Tất cả những lời bình dưới đây đều là quan điểm cá nhân.
Cảnh báo: Spoil nặng.
TIỂU THUYẾT
1. Giáo dục tình cảm, Gustave Flaubert, Lê Hồng Sâm dịch
Quá hay để được biết tới.
2. Bà Bovary, Gustave Flaubert, Trọng Đức dịch.
3. Chiến tranh và hoà bình, Leo Tolstoy
4. Anna Karenina, Leo Tolstoy, Nhị Ca dịch.
5. Đỏ và đen, Stendhal, Tuấn Đô dịch.
6. Lão Goriot, Balzac
7. Bút ký người đi săn, Turgenev
Người giỏi viết bút ký cũng thành kiệt tác.
8. Cha và con, Turgenev
Tiểu thuyết được biết đến nhiều nhất và theo tôi cũng là tiểu thuyết hay nhất của Turgenev.
9. Pierre và Jean, Guy de Maupassant
Câu chuyện về hai anh em thù hằn nhau “do hoàn cảnh”. Pierre, người anh, vô tình phát hiện ra Jean, em trai của mình, là kết quả của mối tình vụng trộm giữa người mẹ mà anh hằng tôn kính với một quý ông đã qua đời.
10. Chùm nho thịnh nộ, John Steinbeck
Steinbeck là một nhà văn có lối sống không mấy đáng kính, nhưng văn của lão thì tuyệt hảo.
11. Bay trên tổ chim cúc cu, Ken Kesey
Một trong số hiếm những tác phẩm văn học hiện đại mà ta có thể nhai đi nhai lại.
12. Oliver Twist, Charles Dickens
Có lẽ trong tác phẩm này giọng văn trào phóng của Dickens đã đạt tới tầm bậc thầy.
13. Hội chợ phù hoa, William Thackeray
Chưa đọc hết nên tạm thời chưa bình.
14. Đại gia Gatsby, F. Scott Fitzgerald
Cuốn sách mỗi năm tôi đọc lại một lần.
15. Những kỳ vọng lớn lao, Charles Dickens
Cuốn sách dẫn lối tôi vào địa hạt văn chương kỳ vĩ của Dickens.
16. Hai kinh thành, Charles Dickens
Một tiểu thuyết tràn trề tham vọng của Dickens nhưng chưa đủ tính bi kịch.
17. Bên phía nhà Swann & Dưới bóng những cô gái đương hoa, Marcel Proust
Suốt một thời gian dài, tôi đã thường đi ngủ sớm….
18. Hội hè miên man, Ernest Hemingway
Hemingway nên viết ký nhiều hơn.
19. Người Dublin, James Joyce
Bản dịch của Thiên Lương quá tệ. Nhưng đây là một tuyển tập truyện ngắn đáng đọc, nếu không muốn nói là một trong những tập truyện ngắn được đánh giá cao nhất.
20. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Mark Twain
Jack London từng nói rằng viết hài kịch là khó nhất, nhưng cũng được trả công hậu hĩnh nhất. “Như Mark Twain chẳng hạn.”
21. Tiếng gọi của hoang dã, Jack London
Dữ dội, hoang dại và thấm nhuần tinh thần tự do.
22. Mặt trăng và đồng xu, Somerset Maugham
Đơn giản, khúc chiết, giọng văn gần như lạnh lùng nhưng không ngừng lôi cuốn người đọc lật trang – đơn giản vì tự thân câu chuyện đã quá hay: Strickland (dựa trên danh hoạ Paul Gauguin), một nhà buôn chứng khoán tuổi tứ tuần, có vợ đẹp con khôn, bỗng dưng bỏ tất cả đi để tới sống trong một căn buồng tồi tàn, ăn uống kham khổ, chỉ để được vẽ tranh.
23. Chuyến tàu định mệnh, Georges Simenon
Một chuyện tình bi kịch thời chiến tranh. Tôi nhớ mình đã buồn mất mấy ngày sau khi gấp cuốn sách lại.
24. Truyện trinh thám của Agatha Christie
Trước khi xuất bản mỗi cuốn sách, Agatha Christie thường đọc bản thảo cho cả nhà cùng nghe. Con cháu bà xúm vào đoán xem ai là hung thủ, và thường thì họ đoán trật lất.
25. Tuyển tập Sherlock Holmes, Arthur Conan Doyle
Đừng mua lẻ truyện của Holmes, hãy mua tuyển tập, thường được chia làm ba phần. Cá nhân tôi đọc bản của Huyhoangbooks.
26. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor
Thú thực đọc Flannery O’Connor vài truyện không hiểu lắm, nhưng vẫn thấy hay và có thể đọc lại nhiều lần.
27. Của chuột và người, John Steinbeck
Tiểu thuyết “truyện vừa” của Steinbeck. Tính khúc chiết và giản dị trong ngôn từ được đẩy tới mức cao nhất, nhưng vẫn thấm đượm màu sắc bi kịch và khiến độc giả thổn thức khôn nguôi.
28. Người vô hình, H. G. Wells
Tôi ít đọc sách giả tưởng nhưng của Wells thì tôi không dám chê cuốn nào.
29. Những linh hồn chết, Gogol
Nếu Những linh hồn chết được hoàn thành, vị thế tiểu thuyết gia người Nga vĩ đại nhất thế kỷ 19 của Tolstoy sẽ bị lung lay.
30. Ông bạn đẹp, Guy de Maupassant
31. Don Quixote, Cervantes
Pho tiểu thuyết khiến ta khóc, cười và suy ngẫm.
32. Tuyển tập truyện ngắn Edgar Allan Poe
33. Một tổ quý tộc, Turgenev
34. Lolita, Vladimir Nabokov
Dễ bị lạc vào mê cung ngôn từ của Nabokov mà quên mất sự tha hoá nhân cách của nhân vật chính.
35. Tiếng cười trong bóng tối, Vladimir Nabokov
Một tiểu thuyết dài vừa phải và cũng hay vừa phải.
36. Tội ác và hình phạt, Dostoevsky
Bản thân tội ác không đáng sợ bằng việc che giấu tội ác.
37. Nhật ký viết dưới hầm, Dostoevsky
Thực ra thì đọc xong cuốn này tôi cũng không hiểu tại sao Dos có thể viết tài tình tới mức thế.
38. Cá voi trắng, Herman Melville
39. Frankenstein, Mary Shelley
40. Chìm nổi giữa Paris và London, George Orwell
41. Middlemarch, George Eliot
42. Câu chuyện dòng sông, Herman Heese
43. Rừng Na Uy, Haruki Murakami
44. Mãi đừng xa tôi, Kazuo Ishiguro
45. Châu Phi nghìn trùng, Isak Dinesen
46. Những người khốn khổ, Victor Hugo
47. Một cuộc đời, Guy de Maupassant
48. Vẽ một phụ nữ, Henry James
49. Sông Đông êm đềm, Sholokhov
50. Phục sinh, Tolstoy
51. Phía Đông vườn địa đàng, Steinbeck
52. Chuyện vặt ông Pickwick, Dickens
53. Nghệ nhân và Margarita, Mikhail Bugakov
54. Một anh hùng thời đại, Lermontov
55. Kiếp người, Somerset Maugham
Tôi vừa đọc xong Kiếp người (Of Human Bondage) của Maugham – hơn một nghìn trang. Có lẽ là thử thách lớn nhất với tôi từ sau Chiến tranh và hoà bình. Vì từng đọc khá nhiều hồi ký lẫn ghi chép của Maugham, tôi không khỏi nhận thấy Maugham thường lặp lại chính mình. Ông viết cuốn tiểu thuyết bán tự truyện này vào năm 1915, ở tuổi trung niên. Và ở những tiểu luận ông viết vào những năm cuối cùng, ông lần nữa đưa ra một vài định kiến đã gắn chặt với ông trong suốt cuộc đời. Ông xem trọng tài năng ở người nghệ sĩ (không có nó họ không là gì cả), nhưng với ông cá tính mới cốt yếu hơn tất cả. Xét về mặt chuyên môn, ông không phải là người đem đến những cách tân cho văn học; ông làm điều mà mọi nhà văn phải làm – kể chuyện, và không thể chấp nhận việc một tác phẩm lại thiếu đi cốt truyện. “Nếu hoạ sĩ suy nghĩ bằng đường nét và màu sắc, thì nhà văn suy nghĩ bằng cốt truyện”. Lý lẽ khó phản bác. Ông đọc rộng, phần vì công việc, phần vì không có nhiều thứ hơn để làm; ông coi kỹ năng đọc lướt là phẩm chất quan trọng của một độc giả; nhưng tôi thực sự không hiểu nổi quan điểm của ông cho rằng việc đọc đi đọc lại một tác phẩm là vô ích. Ông đã mượn lời Philip Carey để diễn giải lập trường của mình như sau:
– Tôi không hiểu cứ đọc đi đọc lại mãi một thứ thì ích lợi gì – Philip nói – Đây chỉ là hình thức nặng nề của bệnh lười nhác.
– Nhưng liệu anh có nghĩa rằng trí nhớ của anh tuyệt vời đến nỗi chỉ đọc một lần đầu là anh có thể hiểu được một nhà văn uyên thâm nhất không?
– Tôi không cần hiểu họ. Tôi không phải nhà phê bình. Tôi quan tâm đến họ vì lợi ích của tôi, chứ không phải vì lợi ích của họ.
– Vậy thì anh đọc để làm gì?
– Một phần để mua vui, vì đó là thói quen, nếu tôi không đọc, tôi thấy khó chịu ngay cũng như không hút thuốc lá, một phần là để hiểu được mình. Khi đọc sách, dường như tôi chỉ đọc bằng mắt, nhưng thỉnh thoảng tình cờ tôi bắt gặp một đoạn văn, có thể chỉ một câu thôi có ý nghĩa với tôi, thế là nó trở thành một bộ phận của cơ thể tôi. Thế là từ sách vở tôi đã rút ra được mọi điều có ích cho tôi, nên dù có đọc đến hàng chục lần tôi cũng chẳng thu nhận được gì hơn.
Hiển nhiên chúng ta đọc sách như những kẻ vụ lợi; người kiếm tìm niềm vui (những niềm vui rất khác nhau!), người kiếm tìm tri thức, và dĩ nhiên họ nên làm vậy. Nhưng không có minh chứng nào cho thấy chỉ qua một lần đọc người ta có thể “rút ra được mọi điều có ích” cho bản thân, vì chúng ta há chẳng vẫn nhiều phen ngạc nhiên vì nhiều ý tưởng mới lạ hiển hiện trong một tác phẩm ở một lần đọc lại, điều mà dù cẩn trọng mức nào ta vẫn sẽ bỏ lỡ ở lần đọc trước. Tuy nhiên, đó chỉ là quan điểm của riêng tôi, tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình; tôi cũng không ở đây để bàn về cách đọc sách, do đó tôi sẽ mau chóng trở lại với chủ đề.
Vì Kiếp người là một tiểu thuyết bán tự truyện, ta không thể không điểm qua vài nét về cuộc đời Somerset Maugham. Tôi sẽ nói vắn tắt. Maugham sinh năm 1974. Ông nội của ông là một luật gia, một người có chức tước và thành đạt; ông hành nghề tại Paris, và chính tại đây, cha mẹ Maugham đã cưới nhau và đứa con trai duy nhất của họ chào đời mang quốc tịch Pháp, biết nói tiếng Pháp trước cả tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Năm 1882, người mẹ qua đời vì bệnh lao, hai năm sau người bố nối gót, và cậu bé Maugham tám tuổi được gửi về Anh để sống với người chú ruột Henry, một linh mục. Maugham bình sinh nhút nhát và mắc chứng nói lắp, cố tật sẽ đeo đẳng ông suốt đời. Mặc dù được nuôi nấng trong bầu không khí tôn nghiêm ở nhà người chú linh mục của mình, Maugham sớm đánh mất niềm tin vào Chúa và trở thành người vô thần. Cuộc sống ở trường học không mấy êm ả với một chú bé nhút nhát, còi cọc, ăn nói ngắc ngứ, hơn nữa còn hững hờ với thể thao. Mười sáu tuổi, Maugham vui sướng được thoát khỏi King và thuyết phục thành công cô chú cho mình đến Đức. Năm ấy ông mười sáu tuổi. Trong một năm rưỡi tiếp theo, ông học văn học, triết học và tiếng Đức, có mối tình đồng tính đầu tiên với John Brooks, một học giả người Anh hơn ông mười tuổi. Chính Brooks đã nhen nhóm tham vọng trở thành nhà văn của Maugham và giới thiệu ông với các triết luận của Schopenhauer và Spinoza – những tác phẩm mà Maugham đã đọc nghiến ngấu. Cũng ở Đức mà Maugham đã viết cuốn sách đầu tiên của mình, một thiên tiểu sử về Meyerbeer, nhưng nó không được chấp nhận và sau đó ông đã tiêu huỷ bản thảo.
Maugham trở về Anh năm 1892, như mọi thanh niên khác, đứng trước những ngã rẽ về tương lai của mình. Chứng nói lắp ngăn cản ông phụng sự trong nhà thờ hay kế tục nghề luật của gia đình. Ông được giới thiệu cho một chức vụ kế toán tại London, nơi ông chịu đựng được một vài tháng, và sau rốt tự xin từ chức để nhận về lời nhận xét là “bất tài và lười nhác”. Ông thừa nhận vế đầu đúng và vế sau sai. Cuối cùng một bác sĩ địa phương đề xuất nghề y, và chú của Maugham đã ưng thuận. Và năm 1987, ông nộp đơn vào Trường Y khoa Bệnh viện St Thomas ở Lambeth, vui sướng vì được hoà mình vào đời sống London.
Tuy chỉ gắn bó với nghề y năm năm, trải nghiệm y khoa đối với Maugham đã không hề uổng phí. Trên thực tế, ông hối tiếc vì đã không gắn bó với nghề này lâu hơn. “Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn,” ông viết. “Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.” Maugham chưa bao giờ viết nhật ký, nhưng rất năng ghi sổ tay. Ông sống khá thoải mái trong bầu không khí gây tê của nhà thương, miệt mài viết lách trong lúc cần cù lấy bằng y khoa. Công việc yêu cầu ông phải tiếp xúc với những người bần cùng ở khu ổ chuột, những ngõ hẻm nhớp nhúa, những mảnh đời leo lắt cùng cực, và tất cả trở thành chất liệu để ông viết nên tiểu thuyết đầu tay của mình, Liza xứ Lambeth. Cuốn sách nhận về nhiều đánh giá trái chiều, nhưng Rudyard Kipling đã ca ngợi cuốn sách trên báo chí và nhiều bỉnh bút ở các tạp chí khác tung hô kỹ thuật của tác giả. Tác giả trẻ được ví với Zola về tài tả chân của mình, và cuốn sách nhanh chóng được tái bản. Maugham đủ ngây thơ để bỏ quách nghề y và quyết tâm trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Sau này ông tỏ ra hối hận vì đã từ bỏ y nghiệp sớm thế; ông yêu thích công việc và những trải nghiệm quý giá mà nó đem lại, nhưng quan trọng hơn cả, tôi nghĩ, là bởi nghề y giúp ông cáng đáng chuyện tiền nong. Dù sao thì ông cũng chỉ hai bảy tuổi, và một tiểu thuyết đầu tay thành công không hứa hẹn gì nhiều. Có lẽ ông đã may mắn. Không phải một tay chơi bạt mạng, quan điểm về tài chính của ông rất rõ ràng, dù không mấy khác lạ với phần đông. Ông có tài sản và chi tiêu tiết kiệm. Ông kiểm soát tài chính tốt, giữ mọi nhu cầu trong khuôn khổ cho phép, tin rằng đó là điều kiện tiên quyết để một nhà văn có thể yên tâm sáng tác, điều mà ta khó lòng phủ nhận.
Giờ thì, truyện ngắn được coi là khoá học nghề hoàn hảo cho một nhà văn. Maugham đã viết một vài truyện ngắn gửi tới các tạp chí, vì không được lưu trữ nên tôi chỉ có thể đoán định, rằng chúng ít nhiều bộc lộ một sự thông minh nào đó và có lẽ là mắt quan sát sắc sảo, những phẩm chất mà Maugham tiếp tục trui rèn trong suốt sự nghiệp. Nhưng những truyện đó không được nhận, việc viết tiểu thuyết bấp bênh, ông sớm thấy mình ngấp nghé bên bờ phá sản. Ông tự nhận thấy truyện ngắn của mình không hay, và quyết định bỏ dở thể loại này, đâu đó khoảng hai thập kỷ. Ngày nay chúng ta thường ca ngợi tài viết truyện ngắn của Maugham; trên thực tế, tôi từng bắt gặp một độc giả khen ngợi Maugham là thiên tài truyện ngắn. Nó không đúng. Có lẽ chính Maugham sẽ là người trước tiên phản bác điều này: chính ông thừa nhận thoạt đầu mình viết truyện ngắn quá kém nên mới phải quay sang viết kịch. Chỉ sau khi thành đạt trong sân khấu, ông mới quay lại với thể tài này. “Tôi là nhà văn đứng đầu trong hạng nhà văn trung bình,” ông viết. Tất nhiên ông không quá khiêm nhường tới mức nói rằng mình bất tài, có lẽ ông sẽ nhận đó là tài mọn; ông có tài năng, không quá lớn nhưng đủ độc đáo, khả năng lèo lái cốt truyện của ông gợi nhớ đến Maupassant; có người gọi đùa ông là Maupassant của Anh, và lâu dần cách gọi ấy được công nhận trong lịch sử văn học. Lời văn của ông rõ ràng, chính xác, du dương – ba phẩm chất mà chính ông đặt ra theo thứ tự ưu tiên. Tuy nhiên, ông vật lộn với những phân đoạn miêu tả thiên nhiên; cảnh sắc, phong tục trong văn ông ít nhiều tiết chế (tuy không phải lúc nào cũng vậy), mà theo lời Chekhov, là “ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm”. “Tôi biết mình chẳng có năng khiếu trữ tình,” ông viết. “Tôi có vốn từ hạn hẹp và không hề nỗ lực mở rộng nó. Tôi không có tài ẩn dụ; những phép so sánh độc đáo và ấn tượng hiếm khi đến với tôi.” Là một nhà văn và một con người, Maugham có những khiếm khuyết ở mình, hoặc về tính cách hoặc về nghệ thuật, và đương nhiên tính cách của ông ảnh hưởng đến nghệ thuật của ông; nhưng ít ai dám phủ nhận tài viết đối thoại sáng rõ của Maugham, và có lẽ chính phẩm chất đặc trưng này đã dẫn lối ông đến với kịch nghệ, lĩnh vực đã giúp ông rạng danh và đưa tên tuổi ông vượt khỏi địa phận Anh Quốc.
Trong The Summing Up, Maugham kể rằng thời trẻ ông từng đưa kịch bản của mình cho một nhà viết kịch khá thành công để xin nhận xét, và quý ông kia đã tuyên bố rằng chàng trai này rồi sẽ trở thành kịch tác gia vĩ đại nhất thế hệ của mình. Lời tiên tri đã ứng nghiệm. Công việc viết kịch giúp Maugham trang trải tốt hơn, và kể cả một vài vở kịch không đem lại nhiều tiền bạc như ông trông đợi thì nó cũng đem lại danh tiếng; ông chưa bao giờ rơi vào cảnh túng bấn, giờ đây ông càng khá giả, có phần dư dật; ông mua một ngôi nhà, sống ổn định, thường xuyên dự tiệc và được chào đón bởi giới thượng lưu. Bản tính ông vẫn nhút nhát và kín đáo, dù qua những trang hồi ký của ông, có vẻ ông có tài kể chuyện, hóm hỉnh đúng nơi đúng chỗ và quan trọng nhất, là một người có cá tính. Thiên hạ quý chuộng ông và về phần mình, ông ra sức quan sát họ, sớm biết họ sẽ nhanh chóng trở thành nguyên mẫu cho nhiều nhân vật của mình. Ông tự tin viết rằng mình có thể sáng tác một câu chuyện từ một cuộc trò chuyện một tiếng đồng hồ với bất kỳ người nào. Ông còn trẻ, sung mãn, và viết như chim hót. Năm 1935, hơn hai thập kỷ sau khi Maugham khiến Shakespeare phải ghen tỵ, ông từ bỏ nghề viết kịch. Ông nói rằng mình đã cạn ý tưởng. Nhưng ông vẫn để mắt đến nghệ thuật này và sẵn lòng bàn về nó mọi khi có thể. Ông không tự mãn về thành công của mình, cho rằng ít nhiều nó chịu ơn sự ngẫu nhiên và sự may mắn.
Chúng ta sẽ cần lộn lại một chút vì trong khoảng thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, Maugham đã tham gia chiến trận rất sôi nổi. Năm 1914, Thế chiến I bùng nổ, quá già để nhập ngũ, ông đã phục vụ tại Pháp với tư cách là tài xế xe cứu thương tình nguyện cho Hội Chữ thập đỏ Anh. Cùng khoảng thời gian này ông hẹn hò với Syrie Wellcome, đồng thời có một mối quan hệ đồng tính với Frederick Haxton, một tiểu thuyết gia và nhà viết kịch mà sau này chỉ được nhớ tới như người tình của Maugham. Năm 1915, Of Human Bondage trình làng. Tháng Chín năm đó, Maugham được John Wallinger, một sĩ quan tình báo cấp cao, tuyển dụng vào Cục Tình báo mật. Dưới vỏ bọc một nhà văn, ông hoạt động bí mật trong vai trò liên lạc viên trung gian cho mạng lưới điệp viên tại Thuỵ Sĩ và trụ sở Cục Tình báo tại Anh. Ông không nhận lương, nhưng ông được hậu đãi và gặp gỡ nhiều nhân vật vai vế. Năm 1917, toà án xét duyệt đơn ly hôn của Syrie với người chồng trước, và Maugham lập tức kết hôn với bà. Ban đầu bà ít nhiều phụ thuộc chồng về mặt tài chính, nhưng rồi bà trở nên nổi tiếng dưới tư cách một nhà thiết kế nội thất. Bà vẫn duy trì lối sống hoang phí, và hoang đàng. Maugham biết Syrie vẫn lén lút qua lại với nhiều nhân tình, nhưng ông thờ ơ, như ông vốn thế, và ông bận rộn với những chuyến đi nước ngoài thường xuyên của mình, thêm nữa mối quan hệ bất chính với Haxton cũng dấy lên nhiều dị nghị. Đó là một cuộc hôn nhân đầy phong ba bão táp, và cặp đôi chính thức ly dị vào khoảng những năm 1927. Năm 1944, Haxton qua đời, và Maugham trở về Anh, rồi ngay năm sau tới định cư ở Pháp cho tới cuối đời, trừ những chuyến du lịch dài thường xuyên.
“Sự bình yên cho phép tôi viết tất cả những gì tôi muốn viết mà không lãng phí thời gian quý báu hay xao nhãng tâm trí; sự bình yên và một lối sống ổn định, đàng hoàng. Tôi kiếm tìm tự do và nghĩ rằng mình có thể tìm thấy nó trong hôn nhân,” Maugham viết. “Tôi đã hình thành những ý tưởng này khi còn đang viết cuốn ‘Of Human Bondage’, và biến những mong muốn của mình thành tiểu thuyết, như các nhà văn vẫn làm, vào cuối tác phẩm, tôi đã vẽ nên một bức tranh về cuộc hôn nhân mà tôi hằng mong ước. Nhìn chung, độc giả thấy đây là phần kém thoả đáng nhất trong cuốn sách của tôi.”
“Như các nhà văn vẫn làm”, như Tolstoy, người cũng từng tìm đến hôn nhân như một sự cứu rỗi cho những bất an tinh thần, những hoài nghi tôn giáo, coi nó là nơi nương tựa. Chất liệu cho những Kitty và Levin, Pierre và Natasha đến từ chính cuộc hôn nhẫn giữa Tolstoy với bà Sofia. Tolstoy ít nhiều đã vỡ mộng, nhưng ông không lường trước điều này, và tất cả đã được ông phô bày trong tiểu thuyết ngắn Bản Sonata Kreutzer; còn Maugham lại rất ý thức về tấn bi kịch mà ông sắp phải chịu đựng khi kết hôn với Syrie. Khi cưới nhau, Syrie mang nợ rất nhiều; “nhưng nếu không cưới cô ấy,” Maugham nói với một người bạn, “tôi sẽ hối hận cho tới lúc chết.” Syrie là người hấp dẫn, nhưng phóng đãng; Maugham biết bà từng ngủ với tất cả bạn bè của ông, và ông từng không dám thừa nhận bà là vợ mình khi một người lạ hỏi tới bà như một hạng gái làng chơi. Họ có với nhau một người con gái, được đặt tên là Mary, nhũ danh là Liza. Maugham đã vướng víu khá nhiều thủ tục pháp lý trước khi đứa con được công nhận là con hợp pháp của mình.
Về lý do Of Human Bondage ra đời, Maugham viết trong hồi ký: “Nhiều năm trôi qua và tôi đã trở thành một nhà viết kịch nổi tiếng. Nhưng những ký ức về một quá khứ bất hạnh cứ đè nặng lên tôi, và rồi tôi cảm thấy mình chỉ có thể thoát khỏi chúng bằng cách viết chúng ra; thế là tôi nghỉ hưu và dành hai năm để viết cuốn sách mà bây giờ bạn đã biết.” Maugham đã gặp may. Of Human Bondage rất dài và không ai thèm đọc, nó không hẳn là một thất bại, nhưng cũng chẳng đáng được gọi là một thành công. Nhưng George Doran, lúc đó là một nhà xuất bản chuyên về dòng sách tiếng Anh, đã cân nhắc nó; ông này đưa cho vợ mình đọc, chủ yếu vì bà bị ốm, cần được tiêu khiển và cuốn sách lại rất dài. Thật may sao vì bà Doran thích cuốn sách, và quý ông kia chiều lòng vợ, quyết định xuất bản nó. Nó nhanh chóng nhận về những bài đánh giá rất dài, có lẽ vì không thể viết ngắn hơn, nhìn chung khá tích cực. Tuổi thọ của một cuốn tiểu thuyết ngày đó rơi vào độ ba tháng, và kết thúc chu kỳ này, Of Human Bondage khả năng cao sẽ lụi tàn và chịu chung số phận bị lãng quên như hàng ngàn tiểu thuyết khác. Nhưng rồi Maugham lại gặp may. Vì một lý do nào đó, cuốn sách đã thu hút nhiều cây bút nổi tiếng thời bấy giờ; họ bàn tán về nó trên các chuyên mục do họ đảm trách, và lần lần nó tìm được ngày càng nhiều độc giả hơn.
Như chúng ta đều biết, bên cạnh The Moon and Sixpence, Of Human Bondage được công nhận rộng rãi là kiệt tác của Maugham. Nhiều độc giả đương thời coi nó là một cuốn tự truyện, nhưng Maugham phản bác, “Mặc dù nhiều nội dung trong đó mang tính tự truyện, nhưng phần lớn là do tôi sáng tác.” Quả vậy, ông đã hoà quyện sự thật và tưởng tượng vào cuốn tiểu thuyết đến mức nhiều năm sau này nhìn lại, ông không phân định nổi đâu là hư đâu là thực. Ông đã viết cuốn sách bằng cách tận dụng “món quà sáng tạo mà tôi được ban cho”. Nó từng được đưa vào chương trình phổ cập tại các cơ sở giáo dục, các tạp chí ca ngợi nó, còn Ernest Hemingway xem nó là một trong những tiểu thuyết phải đọc trong đời.
Nhân vật chính của Of Human Bondage, Philip Carey, là hiện thân văn học của chính Maugham. Philip mắc tật khoèo chân, côi cút từ khi còn nhỏ, được gửi đến sống với ông chú William làm mục sư tại Blackstable, một thị trấn ở Kent. Sau một thời gian bị cầm tù ở trường nội trú, Philip đến học ở Heidelberg, thử sức với hội hoạ một thời gian ở Paris, rồi trở về Anh. Anh ta gặp Midred, một cô hầu bàn lẳng lơ, và cuộc hành hương dài dặc của anh ta thực sự bắt đầu. Mildred khinh miệt Philip, cô phản bội anh luôn, đi chơi với những người bạn khác của anh, coi thường cảm xúc của anh. Mối tình của họ là một ải đoạ đày, sớm nắng chiều mưa; Mildred có mang với một người đàn ông khác, ngoại tình với người bạn thân của Philip, nhưng Philip vẫn chìm đắm trong tình yêu. Philip nguyền rủa tính nhu nhược ở mình và nguyền rủa cả tình yêu của anh ta với Mildred; và, tôi không rõ lắm, anh ta dường như có khuynh hướng khổ dâm (tôi không chắc lắm về thuật ngữ này). Một mặt, anh ta đau đớn vì bị khinh thường, hổ thẹn vì tật nguyền của mình, nhưng anh ta thích sắm vai một quý ông cao thượng, người sẵn lòng chi trả tiền du lịch cho chính cặp gian phu dâm phụ đã phản bội anh ta. Tôi biết có những người thích nhấm nháp đau đớn, thích bị làm nhục, và Philip gây ở tôi cảm tưởng như vậy. Điều này có thể khiến nhiều độc giả khó chịu. Philip có thể vừa nhỏ nhen vừa hào phóng, vừa ích kỷ vừa rộng lượng, vừa khao khát hạnh phúc vừa đâm ra chán chường ngay khi ước vọng của mình thành hiện thực. Mặc dù xuyên suốt tiểu thuyết là hành trình kiếm tìm hạnh phúc của Philip, nhưng anh ta hoàn toàn không bộc lộ một ý chí đủ mãnh liệt, anh ta thụ động, nhu nhược, bất lực. Anh ta yêu một con điếm, không được nó yêu lại, và thâm tâm thèm khát ả ta dữ dội cùng lúc khinh bỉ bản thân vì đã yêu ả. Anh ta bỏ lỡ nhiều cơ hội, cho đến nửa già tiểu thuyết, anh ta mắc những sai lầm liên tiếp và gần như không học được cách rút kinh nghiệm. Nhưng bất chấp tất thảy những khuyết điểm trên, anh ta hiện lên sống động tới từng chân tơ kẽ tóc. Bức chân dung về Philip Carey là một bức chân dung mà thanh thiếu niên, thông thường, sẽ đồng cảm hơn cả. Tiểu thuyết giống như lịch sử tâm hồn của anh ta, và vô số tình tiết, ấn tượng, trải nghiệm được rút ra từ chính cuộc đời của tác giả. Có lẽ kể từ sau David Copperfield, chưa có một nhà văn người Anh nào khai thác cuộc đời mình một cách sinh động và triệt để đến vậy.
Tại Việt Nam, Of Human Bondage lần đầu được chuyển ngữ bởi nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê. Đó là một bản dịch không đầy đủ, vì dịch giả đã lược bỏ những đoạn tả phong tục và đời sống bên Anh để tác phẩm bớt rườm rà mà thêm phần hấp dẫn. Đến năm 2000, chúng ta có bản dịch đầy đủ của dịch giả Hoàng Tuý và Nguyễn Xuân Phương. Tôi xin trích dẫn những dòng sau từ cuốn Đời viết văn của Nguyễn Hiến Lê:
“Không có một tác phẩm nào tả được nhiều nỗi đau khổ của kiếp người như thế: đau khổ của một đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở nhờ nhà ông bác, xa chị vú thân yêu; đau khổ của một kẻ tàn tật, hồi đi học thì bị bạn giễu, lớn lên bị thiên hạ khinh; cảnh khổ ở nội trú, nỗi chua chát khi mất lòng tin Chúa, nỗi chán chường khi phải học một nghề mình không ưa; sau khi tranh đấu với ông bác để được phép học nghề mình thích thì lại thất vọng nhận ra rằng mình không có khiếu về nghề đó; đau khổ tủi nhục nhất là yêu một con điếm mà nó không yêu lại, bị nó phản với bạn thân của mình, vậy mà vẫn không quên nó được; rồi cảnh đầu cơ nhẵn túi phải lang thang ở ngoài đường, uống nước máy, ngủ công viên, nhịn đói ba bốn ngày, phải bỏ học, nhận một chân chỉ dẫn khách hàng trong một tiệm buôn; sau cùng chỉ muốn có cái mộng đi du lịch thế giới mà đành phải bỏ, chịu sống cuộc đời vô vọng của một y sĩ trong một vùng quê nghèo.”
Đó là sườn truyện của Kiếp người. Tôi thấy không có gì phải bàn cãi ở đây, ngoại trừ đoạn kết của tác phẩm. Dụng ý của Maugham, theo tôi hiểu, khi để Philip không thực hiện được ước mơ du lịch thế giới hoàn toàn mang tính lạc quan. Anh ta tưởng mình đã làm Sally có thai và tính đến chuyện cầu hôn cô nàng. Anh ta sẵn lòng từ bỏ giấc mơ du lịch thế giới, anh ta thấp thỏm, dù không phải không ngậm ngùi, vì sau rốt cũng nương náu nhờ ở hôn nhân. Kết thúc này không nhuốm sắc thái uỷ mị, đau đớn như các nỗi gian truân khác của Philip. Đến cuối thiên tiểu thuyết, anh ta đã hoàn toàn chấp nhận cái số kiếp của mình. Anh ta có được tự do, nhưng là một tự do hạn chế: thoải mái đi lại trong mảnh vườn của mình. Kết cục này gợi nhắc tôi đến Candide của Voltaire. Dù sao thì, Philip đã giác ngộ sự vô nghĩa của kiếp người, cùng lúc kết luận rằng “mô hình đơn giản nhất – mô hình mà một người đàn ông sinh ra, làm việc, kết hôn, sinh con và chết đi – cũng chính là mô hình hoàn hảo nhất.” Philip đã dành cả tuổi trẻ để đeo đuổi hạnh phúc mà không hay biết rằng hạnh phúc chỉ đến khi ta không cố đeo đuổi nó, và, hơn nữa, hạnh phúc không phải là sự an lạc, vinh hiển, thịnh vượng, hay kể cả là bình yên trong tâm khảm, là ước vọng thành sự thực, là khoái lạc hay niềm vui – tất cả những điều trên góp phần tạo nên hạnh phúc, nhưng bản thân chúng không phải là hạnh phúc. Chung cục, Philip ngừng theo đuổi nó và quyết định bằng lòng với số phận của mình. Đó chẳng phải một kết cục hẩm hiu, thậm chí có vẻ khai sáng, nhưng như chính Maugham từng thú nhận, nó không làm độc giả hài lòng.
56. Các hung thần lên cơn khát, Anatole France, Trần Mai Châu dịch
57. Phu nhân Macbeth ở Mtsensk, Nikolai Leskov
Trước hết, xin thú thực với mọi người tôi chưa đọc Macbeth của Shakespeare.
Còn về truyện vừa này của Leskov, nó kể về một thiếu phụ trẻ tên Katerina, người được gả cho Zinovy, một thương gia, điền chủ giàu có. Chồng già vợ trẻ sống cùng bố chồng tên Boris trong điền trang; cuộc sống tẻ vắng nơi đây nhanh chóng làm cô gái trẻ héo hon dần. Tình cảnh càng trở nên tù túng hơn khi Katerina mãi không sinh được con, điều mà, người vợ trước đó từng chung sống hơn hai mươi năm với Zinovy, cũng không làm nổi.
Thế rồi Zinovy có việc công cán xa nhà; Katerina bắt đầu ngả ngớn với Sergei, thằng làm công mới đến. Họ thản nhiên chim chuột ngay trong buồng ngủ của Katerina; một ngày nọ, ông già Boris phát giác chuyện tằng tịu giữa đôi gian phu dâm phụ, ông ta phạt roi Sergei và nhốt y trong hầm. Katerina bỗng trở nên xốc nổi, yêu cầu bố chồng thả nhân tình của mình ra, và, sau cùng, đã hạ độc ông già bằng một liều thuốc chuột.
Cặp tình nhân tiếp tục hạ sát Zinovy khi ông này trở về, rồi chôn ông ta ngay trong chính căn hầm mà mình từng bị giam giữ. Sau đó, Katerina và Sergei ngang nhiên cai quản điền trang, chờ đợi món tiền thừa kế vì lúc này Katerina đã mang chửa. Mọi chuyện đều êm thấm cả, nếu không vì Fyodor, người cháu ruột của Zinovy, tìm đến. Tài sản thừa kế buộc phải phân chia; Katerina tỏ ra thờ ơ trước điều này, nhưng trước những xúi giục của Sergei, ý tưởng hạ sát cậu cháu trai kia dần trở nên sống động trong tâm trí cô. Nhân một lần người bà của Fyodor bận đi nhà thờ, Katerina và Sergei đã bóp cổ cậu bé tới chết, nhưng cùng lúc ấy, tội ác đã được phát giác bởi một tốp người tình cờ đi ngang.
Sergei thú nhận tội ác và khai cả nơi giấu xác Zinovy; Katerina tỏ ra thờ ơ, cho rằng tất cả mọi việc cô làm đều bởi Sergei. Cô nói không sai, tất cả mọi hành vi sai trái của cô xuyên suốt thiên bi kịch này, đều xuất phát từ tình yêu mù quáng với Sergei.
Toà đày cả hai người đi Siberia.
Trong khi Sergei tỏ ra chán ngán, thậm chí khinh bỉ Katerina, liên tục đặt điều và khích bác người tình cũ; thì Katerina vẫn một lòng một dạ yêu mến gã. Trong đoàn người khổ sai, có hai người đàn bà phóng đãng tên Fiona và Sonya. Sergei, với bản tính trai lơ, nhanh chóng chinh phục cả hai cô nàng này. Katerina ghen lồng ghen lộn, nhưng cô vẫn không thể ngừng yêu gã đốn mạt kia. Lần duy nhất Sergei gọi cô đến, họ đã ân ái và sau khi Sergei than phiền về bàn chân lạnh cóng, Katerina đã không ngần ngại mà dúi cho gã đôi bít tất mới tinh, duy nhất của mình. Ngay sau khi cô rời đi, Sonya lỉnh tới.
Sáng hôm sau đoàn khổ sai tiếp tục đi. Họ lên thuyền qua sông Volga. Katerina tức trợn tròng mắt khi thấy đôi bít tất kia đang trùm lên bàn chân của Sonya. Cay đắng vì bị phụ bạc, nhục nhã vì bị lợi dụng, cùng lúc Sergei ngang nhiên thuật lại những tội ác của họ lúc còn ở điền trang, Katerina bị nhấn chìm bởi niềm uất hận và túm chân Sonya kéo xuống nước. Người ta hoảng hốt quăng móc, Sonya nổi lên; “nhưng cũng lúc ấy từ một ngọn sóng khác, Katerina dướn cả nửa người lên khỏi mặt nước, lao về phía Sonya như con cá mập lao đến con cá mương bé nhỏ. Thế là cả hai chìm lỉm hoàn toàn.”
Sau khi đọc câu chuyện này, câu hỏi duy nhất đọng lại trong tôi là: Tại sao Leskov không để Sergei chết, mà lại là Sonya, dù so về độ đáng chết thì họ cũng một chín một mười. Sonya tỏ ra trâng tráo và thoả mãn khi đay nghiến vết thương lòng của Katerina – nhưng cô nàng không đáng phải chết. Tôi đã nghĩ rất lung, và kết luận rằng khi để Katerina giết Sonya thay vì Sergei, đơn thuần là một xảo thuật của người viết truyện, theo đó, với cái kết này, có hai điều được đảm bảo:
- Tính khả dĩ của hoàn cảnh: Katerina khó có thể mưu sát Sergei, vì suy cho cùng cô vẫn chỉ là phái nữ. Hoặc có thể khoảng cách chỗ ngồi giữa họ không thuận lợi. Và mặc dù cô căm phẫn Sergei, phải thừa nhận cô vẫn yêu gã, do đó, nếu giết gã, thiên bi kịch này sẽ mất tính bi kịch đi khá nhiều.
- Tính thống nhất của tính cách nhân vật: Tình yêu mê muội, cực đoan của Katerina là xung lực chính thúc đẩy cốt truyện. Các tội ác lần lượt thảo ra, từ việc hạ sát bố chồng, chồng và người cháu trai, giống như những nấc thang đo đếm sự sa đoạ của Katerina vào vũng lầy tình yêu với Sergei. Hiển nhiên Katerina đã yêu đến mất trí; một thứ tình yêu cuồng si, đại loại vậy, nhưng dứt khoát cô không phải kẻ điên tình, vì nếu thế hẳn cô đã giết quách gã tình nhân. Việc cô giết Sonya chứng tỏ cô vẫn yêu Sergei, và bảo đảm rằng tình yêu của cô với gã, cái xung lực như tôi đã nhắc đến, vẫn duy trì và được bảo toàn từ đầu tới cuối truyện. Khi đặt ra một cái kết như vậy, cái xung lực kia, giống như một chiếc thuyền, đã không bất ngờ bẻ lái vào phút chót mà cứ theo một đường thẳng băng, lao xuống thác nước, chìm nghỉm như chính Katerina và Sonya.
58. Người hành hương mê đắm, Nikolai Leskov
Người hành hương mê đắm (nguyên bản: Очарованный странник) xuất hiện lần đầu trên tạp chí Russkiy Mir năm 1873, là một tiểu thuyết vừa phải bao gồm 20 chương, không có cốt truyện mạch lạc. Cấu trúc của truyện khá đơn giản: chương đầu tiên dùng để vào đề, còn các chương sau thuật lại cuộc đời của nhân vật chính – Ivan Flyagin – một tu sĩ đang trên đường hành hương. Logic của câu chuyện được xác định không theo trình tự thời gian của các sự kiện, mà bởi ký ức rời rạc của Ivan (“những gì tôi nhớ, mà, nếu các bạn muốn, tôi sẵn lòng kể”).
Cuốn sách tạo cảm giác như ta đang đọc một nhật ký hành trình, trong đó toàn bộ cuộc đời của Ivan trải dài theo từng chương. Ivan, một người đã được “gán cho Chúa” bởi mẹ mình nhưng một mực từ chối gia nhập tu viện khi còn trẻ, trải qua một cuộc đời long đong, chìm nổi, một bể trầm luân, mà ông tự coi là “hình phạt” của mình tới mức cầu Chúa ban cho mình một linh hồn khác. Cuối cùng Ivan cũng trở thành một thầy dòng, tuy thế, số mệnh của ông vẫn là một dấu hỏi đối với độc giả.
Tôi đánh giá cao cuốn sách này ở lối kể chuyện mê đắm y chính tựa đề của nó. Ngoài ra, kỹ thuật đối thoại trong truyện, dẫu cảm tưởng như được viết cẩu thả, lại vô cùng đơn giản, dễ đọc. Từng câu chữ như xếp gọn vào trong trí óc, đúng như những gì Chekhov từng nói về tiêu chí của một câu chuyện hay.
Ban đầu, tôi những tưởng một cuốn sách với chủ đề “hành hương” ắt hẳn đáng ngán và tẻ nhạt lắm, nhưng không hề: có thể gọi cuộc đời ba chìm bảy nổi của Ivan như một chuyến phiêu lưu. Ông lang bạt cùng đám du mục Tatar ăn thịt ngựa, mười năm trời đằng đẵng chôn mình trên thảo nguyên, phải đi bằng gót chân vì gan bàn chân đã bị rạch rồi đem gắn bờm ngựa vào. Sau đó, nhờ mưu mẹo và phần lớn bởi may mắn, ông tìm được cách hồi hương, làm người coi ngựa cho một viên sĩ quan hoàng thân. Vị hoàng thân cho ông là người không khôn ngoan, nhưng thật thà, tốt bụng; trong một lần “bỏ đi chơi”, ông bị thôi miên và tiêu một lèo hết năm ngàn rúp của chủ cho một cô gái Digan tên là Grusha. Trở về dinh cơ, không những Ivan không bị quở phạt mà còn được biết vị hoàng thân đã mua đứt cô nàng Grusha kia với cái giá năm mươi vạn rúp – số tiền lớn hơn nhiều gia sản của ông ta. Ông ta sớm trở nên chán ngán cô nàng và vì sa cơ lỡ vận, bắt đầu tính kế “lấy vợ giàu”. Grusha bị ông ta đem nhốt và giao cho ba người đàn bà lực lưỡng canh gác. Sau đó, cô bỏ thoát được và gặp lại Ivan, lúc này đang rối bời vì người tình, ở bờ sông. Tại đây, Grusha thúc ép Ivan lập một lời thề và yêu cầu dùng dao đâm chết cô – điều mà anh đã không làm, mà đẩy cô xuống dòng nước, thay vào đó.
Ivan sau đó tòng ngũ thế chân cho một thanh niên trẻ. Một lần đại đội của ông cần vượt sông để tóm lũ Tatar, ông xung phong với một mong muốn tối thượng là được chết. Ông đã không chết, trớ trêu thay, trái lại, còn được phong hàm Sĩ quan; sau khi giải ngũ, nhận một lá thư giới thiệu hứa hẹn một chức nghiệp ổn định trong ngạch quan lại. Bàn giấy nhanh chóng làm ông chán ngán, và ông gia nhập tu viện. Nhưng ngay cả ở đó, hành trình cuộc đời của ông có lẽ vẫn chưa an bài; ông tin chắc một cuộc chiến tranh lớn sắp xảy ra và ông sẽ phải “chết vì nhân dân” trong cuộc chiến đó.
59. Hadji Murad, Leo Tolstoy
60. Người nhạc sĩ mù, Korolenko
61. Người thợ dệt ở Raveloe (Silas Marner), George Eliot
Tôi từng đọc sơ qua cốt truyện của Silas Marner của Eliot trên Wiki, qua lời bình của Walter Besant rằng đó là “cuốn tiểu thuyết Anh hay nhất từng được viết ra”. Giờ đây tôi vừa đọc xong bản dịch của cuốn tiểu thuyết ấy, tựa Việt là Người thợ dệt ở Raveloe, và tôi ngờ rằng Besant đã hơi quá lời khi tâng bốc người bạn văn đồng hương của mình.
Tôi nghĩ cuốn sách khá khó đọc với nhiều người, có lẽ chủ yếu bởi những phân tích tâm lý tỉ mỉ của Eliot. Nửa đầu cuốn sách khá chậm, nhưng tiết chế ở những đoạn miêu tả cảnh sắc, phong tục. Bạn đọc gần như được thông báo về mọi thứ cần biết. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Silas Marner, một người thợ dệt sống ở Lantern, sau khi bị vu khống trắng trợn trong một vụ mất trộm đã phải rời bỏ quê hương trong nhục nhã. Anh ta dọn đến Raveloe, bối cảnh chính của câu chuyện, và tiếp tục làm nghề quay sợi. Tuổi trẻ của anh trôi qua mòn mỏi, vô vị, và bộ dạng của anh ta phản ánh tình trạng tinh thần của anh ta: bệ rạc, u uất, tự cô lập. Dân làng dè chừng anh ta và ngày lại ngày, anh ta miệt mài kéo sợi, như con nhện giăng tơ, âm thầm tích cóp “những đồng vàng” của mình. Eliot hé lộ rằng anh ta là kẻ keo kiệt, chi li, và rằng thú vui duy nhất đối với anh chàng này là mỗi tối được ngồi “kiểm kê” tài sản đang ngày càng gia tăng của mình. Anh ta sống như vậy suốt mười lăm năm.
Cho tới nửa đầu cuốn sách, Silas Marner gần như độc chiếm một tuyến truyện riêng biệt. Một bên là Silas cùng cái khung dệt của ông ta, một bên là dân làng Raveloe với những mối quan tâm thôn điền của họ. Nút giao đầu tiên xảy ra khi Dunstan, đứa con thứ mạt hạng của một Địa chủ trong vùng, sau khi để chết con ngựa yêu quý của người anh trai Godfrey, đã lẻn vào ăn cắp tiền của người thợ dệt. Gã trộm sau đó biệt tăm. Cố nhiên Marner rất đau khổ; cho đến một đêm giao thừa, giữa cảnh tuyết rơi mịt mùng, ông ta bỗng tìm lại được đống vàng của mình, nhưng dưới một hình hài khác: một bé gái hai tuổi, tóc vàng hoe. Mẹ đứa bé, người vợ vô thừa nhận của Godfrey và cũng là nỗi đoạ đày của anh ta bấy lâu, đã chết vùi trong tuyết. Marner tin chắc đứa bé là món quà “đền bù” của Thượng đế và nhận nó về nuôi.
Và hãy dõi xem sự biến chuyển của Silas qua ngòi bút của Eliot:
“Trong lòng ông hỗn độn với hàng loạt suy nghĩ và cảm xúc, đến mức nếu cố thốt lên thành lời, có lẽ ông chỉ có thể nói rằng đứa trẻ này đến thay cho số vàng đã mất – rằng số vàng đó đã hoá thân thành đứa bé.”
“Không giống như số vàng kia của ông – thứ chẳng cần gì cả và chỉ có thể thờ phụng trong nỗi cô đơn khép kín, bị giấu biệt khỏi ánh sáng ban ngày, điếc với tiếng chim hót nhưng giật mình trước những âm thanh lạ thường – Eppie là một sinh linh với nhu cầu bất tận và khát khao không ngừng tăng lên. Cô bé luôn tìm kiếm và yêu thích ánh sáng mặt trời, những âm thanh sống động và chuyển động của sự sống; thử nghiệm mọi thứ với niềm tin vào niềm vui mới mẻ, và khơi dậy lòng tử tế trong ánh mắt của bất cứ ai nhìn vào nó. Số vàng ấy trói buộc suy nghĩ của ông theo một vòng lặp bất tận chẳng đi đến đâu ngoài chính nó, nhưng Eppie là hiện thân của những thay đổi và hy vọng, thúc đẩy tâm trí ông tiến về phía trước, rời xa con đường cũ chỉ miệt mài dẫn đến một giới hạn trống rỗng như nhau. Tâm trí ông hướng đến những điều mới mẻ của những năm tháng sắp tới, khi Eppie đủ lớn để hiểu rằng bố Silas đã chăm sóc nó như thế nào. Ông cũng kiếm tìm những hình ảnh tương lai ấy trong mối liên kết và tình cảm gắn bó giữa hàng xóm với nhau. Vàng buộc ông ngồi dệt ngày càng lâu, khiến ông ngày càng điếc lác và mù mờ với mọi thứ ngoài tiếng lạch cạch của khung dệt và tấm vải dệt đơn điệu. Còn Eppie kéo ông rời khỏi khung dệt, khiến ông coi mỗi lần tạm dừng như một ngày lễ, đánh thức mọi giác quan của ông bằng sức sống mới mẻ của con bé – đến cả những con ruồi già sống qua mùa đông cũng bò ra dưới ánh nắng đầu xuân – và sưởi ấm lòng ông thành niềm vui rộng ràng chỉ vì con bé thấy hạnh phúc.”
Tiền bạc, trong trường hợp của Silas, khiến con người ta hèn mọn, ti tiện, quẩn quanh, sống mòn sống mỏi. Đó là một sự cứu rỗi, một ân điển của Thượng đế khi Người đặt Eppie vào tay Silas, một người thợ dệt độc thân, người chưa từng có lấy bất cứ một hy vọng nào trong đời ngoài số tiền đã mất. “Những giờ đây,” Eliot viết, “một điều gì đó đã thay thế kho báu cũ, mang đến mục đích ngày một rõ ràng hơn cho việc kiếm tiền – nó thúc đẩy hy vọng và niềm vui của ông liên tục vươn về phía trước, vượt xa khỏi bản thân đồng tiền.” Hẳn bạn đọc nào cũng tìm thấy trong những lời này một quan điểm đáng giá về tiền bạc. Nếu trước đây tiền bạc đối với Silas là mối quan tâm độc hữu, là mục đích tối thượng, là tâm điểm của cuộc đời, thì sau khi có Eppie, tiền bạc chỉ là phương tiện để qua đó người ta sống cho hạnh phúc hơn.
Cuốn sách nhảy cóc mười sáu năm, tới thời kỳ mà Eppie đã ra dáng thiếu nữ, còn Silas thì trở thành một lão thợ dệt già năm mươi lăm tuổi. Không còn gì nhiều để nói. Mọi chuyện kết thúc tốt đẹp đúng như tiêu chí của các tiểu thuyết thời Victoria mà ta thường bắt gặp ở Dickens. Một cái chết và một đám cưới là đủ cho phần hồi kết viên mãn, và trong trường hợp của câu chuyện này, chúng ta có hẳn hai đám cưới.
Nếu có thể tán chuyện ngoài lề đôi chút, tôi xin bình phẩm rằng hình ảnh của Silas trên bìa sách làm tôi liên tưởng đến lão Goriot của Balzac. Chung cục, Người thợ dệt ở Raveloe là một cuốn sách đáng đọc, được cấu trúc chặt chẽ, hóm hỉnh một cách duyên dáng. Tôi chưa đọc Eliot trong nguyên bản, nhưng với bản dịch này của Phúc Minh, cảm tưởng của tôi về Eliot là bà có giọng điệu rất khoan thai, từ tốn, và hơi thở của tôn giáo luôn phảng phất qua các trang văn, hé lộ một mối quan tâm mạnh mẽ tới chủ đề này của tác giả. Điều này khiến tôi đôi chập phải khựng lại vì ngỡ đang đọc văn của Tolstoy (Tolstoy quả thực có thích văn của Eliot). Ngoại trừ điều đó ra, cuốn sách đem đến một trải nghiệm rất thú vị và thư giãn, đặc biệt sau một thời gian dài nhấm nháp đủ loại tiểu thuyết bi kịch trên đời.
62. Chuyện ma ám ở trang viên Bly (The Turn of the Screw), Henry James
63. Bánh ngọt và rượu bia, Somerset Maugham
64. Đồi gió hú, Emily Bronte, Dương Tường dịch
65. Kiêu hãnh và định kiến, Jane Austen, Diệp Minh Tâm dịch
66. Núi thần, Thomas Mann
67. Faust, Goethe
TRUYỆN NGẮN
1. Người đàn bà có con chó nhỏ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch
2. Câu chuyện của một hoạ sĩ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch
3. Người trong bao, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch
4. Một chuyện tình yêu, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch
5. Khóm phúc bồn tử, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch
6. Nàng Lika, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch
7. Ruxia, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch
8. Natali, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch
9. Cuộc đời tươi đẹp, Ivan Bunin
Đừng để tựa đề đánh lừa. Đây là một câu chuyện cho thấy cuộc đời của con người có thể trở nên bẩn thỉu và đáng tởm đến mức nào. Câu chuyện kể về “hành trình tiến thân” của một người phụ nữ, để ngoi được lên khỏi phận con ở, đã không từ một thủ đoạn gì, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, nhân phẩm, cốt cách của con người, chỉ vì TIỀN.
10. Bố của Simon, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch
11. Boitelle, Maupassant
Boitelle là một gã làm nghề hót phân. Lão có mười bốn người con cả thảy. Khi người ta hỏi tại sao lão phải đi làm cái nghề bẩn thỉu này, thì lão đổ tất cả là do ông bà thân sinh lão đã không tác thành mối tình giữa lão và cô gái da đen năm xưa. Dĩ nhiên là lão yêu vợ mình thật, nhưng nhất quyết không thể bằng cô gái da đen kia. “Cô gái da đen của tôi ấy, cổ chỉ cần nhìn một cái là tâm hồn tôi lên mây.”
12. Clochettle, Maupassant
13. Viên mỡ bò, Maupassant
14. Đi ngựa, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch
15. Cái thùng con, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch
Maupassant thường lấy tên một đồ vật mang tính then chốt trong truyện ngắn để đặt tựa đề. Chiếc thùng con trong truyện này là thùng rượu, qua đó ông đồng thời lột tả sự tha hoá của hai con người: tên lái buôn quỷ quyệt nhăm nhe miếng đất của bà già, nhưng bà ta nhất mực không bán. Gã bèn lập văn tự đóng thuế hộ bà lão từ giờ cho tới lúc bà lão qua đời để đổi lại quyền sở hữu sau khi bà lão đi chầu. Nhưng bà lão sống dai quá, hắn cay cú. Cuối cùng, hắn mời bà lão về nhà mình một hôm, chiêu đãi bà già nhà quê những vo rượu và bà này mê mệt. Dần dần, bà ta đâm nghiện rượu, vài năm sau thì mất.
16. Chiếc dây chuyền, Maupassant
17. Vật tư trang, Maupassant
18. Cái chết của Ivan Ilyich, Leo Tolstoy
19. Đức cha Serghi, Leo Tolstoy
20. Xổ số, Shirley Jackson
21. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor
22. Ả Rập, James Joyce
23. Số phận con người, M. Sholokhov
24. Chiếc tủ, V. Pyetsukh
25. Con bọ vàng, Edgar Allan Poe
26. Con mèo đen, Edgar Allan Poe
27. Khóm hoa tử đinh hương, A. Kuprin
28. Tuyết, K. Paustovsky
29. Một con người ra đời, M. Gorky
30. Phát bắn, Puskin
31. Mùa xuân, Anton Chekhov, Đào Tuấn Ảnh dịch
32. Nhà thờ, Raymond Carver
33. Trụ cột của gia đình, Frank O’Connor
34. Ban thờ người chết, Henry James
35. Chúng tôi nói gì khi nói chuyện tình, Raymond Carver
36. Chuyện kỳ lạ về Benjamin Button, F. Scott Fitzgerald
37. Nỗi buồn, Anton Chekhov
38. Ngôi nhà của Matryona, A. Solzhenitsyn
39. Mặt trời, ông già và cô gái, V. Shukshin
40. Hoa nở muộn, Chekhov
41. Mumu, Turgenev
42. Con đầm pích, Puskin
43. Con gái viên đại uý, Puskin
44. Những điền chủ nếp xưa, Gogol
45. Con quỷ, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch
46. Trên mặt nước, Maupassant
47. Hai tư giờ trong đời một người đàn bà, Stefan Zweig
48. Carmen, P. Mérimée
49. Phòng 6, Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch
50. Axya, Turgenev, Anh Trúc dịch
51. Đại lộ Nevsky, Gogol, Phạm Thuỷ Ba dịch
52. My Life, Chekhov
53. Rip Van Winkle (1819), Washington Irving, Lê Huy Bắc dịch
Rip Van Winkle, một người Mỹ gốc Hà Lan, việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng, sợ vợ, sống ở một ngôi làng dưới chân núi Catskill vào những năm trước Cách mạng Hoa Kỳ. Một ngày, trong lúc đi săn trên núi cùng chú chó Wolf của mình, Rip Van Winkle nghe thấy tiếng người gọi mình và lát sau bắt gặp một người đàn ông Hà Lan vác trên lưng một thùng rượu. Là “một ma men từ trong bản chất”, Winkle nhập hội với hội bạn của người đàn ông kia, những người đang chơi ky chín hòn, say đến nỗi “hai mắt bơi trong đầu” và nhanh chóng ngủ thiếp đi.
Khi tỉnh dậy, Winkle thấy chân tay rã rời, con chó Wolf không thấy đâu, những người đàn ông tối qua cũng biến mất. Anh uể oải trở về làng; mọi vật đã đổi thay, làng mạc không còn như xưa nữa. Bị thiên hạ xì xồ, Winkle mới nhận ra bộ râu của mình đã dài đến ba tấc. Anh tìm tới quán rượu, dò hỏi về những bạn hữu cũ, thì được cho hay trong lúc anh ngủ vùi, hai mươi năm đã trôi qua, nhiều bạn bè của anh đã qua đời trong chiến trận. Winkle bắt gặp một thiếu niên giống mình đang tựa người ở gốc cây; lát sau, một người phụ nữ bước vào, anh nhanh chóng được biết bà vợ độc đoán của anh đã qua đời, còn người phụ nữ trước mặt chính là con gái anh, còn cậu thiếu niên giống anh kia chính là con trai của anh.
Qua một già làng, Rip Van Winkle được biết về giai thoại những hồn ma của thuỷ thủ đoàn Hà Lan. Con gái ông đưa ông về nhà. Ông trở lại với nếp sống nhàn rỗi thường ngày, tiếp đãi bất cứ khách khứa nào tới thăm bằng câu chuyện kỳ lạ của chính mình. Người ta bán tính bán nghi, tuy nhiên những người Hà Lan nghiêm túc đặc biệt ghi nhớ; họ cho rằng mỗi khi sấm rền ở trên núi, tức là những hồn ma đang chơi ky chín hòn. “Và ước muốn chung của những anh chồng sợ vợ trong vùng một khi phải chịu quá đỗi áp bức thì hẳn họ sẽ ao ước được lặng lẽ uống cạn cả hũ rượu của Rip Van Winkle.”
54. Tamango, Prosper Mérimée
Viên thuyền trưởng Ledoux rời Nantes trên con tàu “Hy Vọng” để buôn lậu nô lệ da đen. Trên sông Joale, y đã mua 160 người da đen từ một tên buôn nô lệ da đen Tamango với giá bằng “những ly rượu nhỏ”. Tamango đã bắn chết một người mẹ của ba đứa con nhỏ chỉ vì Ledoux không chịu mua thêm, sau đó, vì say tuý luý, hắn gả luôn một trong hai người vợ của mình – Ayché – cho tên kia.
Khi tỉnh rượu, Tamango hốt hoảng nhận ra sai lầm của mình và vội vã đuổi theo con tàu. Gã đã đuổi kịp, và nhanh chóng bị đám thuỷ thủ người Pháp chế ngự rồi nhốt chung trong boong cùng những nô lệ khác. Vết thương từ trận ẩu đả khiến Tamango nằm liệt vài ngày, rồi, khi đã hồi phục, gã bắt đầu hô hào những nô lệ đồng hương, vốn cả tin và mê tín, cùng ấp ủ một màn nổi loạn. Qua Ayché, Tamango có một cái giũa nhỏ; nhờ nó, các tù nhân đã tự giải thoát cho mình. Một trận thảm sát diễn ra, tất cả thuỷ thủ trên tàu đều bị giết.
Lênh đênh giữa biển, đám người da đen giờ chỉ biết phó mặc số phận cho thủ lĩnh Tamango, người rõ ràng chẳng biết nhiều hơn họ là mấy. Nhiều người chết vì đói, vì ẩu đả, vì ngã xuống biển. Khi tàu chiến Anh “Bellona” đi qua, Ayché đã chết, còn Tamango thân bọc xương, thoi thóp. Thống đốc Kingston đã trả tự do cho Tamango; nhưng hắn dần đắm chìm trong rượu chè và sau rốt chết vì sưng phổi ở nhà thương.
55. Hai sự hiểu lầm, Prosper Mérimée
Julie de Chaveny không thể yêu chồng mà còn khó lòng tôn trọng chồng đôi chút. Trong sáu năm đầu của cuộc hôn nhân tính toán, tẻ nhạt, nàng dần thấu triệt nỗi bất hạnh của mình và dần thu mình vào sự cô đơn. Nàng được săn đón, và không ai có thể chê trách nàng điều gì.
Một ngày nọ, Darcy, một nhà ngoại giao, trở về từ Constantinople và đến định cư tại Paris. Julie nhớ lại mối tình dang dở giữa họ khi cô chưa lấy chồng, và cảm thấy hối tiếc khi anh phải đi xa để lập nghiệp. Khi gặp lại anh, cô tin rằng mình đã tìm lại được tình yêu mà anh dành cho cô. Và khi anh nhẹ nhàng gợi lại ký ức này, cô thú nhận sự vỡ mộng trong hôn nhân rồi ngả vào vòng tay anh.
Darcy ngạc nhiên, tin rằng việc chinh phục người đẹp này quá dễ dàng. Julie, người ấp ủ khát khao được yêu thương mãnh liệt, một lần nữa thất vọng, xấu hổ, gờm tởm bản thân vì đã ngã lòng. Nàng tức tốc lên đường về với mẹ để ẩn nấu, nhưng đã chết dọc đường đi.
Sau khi nàng chết, Darcy không bao giờ nói đến nàng. Vài tháng sau, chàng cưới vợ có gia tài.
56. Quỷ Sứ và Tom Walker, Washington Irving, Lê Minh Đức dịch
57. Nữ gia sư, Stefan Zweig
58. Người thợ săn, Anton Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch
59. Colomba, Mérimée
60. Mưa, Maugham
61. Bất khuất, Maugham
Thực ra tôi không thích cái kết của truyện này lắm, dù cảm xúc đọng lại trong tôi khá rõ rệt. Nó hao hao sự căm tức và bí bách mà Pierre và Jean của Maupassant từng gây cho tôi.
62. Gambrinut, Kuprin, Xuân Du dịch
63. Sự sa ngã của Edward Barnard, Maugham
64. Một người có lương tâm, Maugham
65. Bản Sonata Kreutzer, Lev Tolstoy, Trần Thị Phương Phương dịch
66. Những quần đảo thần tiên, Maugham, Nguyễn Hiến Lê dịch
67. Zadig hay Số phận, Voltaire, Lê Tư Lành dịch
68. Tanhia, Ivan Bunin, Phạm Hồng Giang dịch
69. Ở Paris, Ivan Bunin
TIỂU LUẬN
1. Truyện ngắn là gì? (1958), Somerset Maugham, Thành Long dịch
2. Ten Novels and Their Authors (1954), Somerset Maugham
3. Vài khía cạnh của truyện ngắn (1970), Julio Cotázar, Đức Anh dịch
4. Kinh nghiệm viết truyện ngắn của Raymond Carver, Thanh Diệp dịch
5. How to Write a Thriller (1963), Ian Fleming
6. The Philosophy of Composition, Edgar Allan Poe
7. Как я пишу, Maxim Gorky
8. Kì lạ thế đấy cuộc đời này, Danil Granin, Đoàn Tử Huyến dịch
9. The Art of Fiction, Henry James & Walter Besant
10. Books and You, Somerset Maugham
HỒI KÝ & TUỲ BÚT
1. The Summing Up, Somerset Maugham
2. LETTERS OF ANTON CHEKHOV TO HIS FAMILY AND FRIENDS
3. Afloat, Maupassant
4. Looking Back (1962), Somerset Maugham
5. Mystery and Manners, Flannery O’Connor
6. Dagestan của tôi, Rasul Gamzatov, Phan Hồng Giang dịch
Bình luận về bài viết này