Năm ngoái, sau khi ăn Tết đã đời và chuyển nhà xong xuôi, tôi bắt tay vào rải CV. Tôi vẫn nhớ mình lục lọi đủ vị trí trống ở các nhà xuất bản danh tiếng (hoặc ít nhất chúng gây ở tôi cảm tưởng thế): Trẻ, Văn học, Hội nhà văn, v.v. nhưng những lá thư xin việc gửi đi đều không nhận lại nổi một lời hồi đáp. Mãi sau này, một người anh chỗ quen biết mới chỉ tôi hay rằng những nhà xuất bản này hiếm khi nhận tay ngang, chưa kể còn không được ai giới thiệu và, anh nói thêm bằng giọng khá đời rằng “công việc biên tập viên thì chẳng lấy gì mà thi vị đâu.”
“Ngon nhất là vào được Kim Đồng. Trụ sở trên phố, bán đắt như tôm tươi, đã thế anh chị ở đấy toàn người giỏi. Chú ở đấy thì cứ đi theo xách dép cũng học được khối thứ, hơn là đâm đầu vào mấy công ty làng nhàng.”
“Em thì thích Nhã Nam hơn,” tôi đáp.
“Èo,” anh nhăn mặt, “đúng là trẻ người non dạ!”
Bấy giờ, tôi không hiểu mong muốn được gia nhập hàng ngũ Nhã Nam có gì ngô nghê, dại dột mà anh lại phán một câu làm tôi, một người thường lấy việc suy diễn làm thú tiêu khiển, không thể không băn khoăn. Anh còn nhắn gửi thêm vài lời khuyên, hết mực thiết thực nhưng lại không áp dụng được với tôi ở thời điểm đó. Dù sao thì tôi vẫn tiếp tục săn việc, sau cùng nộp đơn vào hai vị trí trống ở 1980 Books và X. Cả hai đều là những thương hiệu khá tên tuổi và không khó để bắt gặp sản phẩm của họ tại bất cứ nhà sách nào. 1980 Books không phản hồi, có vẻ như họ đã tìm được người. Hai ngày sau, tôi tới X phỏng vấn.
Văn phòng của X cách chỗ ở của tôi gần mười lăm cây số. Tôi vẫn nhớ chị HR đã trầm trồ ra sao trước nghị lực phi thường của tôi khi lặn lội tới phỏng vấn những hai vòng, cả hai buổi đều mưa tầm tã.
Tôi cần phải làm rõ ở đây một điều trước khi tiếp tục câu chuyện này: trước khi tới X, tôi hoàn toàn không có, thậm chí là một mẩu, kiến thức về ngành xuất bản cũng như nghề biên tập. Tôi chỉ biết biên tập viên sẽ làm việc với các bản thảo, sẽ cùng tác giả rà soát từng chương, săm soi câu chữ như vạch lá tìm sâu nhằm cho ra thành phẩm trau chuốt, như cách một toán thợ mộc ngồi đẽo gọt cho tới khi nó trở nên tròn trịa, láng o. Tôi chọn biên tập viên vì tôi thích được công việc chỉnh sửa. Ở X, mọi chuyện không đơn giản tới vậy. Họ không gọi vị trí của tôi là Biên tập viên, mà là “Quản lý xuất bản”. Một ông chú đã ngoài bốn mươi tuổi, diện quần kaki màu be và áo sơ mi cộc tay hãng Việt Tiến, được cắt cử tới training cho tôi. Chú có nụ cười ngờ nghệch nhưng đôi mắt ánh lên vẻ linh lợi, dáng đi gật gù như những nhà bác học lập dị; bằng giọng nói rè rè như một chiếc TV nhiễu, chú kiên nhẫn giảng giải cho tôi từng bước một về quy trình xuất bản một cuốn sách: tìm kiếm bản thảo tiềm năng, xin duyệt kinh phí từ ban giám đốc, làm việc với đội ngũ dịch giả, hiệu đính, nộp lưu chiểu, v.v.
“Thế bước chỉnh sửa bản thảo thì ở đâu hả anh?” Tôi cắt ngang.
“À, cái đó không phải việc của mình.”
“Vậy thì của ai anh?”
“Mình sẽ chỉ rà soát lỗi chính tả thôi, mà thường thì bên hiệu đính họ cũng thầu vụ đó cả rồi.”
Một buổi tối sau bữa đó vài ngày, khi đang lướt TikTok tôi bất ngờ thấy ông chú ấy đang livestream dạy toán ôn thi vào cấp ba. Hôm sau, tôi hỏi dò mọi người và từ họ tôi biết được rằng ông chú đó vốn là sinh viên ngành sư phạm Toán, làm tám năm trong ngạch như đúng thoả thuận rồi sau đó rẽ ngang sang vào X. để phụ trách chuyên mục sách giáo khoa, và gần đây nhất là mảng sách tham khảo. Hèn chi ở điệu bộ, cung cách ở ông chú ấy luôn phảng phất vài nét mà chỉ những người từng làm nhà giáo, từng công tác trong ngạch giáo dục mới có được. Tôi cho rằng tất thảy nằm ở “thiên hướng sư phạm.” Mặc dù những lời ông chú ấy chỉ bảo cho tôi không mấy bổ ích, nhưng cách ổng nói quả nhiệt tâm hiếm thấy.
Có lẽ nên tả sơ qua về văn phòng làm việc của tôi ở X cho bạn đọc dễ hình dung. Nó là một toà nhà nằm trong lô đất tái định cư ở một phường của quận Bắc Từ Liêm, có bảy tầng; tầng dưới cùng là hầm để xe và kệ đựng giày, nhân viên phải đi dép lên trên tầng hai tới tầng sáu, là các tầng làm việc của từng phòng ban riêng. X còn có một kho sách cách văn phòng chừng năm trăm mét, tôi có ghé qua đó hai, ba lần và một lần cao hứng thậm chí còn bỏ tiền ra mua sách của công ty. Tầng bảy, tầng trên cùng, là nhà ở của sếp sòng. Anh này mới ngoài bốn mươi tuổi, dáng dấp phốp pháp và trông khá dễ gần. Anh hiếm khi ở văn phòng và thường ra ngoài từ rất sớm, như mọi ông sếp khác. Có một bác tạp vụ, ngày ngày vẫn nấu cơm cho một số chị em tầng ba, là nơi tôi ngồi làm việc, và bác kiêm luôn việc dọn dẹp, lau chùi, tất tật. Mỗi lần tổ chức tiệc hay ăn uống gì đấy họ đều mời bác đi, và Ban Văn hoá của X không tiếc lời ca ngợi bác như một tấm gương về sự mẫn cán mà mọi nhân viên đều nên học tập theo. Chung quy lại, tôi quý bác tạp vụ đó, bác thường đáp “À chào cháu!” một cách máy móc mỗi khi tôi trốn ra ngoài uống trà đá trong giờ làm, và bất kể gặp tôi bao nhiêu lần trong ngày, bác vẫn chào tôi như thể mới gặp tôi lần đầu tiên.
Ban đầu, tôi cứ ngỡ bà tạp vụ là vợ của bác bảo vệ. Hai người họ luôn nhìn nhau bằng ánh mắt tình tứ. Hoá ra giữa họ chẳng có liên hệ nào hết ngoài việc họ cùng làm ở X. Bác bảo vệ là một người ngoài sáu mươi, bộ dạng phốp pháp, mặt mũi đỏ gay như trái phúc bồn tử và có dáng đi ngất ngưởng cứ như thể bác vừa tợp tí rượu xong. Bác kê một bộ bàn ghế gỗ ngay dưới bậc thềm, mỗi sáng bật con loa cỡ đại lên và nghêu ngao mấy bài hát mà chỉ người cùng thời bác mới thẩm nổi. Bác ăn mặc như những ông bảo vệ bình thường, quần vải suông màu navy đậm, áo sơ mi cộc tay màu trắng xanh và đội một chiếc mũ lưỡi trai như những sĩ quân hạ cấp. Bác bị gút nặng, nhưng khoái thịt chó và không có dấu hiệu gì cho thấy bác sẽ bỏ cả. Bác thường gầm lên trước miệng lưỡi tọc mạch của người đời rằng bác vẫn sẽ cứ ăn, – Tao sợ chó gì gút!, – rồi đả một bữa no nê, hôm sau bác xin vắng vì bệnh gút tái phát, đau đến phát khóc lên được. Mặc dù công việc như một bác bảo vệ, nhưng mọi người trong văn phòng đều dành một sự kính nể nhất định cho bác, không khó để nhận ra sự thật hiển hiện này, khi tất cả đều chào bác một cách hết sức nhã nhặn, niềm nở và đôi khi tôi còn thấy vài biểu hiện của sự xun xoe. Họ xun xoe như những chú cún, nhưng cũng có thể là họ quý bác thật, mà thực ra việc này cũng hợp lý khi bác là bố của sếp họ. Một ngày, bác chìa trước mắt tôi huy hiệu có tên bác kèm dòng chữ “Trưởng Ban Quản Lý Toà Nhà” bên dưới, tôi chỉ biết lặng lặng cười.
Công việc của tôi tại X, như đã nói, là Quản lý Biên tập. Văn phòng chia làm ba gian, gồm bốn hàng dài máy tính, nhân viên ngồi đối diện nhau như trong một quán net. Thật kỳ lạ khi họ xếp Quản lý biên tập ngồi chung với hội Marketing, rồi Quay dựng, Thiết kế, Kế toán, Chăm sóc khách hàng, v.v. Tôi có đi khảo sát các tầng khác thì thấy phòng Kinh doanh riêng, phòng Kho vận riêng, phòng Hành chính Nhân sự riêng, ấy vậy mà cái phòng của tôi lại chẳng khác nào một đống hổ lốn được tập hợp lại, nhét chung vô một phòng rồi quẳng đại cho nó một cái tên: Phòng Marketing – Xuất Bản. Chị Sếp (luôn là chữ S viết hoa) vốn là dân Marketing, nhưng chị thầu luôn vị trí Trưởng phòng và theo miệng mọi người thì có vẻ chị cũng biết đôi điều về xuất bản. Chị quý tôi ra mặt vì tôi cũng từ Marketing mà ra, và đối với chị, tương lai đang mở rộng trước mắt tôi, vì bằng năng lực và tư duy nền tảng tôi thu nhận được từ trường đại học, kết hợp với những kỹ năng thực chiến trong nghề biên tập, chắc chắn tôi sẽ đem lại cho công ty những “bom tấn” – khẩu hiệu của ban giám đốc trong các buổi họp tháng. Bom tấn ở đây là những cuốn sách bán chạy. Ở X, mới năm ngoái, có một chị đã lĩnh thưởng hơn 12 tháng lương nhờ một đầu sách, và người trợ lý của chị, dù chỉ làm những công việc làng nhàng mà chị không muốn động tới, cũng hưởng sái đâu đó chừng 5, 6 tháng lương. Chị trợ lý đó hơn tôi một tuổi và mới vào X làm được chưa tròn năm. Tôi vẫn nhớ chị ngồi ngay sau lưng tôi. Nếu để chê bai X thì tôi nghĩ chị viết sẽ đầy đủ hơn tôi, nhưng tôi luôn thắc mắc tại sao chị vẫn trụ lại chốn đó. Sau khi dính mông ở cái văn phòng ngột ngạt như nhà giam lỏng ấy gần mười tiếng trời, chị phải ăn một bữa tối qua quýt rồi phóng vội tới trung tâm Tiếng Anh để dạy học hay làm trợ giảng gì đó. Hình như chị yêu một anh cũng làm ở X, ở trên tầng 5 thì phải. Họ sống chung nhà, sáng đi làm, tối về nấu ăn, thi thoảng làm tình còn thường thì sẽ lên giường lướt điện thoại vài tiếng rồi đi ngủ. Mới vài ngày trước, tôi thấy chị đăng ảnh lễ dạm ngõ: chị chuẩn bị lên xe hoa. Có vẻ như chị đã đá người bạn trai cùng tuổi kia và ngay lập tức nhận lời hẹn hò rồi về nhà cùng một ông anh 9x. Đúng là đời mà.
Nhiệm vụ của tôi ở X, mô tả một cách đơn giản, là lên Amazon tìm những đầu sách có tiềm năng bên nước ngoài để chuyển ngữ sang tiếng Việt. Nhưng Amazon là một cái chợ, và tất cả những cuốn tôi nhắm được thì luôn về tay Alpha Books, hoặc NXB Trẻ, hoặc một ông nào đấy. Nói chung là luôn có người đến trước mình rồi, thậm chí họ còn đặt hàng trước khi cuốn sách đó được xuất bản bên nước ngoài. Đó là chưa kể tới vô vàn bất cập trong việc xét duyệt các đầu sách. Ban giám đốc đề ra một ý tưởng (cái ý tưởng này, ngu ngục và vô lý chẳng để đâu cho hết) như sau: mỗi một thành viên trong đội Xuất bản, nếu muốn được chuyển ngữ một cuốn nào đó, trước hết cần thuyết trình về cuốn sách trước mặt toàn thể mọi người trong phòng, rồi sau đó nếu được cho qua thì tiếp tục chinh chiến ải các “giám đốc” (gồm cả trưởng phòng nhân sự và trưởng phòng kho vận), những người thật sự không có lấy một mẩu kiến thức về xuất bản nhưng luôn đòi hỏi mọi cuốn sách đem đi xét duyệt đều cần cam kết số lượng bán từ trước; tổng kết lại, cảm tưởng nó gây nên nơi tôi là chốn làm việc chẳng mấy lý tưởng này sặc mùi tiền, chưa kể, họ đề cao danh tiếng của tác giả hơn những ý tưởng của ông ta. Chẳng hạn như những đầu sách của Warren Buffett. Tôi vẫn nhớ chính ông anh từng training cho tôi đã đề xuất chuyển ngữ cuốn đó. Nếu nói thẳng thắn thì cách anh trình bày nội dung cuốn sách không khác nào tụng kinh, vì anh thuyết trình bằng một giọng hết sức ề à, đều đều, như đưa nôi đánh võng cho toàn thể văn phòng. Mọi người sốt ruột chờ anh kết thúc bài độc tấu. Bất chấp màn pitching hết sức tệ hại ấy, cuốn ấy vẫn được đánh giá 9/10 và giám đốc ra chỉ thị cần phải tức tốc liên hệ để thầu về. Tôi cũng được chọn vài cuốn, phần lớn là những cuốn theo dạng “đãi cát tìm vàng”. Cực chẳng đã, vì biết trước những cuốn bán chạy bên nước ngoài đều đã bị thầu trước, tôi chỉ tập trung tìm những cuốn chứa đựng những ý tưởng độc đáo nhưng được ít người biết đến. Sau khi trải qua hai vòng kiểm duyệt, tôi sang bước tiếp theo: mua bản quyền. Đây có lẽ là công việc gây nản chí nhất trong cả quy trình, vì theo tôi hình dung, mỗi phòng xuất bản nên đặc cử một vài nhân sự chuyên phụ trách việc mua bán bản quyền. Ở X, ai muốn chuyển ngữ cuốn nào thì tự liên hệ để đặt cọc cuốn đó. Thậm chí tôi còn chưa được cấp mail công ty. (Chị HR bảo tôi rằng tôi sẽ được cấp khi lên nhân viên chính thức.) Nhưng điều tệ hại nhất là đám tác giả (phần lớn vì vẫn có một vài tác giả tỏ ra rất hoà nhã và phản hồi tôi với một tốc độ nhanh chóng bất thường, dù chỉ để thông báo rằng cuốn sách này đã bị bán cho bên khác rồi), không bao giờ trả lời những tin nhắn về bản quyền cả, dù tôi có cố liên hệ với họ qua Instagram hay Whatsapp. Tôi vẫn nhớ khi tôi đã sang làm công ty mới được bốn tháng thì một nhà xuất bản tôi từng hỏi xin bản quyền hồi ở X mới phản hồi tôi. Thường thì những bên trung gian sẽ phản hồi nhanh hơn, đơn cử như những đại diện chính thức của nhà xuất bản đó tại Việt Nam hoặc khu vực châu Á. Thật rầu rĩ khi mà một tháng thử việc trôi qua và tất cả những gì tôi làm là lên Reddit, , NYT, Guardian, v.v. để mò cho ra những đầu sách hot, rồi cất công chuẩn bị slide, thuyết trình đến lạc giọng, được duyệt và tin nhắn hỏi mua bản quyền mãi bặt vô âm tín, như thể ta vứt một chiếc rìu xuống dưới giếng và mong đợi một ông bụt nào đó sẽ hiện ra và cho ta ba lựa chọn. Mọi thứ cứ như tắc tịt, và tôi thực chất chỉ dậm chân tại chỗ ở bước một. Tôi tìm ra năm, mười, rồi mười lăm cuốn, được duyệt tất, nhưng chỉ một phần mười trong số đó sẽ trả lời mail của tôi, và luôn là “I’m sorry to inform you that…” Ôi thôi, tôi thuộc làu về sau rồi!
Các Quản lý Xuất bản ở X bị dí KPI có lẽ chỉ sau Sales. Sales cần cam kết số bán ra, mà thường họ chỉ cam kết như một động thái chống chế thôi vì thực chất họ thiếu cơ sở để cam kết: chất lượng cuốn sách phần lớn do Quản lý Xuất bản quyết định và mức độ được biết đến của cuốn sách lại nhờ vào tài cán của đội Marketing trong việc khai thác ngân sách công ty. Vậy nên, doanh số của Sales, có thể nói, bị ảnh hưởng nặng nề bởi phòng của tôi. Anh em Sales cuối tháng có tiền mua trang sức tặng vợ, xe cộ sáng choang, gửi con đi học ở trường tư, v.v. hay không, thì tốt nhất là lạy lật từ phía QLXB và Marketing trở đi. Chắc bởi vậy mà mỗi lần tôi xuống phòng Sales, các anh chị đều rất hồ hởi đón chào, thậm chí còn xởi lởi hơn những người trong phòng tôi, nhưng cũng có thể đó chỉ là một tác dụng phụ của bán hàng. Marketing ở X thì chạy ads là chính: mỗi nhân viên sẽ được trao một ngân sách nhất định, cam kết bằng tỷ lệ chuyển đổi; nếu vượt quá ngân sách cho phép, họ sẽ bị trừ thẳng vào lương. Tương tự, QLXB sẽ buộc phải cho ra một lượng đầu sách nhất định trong tháng, nếu không đạt được sẽ bị trừ vào lương cứng. Bà chị ngồi cạnh tôi hồi ấy nói rằng thử việc là quãng thời gian chị dư dả nhất khi ở X, bởi khi đã lên chính thức thì sẽ bị áp số, mà hầu như 80% QLXB đều không đạt được. Lương họ cập bến ngày mùng 10 như một thứ đầu thừa đuôi thẹo, méo mó chỗ này chỗ kia, tháng nào cũng hụt. Họ cố gắng cày cuốc cả năm để cho ra một đến hai đầu sách bom tấn, bán cực chạy, nổ bôm bốp như bắp rang bơ, khiến bà chị CRM dẫu có nói giọng địa phương hay ngọng líu lưỡi thì đơn vẫn về ầm ầm. Nhờ những cuốn đó, các QLXB có thể gỡ gạc lại phần lớn, hoặc có khi là vượt hẳn, mức thu nhập dự tính ban đầu. QLXB ở X thường áp lực nhất, nhưng khi máy đếm tiền rung, họ cũng nhận về nhiều nhất. Có lẽ đó là mỏ neo giữ nhiều người nán lại với cái văn phòng này.
Có hai QLXB khác vào cùng đợt với tôi. Một người cùng chuyên mục Kỹ năng sống giống tôi, một người ứng tuyển vào chuyên mục Tiếng Hàn nhưng tạm thời bị xếp sang Kỹ năng sống. Làm được một tuần thì chị ấy bỏ việc. Chị gái còn lại, hơn tôi một tuổi, là sinh viên từ Học viện Ngoại Giao ra. Chị yêu thích và am tường ngành xuất bản, từng làm cho một công ty xuất bản nhỏ trước đây, đọc nhiều sách, thích văn chương và đôi khi cao hứng còn viết lách chút đỉnh. Tôi từng đọc qua các tác phẩm của chị, chúng giống hệt văn của mấy lão người Nhật. Có qua có lại, chị cũng đọc vài bản thảo của tôi, góp ý chân thật. Không đả động gì tới việc tôi có tài năng hay không, chị chỉ khuyên tôi nên kết giao với các văn nhân, qua đó cơ hội được xuất bản của tôi sẽ cao hơn, bất kể tác phẩm của tôi không hay tới mức khiến người ta xiêu lòng. Tôi đáp rằng tôi mong mình sẽ viết ra những tác phẩm thật hay và không bao giờ xuất bản chúng, cho tới khi tôi chết đi và một người nào đó, có thể là con cái tôi chẳng hạn, tìm thấy những tờ giấy nhàu nát nhám bụi trong hộc bàn, quyết định đem chúng ra ánh sáng. Chị cười. “Chúc em luôn giữ được niềm đam mê với viết lách,” chị nói, như thể chị đang nói với bản thân chị ngày trước. Tính tới thời điểm đó, chị đã bỏ ngỏ chiếc blog “thân thương” gần một năm trời, và sau khi tốt nghiệp thì chị chỉ quẩn quanh với đời sống văn phòng, tối đến chơi với con mèo ở nhà và đi hiệu sách vào cuối tuần. “Nếu em nghỉ việc ở đây,” chị nói, “thì chị cũng nghỉ luôn. Chị về quê ăn bám bố mẹ vài tháng rồi lên kiếm việc sau.”
Chị đã giữ lời. Một tuần sau khi tôi nghỉ việc, chị cuốn gói khỏi X. Vài tháng sau, tôi thấy chị bắt đầu viết trở lại. Có vẻ như chị đã tìm được một bến đỗ tốt hơn. Tôi không biết liệu chị có còn mong muốn được trở thành biên tập viên ở Nhã Nam nữa không. Còn tôi thì từ bỏ giấc mơ đấy rồi.
Khi kết thúc hai tháng thử việc, tôi đã suy nghĩ rất lung về chuyện có muốn tiếp tục gắn bó với X hay không. Tôi đã dự liệu đủ mọi tình huống, rằng tôi sẽ làm gì tiếp theo, hoặc giả sử tôi ở lại X, tôi phải làm thế nào để không phải ròng rã phi mười lăm cây số chỉ để nhìn chằm chằm vào màn hình, soạn thảo những bài điểm sách tẻ nhạt, đến tối về nằm ngủ lại nhìn trân trân lên trần nhà rồi thấy cuộc đời sao vô nghĩa. Chị Sếp dường như biết trước quyết định của tôi, vậy nên khi tôi ngồi trước chị và nói tôi sẽ bỏ việc, chị chỉ cười và, lạ thay, chúc mừng tôi. Có thể chị đã hơi quá miệng khi khen ngợi tôi, nhưng đại để là chị nói với tính cách và tiềm năng của mình, tôi có thể tìm được nhiều doanh nghiệp tốt hơn. Chị thừa nhận X không phải là một chỗ làm lý tưởng, thậm chí còn cách xa hai từ “chuyên nghiệp”. Nhân viên phần lớn là người già quen an phận, người trẻ ưa nhàn rỗi, có thể giả vờ bận rộn qua ngày rộng tháng dài miễn kế toán trả lương đúng hạn.
Dù sao thì tôi cũng cảm ơn chị vì đã chia sẻ thẳng thắn và hiểu cho tôi. Chị đứng dậy, bắt tay tôi và đi về chỗ ngồi. Ngay trong sáng hôm đó, tôi ký giấy bàn giao thiết bị và nộp đơn xin nghỉ việc. Đến giữa trưa, tôi chào mọi người rồi phi ra khỏi X như một cơn gió.
Trời đổ mưa. Hệt như hôm đầu tiên tôi tới đây.
Gửi phản hồi cho Ngọc Hương Hủy trả lời