
Tôi đã mò mẫm dò tìm cuốn này khá lâu, tin chắc nó hẳn chứa đựng muôn vàn lời khuyên chí lý từ một bậc thầy, có lẽ, theo cách nào đó, có thể giải quyết mọi vướng mắc của tôi trong việc viết lách. Mà vướng mắc của tôi là gì kia chứ? Đơn giản là tôi không viết được. Hoặc đúng hơn là tôi lười; tôi đi làm văn phòng rồi, thời kỳ rảnh rỗi ngồi không đã chấm dứt hẳn…
Tolstoy rất ghét việc bị hỏi xin lời khuyên viết lách. Ông dằn đi dằn lại từng tiếng một (tôi cảm tưởng như giọng nói của ông phải thật trầm hùng, oai nghiêm, khàn khàn), “Anh không nhất thiết phải viết. Anh có thể cày bừa, cắt cỏ, làm ruộng, nói chung, bất cứ thứ gì. Hãy chỉ viết khi anh không thể không viết mà thôi.” Còn Rilke, thi hào người Đức, thì đơn giản hơn: “Hãy tự hỏi mình vào giờ khắc tĩnh mịch nhất trong đêm: mình có chết nếu không viết không?”
Cho đến nay, tôi chưa chết. Tôi nghỉ sáng tác hai tháng rồi, thấy hoàn toàn bình thường, không có thôi thúc, không có giằng xé nội tâm, không có gì âm ỉ trong lòng cả. Cuộc sống của tôi bắt đầu đi về nền nếp, vào quỹ đạo chung như mọi người.
Quay trở lại với On Writing của Borges, đây là những điều bổ ích nhất tôi rút ra được:
Những gì một trường đại học tuyệt vời nên mang đến cho một nhà văn trẻ chính xác là điều này: sự trò chuyện, những cuộc tranh luận, nghệ thuật đồng tình, và, có lẽ quan trọng hơn cả, nghệ thuật bất đồng quan điểm. Từ tất thảy những điều này, khoảnh khắc ấy có thể sẽ đến, khi nhà văn trẻ cảm thấy mình có thể hóa phép những cảm xúc của bản thân thành thi ca. Tất nhiên, anh ta nên bắt đầu bằng cách bắt chước những nhà văn mà mình ngưỡng mộ. Đây chính là con đường để một nhà văn tìm thấy chính mình thông qua việc đánh mất đi chính mình—cái cách sống nhân bản kỳ lạ ấy, của việc sống đắm mình trong thực tại nhiều nhất có thể, đồng thời lại đang ngụ trong một thực tại khác, thực tại mà anh ta phải tự tay kiến tạo, thực tại của những giấc mơ.
Tôi nghĩ mỗi người đều chiếm giữ, chứa đựng trong mình vô vàn đường nét từ những cá nhân khác; hay, nói đơn giản, anh ta là tổng hoà của hằng hà sa số bản thể riêng biệt, và đến lượt những bản thể này, họ cũng không tránh khỏi số phận kia. Vậy thì chúng ta, theo một cách nào đó, gần như luôn luôn đạo văn. Làm sao có thể viết ra được một câu, một từ nào nguyên bản, không dây dướng tới bất cứ bậc trưởng bối tiền nhiệm nào? Chính câu vừa rồi là đạo văn của Maupassant…
Nói chung, điều tôi cho là quan trọng nhất trong một truyện ngắn là cốt truyện hay tình huống, trong khi ở một cuốn tiểu thuyết, điều quan trọng là các nhân vật… Do đó – nếu tôi được phép đưa ra một tuyên bố mang tính khái quát – trong việc viết một cuốn tiểu thuyết, bạn nên biết rõ mọi thứ về các nhân vật, và bất kỳ cốt truyện nào cũng được, trong khi ở một truyện ngắn, tình huống mới là thứ quan trọng.
Có lẽ không cần bàn thêm.
Nếu tôi kể một câu chuyện một cách nhanh chóng và cộc lốc, nó sẽ hoàn toàn không hiệu quả. Tôi đã cố gắng làm cho câu chuyện này hiệu quả bằng cách làm chậm nó lại.
Không có gì để bình cả.
Văn chương không chỉ là trò tung hứng ngôn từ; điều quan trọng là những gì không được nói ra, hay những gì có thể được đọc hiểu giữa các dòng chữ.
Giá trị của những khoảng lặng, đại loại vậy. Điều mà Hemingway hay Kawabata vẫn làm.
Tôi không chọn các chủ đề của mình, mà chính chúng chọn tôi. Tôi đã cố gắng hết sức để cưỡng lại chúng, nhưng chúng cứ liên tục quấy rầy và cằn nhằn tôi, để rồi cuối cùng tôi phải ngồi xuống, viết chúng ra và xuất bản chúng để rũ bỏ chúng đi.
Một nhà văn đi tìm đề tài: anh ta sẽ không nói, “Hôm nay tôi sẽ viết một truyện ngắn về mùa xuân”, rồi ngồi xuống viết một truyện ngắn về mùa xuân.
Hiện tại tôi đang từ bỏ sự uyên bác, hay đúng hơn là sự uyên bác giả tạo. Tôi cố gắng viết những câu chuyện đơn giản, chân phương.
Viết đơn giản là viết khó nhất.
Bình luận về bài viết này