Làng

Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn.

1.

Ở một làng nhỏ của huyện X., trong một ngôi nhà hai tầng sơn trắng với những ô cửa lợp gỗ im lìm, có một giáo viên hồi hưu – một goá phụ đang yên hưởng tuổi già nhàn tản và phong lưu của mình. Thời trẻ có lẽ bà từng rất đẹp, còn bây giờ tuổi ngoài lục tuần, qua dáng vẻ đạo mạo cùng những lời chào hỏi của láng giềng có thể đoán biết rằng bà rất được thiên hạ vì nể; không ai không biết bà và đều gọi bà một cách thành kính là: bà giáo.

Bà giáo có hai người con trai. Người con cả tên Tuấn – không thể hy vọng gì ở anh chàng này – anh ta từng phục vụ tại ngũ ba năm và dăm tháng trong ngành hoả xa, nhưng tỏ ra cực lực chán ghét công vụ, sau rốt về quê làm thợ đóng gạch. Người em trai tên Tú thì khấm khá hơn, công tác trong ngạch cảnh sát giao thông, thuộc hạng người hách dịch và máu kiếm chác; còn Sương vợ anh ta bán thuốc ở quầy dược phẩm, là một cô gái gầy nhẳng, mắt xếch, cũng thuộc nòi gia giáo và có của, sống cách X. độ một quãng sông. Bộ dạng của cô ta phản chiếu tính nết của cô ta. Cô ta là người căn cơ, tháo vát, bẻm mép và khá ma lanh, và nhìn chung rất tự hào về những điều này.

Từ lâu trong nhà bà giáo đã kiên tâm duy trì một đời sống quy củ, mực thước, do đó bà ghét cay ghét đắng những thứ phương hại đến thanh danh gia đình. Bà coi anh con cả là một nỗi thất vọng, nhưng bà yêu mến con dâu, một người ăn học đàng hoàng, và nhất là anh con thứ, chiến sĩ công an, bộ mặt của gia đình. Vừa được lo lót cho một chức nghiệp, anh này đã bộc lộ năng khiếu phi thường trong việc bòn rút dân đen, biết ăn cánh với đám sĩ quan nhận của đút lót, và thạo chia chác không kém cạnh phường lái buôn. Trong công vụ, anh ta đóng rất tròn vai một gã bù nhìn, biết nhắm mắt làm thinh trước thói nhũng lạm, hơn nữa lại nghiêm cẩn thừa hành các chỉ thị mà cấp trên giao phó, thành thử bước đường công danh của anh ta khá xuôi chèo mát mái. Bà giáo hùn tiền đưa anh ta về công tác tại huyện nhà. Cố nhiên anh ta kiếm bẫm, nhưng phạt tiền đồng hương không khoan nhượng, do đó họ khinh miệt gọi anh ta là “con chó vàng”; tuy vậy bà mẹ lúc nào cũng lấy làm hãnh diện và được dịp khoe mẽ bà lại tấm tắc nói:

“Con trai tôi đấy! Con trai tôi đấy!”

Chứng kiến con trai tấn tới trên đường hoạn lộ, bà giáo hởi lòng hởi dạ lắm. Khi chàng công an đóng lon đại uý thì bà rục rịch lo chuyện xây nhà xây cửa cho hai vợ chồng. Bà không phải nghĩ nhiều vì hồi còn mồ ma ông nhà đã cắt sẵn cho cậu thứ khoanh đất hai trăm mét vuông. Nhưng thửa đất nằm cuối một con dốc, chìm lút trong đám cỏ dại um tùm, muốn xây sân phải phá tường, san vườn, nói chung đủ điều cách rách. Vợ chồng Tú chạy đôn chạy đáo mấy tháng trời, rồi hai tuần trước ngày đào móng bỗng xảy ra một chuyện rầy rà nho nhỏ.

Sương vốn từ lâu đã nhăm nhe miếng đất sát sườn nhà mẹ chồng, cô ta thấy thửa đất đó đắc địa, thâm tâm không tránh khỏi cắc cớ rằng tại sao bà giáo mến chuộng chồng mình là thế, vậy mà lại di cho con trai một thửa đất tối như hũ nút thế này. Tối hôm ấy hai vợ chồng cùng nằm nhà, Sương gối đầu lên tay chồng, ngón tay mân mê thái dương của Tú, hỏi:

“Miếng đất bỏ trống trước nhà là của u hay của ông Tuấn thế anh?”

“Của ông Tuấn,” Tú lè nhè đáp lời vợ.

“U cắt cho ông đấy à?”

“Không, là thầy cắt. Trong di chúc thầy chia đất chia cát cả rồi. Mình là mảnh phía sau, còn mảnh phía trước thầy để riêng cho ông đấy, dành sau này cưới vợ thì ở. Cứ nói thế chứ biết bao giờ mới xây được nhà.”

Sương, vẻ phật ý, thôi không vân vê thái dương chồng nữa.

“Này, sao vậy?”

“À, cái mảnh đất đẹp quá chứ lị!” cô vợ làm giọng nũng nịu, mắt lúng liếng. “Thế ông ấy không nhường mình được à? Thế à… Tiếc quá nhỉ! Hay thử hỏi mua xem sao? Biết đâu ông ấy lại bán.”

Tú lầm lầm không đáp, vân vê cằm ra chiều nghĩ ngợi. Anh ta thừa nhận đó là thửa đất đẹp, tuy kích thước nhỏ hơn nhưng về mặt địa thế thì hoàn hảo, mặt tiền đón gió phía Nam lại hướng ra đường lớn, hứa hẹn một chuyện làm ăn béo bở. Mấy ngày liền anh ta dò la thám thính, hết bàn bạc với mẹ lại thương lượng với anh, và một tuần sau trở lại đứng trước mặt vợ, mặt đỏ như gấc, hậm hực nói:

“Không được. Lão nhất quyết không nhường, gạ bán cũng không. Trả bảy chục nghìn cho một mét vuông cũng không bán. Mà bây giờ ngoài kia chúng nó trả có năm chục thôi.”

“Thế u có nói đỡ không?” cô vợ nối lời.

“Không ăn thua!”

“Thế đấy, anh em nhà anh buồn cười thật!” cô vợ sưng sỉa đáp. “Dâng đến mồm còn không biết đường ăn, mà cái ngữ ông Tuấn thì… Thôi, chả thèm nói nữa! Rõ là phí phạm! Phí phạm!”

Không sờn lòng, hai vợ chồng cùng bà giáo thử thuyết phục một lần chót, nhưng người anh cả vẫn dằn từng tiếng: “Không là không!”

Như một sợi dây căng quá hoá đứt, hai anh em dần đâm mặt lưng mày vực với nhau. Bà giáo rẻ rúng con cả, em dâu dè bỉu anh chồng, em ruột hầm hè anh trai. Vợ giống tính chồng, ngày ngày Tú và Sương chằm chặp trông ra bãi đất bỏ không, cảm tưởng mình mới xứng đáng là chủ nhân của nó và, đau đớn như thể nó bị tước đoạt khỏi mình. Riêng Tuấn tính không chấp nhặt nên chẳng chốc đã quên khuấy đi: anh ta còn bận bịu những công chuyện riêng.

Nửa năm sau vợ chồng Tú dọn ra nhà mới. Đó là một căn nhà vườn sơn trắng xây theo phong cách làm đỏm của đám trọc phú, có khoảng hiên rộng nhô ra ở mỗi tầng, sân cũng rộng, lát gạch đỏ, bày biện nhiều thứ cây cảnh đựng trong các chậu đất nung. Hai cột trụ án ngữ trước cửa ra vào trông oai vệ như hai gã lính gác khổng lồ, lạc quẻ với bờ giậu thấp tè cùng khung cổng mạ nhôm màu bạc cũng thấp y chang. Dân làng khi tạt ngang hiên nhà thường nán lại để chiêm ngưỡng thứ kiến trúc cầu kỳ khác lạ ấy, nhưng toán thợ nề lại bình phẩm về nó theo một khía cạnh ít chuyên môn hơn nhiều.

“Đấy, nhà của cán bộ đấy!” họ vừa huých sườn nhau vừa nói giọng cay nghiệt. “Oai như cóc, nhưng tiền công thì mặc cả từng hào! Thằng kia, lễ tân gia nó có mời mày không?”

“Em á? Em sao mà được mời, hì hì,” một gã thợ phụ vữa trẻ tuổi ngơ ngác nói.

“Thì tao từng xây nhà cả cho thầy u nó mà nó cũng có mời đâu.”

2.

Lưng dài vai rộng, với giọng nói sang sảng và tiếng cười hồn hậu dễ lan, Tuấn rất được lòng ông quản đốc vốn là chú ruột của mình. Và cả toán thợ đối đãi với anh cũng có phần nể nả, vì anh là, như người ta nói, một bàn tay vàng. Người anh như đúc từ thép, sức vóc khó ai bì kịp, trong công việc tỏ ra hết sức mẫn cán, có thể đội nắng dầm mưa mà đúc cả nghìn viên gạch. Anh không tiêu hoang, không nợ nần và không dính vào một thói sa đoạ nào (kể cả món chọi gà mà các cậu thanh niên ở X. rất khoái).

Tuy đường nét có hơi thô kệch, diện mạo Tuấn vẫn vào dạng ưa nhìn mà ở quê họ gọi là điển trai. Anh cao ngót mét chín, da ngăm, vai rộng, đậm người, lông mày đen, rậm. Ở thần thái, cử chỉ, dáng dấp của anh một cái gì ngang tàng, một ma lực hấp dẫn những người đàn bà, như đường thu hút kiến. Tuấn biết điều đó, và bản thân càng ra sức tận dụng những ưu thế của mình. Gần như đi đến đâu anh reo rắc những chuyện tình ái lăng nhăng đến đấy, nhưng kỳ lạ là dư luận trong làng vẫn coi anh như một đám bở. Họ quý mến anh vì cái sức vóc khoẻ mạnh, bản tính hay lam hay làm; vì anh xuất thân gia giáo, tác phong đường hoàng, gặp người làng ai cũng niềm nở đón chào. Nhưng hơn cả, anh chinh phục họ hoàn toàn vì hoạ hoằn mới thấy anh chối ai điều gì, từ gieo mạ, gặt lúa, đắp đê, xây cống, anh hăng hái làm tất tật; riêng tài nghệ gói bánh chưng của anh thì xuất sắc, anh gói không cần khuôn mà bánh vẫn vuông chằn chặn, như một vết tích sót lại của thời quân ngũ. Nói chung, anh rất năng nổ trong công tác giúp đỡ bà con láng giềng. Do đó, họ sẵn lòng xuê xoa cái thói bồ bịch bừa bãi của anh, và về điều này quan điểm của họ giống như câu nói quen thuộc mà ai cũng thuộc nằm lòng: “Trăng đến rằm trăng tròn.”

Những chuyện lang chạ của Tuấn sớm muộn đều đến tai bà giáo. Thực tâm bà sẵn lòng thể tất cho bản tính phong tình của con trai đấy thôi, nhưng bà bất mãn kinh khủng với cái hướng đi mà anh vạch ra cho cuộc đời mình. Bà có cảm tưởng rằng vì anh từ giã binh nghiệp để làm một công viện chân tay thấp hèn, anh đã thẳng tay bôi tro trát chấu lên mặt bà và cả cái gia đình học thức này. Một ngày, bà thổ lộ nỗi lòng trên với ông Sô, viên quản đốc, người từ khi về làng nhận việc rất năng lui tới nhà bà chị già. Thoạt đầu bà than thở chỉ cho có chuyện, nhưng được hưởng ứng nhiệt tình quá nên bà cũng lây cái cung cách xuề xoà của ông em, và dần dần bà bộp chộp tuôn ra mọi nỗi trăn trở trong lòng.

Ông quản đốc im lặng lắng nghe, từng nếp nhăn hằn rõ trên vầng trán mai mái lấm tấm mồ hôi, mũ cối úp vào đầu gối, tay vân vê khoảng giữa cặp lông mày chổi xể.

“Cô giáo này (ông ta biết chị mình thích được gọi như thế),” viên quản đốc nói giọng khàn đặc của hạng người mua thuốc lá theo dây, “khả năng phải cưới vợ cho nó đi thôi. Như thế mới tu tâm dưỡng tính được.”

“Ừ, tôi cũng đã tính đến nước đó,” bà Xoan ậm ừ đáp. “Nhưng chú bảo cưới ai?”

Hẳn quản đốc đã thì thầm một điều gì rất tếu vì thấy cả hai người cùng cười khùng khục. Đoạn bà giáo thừa dịp thăm dò, hỏi:

“Thế dạo này trên xưởng nó tòm tem con nào?”

“À,” ông em lúng búng đáp, “cái đấy thì tôi cũng chẳng biết. Tôi hơi đâu mà ngồi thám thính mấy chuyện trai gái cho chị được. Tôi khuyên là khuyên chị thế, còn quyết định thế nào là ở phần chị.”

“Thế mà chú nói cứ như đinh đóng cột!”

Sau khi quản đốc cáo lui, bà Xoan khởi sự suy tính. Bấy nay mấy mụ mối đã xun xoe mách nước cho bà, nhưng thực tình bà chẳng ưng bụng cô nào. Bà những muốn một nàng dâu nhu mì, căn cơ, biết kính trên nhường dưới, biết lo toan vun vén cho nhà chồng, và đặc biệt phải có học thức, không thì cũng phải mồm mép tí chút để bù lại. Cánh cổng xoay trên bản lề đánh két một tiếng cắt ngang dòng suy tưởng miên man của bà.

Tuấn dựng thuổng vào tường, lảo đảo từ ngoài hiên bước lại phòng ăn, áo cộc vén cao sát nách, mặt đỏ nhừ như quả cà chua, mái tóc rễ tre loà xoà chấm mi. Bà Xoan ngừng nhai, liếc nhìn bộ dạng bầy hầy của con trai và chẹp miệng bất mãn. Thoạt đầu hai mẹ con ăn trong thinh lặng, rồi bà giáo sực nhớ ra cao kiến của ông quản đốc; bà bèn buông đũa, nhìn con trai chòng chọc như thể đang lựa lời.

“Xem kìa, ngày nào cũng bia với bọt. Lại say rồi phải không?” cuối cùng bà nói.

“Tôi có uống bằng tiền của u đâu mà lo,” Tuấn lạnh lùng đáp.

“Cốt là ấm vào cái thân cậu,” bà giáo thở dài nói. “Cậu tự nhìn lại mình đi, xem còn ra thể thống gì nữa không? Em trai thì…”

“Thằng Tú cũng chỉ được cái mẽ ngoài.”

“Thế mà giờ nó lên làm cán bộ, làm tôi nở mày nở mặt, rồi nhà cửa nó cũng xây xong,” bà giáo rít giọng. “Thầy cậu cứ chiều cậu quen thói, giờ vạ vật ra không làm nên trò trống gì.”

“Trời đánh tránh miếng ăn!” Tuấn đập phắt đôi đũa xuống bàn và quát lớn. Anh không lạ gì cái thói mào đầu lan man của mẹ, nên anh đế thêm:

“Có việc gì u cứ nói thẳng cho.”

“Thôi,” bà Xoan đổi giọng thân tình sau một thoáng lựa lời, và quyết định đổi luôn cách xưng hô. “Chuyện thế này, u tính cưới vợ cho mày. Thế nào, có thích cưới vợ không?”

“Tôi vừa gặp chú Hùng trên đường, chú cũng lảm nhảm y chang u,” Tuấn nói chớt nhả. “Cưới cũng được thôi, thú thực tôi cũng đang muốn thưa chuyện với u đây.”

“Thế mày nhắm ai?”

“Khỏi phải giấu u, tôi nhắm con bé Thương.”

“Thương con nhà bà Tuất?”

Tuấn gật đầu. Bà Xoan đứng phắt dậy, mắt trố tròn, hai bàn tay bấu lấy thành bàn cho khỏi ngã.

“Sao mày vẫn qua lại với cái ngữ ấy?” bà quát to. “Mày không biết thiên hạ họ đồn gì hay sao? Hay mày giả đui giả điếc?”

“Toàn chuyện ba láp,” Tuấn khoát tay bác lại.

“Ôi trời, mày dại như vích ấy! Chưa kể nhà nó nghèo, nghèo kiết, nghèo nhất cái đất Thao Sơn. Không… không thể được… ai cũng được trừ cái ngữ ấy ra. Thôi thôi, mày chơi bời tán tỉnh nó ra sao thì ra, nhất quyết không được cưới nó làm vợ. Cái này tao cấm tiệt đấy!”

Tuấn trả lời sau một thoáng im lặng, giọng khô khốc:

“Thế nếu không cưới không được thì sao?”

Một bầu không khí ngột ngạt ngự trị gian phòng. Bà giáo giương mắt trân trân nhìn con trai, ngờ ngợ ngộ ra vấn đề, cảm giác ngực như bị đè nặng bởi một tảng đá; quá xúc động, bà hổn hển mãi mới thốt lên nổi:

“Mày làm nó có chửa rồi?”

Anh con trai chỉ nhún vai và đứng dậy rời đi.

3.

Thao Sơn cách X. mười hai cây về hướng Bắc, cứ men theo đường ray, lấy ống khói của nhà máy nhiệt điện làm đích là sẽ tới. Vùng phụ cận khu xí nghiệp rất giàu, nhưng Thao Sơn là vùng giáp ranh, dân cư phần lớn là cánh thợ nề, thợ sơn, thợ ốp gạch. Đó là một làng nghèo, nghèo nhất cả huyện, và nhà Thương thuộc hạng cùng đinh trong cái xó ấy. Cô lớn lên mà không biết mặt cha, vốn là một hạ sĩ quèn người gốc Hà Tây, dạo xảy ra chiến tranh biên giới từng tới đồn trú vùng này – cô là hệ luỵ của một cuộc chung chạ dân quân mà giữa thời buổi loạn lạc diễn ra nhan nhản.

Sau khi bà mẹ qua đời, Thương bấy giờ sáu tuổi được cưu mang bởi người bá ruột, một goá phụ khắc khổ, ốm o. Bà dạy con bé chăm lợn, cho nó đi học trường làng tử tế như ai. Bà nuôi hai miệng ăn bằng đồng trợ cấp liệt sĩ còm cõi của ông chồng quá cố, rồi một năm sau bà cũng nối gót ông. Bốn anh chị em nhà Thương họp lại, cãi vã, đùn đẩy, sau rốt bà chị cả miễn cưỡng đón em út về ở cùng vợ chồng mình. Bà này tính tình thờ ơ nên thả rông cho nó thích làm gì thì làm, và chưa đầy năm bà ép nó thôi học để tự kiếm ăn. Thương bắt đầu đi làm như ai, tức là đi gom sắt vụn. Ngày ngày con bé còi cọc thất thểu trong chiếc áo vá chằng vá đụp, kéo lệt sệt cái bao bố rách mướp, sục sạo khắp các ngõ, hẻm, bãi thải, công xưởng để nhặt nhạnh sắt vụn, vỏ chai, rác rến, và hoạ may là những con búp bê mất tay cụt đầu – điều này làm nó vui hơn cả. Thời gian rảnh, nó ngồi trông đứa cháu trai lên ba của vợ chồng chị.

Vài năm qua đi. Mười hai tuổi, trong vỏn vẹn vài tháng Thương đã ra dáng đàn bà, với bộ ngực ngồn ngộn, đùi vế chắc lẳn, thịt da mơn mởn như quả đào chín, và điệu bộ ngô nghê chỉ càng tăng thêm dáng vẻ gợi tình. Ông anh rể trong một dịp say quắc cần câu, hai mắt bơi trong đầu, mới nhìn nhầm em gái thành vợ mình (sau này ông ta thanh minh thế), quên hết cả luân thường đạo lý mà vồ tới hôn lấy hôn để. Một tháng sau mọi chuyện vỡ lở, trong nhà đánh cãi chửi nhau om sòm, và cuối cùng bà chị, vì ghen tuông, bèn tống khứ đứa em gái côi cút (hiển nhiên bà đã tha thứ cho chồng và bà chỉ có thể ruồng bỏ những thứ bà có thể ruồng bỏ) lên một chuyến xe thùng, gửi thẳng xuống Hà Nội làm con ở. Cuộc sống ở thủ đô chẳng khoan nhượng với cô gái khốn khổ hơn được bao; Thương được một lão bán thịt chó nhận làm ô-sin, rồi lại bị chính lão gạ gẫm và xâm hại dẫn tới mang bầu. Bước lầm lỡ đầu tiên không dễ gì gột rửa, và cái tiếng xấu đeo đẳng cô gái về tận huyện nhỏ. Thời gian đầu, không còn biết nhét em gái vào đâu, bà chị đành dẫn Thương tới phụ việc ở xưởng may cùng mình. Cô gái trẻ cũng thêu thùa, cũng vá vít áo quần, bấm đai lưng như ai; chưa đầy tháng thì chính quyền đương nhiệm khởi động rà soát lao động dưới tuổi, cuối cùng bà chị tống quách cô em ra xưởng gạch.

Lúc đầu mới gặp Tuấn, Thương đã phát hoảng khi trông thấy thân hình lực lưỡng của anh, có phải ra cầm cuốc đưa xẻng thì cô cũng nhích ra xa hai tầm tay với, trong đầu chỉ nơm nớp lo sợ hễ anh ta bắt chuyện thì không biết phải tiếp lời thế nào. Còn Tuấn ban đầu không có gì quan tâm đặc biệt đến cô, nhưng dần dà bắt đầu tươi cười mỗi khi hai người chạm mặt, rồi sau độ một tháng thì chú ý đến cô hơn, và cuối cùng, đến mắt cũng không rời. Về phần mình, Thương biết tỏng anh ta chỉ ve vãn nhằm thò tay vào quần mình, và ra sức cự nự mọi nỗ lực mồi chài của anh ta. Nhưng một lần, khi cô đang loay hoay mở nắp một chiếc bi đông, anh ta bỗng giật phắt lấy, tu nước ừng ực rồi dúi trả vào tay cô, vẻ thản nhiên như không, nhoẻn miệng cười đầy tình ý. Chẳng hiểu sao lúc ấy cô bỗng đớ ra như phỗng rồi bật cười, khoe hàm răng trắng đều và đôi mắt sáng rực như trăng đêm rằm. Từ đó trở đi, Tuấn không để cô yên nữa. Trên xưởng anh ta làm đỡ hết phần cô, hễ ngơi tay lại cà rà sát cạnh như hình với bóng. Nhiều lần anh ta trực sẵn ở đường ray, mũ cối áp đùi, huýt sáo vẩn vơ như một gã chăn bò; trông thấy cô, anh ta đâm ra xun xoe tựa cún trông thấy chủ, còn cô gái khốn khổ không biết ứng đối thế nào, không biết từ khước ra sao, chỉ lặng lặng rảo bước thật nhanh. Anh ta lẽo đẽo theo sau, hễ cô ngoặt là anh ta ngoặt theo, quanh đâu quẩn đấy, thi thoảng lại dấn lên ngang hàng để buông lời tình tứ.

Sau một tháng thì cả xưởng gạch đã biết hết về chiến dịch tán tỉnh của anh chàng trai lơ; bao nhiêu bông đùa, bao nhiêu trêu chọc cứ thế chĩa thẳng vào Thương. Vốn không lạ gì bản tính phóng đãng của Tuấn, họ chẳng ngại bỡn cợt cô gái ngay trước mặt anh – một sự khinh suất đến thế! Một lần cả toán thợ đang ngồi ăn trưa, một tên học việc trẻ tuổi tính tình cũng khá bông lơn, chọc ghẹo cô gái khốn khổ tới mức mặt cô đỏ lựng, tưởng phát khóc vì ấm ức. Tức thì Tuấn bật dậy trên đôi chân vững chãi như gắn lò xo, lia phắt chiếc đĩa nhắm thẳng mặt gã kia. Gã nhanh nhẹn né được, chiếc đĩa đập vào tường vỡ tan tành. Tất cả im phăng phắc.

“Thằng chó, nếu mày còn nói năng luyên thuyên,” Tuấn gầm lên, “mỗi lần tao sẽ vặn của mày một cái răng, riêng cái cuối tao sẽ đấm cho nó phập sâu vào cuống họng! Mày rõ chưa? Địt mẹ nhà mày nữa!”

Toán thợ xúm xít đẩy Tuấn ra ngoài, anh ta chửi đổng một hồi rồi cắp mũ bỏ đi. Ngay khi anh bước ngang ngưỡng cửa, lão thợ cả trước nay chỉ biết chuyện mình cũng phải lẩm bẩm:

“Dại thế chứ lại! Chọc ai không chọc lại chọc đúng tổ ong bầu!”

Cả chiều hôm ấy Tuấn lặn mất tăm; ông quản đốc vừa đi công tác về chứng kiến xưởng gạch đình trệ, chưa rõ đầu đuôi cơ sự nên hết sức gắt gỏng. Ông cho gọi lão thợ cả, lão cung cúc chạy tới và thật thà thuật lại toàn bộ câu chuyện. Quản đốc đang nằm vắt vẻo trên võng, mũ bê rê trùm kín mặt, nghe xong sự tình bỗng ngồi phắt dậy, khoái chí vỗ đùi cười ha hả. Đoạn ông ho húng hắng vài hơi, cho gọi tên học việc kia đến và trách mắng một thôi một hồi cái hành vi dại dột của gã. Ông đe doạ sẽ tống cổ gã, nhưng trông vẻ khúm núm của gã rồi ông cũng nguôi.

“Thế mày còn không xin lỗi nó à?” cuối cùng ông nói giọng kẻ cả. “Chắc nó nằm ở nhà đấy, đi mà giải quyết với nhau.”

Lời khuyến nghị tức tốc được thi hành. Sáng hôm sau Tuấn trở lại, mặt hầm hầm không thèm bắt chuyện với ai – mọi chuyện thế là ngã ngũ, chẳng ma nào dại mà chơi với lửa nữa. Suốt một thời gian cả xưởng kiên quyết tránh mắc mớ tới cặp đôi kia, rằng dù muốn hay không muốn, Thương vẫn luôn nằm dưới sự bảo trợ của Tuấn, mà Tuấn lại được lão quản đốc chống lưng. Còn Thương sau sự việc thì như cá mắc câu, đâm cảm mến vị cứu tinh của mình, lòng dạ liêu xiêu, cũng bắt đầu cười đùa ngả ngớn, rồi hẹn hò, rồi ưng thuận trao thân.

Một tháng rưỡi qua. Cặp đôi vẫn qua lại thường xuyên. Một buổi chiều Thương không đi làm, Tuấn vừa tan ca ở xưởng gạch về, chiếc khăn màu đỏ ướt rượt vắt thõng trên vai, đủng đỉnh bước một xuống dưới chân đồi; đi trước anh có hai người thợ khác, vai cũng vắt khăn và đội mũ cụ hồ vành rộng màu xanh da lính. Bước tới khúc quanh, bỗng một người trong bọn khựng lại, bá vai Tuấn, tay trỏ xuống gốc cây sung toả rợp phía dưới chân đồi. Anh nheo mắt và nhận ra người yêu đang đứng khép nép trông về phía mình, thoáng chột dạ. Xuống tới nơi, hai người thợ biết ý bèn lảng đi thẳng. Còn lại một mình, Thương tiến gần Tuấn, giương đôi mắt đỏ hoe dáo dác ngó quanh. Cô bận bộ đồ lanh mặc ở nhà, vẻ luộm thuộm, tóc xổ tung, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Mặc Tuấn cực lực gặng hỏi, cô vẫn lần khần, đầu cúi gằm.

“Em… em có thai rồi!” cuối cùng cô nói.

Tuấn sững sờ như vừa ăn một đòn sau gáy.

“Kìa anh nói gì đi, em sợ quá! Em không ngủ với ai ngoài anh cả, cái này em thề! Nếu anh không nhận thì… anh cho em tiền… rồi em sẽ tự xử lý…”

Tức thì Tuấn nhìn chằm chặp vào mắt người tình như muốn đọc từng ý nghĩ, mặt trơ như đá.

“Xử lý cái gì?” anh ta gầm lên, mặt đỏ như lửa.

“Em sẽ.. bỏ…”

“Câm ngay! Con tao sống hay chết là quyền của tao!”

“Có phải lỗi tại em đâu mà,” người đàn bà rên lên một tiếng đầy ai oán, quỳ sụp xuống vạt cỏ, vùi mặt vào tay tấm tức khóc…

4.

Vác bụng chửa về làm dâu, Thương bị cả gia đình nhà chồng khinh ra mặt. Mẹ chồng, em chồng và đặc biệt là người em dâu không những không thích chạm mặt cô, mà nếu không thật cần thiết thì họ cũng chẳng buồn đếm xỉa tới cô nữa. Những ngày ở cữ trôi qua đơn điệu, chán chường. Buổi sáng, nhân viên bưu điện đến cùng giờ Tuấn vác thuổng đi làm; bà Xoan đeo cặp kính lão, nghển cổ đọc từng cột báo chi chít trước hiên nhà, sau đó bà rảo bộ ra chùa, mình bận bộ đồ lam màu xanh xám, đầu đội nón lá, gặp hàng xóm thì vươn cổ như rắn ngóc đầu khỏi vựa lúa non, trưng ra nụ cười hoà nhã niềm nở. Nhưng trước mặt các bạn cao niên, bà than thở luôn mồm về nàng dâu mới về còn đần độn, cung cách đặc sệt con nhà bần nông. Ban đầu các bà bạn vì tế nhị cũng hùa theo chê trách, nhưng lâu dần hoá nhàm, họ đành ngán ngẩm chịu đựng màn than van vô tận của cô giáo già.

“Không bằng một góc con dâu nhà người ta!” bà giáo ca cẩm. “Rồi sắp tới đẻ đái lại khổ cái thân già này thôi!”

Thế rồi Thương hạ sinh một đứa con trai ngay trước Tết âm, bà giáo lại vui như mở cờ trong bụng. Bà đích thân xuống uỷ ban cùng Tuấn làm giấy khai sinh, và đặt cho thằng cháu đích tôn một cái tên rất kêu: Gia Bảo; bản thân bà cũng cật lực coi sóc cháu nhỏ. Bất chấp sự bao bọc chặt chẽ của cả gia đình, thằng bé vẫn còi cọc, da vàng như nghệ và trông chẳng lanh lợi tẹo nào. Thấy cháu quặt quẹo bà giáo lấy làm buồn phiền lắm… Riêng Thương càng vì thế mà yêu con hơn, yêu đến phát cuồng. Quả thực kiếm khắp làng cũng không thấy ai yêu con như cô ta. Cô cáu bẳn khi mẹ chồng giành cu cậu ra khỏi mình, cô lườm nguýt khi họ hàng tới thăm nắn nắn ngấn tay ngấn chân của thằng bé, còn ai đòi thơm má nó thì cô đến là thất đảm… Tóm lại, cô luôn ghen bóng ghen gió dù chính cô cũng không rõ nguyên cớ tại sao.

Bây giờ thì trong nhà bắt đầu diễn ra một trận sống mái giữa mẹ chồng và nàng dâu về cách chăm bẵm con mọn. Những cuộc cãi cọ phần nhiều khởi nguồn từ bà mẹ chồng. Vốn rảnh rang nên bà cật lực bới bèo ra bọ và thường thường bà lên giọng hạch sách vào giờ ăn tối. Khi thì bà nhận xét rằng bát đĩa rửa chưa sạch, khi thì bữa ăn không đủ chất, khi thì trách móc con trai chống cùi tay lên đùi lúc ăn, khi thì bà than thở cháu trai quặt quẹo, nàng dâu ít sữa, chăm chút không mát tay. Và bà quy tội cho cô về tất tật những chuyện này. Thanh danh bị uế tạp đã đành, trật tự cố hữu cũng bị đảo lộn vì chị chàng đến là đuểnh đoảng, do đó bà đâm tức bực, và tự giao cho mình nhiệm vụ phải càng riết róng canh chừng, xét nét cô ta từng li từng tí… Vốn quen nói ngoa nên đôi khi bà mạt sát con dâu bằng những lời lẽ không được xứng danh nhà giáo cho lắm. Thoạt đầu Thương ấm ức và đem chuyện phàn nàn với chồng, nhưng lần nào anh cũng đấu dịu theo hướng chủ hoà, đến nỗi dần dà cô hiểu rằng anh sẽ chẳng thể giúp được gì cô, cho nên cô thôi không mách nữa, mà chỉ lẳng lặng nghiền ngẫm cảnh ngộ bi đát của mình. Và càng thấm thía cảnh ngộ của mình bao nhiêu, cô càng căm ghét mẹ chồng bấy nhiêu. Cô bắt đầu mong bà chết đi, nhưng phần vì sợ phải tội, phần vì nhận thấy viễn cảnh khó lòng xảy ra, cô càng não nề hơn và kết luận rằng thảm trạng của mình là vô phương cứu chữa. Cô coi mình là một kẻ tối bất hạnh, cô oán giận, giấu giếm niềm oán giận đó, và lòng hiềm oán ngấm ngầm này của cô càng đơm thêm sự đay nghiến của bà mẹ chồng.

Tuy cảm biết được mối hiềm khích giữa mẹ chồng nàng dâu và bị lương tâm thôi thúc phải đứng về phía vợ, những lời đàm tiếu về quá khứ bất hảo của Thương đã phần nào ảnh hưởng đến Tuấn. Giữa cảnh vợ bìu con díu, anh bỗng đánh bạn với ma men và thường mò về trong tình trạng say bí tỉ. Khi tỉnh táo anh ra sức bao bọc vợ bao nhiêu, thì nốc rượu vào anh càng thẳng tay đánh đập vợ bấy nhiêu. Có cảm tưởng anh ta cho rằng vì mình là chồng, là người cưu mang cô nàng khốn khổ, hơn nữa còn phải ăn lại đồ thừa của kẻ khác, do đó vợ phải chịu ơn anh và anh có đặc quyền được đối xử với cô ra sao thì ra; những lúc ấy mặt anh đỏ phực, mắt trợn ngược, cúc ngực mở phanh, xắn tay áo đến tận khuỷu, anh vớ được cái gì dùng cái nấy, khi thì cán chổi, khi thì cần câu, không kiếm được gì thì dùng tay vả đôm đốp. Vừa đánh anh vừa rủa: “Con đĩ, con đĩ, mày ngủ với bao nhiêu thằng rồi!”, và liên tục doạ dẫm sẽ quăng vợ xuống giếng. Dạo đầu Thương gắng gượng chịu đựng những trận đòn tới tấp vô nguyên cớ ấy, nhưng lâu dần cô bắt đầu phản kháng, cũng đổi cách xưng hô và quay lại nhục mạ chồng, và xét về tính khí cùng mức độ sát thương của lời nói thì hai bên cũng một chín một mười, không ai chịu thua kém ai. Rồi cũng chính hai con người trái nết ấy, chỉ một lát sau, lại sà vào vòng tay nhau và ân ái cuồng nhiệt tới khi mệt lả. Vai kề vai, chồng ra sức dỗ dành và thề thốt sẽ không tái phạm, vợ cũng nhắm mắt đưa chân, nhưng hễ có cơ hội là họ lại đánh đập, chửi bới, không nề hà mà quẳng vào nhau những tính từ miệt thị nhất.

Chuyện cứ dằng dai như thế suốt ba tháng trời. Một buổi trưa, Thương trở về sau khi đem cặp lồng lên xưởng gạch cho chồng. Mệt phờ vì phải cuốc bộ, cô vừa bước vào gian khách thì bắt gặp bà Xoan đang lén cho thằng cu bú sữa từ một túi trữ (bà xin từ hàng xóm, nhà này cũng vừa có sản phụ mới sinh). Lúc ấy cô cảm thấy máu trong người như sôi lên, giận đến mức quên hết cả nhún nhường lễ độ; cô hùng hổ tiến tới, dậm chân thình thịch, buông xõng một câu đầy xấc xược:

“Sao u phải đi xin sữa?”

Bà già cố tình làm thinh, rung rung đùi, bàn tay vẫn thong thả đưa lên đưa xuống bịch sữa. Trông thằng bé mút chòm chọp cái của vay mượn ấy, Thương điên tiết giật phắt ra, khiến sữa vung vẩy khắp sàn, dây cả lên mình mẹ chồng; rồi cô khựng lại như để lấy hơi và rống lên như loài thú dữ:

“Sao phải thế? Hả?”

Tiếng khóc oang oang của thằng bé vang dội khắp nhà. Bà giáo cơ hồ thất kinh vì những lời lẽ hết sức táo tợn của nàng dâu: trước nay cô ả vẫn luôn phục tòng mọi ý chí của bà. Môi bà tím ngắt, hai mắt trợn ngược lên, bà rống lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

“Tiên sư con này láo toét!”

“Bà đưa cháu đây!” Thương nói như ra lệnh, giành lấy thằng cu từ tay mẹ chồng rồi chạy biến lên lầu…

Chập tối Tuấn trở về. Từ trên gác Thương cũng nghe rõ mồn một cái giọng ngoa ngoắt của mẹ chồng đang mách chuyện với anh con trai. Rồi cô nghe tiếng bước chân như tiếng búa nện của chồng khi anh leo cầu thang, càng ngày càng gần, và im bặt. Anh đứng chắn ngang ngưỡng cửa, cô ngồi ngoan ngoãn cạnh mép giường, vẻ rúm ró, cam chịu tựa hồ con chó sắp bị chủ đánh phạt. Tuấn nhìn quanh quất khắp phòng, thấy con trai đang nằm trong nôi, rồi anh mắm môi, trừng trừng nhìn vợ, trông gương mặt đỏ dừ của anh cũng đoán biết được anh đang trải qua một sự tranh đấu nội tâm dữ dội thế nào.

“Hay ho nhỉ?” anh buông độc một câu rồi bỏ ra sân thượng, châm thuốc.

Lát sau anh trở vào, nét mặt cơ hồ đã dịu vợi đi. Những nếp nhăn trên trán chùng xuống. Anh đằng hắng vài hơi rồi bắt đầu bài giảng muôn thưở của mình về phép tắc, về phận làm dâu, về thói kính trên nhường dưới… Cứ theo anh nói, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy, bất kể chuyện gì cũng thế thôi, rằng mẹ chồng nàng dâu khục khặc với nhau là chuyện thường tình, rằng những lúc cần thiết thì anh đây vẫn có thể phân bua phải trái ra trò, và thi thoảng anh còn gằn giọng tỏ ý rằng vợ hãy biết điều vì anh mà nóng máu lên thì không xong đâu. Còn đối với Thương, tất cả những lời lẽ sáo rỗng ấy chỉ quy về một câu hỏi duy nhất: bao giờ thì kết thúc những điều này? Nhưng Tuấn dường như không đoán được ý nguyện của cô, anh vẫn nói sa sả và bởi vợ cứ im ỉm như thóc, anh bực quá mới vả cô một cái. Rồi một cái, một cái nữa. Lời qua tiếng lại, như thể tăng xông, Tuấn nhảy bổ lên giường, một tay quặp chặt cổ tay vợ, tay còn lại vả vợ chan chát như khua chèo. Thương dùng dằng giẫy ra, nhưng dưới cái thân hình hộ pháp kia, cô chỉ còn biết khum tay che mặt, cam tâm hứng chịu trận đòn trút xuống như mưa.

“Sau tao nói thì phải trả lời, nhớ chửa?” lát sau Tuấn nói với vợ khi đã thoả thuê.

“Mày cứ đánh tiếp đi, đánh mạnh vào!” Thương ngồi rúm ró bên thành giường, vừa lau máu trên môi vừa trâng tráo khích bác. “Mày chỉ được có thế!”

“Mày nói lại xem nào!”

“Thằng khốn nạn! Mày cứ hứa, hứa mãi, rồi xem mày làm được cái gì! Mày chỉ biết đánh tao thôi!”

Nói tới đây Thương lăn đùng ra khóc rũ rượi. Tuấn toan vào thế, không hay để ý đứa bé bị tiếng động làm cho tỉnh giấc, nãy giờ nó la khóc vô cùng dữ dội. Khó tin nổi một cái cuống họng nhỏ nhắn có thể phát ra âm thanh chói tai đến thế. Thương chạy vội về phía chiếc nôi và ôm chặt thằng bé vào mình, nhảy phắt về sát góc tường. Vừa dỗ con vừa khóc, cô ném ánh nhìn căm phẫn vào chồng, giữa làn nước mắt, giọng cô gằn lên cơ hồ đe doạ:

“Tao biết mày cưới tao chỉ vì thương hại! Mẹ con mày cứ đánh chửi tao thế nào cũng được, nhưng con tao phải để tao nuôi! Bố tổ, con giun xéo lắm cũng quằn, tao chẳng dám hứa trước đâu. Nếu mày thực sự quý trọng con mày thì đừng dồn tao đến mức đường cùng, lúc ấy tao sẽ chẳng ngập ngừng đắn đo mà nhảy xuống giếng cùng với thằng bé này! Lúc đấy mày đi mà vớt xác hai mẹ con tao!”

Tuấn rùng mình. Anh ta nhìn đôi mắt sòng sọc tia máu của vợ, sửng sốt vì bị đe doạ bởi chính lời đe doạ mà mình vẫn hay dùng. Vẻ mặt anh có vẻ hằn học của người vừa chơi khăm người khác nhưng bị kẻ đó chơi lại một vố đau hơn. Anh ta dường như bực mình vì đã tỏ ra bối rối, hơi sượng sùng vì chịu lép vế trước lời hăm doạ kia, nhưng đồng thời không thể không tin tất cả có thể trở thành sự thực: Thương tất nhiên là thuộc loại người đến con mình cũng không tiếc nữa huống hồ tiếc cái thân mình.

“Sang năm mình dọn ra riêng,” anh ta cả quyết nói sau một hồi thinh lặng. Thương chẳng nói chẳng rằng, anh ta dằn giọng nhắc lại:

“Nghe gì không? Sang năm mình dọn ra riêng! Sớm muộn gì cũng phải thế, nói thật tao cũng chẳng chịu nổi cái tính chấp nhặt của bà già.”

“Có thật không?” đến đây người vợ ngước mắt nói với vẻ ngờ vực.

Một quãng lặng trong đó đôi bên dò xét nhau.

“Thật không?”

“Thật!”

“Mày hứa đi!”

Tuấn chần chừ vài giây, vẻ miễn cưỡng, rồi nói:

“Tao hứa!”

Lúc ấy, người đàn bà cảm tưởng mình có thể ăn thêm chục cái tát nữa cũng không xi nhê, rằng dù thế nào thì cô vẫn vui như thường. Giữa đêm khuya thanh vắng, đứa bé vẫn kêu oe oé, còn mẹ nó thì vừa khóc nức nở vừa cười man dại trong sự sửng sốt của đức lang quân. Mười hai giờ, đoàn tàu chở than xình xịch kéo qua. Trong căn buồng nhỏ, vợ chồng lại vần nhau đến mệt lử rồi lăn ra ngủ như chết, như chưa từng có cuộc cãi vã nào…

5.

Ba tháng nữa qua. Như thể có một phép màu, đứa bé dần dần khoẻ mạnh hơn, thân mình trở nên bụ bẫm, bắp tay bắp chân tròn trặn, má núng nính. Sự phổng phao của nó tạm thời lắng đọng những xung khắc trong nhà và gây ảnh hưởng rõ rệt tới từng thành viên. Bà Xoan đon đả như thể hồi xuân, Thương vẫn củ mỉ cù mì và tận lực nâng niu con nhỏ, còn Tuấn từ sau vụ kia thôi không dám động thủ với vợ nữa. Nói không ngoa vợ chồng ăn ở với nhau còn hoà thuận là khác. Họ cùng kiên nhẫn dõi theo sự phát triển của cậu quý tử. Thằng bé bắt đầu tập lẫy, rồi ê a những tiếng đầu tiên, tỏ ra là một cu cậu hết sức hoạt bát, hiếu động. Đường nét của nó giống Tuấn như tạc, và tuy ai bế nó cũng theo, nhưng riêng bố thì bám chằng chằng.

“Không sao dứt nổi cái ông cụ này,” Tuấn làm bộ ngúng nguẩy, uốn dài giọng như hát. “Thôi ông lớn nhanh cho tôi nhờ, ông tướng ạ!”

Anh ta quả thực đã tu chí làm ăn, bắt đầu biết chắt chiu, dè xẻn. Chủ quán bia tiếc hùi hụi vì sự tiết chế bất ngờ của một khách hàng thân thiết. Trong sáu tháng, anh ta để riêng được năm trăm viên gạch ba banh, cùng năm chục tấm lợp bờ lô chất đống đằng sau vườn nhà, dưới cây mít na mà anh tự tay đốn sát gốc. Vườn tược quang quẻ, có đôi chim chào mào không biết từ đâu ngày nào cũng tới đậu trên bờ giậu và cất tiếng hót lảnh lói. Nghe tiếng người chúng bay vút đi, Tuấn bồng con nhìn theo chúng, rồi xốc nách nhấc bổng thằng bé lên cao như Rafiki bế Simba trước mặt toàn thể muông thú.

“Cái ông kễnh này!” anh ta thích chí reo lên. “Tôi xây nhà cho ông đây, sau này lớn rồi xây lại cho tôi nhé! Sao nào, ông có nhất trí với tôi không?”

Đứa bé bật cười khanh khách, giơ đôi bàn tay mũm mĩm quặp chặt hai tai bố. Tuấn liếc mắt nhìn Thương đang đứng phía sau, cả hai phì cười. Sau khi xoay vòng con trai thêm vài lượt nữa, anh trả nó về tay vợ; cô ta khạng nạng địu con bước vào nhà. Còn lại một mình, anh đứng trầm mặc rất lâu trước đống gạch ba banh, châm thuốc hết điếu này đến điếu khác. Như viên kỹ sư lập đồ án một công trình, anh ta trù tính, phác thảo, sắp đặt đời sống tương lai của mình, và chu đáo đến mức định đắp một cái bể nhỏ cho thằng con trai vày nước.

Ông quản đốc tạt ngang hiên nhà, chú cháu nghếch đầu chào nhau.

“Tôi bảo có sai đâu, hở cô giáo, cứ cưới vợ vào là khác hẳn!” ông ta thầm nhủ, rất hài lòng vì sự ứng nghiệm này.

6.

Tin tức về tai nạn của Tuấn đến giữa đêm. Anh bỏ mạng giữa xa lộ, toàn thây biến dạng không rõ hình người, óc văng ra ngoài bờ ruộng. Một lão hàng xóm goá vợ tên Gia bấy giờ đang đánh kích trộm ngoài đầm, quen thói hóng hớt bèn tót lại chỗ đám đông. Người ta tưởng lão là thân quyến người bị nạn, vì lão bỗng rú lên kinh hoàng trước đống bầy nhầy, rồi lão nôn thốc nôn tháo, chống tay vào cột mốc cho khỏi ngã… Hoàn hồn rồi lão phi hết tốc lực về làng báo tin. Đêm ấy cả xóm thức trắng vì tiếng thét bi thảm đến xé lòng của người vợ trẻ…

Tuấn chết vào mùa đông, rồi xuân đi đưa hạ tới, và mùa thu vội qua, một mùa đông giá rét nữa ập về. Khi bất kỳ ai đi ngang hiên nhà, họ lại nhớ về người quá cố; và hễ họ bắt gặp bất cứ ai trong gia đình bà giáo trên đường đi chợ buổi sáng hoặc đi tập thể dục buổi chiều, điều này cũng lại đánh động cho họ nhớ về vụ tử nạn kinh hoàng kia.

Dường như một màn tối đã giăng xuống căn nhà. Cảnh nhà ảm đạm hơn, bắt đầu có những vết tróc trên trần, mưa trút xối xả xuống các máng sắt hoen gỉ; con chó già đâm đầu vào tàu hoả gãy làm đôi, như thể tự hoá kiếp khỏi tình cảnh tù túng, rồi cả xóm nhặt phần thây lành về giết thịt; gà toé bậy đầy khoảng hiên nhỏ, cỏ dại chen nhau mọc trên các lối… Và Thương dường như cũng ám vào mình cái vẻ ủ dột. Cô đau ốm triền miên, thân hình choắt cheo, mặt dài vêu ra, da dẻ xám ngoét cả lại. Ma chay, giỗ giếc, con mọn, sự lãnh đạm vô ưu của nhà chồng, ánh nhìn thương cảm của hàng xóm – tất cả chuyện này làm cô kiệt lực và dồn cô đến nước tuyệt vọng.

“Chồng mất thì còn con,” bà Xoan cao giọng của người từng trải. “Chao ôi! Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, cái số kiếp tôi hẩm hiu như chén cơm nguội! Lại còn thằng bé, tí tuổi đầu đã mồ côi cha!”

Bà cũng buồn, khóc ông ổng trước mặt khách viếng, nhưng lại đẫy đà hơn, da trắng lốp, và chẳng vì con trai mất mà bà ăn ít đi hay ngủ bớt ngon đi. Bà vẫn nhẩn nha đọc báo vào buổi sáng, đi bách bộ vào buổi chiều, thi thoảng dự lễ hầu đồng, trên đường về tán chuyện cùng bạn cao niên. Vợ chồng Tú báo tin sắp có con đầu lòng, bà túc trực bên đấy luôn. Họ toan tính một chuyện gì đấy, về đất đai, và Tú gần như ngày nào cũng tất bật bôn hành, mày râu nhẵn nhụi, gặp người quen dưới uỷ ban thì vồn vã chìa tay ra bắt, với nụ cười bí ẩn gắn chặt trên môi.

Một chiều tháng sáu, Sương ngồi một mình bên bàn tiếp khách, im lặng trông ra khoảng sân. Bên ngoài trời nóng nực, đến con chó cái cũng hoá uể oải, nằm sõng soài trong chuồng, thi thoảng lại cất tiếng rên rỉ yếu ớt, giả dụ có khách vào nhà hay trộm tới khuân hết đồ đạc đi thì nó cũng thây mặc, chẳng buồn đứng dậy mà tiếp nữa. Sương vẫn ngồi im trông ra khoảng sân ngập nắng, đầu ong ong. Cô thấp thỏm chờ đợi như bứt rứt điều gì…

Bỗng nghe tiếng then cổng rít lên. Cô ta chạy nhào ra hiên; qua bờ giậu, cô thấy bà Xoan tay cắp nón bước vào nhà. “Sao lâu thế nhỉ?” cô ta tự hỏi lúc trở vào trong, nôn nóng dậm chân bần bật xuống sàn như ngồi máy may. Tú xuống uỷ ban từ sáng và hẹn trưa sẽ trở về, nhưng đã ba giờ chiều rồi vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Cô ta sốt ruột ngóng đợi, dỏng tai nghe ngóng từng tiếng rịn ga, tâm can chộn rộn vì niềm hiếu kỳ thiêu đốt.

Cuối cùng có tiếng đế giày đánh cộp ngoài thềm. Tú bước vào nhà, tay ve vẩy một tập hồ sơ màu đỏ mỏng tang; bắt gặp cái nhìn rào đón của vợ, gã nhoẻn miệng cười ranh mãnh.

“Xong rồi!” gã nói với vẻ hài lòng của người vừa lập chiến công.

Cô vợ cập rập kéo chồng ngồi xuống.

“Cứ từ từ,” gã giơ tay trước mặt chặn lại, cùng lúc mắc nón kepi lên cây treo đồ, đoạn ngồi xuống cạnh vợ, nới lỏng cà vạt, chân nọ vắt chân kia, ngả lưng vào tấm nệm đầy khoan khoái.

“Mang xin cốc nước! Nước đá nhé!”

Người vợ chạy vù vào bếp, trở lại ngay, trao ly nước cho chồng bằng cả hai tay. Tú nốc cạn như thằng chết khát, “khà!” một tiếng rất to, đoạn hắng giọng.

“Đúng là số hên!” gã cất lời. “Tự dưng gặp được thằng Xuân, cái thằng đợt Tết vào thăm nhà mình ấy. Lai rai một hồi mới té ra ông chú nó làm chủ tịch. Ông già nó vừa mất, nó cũng đi làm hồ sơ giống mình. Vậy mà đếch nói sớm! Anh mới nhờ nó nói đỡ vài câu. Thế là xong! Giấy tờ đây,” anh ta quăng tập hồ sơ xuống mặt bàn, “giấy chuyển nhượng, giấy cam kết, rồi hồ sơ đủ cả.”

“Thế là xong chửa anh?” Sương ngơ ngác lật giở tập hồ sơ một hồi rồi hỏi, hoàn toàn mù tịt.

“Xong thế nào nhanh thế!” gã phẩy tay đáp. “Bây giờ con bé kia nó phải ký vào đây, đồng ý sang tên cho bà già. Còn phần đất của thằng con thì để nguyên đấy, mình được quyền khai thác trên cơ sở giám hộ. Tất nhiên cũng phải bưng bít chút đỉnh, nhưng… người ta nói thế nào ấy nhỉ… à… phải rồi… muốn ăn cá cả phải thả câu dài. Vậy đấy…”

“Trời ạ!” Sương nói, lúc lắc đầu. “Chắc gì nó đã chịu ký mệ! Bây giờ phải làm gì đó!”

“Dĩ nhiên là phải làm gì đó! Nghĩ đi!”

Hai vợ chồng nhìn nhau chằm chặp tựa hồ đang trao đổi ý nghĩ qua ánh mắt.

“A!” Sương kêu lên. “Thế mà không nghĩ ra”

“Thế nào?”

“Con bé kia nó có biết chữ đâu!”

Tú im lặng, vẻ khó hiểu. Sương vồn vã lý giải:

“Thế này, giờ anh lựa lời bảo nó ký vào đây, bịa ra một cái lý do gì đấy. Anh bảo nó chuyển hết đất đai của bà cụ, rồi bà chết không về mình thì về ai. Mà từ dạo ông Tuấn mất bên đấy em thấy cũng chí choé tối ngày, bà cũng muốn tống cổ nó đi từ lâu rồi. Chẳng qua bà sợ thiên hạ dị nghị đấy thôi!”

“Tài thật!” Tú thầm nhủ, và gã ra vẻ suy tính dù trong lòng rất hài lòng với mưu chước mà vợ gã vừa bày ra, đoạn gã nói:

“Được đấy! Vậy phen này phải nhờ bà già một thể rồi.”

“Thế anh thưa chuyện với u luôn đi!”

“Hừm,” Tú nhíu mày nói, “từ từ xem nào… mới tính thế…”

“Từ từ cái gì! Bà cũng đến tuổi lẩm cẩm rồi, chỉ muốn cốt cho xong chuyện thôi.”

Đoạn Tú đứng dậy, bước ra hiên, dóng mắt về phía nhà bà Xoan.

“U có nhà không?” anh ta hỏi vợ.

“Có đấy!” cô ta hăm hở tiếp lời. “Em vừa thấy bà xong, chắc đang ngồi phòng khách. Anh sang mau đi!”

Và cũng hơi lần chần, gã vòi thêm một cốc nước nữa, tu ực như nuốt luôn nỗi cấn cái trong lòng, rồi gã cắp theo tập hồ sơ bước sang, đầu vẫn bận rộn với những suy tính. Đằng sau, vợ gã mắm môi nhìn theo.

7.

Tháng bảy. Mưa rả rích ngày đêm, đàn ruồi vo ve bên ô cửa sổ, bên dưới bậu cửa xác ruồi chết như ngả rạ. Từ vườn đưa lại cái mùi tanh nồng đặc trưng của nấm mốc ứ đọng sau nhiều ngày oi bức. Bà Xoan ngồi bên bàn pha chè, một tay chống cằm, một tay nắm quai cốc nước chè nghi ngút khói. Bà ngồi im như tượng, những nếp nhăn trên trán hằn sâu cho thấy bà đang suy nghĩ rất hung. Trên lầu, Thương lăng xăng chạy đi chạy lại nô giỡn cùng đứa con nhỏ. Thằng bé nằm trong võng, còn cô đứng cạnh khung cửa, chụm tay che mặt.

“Ú…oàaaaa! ú… oàaaaa!”

Rồi chạy vụt đến hôn hít điên cuồng. Cũng như mọi khi, trông thấy mẹ, thằng bé hé cái miệng chưa mọc răng bật cười khanh khách, vẫy vẫy hai bàn tay mũm mĩm như hai nắm cơm tròn trĩnh.

“Ôi, sao mà kháu thế không biết,” Thương nhìn con hồi lâu, vừa nói vừa kéo vạt áo chặm nước mắt. Rồi cô bồng thằng bé lên, ngả đầu nó vào vai, thầm thì như nói với chính mình. “Tội nghiệp con tôi! Cục vàng của mẹ! Bố thương Bảo đến thế… Mẹ cũng thương Bảo lắm, nhưng không bằng bố được! Thế Bảo có thương mẹ không?”

Thằng bé im re, chỉ nhoẻn miệng cười khoe vành lợi nhợt nhạt, nhưng cô hiểu hết, hiểu rằng nếu nó nói được, nó sẽ bảo cô rằng nó có thương. Cô yêu nó quá! Cô đã trút tất cả sức mạnh của mối tình mãnh liệt nhưng đầy sóng gió với ông chồng quá cố vào đứa con độc nhất này. Và ở nó cô thấy niềm hy vọng, như ánh sáng le lói phía cuối đường hầm. Cô thích thú tưởng tượng mai này nó sẽ trở thành một ông lớn nào đó, nó sẽ lớn phổng phao như Thánh Gióng, tay chân cứng cáp, đỏ da thắm thịt, sự trưởng thành của nó sẽ giúp cô khuây khoả, sẽ là niềm an ủi tinh thần mà qua đó cô có thể đạp bằng mọi gian nan, sóng gió…

Bỗng cô nghe tiếng văng vẳng vọng lên từ dưới lầu. Tiếng gọi lặp lại rõ ràng hơn. Cô đặt con vào võng và đứng thẳng, rồi không kìm được lại cúi xuống hôn chụt một cái. Cô đóng cửa thật khẽ rồi bước xuống cầu thang. Cô thấy mẹ chồng đang ngồi sau bàn pha chè; vẫn một tay chống cằm, một tay nắm chặt quai cốc. Bà bảo cô ngồi xuống đi và cô ngồi xuống, hơi lừng khừng vì cuộc nói chuyện bất thường này. Cô im lặng ngắm nhìn bà; bà mặc một chiếc áo thụng màu đen bằng vải lanh rất tươm, bận chiếc quần lửng bằng lụa màu đen y chang, in hằn một vết nhàu nhĩ do khuỷu tay bà chống lên nãy giờ. Bà để mặc con dâu suy đoán rồi tự tay rót một tách trà, đẩy về phía cô, vẻ mặt nghiêm cẩn như đang làm kế toán.

“Có việc gì thế mẹ?” Thương rụt rè hỏi.

Vẫn lặng thinh.

“Mày còn trẻ, mới có mười tám đôi mươi,” cuối cùng bà giáo mở lời. “Thôi thì sống chết có số, việc xảy ra cũng xảy ra rồi.

Thương không hiểu gì, mặt vẫn ngẩn ngơ, bàn tay vần vò mép áo, mím chặt môi. Bà già tiếp:

“Tao thú thực suốt từ hôm ấy tới giờ tao ăn không ngon, ngủ không yên,” bà khựng lại, đánh mắt dò la phản ứng của con dâu, “tao biết mày còn thủ tiết chứ chưa vội cải giá ngay. Đó là điều đáng quý… Phải, đáng quý… Nhưng mày còn trẻ, trẻ lắm, ở vậy rồi phí tuổi xuân ra… Mà… tao biết mày sống với tao cũng chẳng dễ chịu gì, tao cũng chẳng muốn chì chiết mày, nhưng khổ cái tính tao nó thế! Giờ mày có đi bước nữa tao cũng chẳng oán trách. Đời ai nấy sống, tao bây giờ không còn quyền hạn gì với mày cả. Mày hãy coi như giữa chúng ta không còn ràng buộc… Thế nào, tao nói thế mày có hiểu không?”

“Thế nào?” bà Xoan nôn nóng thúc chuyện.

“Dạ… vậy còn thằng Bảo?” Thương nói nhát gừng.

“À đấy, còn thằng bé,” bà đáp, hơi bối rối. “Cái đấy thì mày cứ yên tâm. Tao còn sống ngày nào thì còn nuôi nó ngày đấy. Thi thoảng mẹ con có thể vào thăm nhau…”

“Sao con lại phải thăm nó?”

“Thì là thế…”

“Thế tức là?”

“Ừ.”

“Không thể được!” Thương buột miệng nói to, và trước ánh nhìn điềm nhiên của mẹ chồng cô càng cáu tiết hơn, “không, dứt khoát không! Không thể…”

“Có gì mà không được?” bà Xoan ngắt lời.

“Thằng bé là con của con,” Thương nói giọng nghèn nghẹt do ảnh hưởng từ cơn xúc động.

“Thì nó cũng là cháu tao!”

“Con có thể nuôi được nó,” Thương cập rập nói không ra hơi. “Nó vẫn còn nhỏ, không thể để nó sống xa mẹ nó được. Còn bản thân con, xin thú thực với mẹ, nếu không có thằng bé thì con đến chết mất!”

“Mẹ nào mà chả thương con,” bà Xoan nói giọng ôn tồn, “dứt ruột đẻ ra đâu ai muốn cảnh chia lìa.”

“Dạ.”

“Thế nhưng mày phải nhìn lại mình: mày nghề ngỗng không có, học hành không đâu ra đâu, tiền kiếm còn chả đủ nuôi thân nói gì nuôi con nhỏ. Suốt từ lúc thằng Tuấn mất đến giờ toàn là tao nuôi nó cả chứ đâu, chứ dăm ba đồng còm của mày thì bõ bèn gì! Sao, thế chẳng nhẽ mày muốn con mày khổ? Đời mày đã thế rồi thì mày phải biết nghĩ cho đời con mày chứ!”

Bà giáo nói một tràng, không ngắt nghỉ rồi đằng hắng, có vẻ cảm thấy lý lẽ mình đưa ra hết sức thuyết phục, đoạn nhấp một ngụm chè, chốt hạ:

“Thôi thế nhé, nội trong tuần này cứ suy nghĩ rồi báo lại cho tao.”

Câu nói ấy phập xuống như một nhát dao.

Ngoài trời mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn không thôi vần vũ trên bầu trời xam xám, buồn buồn.

8.

Đã một năm trôi qua từ khi bà chị ruột ngán ngẩm đón Thương về quê ngoại. Cô vẫn đi rao sắt vụn, nhưng suốt ngày người ta thấy cô vứt chiếc xe cào cào chỏng chơ bên khóm cỏ gà rồi bơ thờ rảo bước dọc theo đường ray, hết đứng lại ngồi, đôi mắt vô hồn như nhìn vào chỗ trống. Cảnh nhà cũng không yên ả. Thoạt đầu hai chị em cãi cọ liên miên vì Thương nằng nặc đòi đón con về cùng mình. Bà chị cực lực phản đối do phát hoảng với cái ý nghĩ phải đèo bòng thêm một miệng ăn, nhưng rồi đốm lửa tàn nơi đáy tim bà nhóm dậy, bà đích thân tìm đến nhà bà Xoan đề nghị thi thoảng cho cháu trai về quê ngoại dăm ba ngày. Bà Xoan bán tính bán nghi nhưng rồi vẫn bằng lòng, với điều kiện bà phải đi theo kèm cặp. Họ xếp cho bà căn phòng sát vách gian khách, thường ngày làm phòng ngủ của anh con trai đang theo đại học trên thành phố. Bà canh chừng hai mẹ con Thương không ngơi nghỉ, mắt thao láo như loài cú vọ, có cảm tưởng một con ruồi bay ngang cũng phải sợ mà bay vòng đường khác. Còn thằng Bảo không uổng công bà nội dung dưỡng, dần dà nó quấn quýt bà bằng cái nhiệt tình hồn nhiên của tụi trẻ con, và điều này khiến Thương đau khổ khôn tả, giá có thể móc tim rồi liệng ra vườn thì cô đã làm rồi. Thời gian ở cạnh con sao mà chóng vánh, hai ngày trôi nhanh như hai canh đồng hồ. Như mọi khi, đến lúc tiễn hai bà cháu ra về, cô khóc thổn thức, bịn rịn không muốn rời con. Trông thấy mẹ khóc, thằng bé sợ sệt víu lấy áo bà. Nó còn nhỏ quá, nó chưa hiểu được tấn thảm kịch vừa ập xuống gia đình nhỏ của nó, cũng như chưa hiểu được vũng lầy ngập ngụa mà mẹ nó vừa sa vào, còn bà già chỉ lẩm rầm rằng con mẹ nó bị dấm dớ đấy thôi.

Một tối thứ bảy, Thương nói với chị:

“Em nhớ con quá, chị ạ! Tuần nào gặp nó em cũng khóc. Nhưng thương con quá nên em mới khóc đấy thôi! Em mất mẹ, mất chồng, bây giờ thì mất cả con. Chị nghe em không thế? Thế đấy, em khổ quá… Sao chị biết mà chị không bênh em?”

“Thôi em ạ,” bà chị đã quá quen với cái tính mau nước mắt của cô em, nên bà kiên nhẫn nói lại những điều mà bà thường nói, “âu cũng bởi cái số. Bây giờ mày đưa thằng bé về đây tao với mày cầy cục cũng không kham nổi. Quay đi quay lại nhà nội họ vẫn có quyền. Tạm thời mình cứ gửi con ở đấy, sau này nó lớn nó tự khắc biết theo ai.”

“Ôi, chị nói thế! Nó còn nhỏ, có biết cái gì đâu! Nó sẽ quên em mất!”

“Lại nói lằng nhằng rồi,” bà chị lầm bầm, vỗ nhẹ vào lưng em gái đang run rẩy từng hồi. “Thôi nguôi nào, mai hai mẹ con mày gặp nhau rồi mà…”

Trời đêm vắng lặng, nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo trên chạn bát, đám muỗi vo ve như than oán điều gì… Thi thoảng con chó ngoài chuồng cất tiếng kêu tru tréo lạc điệu giữa cảnh thanh vắng, rồi tắt ngấm như bị màn đêm nuốt chửng…

“Chết chửa,” bà chị hỏi, như sực nhớ ra một dự định, “thế cái miếng đất kia thì sao? Giờ tao mới nghĩ ra! Miếng đất ấy thế nào rồi?”

“Em không biết,” Thương đáp, lắc lắc đầu. “Ôi, mệt óc lắm! Suốt từ hôm anh Tuấn mất đến giờ nhà bên đấy chỉ toàn đất với cát. Đến bữa một trăm ngày họ cũng nói, nói suốt, thậm chí còn đánh cãi chửi nhau!”

“Sao lại không biết? Mày phải biết rõ hơn ai hết chứ, đấy là đất của chồng mày mà!”

“Đầu tiên,” Thương cất giọng ề à như vừa nói vừa nghĩ, “sau đám tang, mẹ với vợ chồng Tú cứ bàn tính gì đấy. Họ không tiết lộ gì cho em. Em bận trông cháu nên cũng chẳng mấy đoái hoài. Về sau em mới hiểu ra, con bé Sương nó đòi xây một cái quầy thuốc. Hai vợ chồng nó dành ra được hơn trăm triệu, nhưng cần bà nội cho thêm ít vốn. Ban đầu bà cụ cũng gật gù, nhưng một hôm bà cụ đang ngồi trên bàn ăn nó nhắc lại vụ ấy, bà cụ bỗng tối sầm mặt bảo: ‘Tiền thì tao cho ngay cũng được, nhưng phải xây trên đất nhà chúng mày, còn đất này là đất của thằng Bảo, sau này nó lớn thì nó hưởng.’ Thế là con bé ấy nó lườm, lườm ghê lắm, mắt sắc như dao găm ấy, rồi nó chẳng thèm ăn, mặt sưng mày sỉa suốt bữa cơm. Nó cũng chả ở lại phụ em rửa bát, chồng nó đứng dậy là nó cũng cắp đít về luôn.”

“Ôi!” bà chị thốt lên. “Láo ghê chưa!”

“Thế rồi vài hôm sau nó lại tươi phơi phới,” Thương nói tiếp. “Nó với chồng xuống xin lỗi bà cụ, rồi bà nguôi. Đấy là một tuần trước ngày bà cụ đuổi em đi. Rồi nguyên năm ngày bà với thằng Tú đánh xe xuống uỷ ban hoài. Cuối cùng bà bảo em là đất cát bà sang hết cho thằng Bảo rồi, em không cần phải lo nữa. Thế rồi bà bảo em ký vào một cái tờ gì ấy, hình như là giấy chuyển nhượng đất. Thì em cũng giả vờ đọc, nhưng em nào có biết chữ, chẳng hiểu nó nói mô tê gì. Bà sốt ruột nên ký nhoằng luôn hộ em. Em hỏi bà: ‘Thế còn đống gạch ba banh thì sao mẹ?’ Bà mới đáp: ‘Tạm thời cứ để đấy, con ạ! Rồi đâu sẽ có đó!’”

Bà chị kiên nhẫn lắng nghe em gái kể từ đầu chí cuối, rồi bà thở dài tức tưởi, rên lên:

“Ôi thôi em ơi! Thế là chúng nó phỗng mất rồi! Đất đấy là đất của mẹ con mày, đáng ra mày phải hỏi tao trước rồi hẵng ký. Mày bị chúng nó ăn hớt rồi em ơi!”

“Thế là sao?” Thương lập bập nói.

“Là bị cướp đất rồi! Cướp đất rồi! Sao lại dại thế hở trời? Mày nhớ kỹ lại xem nào, có thật là mày ký rồi hay không?”

Thương trơ ra như đá rồi run rẩy gật đầu. Bà chị bất lực thở hắt một hơi rồi lao bổ về phòng. Ông chồng ngơ ngác một hồi rồi cũng hiểu ra sự thể, vừa nghe vợ kể lể vừa lật lại trong trí tất tật những kinh nghiệm đất đai. Trước ánh nhìn nôn nóng của vợ, ông ậm ừ bảo rằng nếu thế thì khả năng mất toi rồi, khó gỡ gạc cho nổi. Vẫn còn gượng gạo với em dâu sau vụ bê bối, từ bận Thương dọn về đây ông cực lực tránh ngó ngàng đến cô, và về chuyện này ông cũng lựa chọn thái độ tương tự, tức là làm ngơ, coi đó chẳng phải chuyện của mình. Rồi ông kêu ông đi làm cả ngày mệt rồi nên hãy để yên cho ông ngủ, ngả lưng chưa ấm chỗ thì đã ngáy tít thò lò.

Bà chị trở lại với em gái. Bà sốt sắng hỏi em một lô một tràng, nhưng, như mọi con sông đều dẫn về một biển: Vô vọng! Thương quả thực đã ký.

“Trời ơi, mày tồ quá!” bà chị buột miệng một câu, nhìn em gái đầy cay đắng như thể chính bà mới là người bị cướp đất, chứ chẳng phải cô kia…

Đêm ấy Thương nằm mãi, nằm mãi mà không ngủ được. Sự phát giác này đã nhen lại đốm lửa căm tức âm ỉ trong lòng cô. Cô uất nghẹn vì bị lừa gạt quá ư trắng trợn, dằn vặt vì bản tính ngô nghê ở mình. Và cũng đêm ấy, trong trí óc ngây dại của người goá phụ bỗng loé lên một ý tưởng ngông cuồng, – về điều này ta hãy cùng xem rồi cô có phải hối hận hay không.

9.

Một ngày, như thường lệ, bà Xoan và ông quản đốc ngồi tán chuyện với nhau. Họ đang ngồi sau bàn pha chè, ông em trai vừa khen ngợi hành động cao thượng của chị giáo già, khi đã “giải thoát” cho cô con dâu khốn khổ! Lắng nghe những lời phỉnh nịnh ấy khiến bà giáo khoan khoái, bà vừa cắn hạt bí vừa để ý đứa cháu lê la ngoài sân, nó đang vờn đám chuồn chuồn.

“Thế từ hôm ấy đến giờ cái Thương nó có tạt qua thăm con không?” ông quản đốc khẽ hỏi.

“Qua suốt,” bà Xoan đáp gọn lỏn.

“Ái dà! Con bé ấy thế mà tốt!”

“À đấy,” bà kêu lên. “Nay chủ nhật thể nào nó chả qua. Cũng nguôi rồi, nguôi rồi, nhưng lần nào gặp cũng nước mắt ngắn dài.”

Ông quản đốc vẫn làm bộ xuýt xoa, và sau một thoáng im lặng, ông hỏi thêm, vẻ đắn đo:

“Vậy còn đống gạch kia, bỏ không cũng ngót năm rồi, hay chị bán rẻ cho em?”

“Gớm! Chú mày chỉ được cái tinh tướng!”

“Dẫu sao cũng từ một lò!”

“Ừ, ừ, biết thế, còn để xem giấy tờ thế nào đã,” bà già đáp cho xong chuyện, đoạn nhấp một ngụm chè, rồi mỗi bên theo đuổi những suy nghĩ riêng. Bà chị nghĩ về thửa đất, về giấy tờ chuyển nhượng, còn đầu óc ông em vẫn quanh quẩn không dứt miếng mồi bở ăn.

Bỗng ngoài sân vang lên một tiếng thét chói tai. Hai chị em sửng sốt nhìn nhau và bổ nhào ra thềm. Chỉ kịp thấy một vệt đen lướt ngang khung cổng, như một bóng ma!

“Thôi chết rồi, thằng Bảo, thằng Bảo!” bà Xoan cuống quýt kêu lên.

Ông quản đốc liền hét to:

“Bắt cóc! Bắt cóc!”

Hai chị em vừa nháo nhào đuổi theo kẻ gian vừa la làng la nước, do đó chỉ lát sau, dân làng đã lũ lượt đổ ra, tụ thành một đám đông hỗn độn, già có trẻ có, mấy con cẩu hiếu kỳ cũng đồng loạt tru tréo réo gọi bầy đàn. Nhiều thanh niên trai tráng tưởng có trộm chó, đang dở công chuyện cũng đâm bổ ra đường, tay thủ sẵn dao, mắt đảo láo liên như mắt kẻ nghiện.

“Đâu, đâu, thằng nào?” đám đông túm tụm hỏi nhau.

“Ở đằng này!” có tiếng trẻ con vọng xuống từ đường ray.

Đám đông dáo dác nhìn về phía tiếng nói, rồi như một dòng lũ, họ hùng hổ lao ra khúc đường mòn quanh co, hành quân về phía mỏm đồi. Tiếng dậm đồng thanh nghe ầm ã như tiếng sấm dội, sỏi đạp lạo xạo dưới chân, bụi mịn cuộn tròn tứ phía. Mùi chua loét xông lên từ những thân thể còm cõi, cái mùi đặc trưng của công việc đồng áng.

Cuối cùng họ đến trước một mô đất trồng keo, hai bên bờ là hai ao nước đục ngàu màu cà phê sữa. Ở đó, họ khựng lại và thấy giữa một vách núi cheo leo chếch ra mặt hồ, Thương đang ghì chặt con trai ngang mình, nước mắt giàn giụa, thở hổn hển, ánh mắt đùng đằng sát khí. Thằng bé giãy giụa đòi ra, có vẻ nó chưa nhận ra mẹ mình, và nhìn thấy bà nội lúc này vừa hớt hải rẽ lối đám đông tiến lên, nó liền khóc ré lên, giọng lạc đi vì sợ hãi.

“Ngoan nào,” Thương ghì chặt hơn và cúi xuống nói với con, “mẹ đây mà! Mẹ thân yêu của con đây, mẹ đến đón con đây!”

Người ta đùn đẩy, người ta chen lấn; những kẻ đến sau sốt sắng hỏi kẻ đến trước, vồn vã cập nhật tình hình. Một tên nào nhanh trí đã lập tức đánh điện cho viên cảnh sát. Thằng bé càng khóc tợn hơn, mẹ nó cập rập ra sức dỗ dành… Chỉ lát sau, tiếng ống bô nổ bành bạch từ xa vọng lại. Đó là Tú, đang dở phiên gác nhưng được đánh tiếng đã lập tức phóng về ngay. Anh ta dựng chiếc bồ câu trắng giữa đường và, như con thuyền rẽ làn nước, đám đông ráo riết nhường lối cho anh ta lên. Với vẻ đĩnh đạc đường hoàng, với bộ cảnh phục nghiêm chỉnh cùng một dàn sao ánh bạc trên nền cấp hiệu, anh ta lập tức tuýt còi inh ỏi xua đuổi đám đông, rồi gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

“Mấy ông bà này xê ra, xê ra hết!”

Đám đông sợ hãi dạt sang bên, tiếng xì xào tắt bặt. Họ cùng chờ đợi ở anh ta một động thái. Bấy giờ viên cảnh sát mới quắc mắt về phía Thương.

“Còn con kia, mày làm gì thế?” anh ta gầm lên. “Mày chán sống rồi à?”

“Mày thử lại đây,” Thương trừng mắt, giọng như rít qua kẽ răng, “tao sẽ ôm con tao nhảy xuống!”

“Mày dám…”

“Mày câm đi, tao làm thật đấy!”

Bà Xoan thổn thức níu áo con trai, anh ta bực tức giật lại ba bước. Tiếng xì xào rộn lên. Ai nấy cũng thấp thỏm vì sợ. Rồi đến lượt bà giáo hớt hải bước lên, nhưng tức thì Thương lùi sát về mép vực, làm những viên sỏi sàn sạt dưới chân rơi bì bõm xuống nước.

“Cả bà nữa,” cô quát, “bà cút đi!”

Cứ thế, hễ ai mon men lại gần đều bị tiếng thét điên dại của cô làm cho chùn lại, và đám đông nhốn nháo bày mưu tính kế: phải như này, phải như kia! Lão Gia, người ngợm bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cũng lật đật tới nhập bọn. Lão cáu kỉnh cố nhoi lên, nhưng vướng phải mấy mụ sồ sề, bèn chửi đổng:

“Mẹ kiếp! Đồ ngu! Xích ra nào, đàn bà biết cái gì?”

“Ông ngu thì có!” một giọng nói chua như giấm dội lại.

“Mày bảo ai ngu? Con kia, mày đứng lại đấy!”

Lão đập phắt chiếc vợt kích vào đầu mụ kia. Mụ ta thét lên, thế là đánh cãi chửi nhau inh ỏi. Người ta ùa vào can ngăn, và ông quản đốc, lợi dụng phút lộn xộn để tiến lên, nhưng tiếng chưa thoát khỏi vành môi thì Thương đã chặn họng:

“Chú xa tôi ra, không phải việc của chú! Chú cũng cùng một giuộc với bọn nó thôi!”; và thấy ông quản đốc vẫn còn chần chừ, cô hét vang:

“Chú điếc à, xa tôi ra!”

Ông quản đốc sượng sùng đảo mắt nhìn quanh rồi cũng đành lui về cạnh chỗ hai mẹ con Tú. Đôi bên cáu bẳn liếc nhau. Vài phút trôi qua, sau rốt dân làng chọn mặt gửi vàng cho ông xã trưởng. Ông này là một lão già quắc thước tuổi ngoài lục tuần, ăn bận nghiêm chỉnh như các cán bộ hương thôn, mái đầu bạc phơ sau nhiều năm miệt mài cạo giấy ở uỷ ban xã, chùm râu muối tiêu che mất cổ. Lão đặt tay trên môi ra hiệu đám đông im lặng, rồi dấn lên một mình một hàng, mặt đối mặt với cô gái trẻ. Đúng như họ trù tính, Thương chỉ giương mắt dò xét lão già đạo mạo chứ không xua đuổi. Lão nhanh chóng biến mô đất trồng keo thành bục thuyết giảng; bằng giọng cha chú tâm tình, lão ôn tồn lý giải cho cô gái trẻ hiểu rõ tính nghiêm trọng của vấn đề. Trong thần thái, cử chỉ, dáng điệu của lão toát ra một sức thuyết phục kinh hồn; lão nói vanh vách như đọc thuộc lòng, không vồn vã, vấp váp, và lão gọi Thương là “cháu”, chắc mẩm tính chất thân mật của cách xưng hô có thể khiến cô gái nhà quê mủi lòng.

“Kìa cháu gái, sao cháu lại làm thế?” lão cố tình rên dài giọng tựa hồ rất xúc động. “Con cái là lộc trời ban… Ôi, khổ thân cháu gái tôi, làm sao mà đến nông nỗi này! Cháu trông kìa, thằng bé tái mét cả rồi, việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của nó. Cháu hẵng khoan, hãy bình tâm lại, hãy suy xét tình hình. Mọi chuyện đều có cách giải quyết của nó. Nào, nào, hãy thả thằng bé xuống, rồi nói ta nghe cháu muốn gì? Đừng nghĩ quẩn, trẻ con không đáng chung tội với người lớn.”

“Lũ phong kiến các người,” Thương dường không để ý đến lời của lão, ném một tia nhìn hằn học vào mẹ con bà Xoan, “lũ đốn mạt các người! Các người cướp con của tôi, cướp đất của chồng tôi. Ôi, đến nước này thì tôi sẽ nói hết! Các người ăn hối lộ, các người coi tôi như con trâu kéo cày, vậy mà các người vẫn ra vẻ cao đạo liêm khiết! Còn chồng tôi khi sống thì các người rẻ rúng, khinh miệt, đến chết vẫn bị chính máu mủ bòn đãi! Gái này thà chết còn hơn!”

“Ấy đừng, đừng!” lão già đâm hoảng khi thấy cô gái bốc lên.

“Có thật bác hiểu cho tôi không?” cô giương mắt hỏi lão, giọng nghẹn lại vì bao uất ức bị đè nén bấy lâu.

“Tất nhiên là bác hiểu! Tạm thời hãy thả thằng bé xuống đã.”

“Phải đấy, phải đấy, thả thằng bé xuống đi cô!” đám đông đồng thanh hưởng ứng.

Thương thở hổn hển vì xúc động. Cô chợt thõng vai, và thằng bé thừa lúc sơ hở nhanh nhảu tuột phắt xuống. Kìa! nó chạy như bay về phía bà nội. Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Thương hoảng hốt nhìn theo những bước chạy của nó, toàn thân sững sờ như hoá đá. “Thôi chết rồi,” ý nghĩ này cắt ngang đầu cô.

“Lại đây con!” cô hét lên và chạy bổ theo thằng bé.

Nhưng cô không bao giờ bắt kịp nó. Nhanh như cắt, lão xã trưởng túm lấy nó, bà giáo dang tay chực sẵn, thốc cháu lẹ làng như xách một cái bị và lập tức lỉnh về phía sau. Tất cả nín bặt…

Chưa bao giờ một người đàn bà có thể thảm hại tới thế. Sự can đảm tan ra như khói, Thương co rúm lại như một con rùa rụt cổ. Cơn giận bỗng xẹp đi, cô cảm thấy chỉ muốn khóc. Cô cảm thấy trơ trọi trước đám dân làng, như thể cô đang độc thủ chống chọi cả một toán quân đông hơn mình gấp bội, người ta cầm giáo, cầm mác còn cô chỉ có tay không. Cô cắn chặt môi để khỏi khóc, nhưng hai dòng lệ cứ xối xả tuôn ra như thác đổ. Dân làng nhìn cô đầy ái ngại, không ai biết làm gì, quyết định gì với cô nàng xốc nổi này…

Rồi cô lê đôi chân trần về phía con trai. Nhưng cô càng tiến thì đám đông càng lùi, và đầu gối cô run bần bật, cô ngã chúi nhủi như đứt gánh. Người ta dè chừng như đang đối mặt một con thú dữ. Cô gào rú tức tưởi, cô đập đầu xuống đất, cô tự vò đầu bứt tóc, cô bấu víu những hòn đá lởm chởm, rồi cô ngửa mặt nhìn thẳng lên trời như để ông xanh soi rõ từng giọt nước mắt của cô. Mệt lả, kiệt lực, cô đau đớn với tay về đứa con trai. Thằng bé, mặt cắt không còn hột máu, trốn lẩn sau lưng bà, khóc nấc lên. “Nó sợ hãi, nó không nhận ra mình!” cô tự nhủ. “Phải, nó sợ quá đấy thôi!”

“Con yêu của mẹ,” cô thều thào cất giọng. “Ra đây với mẹ nào con!”

“Mẹ, con điên!” bà giáo đứng sau hàng người rủa lại.

Tuyệt vọng, rền rĩ, người đàn bà khốn khổ lại lết tới cạnh Tú. Cô quỳ xuống hôn đôi giày phết xi bóng loáng của người em chồng. Những giọt nước mắt lã chã rơi, một giọt rơi xuống mũi giày, một giọt rơi xuống nền đất. Gã giận điên lên, đẩy cô ra và lùi về sau, còn cô vẫn quỳ dưới đất, vội quặp chặt chân gã bằng đôi cánh tay bê bết. Bị chửi rủa, bị xô ngã sõng soài, nhưng cô quyết không buông, cô gồng sức kéo gã lại, và gã suýt ngã sụp xuống cạnh cô.

“Chú Tú, chú bảo mẹ chú đi!” cô rên lên thảm thiết. “Chú là người có ăn có học, đúng thế, đúng, chú biết lẽ phải. Nào, chú bảo mẹ chú đi, hãy trả con cho tôi! Chú hãy vì tình nghĩa với anh Tuấn mà thương lấy tôi, rồi suốt đời tôi không quên ơn chú!”

Và con người có ăn có học ấy vả người đàn bà một phát như trời giáng trong sự ngỡ ngàng đến choáng váng của bàn dân thiên hạ. Để mặc chị dâu ngã dấm dúi, gã trừng mắt nhìn quanh, phủi phủi giày, cảm thấy có lẽ cũng cần thanh minh với hương hồn người anh trai quá cố, miệng lầm bầm:

“Cứ phải thế này mới chừa! Loại thân lừa ưa nặng!”

“Cậu làm thế phải tội chết, cậu Tú ạ!” ông xã trưởng bám tay gã nói giọng dè dặt.

Gã giương cặp mắt ráo hoảnh nhìn ông ta không đáp, rồi lập tức quay về phía dân làng.

“Còn mấy bà này, cứ nhoi nhoi lên đây làm gì, giải tán mau!” gã nạt nộ quát. “Ô hay, điếc à, giải tán!”

Gã lại tuýt còi và nhanh chóng xua đám dân quê như lùa những con gà vào chuồng. Và chính gã cũng vội vã chở mẹ mình cùng đứa cháu đi. Dân làng ngơ ngác nhìn theo gã, thở dài thườn thượt, rồi chia năm xẻ bảy, đám đông vãn dần, ai nấy đều lắc đầu ngán ngẩm, chèm chẹp miệng, và lại liên tục rủa gã là con chó vàng…

Sau năm phút, chỉ còn mấy đứa lau chau nãy giờ đứng trên tháp canh ráng nán lại, rồi xuôi lối mòn chúng thoăn thoắt chạy, như lũ trẻ báo tin vặt, tự cảm thấy mình quan trọng và đáng được săn đón vì sự việc vừa chứng kiến; hễ gặp ai ngược chiều chúng đều túm lại, vừa kể lể sự tình vừa thở hồng hộc, mắt sáng long lanh vì phấn khích. Và chúng họp thành một cánh, đứng tụm vào nhau, đồng loạt chỉ trỏ vào cái bóng đen đen đằng xa đang thất thểu dọc theo đường ray, nhập nhoạng dưới ráng chiều tà…


Xếp hạng: 3 trên 5.

Đăng ký theo dõi

Đăng ký để nhận thông báo mỗi khi mình đăng tải bài viết mới nhé!

Được xuất bản bởi


Trả lời

  1. Ảnh đại diện Độc giả của Longtapviet
    Độc giả của Longtapviet

    Có thật nhiều điều mình muốn nói sau khi đọc truyện vừa này. Theo mình, đây có lẽ là tác phẩm dụng công nhất trong số những truyện của bạn mà mình từng đọc. Điều làm mình thích nhất ở tác phẩm này là cách hành văn và nhịp kể chuyện của bạn. Với mình, bạn là một người viết rất giỏi về diễn đạt và có vốn từ ngữ phong phú, song đôi khi lại hơi thiếu tiết chế cũng như lỏng tay trong việc kiểm soát nhịp điệu truyện. Trong truyện này, điều đó được khắc phục hoàn toàn, chẳng có đoạn nào là hơi lan man hay xa rời mạch truyện mà tất cả liên kết với nhau thành một thể thống nhất. Thêm vào đó, nhạc tính trong câu văn của bạn rất rõ nét nên mình đã đọc liền tù tì và hoàn toàn đắm chìm vào từ ngữ bạn viết như nghe một bản nhạc. Bạn thật sự có tài viết lách của một nhà văn lớn, thật đó, nên hãy cố gắng vượt qua những khó khăn cố hữu của con đường này để đạt được mong muốn của mình nha!

    Ngoài ra, mình cũng muốn chia sẻ vài điều mình nghĩ có thể làm truyện hay hơn:

    • Khi đọc truyện, có hai cảm xúc hiện lên khá rõ ràng trong mình là sự khinh miệt, căm phẫn trước thói vô lại của gia đình bà Xoan; đồng thời là sự tiếc thương cho thân phận của những con người như Thương. Mình không rõ đó có phải chủ đích của bạn hay không, nhưng khi đọc xong, sự thương cảm mà mình dành cho Thương không nhiều như mình kỳ vọng. Trước hết, mình nghĩ truyện thiếu những phân đoạn đủ sâu để lột tả cảm xúc, nội tâm của Thương trước những sóng gió cuộc đời. Truyện đưa ra dồn dập các nỗi bất hạnh của Thương, và đa phần đều chỉ kể lại Thương sẽ khóc, sẽ chửi rủa xả cơn giận,… theo một cách khá dễ đoán và hơi nông chứ không đi sâu hơn để người đọc thấy rõ con người Thương hơn, làm mình đôi lúc có cảm giác tác giả không đứng từ bên trong Thương để nói lên nỗi đau của cô, mà chỉ đang là một nhà quay phim cận cảnh về cuộc đời cô thôi. Điều này cũng dẫn đến một việc là dẫu đã mang tính điển hình cho thân phận của người phụ nữ tại các vùng nông thôn nghèo, nhân vật Thương rất thiếu dấu ấn cá nhân (điều này có thể đến từ thói quen, tư tưởng, một hành động nhỏ nào đó, v.v) để người ta nhớ đến. Việc này có thể làm người đọc thấy nhân vật gần gũi và sát thực tế, nhưng hình ảnh nhân vật sẽ rất mờ nhạt và khó mà trở nên đáng nhớ. Đặc biệt, ở việc hai vợ chồng cãi nhau xong và làm tình như chưa có chuyện gì xảy ra, mình khá tiếc vì nếu phát triển thêm nữa, nó có thể nói lên tâm thức nô lệ (mình không chắc mình có cảm nhận giống với ý đồ của bạn) của những người phụ nữ, từ đó phê phán và phản ánh nhiều điều hơn.
    • Đoạn cuối khi Thương vùng lên chống lại những bất công đã dày xéo cô, mình hơi tiếc vì mình tin bạn có thể làm đoạn kết trở thành biểu tượng ám ảnh về tình người, đặt ra những câu hỏi lớn hơn cho độc giả thay vì chỉ xử lý như thế, dù theo mình đây là cái kết có phần dễ đoán và theo motif tức nước vỡ bờ đã được dùng nhiều trong văn học. Mình hi vọng đoạn kết có thể phát triển thêm để tô đậm và hình tượng hoá sự máu lạnh vô tình của dân làng và sự đau khổ (nhưng sẽ trở thành vòng lặp luẩn quẩn không lối thoát) của Thương. Với đoạn kết hiện tại, mình chỉ đang cảm thấy hơi xót cho Thương chứ chưa day dứt về thân phận của những con người cùng khổ trong xã hội.

    Ngoài ra, đôi lúc mình thấy truyện hơi dàn trải chi tiết về background các nhân vật. Có thể ý đồ của bạn không chỉ tập trung vào Thương mà muốn vẽ nên một bức tranh sống động về con người trong ngôi làng đó, nhưng với dung lượng của truyện ngắn/vừa, mình vẫn nghĩ việc chọn 1 nhân vật trung tâm thì sẽ cô đọng, hiệu quả và gợi cảm xúc hơn. Dù sao mọi điều mình viết trong comment đều là cảm nhận của một độc giả bình dân, không có quá nhiều chuyên môn nên hi vọng nếu bạn cảm thấy có gì mình nói mà chưa phù hợp với cách tư duy viết văn của bạn thì bạn cứ bỏ qua nha hehe. Mình vẫn rất mong chờ các tác phẩm mới của bạn!

    Đã thích bởi 1 người

    1. Ảnh đại diện Vũ Thành Long
      Vũ Thành Long

      Trước hết, cảm ơn bạn đã luôn đón đọc các tác phẩm của mình (mình luôn nghĩ chẳng ai thèm đọc mình cả!). Truyện ngắn (vừa) này mình viết mất độ 3-4 tuần, chủ tâm muốn ủ bản thảo lần đầu 1-2 tháng rồi sẽ sửa tiếp. Gần đây nhiều chuyện quá nên mình chẳng bình tâm nổi mà ngồi viết… Về những ý kiến của bạn cho truyện ngắn, mình xin nhiệt liệt tiếp thu. Tự mình cũng ý thức được khi viết truyện này, mối quan hệ đạo đức của mình với chủ đề là không vững, nói đơn giản là mình không đứng hẳn về phía Thương, trong khi đó là điều rõ ràng mình nên làm. Tất nhiên khi viết truyện mình luôn cố tỏ ra thật khách quan, nhưng, trong trường hợp này, có vẻ sự khách quan của mình chỉ càng tạo ra sự khiên cưỡng, nửa vời, không chân thành. Mình căm ghét gia đình bà giáo, nhưng mình cũng chẳng mủi lòng với Thương – cô nàng hoàn toàn xứng đáng được cảm thông. Mình nghĩ đây là vấn đề cốt lõi mà mình cần giải quyết để hoàn thiện truyện ngắn này; nó không thuộc về kỹ thuật, mà là về phạm trù tư duy, nên mình sẽ cần nghiền ngẫm thêm. Bên cạnh đó, thật ra đây là một truyện chưa hoàn chỉnh, vì mình đã viết trước một cái kết như sau: Thương lao đầu vào đường ray tự tử. Vài năm sau bà giáo chết; đất cát di hết lại cho vợ chồng Tú, với điều kiện họ phải nuôi nấng thằng Bảo nên người. Cặp vợ chồng quý hoá ấy mở một hiệu thuốc và giàu bẫm, trong khi đứa cháu cơ nhỡ thì dần sa đoạ, sau cùng giết người và vào tù. Đại khái là vậy. Nhưng mình tự cảm thấy cái kết không thoả đáng, do đó mình đã xoá đi và dừng lại ở đoạn Thương thất thểu dọc theo đường ray.

      À, mình rất vui vì bạn cảm được nhạc tính trong lời văn của mình. Mình đã sửa lại sửa lại rất nhiều đấy.

      Một lần nữa, cảm ơn bạn!

      Thích

Gửi phản hồi cho Độc giả của Longtapviet Hủy trả lời

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc