Xuân 2026
Ngày 14 tháng 1
Tám giờ sáng, tôi đưa Hương ra công ty rồi tạt qua thư viện Hà Nội trả sách. Thật may sao vì tôi không bị phạt (vì trận ốm nên tôi trả sách muộn hai tuần), thế là tôi chợt thấy phấn chấn hẳn lên. Tôi tìm sách của Kafka nhưng không thấy, nên tôi, theo thói quen, ngó qua các tác phẩm Nga… Rốt cuộc, tôi chọn được 3 cuốn: Chậm của Kunkera, Người chồng vĩnh cửu của Dostoevsky, và một cuốn chuyên khảo dày cộp về những bậc thầy văn chương.
Tôi lao vào đọc ngay khi về phòng.
Buổi tối đọc được một nửa Người chồng vĩnh cửu của Dos: không mấy thú vị dù vẫn liên tục lật trang.
Ngày 15 tháng 1
Buổi sáng đọc xong Người chồng vĩnh cửu: nửa sau không hay như nửa đầu, dài dòng không cần thiết, đáng lẽ đã có thể kết thúc sớm hơn. Bù lại, câu cuối cùng làm tôi rất ấn tượng: “Về sau này anh cứ tiếc mãi.”
Buổi chiều làm mấy chuyện lặt vặt, cảm thấy bức bối, chán nản, vô nghĩa. Mệt mỏi đến rã rời. Dạo này thường hay bị đau đầu, đau lưng. Đọc một lèo hết Chậm của Kundera: không hiểu tác giả muốn truyền tải điều gì, lời văn quá dung tục, nhưng nếu cơ hội trong tương lai vẫn sẽ đọc tiếp tác giả này.
Ngày 16 tháng 1
Đọc hết Nhật ký của Kafka trong buổi sáng. Tạm thời chưa biết nói gì về chúng.
Tối qua tôi ngủ khá ngon. Cả ngày bầu trời đầy mây, hoặc bụi mịn, tôi không rõ. Tôi có cảm tưởng đằng sau tấm màn xam xám mờ mờ kia hẳn là một màu xanh ngắt, như cái dạo thu mới về. Đàn chim sẻ hôm trước không thấy đâu nữa.
Tự cho mình rảnh rỗi cả buổi chiều (sau một buổi sáng không lấy gì làm được việc cho lắm), đọc Minh ám của Soseki.
Thành phố lúc này bụi bặm và xám ngoét như trồi từ dưới cát lên. Tôi căm ghét thành phố này, nhưng tôi biết khi tôi xa nó, tôi sẽ viết về nó rất nhiều.
Ngày 18 tháng 1
Buổi sáng tôi có hẹn với anh Dương ở một quán cà phê ngay mạn Hoàn Kiếm. Chúng tôi ngồi ở một góc đối diện cửa kính, từ đó có thể trông xuống quảng trường và một phần bờ hồ. Tôi vốn không có ý định ngồi lâu, nên được lát đã rủ anh đi bát phố một vòng, và chúng tôi đi… Chuyện trò vui vẻ… Sau đó anh dẫn tôi vào một quán bánh mì chảo ở phố Tạ Quang Bửu, ôi con phố thân quen, và anh lại giành phần trả tiền – “Chả mấy khi được mời nhà văn tương lai!”… Cứ thế…
Chúng tôi ra công viên Thống Nhất, hết đi lại ngồi, tán đủ thứ chuyện trên đời dưới đất. Tôi hỏi anh có sợ chủ nghĩa cộng sản tàn lụi trước ngày hai chúng tôi nhắm mắt lìa đời không, và anh e rằng có. Tôi đáp rằng thế thì đáng sợ quá nhỉ, còn anh chỉ phất tay bảo chế độ nào thì cũng cực như nhau thôi.
“Nếu là nước dân chủ,” anh vỗ vai tôi nói, “thì chú còn lâu mới ngồi nói chuyện với anh được thế này. Chú phải cúi thấp đầu hơn nữa.” (Anh Dương làm bác sĩ)
Buổi chiều của tôi trôi qua tẻ nhạt. Buổi tối cũng vậy. Tôi thiếu ngủ trầm trọng và đang mong từng ngày được về thăm quê.
Ngày 19 tháng 1
Buổi sáng tôi hơi mệt, không viết được, đành ngồi xem lại Us and Them. Xem xong thì cũng đến giờ ăn trưa. Đầu tôi hơi nhức và mống mắt tôi đau nhức, tôi sợ mình sẽ bị ốm một lần nữa. Tôi không tưởng tượng nổi có cơn ác mộng nào đáng sợ hơn thế…
Ngày 20 tháng 1
Tôi đang ở quê. Vườn nhà tôi quanh ngày luôn rộn tiếng chim, nhưng tôi không bao giờ nhìn thấy chúng. Thảng hoặc có một cánh én cắt ngang nền trời xam xám; gió thổi rất nhẹ và dịu dàng. Mây trôi lững lờ, và có lẽ sẽ mặc gió đưa đẩy như thế suốt cả ngày dài. Trong những ngày thế này, cơ hồ không có hi vọng được trông thấy mặt trời.
Tôi về từ chiều qua. Tôi còn nhớ khi tôi băng băng trên quốc lộ, tôi đã thấy một đàn én, đâu đó tầm hai chục con, chúng lướt ngang đầu tôi; khi chúng lướt qua, tôi đã kịp thấy những đôi cánh nhỏ bé ấy vỗ đập dữ dội ra sao, và trong một tích tắc, chỉ tích tắc thôi, tôi tưởng như chúng đã khiến khoảng trời vây quanh chao động, rung lên bần bật.
Tôi còn thấy mấy thằng nhóc học sinh đứng bên vệ đường, vừa giơ hai tay lên trời vừa nhảy nhót như lũ khỉ mỗi lần có xe tải đi qua. Cuối cùng thì một chiếc xe tải màu trắng cũng rú còi inh ỏi theo tiếng nhạc để chiều lòng tụi trẻ. Chúng nó bá vai nhau, cười rạng rỡ, còn bà nông dân cầm cuốc đứng cạnh – chắc là mẹ của một đứa trong cả bọn – thì cứ là ngẩn tò te. Đấy, lũ trẻ này mới thật là vô tư và yêu đời sao…
Về việc đọc: Tôi đã đọc xong Rập rờn cánh hạc của Kawabata. Không mấy ấn tượng. Và tôi bắt đầu đọc Trăm năm cô đơn sau nhiều lần trì hoãn. Và tôi đang ngồi ở trước hiên, đang định trốn biệt trong phòng để đọc cho hết buổi sáng đây. Ông tôi nhờ tôi vài chuyện làm vườn lặt vặt, thế là tôi vác cuốc, vác xẻng đi làm. Khoảnh vườn này rồi sẽ là của tôi, vậy nên hãy tập dượt trước từ giờ cho chắc… Vườn hoa anh đào của Chekhov?
Từ một năm nay, chiếc ghế xoay mất một bên tay dựa mà mẹ mua cho tôi vào năm lớp hai nhân dịp bà về thăm nước, đã bị đem ra làm chỗ ngủ cho mẹ con nhà mèo. Sáu con cả thảy, chúng quyện chặt vào nhau, trông con nào cũng màu trắng đen nham nhở, mắt kèm nhèm… Con mèo mẹ thì chả khác gì giống chó, suốt ngày tha thẩn, bới đất, ngửi luống hoa cải. Theo dõi chúng ngoài tôi ra chỉ có một con bướm trắng bay là là sát đất – không biết có phải vẫn con bướm trắng mà lần nào trông ra vườn tôi cũng thấy không. Có lẽ vẫn là nó, như thế sẽ làm tôi vui hơn.
Đây, khi tôi đang viết những dòng này đây, con mèo con với mống mắt xanh lè đang lộn cả người vào trong thau nhôm mà ăn. Ôi, nó lọt thỏm trong đó rồi, chỉ có cái đuôi ngắn ngủn như bị ai đem cắt đi là còn vểnh lên…
Chín giờ. Nắng hửng dần, bóng cành lá rung rinh dưới mặt sân lát gạch đỏ; những đụn mây chất chồng lên nhau, nhập hoà vào nhau, trải ra khắp phía và bao phủ không gian bằng cái màu xanh xám buồn buồn, như những khi trời sắp đổ giông. Trời bắt đầu nực hơn, dù gió vẫn thổi không ngớt, và chim vẫn hót rộn ràng, không biết mệt mỏi.
“Tại sao chim cứ hót nhát gừng thế, có phải giọng chim không đủ cao?”
“Chẳng phải,” chim đáp, “tôi có rất nhiều điệu hát, và tôi muốn hát cho hết các điệu.”
… Bước ra cổng, cách một bờ tường bám rêu thấp lè tè, có thể thấy cả một rừng hoa bìm bịp; chúng ngóc cả đầu ra đường như thể những con mắt màu tím. Chúng được dân quê dùng để chữa bệnh.
Tôi đang viết những dòng này ở ngoài hiên. Hôm nay tôi viết rất tốt, có lẽ vì không bị đám muỗi quấy rầy. Ở miền quê bao giờ cũng rất nhiều muỗi.
***
Mười hai giờ, vườn cây xì xầm trong cơn gió từ đường ray dội về. Có tiếng chim chích choè lanh lảnh đâu đây. Một con bướm mải miết hút mật từ nụ hoa đỏ thắm mà ông tôi bảo là hoa sống đời; cái tên chẳng gợi chút hứng thú nào, tôi nghĩ thế.
Tôi đã đoán đúng: mặt trời không chịu ló mặt, cứ lẩn khuất sau những dải mây xam xám nhờ nhờ. Đằng xa có những đụn mây đen xỉn, có lẽ về chiều trời sẽ đổ mưa.
Buổi trưa miền quê thật tĩnh lặng. Tôi ngồi im ngắm mấy con mèo – loài vật này là minh chứng cho việc không nhất thiết mọi tạo vật trên đời đều phải có mục đích. Cứ trông chúng thoải mái, nhàn nhã biết bao. Một con mèo sẽ rất hợp với tính khí của tôi. Mỗi khi không viết được, ít ra tôi có cái để đùa giỡn.
***
Mỗi lần về quê, việc đón Thư luôn được giao trách cho tôi. Con bé này rất kháu, dù mới năm tuổi nhưng nó đã đọc được mặt chữ. Nay tôi thử ép nó đọc một trích đoạn của Trăm năm cô đơn. Sau bữa tối, ngồi ngoài hiên tôi đọc nó nghe truyện cổ tích của Tolstoy.
Tôi đi dạo vài vòng quanh xóm. Tôi định bụng sẽ đi xa hơn, ra tận bờ hồ, nhưng tự dưng thấy thèm đọc sách quá nên đành vòng lại. Trời đêm tĩnh lặng và rất nhiều sao. Tiếng ri rỉ trong lùm cây không bao giờ dứt, cây cối chung quanh chìm lẫn vào bóng đêm.
… Mới hôm qua thôi, tôi nảy ra ý định sẽ chẳng viết gì nữa cả, mà cứ lang bạt hết vùng này đến vùng khác. Nghe cũng thú thật đấy, nhưng mà tiền đâu ra nhỉ????
Ngày 21 tháng 1
Trận mưa tràn về từ đêm kéo theo khí lạnh. Khi tôi viết những dòng này thì mưa đã tạnh hẳn, nhưng trong không khí vẫn thoang thoảng mùi ẩm ướt từ vườn cây đưa lại; gió thổi không ngừng, mấy con chim mới hôm qua còn mải miết chuyền cành giờ chẳng thấy đâu nữa. Chốc chốc một chiếc lá lìa cành rơi đậu xuống mái hiên.
Ngày 23 tháng 1
Đã đọc xong Trăm năm cô đơn. Quả là một áng văn trác tuyệt. Quả là bõ thời gian bỏ ra.
Ngày 28 tháng 1
Truyện ngắn Đêm đông của tôi sẽ ra mắt Báo Văn nghệ vào ngày mai. Lần đầu được in.
Gần đây tôi đọc: Trái tim chó của Bulgakov, Giữa lòng tăm tối của Conrad, Daisy Miller & Di sản Aspern của Henry James, Bài ca Solomon của Toni Morrison. Tôi chuẩn bị đọc lại Hai vạn dặm dưới biển (có một bên booking) và Con đường đau khổ của Alexey Tolstoy.
Tôi vừa viết xong truyện Mưa xuân và tạm thời không muốn viết lách chút nào. Ôi, tôi cứ cố vùi đầu vào chuyện khác để khỏi phải viết…
Ngày 31 tháng 1
Vài hôm nay đọc lại Chekhov, truyện “Người đàn bà có con chó nhỏ”. Cảm xúc vẫn vẹn nguyên như lần đầu, nếu không muốn nói là sau mỗi lần đọc lại, tôi càng thấy thấm thía cái chất thơ và nỗi buồn trong đó.
Đọc được một nửa Đêm trước của Turgenev, nhưng không có quá nhiều cảm xúc. Và có lẽ nên chấm dứt với mấy lão nhà văn Nhật Bản. Murakami từ lâu đã không còn hấp dẫn nữa, cả cái ông Kawabata viết thứ văn chương kiểu cách, tẻ nhạt vô cùng, chưa kể các cốt truyện còn vô luân khủng khiếp. Suy cho cùng vẫn chỉ có Soseki là tạm ổn.
Đã đọc xong hai truyện vừa của Henry James. Khô cằn, không gợi chút hứng thú đọc nào.
Ngày 1 tháng 2
Đọc xong Washington Square của Henry James. Hay, thú vị, dù đáng ra có thể ngắn gọn hơn.
Ngày 8 & 9 tháng 2
Dạo gần đây lướt TikTok nhiều quá. Và có vẻ nói nhiều hơn mọi khi. Thật ra tôi chưa bao giờ bỏ được cái tính ấy: kể lể về bản thân quá nhiều. Suy cho cùng, ai thèm quan tâm cơ chứ?
Ngày 11 tháng 2
Một ngày lãng phí: dành tới gần ba tiếng ở ngoài đường. Buổi sáng tôi dậy sớm, lúc năm giờ mười, ngủ không ngon giấc. Tôi bước ra sân thượng, dưới màn mưa lất phất lành lạnh là những ánh đèn yếu ớt vàng vọt của các hộ dân chung quanh; bầu trời toả rạng màu hồng tím như có ai đang đốt lửa ở phía chân trời.
Tôi đi thư viện. Tôi đọc lại Ngữ pháp tình yêu và nửa chừng Những giấc mộng của Trang (“Trang là một con chó.”) của Bunin. Cuối ngày tôi nhận được Bí mật thiêu đốt tâm can và Mọi thứ lên cao đều hội tụ từ Phanbooks.
… Gần đây tôi cứ ngẫm nghĩ rằng mọi chuyện đang diễn ra, chẳng hạn như việc tôi đang ngồi viết những dòng này, rồi cũng sẽ qua đi và chìm vào quên lãng. Tôi sẽ không thể nào nhớ đến chúng. Có những khoảng thời gian mà tôi vĩnh viễn đánh mất – tôi không nhớ nổi mình đã làm gì, đã suy nghĩ những gì, đã yêu ai và yêu người ta ra sao.
… Đàn ông có hai loại: loại chuyên làm khổ đàn bà và loại chuyên làm khổ chính mình.
… Dạo này ý nghĩ về việc dọn khỏi Hà Nội cứ diễu qua diễu lại trong tâm trí tôi.
Ngày 13 tháng 2
Tôi về quê từ chiều qua. Trời lúc thì quang đãng, lúc thì đùng đục, nhờ nhờ, sương ẩm ướt và lạnh. Sung sướng hít thở mùi bộ đồ jeans mới sắm, và tôi nhớ lúc còn ngồi trên xe, khi băng ngang cánh đồng, tôi đã ngửi thấy mùi tanh tanh của bùn mà chẳng gì làm ghê tởm, trái lại, tôi thấy hào hứng không kể đâu cho hết. Tôi luôn nhìn các hàng cây qua khung cửa kính của chiếc xe và chỉ biết minh hoạ bằng một lối ví duy nhất: như một thước phim tua nhanh. Nhưng hôm nay thì tôi lại thấy rằng những hàng cây lướt qua mắt tôi như kể chúng bị kéo giật về phía sau…
Gần năm rồi chưa về quê ngoại. Thú thật là cũng chẳng muốn về lắm, từ sau cái lần ấy… Vườn nhà, như mọi khi, lúc nào cũng rộn tiếng chim chích choè, chim chào mào, hàng lũ lượt chim sẻ nữa. Đêm đêm thì không nghe thấy tiếng tu hú đâu nữa, chỉ nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng chó sủa yếu ớt, và tiếng người nhà ho.
Tự dưng tôi nhớ một trưa hè Hà Nội, cái thời tôi vẫn còn trọ ở Lê Trọng Tấn. Hôm ấy trời nắng chang chang, tôi nằm rũ người dưới sàn nhà, tay chắp trước bụng. Tôi vật lộn với cơn bóng đè suốt năm phút, lúc tỉnh dậy mồ hôi túa ra nhễ nhại, nhưng điều kỳ lạ là tôi những tưởng mình đang ở quê và cất tiếng gọi ngơ ngác: “Bà ơi?”
Gần đây chẳng đọc cũng chẳng viết, nhưng tôi thấy rất vui. Như thể trẻ lại.
… Đang là buổi tối. Tôi ngồi xổm trước vườn rau, nước nhỏ tong tong xuống thùng xốp. Tôi nhìn ánh lửa bập bùng từ nồi bánh chưng hắt lên thửa rau, và đột nhiên tôi nhớ tới anh Hưng cùng câu chuyện mà anh kể tôi nghe trước ngày bay sang Đài Loan. Bố mẹ anh ly hôn, anh ở cùng bà ngoại từ nhỏ. Đó là một bà già bạch tạng với gương mặt hiền hậu, dáng người phốp pháp, có đôi gò má đỏ như than, mới ngoài bảy mươi nhưng tóc trắng đã nhiều hơn tóc đen. Anh Hưng kể rằng vài ngày trước khi rời Việt Nam, bà ngoại dẫn anh đi mua va li. Bà vừa lựa va li cho anh vừa khóc. Anh kể lại chuyện đó một cách bình thản, nhưng tôi thấy chạnh lòng khi mường tượng ra khuôn mặt méo xệch của bà già ấy khi đưa tiễn thằng cháu trai mà bà thương yêu nhất lên đường. Tôi thấy hạnh phúc thay cho anh.
… Hôm nay ở ngoài hàng ăn sáng, tôi phát hiện ra chị chủ quán thuở trước từng sống chung xóm với mẹ tôi. Chị ấy bảo cái đợt bố đạp xe lên Phao Sơn tán mẹ, bọn nít ranh trong làng chỉ nhăm nhe chọc thủng lốp xe bố.
Ngày 16 tháng 2
E hèm, xem nào… Tôi mang về quê tầm chục cuốn sách, nhưng gần tuần rồi mà tôi chưa đọc quá năm mươi trang.
Ngày 19 tháng 2
“Một người viết truyện ngắn và nhận ra rằng nó đã phát triển ngược với ý định của anh ta; rằng các nhân vật không hành động như anh ta muốn; rằng đã xảy ra các sự kiện không được anh ta dự kiến trước và rằng một tai họa mà anh ta đang định né tránh nhưng vô ích đang đến gần. Truyện ngắn ấy có thể cho thấy trước số phận của anh ta và anh là một trong các nhân vật ấy”.
Điều này rất đúng, phải thừa nhận là vậy. Một cách vừa vô thức vừa ý thức.
Tôi đã xoá phân nửa các bài viết của mình trong năm 2025. Tôi viết chỉ để bỏ đi.
… Tết này tôi dành nhiều thời gian thăm hỏi họ hàng hơn so với những năm trước. Tôi nghĩ bụng, dù gì thì mình cũng ru rú lủi thủi quanh năm, chỉ đến ngày Tết mới có dịp hội ngộ, tội gì mà cứ ở nhà mãi cho buồn. Ngặt một nỗi là đi đến đâu họ cũng hỏi:
“Lương tháng bao nhiêu?”
và
“Bao giờ lấy vợ?”
Hôm nay là mùng Ba. Trời thoáng đãng, nắng dịu nhưng vẫn hơi lạnh. Tôi đóng cửa đọc sách cả ngày.
Nhà tôi hoá vàng. Tôi và chú Huấn bày mâm cúng; thím và các em đi chùa. Chú Huấn lùng được chín quả trứng gà – rất nhỏ – ở giáp bờ tường dưới gốc cây vải; tôi đem bỏ vào một cái rổ màu hồng và xếp vào ngăn tủ lạnh. Tôi thấy buồn và nhung nhớ một điều gì đó… Tôi ngắm mảnh vườn nhà mình và chưa chi đã thấy đau lòng khi hình dung ra cảnh một ngày cỏ dại sẽ mọc um tùm ken đặc lối đi.
“Mỗi người đều có cả một thế giới ở trong mình.” – đây có lẽ là điều độc đáo nhất tôi từng ngẫm ra.
Mỗi ngày đọc một truyện ngắn của Flannery O’Connor. Không thể đọc bà ấy một cách liền tù tì. Đó là thứ văn chương ma mị, đầy cuốn hút, ngôn từ sắc lẹm và lý trí đến lạnh lùng. Cho đến khi đọc bà ấy, tôi mới hiểu được ra văn chương cũng chia ra làm duy lý và duy cảm. Duy cảm, như tôi vẫn thường nhắc tới Chekhov và Bunin, thật lãng mạn, du dương, tựa như một bản nhạc; duy lý thì chẳng màu mè hoa lá, những ông mặt trời màu vàng, vân vân và vân vân…
Ngày 21 tháng 2
Tôi sẽ trở lại Hà Nội vào ngày mai. Hôm nay tôi đọc một tiểu luận về Bunin.
Ngay từ khi còn nhỏ, người anh trai Nikolai đã đùa cợt vẽ ra cho cậu tương lai của mình — “khi em lớn lên, em sẽ đi làm, lấy vợ, sinh con” và v.v., Alyosha “đột nhiên cảm nhận sâu sắc toàn bộ sự kinh hoàng và toàn bộ sự thấp hèn của một tương lai như vậy đến nỗi cậu bật khóc nức nở”. Trong khi Lika không có gì ngoài tình yêu của mình trong cuộc sống, cô đã thực sự yêu Arsenyev và muốn anh chỉ sống vì cô. Nhưng giờ đây anh không thể làm được điều đó. Và bởi vì Lika, mặc dù thực tế là cô cũng đã thay đổi nhiều trong những năm qua, rốt cuộc vẫn không sinh ra để làm bạn đồng hành của một người nghệ sĩ, người có thể hòa tan vào anh, vào cuộc sống của anh, vào sở thích của anh, —nên tình yêu của họ dần phai nhạt. Bunin cho thấy sự tất yếu của một kết thúc như vậy: Lika cuối cùng không thể yêu Arsenyev theo cách anh cần, vì anh, chứ không phải vì bản thân cô, đã rời bỏ anh và không lâu sau thì qua đời.
Như thế, tình yêu của Arsenyev đã chết, đồng thời mãi mãi ở lại trong anh, cùng với anh — dưới hình thức Ký ức, một nguồn mạch không bao giờ cạn của mọi sáng tạo. Và âm hưởng cuối cùng vang lên trên trang cuối cùng của “Cuộc đời Arsenyev” là tiếng nói của nhà văn, vang vọng với những lời đã được viết khoảng năm mươi năm trước trong một bức thư gửi V. V. Pashchenko:
“Anh đã yêu em thật dịu dàng và tốt đẹp, đến nỗi những khoảnh khắc đẹp nhất của tình cảm này sẽ mãi mãi là những cảm xúc cao thượng và thuần khiết nhất trong cả cuộc đời anh”.
“Cuộc đời Arsenyev” — là cuốn sách quan trọng nhất của Bunin, quan trọng bởi vì, với dung lượng không lớn, nó dường như bao trùm lấy tất cả những gì ông đã viết trước đó
“Ôi, tôi muốn kể em nghe bao điều, nhưng tình yêu cần thinh lặng, nói nhiều là dại.”
Tuấn kể rằng giáp Tết nó đã lên thăm mộ mẹ một mình, vào một chiều xuân quang đãng lành lạnh. Nó bắt gặp một ông trung niên đang gục đầu, khóc nức nở dưới hai lăng mộ xây cất cạnh nhau, của hai thằng bé; đứa lớn sinh năm 2008, đứa bé sinh năm 2013. Tôi đoán rằng do tai nạn. “Tao cũng nghĩ chỉ có thế,” Tuấn đáp, “nhưng mà nhìn tội nghiệp thật”.
… Nàng luôn bình thản, trong nét mặt, cử chỉ, trong cung cách và trong đôi mắt u buồn của nàng có gì đó khoan thai hiền dịu, có sự nhẫn nhục và có lẽ còn chứa đựng cả một cơn bão lòng, một bầu yêu thương âm thầm bền bỉ; và tôi không thể không nhìn nàng với niềm khao khát cùng nỗi kinh sợ trước sự thật rằng mọi chuyện rồi sẽ kết thúc, và tất cả những gì còn lại trong tôi chỉ còn là cảm giác kỳ dị nhập nhằng giữa khoan khoái và đắng cay – một nỗi đau tê tái mà dịu ngọt, ngất ngây…
Ngày 22 tháng 2
Mấy ngày trước Tết tôi đã sống trong một trạng thái thẫn thờ, như người nửa tỉnh nửa mê, cốt mong sao ngày tháng trôi nhanh để chóng được tề tụ bên gia đình. Đợt Tết này trong tôi nảy ra nhiều dự tính mới, có lẽ phần nhiều xuất phát từ cảnh nhà cửa trống vắng, quạnh hiu: láng giếng chuyển đi, chòm xóm thưa thớt dần, có người đã chết mấy năm mà tôi những tưởng bà ta vẫn sống sờ sờ ra đấy… Và tôi ý thức rất rõ rằng bà nội tôi sẽ sớm gục ngã, và ông nội tôi… tôi chẳng muốn nghĩ tới nữa. Từ sâu thẳm trong tôi dâng lên một nỗi xao xuyến đắng cay muốn níu giữ lại từng khoảnh khắc này, dù là trong lúc tôi đang sống qua chúng, tôi luôn nhìn ngắm chúng với ý thức rõ ràng rằng chúng sớm muộn cũng sẽ tàn phai.
Bây giờ thì tôi nằm đây, trong căn phòng trọ hình hộp của mình với bờ tường trắng lốp, với đống sách vở bề bộn, trong cảnh im lặng như tờ của buổi chiều xuân muộn màng ẩm ướt, tôi thấy lòng mình rối bời, trống trải… Trưa nay tôi đọc lại Mùa thu lạnh của Bunin…
Tôi chợt nhớ một ngày cận Tết, một mình tôi phóng xe trên con đường vắng vẻ dưới ánh chiều tà vương vất, trong làn gió xuân lành lạnh. Tôi nhìn về phía Tây, ở đó mặt trời đã khuất bóng, nhưng một dải sáng đỏ rực vẫn hắt lên ở đường chân trời, lẫn vào bầu trời trong trong mờ tối, – tôi cứ nhìn mãi và nghĩ quê hương mình đẹp biết bao nhiêu. Tôi chẳng trữ tình đến thế, và cũng chẳng thiết tha cái xó tỉnh lẻ đìu hiu tẻ ngắt ấy tới thế, nhưng trong tôi vẫn âm ỉ một khao khát được ngắm, được sống và được chết nơi đây.
Ngày 24 tháng 2
Hai ngày qua tôi ở Vĩnh Phúc. Tôi rất vui và hài lòng với bản thân, với mọi chuyện trong chuyến ghé thăm lần này… Trưa nay, trong giấc ngủ ngắn chập chờn, mộng mị, tôi đã cố mường tượng ra khung cảnh ấy sẽ ra sao. Tâm trí tôi luôn phiêu dạt…
– Nhưng em không muốn đi, – nàng than thở, – và em cũng không muốn anh ra đi. Đừng, anh nhé! Làm sao có thể hạnh phúc khi người ta biết rằng chẳng bao lâu nữa, mọi thứ sẽ chấm dứt, tan tác?
– Lene bé bỏng của anh, ở trên cao kia, mọi bậc hiền triết và các vị thánh đều nát óc. Đâu có niềm hạnh phúc dài lâu! Nhưng nếu như những gì hiện nay chúng ta đang có không đủ cho em và không làm cho em vui lòng thì anh lập tức đốt cháy căn lều rồi chúng ta sẽ ra đi mỗi người một ngả. Lene ơi, đến đó thôi, cũng đủ rồi đó.
Họ dừng lại, nàng nhân nhượng, nhưng một bóng đen trùm lên hạnh phúc của nàng, hạnh phúc quả là mong manh.
Ngày 25 tháng 2
Tôi mua Siddhartha của Hermann Hesse, Tâm cảnh của Andre Maurois, và Sự an ủi của triết học của Alain de Botton. Tôi lãng phí cả một ngày vào những chuyện không đâu. Thời gian bị uổng phí đã đành, đằng này cái thời gian ấy còn không được người khác tôn trọng.
Buổi tối. Đọc nốt vài chục trang của Narcisse và Goldmund của Hesse. Một tác phẩm thâm thuý và minh triết… Gương mặt ấy thường chờn vờn trước mắt tôi, kể cả khi ăn. Tôi vẫn cố giữ bản thân không sa đà…
Ngày 26 tháng 2
Sáng rời giường lúc sáu giờ hai mươi. Đánh răng xong đọc được 50 trang của Siddhartha, muốn ngủ tiếp nhưng không thể, nên đành ngồi dậy viết một bài đánh giá về cuốn Narcisse và Goldmund (đã đăng trên blog). Khổ thật, cứ tưởng được hưởng một hôm trời mưa ngồi nhà, thế mà có người đến khoan với đục…
Buổi chiều. Đọc được quá nửa Siddhartha, sau đó chợp mắt chừng mười lăm phút. Thức dậy và thấy mưa đã tạnh hẳn, trời quang, chân trời phía xa ánh vàng rất đẹp. Tự dưng thấy không cần ai cả, và khao khát mãnh liệt được ở một mình.
Bắt đầu đọc Schopenhauer.
Ngày 27 tháng 2
Ngày thứ ba liên tiếp tỉnh giấc trước sáu giờ. Đọc xong Siddhartha, chợp mắt được một lát trước khi tỉnh giấc vì tiếng loa phát thanh từ trường trung học. Hơi nhức đầu, đọc nốt tiểu luận của Schopenhauer. Có lẽ sẽ một mình đi đâu đó.
Kẻ nào muốn nếm trải lòng biết ơn từ những người cùng thời, kẻ đó phải điều chỉnh tốc độ bước đi của mình cho phù hợp với họ. Nhưng những điều vĩ đại không bao giờ được tạo ra theo cách này. Và kẻ nào muốn làm những điều vĩ đại, phải hướng ánh nhìn về phía hậu thế, và trong một niềm tin vững chắc, hãy trau chuốt tác phẩm của mình cho các thế hệ mai sau. Không nghi ngờ gì nữa, kết quả có thể là anh ta sẽ vẫn hoàn toàn vô danh đối với những người cùng thời, và có thể so sánh với một người, bị buộc phải dành cả đời trên một hòn đảo hoang vắng, đã nỗ lực hết mình để dựng lên một tượng đài ở đó, nhằm truyền đạt cho những người đi biển trong tương lai biết về sự tồn tại của mình. Nếu anh ta nghĩ đó là một số phận khắc nghiệt, hãy để anh ta tự an ủi mình bằng suy ngẫm rằng người bình thường sống chỉ vì những mục đích thực dụng, thường cũng phải chịu một số phận tương tự, mà không có bất kỳ sự đền bù nào để hy vọng; bởi vì anh ta có thể, trong những điều kiện thuận lợi, dành cả đời cho việc sản xuất vật chất, kiếm tiền, mua sắm, xây dựng, vun xới, quy hoạch, sáng lập, thiết lập, làm đẹp bằng nỗ lực hàng ngày và lòng nhiệt thành không mệt mỏi, và suốt thời gian đó cứ ngỡ rằng mình đang làm việc cho chính mình; thế nhưng rốt cuộc chính con cháu anh ta mới là những người gặt hái lợi ích từ tất cả những điều đó, và đôi khi thậm chí còn chẳng phải là con cháu anh ta. Người mang thiên tài cũng vậy; anh ta, cũng thế, hy vọng vào phần thưởng của mình và ít nhất là được vinh danh; và cuối cùng nhận ra rằng mình chỉ làm việc cho hậu thế mà thôi. Chắc chắn rằng, cả hai đều đã thừa hưởng rất nhiều từ tổ tiên của họ.
– On Genius, Schopenhauer
Cả sáng tôi thơ thẩn quanh Bờ Hồ, đến trưa thì tạt qua Tổ Chim Xanh, đọc được vài trang sách và có một cuộc hội thoại chóng vánh với chị Ngoan. Tối nay chị cùng chồng sẽ trở lại Tuy Hoà. Tôi ra về, lòng nặng trĩu. Tôi đọc mươi trang sách “Những ngọn nến cháy tàn” rồi ngủ khoèo đến hai rưỡi chiều. Thức dậy, người tôi ê ẩm, loá mắt vì ánh nắng chói chang trên vuông sân thượng. Và không có gió, không có mây, tất cả chỉ là một màn xám đục, và tiếng học sinh ở trường cấp hai cứ văng vẳng bên tai. Hôm nay tôi mệt quá…
Rút từ nhật ký:
– “Nếu có ai mong muốn được giải trí, theo cách sẽ ngăn anh ta cảm thấy cô đơn ngay cả khi ở một mình, tôi xin tiến cử sự bầu bạn của những chú chó, mà những phẩm chất đạo đức và trí tuệ của chúng gần như có thể đem lại sự vui thích và mãn nguyện.” Tôi nghĩ là cả mấy con mèo nữa, con nào càng quấn người càng tốt.
Ngày 1 tháng 3
Tôi thấy hạnh phúc.
Bình luận về bài viết này