cái được gọi là “những người nghèo lương thiện”. Sự siêng năng, tính thanh đạm, sự sẵn lòng làm việc trong nhiều giờ vì những lợi ích xa xôi, thậm chí là sự phục tùng quyền lực, tất cả những điều này lại xuất hiện; hơn nữa, quyền lực đó vẫn đại diện cho ý chí của Đấng chí tôn của vũ trụ, thế nhưng, Đấng ấy giờ đây được gọi bằng một cái tên mới, Chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Chiến thắng của giai cấp vô sản ở Nga có một số điểm chung với chiến thắng của phong trào nữ quyền ở một số quốc gia khác. Từ bao đời nay, nam giới đã thừa nhận sự thánh thiện vượt trội của phụ nữ và đã an ủi phụ nữ về sự thua kém của họ bằng cách duy trì quan điểm rằng sự thánh thiện thì đáng khao khát hơn quyền lực. Cuối cùng, những người theo chủ nghĩa nữ quyền quyết định rằng họ sẽ có cả hai, bởi vì những người đi tiên phong trong số họ tin vào tất cả những gì đàn ông đã nói với họ về sự hấp dẫn của đức hạnh nhưng lại không tin những gì đàn ông nói với họ về sự phù phiếm của quyền lực chính trị. Một điều tương tự cũng đã xảy ra ở Nga đối với công việc chân tay. Từ bao đời nay, những người giàu có và những kẻ nịnh bợ họ đã viết ra những lời ca ngợi “sự lao động lương thiện”, đã ngợi ca cuộc sống giản dị, đã tuyên xưng một tôn giáo dạy rằng người nghèo có khả năng lên thiên đường cao hơn nhiều so với người giàu, và nhìn chung đã cố gắng làm cho những người lao động chân tay tin rằng có một sự cao quý đặc biệt nào đó ở việc thay đổi vị trí của vật chất trong không gian, giống hệt như cách đàn ông đã cố gắng làm cho phụ nữ tin rằng họ có được sự cao quý đặc biệt từ sự nô dịch tình dục của chính mình. Ở Nga, tất cả những giáo lý này về sự xuất sắc của lao động chân tay đã được tiếp nhận một cách nghiêm túc, dẫn đến kết quả là người lao động chân tay được vinh danh hơn bất kỳ ai khác. Về bản chất, những lời kêu gọi mang tính khôi phục tín ngưỡng được đưa ra để thu hút những công nhân xung kích cho các nhiệm vụ đặc biệt. Công việc chân tay trở thành lý tưởng được đặt ra trước giới trẻ, và là nền tảng của mọi sự giáo dục đạo đức.

Trong hiện tại, những điều này là hoàn toàn tốt đẹp. Một quốc gia rộng lớn, dồi dào tài nguyên thiên nhiên, đang chờ đợi được phát triển và phải được phát triển mà sử dụng rất ít tín dụng. Trong những hoàn cảnh này, làm việc chăm chỉ là cần thiết và có khả năng mang lại phần thưởng to lớn. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi đạt tới ngưỡng mà tất cả mọi người đều có thể có cuộc sống thoải mái mà không cần phải làm việc nhiều giờ?

Ở phương Tây, chúng ta có nhiều cách khác nhau để đối phó với vấn đề này. Chúng ta không có nỗ lực nào hướng tới sự công bằng kinh tế, vì vậy mà một tỷ lệ lớn tổng sản phẩm rơi vào tay một bộ phận thiểu số của dân số, nhiều người trong số họ chẳng làm việc gì cả. Do thiếu sự kiểm soát tập trung đối với sản xuất, chúng ta tạo ra vô số những thứ không ai cần tới. Chúng ta để một tỷ lệ lớn lực lượng lao động ngồi không vì chúng ta có thể bỏ qua sức lao động của họ bằng cách bắt những người khác làm việc quá sức. Khi tất cả những phương pháp này tỏ ra không hiệu quả, chúng ta châm ngòi một cuộc chiến tranh: chúng ta xúi giục một số người sản xuất chất nổ cực mạnh, và một số người khác đi kích nổ chúng, cứ như thể chúng ta là những đứa trẻ vừa mới khám phá ra pháo hoa vậy. Bằng sự kết hợp của tất cả các thủ đoạn này, chúng ta đã xoay sở, dù khá khó khăn, để duy trì quan niệm rằng một khối lượng lớn công việc chân tay phải là số phận của một con người bình thường.

Ở Nga, nhờ vào sự công bằng kinh tế và sự kiểm soát tập trung đối với sản xuất, vấn đề sẽ phải được giải quyết theo cách khác. Giải pháp hợp lý sẽ là ngay khi các nhu yếu phẩm và tiện nghi cơ bản có thể được cung cấp cho tất cả mọi người, thì nên dần dần cắt giảm giờ lao động, cho phép một cuộc bỏ phiếu phổ thông quyết định, ở mỗi giai đoạn, xem liệu người ta thích có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn hay nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, khi đã giảng dạy về đức tính tối cao của việc lao động chăm chỉ, thì thật khó để hình dung xem làm thế nào các nhà chức trách có thể hướng tới một thiên đường nơi có nhiều sự nhàn rỗi và ít công việc. Có vẻ như họ sẽ liên tục tìm ra những kế hoạch mới mẻ mà theo đó sự nhàn rỗi ở hiện tại phải bị hy sinh cho năng suất trong tương lai. Gần đây tôi có đọc về một kế hoạch khéo léo được các kỹ sư Nga đề xuất nhằm làm ấm Biển Trắng và các bờ biển phía bắc Siberia bằng cách xây một con đập vắt ngang qua eo biển Kara. Một kế hoạch đáng ngưỡng mộ, nhưng có nguy cơ trì hoãn sự thoải mái của giai cấp vô sản lại hẳn một thế hệ, trong khi sự cao quý của lao động đang được phô diễn giữa những cánh đồng băng và bão tuyết của Bắc Băng Dương. Những chuyện kiểu như thế này, nếu nó xảy ra, sẽ là hệ quả của việc coi đức tính chăm chỉ làm việc như một mục đích tự thân, thay vì coi nó như một phương tiện để đi đến một trạng thái xã hội nơi nó không còn cần thiết nữa.

III

Thực tế là việc chuyển dịch vật chất, mặc dù một lượng nhất định của việc này là cần thiết cho sự tồn tại của chúng ta, nhưng chắc chắn không phải là một trong những mục đích của cuộc sống con người. Nếu đúng như vậy, chúng ta sẽ phải coi mọi công nhân đào mương đều vĩ đại hơn Shakespeare. Chúng ta đã bị dẫn dắt sai lệch trong vấn đề này bởi hai nguyên nhân. Một là sự cần thiết phải giữ cho người nghèo được an phận, điều này đã khiến người giàu trong suốt hàng ngàn năm rao giảng về phẩm giá của lao động, trong khi bản thân họ lại cẩn thận giữ cho mình không có chút phẩm giá nào trong khía cạnh này. Nguyên nhân thứ hai là một thú vui mới đối với cơ khí, thứ khiến chúng ta thích thú trước những thay đổi thông minh đến kinh ngạc mà chúng ta có thể tạo ra trên bề mặt trái đất. Không một động cơ nào trong hai động cơ này tạo ra bất kỳ sức hấp dẫn lớn lao nào đối với người lao động thực sự. Nếu bạn hỏi anh ta rằng anh ta nghĩ điều gì là phần tuyệt vời nhất trong cuộc sống của mình, anh ta sẽ khó mà nói rằng: “Tôi tận hưởng công việc chân tay vì nó làm tôi cảm thấy mình đang hoàn thành nhiệm vụ cao quý nhất của con người, và vì tôi thích nghĩ về việc con người có thể thay đổi hành tinh của mình đến nhường nào. Đúng là cơ thể tôi đòi hỏi những khoảng thời gian nghỉ ngơi, điều mà tôi phải cố gắng lấp đầy một cách tốt nhất có thể, nhưng tôi chưa bao giờ hạnh phúc bằng lúc bình minh lên và tôi có thể trở lại với công việc mệt nhọc, nơi khởi nguồn cho sự mãn nguyện của tôi.” Tôi chưa bao giờ nghe những người lao động nói những điều đại loại như vậy. Họ coi công việc, như đúng bản chất của nó, là một phương tiện cần thiết để mưu sinh, và chính từ những giờ phút nhàn rỗi mà họ có được bất cứ niềm hạnh phúc nào mà họ có thể tận hưởng.

Sẽ có người nói rằng mặc dù một chút nhàn rỗi thì thật dễ chịu, nhưng con người sẽ không biết làm gì để lấp đầy chuỗi ngày của mình nếu họ chỉ có bốn giờ làm việc trong số hai mươi bốn giờ. Nếu điều này là đúng trong thế giới hiện đại thì đó là một bản án kết tội cho nền văn minh của chúng ta; nó hẳn sẽ không đúng ở bất kỳ thời kỳ nào trước đây. Trước đây đã từng có một năng lực sống thanh thản và vui chơi mà ngày nay đã phần nào bị kìm hãm bởi sự sùng bái tính hiệu quả. Con người hiện đại cho rằng mọi thứ đều phải được thực hiện vì một mục đích nào đó khác, chứ không bao giờ vì chính bản thân nó. Những người có tư tưởng nghiêm túc, chẳng hạn, liên tục lên án thói quen đi xem phim, và nói với chúng ta rằng nó dẫn dắt giới trẻ vào con đường tội phạm. Nhưng mọi công việc liên quan đến việc sản xuất phim ảnh thì lại được coi trọng, bởi vì đó là công việc, và bởi vì nó mang lại lợi nhuận bằng tiền. Quan niệm cho rằng các hoạt động đáng khao khát là những hoạt động mang lại lợi nhuận đã làm mọi thứ đảo lộn tùng phèo. Người bán thịt cung cấp thịt cho bạn và người thợ làm bánh cung cấp bánh mì cho bạn thật đáng ca ngợi vì họ đang kiếm tiền, nhưng khi bạn thưởng thức thức ăn mà họ đã cung cấp, bạn chỉ là kẻ phù phiếm, trừ phi bạn ăn chỉ để lấy sức làm việc. Nói rộng ra, người ta giữ quan điểm rằng kiếm tiền là tốt và tiêu tiền là xấu. Khi thấy rằng chúng là hai mặt của một giao dịch, thì điều này thật lố bịch; người ta cũng có thể bảo vệ quan điểm rằng chìa khóa là tốt nhưng lỗ khóa là xấu. Cá nhân, trong xã hội của chúng ta, làm việc vì lợi nhuận; nhưng mục đích xã hội của công việc của anh ta lại nằm ở việc tiêu thụ những gì anh ta làm ra. Chính sự chia cắt giữa mục đích cá nhân và mục đích xã hội của quá trình sản xuất này đã khiến con người thật khó để suy nghĩ một cách rành mạch trong một thế giới mà việc tạo ra lợi nhuận là động lực cho nền công nghiệp. Chúng ta nghĩ quá nhiều về sản xuất và quá ít về tiêu dùng. Một hậu quả là chúng ta quá coi nhẹ việc tận hưởng và những niềm hạnh phúc giản đơn, và chúng ta không đánh giá sản xuất dựa trên niềm vui mà nó mang lại cho người tiêu dùng.

Khi tôi đề xuất rằng giờ làm việc nên giảm xuống còn bốn tiếng, tôi không có ý nói rằng tất cả thời gian còn lại nhất thiết phải dành cho những sự phù phiếm đơn thuần. Ý tôi là bốn giờ làm việc một ngày sẽ mang lại cho một người các nhu yếu phẩm và những tiện nghi cơ bản của cuộc sống, và phần thời gian còn lại sẽ là của anh ta để sử dụng theo cách anh ta thấy phù hợp. Một phần thiết yếu của bất kỳ hệ thống xã hội nào như vậy là giáo dục phải được tiến hành xa hơn mức hiện tại, và phải nhằm một phần vào việc mang lại những thị hiếu giúp con người có khả năng sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách thôn minh. Tôi không chỉ nghĩ chủ yếu đến những thứ được coi là “trí thức cao siêu”. Các điệu múa đồng quê đã biến mất ngoại trừ ở những vùng nông thôn hẻo lánh, nhưng những thôi thúc khiến chúng được nuôi dưỡng chắc chắn vẫn còn tồn tại trong bản chất con người. Những thú vui của cư dân đô thị đã trở nên thụ động một cách chủ yếu: xem phim, xem các trận bóng đá, nghe đài radio, và vân vân. Điều này xuất phát từ thực tế là những năng lượng chủ động của họ đã bị vắt kiệt bởi công việc; nếu họ có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, họ sẽ lại tận hưởng những thú vui mà họ có thể đóng vai trò tham gia tích cực.

Trong quá khứ có một tầng lớp nhàn rỗi nhỏ bé và một giai cấp công nhân đông đảo. Tầng lớp nhàn rỗi được hưởng những đặc quyền không hề có cơ sở từ công lý xã hội; điều này tất yếu khiến nó trở nên áp bức, làm hạn chế sự cảm thông của nó, và khiến nó phải phát minh ra những học thuyết nhằm hợp lý hóa các đặc quyền của mình. Những thực tế này làm giảm sút đáng kể sự vĩ đại của nó, nhưng bất chấp khiếm khuyết này, nó đã đóng góp gần như toàn bộ những gì chúng ta gọi là nền văn minh. Nó đã vun đắp nghệ thuật và khám phá ra các bộ môn khoa học; nó viết nên các cuốn sách, phát minh ra các hệ tư tưởng triết học, và gọt giũa các mối quan hệ xã hội. Thậm chí công cuộc giải phóng những người bị áp bức cũng thường được khởi xướng từ tầng lớp trên. Nếu không có tầng lớp nhàn rỗi, nhân loại sẽ không bao giờ thoát khỏi sự man dã.

Tuy nhiên, phương thức về một tầng lớp nhàn rỗi cha truyền con nối mà không đi kèm nghĩa vụ lại vô cùng lãng phí. Không có thành viên nào trong tầng lớp này được dạy để trở nên siêng năng, và toàn bộ giai cấp nói chung không phải là những người đặc biệt thông minh. Nó có thể sản sinh ra một Darwin, nhưng bù lại phải đối mặt với hàng chục ngàn những quý ngài địa chủ chưa bao giờ nghĩ được điều gì thông minh hơn việc đi săn cáo và trừng phạt những kẻ săn trộm. Ở hiện tại, các trường đại học được cho là sẽ cung cấp một cách có hệ thống hơn những gì mà tầng lớp nhàn rỗi đã vô tình cung cấp như một sản phẩm phái sinh. Đây là một sự cải tiến lớn, nhưng nó có những nhược điểm nhất định. Cuộc sống đại học quá khác biệt so với cuộc sống trong thế giới rộng lớn bên ngoài đến nỗi những người sống trong môi trường học thuật có xu hướng không ý thức được những mối bận tâm của những người đàn ông và phụ nữ bình thường; hơn nữa, cách họ diễn đạt bản thân thường làm triệt tiêu đi sức ảnh hưởng mà những quan điểm của họ lẽ ra phải có đối với công chúng. Một bất lợi khác là ở các trường đại học, các nghiên cứu được tổ chức sẵn, và người nghĩ ra một hướng nghiên cứu độc đáo mới mẻ có khả năng sẽ bị làm cho nhụt chí. Do đó, các tổ chức học thuật, dù hữu ích đến đâu, cũng không phải là những người giám hộ mẫu mực cho những lợi ích của nền văn minh trong một thế giới mà tất cả mọi người bên ngoài khuôn viên của chúng đều quá bận rộn để có thể theo đuổi những thứ không mang tính thực dụng.

Trong một thế giới nơi không ai bị ép buộc phải làm việc hơn bốn giờ một ngày, mỗi người sở hữu sự tò mò khoa học sẽ có thể thỏa mãn nó, và mọi họa sĩ sẽ có thể vẽ mà không bị chết đói, bất kể những bức tranh của anh ta có xuất sắc đến đâu. Các nhà văn trẻ sẽ không bị buộc phải thu hút sự chú ý về mình bằng những tác phẩm thương mại câu khách rẻ tiền, nhằm giành được sự độc lập về kinh tế cần thiết cho những tác phẩm đồ sộ, mà nếu cứ để đến khi thời cơ chín muồi, họ lại đánh mất đi thị hiếu và cả năng lực viết. Những người mà trong công việc chuyên môn của mình đã trở nên hứng thú với một khía cạnh nào đó của nền kinh tế hay chính phủ sẽ có thể phát triển các ý tưởng của mình mà không vướng phải sự xa rời thực tế của chốn học thuật vốn làm cho các công trình của những nhà kinh tế học tại trường đại học trở nên thiếu tính thực tiễn. Các y bác sĩ sẽ có thời gian để tìm hiểu về những tiến bộ của y học. Giáo viên sẽ không phải đấu tranh một cách bực dọc để giảng dạy như những cỗ máy những điều họ đã học từ thời trẻ, những thứ mà, trong khoảng thời gian đó, có thể đã được chứng minh là sai sự thật.

Trên hết, sẽ có hạnh phúc và niềm vui sống, thay vì những nơ-ron thần kinh mòn mỏi, sự kiệt sức, và chứng khó tiêu. Khối lượng công việc bị đòi hỏi sẽ đủ để làm cho sự nhàn rỗi trở nên thú vị, nhưng không đủ nhiều để tạo ra sự kiệt quệ. Vì con người sẽ không cảm thấy mệt mỏi trong thời gian rảnh rỗi của mình, họ sẽ không chỉ đòi hỏi những thú vui tiêu khiển vừa thụ động vừa nhạt nhẽo. Ít nhất một phần trăm số đó có lẽ sẽ dành thời gian không dùng cho công việc chuyên môn để theo đuổi những thứ có tầm quan trọng nhất định đối với công chúng, và vì họ không phải dựa dẫm vào những mưu cầu này để kiếm sống, sự độc đáo của họ sẽ không bị cản trở, và sẽ không cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn được đặt ra bởi những chuyên gia lão làng. Nhưng lợi ích của sự nhàn rỗi không chỉ xuất hiện trong những trường hợp ngoại lệ này. Những người đàn ông và phụ nữ bình thường, khi có cơ hội tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc, sẽ trở nên tử tế hơn, bớt chì chiết và ít có xu hướng nhìn người khác bằng con mắt hoài nghi. Sự hứng thú với chiến tranh sẽ lụi tàn, một phần vì lý do này, và một phần bởi vì chiến tranh sẽ kéo theo những công việc khắc nghiệt, dai dẳng cho tất cả mọi người. Bản tính tốt đẹp là một trong những phẩm chất đạo đức mà thế giới cần nhất, và bản tính tốt đẹp là kết quả của sự thảnh thơi và an toàn, chứ không phải của một cuộc sống đấu tranh gian khổ. Các phương pháp sản xuất hiện đại đã trao cho chúng ta khả năng đạt được sự thảnh thơi và an toàn cho tất cả mọi người; thay vào đó, chúng ta lại chọn cách làm việc quá sức đối với một số người và để cho một số khác rơi vào cảnh chiếc đói. Cho đến tận bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục hăng hái hệt như trước khi có máy móc. Trong chuyện này, chúng ta thật khờ khạo, nhưng chẳng có lý do gì để cứ tiếp tục khờ khạo mãi.


Xếp hạng: 3 trên 5.

Đăng ký theo dõi

Đăng ký để nhận thông báo mỗi khi mình đăng tải bài viết mới nhé!

Được xuất bản bởi


Bình luận về bài viết này

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc