2026
Xuân
Ngày 14 tháng 1
Tám giờ sáng, tôi đưa Hương ra công ty rồi tạt qua thư viện Hà Nội trả sách. Thật may sao vì tôi không bị phạt (vì trận ốm nên tôi trả sách muộn hai tuần), thế là tôi chợt thấy phấn chấn hẳn lên. Tôi tìm sách của Kafka nhưng không thấy, nên tôi, theo thói quen, ngó qua các tác phẩm Nga… Rốt cuộc, tôi chọn được 3 cuốn: Chậm của Kunkera, Người chồng vĩnh cửu của Dostoevsky, và một cuốn chuyên khảo dày cộp về những bậc thầy văn chương.
Tôi lao vào đọc ngay khi về phòng.
Buổi tối đọc được một nửa Người chồng vĩnh cửu của Dos: không mấy thú vị dù vẫn liên tục lật trang.
Ngày 15 tháng 1
Buổi sáng đọc xong Người chồng vĩnh cửu: nửa sau không hay như nửa đầu, dài dòng không cần thiết, đáng lẽ đã có thể kết thúc sớm hơn. Bù lại, câu cuối cùng làm tôi rất ấn tượng: “Về sau này anh cứ tiếc mãi.”
Buổi chiều làm mấy chuyện lặt vặt, cảm thấy bức bối, chán nản, vô nghĩa. Mệt mỏi đến rã rời. Dạo này thường hay bị đau đầu, đau lưng. Đọc một lèo hết Chậm của Kundera: không hiểu tác giả muốn truyền tải điều gì, lời văn quá dung tục, nhưng nếu cơ hội trong tương lai vẫn sẽ đọc tiếp tác giả này.
Ngày 16 tháng 1
Đọc hết Nhật ký của Kafka trong buổi sáng. Tạm thời chưa biết nói gì về chúng.
Tối qua tôi ngủ khá ngon. Cả ngày bầu trời đầy mây, hoặc bụi mịn, tôi không rõ. Tôi có cảm tưởng đằng sau tấm màn xam xám mờ mờ kia hẳn là một màu xanh ngắt, như cái dạo thu mới về. Đàn chim sẻ hôm trước không thấy đâu nữa.
Tự cho mình rảnh rỗi cả buổi chiều (sau một buổi sáng không lấy gì làm được việc cho lắm), đọc Minh ám của Soseki.
Thành phố lúc này bụi bặm và xám ngoét như trồi từ dưới cát lên. Tôi căm ghét thành phố này, nhưng tôi biết khi tôi xa nó, tôi sẽ viết về nó rất nhiều.
Ngày 18 tháng 1
Buổi sáng tôi có hẹn với anh Dương ở một quán cà phê ngay mạn Hoàn Kiếm. Chúng tôi ngồi ở một góc đối diện cửa kính, từ đó có thể trông xuống quảng trường và một phần bờ hồ. Tôi vốn không có ý định ngồi lâu, nên được lát đã rủ anh đi bát phố một vòng, và chúng tôi đi… Chuyện trò vui vẻ… Sau đó anh dẫn tôi vào một quán bánh mì chảo ở phố Tạ Quang Bửu, ôi con phố thân quen, và anh lại giành phần trả tiền – “Chả mấy khi được mời nhà văn tương lai!”… Cứ thế…
Chúng tôi ra công viên Thống Nhất, hết đi lại ngồi, tán đủ thứ chuyện trên đời dưới đất. Tôi hỏi anh có sợ chủ nghĩa cộng sản tàn lụi trước ngày hai chúng tôi nhắm mắt lìa đời không, và anh e rằng có. Tôi đáp rằng thế thì đáng sợ quá nhỉ, còn anh chỉ phất tay bảo chế độ nào thì cũng cực như nhau thôi.
“Nếu là nước dân chủ,” anh vỗ vai tôi nói, “thì chú còn lâu mới ngồi nói chuyện với anh được thế này. Chú phải cúi thấp đầu hơn nữa.” (Anh Dương làm bác sĩ)
Buổi chiều của tôi trôi qua tẻ nhạt. Buổi tối cũng vậy. Tôi thiếu ngủ trầm trọng và đang mong từng ngày được về thăm quê.
Ngày 19 tháng 1
Buổi sáng tôi hơi mệt, không viết được, đành ngồi xem lại Us and Them. Xem xong thì cũng đến giờ ăn trưa. Đầu tôi hơi nhức và mống mắt tôi đau nhức, tôi sợ mình sẽ bị ốm một lần nữa. Tôi không tưởng tượng nổi có cơn ác mộng nào đáng sợ hơn thế…
Ngày 20 tháng 1
Tôi đang ở quê. Vườn nhà tôi quanh ngày luôn rộn tiếng chim, nhưng tôi không bao giờ nhìn thấy chúng. Thảng hoặc có một cánh én cắt ngang nền trời xam xám; gió thổi rất nhẹ và dịu dàng. Mây trôi lững lờ, và có lẽ sẽ mặc gió đưa đẩy như thế suốt cả ngày dài. Trong những ngày thế này, cơ hồ không có hi vọng được trông thấy mặt trời.
Tôi về từ chiều qua. Tôi còn nhớ khi tôi băng băng trên quốc lộ, tôi đã thấy một đàn én, đâu đó tầm hai chục con, chúng lướt ngang đầu tôi; khi chúng lướt qua, tôi đã kịp thấy những đôi cánh nhỏ bé ấy vỗ đập dữ dội ra sao, và trong một tích tắc, chỉ tích tắc thôi, tôi tưởng như chúng đã khiến khoảng trời vây quanh chao động, rung lên bần bật.
Tôi còn thấy mấy thằng nhóc học sinh đứng bên vệ đường, vừa giơ hai tay lên trời vừa nhảy nhót như lũ khỉ mỗi lần có xe tải đi qua. Cuối cùng thì một chiếc xe tải màu trắng cũng rú còi inh ỏi theo tiếng nhạc để chiều lòng tụi trẻ. Chúng nó bá vai nhau, cười rạng rỡ, còn bà nông dân cầm cuốc đứng cạnh – chắc là mẹ của một đứa trong cả bọn – thì cứ là ngẩn tò te. Đấy, lũ trẻ này mới thật là vô tư và yêu đời sao…
Về việc đọc: Tôi đã đọc xong Rập rờn cánh hạc của Kawabata. Không mấy ấn tượng. Và tôi bắt đầu đọc Trăm năm cô đơn sau nhiều lần trì hoãn. Và tôi đang ngồi ở trước hiên, đang định trốn biệt trong phòng để đọc cho hết buổi sáng đây. Ông tôi nhờ tôi vài chuyện làm vườn lặt vặt, thế là tôi vác cuốc, vác xẻng đi làm. Khoảnh vườn này rồi sẽ là của tôi, vậy nên hãy tập dượt trước từ giờ cho chắc… Vườn hoa anh đào của Chekhov?
Từ một năm nay, chiếc ghế xoay mất một bên tay dựa mà mẹ mua cho tôi vào năm lớp hai nhân dịp bà về thăm nước, đã bị đem ra làm chỗ ngủ cho mẹ con nhà mèo. Sáu con cả thảy, chúng quyện chặt vào nhau, trông con nào cũng màu trắng đen nham nhở, mắt kèm nhèm… Con mèo mẹ thì chả khác gì giống chó, suốt ngày tha thẩn, bới đất, ngửi luống hoa cải. Theo dõi chúng ngoài tôi ra chỉ có một con bướm trắng bay là là sát đất – không biết có phải vẫn con bướm trắng mà lần nào trông ra vườn tôi cũng thấy không. Có lẽ vẫn là nó, như thế sẽ làm tôi vui hơn.
Đây, khi tôi đang viết những dòng này đây, con mèo con với mống mắt xanh lè đang lộn cả người vào trong thau nhôm mà ăn. Ôi, nó lọt thỏm trong đó rồi, chỉ có cái đuôi ngắn ngủn như bị ai đem cắt đi là còn vểnh lên…
Chín giờ. Nắng hửng dần, bóng cành lá rung rinh dưới mặt sân lát gạch đỏ; những đụn mây chất chồng lên nhau, nhập hoà vào nhau, trải ra khắp phía và bao phủ không gian bằng cái màu xanh xám buồn buồn, như những khi trời sắp đổ giông. Trời bắt đầu nực hơn, dù gió vẫn thổi không ngớt, và chim vẫn hót rộn ràng, không biết mệt mỏi.
“Tại sao chim cứ hót nhát gừng thế, có phải giọng chim không đủ cao?”
“Chẳng phải,” chim đáp, “tôi có rất nhiều điệu hát, và tôi muốn hát cho hết các điệu.”
… Bước ra cổng, cách một bờ tường bám rêu thấp lè tè, có thể thấy cả một rừng hoa bìm bịp; chúng ngóc cả đầu ra đường như thể những con mắt màu tím. Chúng được dân quê dùng để chữa bệnh.
Tôi đang viết những dòng này ở ngoài hiên. Hôm nay tôi viết rất tốt, có lẽ vì không bị đám muỗi quấy rầy. Ở miền quê bao giờ cũng rất nhiều muỗi.
***
Mười hai giờ, vườn cây xì xầm trong cơn gió từ đường ray dội về. Có tiếng chim chích choè lanh lảnh đâu đây. Một con bướm mải miết hút mật từ nụ hoa đỏ thắm mà ông tôi bảo là hoa sống đời; cái tên chẳng gợi chút hứng thú nào, tôi nghĩ thế.
Tôi đã đoán đúng: mặt trời không chịu ló mặt, cứ lẩn khuất sau những dải mây xam xám nhờ nhờ. Đằng xa có những đụn mây đen xỉn, có lẽ về chiều trời sẽ đổ mưa.
Buổi trưa miền quê thật tĩnh lặng. Tôi ngồi im ngắm mấy con mèo – loài vật này là minh chứng cho việc không nhất thiết mọi tạo vật trên đời đều phải có mục đích. Cứ trông chúng thoải mái, nhàn nhã biết bao. Một con mèo sẽ rất hợp với tính khí của tôi. Mỗi khi không viết được, ít ra tôi có cái để đùa giỡn.
***
Mỗi lần về quê, việc đón Thư luôn được giao trách cho tôi. Con bé này rất kháu, dù mới năm tuổi nhưng nó đã đọc được mặt chữ. Nay tôi thử ép nó đọc một trích đoạn của Trăm năm cô đơn. Sau bữa tối, ngồi ngoài hiên tôi đọc nó nghe truyện cổ tích của Tolstoy.
Tôi đi dạo vài vòng quanh xóm. Tôi định bụng sẽ đi xa hơn, ra tận bờ hồ, nhưng tự dưng thấy thèm đọc sách quá nên đành vòng lại. Trời đêm tĩnh lặng và rất nhiều sao. Tiếng ri rỉ trong lùm cây không bao giờ dứt, cây cối chung quanh chìm lẫn vào bóng đêm.
… Mới hôm qua thôi, tôi nảy ra ý định sẽ chẳng viết gì nữa cả, mà cứ lang bạt hết vùng này đến vùng khác. Nghe cũng thú thật đấy, nhưng mà tiền đâu ra nhỉ????
Ngày 21 tháng 1
Trận mưa tràn về từ đêm kéo theo khí lạnh. Khi tôi viết những dòng này thì mưa đã tạnh hẳn, nhưng trong không khí vẫn thoang thoảng mùi ẩm ướt từ vườn cây đưa lại; gió thổi không ngừng, mấy con chim mới hôm qua còn mải miết chuyền cành giờ chẳng thấy đâu nữa. Chốc chốc một chiếc lá lìa cành rơi đậu xuống mái hiên.
Ngày 23 tháng 1
Đã đọc xong Trăm năm cô đơn. Quả là một áng văn trác tuyệt. Quả là bõ thời gian bỏ ra.
Ngày 28 tháng 1
Truyện ngắn Đêm đông của tôi sẽ ra mắt Báo Văn nghệ vào ngày mai. Lần đầu được in.
Gần đây tôi đọc: Trái tim chó của Bulgakov, Giữa lòng tăm tối của Conrad, Daisy Miller & Di sản Aspern của Henry James, Bài ca Solomon của Toni Morrison. Tôi chuẩn bị đọc lại Hai vạn dặm dưới biển (có một bên booking) và Con đường đau khổ của Alexey Tolstoy.
Tôi vừa viết xong truyện Mưa xuân và tạm thời không muốn viết lách chút nào. Ôi, tôi cứ cố vùi đầu vào chuyện khác để khỏi phải viết…
Ngày 31 tháng 1
Vài hôm nay đọc lại Chekhov, truyện “Người đàn bà có con chó nhỏ”. Cảm xúc vẫn vẹn nguyên như lần đầu, nếu không muốn nói là sau mỗi lần đọc lại, tôi càng thấy thấm thía cái chất thơ và nỗi buồn trong đó.
Đọc được một nửa Đêm trước của Turgenev, nhưng không có quá nhiều cảm xúc. Và có lẽ nên chấm dứt với mấy lão nhà văn Nhật Bản. Murakami từ lâu đã không còn hấp dẫn nữa, cả cái ông Kawabata viết thứ văn chương kiểu cách, tẻ nhạt vô cùng, chưa kể các cốt truyện còn vô luân khủng khiếp. Suy cho cùng vẫn chỉ có Soseki là tạm ổn.
Đã đọc xong hai truyện vừa của Henry James. Khô cằn, không gợi chút hứng thú đọc nào.
Ngày 1 tháng 2
Đọc xong Washington Square của Henry James. Hay, thú vị, dù đáng ra có thể ngắn gọn hơn.
Ngày 8 & 9 tháng 2
Dạo gần đây lướt TikTok nhiều quá. Và có vẻ nói nhiều hơn mọi khi. Thật ra tôi chưa bao giờ bỏ được cái tính ấy: kể lể về bản thân quá nhiều. Suy cho cùng, ai thèm quan tâm cơ chứ?
Ngày 11 tháng 2
Một ngày lãng phí: dành tới gần ba tiếng ở ngoài đường. Buổi sáng tôi dậy sớm, lúc năm giờ mười, ngủ không ngon giấc. Tôi bước ra sân thượng, dưới màn mưa lất phất lành lạnh là những ánh đèn yếu ớt vàng vọt của các hộ dân chung quanh; bầu trời toả rạng màu hồng tím như có ai đang đốt lửa ở phía chân trời.
Tôi đi thư viện. Tôi đọc lại Ngữ pháp tình yêu và nửa chừng Những giấc mộng của Trang (“Trang là một con chó.”) của Bunin. Cuối ngày tôi nhận được Bí mật thiêu đốt tâm can và Mọi thứ lên cao đều hội tụ từ Phanbooks.
… Gần đây tôi cứ ngẫm nghĩ rằng mọi chuyện đang diễn ra, chẳng hạn như việc tôi đang ngồi viết những dòng này, rồi cũng sẽ qua đi và chìm vào quên lãng. Tôi sẽ không thể nào nhớ đến chúng. Có những khoảng thời gian mà tôi vĩnh viễn đánh mất – tôi không nhớ nổi mình đã làm gì, đã suy nghĩ những gì, đã yêu ai và yêu người ta ra sao.
… Đàn ông có hai loại: loại chuyên làm khổ đàn bà và loại chuyên làm khổ chính mình.
… Dạo này ý nghĩ về việc dọn khỏi Hà Nội cứ diễu qua diễu lại trong tâm trí tôi.
Ngày 13 tháng 2
Tôi về quê từ chiều qua. Trời lúc thì quang đãng, lúc thì đùng đục, nhờ nhờ, sương ẩm ướt và lạnh. Sung sướng hít thở mùi bộ đồ jeans mới sắm, và tôi nhớ lúc còn ngồi trên xe, khi băng ngang cánh đồng, tôi đã ngửi thấy mùi tanh tanh của bùn mà chẳng gì làm ghê tởm, trái lại, tôi thấy hào hứng không kể đâu cho hết. Tôi luôn nhìn các hàng cây qua khung cửa kính của chiếc xe và chỉ biết minh hoạ bằng một lối ví duy nhất: như một thước phim tua nhanh. Nhưng hôm nay thì tôi lại thấy rằng những hàng cây lướt qua mắt tôi như kể chúng bị kéo giật về phía sau…
Gần năm rồi chưa về quê ngoại. Thú thật là cũng chẳng muốn về lắm, từ sau cái lần ấy… Vườn nhà, như mọi khi, lúc nào cũng rộn tiếng chim chích choè, chim chào mào, hàng lũ lượt chim sẻ nữa. Đêm đêm thì không nghe thấy tiếng tu hú đâu nữa, chỉ nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng chó sủa yếu ớt, và tiếng người nhà ho.
Tự dưng tôi nhớ một trưa hè Hà Nội, cái thời tôi vẫn còn trọ ở Lê Trọng Tấn. Hôm ấy trời nắng chang chang, tôi nằm rũ người dưới sàn nhà, tay chắp trước bụng. Tôi vật lộn với cơn bóng đè suốt năm phút, lúc tỉnh dậy mồ hôi túa ra nhễ nhại, nhưng điều kỳ lạ là tôi những tưởng mình đang ở quê và cất tiếng gọi ngơ ngác: “Bà ơi?”
Gần đây chẳng đọc cũng chẳng viết, nhưng tôi thấy rất vui. Như thể trẻ lại.
… Đang là buổi tối. Tôi ngồi xổm trước vườn rau, nước nhỏ tong tong xuống thùng xốp. Tôi nhìn ánh lửa bập bùng từ nồi bánh chưng hắt lên thửa rau, và đột nhiên tôi nhớ tới anh Hưng cùng câu chuyện mà anh kể tôi nghe trước ngày bay sang Đài Loan. Bố mẹ anh ly hôn, anh ở cùng bà ngoại từ nhỏ. Đó là một bà già bạch tạng với gương mặt hiền hậu, dáng người phốp pháp, có đôi gò má đỏ như than, mới ngoài bảy mươi nhưng tóc trắng đã nhiều hơn tóc đen. Anh Hưng kể rằng vài ngày trước khi rời Việt Nam, bà ngoại dẫn anh đi mua va li. Bà vừa lựa va li cho anh vừa khóc. Anh kể lại chuyện đó một cách bình thản, nhưng tôi thấy chạnh lòng khi mường tượng ra khuôn mặt méo xệch của bà già ấy khi đưa tiễn thằng cháu trai mà bà thương yêu nhất lên đường. Tôi thấy hạnh phúc thay cho anh.
… Hôm nay ở ngoài hàng ăn sáng, tôi phát hiện ra chị chủ quán thuở trước từng sống chung xóm với mẹ tôi. Chị ấy bảo cái đợt bố đạp xe lên Phao Sơn tán mẹ, bọn nít ranh trong làng chỉ nhăm nhe chọc thủng lốp xe bố.
Ngày 16 tháng 2
E hèm, xem nào… Tôi mang về quê tầm chục cuốn sách, nhưng gần tuần rồi mà tôi chưa đọc quá năm mươi trang.
Ngày 19 tháng 2
“Một người viết truyện ngắn và nhận ra rằng nó đã phát triển ngược với ý định của anh ta; rằng các nhân vật không hành động như anh ta muốn; rằng đã xảy ra các sự kiện không được anh ta dự kiến trước và rằng một tai họa mà anh ta đang định né tránh nhưng vô ích đang đến gần. Truyện ngắn ấy có thể cho thấy trước số phận của anh ta và anh là một trong các nhân vật ấy”.
Điều này rất đúng, phải thừa nhận là vậy. Một cách vừa vô thức vừa ý thức.
Tôi đã xoá phân nửa các bài viết của mình trong năm 2025. Tôi viết chỉ để bỏ đi.
… Tết này tôi dành nhiều thời gian thăm hỏi họ hàng hơn so với những năm trước. Tôi nghĩ bụng, dù gì thì mình cũng ru rú lủi thủi quanh năm, chỉ đến ngày Tết mới có dịp hội ngộ, tội gì mà cứ ở nhà mãi cho buồn. Ngặt một nỗi là đi đến đâu họ cũng hỏi:
“Lương tháng bao nhiêu?”
và
“Bao giờ lấy vợ?”
Hôm nay là mùng Ba. Trời thoáng đãng, nắng dịu nhưng vẫn hơi lạnh. Tôi đóng cửa đọc sách cả ngày.
Nhà tôi hoá vàng. Tôi và chú Huấn bày mâm cúng; thím và các em đi chùa. Chú Huấn lùng được chín quả trứng gà – rất nhỏ – ở giáp bờ tường dưới gốc cây vải; tôi đem bỏ vào một cái rổ màu hồng và xếp vào ngăn tủ lạnh. Tôi thấy buồn và nhung nhớ một điều gì đó… Tôi ngắm mảnh vườn nhà mình và chưa chi đã thấy đau lòng khi hình dung ra cảnh một ngày cỏ dại sẽ mọc um tùm ken đặc lối đi.
“Mỗi người đều có cả một thế giới ở trong mình.” – đây có lẽ là điều độc đáo nhất tôi từng ngẫm ra.
Mỗi ngày đọc một truyện ngắn của Flannery O’Connor. Không thể đọc bà ấy một cách liền tù tì. Đó là thứ văn chương ma mị, đầy cuốn hút, ngôn từ sắc lẹm và lý trí đến lạnh lùng. Cho đến khi đọc bà ấy, tôi mới hiểu được ra văn chương cũng chia ra làm duy lý và duy cảm. Duy cảm, như tôi vẫn thường nhắc tới Chekhov và Bunin, thật lãng mạn, du dương, tựa như một bản nhạc; duy lý thì chẳng màu mè hoa lá, những ông mặt trời màu vàng, vân vân và vân vân…
Ngày 21 tháng 2
Tôi sẽ trở lại Hà Nội vào ngày mai. Hôm nay tôi đọc một tiểu luận về Bunin.
Ngay từ khi còn nhỏ, người anh trai Nikolai đã đùa cợt vẽ ra cho cậu tương lai của mình — “khi em lớn lên, em sẽ đi làm, lấy vợ, sinh con” và v.v., Alyosha “đột nhiên cảm nhận sâu sắc toàn bộ sự kinh hoàng và toàn bộ sự thấp hèn của một tương lai như vậy đến nỗi cậu bật khóc nức nở”. Trong khi Lika không có gì ngoài tình yêu của mình trong cuộc sống, cô đã thực sự yêu Arsenyev và muốn anh chỉ sống vì cô. Nhưng giờ đây anh không thể làm được điều đó. Và bởi vì Lika, mặc dù thực tế là cô cũng đã thay đổi nhiều trong những năm qua, rốt cuộc vẫn không sinh ra để làm bạn đồng hành của một người nghệ sĩ, người có thể hòa tan vào anh, vào cuộc sống của anh, vào sở thích của anh, —nên tình yêu của họ dần phai nhạt. Bunin cho thấy sự tất yếu của một kết thúc như vậy: Lika cuối cùng không thể yêu Arsenyev theo cách anh cần, vì anh, chứ không phải vì bản thân cô, đã rời bỏ anh và không lâu sau thì qua đời.
Như thế, tình yêu của Arsenyev đã chết, đồng thời mãi mãi ở lại trong anh, cùng với anh — dưới hình thức Ký ức, một nguồn mạch không bao giờ cạn của mọi sáng tạo. Và âm hưởng cuối cùng vang lên trên trang cuối cùng của “Cuộc đời Arsenyev” là tiếng nói của nhà văn, vang vọng với những lời đã được viết khoảng năm mươi năm trước trong một bức thư gửi V. V. Pashchenko:
“Anh đã yêu em thật dịu dàng và tốt đẹp, đến nỗi những khoảnh khắc đẹp nhất của tình cảm này sẽ mãi mãi là những cảm xúc cao thượng và thuần khiết nhất trong cả cuộc đời anh”.
“Cuộc đời Arsenyev” — là cuốn sách quan trọng nhất của Bunin, quan trọng bởi vì, với dung lượng không lớn, nó dường như bao trùm lấy tất cả những gì ông đã viết trước đó
Tuấn kể rằng giáp Tết nó đã lên thăm mộ mẹ một mình, vào một chiều xuân quang đãng lành lạnh. Nó bắt gặp một ông trung niên đang gục đầu, khóc nức nở dưới hai lăng mộ xây cất cạnh nhau, của hai thằng bé; đứa lớn sinh năm 2008, đứa bé sinh năm 2013. Tôi đoán rằng do tai nạn. “Tao cũng nghĩ chỉ có thế,” Tuấn đáp, “nhưng mà nhìn tội nghiệp thật”.
Ngày 22 tháng 2
Mấy ngày trước Tết tôi đã sống trong một trạng thái thẫn thờ, như người nửa tỉnh nửa mê, cốt mong sao ngày tháng trôi nhanh để chóng được tề tụ bên gia đình. Đợt Tết này trong tôi nảy ra nhiều dự tính mới, có lẽ phần nhiều xuất phát từ cảnh nhà cửa trống vắng, quạnh hiu: láng giếng chuyển đi, chòm xóm thưa thớt dần, có người đã chết mấy năm mà tôi những tưởng bà ta vẫn sống sờ sờ ra đấy… Và tôi ý thức rất rõ rằng bà nội tôi sẽ sớm gục ngã, và ông nội tôi… tôi chẳng muốn nghĩ tới nữa. Từ sâu thẳm trong tôi dâng lên một nỗi xao xuyến đắng cay muốn níu giữ lại từng khoảnh khắc này, dù là trong lúc tôi đang sống qua chúng, tôi luôn nhìn ngắm chúng với ý thức rõ ràng rằng chúng sớm muộn cũng sẽ tàn phai.
Bây giờ thì tôi nằm đây, trong căn phòng trọ hình hộp của mình với bờ tường trắng lốp, với đống sách vở bề bộn, trong cảnh im lặng như tờ của buổi chiều xuân muộn màng ẩm ướt, tôi thấy lòng mình rối bời, trống trải… Trưa nay tôi đọc lại Mùa thu lạnh của Bunin…
Tôi chợt nhớ một ngày cận Tết, một mình tôi phóng xe trên con đường vắng vẻ dưới ánh chiều tà vương vất, trong làn gió xuân lành lạnh. Tôi nhìn về phía Tây, ở đó mặt trời đã khuất bóng, nhưng một dải sáng đỏ rực vẫn hắt lên ở đường chân trời, lẫn vào bầu trời trong trong mờ tối, – tôi cứ nhìn mãi và nghĩ quê hương mình đẹp biết bao nhiêu. Tôi chẳng trữ tình đến thế, và cũng chẳng thiết tha cái xó tỉnh lẻ đìu hiu tẻ ngắt ấy tới thế, nhưng trong tôi vẫn âm ỉ một khao khát được ngắm, được sống và được chết nơi đây.
Ngày 24 tháng 2
Hai ngày qua tôi ở Vĩnh Phúc. Tôi rất vui và hài lòng với bản thân, với mọi chuyện trong chuyến ghé thăm lần này… Trưa nay, trong giấc ngủ ngắn chập chờn, mộng mị, tôi đã cố mường tượng ra khung cảnh ấy sẽ ra sao. Tâm trí tôi luôn phiêu dạt…
– Nhưng em không muốn đi, – nàng than thở, – và em cũng không muốn anh ra đi. Đừng, anh nhé!
Làm sao có thể hạnh phúc khi người ta biết rằng chẳng bao lâu nữa, mọi thứ sẽ chấm dứt, tan tác?
– Lene bé bỏng của anh, ở trên cao kia, mọi bậc hiền triết và các vị thánh đều nát óc. Đâu có niềm hạnh phúc dài lâu! Nhưng nếu như những gì hiện nay chúng ta đang có không đủ cho em và không làm cho em vui lòng thì anh lập tức đốt cháy căn lều rồi chúng ta sẽ ra đi mỗi người một ngả. Lene ơi, đến đó thôi, cũng đủ rồi đó.
Họ dừng lại, nàng nhân nhượng, nhưng một bóng đen trùm lên hạnh phúc của nàng, hạnh phúc quả là mong manh.
Ngày 25 tháng 2
Tôi mua Siddhartha của Hermann Hesse, Tâm cảnh của Andre Maurois, và Sự an ủi của triết học của Alain de Botton. Tôi lãng phí cả một ngày vào những chuyện không đâu. Thời gian bị uổng phí đã đành, đằng này cái thời gian ấy còn không được người khác tôn trọng.
Buổi tối. Đọc nốt vài chục trang của Narcisse và Goldmund của Hesse. Một tác phẩm thâm thuý và minh triết… Gương mặt ấy thường chờn vờn trước mắt tôi, kể cả khi ăn. Tôi vẫn cố giữ bản thân không sa đà…
Ngày 26 tháng 2
Sáng rời giường lúc sáu giờ hai mươi. Đánh răng xong đọc được 50 trang của Siddhartha, muốn ngủ tiếp nhưng không thể, nên đành ngồi dậy viết một bài đánh giá về cuốn Narcisse và Goldmund (đã đăng trên blog). Khổ thật, cứ tưởng được hưởng một hôm trời mưa ngồi nhà, thế mà có người đến khoan với đục…
Buổi chiều. Đọc được quá nửa Siddhartha, sau đó chợp mắt chừng mười lăm phút. Thức dậy và thấy mưa đã tạnh hẳn, trời quang, chân trời phía xa ánh vàng rất đẹp. Tự dưng thấy không cần ai cả, và khao khát mãnh liệt được ở một mình.
Bắt đầu đọc Schopenhauer.
Ngày 27 tháng 2
Ngày thứ ba liên tiếp tỉnh giấc trước sáu giờ. Đọc xong Siddhartha, chợp mắt được một lát trước khi tỉnh giấc vì tiếng loa phát thanh từ trường trung học. Hơi nhức đầu, đọc nốt tiểu luận của Schopenhauer. Có lẽ sẽ một mình đi đâu đó.
Kẻ nào muốn nếm trải lòng biết ơn từ những người cùng thời, kẻ đó phải điều chỉnh tốc độ bước đi của mình cho phù hợp với họ. Nhưng những điều vĩ đại không bao giờ được tạo ra theo cách này. Và kẻ nào muốn làm những điều vĩ đại, phải hướng ánh nhìn về phía hậu thế, và trong một niềm tin vững chắc, hãy trau chuốt tác phẩm của mình cho các thế hệ mai sau. Không nghi ngờ gì nữa, kết quả có thể là anh ta sẽ vẫn hoàn toàn vô danh đối với những người cùng thời, và có thể so sánh với một người, bị buộc phải dành cả đời trên một hòn đảo hoang vắng, đã nỗ lực hết mình để dựng lên một tượng đài ở đó, nhằm truyền đạt cho những người đi biển trong tương lai biết về sự tồn tại của mình. Nếu anh ta nghĩ đó là một số phận khắc nghiệt, hãy để anh ta tự an ủi mình bằng suy ngẫm rằng người bình thường sống chỉ vì những mục đích thực dụng, thường cũng phải chịu một số phận tương tự, mà không có bất kỳ sự đền bù nào để hy vọng; bởi vì anh ta có thể, trong những điều kiện thuận lợi, dành cả đời cho việc sản xuất vật chất, kiếm tiền, mua sắm, xây dựng, vun xới, quy hoạch, sáng lập, thiết lập, làm đẹp bằng nỗ lực hàng ngày và lòng nhiệt thành không mệt mỏi, và suốt thời gian đó cứ ngỡ rằng mình đang làm việc cho chính mình; thế nhưng rốt cuộc chính con cháu anh ta mới là những người gặt hái lợi ích từ tất cả những điều đó, và đôi khi thậm chí còn chẳng phải là con cháu anh ta. Người mang thiên tài cũng vậy; anh ta, cũng thế, hy vọng vào phần thưởng của mình và ít nhất là được vinh danh; và cuối cùng nhận ra rằng mình chỉ làm việc cho hậu thế mà thôi. Chắc chắn rằng, cả hai đều đã thừa hưởng rất nhiều từ tổ tiên của họ.
– On Genius, Schopenhauer
Cả sáng tôi thơ thẩn quanh Bờ Hồ, đến trưa thì tạt qua Tổ Chim Xanh, đọc được vài trang sách và có một cuộc hội thoại chóng vánh với chị Ngoan. Tối nay chị cùng chồng sẽ trở lại Tuy Hoà. Tôi ra về, lòng nặng trĩu. Tôi đọc mươi trang sách “Những ngọn nến cháy tàn” rồi ngủ khoèo đến hai rưỡi chiều. Thức dậy, người tôi ê ẩm, loá mắt vì ánh nắng chói chang trên vuông sân thượng. Và không có gió, không có mây, tất cả chỉ là một màn xám đục, và tiếng học sinh ở trường cấp hai cứ văng vẳng bên tai. Hôm nay tôi mệt quá…
Rút từ nhật ký:
– “Nếu có ai mong muốn được giải trí, theo cách sẽ ngăn anh ta cảm thấy cô đơn ngay cả khi ở một mình, tôi xin tiến cử sự bầu bạn của những chú chó, mà những phẩm chất đạo đức và trí tuệ của chúng gần như có thể đem lại sự vui thích và mãn nguyện.” Tôi nghĩ là cả mấy con mèo nữa, con nào càng quấn người càng tốt.
Ngày 4 tháng 3
Cứ lúc nào ta cảm thấy hạnh phúc, bình yên là y rằng cuộc đời sẽ vả cho một cú điếng người cho tỉnh ngộ lại. Cứ như thể nó nói với mình rằng: “Mày không xứng đáng được hạnh phúc! Mày phải chịu khổ đau!”
Hình như khi trong nhà có chuyện không ổn, mấy luống rau ngoài vườn cũng xơ xác theo. Tạm thời tôi chẳng nghĩ được gì, chẳng muốn nghĩ bất cứ gì.
… Mặt trăng, như con mắt hồng ngọc, nhô cao trên đỉnh những tán cây sẫm tối, trong làn sương lam bồng bềnh, trong tiết xuân lành lạnh… Chiều nay, tôi xuống thắp nén hương cho thím Nhung. Bố chồng của thím là em trai ruột của ông tôi. Nhìn vào di ảnh, tôi chợt nhận ra suốt hàng chục năm, từ thời tôi còn tấm bé, hay chạy chân đất trên nền đất sỏi để len theo con đường quanh co tới căn nhà xập xệ trên đỉnh đồi của thím, cho đến nay, khi những mỏm đồi, những hàng cây keo, cây bạch đàn, cái hồ nước tụi trẻ con chúng tôi thường đập nước tung toé, – thảy đã chìm sâu vào dĩ vãng, đã một lần nữa sống lại trong ký ức tôi, khi tôi ngồi xuống viết những dòng này trong không khí yên ả, bình lặng của quê hương. Ánh tà dương rớt xuống vai, bám theo tôi trên con đường khúc khuỷu, vắng vẻ, nơi tôi thong thả tản bước, buồn rầu trông xuống những chiếc xuồng im lìm, lao chao ở mạn hồ. Đón bắt tôi chỉ có một con chó gầy nhẳng, có bộ lông lốm đốm vàng đen gớm guốc, nó bám gót tôi và hít hít ngửi ngửi, còn tôi cũng chẳng thiết gì xua đuổi nó nữa; nó tiễn tôi được nửa đường, rồi nó ngoặt đầu trở lại, cái đuôi đen nhẻm lắc lư bên này bên kia, đoạn cụp vào giữa hai chân sau, lẩn mất giữa lùm cỏ dại. Tôi tiếp tục dấn bước. Khu rừng sẫm tối, đèn đường đồng loạt được bật lên, rọi xuống mặt hồ phẳng lặng những dải sáng loáng. Tôi nghe tiếng chim hót lảnh lói ở một bên, còn bên kia là tiếng hót lưa thưa, đứt gãy, có gì đó như dè dặt… Ở giữa hồ, có một con đường đất đỏ vắt ngang hướng thẳng sang thung lũng bên kia, và tôi nghe tiếng động cơ ầm ĩ của những chiếc xe tải đen đúa trong bóng tối mờ mờ, – tôi nhìn chúng với một nỗi căm hờn, một niềm tiếc nuối, một sự bất lực rằng thảy những triền đồi từng một thời xanh um, rập rạp là thế, chẳng mấy chốc sẽ bị san bằng, vì sự tiến bộ của loài người! Có lẽ khi chết đi, con người phải về với đất, vì sinh thời họ đã lấy đi của đất quá nhiều… Tôi bước trong màn tối với ý thức đau đớn về sự tàn lụi mau chóng của kiếp người – ở giữa tuổi đôi mươi, với sinh lực dồi dào – phần sinh lực quý giá nhất, tôi lại chỉ nghĩ về cái chết. Tôi nguyền rủa tính đa sầu đa cảm ở mình, nguyền rủa cả những cuốn sách bi đát, u mặc tôi đã đọc. À, dọc đường đi, tôi chợt nhớ tới một cô nàng từng yêu tôi thắm thiết và cũng khiến cuộc đời tôi rơi vào khốn quẫn nhiều phen, nhớ cách cô ta quên tiệt sinh nhật tôi sau sáu tháng chia tay. Có lẽ kể từ vụ đó, tôi đâm ra căm ghét tính vô tư ở đàn bà.
Chú Huấn quát bà vì người ngợm đã chẳng ra đâu nhưng vẫn đòi được về quê ăn cỗ. Đáng ra tôi sẽ lên chăm bà, nhưng chú không để tôi đi, tạm lấy lý do rằng tôi bị “đau đầu”. Điều này làm tôi hơi chạnh lòng. Mọi người trong nhà đều biết tôi bị mất ngủ và sức khoẻ vốn chẳng lấy gì làm tự hào cho được. Hơn nữa tôi lại chẳng được việc, tay chân lóng ngóng, chỉ được thói sướt mướt, làm quá mọi chuyện và nghĩ ngợi linh tinh. Ông nội thì vẫn nhởn nhơ như chẳng có gì; ông điềm nhiên hỏi tôi rằng sắp tới có mang rươi lên Hà Nội không, và quở trách tôi ho khù khụ vì uống nước đá quá nhiều… Tôi đón Thư ở trường mẫu giáo, đưa em đi ăn; trong lúc ăn, tôi nhìn nó và thấy buồn khôn tả, tôi buồn như thể tôi là một gã trung niên goá vợ, mà niềm an ủi duy nhất là đứa con gái bé bỏng, trong khi mọi đường nét trên gương mặt đứa con đều gợi nhớ đến gương mặt của người vợ quá cố.
All forgotten yesterdays
School days remind me of
When I was a boy
All my life I’ve been this lonely boy
Doo doo
Ngày 6 tháng 3
Những lúc không đả động đến chuyện tâm linh, mẹ tôi ăn nói rất sáng suốt và truyền cảm hứng. Như kiểu:
“Con nghe mẹ, cứ ngẩng cao đầu lên mà sống.”
“Sống biết lo cho người là tốt nhưng cứ lo cho mình trước đã. Mình ổn thì mình mới lo cho người khác được.”
và cứ thế…
Tôi đã dành cả buổi chiều để đối mặt với những suy nghĩ của mình. Nỗi buồn của tôi là một cái bể, và tôi đang khua khoắng trong đó. Nhưng đồng thời, tôi cũng cảm thấy một thứ gì đó đang lớn dần trong mình, một tia sáng le lói…
Mấy ngày nay tôi không đọc nhiều. Tôi xem hai bộ phim: Buffalo 66 và Lust, Caution. Phim hay nhưng xem xong tôi bị đau đầu.
Ngày 7 tháng 3
Ngày thứ bao nhiêu không biết tỉnh giấc lúc năm giờ. Một giấc ngủ ngon, sâu, không mộng mị, bây giờ thực hiếm hoi. Tôi bắt đầu có cái nhìn thực tế hơn về việc cư trú ở tỉnh lẻ: rất tù đọng và chán chường, và không hề yên tĩnh như tôi vẫn tưởng.
Đã là ngày thứ ba tôi không đọc sách. Thực ra thì có. Tôi đọc ít tiểu luận của Schopenhauer và ngày càng tìm thấy nhiều sự đồng cảm nơi nhà hiền triết thành Frankurt này.
Dạo này khả năng tập trung rất kém. Tâm trí thường trôi dạt, tâm trạng vẫn thế – thất thường, lúc buồn lúc vui, nhưng nhìn chung thì buồn nhiều hơn vui.
Ngày 9 tháng 3
Lâu lắm rồi mới được giấc ngủ ngon, đã đời thật. Buổi sáng, trời mưa rả rích và tôi cứ nhớ mãi tiếng mưa chảy tong tong xuống mái tôn. Buổi trưa, tôi đọc gần hết truyện Người đàn bà có con chó nhỏ (có lẽ phải lần thứ mười), và nhắm mắt, thiếp ngủ tự lúc nào…
Sáng nay, khi phỏng vấn, người phỏng vấn, một phụ nữ khoảng ba mươi tuổi, gương mặt không có gì đáng chú ý, có giọng nói trầm trầm và tác phong trông nhạt nhoà lãnh đạm hệt như ngoại hình của chị ta; chị đã hỏi tôi một cách hơi sống sượng:
“Thế là kinh nghiệm của em chủ yếu là viết các bài social post thôi đúng không?”
Tôi hơi sửng sốt, đã đáp: “À không, sở trường của em ở chỗ khác… Em viết văn, thưa chị.”
Đáp lại là một cái nhìn lờ đờ và một cú gật đầu đầy khuôn sáo…
Trời có lẽ sẽ mưa cả ngày dài và bao phủ bầu trời là một màu xám xịt tẻ ngắt. Tôi muốn bắt tay vào viết thứ gì đó, nhưng tôi không biết viết gì. Hay là viết một truyện với tựa đề đại loại như “Kẻ cắp thời gian”? Rằng những kẻ vô công rồi nghề, nội tâm nghèo nàn, những kẻ phàm phu tục tử mà nhặt bừa cũng ra cả đống, và cách mà đám người ấy đã “đánh cắp” thời gian – tài sản quý giá nhất của con người? Nhiều người nói sức khoẻ là tài sản quý giá nhất, nhưng sức khoẻ suy cho cùng cũng chỉ là sự kéo dài quãng thời gian tồn tại trên trần thế. Vậy đấy!
Muốn hưởng sung sướng trọn vẹn thì phải cam chịu khổ đau trọn vẹn. Phải sống qua chúng, phải để chúng chảy qua người mình.
Ngày 11 tháng 3
Tối qua uống dương chi cam lộ thấy rất ngon, về cuối cảm giác như đang uống sinh tố xoài, ngầy ngậy, thanh thanh. Ngủ ngon, sáng hôm nào cũng dậy trước sáu giờ, giữa trán như có một cái chuông kêu reng reng. Giọng nói bên trong cất lên: “Nào, dậy đi thôi, nghĩ xem hôm nay làm gì đi thôi!”
Buổi sáng ngồi sửa lại truyện Mạt kiếp. Đang ngồi trước cửa sổ. Vườn cây im lìm như chết, vẫn là một màu xam xám nhờ nhờ, ban trưa không khí hơi oi. Chim vẫn hót rộn ràng, theo từng nhịp cách quãng đều đều. Nghe cả tiếng chuông gió nữa, và về tiếng chuông gió thì ta chỉ có thể dùng một từ để miêu tả cho thật chính xác thôi: trong trẻo. Có lẽ khi nghe thấy thứ âm thanh ấy, người ta sẽ tự động nhớ về biển, về hoa, về những tháng năm thời thơ ấu. Cuộc đời chẳng phải thật đẹp sao?
Có lẽ tuần sau là đi làm trở lại rồi…
Ngày 13 tháng 3
Bắt đầu nghiêm túc viết trở lại sau nhiều ngày ăn không ngồi rồi. Đi đi lại lại trong phòng và nằm ngắm trần nhà rất lâu.
Truyện Mưa xuân nhận được vài nhận xét từ biên tập viên, đại loại như “Em viết thì có văn nhưng chất truyện thì hơi ít”. Phải rồi, cái khiếm khuyết đó đến giờ chưa tài nào sửa được. Chẳng lẽ mình cứ vật vờ mãi thế này sao?
Bắt đầu đọc Chữ A màu đỏ của Hawthorne.
Ngày 16 tháng 3
Tuổi trẻ của ta so với các vĩ nhân mà ta hằng yêu mến xem chừng luôn luôn nhạt nhoà, vô vị. Đó là cái tuổi trẻ mà Maupassant đã phải nếm trải mười năm ở sở hải quan, quãng thời gian mà ông từng ngán ngẩm thốt lên rằng “sáng vác ô đi, chiều tối vác về”… Nhưng tôi không thể nghĩ tới một tuổi trẻ nào buồn thảm, chán chường hơn của Chekhov và Kafka. Chekhov đã sống gần như cả đời ở những vùng tỉnh lẻ nước Nga, vừa làm bác sĩ nông thôn vừa miệt mài viết lách, còn Kafka, ôi Kafka, những gì được miêu tả về tuổi trẻ của ông khiến ta bất giác hình dung ra một nhà tù.
Buổi chiều. Đọc được gần hết Chữ A màu đỏ của Hawthorne. Thật tẻ nhạt, phần hay nhất là lời tựa. Nhưng thiên tình sử của ông bà Hawthorne thì tuyệt đẹp. Ông ta thật may mắn vì có cho mình một người vợ như vậy, một cuộc hôn nhân viên mãn như thế thật hiếm hoi.
Chiều tà. Vòm trời dường như cao hơn, gió đưa vườn cây sẫm tối la đà. Mấy chú chim cũng đã tan ca rồi, giờ chỉ còn lại một bầu không khí mát mẻ, dịu dàng, khẽ lay động như mời gọi con người ta bước xuống đường. Có lẽ bị thu hút bởi tiết trời ấy, tôi đã mau mắn rảo bước theo con phố xôn xao giờ tan tầm, về phía khúc quanh, tới chỗ ông thợ hớt tóc già, có mái tóc mượt, bạc như cước. Trở về nhà, sau khi tắm táp, ngắm nghía hình thể và cái khuôn mặt mới được tân trang, tôi cứ thế cởi trần mà bước ra sân thượng. Tôi cảm thấy gió như thấm vào người mình, và tôi nhìn chân trời quang đãng màu hồng với một nỗi xúc động, một niềm khoan khoái mà đã lâu rồi tôi không được nếm trải. Phải, có lẽ tôi đang mong mùa hè hơn bao giờ hết.
Ngày 17 tháng 3
Một bầy nhím chụm lại với nhau để sưởi ấm vào một ngày mùa đông giá lạnh; nhưng, vì chúng bắt đầu đâm lẫn nhau bằng những chiếc lông nhọn của mình, chúng buộc phải tản ra. Tuy nhiên, cái lạnh lại đẩy chúng sát lại gần nhau, và rồi điều tương tự lại xảy ra. Cuối cùng, sau nhiều lần tụm vào rồi tản ra, chúng phát hiện ra rằng cách tốt nhất là duy trì một khoảng cách nhỏ với nhau. Theo cùng một cách đó, nhu cầu xã hội đẩy những con “nhím người” lại với nhau, chỉ để rồi bị đẩy lùi lẫn nhau bởi biết bao đặc tính gai góc và khó ưa trong bản chất của họ. Khoảng cách vừa phải mà cuối cùng họ phát hiện ra là điều kiện duy nhất có thể dung thứ cho sự giao tiếp, chính là quy tắc của sự lịch sự và lối hành xử tinh tế; và những ai vi phạm nó sẽ bị nói thẳng vào mặt – theo thành ngữ tiếng Anh – là hãy giữ khoảng cách. Bằng sự sắp đặt này, nhu cầu sưởi ấm lẫn nhau chỉ được thỏa mãn ở một mức độ rất vừa phải; nhưng bù lại, người ta không bị đâm trúng. Một người có sẵn chút hơi ấm trong chính mình thà ở lại bên ngoài, nơi anh ta sẽ không đâm ai mà cũng không bị ai đâm.
– Arthur Schopenhauer
… Đang là một đêm mùa xuân yên tĩnh, một đêm mùa xuân hiếm hoi tôi vẫn ngồi bó gối bên bàn làm việc. Tôi còn nhớ sáng nay khi tỉnh giấc, tôi bước lên sân thượng và ngán ngẩm thở dài với tiết trời xám đục đầy ảm đạm, khi mà mới hôm qua thôi, bầu trời còn trong xanh, nắng còn vàng rộm và gió còn lồng lộng thổi quanh khu vườn. Và tôi quẩn quanh với ý nghĩ rằng lẽ nào mình bị mắc chứng rối loạn cảm xúc theo mùa, chỉ đơn giản là, tâm trạng tôi cứ thất thường thế nào ấy: nó chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi thời tiết. Dù tôi biết rằng vào mùa hè, vẫn có những ngày tôi thấy thật chán nản, nhưng không hiểu sao tôi luôn nhớ về mùa hè như khoảng thời gian nào đó thật năng suất, mà tâm hồn tôi luôn khuấy động, trí óc tôi sôi sục những ý tưởng, và tôi khoẻ khoắn, phấn chấn biết bao, khi mỗi sớm thức dậy, tôi tận hưởng cái cảm giác được kéo thanh cửa sổ cho nắng ùa vào căn phòng, được tắm gội dù chỉ qua loa nhưng cũng đủ cảm thấy đầu óc trở nên minh mẫn, rồi với tâm thế phấn hứng khác thường sẵn sàng ngồi ngay vào bàn mà cắn bút. Và, một một điều nữa, chứng nhạy cảm với âm thanh của tôi ngày càng trở nên điên rồ, tưởng chừng không có thuốc chữa. Tôi nghĩ nếu được sống ở một vùng thanh bình, một chốn thâm u cũng được, miễn là vắng vẻ, yên ắng, tôi có thể thức dậy mỗi sáng không phải với cơn nhức đầu như búa bổ, mà với một cảm giác rằng mình sẽ sống trọn vẹn ngày hôm ấy, từng giây từng phút. Nhưng điều ấy là không thể có, tôi chỉ biết mơ tưởng về nó mà thôi. Quê nhà tôi chẳng im ắng như tôi hằng tưởng, mà lúc nào cũng rộn tiếng chim, tiếng gà gáy – ba tháng gần đây tôi chẳng thể ngủ ngon ở căn phòng thân quen của tôi như tôi đã từng nữa. Nói tóm lại, nó không còn là một hầm trú ẩn của tôi nữa; trên thực tế, tôi còn khoái căn phòng trọ của mình hơn là khác… Và rồi sao nữa? Ước vọng, hoặc đúng hơn là ảo vọng, của tôi bấy nay, vẫn là được dọn tới một căn nhà sát biển, để mỗi sớm mỗi chiều, dưới ánh bình minh và ráng chiều tà, lang thang tản bộ dọc theo triền cát, lặng lẽ ngắm nhìn những chiếc thuyền phao dập dềnh, những ngư dân cởi trần với nước da màu đồng thau rắn rỏi mà tôi hằng mơ ước, và cứ thế… Nhưng đó là “bí ẩn của sự đến”, xem chừng khi tôi đạt sở nguyện rồi, có khi tôi chẳng thiết tha với căn nhà ấy tới thế, có khi niềm hạnh phúc hằng khao khát, mơ tưởng sẽ nhanh chóng lụi tắt, thế vào đó là vô số nỗi lo và phiền phức. Nhờ những suy nghĩ thế này, tôi đưa ra một kết luận như sau: sống trong mình là cách tốt nhất, và không chừng là cách duy nhất, để sống. Shakespeare đã dành cả sự nghiệp của mình ở London, một thành phố sương mù, nhộn nhạo, chật chội, bẩn thỉu, tất tật những gì mà Hà Nội đang trải qua tại thời điểm này, và ông ta chỉ dọn về quê khi đến tuổi nghỉ hưu. Xem chừng đó là con đường, là lối thoát khả dĩ nhất. Chấp nhận.
Bà nội đi khám ở viện K. Cô Tâm đã nhanh trí, hoặc may mắn thì đúng hơn, vớ được một cô cần vụ, người đã xăng xái sắp đặt sổ bệnh của bà sao cho mỗi lần bà tới khám tại một phòng mới, bà chẳng bao giờ phải đợi quá ba phút. Thoạt đầu, số thứ tự của bà thuộc hàng nghìn, nhưng liền đó con số đã nhảy cóc lên hàng chục, rồi dừng lại ở con số 7. Thật may sao! Nếu không, có lẽ bây giờ cô và bà đang ngủ ở khách sạn, không, đúng hơn là một cái nhà nghỉ tồi tàn, chờ cho đến sáng mai. Nhưng bà đã về nhà rồi; khi cháu bà ngồi viết những dòng này giữa đêm khuya, thì bà đang nằm nghiêng quay mặt vào tường như thói thường của bà, hơi thở nhè nhẹ, thi thoảng lại như đứt quãng, trong căn phòng nhỏ bé của bà mà lớp sơn sát nền đã bắt đầu bong tróc, trong ngôi nhà dấu yêu lưu giữ bao kỉ niệm. Ngôi nhà ấy chứa đựng phân nửa hồn tôi.
“Con chim có tổ, con thú có hang
Trái tim buồn đau, thất vọng
Khi tôi ra đi vĩnh biệt khu làng,
Vĩnh biệt ngôi nhà đã sống.
Con thú có hang, con chim có tổ,
Trái tim nhức nhối, u hoài
Khi tôi bước chân vào ngôi nhà lạ
Với chiếc túi sờn trên vai.”
– I.A. Bunin, Thái Bá Tân dịch
Ngày 18 tháng 3
Rút từ nhật ký:
– “Không một sở thích nào trong số những sở thích chủ chốt của tôi có thể mua bằng tiền. Tôi chỉ cần những thú vui thuần khiết, những thú vui về mặt tinh thần, và tôi xem nhẹ những lạc thú vật chất mà phần đông nhân loại vẫn đổ xô vào. Tôi không cao ngạo; tôi muốn giữ mình thanh khiết, vì đồng tiền mang một lời nguyền, nó đầu độc mọi thứ mà nó nhúng vào.”
– “Vì không bao giờ có tiền mà vẫn sống tốt, sống khoẻ, cơ hồ tôi chẳng bao giờ bận tâm đủ nhiều đến tiền, như cách mọi người xung quanh tôi vẫn luôn làm và thúc ép tôi làm giống họ. Dĩ nhiên, tôi không đến mức thờ ơ, lãnh đạm trước những cám dỗ mà một túi tiền rủng rinh phô bày trước con mắt phàm tục của tôi; tuy nhiên, tôi thiển nghĩ rằng cuộc đời, ngắn ngủi như nó vốn dĩ, lại được dành ra để chăm chăm đeo đuổi những thành tựu vật chất, lấy chúng làm cột mốc đo lường sự phát triển của con người mình, thì nom có vẻ thấp hèn, ngu độn và vô nghĩa thế nào ấy.”
– “Tiền mà ta sở hữu là phương tiện để tự do; tiền mà ta đeo đuổi là phương tiện để thành nô lệ. Đồng tiền là nô lệ của người sáng suốt và là chủ nhân ông của kẻ ngu si.”
– “Nếu có thể, tôi muốn sở hữu một nguồn lợi tức vừa đủ đặng đáp ứng những nhu cầu hết sức cơ bản của tôi, và tôi mong tâm trí mình an ổn, không bị dày vò bởi áp lực vô nghĩa phải bắt kịp đám đông, phải ngày đêm nặn óc hòng tìm cho ra cách để tiền đẻ ra tiền, trái lại, tôi khẩn thiết truy cầu một cuộc đời thanh sạch, một tâm trí minh mẫn, khoẻ mạnh, không bị xao nhãng bởi những chuyện vặt vãnh đâu đâu; – nếu quả thực tôi có diễm phúc được hưởng điều ấy, tôi xin thề sẽ toàn tâm toàn ý dâng hiến trọn vẹn tài năng, trí lực, sức lực của mình để phụng sự cho nghệ thuật, cho cuộc sống.”
– “Và sẽ ra sao, nếu ta được/phải sống một đời sống cô độc, không chịu bó buộc, miễn trừ khỏi mọi trách nhiệm lo toan cho sự đủ đầy của người khác, những người rõ ràng hiểu ta chẳng hơn gì ta hiểu họ? Nhưng ở đây, những sợi dây ràng buộc là sợi dây chão, cứng cáp và trói chặt thân thể, linh hồn ta, tức là ta không thể, và không có quyền thoát ra khỏi chúng, ngoại trừ cái chết. Gia dĩ, dù ít dù nhiều, há chẳng ta vẫn luôn khao khát một đời sống dư dật, thung dung ấy sao? Vậy là ta tự mâu thuẫn với chính mình.”
– Rousseau: “Sau này mọi người sẽ nhiều lần thấy những hậu quả kỳ cục của xu hướng bề ngoài thật yếm thế và thật u uất này, nhưng thực ra lại đến từ một con tim quá đa tình, quá giàu yêu thương, quá dịu dàng, do chẳng tìm được những gì hiện hữu giống như mình, buộc phải tự nuôi dưỡng bằng những hư cấu.”
– “Nghề nghiệp nào chẳng quan trọng như ta vẫn nghĩ. Miễn là ta có một trí tưởng tượng phong phú, ta có thể sống tất thảy nghề nghiệp trên thế gian. Trí tưởng tượng là cánh cửa thoát hiểm, là cứu cánh, là liều thuốc cho mọi nhọc nhằn trần thế. Người nào không có trí tưởng tượng, người đó hoặc phải sống một cuộc đời cằn cỗi, hoặc phải liên tục tìm kiếm những thú vui mới (không bao giờ xuể) nhằm đắp điếm cho cái trống rỗng trong mình.”
– “Ít ra ta có muốn biết từ đối tượng mình yêu rằng mình có được yêu hay không? Mình có được yêu hay không? Có hay không?”
– Vài từ vựng mới: “cương yếu” (khi tra cứu từ này trên Google, kết quả trả ra là dấu hiệu cho thấy bạn bị rối loạn cương dương, trong khi thực chất, đây là một từ Hán Việt, đại khái có thể hiểu là những điều cốt yếu, thiết yếu nhất); “tín tâm”, “rắp ranh”…
– “Tôi yêu quá chân thành, tôi dám nói là quá đằm thắm, nên không thể được hạnh phúc một cách dễ dàng.” (Rousseau)
– “Nỗi ân hận thiu ngủ trong thời gian vận mệnh hanh thông, và thành chua cay trong nghịch cảnh.” (vẫn là Rousseau).
… Tôi trở lại với thói quen tắm buổi sáng, như một nghi thức cố hữu nhằm thiết lập một trạng thái khoan khoái, một tâm thế hào hứng đặng bắt tay vào công việc. Mọi thứ tạm thời êm thấm; tôi vẫn không sáng tác gì cả, nhưng tôi thường ghi chú luôn. Mọi ý nghĩ tản mạn trong tôi, được hun đúc theo thời gian như thép trong lò nung, sẽ là khởi đầu cho mọi thiên truyện trác tuyệt sau này. Đột nhiên tôi thấy tin tưởng vào tài năng của mình, rằng tôi đây, chỉ đang lặn lội qua một vũng bùn, rằng khi đã lết qua được rồi, tôi sẽ làm nên tất cả.
Buổi chiều tôi đi phỏng vấn ở InBook. Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, tôi tin rằng mình sẽ không được nhận. Tôi không nhớ nổi mặt anh giám đốc, người đã trực tiếp phỏng vấn tôi, chỉ mang máng hình dung ra vầng trán ram rám thấp tè của anh, cái bụng phệ căng dưới chiếc áo màu xanh dương, và tôi lẫn lộn gương mặt anh với gương mặt của anh Ngọc Anh, sếp cũ của tôi, người mà tôi luôn nhớ tới với niềm kính trọng và biết ơn vô ngần, – tôi nghĩ anh là người đã vô tình trao cho tôi cơ hội dấn thân vào văn chương… Buổi tối, tôi mượn ở văn phòng Nhã Nam vài cuốn sách. Tôi lái xe về nhà trong cơn đói. Đông Tây gửi lời mời cộng tác từ sáng, tạm thời tôi chưa phản hồi.
Ngày 23 tháng 3
Vài cập nhật mới trong cuộc sống:
– Thứ Tư tới tôi bắt đầu thử việc ở InBook; tối hôm ấy tôi live buổi đầu tiên cho Đông Tây. Đã xảy ra ít chuyện lùm xùm không đáng có, gây cho tôi cảm giác tội lỗi như thể bị bắt ngoại tình.
– Hết rồi. Chẳng có gì mới đâu. Tôi vẫn thế thôi, ngoại trừ việc gần đây tôi thấy mình, một lần nữa, đắm chìm vào cơn say tiền. Say mùi máu, như tôi vẫn thường ví von.
… Sáng nay đưa ông bà đi chụp ảnh thẻ, và sực ngộ ra suốt thời niên thiếu cho tới bây giờ, ngoại trừ một tấm ảnh duy nhất được Cường chụp cho vào cái năm Covid, thì tôi không có lấy một tấm ảnh tử tế với hai con người gần gũi nhất, quan trọng nhất đối với cuộc sống của tôi. Buổi trưa, trong lúc bà lật giở từng xấp giấy tờ (bà có thói quen lưu giữ cẩn thận mọi hồ sơ, giấy má của tất cả thành viên trong nhà, dù là những giấy tờ hết sức vô dụng, chẳng hạn như bản kiểm điểm năm lớp mười của bố tôi; – đống giấy tờ này được bà phân thành từng tệp, nhét vào các bìa hồ sơ nút, sau đó chúng gối đầu lên nhau trong ngăn tủ gỗ dựng ở đầu giường), tôi đã tìm thấy vài tấm ảnh của ông tôi thời hoa niên, thời ông chưa ngã bệnh và dĩ nhiên đầu còn khá nhiều tóc, ông mặc bộ vest màu xám sáng, chiếc quần thụng gần như che mất đôi giày ông đi, trông toàn thân ông toát ra dáng dấp của một cán bộ, dù suốt đời ông chỉ làm công nhân và không biết đi xe máy, trong khi bà nội tôi vào những năm 2000 từng lái con Dream ngon ơ, chở tôi đi khắp làng. Đúng ra là tôi chỉ thấy ông thật khoẻ mạnh, đầy sinh lực, và tôi thấy nửa buồn rầu nửa ngỡ ngàng trước sự tàn phai mau chóng của con người. Có lẽ là vì, suốt chục năm trở lại đây, tôi đã quá quen với việc chiếc bụng một thời từng to như cái trống mà tôi thích thú hết vỗ vỗ lại áp tai vào, vâng, chiếc bụng ấy đã xẹp lép rồi; dáng đi thoăn thoắt có vẻ lúc nào cũng bận rộn của ông cũng biến mất, đôi cẳng chân đã hoá khẳng khoeo, gầy guộc, thõng thượt như thể chúng hững hờ với chính tình trạng của chủ nhân chúng. Có lần, hình như vào năm hai đại học, khi ông tôi đang nấu ăn, tôi đã dằn hết nỗi e ngại trong mình, bước tới ôm lấy ông từ phía sau. Ông chỉ mỉm cười. Tôi đang hồi tưởng lại nụ cười ấy, những vết chân chim nơi đuôi mắt, những vết nám dọc sống mũi, và thật may cho tôi vì năng lực hình dung của tôi hiện đang kém cỏi, thành thử thứ tôi thu về chỉ là một ảo ảnh mờ mịt, thoắt ẩn thoắt ẩn, và cũng vì nếu như nó không còn là ảo ảnh mà trở nên sống động như chuyện đã xảy ra, hẳn là tôi sẽ khóc. Một người dù có chai sạn đến đâu cũng có những bình van chứa nước mắt; có người thì đó là tình yêu, có người thì là tình bạn, còn riêng tôi, hễ là chuyện gia đình thì tôi thành ra mau nước mắt đến lạ. Đôi lần khi tôi khóc, giữa cơn thổn thức, tôi chợt thấy vui vì ít ra mình còn biết xúc động, bởi lẽ từ lâu tôi những tưởng khả năng rung cảm đã bị thui chột rồi.
Một trong những niềm vui lớn nhất mà tôi khám phá ra cho đến giờ, đó là được chăm lo cho người thân của mình. Một mặt, nó ve vuốt cái tôi của ta; mặt khác, nó vun đắp tâm hồn của cả người cho đi lẫn người nhận về. Đợt này, tôi nhận ra mình chẳng phải cóp nhặt tư tưởng của ai nữa; tự tôi, tôi sẽ suy ngẫm ra tất thảy, từ cuộc đời của chính tôi.
Ngày 25 tháng 3
Yêu
Người phụ nữ đó yêu tôi một cách tử tế: cô ta ít dày vò tôi.
Borges
“Đúng vậy, ai cũng có dấu ấn thương hiệu của riêng mình – hay đúng hơn là của một ai đó khác, bởi vì gần như mọi lúc chúng ta đều đạo văn.”
“Bởi vì khi bạn thù ghét ai đó, bạn nghĩ về người đó mọi lúc, và theo nghĩa đó, bạn trở thành nô lệ của họ. Điều tương tự cũng xảy ra khi chúng ta rơi vào lưới tình.”
… Ngày học việc đầu tiên diễn ra khá êm ái. Văn phòng đẹp, nặc mùi sách mới, có cà phê, nước lạnh, có ghế ngồi êm. Hiềm nỗi đi từ văn phòng về nhà mất đúng một tiếng.
Ngày 28 tháng 3
Sáng ra bầu trời đã xam xám, đầy mây và còn như thế suốt cả ngày dài. Mười hai rưỡi mới rời văn phòng, ăn trưa, về đến phòng và ngủ li bì tới bốn rưỡi. Thức dậy thấy lòng mình rỗng hoác, cố đọc sách nhưng chữ chẳng vào đầu. Tâm trí cứ chộn rộn vì một nỗi lo âu nào đó, không biết phải diễn tả thế nào.
– Đám cưới tôi, anh ta đã không đến. Cũng phải thôi, nhưng đại khái anh ta đã nói với tôi một câu mà đến giờ tôi vẫn như nghe rõ bên tai: “Chim sinh ra để bay, người sinh ra để sống hạnh phúc”. Thoạt đầu tôi đã bật cười vì sự văn hoa trong lối diễn đạt của anh ta, nên tôi đáp lại một cách giả lả, nói đại để vài câu cho qua. Và tôi cũng nói thật tiếc khi anh ta không đến chung vui cùng gia đình tôi, tự tôi cũng thấy mình giả tạo ở khoản này, – nói cho đích đáng thì tôi và anh ta đã không trò chuyện những chục năm trời… Tuần trước, tôi hay tin anh ta đã tự tử giữa đêm – tôi nghe mà như sét đánh ngang tai, toàn thân tôi tê bại. Anh ta treo cổ tại nhà riêng vào đúng hôm vợ chồng tôi chính thức ly dị. Tôi nghĩ, suốt chục năm trời trong cuộc hôn nhân thoạt chừng tưởng như êm đềm nhưng đầy sóng gió của chúng tôi, cái câu nói “Chim sinh ra để bay, người sinh ra để sống hạnh phúc” đã mãi lởn vởn trong tâm trí tôi; càng bất hạnh, tôi càng nhớ về nó nhiều. Và tôi tự hỏi có lẽ nào đó không phải là một câu nói vu vơ mà anh ta thốt ra một cách điềm nhiên, có lẽ nào chính anh ta cũng đã như tôi, bị ám ảnh bởi câu nói ấy? Tôi được nghe rằng anh ta tự tử vì không thể chịu đựng sự mất mát sau khi người vợ của anh ta qua đời (người ta nói anh ta đã yêu cô ta đến mất trí, sẵn lòng từ bỏ mọi thứ để được ở bên cô ta). Và anh ta sẵn lòng từ bỏ cả mạng sống của mình. Tôi thành tâm mong họ được đoàn tụ…”
Ngày 29 tháng 3
Trái tim yếu mềm
Sau nhiều ngày dài cố vơ vét càng nhiều càng tốt những sách, tôi quay trở về với nhà văn dấu yêu mà tôi hằng bao kính phục: Ivan Bunin. Như mọi nẻo đường đều dẫn về cùng một bến, tôi tìm thấy ở ông niềm an ủi, sự san sớt dịu dàng cho nỗi đớn đau đầy cay đắng lúc thì âm thầm gặm nhấm tâm can tôi, lúc thì cuồng nộ xé toạc lòng tôi. Tôi cảm thấy một nỗi buồn êm dịu, khoan khoái khi ngộ ra đã từng có một con người như tôi, sống cách tôi hơn một thế kỷ, đã nếm trải mọi cảm xúc mà tôi đương trải qua và viết về chúng một cách hoàn toàn chân thật, không giấu giếm.
Ngày 30 tháng 3
Tôi tỉnh dậy vào cái giờ như lệ thường, cùng một cảm giác hơi ngán ngẩm khi biết hôm nay là thứ Hai: vậy là sẽ có tiết chào cờ. Vệ sinh cá nhân xong, tôi vơ nhanh đồ đạc rồi vội vàng lao ra đường cho kịp giờ làm. Phố xá đông đúc kinh khủng. Nhưng ra được đến Ba Đình thì mọi thứ dường như lắng xuống. Con đường sũng ướt dưới những tán cây xanh um toả rộng, không khí sớm mai phảng phất mùi tươi mới, dìu dịu; tôi đã thả ga chậm lại và nghĩ: “Nếu Hà Nội cứ thế này, thì yêu Hà Nội biết bao!” Công ty tôi làm không có chỗ gửi xe, chỉ có một khoảng vỉa hè lát đá nhỏ đủ cho khách khứa tới chơi, thành thử tôi phải gửi xe chỗ khác. Tôi tìm được cách đó dăm bước chân, dưới chân trụ sở ngân hàng, một ông bảo vệ chừng năm mươi tuổi, mặt mũi hồn hậu, chất phác giống dân quê, ngay hôm đầu tiên học việc ông ta đã bảo tôi cứ để xe ở đây bác trông giúp cho, đừng khoá cổ xe là được, tiền nong thì tôi thích trả bao nhiêu thì trả: mỗi buổi tôi dúi vào tay bác ta năm nghìn, thấp hơn phân nửa so với mặt bằng chung. Gặp được những con người tốt bụng như thế thật tốt: họ khiến ta cảm thấy cuộc đời này dễ sống hơn.
Tôi bận rộn cả ngày, nhưng hoàn toàn không phải là kiểu bận rộn phù phiếm. Tôi thật sự bận rộn. Văn phòng rất sạch sẽ, vừa mang nét hiện đại vừa mang vẻ ấm cúng mà ta thường thấy ở nhiều nhà sách; hơi giống Nhã Nam, đến đây tôi mới nghiệm ra thế. Điều tuyệt vời nhất là tôi có thể rời ghế bất cứ lúc nào, xuống tầng hai, tầng ba, lướt tay dọc theo những bìa sách mới cóng, nhấc một cuốn nào đó ra khỏi kệ, ngắm nghía, chụp choẹt vài tấm, nhận thấy ảnh không đẹp và tay nghề mình quả thực rất xoàng, đành bình thản nhét trả lại kệ.
Buổi trưa, tôi mua bánh sừng bò ở Tiệm bánh 74, kèm một chai sữa đậu xanh. Tôi mượn ở Tổ Chim Xanh cuốn Từ dạo ấy của Soseki. Về đến văn phòng, tôi không ngủ trưa mà đem cuốn sách lên tầng hai ngồi đọc, và khi kết thúc những dòng này, tôi sẽ trở lại với cuốn sách ấy. Về chiều, tôi lại tự nghĩ ra việc để làm – quả thật tôi không sợ thiếu ý tưởng, chỉ sợ không đủ thời gian và sức lực để làm – thời gian trôi qua nhanh chóng, chẳng chốc đã tới giờ tan tầm.
Giờ tan tầm, một trong những đồng nghiệp của tôi tiến lên từ phía sau tôi, lúc tôi đang đứng chờ đèn xanh, cô ta nói:
“Tại sao biển ông lại là 34C1?”
“Thì tôi ở Hải Dương,” tôi trả lời, “chứ còn sao nữa.”
“Thế ông nhìn biển tôi đi,” cô ta đáp và phóng lên trước tôi. Tôi đuổi kịp để dàn hai ngang với cô. Chúng tôi hỏi han nhau thêm vài câu, và cô ta không giấu được nỗi hồ hởi pha lẫn ngạc nhiên khi bắt gặp giữa chốn phố thị đông đúc này một người đồng hương, một đồng hương đúng nghĩa: cả hai đứa cùng ở Chí Linh.
“Đi đường nào thế?” tôi hỏi.
“Phạm Văn Đồng, xa lắm. Giờ tôi đi thẳng.”
“Tôi lại phải rẽ.”
“Thế thôi bai nhé!” cô ta đáp liến thoắng, và chìm lẫn vào dòng người đang nườm nượp lao về phía trước.
Tôi ăn uống tạm bợ và phải uống thuốc vì chứng đau đầu. Tôi thành thật mong cầu một giấc ngủ ngon.
Ngày 2 tháng 4
Cái này, tôi đã viết khá lâu rồi. Tôi như còn hình dung ra được buổi tối hôm ấy:
Có lần, vào buổi tối, khi đã quá nửa đêm, nàng khẽ lay tôi dậy và nói nàng thèm ăn gì đó. Thời ấy nghèo chẳng có xe, vậy nên hai đứa đã cuốc bộ gần một cây số tới một quán chè cách trọ ngót một cây số, không hiểu sao vẫn đèn đuốc sáng choang vào cái giờ khuya khoắt thế.
Khi trở về thì đổ mưa. Chúng tôi đã định ngồi tại quán chờ mưa dứt thì về, bởi sáng mai cả hai đều không có gì làm, hoàn toàn có thể nhấm nháp giết thì giờ. Nhưng chẳng hiểu do đâu mà chúng tôi quyết định sẽ đội mưa về. Tôi trùm chiếc áo khoác lên đầu rồi nàng nép sát người tôi, vòng tay qua eo tôi và chúng tôi cứ thế bước đi dưới cơn mưa tầm tã. Trong lòng tôi râm ran một niềm hạnh phúc khó diễn tả thành lời, và tôi tin rằng nàng cũng cảm thấy thế. Chúng tôi đã yêu nhau như thể chỉ có hai đứa trên đời.
Vừa về tới phòng, nàng lăn kềnh xuống đệm, những món tóc xoăn của nàng còn xâm xấp nước; nàng mỉm cười mãn nguyện, âu yếm, và tôi chẳng thay quần áo, cứ thế nằm đè lên người nàng, hôn lấy hôn để vào tai, mũi, gáy cô khiến nàng gập người lại vì nhột. Nàng cù lại tôi và nói:
“Anh này, trong mơ mình cũng chỉ yêu có nhau thôi.”

Tôi sẽ kể chuyện này trong một tiếng thở dài
Rằng đâu đó ngày xưa đã lâu lắm rồi:
Con đường rẽ làm đôi giữa một khu rừng, và tôi –
Tôi đã chọn lối mòn ít có ai đi,
Và điều đó đã làm đổi thay tất cả.
(Trịnh Lữ dịch)
Câu chuyện đằng sau bài thơ này không được sâu sắc cho lắm. Trên thực tế, nó chỉ là một bài thơ châm biếm, vậy nên đừng tôn vinh ý nghĩa của nó làm gì.
Hôm nay tự dưng tôi muốn đọc lại Đời nhẹ khôn kham của Kundera. Thật tiếc vì tôi đã đem cho cuốn đó. Một sai lầm.

Nhưng không sao, tôi sẽ đọc bản tiếng Anh trên văn phòng. Và xem lại cả bộ phim nữa.
… Tôi nghĩ mình đã xác định được lý do tôi yêu mến Chekhov và Bunin tới vậy: sự dịu dàng. Văn chương của họ tựa như một lời an ủi, dẫu ta biết rằng cuộc đời kẻ đi an ủi kia cũng chẳng êm ái hơn ta là bao, hoặc thường khi còn gian truân, nhọc nhằn hơn gấp bội phần.
… Công việc của tôi vẫn ổn. Tôi đang thích ứng tốt; duy có chuyện tôi rất hay bị đói.
Ngày 7 tháng 4
Công việc trên văn phòng bận rộn tới mức thấy bản thân như con chuột chạy trong bánh xe quay; mà có phải bận rộn gì cho cam, chỉ là đầu óc cứ quay cuồng, thường xuyên bị gián đoạn, ngắt quãng – phải, mọi người chuyện phiếm rất nhiều, tuồng như một thói quen nơi công sở. Tôi gần như phát hoảng bởi đống việc mà mình phải đảm trách. Cả tuần nay, tôi không đọc được tử tế, không viết nổi một bài ra hồn, mà toàn là những của lượm nhặt, những thứ vặt vãnh chẳng đem lại giá trị chi hết. Thứ nữa, ăn cũng không thấy ngon, cái gì cũng không vừa miệng, cảm tưởng ăn cốt để no bụng chứ chẳng thiết mình nhét cái gì vào mồm nữa. Thật tạm bợ và đáng thương!
Và còn những công việc ngoài lề – những dự án cá nhân – thảy đều bị bỏ ngỏ.
Tôi gần như đã bỏ viết hoàn toàn. Tạm thời, tôi thấy nó chẳng quan trọng.
Hôm nay, trên văn phòng, có một chị đồng nghiệp đã đá xéo tôi. Thực là một con mụ vô duyên hết lối. Chị ta có khuôn mặt đặc biệt ở chỗ là không có gì đặc biệt cả, tóc rễ tre, rối và quăn như tơ vò, mặt mũi thoạt trông cũng hiền lành nhưng về tính tình thì ngoa ngoắt không để đâu cho hết. Những hạng đàn bà như thế bao giờ cũng sẵn thói đay nghiến, thường day đi day lại một lỗi vặt của ta rất lâu. Riêng vụ tôi, hoàn toàn do bất cẩn, đã gọi chị ta là em (chẳng là những ngày đầu tôi cứ ngỡ chị ta kém tuổi tôi), riêng vụ đó thôi, mà chị ta xào xáo nó những ba ngày trời, đến mức ở công ty không ai là không biết chuyện.
Trong buổi họp, tôi được giao những trọng trách mới, hoàn toàn không thiết yếu cho tôi, giả dụ như việc tôi phải thiết kế slide trình chiếu cho cửa hiệu. Nhưng tôi nghĩ tôi sẽ chu toàn việc này, bởi tôi chẳng phải người ngại việc, mà bây giờ, còn có phần xông xáo là khác. Mức lương của tôi ổn định và tôi kỳ vọng sẽ tăng trong nửa năm tới. Thật kỳ lạ là tôi chẳng thiết mua thứ gì, kể cả sách và mấy cây bút máy mà tôi hằng khao khát… Ồ, nhưng khi viết đến đây, tôi sực nhớ ra mấy buổi sáng gần đây trên đường đi làm, mắt tôi đã tình cờ đậu lại ở một biển hậu màu cam với dòng chữ in hoa to đùng: MÁY ĐỌC SÁCH.
Anh Đức Anh khuyên tôi rằng đếch cần biết công chúng nhìn nhận công việc của mình ra sao, tạm thời cứ chuyên tâm chinh phục chính nội bộ công ty đã. “Em phải để cho mọi người thấy, càng chóng càng tốt, sự khác biệt khi em tới cái văn phòng này.” Ấy là tôi diễn dịch ra cho xuôi, chứ đời nào anh ấy nói được trơn tru thế! Dù sao thì những lời ấy cũng đã khắc tạc vào trong tâm trí tôi.
Buổi chiều, tôi viết vài dòng ghi chú vào tờ giấy trắng ngà, láng mịn mà tôi đem từ nhà theo từ sáng, và tôi bất ngờ với chính nét chữ thanh mảnh, ngay hàng thẳng lối của mình. Tôi thậm chí còn hơi tự hào nữa kia. Tôi đã nắn nót viết những dòng cuối cùng về một thông điệp có ngữ nghĩa tối om, hoàn toàn bằng lòng vì hình thức mà phớt lờ nội dung.
Cách ba chục bước chân về phía bên trái văn phòng InBook, đối diện với toà nhà EVN, có một ông già trạc năm mươi tuổi bán bia, thường ngồi trông quầy thuốc lá ở ngay góc trái cửa vào. Lần đầu đến tôi bắt gặp một con chó màu vàng, không biết giống gì, và một con mèo màu vàng, cũng không biết giống gì nốt. Cả hai con vật đều có vẻ lười nhác: anh chó thì nằm ườn dưới sàn nhà, mắt nhắm tịt, nhưng hễ nghe tiếng chân người là anh lục tục đứng dậy, dáo dác nhìn khách lạ rồi lủi sang chỗ khác, y như một anh nhân viên văn phòng đang ngủ gà ngủ gật thì bị ông sếp ghé thăm, đành phải giả tảng bận này bận kia cốt che đậy sự luống cuống của mình; còn chị mèo (chẳng biết đực hay cái, nhưng có anh tất phải có chị) thì ngả người trên chiếc ghế nhựa, giương cặp mắt hiếu kỳ nhìn theo làn khói thuốc vẩn vơ mà tôi nhả ra. Ngoài ra, trong nhà còn có một cậu chó mực nữa: cậu này nghe vẻ lánh đời, cậu cứ ru rú ở gian trong, chẳng thiết khách khứa tới thăm – với cậu thì ai cũng như ai… Ước gì tôi biết vẽ để hoạ lại bộ ba đáng yêu ấy!
Tôi luôn thức dậy với cảm giác chán ngán nhân thế cực điểm, nhưng rồi tôi vẫn nhẩn nha đánh răng, cạo râu, lên đồ, rồi tôi phi xe ra đường, nhập vào đám đông nhốn nháo lao đi như tên bắn, giữa tiếng còi rú điên cuồng. Và tôi tự nhủ: “Cố lên nào! Cố lên nào!” Ý nghĩ ấy ghim trong óc tôi, phù trợ tôi, nâng đỡ tôi khi tôi chật vật chen lấn giữa một cơn lũ người, khi trước mắt tôi là một đoàn quân đông đúc nối dài tới ngút tầm mắt, tưởng đâu cái cảnh tắc đường này sẽ kéo dài tới vô cực. Tôi nhớ về đường Phan Đình Phùng, rằng hễ ngoặt được ra Hoàng Diệu, là không khí sẽ thanh sạch, thơ mộng trở lại – và điều này xứng đáng để người ta nhọc công.
Ngày 11 tháng 4
Hôm nay trời nóng kinh khủng. Hà Nội giống như một cái lò nung không nắp đậy, mặt đường lấp loáng dưới ánh chiều, vạn vật xung quanh đều như bốc hơi; – tất cả khoác lên mình một màu hồng cam nhàn nhạt, vẫn toát lên vẻ thơ mộng trong cái nóng nực điên rồ. Tôi hay có ý nghĩ xem Hà Nội như một thành phố ngoi lên từ dưới mặt đất, bụi bặm và khô khốc thế nào ấy; thoạt tiên tôi cho nó giống một sa mạc, nhưng nghĩ lại thì sa mạc nào lại nhung nhúc những người thế này…
Công việc của tôi vẫn bề bộn, vẫn mệt mỏi. Thoáng nghĩ đến cảnh chen chúc nhau vào mùa hè sắp tới, cảnh lưng ướt đẫm mồ hôi khi ca làm việc còn chưa bắt đầu, tôi đã muốn bỏ ngay về quê. Nhưng quê hương tôi cũng đổi khác rồi.
Ngày 12 tháng 4
…
Ngày 15 tháng 4
Cả ngày hôm nay trên văn phòng tôi được phép không làm gì cả, nhưng rồi tôi vẫn làm. Cảm hứng viết lách như chơi đùa với tôi, vờn tôi, khích tôi, rồi bỏ mặc tôi; nói tóm lại, tâm trạng của tôi khá phập phồng. Tối qua tôi đã viết vài trang, bằng tay, nhưng mệt quá nên đành gác bút rồi lên giường đọc Rousseau. Tôi cứ nghĩ cuộc sống của tôi sẽ nhanh chóng đi vào nền nếp, nhưng thực tế đang chứng minh điều ngược lại: tôi có quá nhiều thứ cần và muốn làm, nhưng không thể quyết định nổi sẽ làm việc nào, và bỏ việc nào. Buổi tối, tôi đọc năm mươi trang Trái tim nôn nóng của Stefan Zweig, dăm trang Tales from Shakespeare của hai anh em nhà Lamb.
Anh Đức Anh, sếp tôi, quả là một con người được kết từ những ý tưởng. Đại để anh luôn đầy ắp ý tưởng và sôi trào một dòng nhiệt huyết muốn bắt tay ngay vào thực thi những ý tưởng ấy. Nhưng đến cái khâu quan trọng nhất ấy, thảy mọi người đều ngó sang tôi.
Buổi sáng tôi đi trên đường Hoàng Diệu, ngắm lá vàng rũ cành, một chiếc lá đâm vào ngực tôi, và tôi thốt lên vì sung sướng!
Bình luận về bài viết này