Mạt kiếp


Sáng hôm ấy khi Thịnh đến văn phòng của Ban Chỉ huy Quân sự, cửa để ngỏ, bên trong có hai người: ông chỉ huy trưởng tuổi trạc năm mươi, mặc sơ mi cộc tay cổ cồn, dáng dấp bệ vệ, mặt đỏ gay, ngồi lút sâu trong chiếc ghế bành ở giữa phòng; người ngồi cạnh cửa ra vào thì trẻ hơn, trông giống sinh viên hơn là viên chức, chừng hai mươi lăm tuổi, đang cắm cúi ghi chép gì đó.

Thịnh tiến thẳng tới bàn ông chỉ huy trưởng. Ông ta nhướng mày, dùng tay nâng gọng kính, mắt trố ra, hỏi khách bằng giọng kẻ cả rằng khách đến đây có chuyện gì. Thịnh dè dặt xưng tên, đế thêm rằng ông Hồng phó chủ tịch là chỗ quen biết, vừa chỉ anh qua đây xin giấy tạm hoãn. Nghe thế những nếp nhăn trên gương mặt phừng phực của ông chỉ huy giãn ra, và ông ta hạ giọng:

“Thế ra chỗ thằng kia.”

Thịnh gật gù quay đầu cùng lúc người trẻ tuổi ngẩng mặt lên. Đôi bên đơ ra vài giây. Hoá ra là bạn cũ!

Thịnh biết Tuấn từ những ngày cấp ba. Tuấn hơn anh bốn tuổi, bố làm cai còn mẹ cặp bồ bên nước ngoài rồi không về nữa. Đôi bên không thân thiết gì nhưng vì gần nhà nên họ chung nhau những thói tật của thời niên thiếu, và khi gặp nhau ngoài đường, họ vẫn gật đầu chào nhau chiếu lệ. Dù là người thờ ơ với ngoại hình, Thịnh ngày trẻ nhiều lần vẫn tấm tắc, hoặc ghen tỵ cũng nên, cái dáng dấp dong dỏng thon gọn của Tuấn. Nhưng bây giờ nhìn cái chóp mũi to, cái cà vạt đỏ chấm bi đen rộng bản quê mùa, cặp lông mày thưa mọc lộn xộn, cái vai rộng, cái cổ ngắn và gù, anh thấy bạn thô kệch quá. Ánh mắt cương nghị cũng không còn nữa, mà bây giờ trông tinh ranh, thậm chí phảng phất nét phỉnh lịnh. Tuấn đang so vai, bàn tay thô kệch đen đúa lật giở từng tập hồ sơ trắng muốt và vừa chấm ngón tay lên miệng, vừa hỏi hú hoạ vài lời.

“Học trường nào?”

“Bách Khoa ạ.”

“Ngành gì thế?”

“Em nói ra chắc anh cũng chẳng biết.”

“Nhưng cứ nói đi chứ!”

“Thôi được rồi, khoa công nghệ sinh học… Đấy, em bảo mà, anh biết làm sao được.”

Ông chỉ huy trưởng bước lại gần, căn dặn Tuấn vài lời gì đó rồi nhanh chóng lảng đi.

“Chuyện gì thế?” Thịnh hỏi.

“Ra xin dấu ở trạm xá.”

Đôi bạn men theo bìa rừng, chuyện trò bâng quơ và chẳng mấy đã đến trước cổng bệnh xá. Thịnh ngồi đợi ở hàng ghế đá dưới cây bằng lăng. Vài phút sau, Tuấn trở ra và tới ngồi cạnh. Họ im lặng hút thuốc.

Hôm ấy trời oi nồng, nóng bức, từ trên cao thấy màn trời xam xám vẩn đục, ngán ngẩm trông xuống một thửa ruộng cằn cỗi trải dài, cỏ dại mọc tua tủa khắp gò đê, có thể nghe rõ tiếng đưa liềm lạo xạo đều đều. Mùi khen khét từ xa đưa tới, có tiếng nổ lách tách của đống rơm gần đó. Cảnh buồn tênh, ngái ngủ, và có cảm tưởng mặt đất đang bốc hơi, còn thời gian dài mãi ra như cánh đồng trước mặt họ.

“Thế là cũng bốn, năm năm rồi đấy!” Tuấn vươn vai nói sau một cú ngáp dài. “Mới ngày nào còn ngồi quán điện tử với nhau. Mày còn chơi game không?”

“Em bỏ rồi anh ạ.”

“Ừ, cũng phải bỏ thôi! Tao thì đến tối vẫn chơi nhưng cũng ít rồi. Nhưng ngày xưa tụ tập vui thật nhỉ?”

“Ừ, vui thật! Bây giờ có muốn cũng không được nữa.”

Thịnh bỗng nhớ lại một thời ngây dại từng trốn gia đình ra quán điện tử thâu đêm suốt sáng. Những hồi ức tuổi thơ lẩn vẩn trong tâm trí anh cũng mờ nhạt như dải mây nhờ nhờ màu váng sữa kia, anh thấy lòng nhẹ nhõm và vẻ mặt anh lúc ấy nom hiền hoà, gần như lơ đãng. Chuyện trò duy có Tuấn là người gợi chuyện, và bằng giọng ề à, anh ta kể rằng năm năm trước, sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh ta không học đại học mà tòng ngũ ngay, nhờ tư chất tốt nên được cấp trên chú ý, ra quân được cất nhắc vào uỷ ban làm việc. Thịnh biết ông chủ tịch xã là họ hàng của anh ta, nhưng vì tế nhị nên anh chỉ lẳng lặng gật đầu.

“Nhưng ban nãy mày bảo mày học ngành gì ấy nhỉ? Sinh học gì gì ấy? Học cái đấy xong ra làm cái gì?”

“Viện nghiên cứu, đại loại thế,” Thịnh đáp sau một thoáng nghĩ ngợi.

“Thế rồi sao, cứ ở trên Hà Nội thôi à?”

“Vâng, có lẽ thế. Về quê không có việc anh ạ.”

“Học mấy năm?”

“Lấy bằng kỹ sư thì năm năm anh ạ.”

“Cũng tốn phết ấy nhể?”

“Tất nhiên, nhưng cái gì cần chi thì vẫn phải chi thôi.”

Im lặng một lát.

“Chỗ anh em với nhau tao nói thật,” Tuấn cất giọng lè nhè, vẻ bí hiểm như sắp tiết lộ một bí mật, “đừng học đại học em ạ! Sau rồi cũng ra làm thuê thôi. Tao chẳng bịp mày làm gì, bạn bè tao cũng đổ xô đi học đại học tuốt. Toàn học mấy trường làng nhàng, lấy xong bằng thì vẫn về quê xin việc như công nhân bình thường. Đến lúc đấy thì những người không học đại học đã có hai, ba năm kinh nghiệm rồi, hoặc đi nước ngoài thì có khi đã huề vốn và tích cóp được một khoản kha khá. Nghĩ mà xem, bốn năm trời xong ra vẫn đi làm thuê có phải phí không? Tốn bao nhiêu tiền rồi vẫn phải ngửa tay xin việc… Đúng là chỉ để cho oai!”

Thịnh ậm ừ giây lát rồi trả lời, giọng khô khốc:

“Có lẽ thế, nhưng mọi chuyện luôn bắt đầu từ đâu đó. Dân nhà quê không người chống lưng thì học tập là con đường ngắn nhất rồi.”

“Tốt nhất là cứ đi nghĩa vụ! Trông mày dáng dấp thế này có khi học xong người ta vẫn bốc đi đấy. Vào đấy rồi quân đội họ rèn cho, bao ăn bao ở, ra quân cầm về hai chục triệu, lúc đấy thích làm gì thì làm. Như anh đây, trước cũng lông ba lông bông, mà nói thật nhé, giờ nhớ lại anh còn chẳng biết mình đã làm những gì… Nhưng bây giờ thì tỉnh ngộ rồi! Ở quê thế mà lại nhàn, trưa về ăn cơm với gia đình, đánh một giấc rồi chiều lại đến cơ quan, tối thích thì cà phê cà pháo, còn không thì thể thao. Bọn trẻ như mày thì ở quê là kêu chán, chỉ thích đâm đầu lên thành phố hít bụi mịn thôi, mà cám dỗ lắm em ạ, thằng nào không vững là đổ ngay.”

“Nhưng học thì vẫn phải học chứ anh,” Thịnh nói, câu chữ nghe như rít qua kẽ răng, “nói như anh thì ai nấy đều đi lính rồi về quê làm ruộng hết à? Mà đất thì nhà nước cũng trưng thu hết rồi còn đâu, về quê giờ chỉ có chết đói.”

“Thế mà tao đã chết đâu.”

“Nhưng anh… thôi, kệ đi!”

Đôi bạn cùng đoán biết được câu nói kia qua ánh mắt nhau.

“Còn về chuyện cám dỗ,” Thịnh nói tiếp bằng giọng rắn rỏi, “thì ở đâu cũng như nhau mà thôi. Từ thưở khai thiên lập địa người ta đã biết cách để sa đoạ. Đúng là trên thành phố dễ lung lạc hơn, nhưng anh thấy dân mình có những người cả đời không ra khỏi luỹ tre làng mà sau rốt vẫn ngồi tù mọt gông đấy thôi! Chẳng nói đâu xa, ngay thằng Tiến con nhà ông Hài, cái thằng đen nhẻm ngày xưa vẫn theo chân anh em mình, ngoan ngoãn hiền lành là thế, đến năm lớp sáu vẫn còn khóc tu tu vì không được mẹ cho đi chợ cùng, nhưng nhoáng cái nó ở tù đã ba năm rồi đấy!”

“Dào!” Tuấn thở dài. “Cái lũ ấy thì nói làm gì. Cứ thằng nào không chơi với tao là hỏng hết! Thử tính mà xem…”

“Ôi, chẳng phải ở ông!” Thịnh bỗng ngắt lời bạn, mặt đỏ bừng. “Nếu nó đã muốn hỏng thì có vào chùa vẫn hỏng. Quân ngũ của anh cũng chỉ giải quyết được một phần. Cái chính là ở tư duy, ở ý chí của con người. Chúng ta là những kẻ may mắn vì được trời phú cho một thân thể lành lặn và một khối óc biết suy nghĩ; chúng ta biết suy tính thiệt hơn, cân nhắc trước mỗi quyết định, và có lẽ hơn cả là chúng ta biết chùn. Có nhiều người không sa đoạ chỉ vì nỗi sợ trong họ quá lớn, phần khác vì không đủ điều kiện để sa đoạ, chỉ có thiểu số những người thực sự đứng đắn biết mình cần tránh né những gì và giữ bản thân luôn trong chừng mực cho phép.”

“Không sai.”

“Còn chuyện đại học thì chẳng có gì là vô ích đâu! Cái quan trọng là ở đây,” anh chỉ tay vào trán, “là tư duy và tự do mà giáo dục đem lại. Anh lôi những trường hợp học đại học xong về vẫn nai lưng đi xin việc, trong lúc anh chức nghiệp ổn định, đủng đỉnh vắt chân rung đùi ở văn phòng, nhưng anh quên mất đó chỉ là lớp cặn. Những tấm gương thành đạt, những học giả, những chủ doanh nghiệp, từng làm mọi cách để được tới giảng đường thì anh đâu có nhắc tới.”

Tuấn đuối lý và đâm hoảng trước thái độ xốc nổi của bạn, bèn lảng mặt nhìn chỗ khác, huýt sáo mồm. Còn những phản biện trong đầu Thịnh cứ sôi lên sùng sục, có cảm tưởng nếu không được thoát ra khởi vòm miệng, khỏi lỗ mũi, lỗ tai thì nó sẽ bật tung cái chỏm đầu anh mất, và vừa hổ thẹn vì đã thổ lộ quá trớn, vừa giận dỗi vì mếch lòng, anh chủ động đứng dậy đi trước, thở rất mạnh.

Vài phút sau, giấy tờ trao tay, Thịnh chào anh bạn viên chức một cách qua quýt và về thẳng.

Chà, sảng khoái làm sao! Bước ra ngoài như thể về với thế giới thực. Một cánh đồng trơ trọi trải dài, hay một sa mạc mêng mang cũng không thể tẻ nhạt hơn cái cục đá ngồi cạnh anh ban nãy. Nghe một gã ít học rao giảng sự đời, anh cảm tưởng như bị tra tấn. Giờ đây còn lại một mình, khí trời thoáng đãng giúp anh suy nghĩ thấu suốt hơn, anh cuộn tròn tờ giấy trên tay như một cái ống nhòm, và anh nghĩ:

“Chậc, thằng cha ấy đụt thật! Thế mà cũng gọi là tương lai của nước nhà. Cái nếp nghĩ của nó cũng chẳng hơn gì cha ông nó. Nhưng nó nói cũng có ý đúng. Không thể phủ nhận. Có không ít người học đại học ra rồi vẫn phải cày cục xin việc, rằng bốn năm giảng đường chỉ là sự trì hoãn cuộc chiến với đời, chứ chẳng phải khâu chuẩn bị hay gì sất.”

Nhưng Thịnh còn trẻ, giàu nhiệt huyết, và tự cho mình là người có thiên tư, anh tự tin nghĩ rằng những trường hợp bất trắc ấy sẽ trừ anh ra. Là người dễ kích động nhưng cũng dễ nguôi khuây, anh sẵn lòng miễn thứ cho sự thiển cận của Tuấn, nhưng anh vừa khoái trá vừa cay đắng nghĩ rằng tuổi đời chẳng khiến con người ta thêm sáng suốt được bao. Suy cho cùng, Tuấn chỉ là một anh viên chức tốt số, may mắn được người nhà cất nhắc vô một chức vụ nhàn tản, ở đó, cuộc đời gã sẽ trôi qua nhàn tản y thế, và cái thân hình phổng phao của gà dần dà sẽ trở thành một con ngỗng căng dù, no nê vì những bữa rượu và mãn nguyện với cái chức nghiệp hèn mọn của gã. Gã hẳn sẽ hạnh phúc lắm bởi gã đâu có nghĩ tới ai ngoài bản thân mình. Gã không bao giờ phải dừng lại để ngẫm nghĩ xem mình sẽ đi đâu, làm gì, vì con thuyền đời gã đã được cấp sẵn một hải trình. Dẫu sau này gã có leo lên tới chức chủ tịch thì anh vẫn nhìn gã không hơn một thằng cha hãnh tiến. Một con người dù tầm thường nhất cũng chưa bao giờ làm ta hết ngạc nhiên, cái anh Tuấn ngày nào còn áo quần xộc xệch, bản mặt cù lần, thân hình quá khổ đè lên chiếc xe cà tàng, thế mà giờ đã sơ mi cà vạt tươm tất, đầy đủ lệ bộ, từ gương mặt cho đến thần thái đều tỏ rõ ta đây là người quan trọng, là cán bộ đàng hoàng đấy nhé!

Uỷ ban nằm trên một con dốc nơi xưa kia là mỏm đồi, con đường trải dài xuống đường cái, hai bên những con trâu, cái nghé mình mẩy bê bết bùn lầy, đóng vảy như sáp, đám ruồi nhặng vo ve quanh cái đuôi phất phơ như nhành lau của chúng. Chúng chậm rãi nhai cỏ, liếc đôi mắt đen nhánh nhìn khách qua đường, trông mới nhàn hạ và vô tư làm sao…

“Phải rồi,” Thịnh nghĩ, “ý chí tự do là thứ tách biệt con người văn minh với đám súc vật. Thế mà nhiều người sống chẳng hơn đám súc vật là bao! Con trâu nó ngủ, nó gặm cỏ, nó nhúng mình trong bùn, trông nó thong dong, vì chỉ cần cái bụng nó no, cái thân nó ấm, là nó mãn nguyện, thở phì phò! Đến tối người ta nhốt nó vào chuồng, ban ngày thả ra, ngày nào nó cũng làm ngần ấy thứ việc. Còn con người, con người đâu chỉ sống vì tiền, vì danh vọng, hay vì những bữa ăn ngon… mà phải phát triển, phải đi lên, phải trau dồi! Ấy mà suy cho cùng, nhiều con người được cho là học thức, tiến bộ, quan trọng, cũng đâu khác một tốp thợ thủ công, với những đầu việc được giao sẵn, những thao tác lặp đi lặp lại, những vấn đề cũng lặp đi lặp lại y thế, như thể một chu trình tuần hoàn; họ thông thuộc công vụ tới mức bàn tay và trí não thoăn thoắt vào việc như một con nhện giăng tơ, nhưng nghĩ mà xem, trước khi giăng tơ, con nhện có nghĩ rằng nó phải giăng tơ ra sao không, hay việc ngày nào cũng giăng tơ có khiến đời sống nó ý vị hơn, có khiến nó trở thành một con nhện tốt hơn, hay nó chỉ miệt mài giăng tơ bởi vì số phận đã đặt định rằng nó phải giăng tơ, cho tới ngày chết? Những anh cạo giấy kia, ngày ngày lết tới văn phòng chỉ để đóng dấu, loạt xoạt những giấy má hố sơ, đón tiếp bà con nông dân với cái điệu bộ phách lối, hách dịch, như thể chúng đang ban phát một ân huệ, trong khi tất thảy cùng ăn lương nhà nước, chúng no kễnh bụng, chúng nuôi vợ con chúng bằng tiền của dân, nhưng chúng khinh thường dân, chúng chẳng lễ độ hơn trước những bà già hèn mọn và ra vẻ trịch thượng trước đám sinh viên loắt choắt như mình.”

Giá như có thể tống hết đống suy nghĩ này vào tai gã kia. Và giả sử được đá nó mấy phát, thì vui biết mấy! Ôi, chán chết! Ở cái xó xỉnh này, cái tỉnh nhỏ đìu hiu này, chưa kể là những phố thị chật chội những tưởng chứa chấp toàn những con người trí thức, thì còn biết bao kẻ như gã, là đồng đội của gã, một đội quân toàn những thành phần nông cạn, thích ăn no, ngủ kỹ, thích cuộc đời êm ấm, ngay ngắn như tấm khăn trải bàn, bên trên là những món ăn của mâm cỗ cuộc đời, mà mâm nào cũng giống mâm nào, nhưng chẳng mấy ai phàn nàn, còn giả sử thiếu đi một món dù là nhỏ nhặt nhất, rằng mâm cỗ bàn họ không được đủ đầy như chúng bạn, thì họ kêu toáng lên!

Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa, và đến cảnh mấy bà già ngồi tán chuyện cũng khiến anh ngao ngán. Nơi đây cuộc sống bí bách và buồn tẻ, nó giam hãm những tâm hồn trẻ trung như anh, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập mọi thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của họ là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không; còn lại, họ sống một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá… Nhảy từ thị trấn lên thành phố đã tám năm nhưng không có lấy một cái trường học cho tử tế, – thì cũng có một cái trường đại học đấy! nhưng toàn thu nhận những đứa đầu trâu mặt ngựa, lũ du đãng, đốn mạt, học hành làng nhàng cốt trốn quân dịch; nhìn mà xem, cả thành phố rộng gần ba mươi ngàn héc-ta mà không có lấy một cái thư viện, không rạp chiếu bóng, chỉ lổn nhộn toàn những quán bida, những quán hát tay vịn; những miếu, đền xây cất bề thề nhưng quanh năm cửa đóng then cài; phá cả công viên thiếu nhi đi để xây vườn hoa nhưng không thấy hoa đâu, chỉ trơ ra một cái cối xay gió cũ rích mà lớp sơn đã bạc phếch vì dãi dầu sương gió; còn bệnh viện thì chỉ nhận người quen, các ông bà già quặt quẹo đứng xếp hàng từ năm giờ sáng, lương y hồn khô như ngói, quát tháo bệnh nhân…

Kể cũng lạ, thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội tìm về đây lập nghiệp. Cuộc sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, con người hiển nhiên luôn trong trạng thái chuyển động; ấy thế không những họ không xê dịch mà còn chây ì, biếng nhác từ những ngày thanh niên. Có những cô giáo, thầy giáo trẻ măng về đây thực tập, nhưng hoàn toàn không phải những vị trí giả miệt mài cống hiến đâu, mà chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận và ngại sống xa nhà. Và họ sẽ ở đó có lẽ đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng khổ nỗi chỉ thuộc mỗi một câu, thành thử phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…


Xếp hạng: 3 trên 5.

Đăng ký theo dõi

Đăng ký để nhận thông báo mỗi khi mình đăng tải bài viết mới nhé!

Được xuất bản bởi


Trả lời

  1. Ảnh đại diện devotedlya339378846
    devotedlya339378846

    Truyện này bạn miêu tả nội tâm hay thật. Chưa nói đến việc quan điểm của nhân vật trong truyện là đúng hay sai, cực đoan hay không; đoạn từ lúc Thịnh chào tạm biệt Tuấn đến hết, bạn viết thật sự thăng hoa và như lên đồng. Mỗi từ ngữ, lối so sánh đều được viết sắc lẹm và mới mẻ. Bạn thật sự có một giọng văn và phong cách truyện rất riêng trong số những tác giả đương đại. Mình nghĩ bạn hãy thử đăng tải các truyện ngắn này lên các ứng dụng truyện online như Truyện Nhà Ong để tiếp cận nhiều độc giả hơn thử xem. Mình tin sẽ nhiều người thích đọc các tác phẩm của bạn.

    Thích

    1. Ảnh đại diện Vũ Thành Long
      Vũ Thành Long

      Cảm ơn bạn đã đọc nha! Mình sẽ trau chuốt truyện này thêm vài lần nữa rồi thử đăng tải trên TNA xem sao. Anw, you made my day!

      Thích

Bình luận về bài viết này

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc