
Tiếp nối loạt tiểu luận của nhà hiền triết thành Frankurt, tôi xin giới thiệu tới các bạn một bài tiểu luận có tựa đề The Wisdom of Life, trong đó, Schopenhauer sẽ luận bàn về ba yếu tố mà một con người cần có trong đời:
(1) Nhân cách
(2) Tài sản
(3) Địa vị
Mời các bạn thưởng thức!
CHƯƠNG I. PHÂN CHIA CHỦ ĐỀ.
Aristotle chia những phước lành của cuộc sống thành ba loại – những phước lành đến từ bên ngoài, những phước lành của tâm hồn, và những phước lành của thể xác. Không giữ lại điều gì từ sự phân chia này ngoại trừ con số, tôi nhận thấy rằng những khác biệt cơ bản trong số phận con người có thể được tóm gọn lại thành ba loại riêng biệt:
(1) Một người là gì: nói cách khác, chính là nhân cách, theo nghĩa rộng nhất của từ này; trong đó bao gồm sức khỏe, ý chí, vẻ đẹp, tính khí, phẩm cách đạo đức, trí thông minh và giáo dục.
(2) Một người có gì: tức là, tài sản và mọi loại sở hữu.
(3) Một người đứng ở vị trí nào trong sự đánh giá của người khác: theo đó, như ai cũng biết, phải hiểu là một người hiện lên như thế nào trong mắt đồng loại của mình, hay nói đúng hơn, là ánh sáng mà họ nhìn nhận anh ta. Điều này được thể hiện qua ý kiến của họ về anh ta; và ý kiến của họ, đến lượt nó, lại được biểu hiện qua sự kính trọng mà anh ta nhận được, qua địa vị và danh tiếng của anh ta.
Những khác biệt thuộc về mục đầu tiên là những khác biệt do chính Tự nhiên thiết lập giữa người với người; và chỉ từ thực tế này thôi, chúng ta có thể suy ra ngay lập tức rằng chúng tác động đến sự hạnh phúc hay bất hạnh của nhân loại theo một cách sống còn và triệt để hơn nhiều so với những khác biệt nằm ở hai mục sau, vốn dĩ chỉ là hệ quả từ những sự sắp đặt của con người. So với những lợi thế cá nhân đích thực, chẳng hạn như một bộ óc vĩ đại hay một trái tim vĩ đại, thì tất cả những đặc quyền về đẳng cấp hay xuất thân, kể cả xuất thân hoàng tộc, cũng chỉ giống như những vị vua trên sân khấu kịch so với những vị vua ngoài đời thực. Điều tương tự cũng đã được Metrodorus, môn đệ sớm nhất của Epicurus, nói từ lâu, khi ông đặt tiêu đề cho một trong những chương sách của mình là: Hạnh phúc mà chúng ta nhận được từ chính bản thân mình lớn lao hơn hạnh phúc mà chúng ta có được từ môi trường xung quanh. Và có một sự thật hiển nhiên, không thể bàn cãi, rằng yếu tố cốt lõi trong sự sung túc của một con người, – quả thực, trong toàn bộ tiến trình tồn tại của anh ta, – chính là anh ta được tạo nên từ cái gì, là cấu trúc nội tâm của anh ta. Bởi vì đây là cội nguồn trực tiếp của sự mãn nguyện hay bất mãn nội tâm, vốn là kết quả từ tổng hòa những cảm giác, khát khao và suy nghĩ của anh ta; trong khi đó, môi trường xung quanh, mặt khác, chỉ tạo ra một sự tác động gián tiếp hoặc trung gian lên anh ta. Đó là lý do tại sao cùng một sự kiện hay hoàn cảnh bên ngoài lại không bao giờ tác động lên hai người theo cùng một cách; ngay cả khi ở trong những môi trường hoàn toàn giống hệt nhau, mỗi người vẫn sống trong một thế giới của riêng mình. Bởi vì một người chỉ có được sự lĩnh hội trực tiếp đối với những ý tưởng, cảm xúc và ý chí của chính mình; thế giới bên ngoài chỉ có thể ảnh hưởng đến anh ta chừng nào nó mang những điều này vào sự sống. Thế giới mà một người đang sống tự định hình nên chính nó chủ yếu bằng cách thức mà người đó nhìn nhận nó, và vì thế nó chứng tỏ sự khác biệt đối với những người khác nhau; đối với người này, nó cằn cỗi, tẻ nhạt và hời hợt; đối với người kia, nó lại phong phú, thú vị và đầy ý nghĩa. Khi nghe về những sự kiện thú vị đã xảy ra trong quá trình trải nghiệm của một người, nhiều người sẽ ước rằng những điều tương tự cũng đã xảy ra trong cuộc đời họ, mà hoàn toàn quên mất rằng đáng lẽ họ nên ghen tị với cái năng lực tâm trí đã mang lại cho những sự kiện đó cái ý nghĩa mà chúng sở hữu khi anh ta mô tả lại chúng; đối với một bậc thiên tài, chúng là những cuộc phiêu lưu thú vị; nhưng đối với sự nhận thức đần độn của một cá nhân bình thường, chúng hẳn sẽ chỉ là những sự việc nhàm tẻ, diễn ra hằng ngày. Đây là trường hợp đúng ở mức độ cao nhất đối với nhiều bài thơ của Goethe và Byron, vốn dĩ rõ ràng là được dựa trên những sự kiện có thật; ở đó, một độc giả ngốc nghếch hoàn toàn có thể ghen tị với nhà thơ vì đã có quá nhiều điều thú vị xảy ra với ông ta, thay vì ghen tị với sức mạnh tưởng tượng vĩ đại đã có khả năng biến một trải nghiệm khá đỗi bình thường thành một điều gì đó thật lớn lao và tuyệt mỹ.
Theo cùng một cách, một người có tính khí u sầu sẽ biến một cảnh tượng mà đối với một người lạc quan chỉ là một cuộc xung đột thú vị, và đối với một tâm hồn lãnh đạm là một điều gì đó hoàn toàn vô nghĩa, thành một thảm kịch; – tất cả những điều này đều dựa trên thực tế là mọi sự kiện, để có thể được hiện thực hóa và được đánh giá, đòi hỏi sự hợp tác của hai yếu tố, cụ thể là, một chủ thể và một khách thể, mặc dù hai yếu tố này có sự gắn kết chặt chẽ và tất yếu giống như oxy và hydro trong nước. Do đó, khi yếu tố khách quan hay ngoại cảnh trong một trải nghiệm trên thực tế là giống hệt nhau, nhưng sự đánh giá chủ quan hay cá nhân về nó lại khác nhau, thì sự kiện đó trong mắt những người khác nhau cũng khác biệt y như thể các yếu tố khách quan không hề giống nhau; bởi vì đối với một trí tuệ cùn mòn, đối tượng đẹp đẽ và tuyệt vời nhất trên thế giới cũng chỉ phơi bày một thực tại nghèo nàn, và do đó chỉ được trân trọng một cách nghèo nàn, – giống như một bức phong cảnh tuyệt đẹp trong tiết trời u ám, hay trong hình ảnh phản chiếu của một chiếc máy ảnh hộp tối tồi tàn. Nói một cách dễ hiểu, mỗi người đều bị giam cầm trong những giới hạn nhận thức của chính mình, và không thể trực tiếp vượt ra khỏi những giới hạn đó cũng như không thể nhảy ra khỏi làn da của chính mình; do đó sự trợ giúp từ bên ngoài không mang lại nhiều lợi ích cho anh ta. Trên sân khấu, một người là hoàng tử, người khác là tể tướng, người thứ ba là đầy tớ hay binh lính hay tướng quân, và v.v., – đó chỉ là những khác biệt thuần túy bề ngoài: thực tại bên trong, hạt nhân của tất cả những vỏ bọc hào nhoáng này đều giống hệt nhau—đều là một diễn viên nghèo khổ, với tất cả những lo âu về số phận của mình. Trong cuộc sống cũng y hệt như vậy. Những khác biệt về địa vị và của cải giao cho mỗi người một vai diễn, nhưng điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với một sự khác biệt về hạnh phúc và niềm vui nội tâm; ở đây cũng vậy, tất cả đều là cùng một sinh thể—một kẻ phàm trần tội nghiệp, với những khó nhọc và phiền muộn của anh ta. Mặc dù những điều này, quả thực, trong mọi trường hợp có thể xuất phát từ những nguyên nhân không giống nhau, nhưng về bản chất cốt yếu, chúng đều rất giống nhau dưới mọi hình thức, với những mức độ mãnh liệt chắc chắn là có khác biệt, nhưng không hề tương ứng với vai diễn mà một người phải đóng, với sự hiện diện hay vắng mặt của địa vị và của cải. Vì mọi thứ tồn tại hay xảy ra đối với một con người chỉ tồn tại trong ý thức của người đó và chỉ xảy ra cho riêng nó, nên điều thiết yếu nhất đối với một con người chính là cấu trúc của ý thức này, thứ mà trong hầu hết các trường hợp còn quan trọng hơn nhiều so với những hoàn cảnh tạo nên nội dung của nó. Mọi niềm tự hào và thú vui trên đời, khi được phản chiếu trong tâm thức đần độn của một kẻ ngốc, quả thực đều nghèo nàn khi đem so sánh với trí tưởng tượng của Cervantes khi ông đang viết cuốn Don Quixote của mình trong một nhà ngục tồi tàn. Một nửa khách quan của cuộc sống và thực tại nằm trong tay số phận, và do đó mang những hình thức khác nhau trong những trường hợp khác nhau: nửa chủ quan chính là bản thân chúng ta, và về cơ bản nó luôn luôn bất biến.
Vì thế, cuộc đời của mỗi người đều được in dấu bởi cùng một nét tính cách từ đầu đến cuối, mặc cho hoàn cảnh bên ngoài của anh ta có thay đổi nhiều đến đâu; nó giống như một chuỗi các biến tấu trên cùng một chủ đề duy nhất. Không ai có thể vượt ra khỏi cá tính của chính mình. Một con vật, dù được đặt trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn luôn ở trong những giới hạn chật hẹp mà tự nhiên đã vĩnh viễn ấn định cho nó; do đó, những nỗ lực của chúng ta nhằm làm cho một con thú cưng được hạnh phúc phải luôn luôn nằm trong phạm vi bản chất của nó, và bị giới hạn trong những gì nó có thể cảm nhận được. Con người cũng vậy; mức độ hạnh phúc mà anh ta có thể đạt được đã được cá tính của anh ta định sẵn từ trước. Điều này đặc biệt đúng với những năng lực tinh thần, thứ sẽ xác định một lần và mãi mãi khả năng của anh ta đối với những loại khoái lạc cao cấp hơn. Nếu những năng lực này nhỏ bé, thì không có nỗ lực nào từ bên ngoài, không có điều gì mà đồng loại hay vận may có thể làm cho anh ta, đủ sức nâng anh ta lên khỏi mức độ hạnh phúc và khoái lạc thông thường của con người, dẫu cho cái mức độ đó mang một nửa phần con vật; những nguồn vui duy nhất của anh ta là sự thèm khát nhục dục, – cùng lắm là một cuộc sống gia đình ấm cúng và vui vẻ, – những mối giao du thấp kém và những trò tiêu khiển dung tục; thậm chí giáo dục, nhìn chung, cũng chẳng giúp ích được gì, hoặc giúp ích rất ít, cho việc khai nhãn của anh ta. Bởi vì những khoái lạc cao thượng nhất, đa dạng và bền lâu nhất chính là những khoái lạc của tinh thần, mặc cho tuổi trẻ của chúng ta có thể đánh lừa chúng ta về điểm này nhiều đến đâu; và những khoái lạc của tinh thần chủ yếu xoay quanh sức mạnh của tâm trí. Rõ ràng, khi đó, hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc ở một mức độ rất lớn vào việc chúng ta là gì, vào cá tính của chúng ta, trong khi phần số hay định mệnh lại thường chỉ được hiểu là những gì chúng ta có, hoặc là danh tiếng của chúng ta. Phần số của chúng ta, theo nghĩa này, có thể cải thiện; nhưng chúng ta không đòi hỏi nhiều ở nó nếu chúng ta vốn đã giàu có từ bên trong: mặt khác, một kẻ ngốc vẫn mãi là một kẻ ngốc, một gã đầu đất đần độn cho đến tận giây phút cuối đời, ngay cả khi hắn ta được vây quanh bởi những trinh nữ trong cõi thiên đường. Đây là lý do tại sao Goethe, trong tập West-östlicher Divan, đã nói rằng mọi người, dù đang chiếm giữ một vị trí thấp hèn trong cuộc đời, hay đang vươn lên như một kẻ chiến thắng, đều làm chứng cho việc nhân cách là yếu tố vĩ đại nhất trong hạnh phúc:
Thường dân, nô lệ hay kẻ chinh phục
Mọi thời đại đều phải thừa nhận
Hạnh phúc tột đỉnh của những đứa con trần thế
Chỉ nằm ở nhân cách mà thôi.
Mọi thứ đều củng cố cho sự thật rằng yếu tố chủ quan trong cuộc sống quan trọng hơn không thể sánh được đối với hạnh phúc và niềm vui của chúng ta so với yếu tố khách quan, từ những câu ngạn ngữ như Đói là thứ nước sốt ngon nhất, và Tuổi trẻ và Tuổi già không thể chung sống cùng nhau, cho đến cuộc đời của Bậc Thiên tài và Vị Thánh. Sức khỏe vượt trội hơn tất thảy những phước lành khác nhiều đến mức người ta thực sự có thể nói rằng một gã ăn mày khỏe mạnh còn hạnh phúc hơn một vị vua ốm yếu. Một tính khí điềm tĩnh và vui vẻ, hạnh phúc trong sự tận hưởng một thể chất hoàn toàn tráng kiện, một trí tuệ minh mẫn, sống động, thấu suốt và nhìn vạn vật đúng như bản chất thực của chúng, một ý chí ôn hòa và hiền lành, và do đó một lương tâm trong sạch- đây là những đặc quyền mà không một địa vị hay của cải nào có thể bù đắp hay thay thế được. Bởi những gì một người tự thân anh ta là, những gì đồng hành cùng anh ta khi anh ta cô độc, những gì không ai có thể ban tặng hay tước đoạt, rõ ràng là điều thiết yếu đối với anh ta hơn thảy mọi thứ anh ta có dưới dạng sở hữu, hay thậm chí những gì anh ta có thể trở thành trong con mắt của thế gian. Một người trí thức trong sự cô độc hoàn toàn vẫn có được sự giải trí tuyệt vời trong chính những suy nghĩ và mộng tưởng của mình, trong khi không một lượng lớn sự đa dạng hay những thú vui xã giao, nhà hát, những chuyến du ngoạn và các trò tiêu khiển nào có thể xua đi sự buồn chán khỏi một kẻ đần độn. Một nhân cách tốt, chừng mực, hiền hòa có thể hạnh phúc trong những hoàn cảnh thiếu thốn, trong khi một kẻ tham lam, đố kỵ và hiểm độc, ngay cả khi hắn ta là người giàu nhất thế giới, vẫn sống trong sự khốn khổ. Thậm chí còn hơn thế nữa; đối với một người có được niềm vui sướng thường trực từ một cá tính đặc biệt, với một mức độ trí tuệ cao, hầu hết những khoái lạc mà nhân loại đang chạy theo săn đuổi đơn giản chỉ là thừa thãi; chúng thậm chí còn là một sự phiền toái và một gánh nặng. Và vì thế Horace đã nói về chính mình rằng, dẫu cho có bao nhiêu người bị tước đoạt những món đồ xa xỉ của cuộc đời, thì ít nhất vẫn có một người có thể sống mà không cần đến chúng:
Ngọc ngà, cẩm thạch, ấn tín Tyrrhenian, những bức bích họa,
Bạc trắng, những lớp lụa là nhuộm sắc tía Gaetulo,
Có những kẻ không sở hữu chúng, và có những kẻ chẳng bận tâm đến việc phải sở hữu chúng;
và khi Socrates nhìn thấy vô vàn những món đồ xa xỉ được bày bán, ông đã thốt lên: Có biết bao nhiêu thứ trên đời mà ta không cần đến.
Vì vậy, yếu tố đầu tiên và thiết yếu nhất trong hạnh phúc đời người chính là những gì chúng ta là, – nhân cách của chúng ta, nếu không vì một lý do nào khác thì cũng bởi vì nó là một hằng số sẽ phát huy tác dụng trong mọi hoàn cảnh: bên cạnh đó, không giống như những phước lành được mô tả dưới hai mục còn lại, nó không phải là trò đùa của định mệnh và không thể bị giằng xé khỏi tay chúng ta; – và, cho đến nay, nó được ban phú cho một giá trị tuyệt đối, trái ngược với giá trị chỉ mang tính tương đối của hai thứ kia. Hệ quả của điều này là, việc thao túng một người từ bên ngoài khó khăn hơn rất nhiều so với những gì người ta vẫn tưởng. Nhưng ở đây tác nhân toàn năng, Thời Gian, bước vào và đòi lại những quyền hạn của nó, và trước ảnh hưởng của nó, những lợi thế về thể chất và tinh thần sẽ dần dần hao mòn. Chỉ riêng phẩm cách đạo đức là vẫn nằm ngoài tầm với của nó. Dưới góc nhìn về sức tàn phá của thời gian, dường như, quả thực, những phước lành được nêu tên dưới hai mục còn lại, những thứ mà thời gian không thể trực tiếp tước đoạt từ chúng ta, lại vượt trội hơn so với những phước lành ở mục đầu tiên. Một lợi thế khác có thể được gán cho chúng, cụ thể là, vì bản chất của chúng là khách quan và bên ngoài, chúng có thể đạt được, và mọi người đều được ban cho một khả năng, ít nhất là, có thể chạm tay vào chúng; trong khi những gì mang tính chủ quan thì không mở ra cho chúng ta để có thể thu nhận, mà nó đi vào bằng một loại đặc quyền thần thánh, nó lưu lại suốt đời, bất biến, không thể tước đoạt, một bản án tàn nhẫn không thể đảo ngược. Hãy để tôi trích dẫn những vần thơ mà trong đó Goethe miêu tả cách một định mệnh không thể thay đổi được chỉ định cho mỗi người vào đúng khoảnh khắc người đó chào đời, để anh ta chỉ có thể phát triển theo những đường lối đã được vạch sẵn cho mình, có thể nói là, bởi sự giao hội của các vì tinh tú: và cách Nữ đồng trinh Sybil cùng những nhà tiên tri tuyên bố rằng một người không bao giờ có thể thoát khỏi chính bản thân mình, cũng như không một sức mạnh nào của thời gian có thể thay đổi được con đường mà cuộc đời anh ta đã được ném vào:
Giống như ngày mà ngươi được trao cho thế giới,
Mặt trời đã đứng đó để chào đón các vì sao,
Ngươi đã ngay lập tức và cứ thế không ngừng trưởng thành,
Theo đúng quy luật mà ngươi đã bước vào đời.
Ngươi phải là như thế, ngươi không thể trốn chạy khỏi chính mình,
Nữ đồng trinh Sybil và các nhà tiên tri đã phán truyền như vậy;
Và không có thời gian, không có sức mạnh nào có thể xé vụn
Cái khuôn đúc đã được ấn định, thứ đang tự mình nảy nở đầy sức sống.
Điều duy nhất nằm trong khả năng thủ đắc của chúng ta, là tận dụng một cách có lợi nhất những phẩm chất cá nhân mà chúng ta sở hữu, và theo đó chỉ theo đuổi những công việc có thể đánh thức chúng phát huy, phấn đấu để đạt được kiểu hoàn thiện mà chúng cho phép và tránh xa mọi thứ khác; do đó, hãy lựa chọn vị trí, nghề nghiệp và lối sống phù hợp nhất cho sự phát triển của chúng.
Hãy tưởng tượng một người được ban phú cho một sức mạnh tựa Hercules nhưng lại bị hoàn cảnh ép buộc phải theo đuổi một công việc tĩnh tại, ví dụ như một công việc thủ công tỉ mỉ và tinh xảo nào đó, hoặc phải tham gia vào việc nghiên cứu và lao động trí óc đòi hỏi những năng lực hoàn toàn khác, và chính xác là những thứ mà anh ta không có, – bị ép buộc, nghĩa là, phải bỏ phí những năng lực mà ở đó anh ta vượt trội xuất chúng; một người bị đặt vào tình cảnh như thế này sẽ không bao giờ cảm thấy hạnh phúc trong suốt quãng đời của mình. Thậm chí còn khốn khổ hơn nữa sẽ là số phận của người mang trong mình những năng lực trí tuệ ở một đẳng cấp rất cao, nhưng lại phải bỏ mặc chúng không được phát triển và không được sử dụng, để theo đuổi một tiếng gọi không đòi hỏi đến chúng, có lẽ là một công việc lao động chân tay nào đó mà sức lực của anh ta lại không đủ để đáp ứng. Mặc dù vậy, trong một trường hợp như thế này, chúng ta cần phải cẩn trọng, đặc biệt là ở tuổi trẻ, để tránh cái vực thẳm của sự kiêu ngạo, và không được tự gán cho mình một sự dư thừa năng lực vốn không hề tồn tại.
Vì những phước lành được mô tả ở mục đầu tiên chắc chắn vượt trội hơn những phước lành nằm ở hai mục còn lại, nên rõ ràng việc nhắm đến sự duy trì sức khỏe và trau dồi các năng lực của chúng ta là một đường lối khôn ngoan hơn so với việc tích cóp của cải; nhưng điều này không được hiểu lầm thành việc chúng ta nên lơ là việc đạt được một nguồn cung cấp đầy đủ những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Của cải, theo nghĩa chặt chẽ của từ này, tức là, sự dư thừa to lớn, có thể làm được rất ít cho hạnh phúc của chúng ta; và rất nhiều người giàu có cảm thấy bất hạnh chỉ vì họ hoàn toàn vắng bóng bất kỳ nền văn hóa hay tri thức tinh thần thực sự nào, và do đó không có những mối quan tâm khách quan nào có thể giúp họ đủ điều kiện cho những công việc đòi hỏi trí tuệ. Bởi vì, vượt xa khỏi sự thỏa mãn một vài nhu cầu thực sự và tự nhiên, tất cả những gì sự sở hữu của cải có thể đạt được chỉ mang một tác động rất nhỏ nhoi lên hạnh phúc của chúng ta, theo đúng nghĩa của từ này; quả thực, của cải thà làm xáo trộn hạnh phúc còn hơn, bởi vì việc gìn giữ tài sản kéo theo rất nhiều những nỗi lo âu không thể tránh khỏi. Thế nhưng con người vẫn cứ khát khao trở nên giàu có gấp ngàn lần so với việc đạt được văn hóa, mặc dù có một điều hoàn toàn chắc chắn rằng việc một người là gì đóng góp nhiều hơn rất nhiều cho hạnh phúc của anh ta so với những gì anh ta có. Vì vậy, bạn có thể thấy rất nhiều người, cần mẫn như một con kiến, không ngừng bận rộn từ sáng sớm đến tối mịt trong nỗ lực gia tăng đống vàng của mình. Vượt ra ngoài cái chân trời chật hẹp của những phương tiện dẫn đến mục đích này, anh ta chẳng biết gì cả; tâm trí của anh ta là một tờ giấy trắng, và do đó không thể tiếp nhận bất kỳ ảnh hưởng nào khác. Những khoái lạc cao quý nhất, những khoái lạc của trí tuệ, là thứ anh ta không thể với tới, và anh ta cố gắng trong tuyệt vọng để thay thế chúng bằng những khoái cảm nhục dục phù du mà anh ta đắm chìm vào, chỉ kéo dài trong một giờ phút ngắn ngủi và với một cái giá đắt đỏ đến kinh hồn. Và nếu anh ta may mắn, những cuộc vật lộn của anh ta sẽ mang lại kết quả là một núi vàng thực sự khổng lồ, thứ mà anh ta sẽ để lại cho người thừa kế của mình, hoặc là để tiếp tục làm cho nó phình to hơn nữa, hoặc là để phung phí nó trong sự xa hoa lãng phí. Một cuộc đời như thế, dù được theo đuổi với một cảm thức nghiêm túc và một vẻ ngoài quan trọng, cũng ngớ ngẩn hệt như vô vàn những cuộc đời khác vốn chỉ mang biểu tượng là chiếc mũ của một gã hề.
Những gì một người có trong chính bản thân mình, do đó, là yếu tố cốt lõi cho hạnh phúc của anh ta. Bởi vì điều này, như một quy luật, thường quá đỗi nhỏ bé, nên hầu hết những người đã vượt ra ngoài cuộc đấu tranh với sự túng quẫn rốt cuộc cũng cảm thấy bất hạnh hệt như những người vẫn đang phải vật lộn với nó. Tâm trí của họ trống rỗng, trí tưởng tượng của họ cùn mòn, tinh thần của họ nghèo nàn, và vì thế họ bị thúc đẩy tìm đến sự bầu bạn của những kẻ giống mình – bởi vì similis simili gaudet [đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu] – nơi họ cùng nhau theo đuổi những trò tiêu khiển và giải trí, phần lớn bao gồm khoái cảm nhục dục, đủ mọi loại trò vui, và cuối cùng, là sự trụy lạc và phóng đãng. Một chàng trai trẻ xuất thân từ một gia đình giàu có bước vào đời với một khối di sản khổng lồ, và thường sẽ vung vãi hết nó trong một khoảng thời gian ngắn đến khó tin, trong những sự hoang phí đồi bại; và tại sao lại thế? Đơn giản vì, ở đây cũng vậy, tâm trí trống rỗng và rỗng tuếch, và thế là người đó đâm ra chán ngán với sự tồn tại. Cậu ta được ném vào đời, giàu có bề ngoài nhưng lại nghèo nàn bên trong, và nỗ lực tuyệt vọng của cậu là dùng sự giàu có bên ngoài để bù đắp cho sự nghèo nàn bên trong, bằng cách cố gắng đạt được mọi thứ từ bên ngoài, giống như một ông lão đang cố gắng lấy lại sức mạnh cho bản thân giống như Vua David hay Maréchal de Rex đã từng cố làm. Và vì thế, rốt cuộc, một kẻ nghèo nàn từ bên trong cũng sẽ trở thành một kẻ nghèo nàn cả ở bên ngoài.
Tôi không cần phải nhấn mạnh về tầm quan trọng của hai loại phước lành còn lại cấu thành nên hạnh phúc của cuộc đời con người; thời nay, giá trị của việc sở hữu chúng đã quá rõ ràng để cần phải quảng bá thêm. Loại thứ ba, đúng là như vậy, có thể dường như, khi so sánh với loại thứ hai, mang một đặc tính rất phù du, vì nó chỉ bao gồm ý kiến của người khác. Dù vậy, mọi người đều phải nỗ lực phấn đấu vì danh tiếng, nói cách khác, là một cái tên đẹp. Địa vị, mặt khác, chỉ nên là khát vọng của những người phục vụ cho nhà nước, và danh vọng thực sự chỉ dành cho một số rất ít người. Trong bất kỳ trường hợp nào, danh tiếng cũng được xem như một kho báu vô giá, và danh vọng là thứ quý giá nhất trong mọi phước lành mà một người có thể đạt được, – có thể nói, nó giống như bộ lông cừu vàng của những người được chọn: trong khi chỉ có những kẻ ngốc mới đánh giá cao địa vị hơn là tài sản. Hơn nữa, loại thứ hai và loại thứ ba còn có mối quan hệ nhân quả qua lại lẫn nhau; chừng nào, tức là, châm ngôn của Petronius, habes habeberis [bạn có gì, bạn sẽ được đánh giá như vậy], vẫn còn đúng; và ngược lại, sự ưu ái của người khác, dưới mọi hình thức, thường mở đường cho chúng ta đạt được những gì mình muốn.
CHƯƠNG II. — NHÂN CÁCH, HAY MỘT NGƯỜI LÀ GÌ.
Chúng ta đã thấy, nhìn chung, rằng việc một người là gì đóng góp nhiều hơn rất nhiều cho hạnh phúc của anh ta so với những gì anh ta có, hoặc cách anh ta được người khác nhìn nhận. Một người là gì, và do đó anh ta có gì trong chính bản thân mình, luôn luôn là điều cốt yếu nhất cần xem xét; bởi vì cá tính của anh ta luôn đồng hành cùng anh ta mọi lúc mọi nơi, và nhuốm màu lên tất cả những trải nghiệm của anh ta. Chẳng hạn, trong mọi hình thức hưởng thụ, niềm vui chủ yếu phụ thuộc vào chính bản thân người đó. Mọi người đều thừa nhận điều này đối với khoái cảm thể xác, và điều này lại càng đúng hơn biết bao đối với khoái cảm tinh thần. Khi chúng ta sử dụng thành ngữ tiếng Anh, “to enjoy one’s self” [thỏa mãn chính mình/tận hưởng], chúng ta đang sử dụng một cụm từ rất nổi bật và thích đáng; bởi vì hãy để ý xem – người ta nói, không phải là “anh ta tận hưởng Paris”, mà là “anh ta thỏa mãn chính mình ở Paris”. Đối với một người sở hữu một cá tính tồi tệ, mọi khoái lạc đều giống như rượu ngon đổ vào một cái miệng đã đắng ngắt vì mật xanh. Do đó, trong những phước lành cũng như những tai ương của cuộc sống, điều xảy ra với chúng ta ít quan trọng hơn so với cách chúng ta đối mặt với nó, nghĩa là, phụ thuộc vào loại và mức độ nhạy cảm chung của chúng ta. Một người là gì và có gì trong chính bản thân mình, – nói tóm lại là nhân cách, với tất cả những gì nó kéo theo, là yếu tố trực tiếp và tức thời duy nhất quyết định hạnh phúc và sự sung túc của anh ta. Mọi thứ khác đều là gián tiếp và trung gian, và ảnh hưởng của chúng có thể bị vô hiệu hóa và cản trở; nhưng ảnh hưởng của nhân cách thì không bao giờ. Đó là lý do tại sao sự đố kỵ do những phẩm chất cá nhân khơi dậy lại là thứ đố kỵ không thể xoa dịu nhất trong tất cả, – như nó cũng là thứ được che đậy kỹ lưỡng nhất.
Hơn nữa, cấu trúc ý thức của chúng ta là yếu tố luôn hiện diện và trường tồn trong mọi điều chúng ta làm hay gánh chịu; cá tính của chúng ta liên tục hoạt động, ít nhiều, vào mọi khoảnh khắc của cuộc đời: tất cả những ảnh hưởng khác đều mang tính tạm thời, ngẫu nhiên, phù du, và phụ thuộc vào mọi loại cơ may và thay đổi. Đó là lý do tại sao Aristotle nói: Không phải của cải mà là tính cách mới trường tồn.
Và cũng vì chính lý do đó, chúng ta có thể dễ dàng chịu đựng một bất hạnh hoàn toàn ập đến từ bên ngoài, hơn là một bất hạnh mà chúng ta tự chuốc lấy cho mình; bởi vì vận may thì luôn luôn có thể thay đổi, nhưng tính cách thì không. Do đó, những phước lành mang tính chủ quan, – một bản chất cao quý, một cái đầu sắc sảo, một tính khí vui vẻ, một tinh thần rạng rỡ, một thể chất được cấu tạo tốt và hoàn toàn tráng kiện, tóm lại là mens sana in corpore sano [một tâm trí lành mạnh trong một cơ thể khoẻ mạnh], là những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất trong hạnh phúc; vì thế chúng ta nên chú tâm hơn vào việc thúc đẩy và gìn giữ những phẩm chất như vậy thay vì việc sở hữu của cải bên ngoài và danh dự bên ngoài.
Và trong số tất cả những điều này, thứ trực tiếp làm cho chúng ta hạnh phúc nhất chính là một dòng chảy vui vẻ của một tinh thần tốt; bởi vì phẩm chất tuyệt vời này tự nó đã là phần thưởng tức thời của chính nó. Người vui vẻ và hân hoan luôn có một lý do chính đáng để được như vậy, – cụ thể là sự thật rằng, anh ta đang như vậy. Không có gì, giống như phẩm chất này, lại có thể thay thế hoàn toàn cho sự mất mát của mọi phước lành khác. Nếu bạn biết bất kỳ ai còn trẻ, đẹp trai, giàu có và được kính trọng, và bạn muốn biết, xa hơn nữa, liệu anh ta có hạnh phúc hay không, hãy hỏi, Anh ta có vui vẻ và hòa nhã không? – và nếu có, thì có hề gì chuyện anh ta trẻ hay già, lưng thẳng hay lưng gù, nghèo hay giàu? – anh ta đang hạnh phúc. Trong những ngày còn trẻ, tôi đã từng mở một cuốn sách cũ và tìm thấy những dòng này: Nếu bạn cười nhiều, bạn đang hạnh phúc; nếu bạn khóc nhiều, bạn đang bất hạnh; – một nhận xét rất đơn giản, không nghi ngờ gì nữa; nhưng chỉ vì nó quá đơn giản mà tôi chưa bao giờ có thể quên được nó, dẫu cho rốt cuộc nó chỉ là một chân lý hiển nhiên. Vì thế, nếu sự vui vẻ gõ cửa nhà chúng ta, chúng ta nên mở toang cánh cửa ra để đón nó, bởi nó không bao giờ đến không đúng lúc; thay vào đó, chúng ta thường do dự trong việc để nó bước vào. Chúng ta muốn chắc chắn rằng mình có mọi lý do để được mãn nguyện; rồi chúng ta lại sợ rằng sự vui vẻ của tinh thần có thể cản trở những suy tư nghiêm túc hay những lo toan nặng nề. Sự vui vẻ là một món lợi trực tiếp và tức thời, – có thể nói, nó chính là đồng tiền đúc của hạnh phúc, chứ không phải, như mọi thứ khác, chỉ là một tờ séc ngân hàng; bởi vì chỉ riêng nó mới khiến chúng ta ngay lập tức hạnh phúc trong khoảnh khắc hiện tại, và đó là phước lành cao cả nhất đối với những sinh vật như chúng ta, những kẻ mà sự tồn tại chỉ là một khoảnh khắc vô cùng nhỏ bé nằm giữa hai sự vĩnh hằng. Việc đảm bảo và thúc đẩy cảm giác vui vẻ này nên là mục tiêu tối thượng trong mọi nỗ lực theo đuổi hạnh phúc của chúng ta.
Giờ đây, có một điều chắc chắn là không gì đóng góp ít cho sự vui vẻ bằng của cải, hoặc nhiều bằng sức khỏe. Chẳng phải chính ở những tầng lớp thấp hơn, cái gọi là giai cấp công nhân, đặc biệt là những người sống ở nông thôn, mà chúng ta nhìn thấy những khuôn mặt vui vẻ và mãn nguyện đó sao? và chẳng phải chính ở những người giàu có, những tầng lớp thượng lưu, mà chúng ta tìm thấy những khuôn mặt chứa đầy sự cáu kỉnh và bực dọc đó sao? Do đó, chúng ta nên cố gắng hết sức có thể để duy trì một mức độ sức khỏe cao; bởi vì sự vui vẻ chính là đoá hoa kết tinh của nó. Tôi hầu như không cần phải nói những gì một người phải làm để được khỏe mạnh – tránh mọi loại thái quá, mọi cảm xúc bạo liệt và khó chịu, mọi sự căng thẳng quá mức về tinh thần, tập thể dục hàng ngày ngoài trời, tắm nước lạnh và những biện pháp vệ sinh tương tự. Bởi vì không có một lượng tập thể dục hàng ngày thích hợp, không ai có thể duy trì được sức khỏe; mọi quá trình của sự sống đều đòi hỏi sự vận động để thực hiện đúng chức năng của chúng, không chỉ vận động ở những bộ phận liên quan trực tiếp, mà còn của toàn bộ cơ thể. Bởi vì, như Aristotle đã nói rất đúng, Sự sống là sự vận động; đó chính là bản chất của nó. Sự vận động không ngừng nghỉ và nhanh chóng diễn ra trong mọi bộ phận của cơ thể… Khi người ta hoàn toàn không thể tập thể dục, như trường hợp của vô số những người bị kết án phải làm công việc tĩnh tại, sẽ có một sự mất cân đối rõ rệt và tai hại giữa sự bất động bên ngoài và sự hỗn loạn bên trong. Bởi vì sự vận động không ngừng bên trong này đòi hỏi một sự tương ứng nào đó từ bên ngoài, và sự thiếu hụt nó sẽ tạo ra những hậu quả giống như của những cảm xúc mà chúng ta buộc phải kìm nén. Ngay cả những cái cây cũng phải bị gió lay động, nếu chúng muốn phát triển mạnh mẽ. Quy luật được ứng dụng ở đây có thể được diễn đạt ngắn gọn nhất bằng tiếng Latinh: omnis motus, quo celerior, eo magis motus [mọi chuyển động, càng nhanh, thì càng có nhiều chuyển động hơn].
Hạnh phúc của chúng ta phụ thuộc nhiều đến nhường nào vào tinh thần của chúng ta, và những điều này lại phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của chúng ta ra sao, có thể được nhận thấy bằng cách so sánh ảnh hưởng mà cùng một hoàn cảnh hay sự kiện bên ngoài tạo ra cho chúng ta khi chúng ta đang khỏe mạnh và cường tráng với những tác động mà chúng gây ra khi chúng ta đang chán nản và gặp rắc rối với bệnh tật. Không phải sự vật là gì một cách khách quan và tự thân chúng, mà là chúng là gì đối với chúng ta, trong cách chúng ta nhìn nhận chúng, mới khiến chúng ta hạnh phúc hay ngược lại. Như Epictetus nói, Con người không bị ảnh hưởng bởi các sự vật, mà bởi suy nghĩ của họ về các sự vật. Và, nhìn chung, chín phần mười hạnh phúc của chúng ta chỉ phụ thuộc vào sức khỏe. Với sức khỏe, mọi thứ đều là nguồn vui; không có nó, không có bất cứ điều gì khác, bất kể nó là gì, có thể tận hưởng được; thậm chí những phước lành cá nhân khác, – một bộ óc vĩ đại, một tính khí vui vẻ – cũng bị suy thoái và thui chột nếu thiếu đi sức khỏe. Vì vậy, quả thực có một lý do chính đáng để, khi hai người gặp nhau, điều đầu tiên họ làm là hỏi thăm sức khỏe của nhau, và bày tỏ hy vọng rằng nó vẫn tốt; bởi vì sức khỏe tốt cho đến nay là yếu tố quan trọng nhất trong hạnh phúc của con người. Từ tất cả những điều này, có thể suy ra rằng điều ngu ngốc lớn nhất là hy sinh sức khỏe vì bất kỳ loại hạnh phúc nào khác, bất kể đó là gì, vì tư lợi, sự thăng tiến, học vấn hay danh tiếng, đừng nói đến những khoái cảm nhục dục phù du. Mọi thứ khác nên được xếp sau nó.
Tuy nhiên, dẫu cho sức khỏe có đóng góp nhiều đến đâu cho dòng chảy của tinh thần vui vẻ vốn dĩ vô cùng thiết yếu cho hạnh phúc của chúng ta, thì tinh thần tốt cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào sức khỏe; bởi một người có thể hoàn toàn khỏe mạnh về mặt thể chất nhưng vẫn sở hữu một tính khí u sầu và nhìn chung thường đắm chìm vào những suy nghĩ buồn bã. Nguyên nhân sâu xa của điều này chắc chắn được tìm thấy trong cấu trúc thể chất bẩm sinh, và do đó không thể thay đổi được, đặc biệt là trong mối tương quan bình thường ít nhiều giữa sự nhạy cảm của một người với năng lượng cơ bắp và sinh lực của anh ta. Sự nhạy cảm bất thường tạo ra sự thất thường của tinh thần, một sự u sầu chi phối, với những cơn bộc phát định kỳ của sự sống động không kiềm chế được. Một thiên tài là người mà sức mạnh thần kinh hay sự nhạy cảm của anh ta dư thừa một cách đáng kể; như Aristotle đã quan sát rất chính xác, Những người xuất chúng trong triết học, chính trị, thơ ca hay nghệ thuật dường như đều là những người có tính khí u sầu. Đây chắc chắn là đoạn văn mà Cicero đã nghĩ đến khi ông nói, như ông vẫn thường làm, Aristoteles ait omnes ingeniosos melancholicos esse. [Aristotle nói rằng mọi thiên tài đều u sầu]. Shakespeare đã diễn đạt rất khéo léo sự đa dạng căn bản và bẩm sinh này của tính khí trong những dòng thơ sau của vở Người lái buôn thành Venice:
Nature has framed strange fellows in her time;
Some that will evermore peep through their eyes,
And laugh, like parrots at a bag-piper;
And others of such vinegar aspect,
That they’ll not show their teeth in way of smile,
Though Nestor swear the jest be laughable.
Đây là sự khác biệt mà Plato rút ra giữa [tiếng Hy Lạp: eukolos] và [tiếng Hy Lạp: dyskolos] – người có tính khí dễ dãi, và người có tính khí khó chịu – để chứng minh cho điều đó, ông đề cập đến những mức độ nhạy cảm khác nhau mà những người khác nhau thể hiện trước những ấn tượng vui vẻ và đau đớn; sao cho một người sẽ cười vào những gì khiến người khác phải tuyệt vọng. Như một quy luật, sự nhạy cảm đối với những ấn tượng khó chịu càng mạnh, thì sự nhạy cảm đối với những ấn tượng dễ chịu càng yếu, và ngược lại. Nếu một sự việc có khả năng kết thúc tốt đẹp hoặc tồi tệ với tỷ lệ ngang nhau, kẻ dyskolos sẽ bực bội hoặc đau buồn nếu kết quả không thuận lợi, và sẽ không vui mừng, nếu nó diễn ra suôn sẻ. Mặt khác, kẻ eukolos sẽ không lo lắng hay băn khoăn về một kết quả không thuận lợi, mà sẽ vui mừng nếu nó diễn ra tốt đẹp. Nếu người trước thành công trong chín trên mười công việc, anh ta sẽ không cảm thấy vui vẻ, mà đúng hơn là bực bội vì một công việc đã thất bại; trong khi người sau, nếu chỉ một công việc duy nhất thành công, sẽ tìm cách lấy đó làm niềm an ủi và vẫn giữ được sự vui vẻ. Nhưng ở đây lại có một ví dụ khác cho sự thật rằng, hầu như không có cái ác nào là hoàn toàn không có sự bù đắp của nó; bởi vì những bất hạnh và đau khổ mà những người auskoloi, tức là những người có tính cách u ám và lo âu, phải vượt qua, nhìn chung, mang tính tưởng tượng nhiều hơn và do đó ít thực tế hơn so với những gì xảy đến với những người vui vẻ và vô tư; bởi vì một người luôn vẽ mọi thứ bằng màu đen, luôn sợ hãi điều tồi tệ nhất và thực hiện các biện pháp tương ứng, sẽ ít bị thất vọng trong thế giới này hơn, so với một người luôn nhìn vào mặt tươi sáng của sự vật. Và khi một căn bệnh về thần kinh, hoặc một sự rối loạn của các cơ quan tiêu hóa, bắt tay với một khuynh hướng bẩm sinh hướng tới sự u ám, khuynh hướng này có thể đạt đến một đỉnh điểm mà sự khó chịu vĩnh viễn tạo ra sự chán chường cuộc sống. Từ đó nảy sinh khuynh hướng muốn tự sát, thứ mà ngay cả một sự khó chịu vụn vặt nhất cũng có thể thực sự dẫn đến; thậm chí, khi khuynh hướng này đạt đến dạng tồi tệ nhất của nó, nó có thể được gây ra mà chẳng vì một lý do cụ thể nào, mà một người có thể hạ quyết tâm kết liễu sự tồn tại của mình, chỉ đơn giản vì anh ta vĩnh viễn không cảm thấy hạnh phúc, và sau đó thực hiện quyết định của mình một cách lạnh lùng và kiên quyết; như có thể thấy qua cái cách mà người mắc bệnh, khi bị đặt dưới sự giám sát, như thường lệ, háo hức chờ đợi để chộp lấy khoảnh khắc lơ là đầu tiên, khi mà, không một chút rùng mình, không một chút giằng xé hay lùi bước, anh ta có thể sử dụng phương tiện giờ đây đã trở nên tự nhiên và được chào đón để thực hiện sự giải thoát của mình. Ngay cả người khỏe mạnh nhất, có lẽ ngay cả người vui vẻ nhất, cũng có thể quyết định tìm đến cái chết trong những hoàn cảnh nhất định; chẳng hạn, khi những đau khổ của anh ta, hoặc nỗi sợ hãi của anh ta về một bất hạnh không thể tránh khỏi nào đó, đạt đến một mức độ lấn át cả nỗi kinh hoàng của cái chết. Sự khác biệt duy nhất nằm ở mức độ đau khổ cần thiết để dẫn đến hành động oan nghiệt này, một mức độ sẽ cao đối với một người vui vẻ, và thấp đối với một người u ám. Sự u sầu càng lớn, thì mức độ cần thiết càng thấp; cuối cùng, nó thậm chí có thể giảm xuống bằng không. Nhưng nếu một người vui vẻ, và tinh thần của anh ta được củng cố bởi một sức khỏe tốt, thì đòi hỏi một mức độ đau khổ rất cao mới có thể khiến anh ta tự kết liễu đời mình. Có vô số những bậc thang trong thang đo giữa hai thái cực của sự tự sát, sự tự sát xuất phát đơn thuần từ một sự tăng cường bệnh lý của sự u ám bẩm sinh, và sự tự sát của người khỏe mạnh và vui vẻ, người có những lý do hoàn toàn khách quan để chấm dứt sự tồn tại của mình.
Sắc đẹp một phần là vấn đề của sức khỏe. Nó có thể được tính là một lợi thế cá nhân; mặc dù, nói một cách chính xác, nó không đóng góp trực tiếp vào hạnh phúc của chúng ta. Nó làm điều đó một cách gián tiếp, bằng cách tạo ấn tượng với người khác; và nó không phải là một lợi thế không quan trọng, ngay cả đối với đàn ông. Sắc đẹp là một bức thư giới thiệu mở, xui khiến trái tim thiên vị người xuất trình nó. Như Homer đã nói rất hay trong những dòng thơ sau, món quà của sắc đẹp không thể bị vứt bỏ một cách dễ dàng, món quà vinh quang đó mà không ai có thể ban tặng ngoài các vị thần:
outoi hapoblaet erti theon erikuoea dora,
ossa ken autoi dosin, ekon douk an tis eloito.
Một cuộc khảo sát tổng quát nhất cho chúng ta thấy rằng hai kẻ thù của hạnh phúc con người là sự đau đớn và sự buồn chán. Chúng ta có thể đi xa hơn, và nói rằng ở mức độ mà chúng ta đủ may mắn để thoát khỏi cái này, chúng ta lại tiến gần đến cái kia. Thực tế, cuộc sống phơi bày một sự dao động ít nhiều dữ dội giữa hai điều này. Lý do của việc này là mỗi thái cực trong hai thái cực này đều đứng trong một sự đối kháng kép với thái cực kia, bên ngoài hoặc khách quan, và bên trong hoặc chủ quan. Môi trường thiếu thốn và sự nghèo đói tạo ra sự đau đớn; trong khi, nếu một người quá dư dả, anh ta sẽ bị buồn chán. Tương ứng với điều đó, trong khi các tầng lớp thấp hơn đang tham gia vào một cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ với sự túng thiếu, nói cách khác, với sự đau đớn, thì tầng lớp thượng lưu lại tiến hành một trận chiến thường xuyên và thường là tuyệt vọng với sự buồn chán. Sự đối kháng bên trong hoặc chủ quan nảy sinh từ thực tế là, ở mỗi cá nhân, sự nhạy cảm với nỗi đau tỷ lệ nghịch với sự nhạy cảm với sự buồn chán, bởi vì sự nhạy cảm tỷ lệ thuận với sức mạnh tinh thần. Để tôi giải thích. Một tâm trí đần độn, như một quy luật, thường đi liền với những cảm giác đần độn, những dây thần kinh mà không một sự kích thích nào có thể tác động, tóm lại là một tính khí không cảm nhận được sự đau đớn hay sự lo âu cho lắm, dẫu cho nó có lớn lao hay khủng khiếp đến đâu. Giờ đây, sự đần độn về mặt trí tuệ nằm ở dưới đáy của cái sự trống rỗng của tâm hồn vốn in hằn trên rất nhiều khuôn mặt, một trạng thái tâm trí tự phản bội chính nó bằng một sự chú ý liên tục và sống động đến mọi tình tiết vụn vặt trong thế giới bên ngoài. Đây là cội nguồn thực sự của sự buồn chán – một sự khao khát không ngừng nghỉ đối với sự kích thích, cốt để có một cái cớ mang lại cho tâm trí và tinh thần một thứ gì đó để chiếm giữ chúng. Loại sự vật mà mọi người chọn cho mục đích này cho thấy rằng họ không quá kén chọn, minh chứng là những trò tiêu khiển thảm hại mà họ tìm đến, và những ý tưởng của họ về thú vui xã giao và trò chuyện: hoặc lại nữa, là số lượng những người ngồi lê đôi mách trước cửa nhà hay há hốc mồm nhìn ra ngoài cửa sổ. Chủ yếu là vì sự trống rỗng nội tâm của tâm hồn này mà con người đi tìm kiếm hội hè, sự giải khuây, sự tiêu khiển, sự xa xỉ đủ mọi loại, thứ dẫn dắt nhiều người đến sự hoang phí và sự khốn cùng. Không có gì là một sự bảo vệ tốt chống lại sự khốn cùng như vậy bằng sự giàu có từ bên trong, sự giàu có của tâm trí, bởi vì nó càng phát triển lớn mạnh, nó càng để lại ít không gian cho sự buồn chán. Hoạt động không mệt mỏi của tư duy! Việc tìm kiếm những chất liệu luôn luôn mới mẻ để rèn giũa trong vô vàn các hiện tượng của bản ngã và tự nhiên, và khả năng cũng như sự sẵn sàng để hình thành nên những sự kết hợp mới mẻ từ chúng, – ở đó bạn có một thứ tiếp thêm sinh lực cho tâm trí, và gạt qua một bên những khoảnh khắc thư giãn, nó đặt tâm trí vượt xa khỏi tầm với của sự buồn chán.
Nhưng, mặt khác, mức độ thông minh cao này bắt nguồn từ một mức độ nhạy cảm cao, sức mạnh ý chí lớn hơn, sự say mê mãnh liệt hơn; và từ sự kết hợp của những phẩm chất này mà nảy sinh một khả năng gia tăng đối với cảm xúc, một sự nhạy cảm được nâng cao đối với mọi nỗi đau tinh thần và thậm chí cả thể xác, sự mất kiên nhẫn lớn hơn đối với các chướng ngại vật, sự oán giận lớn hơn đối với sự gián đoạn; – tất cả những xu hướng này đều được khuếch đại bởi sức mạnh của trí tưởng tượng, đặc tính sống động của toàn bộ phạm vi tư duy, bao gồm cả những điều tồi tệ. Điều này áp dụng, ở các mức độ khác nhau, cho mỗi nấc thang trong thước đo trải dài của sức mạnh tâm trí, từ kẻ đần độn nhất cho đến bậc thiên tài vĩ đại nhất từng sống. Do đó, một người càng ở gần, từ quan điểm chủ quan hay khách quan, với một trong những nguồn gốc của đau khổ trong cuộc sống con người, thì anh ta càng ở xa cái kia. Và vì vậy, khuynh hướng tự nhiên của một người sẽ dẫn dắt anh ta làm cho thế giới khách quan của mình tuân thủ theo thế giới chủ quan của mình càng nhiều càng tốt; nghĩa là, anh ta sẽ thực hiện những biện pháp tối đa để chống lại hình thức đau khổ mà anh ta dễ mắc phải nhất. Người khôn ngoan sẽ, trên hết, nỗ lực phấn đấu vì sự tự do khỏi nỗi đau và sự phiền nhiễu, vì sự tĩnh lặng và nhàn rỗi, do đó là một cuộc sống yên bình, khiêm tốn, với càng ít những cuộc đụng độ càng tốt; và vì vậy, sau một chút kinh nghiệm với những kẻ được gọi là đồng loại của mình, anh ta sẽ chọn sống ẩn dật, hoặc thậm chí, nếu anh ta là một người có trí tuệ vĩ đại, trong sự cô độc. Bởi vì một người càng có nhiều thứ trong chính bản thân mình, anh ta càng ít đòi hỏi từ người khác, – thậm chí, người khác càng ít có thể mang lại ý nghĩa cho anh ta. Đây là lý do tại sao một mức độ trí tuệ cao lại có xu hướng khiến một người trở nên kém hòa đồng. Đúng là, nếu chất lượng của trí tuệ có thể được bù đắp bằng số lượng, thì có lẽ cũng đáng để sống ngay cả trong thế giới rộng lớn; nhưng thật không may, một trăm kẻ ngốc tụ tập lại cũng sẽ không tạo ra được một người khôn ngoan.
Nhưng cái cá nhân đứng ở đầu bên kia của thang đo thì ngay khi vừa thoát khỏi những cơn đau nhói của sự túng thiếu, hắn lập tức tìm cách có được sự tiêu khiển và giao du bằng mọi giá, bắt chuyện với người đầu tiên hắn gặp, và không lảng tránh điều gì cho bằng chính bản thân hắn. Bởi vì trong sự cô độc, nơi mỗi người đều bị ném trở lại vào những nguồn lực của chính mình, những gì một người có trong chính bản thân mình sẽ được phơi bày ra ánh sáng; kẻ ngốc trong những bộ đồ lộng lẫy rên rỉ dưới gánh nặng của nhân cách thảm hại của hắn, một gánh nặng mà hắn không bao giờ có thể trút bỏ, trong khi người tài năng lại lấp đầy những không gian hoang vắng bằng những tư tưởng truyền sức sống của anh ta. Seneca tuyên bố rằng sự ngu xuẩn chính là gánh nặng của riêng nó, – omnis stultitia laborat fastidio sui, – một câu nói rất đúng, mà có thể đem so sánh với những lời của Chúa Jesus, con trai của Sirach, Cuộc đời của một kẻ ngốc còn tồi tệ hơn cả cái chết. Và, như một quy luật, người ta sẽ nhận thấy rằng một người hòa đồng, quảng giao tỷ lệ thuận với việc anh ta nghèo nàn về mặt trí tuệ và nhìn chung là dung tục. Bởi vì sự lựa chọn của một người trong thế giới này không vượt xa hơn sự cô độc ở một thái cực và sự dung tục ở thái cực kia. Người ta nói rằng những người hòa đồng nhất trong tất cả các dân tộc là người da đen; và họ ở dưới cùng của thang đo trí tuệ. Tôi nhớ đã từng đọc trên một tờ báo Pháp rằng những người da đen ở Bắc Mỹ, dù là người tự do hay nô lệ, đều thích nhốt mình với số lượng lớn trong một không gian nhỏ nhất, bởi vì họ không bao giờ cảm thấy quá dư thừa sự hiện diện của những chiếc mũi tẹt của nhau.
Não bộ có thể được coi là một loại ký sinh trùng của cơ thể, một kẻ ăn bám, có thể nói như vậy, ngụ cùng với thể xác: và sự nhàn rỗi, tức là, thời gian mà một người có để tự do tận hưởng ý thức hoặc cá tính của mình, chính là kết quả hay sản phẩm của phần còn lại của sự tồn tại, vốn dĩ nhìn chung chỉ là lao động và nỗ lực. Nhưng sự nhàn rỗi của hầu hết mọi người mang lại điều gì? – sự buồn chán và đần độn; ngoại trừ, tất nhiên, khi nó bị lấp đầy bởi khoái cảm nhục dục hoặc sự ngu ngốc. Có thể thấy sự nhàn rỗi đó ít ỏi giá trị đến nhường nào qua cái cách mà nó được tiêu xài: và, như Ariosto đã quan sát, những giờ phút nhàn rỗi của những kẻ ngu dốt mới thảm hại làm sao! – ozio lungo d’uomini ignoranti. Những người bình thường chỉ nghĩ đến việc làm thế nào để tiêu xài thời gian của họ; một người có bất kỳ tài năng nào cũng cố gắng để sử dụng nó. Lý do tại sao những người có trí tuệ hạn hẹp lại dễ bị buồn chán là vì trí tuệ của họ hoàn toàn không có gì hơn ngoài một phương tiện nhờ đó sức mạnh động cơ của ý chí được đưa vào thực thi: và bất cứ khi nào không có điều gì đặc biệt để thúc đẩy ý chí hoạt động, nó sẽ nghỉ ngơi, và trí tuệ của họ cũng đi nghỉ mát, bởi vì, giống hệt như ý chí, nó đòi hỏi một thứ gì đó từ bên ngoài để kéo nó vào cuộc. Kết quả là một sự đình trệ khủng khiếp của bất kỳ sức mạnh nào mà một người sở hữu – gói gọn bằng một từ thôi, là sự buồn chán. Để chống lại cảm giác khốn khổ này, con người tìm đến những thứ vặt vãnh mang lại niềm vui tức thời khi họ bắt tay vào, hy vọng bằng cách này sẽ lôi kéo được ý chí nhằm khơi dậy nó hành động, và do đó làm cho trí tuệ hoạt động; bởi vì chính cái sau mới là thứ phải mang lại hiệu quả cho những động cơ này của ý chí. So với những động cơ thực sự và tự nhiên, những thứ này chỉ giống như tiền giấy so với tiền xu đúc; bởi vì giá trị của chúng chỉ mang tính võ đoán – các trò chơi đánh bài và những thứ đại loại như thế, đã được phát minh ra vì chính mục đích này. Và nếu không có gì khác để làm, một người sẽ mân mê ngón tay cái của mình hoặc dậm chân liên hồi; hoặc một điếu xì gà có thể là một sự thay thế đáng hoan nghênh cho việc rèn luyện trí não của anh ta. Do đó, ở tất cả các quốc gia, hoạt động chính của xã hội thượng lưu là đánh bài, và đó là thước đo giá trị của nó, và là một dấu hiệu bên ngoài cho thấy nó đã phá sản về mặt tư tưởng. Vì mọi người không có ý tưởng nào để trao đổi, họ chia bài, và cố gắng giành lấy tiền của nhau. Những kẻ ngốc! Nhưng tôi không muốn trở nên bất công; vì vậy hãy để tôi nhận xét rằng chắc chắn có thể nói để bảo vệ trò chơi đánh bài rằng nó là một sự chuẩn bị cho thế giới và cho cuộc sống kinh doanh, bởi vì thông qua đó người ta học được cách sử dụng khéo léo những hoàn cảnh ngẫu nhiên nhưng không thể thay đổi (trong trường hợp này là những quân bài), và vắt kiệt tối đa giá trị từ chúng: và để làm được điều này, một người phải học một chút sự đạo đức giả, và cách để giữ một vẻ mặt bình thản trước một thương vụ tồi tệ. Nhưng, mặt khác, chính vì lý do này mà việc đánh bài lại làm tha hóa đạo đức đến vậy, vì toàn bộ mục đích của nó là sử dụng đủ mọi mánh khóe và thủ đoạn hòng giành lấy những gì thuộc về người khác. Và một thói quen kiểu này, học được trên bàn bài, sẽ bắt rễ và chen ngang vào cuộc sống thực tiễn; và trong những công việc thường ngày, một người sẽ dần dần đi đến chỗ coi cái của tôi và cái của bạn dưới cùng một lăng kính như những quân bài, và cho rằng hắn có thể sử dụng đến mức tối đa bất kỳ lợi thế nào mà hắn sở hữu, miễn là hắn không vướng vào vòng pháp luật. Những ví dụ về điều tôi muốn nói là sự việc xảy ra hàng ngày trong đời sống thương mại. Do đó, vì sự nhàn rỗi là bông hoa, hay nói đúng hơn là trái ngọt, của sự tồn tại, vì nó đưa một người vào sự sở hữu của chính bản thân anh ta, nên những người thực sự sở hữu một điều gì đó bên trong mình là những người hạnh phúc. Nhưng bạn nhận được gì từ sự nhàn rỗi của hầu hết mọi người? – chỉ là một gã vô tích sự, đang buồn chán kinh khủng và trở thành một gánh nặng cho chính bản thân mình. Vì vậy, hỡi các anh em thân mến, chúng ta hãy vui mừng, bởi chúng ta không phải là con cái của nữ tỳ, mà là của người đàn bà tự do.
Hơn nữa, cũng giống như không có vùng đất nào sung túc bằng vùng đất cần ít hàng nhập khẩu, hoặc không cần một chút nào, thì người hạnh phúc nhất là người có đủ sự giàu có nội tâm của chính mình, và cần rất ít hoặc không cần gì từ bên ngoài để duy trì bản thân, bởi vì hàng nhập khẩu là những thứ đắt đỏ, bộc lộ sự phụ thuộc, kéo theo nguy hiểm, gây ra rắc rối, và suy cho cùng, là một sự thay thế tồi tàn cho sản phẩm quốc nội. Không một ai nên kỳ vọng nhiều vào người khác, hay, nói chung, vào thế giới bên ngoài. Những gì một con người có thể mang lại cho một người khác không phải là một điều quá lớn lao: rốt cuộc thì ai cũng phải đứng một mình, và điều quan trọng là ai là người đang đứng một mình. Vậy thì, đây là một sự ứng dụng khác của một chân lý phổ quát mà Goethe đã thừa nhận trong tác phẩm Dichtung und Wahrheit [Thơ ca và Sự thật – Quyển III.], rằng trong mọi sự, một người rốt cuộc phải viện đến chính mình; hoặc, như Goldsmith đã đặt nó trong bài thơ The Traveller:
Dẫu ở chốn nào cũng phải phó thác cho chính mình
Niềm hạnh phúc của ta, ta tự tạo ra hoặc tự kiếm tìm.
Chính bản thân anh ta là cội nguồn của những điều tốt đẹp nhất và lớn lao nhất mà một người có thể trở thành hay đạt được. Điều này càng đúng bao nhiêu – một người càng tìm thấy cội nguồn của niềm vui trong chính mình – thì anh ta sẽ càng hạnh phúc bấy nhiêu. Do đó, Aristotle đã nói với một sự thật vô cùng lớn lao rằng, Hạnh phúc nghĩa là tự mình đã đủ. Bởi vì tất cả các cội nguồn hạnh phúc khác, về bản chất, đều vô cùng bấp bênh, mong manh, phù du, là trò đùa của cơ may; và vì thế, ngay cả trong những hoàn cảnh thuận lợi nhất, chúng cũng có thể dễ dàng bị cạn kiệt; hơn thế nữa, điều này là không thể tránh khỏi, bởi vì chúng không phải lúc nào cũng ở trong tầm tay. Và khi về già, những cội nguồn hạnh phúc này tất yếu phải khô cạn: – tình yêu rời bỏ chúng ta, và cả sự dí dỏm, khát khao xê dịch, niềm say mê với ngựa, khả năng giao tiếp xã hội; bạn bè và người thân, cũng vậy, bị cái chết tước đoạt khỏi chúng ta. Khi đó, hơn bao giờ hết, nó phụ thuộc vào những gì một người có trong chính bản thân mình; bởi vì điều này sẽ bám trụ lại với anh ta lâu nhất; và ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời, nó là cội nguồn hạnh phúc đích thực và trường tồn duy nhất. Không có nhiều thứ để giành được ở bất cứ đâu trên thế giới này. Nó tràn ngập sự khốn khổ và đau đớn; và nếu một người thoát khỏi những điều này, sự buồn chán lại chực chờ anh ta ở mọi ngóc ngách. Thậm chí còn hơn thế nữa; cái ác nhìn chung thường chiếm thế thượng phong, và sự ngu xuẩn lại tạo ra tiếng ồn lớn nhất. Số phận thật tàn nhẫn, và nhân loại thật đáng thương. Trong một thế giới như thế này, một người giàu có trong chính bản thân mình giống như một căn phòng bừng sáng, ấm áp, hạnh phúc giữa đêm Giáng sinh, trong khi bên ngoài là sương giá và băng tuyết của một đêm tháng Chười hai. Do đó, không nghi ngờ gì nữa, số phận hạnh phúc nhất trên đời là có được món quà hiếm hoi của một cá tính phong phú, và, đặc biệt hơn nữa là được ban phú cho một trí tuệ tốt; đây là số phận hạnh phúc nhất, mặc dù rốt cuộc, nó có thể không phải là một số phận quá chói lọi.
Có một sự khôn ngoan lớn lao trong nhận xét mà Nữ hoàng Christina của Thụy Điển đã đưa ra, vào năm mười chín tuổi, về Descartes, người lúc bấy giờ đã sống ẩn dật suốt hai mươi năm trong sự cô độc tột cùng ở Hà Lan, và, ngoài những lời đồn đại, chỉ được bà biết đến qua một bài tiểu luận duy nhất: Ngài Descartes, bà nói, là người hạnh phúc nhất trong những người đàn ông, và tình cảnh của ông ấy đối với ta dường như rất đáng ghen tị. Đương nhiên, như trường hợp của Descartes, những hoàn cảnh bên ngoài phải đủ thuận lợi để cho phép một người làm chủ cuộc đời và hạnh phúc của mình; hoặc, như chúng ta đọc trong sách Truyền đạo – Sự khôn ngoan đi cùng với cơ nghiệp là điều tốt đẹp, và có ích cho những ai nhìn thấy mặt trời. Người được tự nhiên và số phận ban tặng phước lành của sự khôn ngoan, sẽ vô cùng lo lắng và cẩn trọng để giữ cho những suối nguồn hạnh phúc mà anh ta có trong chính bản thân mình luôn tuôn chảy; và đối với điều này, sự độc lập và nhàn rỗi là cần thiết. Để đạt được chúng, anh ta sẽ sẵn lòng tiết chế những ham muốn của mình và gìn giữ những nguồn lực của mình, đặc biệt là vì anh ta không bị hạn chế vào thế giới bên ngoài đối với những niềm vui của mình, giống như những người khác. Vì vậy, anh ta sẽ không bị đánh lừa bởi những kỳ vọng về chức tước, hay tiền bạc, hay sự sủng ái và tán thưởng của đồng loại, mà dẫn đến việc từ bỏ chính mình để chiều theo những ham muốn thấp hèn và những thị hiếu dung tục; hơn thế nữa, trong trường hợp như vậy, anh ta sẽ làm theo lời khuyên mà Horace đã đưa ra trong bức thư gửi Maecenas.
Ta không ca ngợi giấc ngủ của kẻ thường dân, no nê thịt béo, ta cũng không
Đánh đổi sự nhàn rỗi tự do nhất của mình lấy của cải xứ Ả Rập.
Thật là một sự ngu ngốc lớn lao khi hy sinh con người bên trong cho con người bên ngoài, đánh đổi toàn bộ hoặc phần lớn sự tĩnh lặng, sự nhàn rỗi và sự độc lập của mình lấy sự lộng lẫy, địa vị, sự hào nhoáng, tước hiệu và danh dự. Đây là những gì Goethe đã làm. May mắn thay của tôi đã kéo tôi đi theo một hướng hoàn toàn ngược lại.
Sự thật mà tôi đang nhấn mạnh ở đây, sự thật, cụ thể là, cội nguồn chính của hạnh phúc con người nằm ở bên trong, được củng cố bởi quan sát cực kỳ chính xác của Aristotle trong tác phẩm Đạo đức học Nichomachean rằng mọi khoái lạc đều tiền giả định một dạng hoạt động nào đó, sự ứng dụng của một loại sức mạnh nào đó, mà không có nó thì khoái lạc không thể tồn tại. Học thuyết của Aristotle, rằng hạnh phúc của một người bao gồm sự rèn luyện tự do những năng lực cao nhất của anh ta, cũng được Stobaeus phát biểu trong bài diễn giải của ông về triết học Tiêu dao: hạnh phúc, ông nói, nghĩa là hoạt động mạnh mẽ và thành công trong mọi công việc của bạn; và ông giải thích rằng bằng sự mạnh mẽ, ý ông muốn nói đến sự tinh thông trong bất cứ điều gì, bất kể đó là gì. Giờ đây, mục đích ban đầu của những sức mạnh mà tự nhiên ban tặng cho con người là để cho phép anh ta đấu tranh chống lại những khó khăn bủa vây anh ta từ mọi phía. Nhưng nếu cuộc đấu tranh này đi đến hồi kết, những sức mạnh không được sử dụng của anh ta sẽ trở thành một gánh nặng cho anh ta; và anh ta phải bắt tay vào làm việc và đùa giỡn với chúng, – sử dụng chúng, ý tôi là, chẳng vì mục đích gì cả, ngoài việc tránh khỏi cái nguồn gốc đau khổ thứ hai của con người, sự buồn chán, thứ mà anh ta ngay lập tức phải phơi mình ra trước nó. Chính tầng lớp thượng lưu, những người có của cải, mới là những nạn nhân lớn nhất của sự buồn chán. Lucretius từ lâu đã miêu tả tình trạng khốn khổ của họ, và sự thật trong lời miêu tả của ông ngày nay vẫn có thể được nhận ra, trong nhịp sống của mọi thủ đô sầm uất – nơi những kẻ giàu có hiếm khi ở trong chính dinh thự của mình, bởi vì ở đó hắn cảm thấy buồn chán, và rồi hắn lại quay về đó, bởi vì ở bên ngoài cũng chẳng khá khẩm hơn; – hoặc nếu không, hắn sẽ phóng như bay về ngôi nhà ở nông thôn của mình, như thể nó đang bốc cháy; và hắn ta vừa đến đó, thì lại thấy buồn chán, và tìm cách quên đi mọi thứ trong giấc ngủ, hoặc nếu không thì lại hối hả quay trở lại thành phố một lần nữa.
Exit saepe foras magnis ex aedibus ille,
Esse domi quem pertaesum est, subitoque reventat,
Quippe foris nihilo melius qui sentiat esse.
Currit, agens mannos, ad villam precipitanter,
Auxilium tectis quasi ferre ardentibus instans:
Oscitat extemplo, tetigit quum limina villae;
Aut abit in somnum gravis, atque oblivia quaerit;
Aut etiam properans urbem petit atque revisit.
Khi còn trẻ, những người như vậy hẳn phải có một sự dư thừa về năng lượng cơ bắp và sinh lực, – những sức mạnh, không giống như của tâm trí, không thể duy trì được mức độ mạnh mẽ tối đa của chúng quá lâu; và trong những năm tháng sau này, họ hoặc là hoàn toàn không có sức mạnh tinh thần nào, hoặc không thể phát triển bất kỳ sức mạnh nào vì thiếu những công việc có thể kéo chúng vào cuộc; vì thế mà họ lâm vào một tình cảnh khốn cùng. Tuy nhiên, họ vẫn sở hữu ý chí, bởi vì đây là sức mạnh duy nhất không bao giờ cạn kiệt; và họ cố gắng kích thích ý chí của mình bằng những sự phấn khích đầy đam mê, chẳng hạn như những trò chơi may rủi với số tiền cược lớn – chắc chắn là một hình thức tha hóa nhất của thói hư tật xấu. Và người ta có thể nói một cách tổng quát rằng nếu một người thấy mình không có việc gì để làm, anh ta chắc chắn sẽ chọn một trò tiêu khiển nào đó phù hợp với loại sức mạnh mà ở đó anh ta xuất sắc, – có thể là ném bóng, hoặc cờ vua; đi săn hoặc vẽ tranh; đua ngựa hoặc âm nhạc; đánh bài, hoặc làm thơ, nghiên cứu huy hiệu học, triết học, hoặc một sở thích nghiệp dư nào khác. Chúng ta có thể phân loại những sở thích này một cách có phương pháp, bằng cách quy giản chúng thành những biểu hiện của ba loại sức mạnh cơ bản, tức là, các yếu tố tạo nên cấu trúc sinh lý của con người; và xa hơn nữa, bằng cách tự mình xem xét những sức mạnh này, tách biệt khỏi bất kỳ mục tiêu xác định nào mà chúng có thể phục vụ, và đơn giản chỉ coi chúng như ba nguồn cung cấp khoái lạc có thể có, từ đó mỗi người sẽ chọn những gì phù hợp với mình, tùy theo việc anh ta xuất sắc ở phương diện nào.
Trước hết là những khoái lạc của sinh lực, của thức ăn, đồ uống, sự tiêu hóa, sự nghỉ ngơi và giấc ngủ; và có những khu vực trên thế giới mà người ta có thể nói rằng đây là những khoái lạc đặc trưng và mang tính quốc gia. Thứ hai, có những khoái lạc của năng lượng cơ bắp, chẳng hạn như đi bộ, chạy, đấu vật, nhảy múa, đấu kiếm, cưỡi ngựa và các môn thể thao tương tự, đôi khi mang hình thức của thể thao, và đôi khi là của đời sống quân ngũ và chiến tranh thực sự. Thứ ba, có những khoái lạc của sự nhạy cảm, chẳng hạn như sự quan sát, tư duy, cảm nhận, hay niềm say mê đối với thơ ca hoặc văn hóa, âm nhạc, học vấn, đọc sách, thiền định, phát minh, triết học và những thứ tương tự. Về giá trị, giá trị tương đối và độ bền của mỗi loại khoái lạc này, có rất nhiều điều để nói, tuy nhiên, tôi xin nhường lại cho độc giả tự mình bổ sung. Nhưng mọi người sẽ thấy rằng sức mạnh được đưa vào hoạt động càng cao quý, thì khoái lạc mà nó mang lại sẽ càng lớn lao; bởi vì khoái lạc luôn bao hàm việc sử dụng những sức mạnh của chính mình, và hạnh phúc bao gồm sự lặp đi lặp lại thường xuyên của khoái lạc. Không ai có thể phủ nhận rằng về mặt này, những khoái lạc của sự nhạy cảm chiếm một vị trí cao hơn so với một trong hai loại cơ bản còn lại; những thứ vốn tồn tại ở một mức độ tương đương, thậm chí, ở một mức độ cao hơn ở loài thú; chính lượng nhạy cảm chiếm ưu thế này mới là thứ phân biệt con người với các loài động vật khác. Giờ đây, những sức mạnh tinh thần của chúng ta là những hình thức của sự nhạy cảm, và do đó, lượng nhạy cảm chiếm ưu thế khiến chúng ta có khả năng đón nhận loại khoái lạc liên quan đến tâm trí, cái được gọi là khoái lạc trí tuệ; và sự nhạy cảm càng chiếm ưu thế, thì khoái lạc sẽ càng lớn lao.
Người bình thường, thông thường chỉ dành sự quan tâm sống động cho một điều gì đó chừng nào nó kích thích ý chí của anh ta, nói cách khác, là một vấn đề liên quan đến lợi ích cá nhân của anh ta. Nhưng sự kích thích liên tục của ý chí không bao giờ là một điều hoàn toàn tốt đẹp, nói một cách nhẹ nhàng nhất; hay nói cách khác, nó bao hàm cả sự đau đớn. Việc đánh bài, cái trò tiêu khiển phổ biến của “xã hội thượng lưu” ở khắp mọi nơi, là một mánh khóe để cung cấp loại kích thích này, và hơn nữa, bằng những mối quan tâm quá đỗi nhỏ bé để tạo ra một nỗi đau nhẹ nhàng và thoảng qua, thay vì một nỗi đau thực sự và vĩnh viễn. Đánh bài, trên thực tế, chỉ là một sự cù lét vào ý chí.
Mặt khác, một người có trí tuệ hùng mạnh có khả năng dành một sự quan tâm sống động cho sự vật theo phương thức của tri thức đơn thuần, mà không hề pha trộn ý chí; hơn thế nữa, một sự quan tâm như vậy là một điều tất yếu đối với anh ta. Nó đặt anh ta vào một không gian nơi nỗi đau là một kẻ xa lạ, – một bầu không khí thần thánh hơn, nơi các vị thần sống trong sự thanh thản.
Hãy nhìn vào hai bức tranh này – cuộc sống của đám đông, một bản ghi chép dài đằng đẵng, tẻ nhạt về những cuộc đấu tranh và nỗ lực hoàn toàn hiến dâng cho những lợi ích nhỏ nhoi của phúc lợi cá nhân, cho sự khốn khổ dưới mọi hình thức, một cuộc sống bị bủa vây bởi sự buồn chán không thể chịu đựng nổi ngay khi những mục tiêu đó được thỏa mãn và con người bị ném trở lại vào chính mình, để rồi từ đó anh ta chỉ có thể được đánh thức để thực hiện một kiểu chuyển động nào đó nhờ vào ngọn lửa cuồng nộ của đam mê. Ở phía bên kia, bạn có một người được ban phú cho một mức độ sức mạnh tâm trí cao, dẫn dắt một sự tồn tại phong phú về tư tưởng và ngập tràn sức sống cùng ý nghĩa, bận rộn với những đối tượng xứng đáng và thú vị ngay khi anh ta rảnh rỗi để hiến dâng mình cho chúng, mang trong mình cội nguồn của khoái lạc cao quý nhất. Những sự thôi thúc bên ngoài mà anh ta cần đến từ những công trình của tự nhiên, và từ việc chiêm nghiệm những sự vụ của con người cũng như những thành tựu của các bậc vĩ nhân ở mọi thời đại và mọi quốc gia, những thứ vốn chỉ được trân trọng một cách trọn vẹn bởi một người thuộc loại này, với tư cách là người duy nhất có thể hoàn toàn thấu hiểu và đồng cảm với họ. Và vì thế, chính là cho riêng anh ta mà những bậc vĩ nhân ấy đã thực sự sống; chính là cho anh ta mà họ đưa ra lời hiệu triệu của mình; những người còn lại chỉ là những thính giả tình cờ chỉ hiểu được một nửa, cả về họ lẫn những người theo gót họ. Tất nhiên, đặc điểm này của người trí thức ngụ ý rằng anh ta có thêm một nhu cầu so với những người khác, nhu cầu được đọc, quan sát, nghiên cứu, thiền định, thực hành, tóm lại là nhu cầu về sự nhàn rỗi không bị quấy rầy. Bởi vì, như Voltaire đã nói rất đúng, không có khoái lạc thực sự nào nếu không có nhu cầu thực sự; và nhu cầu về chúng là lý do tại sao đối với một người như vậy, những khoái lạc có thể tiếp cận được lại là những điều bị từ chối đối với những người khác, – những vẻ đẹp đa dạng của tự nhiên, nghệ thuật và văn chương. Đem chất đống những khoái lạc này xung quanh những người không cần và không thể trân trọng chúng, cũng giống như kỳ vọng những sợi tóc bạc sẽ biết yêu. Một người có đặc quyền về mặt này dẫn dắt hai cuộc đời, một cuộc đời cá nhân và một cuộc đời trí thức; và cuộc đời sau dần dần được xem là cuộc đời đích thực, còn cuộc đời trước chỉ đơn thuần là một phương tiện cho nó. Những người khác lại lấy sự tồn tại nông cạn, trống rỗng và rắc rối này làm mục đích tự thân. Đối với cuộc đời của trí tuệ, một người như vậy sẽ dành sự ưu tiên hơn hẳn mọi công việc khác của mình: thông qua sự phát triển không ngừng của nhận thức và tri thức, cuộc đời trí thức này, giống như một tác phẩm nghệ thuật đang từ từ hình thành, sẽ đạt được một sự nhất quán, một cường độ vĩnh cửu, một sự thống nhất ngày càng trở nên trọn vẹn hơn; so với nó, một cuộc đời hiến dâng cho việc đạt được sự thoải mái cá nhân, một cuộc đời quả thực có thể rộng mở, nhưng không bao giờ có thể sâu sắc hơn, chỉ là một màn trình diễn nghèo nàn: thế nhưng, như tôi đã nói, người ta lại lấy thứ tồn tại thấp kém hơn này làm mục đích tự thân.
Cuộc sống bình thường của mỗi ngày, chừng nào nó không bị đam mê lay động, thì thật tẻ nhạt và vô vị; và nếu nó bị lay động, nó sẽ nhanh chóng trở nên đau đớn. Chỉ những người được tự nhiên ưu ái ban cho một chút sự dư thừa về trí tuệ, một thứ gì đó vượt xa mức cần thiết để thực hiện các mệnh lệnh của ý chí, mới là những người hạnh phúc; bởi vì nó cho phép họ dẫn dắt một cuộc sống trí thức, một cuộc sống không bị nỗi đau đi kèm và tràn ngập những mối quan tâm sống động. Sự nhàn rỗi đơn thuần, nói cách khác, trí tuệ không bận rộn trong việc phục vụ ý chí, tự bản thân nó là chưa đủ: phải có một sự dư thừa thực sự của sức mạnh, được giải phóng khỏi sự phục vụ cho ý chí và hiến dâng cho trí tuệ; bởi vì, như Seneca nói, otium sine litteris mors est et vivi hominis sepultura – sự nhàn rỗi mà không có học vấn là một hình thức của cái chết, một nấm mồ chôn sống. Tùy thuộc vào lượng dư thừa, sẽ có vô số những sự phát triển trong cuộc đời thứ hai này, cuộc đời của tâm trí; nó có thể chỉ là việc thu thập và dán nhãn các loài côn trùng, chim chóc, khoáng vật, tiền xu, hoặc là những thành tựu cao nhất của thơ ca và triết học. Cuộc sống của tâm trí không chỉ là một sự bảo vệ chống lại sự buồn chán; nó còn xua đuổi những tác động tai hại của sự buồn chán; nó giữ chúng ta tránh xa khỏi những mối giao du tồi tệ, khỏi vô số những mối hiểm nguy, những bất hạnh, những mất mát và sự hoang phí mà kẻ đặt toàn bộ hạnh phúc của mình vào thế giới khách quan chắc chắn sẽ phải chạm trán. Chẳng hạn, triết lý của tôi chưa bao giờ mang lại cho tôi lấy một đồng sáu xu; nhưng nó đã cứu tôi khỏi biết bao khoản chi phí.
Người bình thường đặt hạnh phúc cuộc đời mình vào những thứ bên ngoài anh ta, vào tài sản, địa vị, vợ và con cái, bạn bè, xã hội, và những thứ tương tự, vì vậy khi anh ta đánh mất chúng hoặc thấy chúng gây thất vọng, nền tảng hạnh phúc của anh ta cũng bị phá hủy. Nói cách khác, trọng tâm của anh ta không nằm ở chính bản thân anh ta; nó không ngừng thay đổi vị trí, cùng với mỗi ước muốn và ý thích bất chợt. Nếu anh ta là người có tiền, một ngày nọ đó sẽ là ngôi nhà ở nông thôn của anh ta, một ngày khác lại là việc mua ngựa, hoặc tiếp đãi bạn bè, hoặc đi du lịch, – tóm lại, là một cuộc sống ngập trong sự xa hoa nói chung, lý do là vì anh ta tìm kiếm niềm vui của mình ở những thứ bên ngoài mình. Giống như một người đã mất đi sức khỏe và sức mạnh, anh ta cố gắng lấy lại bằng cách sử dụng các loại thạch và thuốc men, thay vì phát triển sinh lực của chính mình, cội nguồn đích thực của những gì anh ta đã đánh mất. Trước khi chuyển sang phần ngược lại, hãy để chúng ta so sánh với kiểu người phổ biến này bằng một người nằm ở khoảng giữa hai thái cực, được ban phú, có thể nói, không hẳn là với những sức mạnh xuất chúng của tâm trí, mà với một lượng trí tuệ nhỉnh hơn một chút so với mức bình thường. Anh ta sẽ có một sự quan tâm nghiệp dư đối với nghệ thuật, hoặc dành sự chú ý của mình cho một nhánh khoa học nào đó – thực vật học, chẳng hạn, hoặc vật lý, thiên văn học, lịch sử, và tìm thấy rất nhiều niềm vui trong những nghiên cứu như vậy, và tự mua vui bằng chúng khi các lực lượng hạnh phúc bên ngoài cạn kiệt hoặc không còn làm anh ta thỏa mãn nữa. Về một người như thế này, người ta có thể nói rằng trọng tâm của anh ta nằm một phần trong chính bản thân anh ta. Nhưng một sự quan tâm nghiệp dư đối với nghệ thuật là một điều rất khác biệt so với hoạt động sáng tạo; và một sự theo đuổi khoa học không chuyên thường dễ trở nên hời hợt và không thâm nhập được vào cốt lõi của vấn đề. Một người không thể hoàn toàn đồng nhất bản thân mình với những sự theo đuổi như vậy, hoặc để cho toàn bộ sự tồn tại của mình được lấp đầy và thấm nhuần bởi chúng đến mức anh ta đánh mất mọi sự quan tâm đến những thứ khác. Chỉ có sức mạnh trí tuệ cao nhất, cái mà chúng ta gọi là thiên tài, mới đạt đến mức độ cường độ này, biến toàn bộ thời gian và sự tồn tại thành chủ đề của nó, và khao khát được diễn đạt quan niệm đặc biệt của nó về thế giới, cho dù nó chiêm nghiệm cuộc sống như là chủ đề của thơ ca hay của triết học. Do đó, sự bận rộn không bị quấy rầy với chính bản thân mình, những suy nghĩ và tác phẩm của chính mình, là một vấn đề mang tính cấp thiết khẩn thiết đối với một người như vậy; sự cô độc được chào đón, sự nhàn rỗi là điều tốt đẹp nhất, và mọi thứ khác đều không cần thiết, thậm chí còn là một gánh nặng.
Đây là kiểu người duy nhất mà người ta có thể nói rằng trọng tâm của anh ta nằm hoàn toàn trong chính bản thân anh ta; điều này giải thích tại sao những người thuộc loại này—và họ rất hiếm—bất kể tính cách của họ có tuyệt vời đến đâu, lại không thể hiện sự quan tâm nồng nhiệt và vô hạn đối với bạn bè, gia đình, và cộng đồng nói chung, điều mà những người khác thường có khả năng làm được; bởi vì nếu họ chỉ có chính bản thân mình, họ sẽ không cảm thấy không thể nguôi ngoai trước sự mất mát của tất cả những thứ khác. Điều này mang lại một sự cô lập cho tính cách của họ, điều này càng trở nên hiệu quả hơn khi những người khác không bao giờ thực sự hoàn toàn làm họ thỏa mãn, bởi vì, nhìn chung, họ thuộc về một bản chất khác biệt: thậm chí, vì sự khác biệt này liên tục đập vào mắt họ, họ dần quen với việc di chuyển giữa nhân loại như những sinh vật xa lạ, và khi nghĩ về nhân loại nói chung, họ dùng từ họ thay vì chúng ta.
Vậy thì kết luận mà chúng ta đi đến là, người mà Tự nhiên ban tặng cho sự giàu có về trí tuệ là người hạnh phúc nhất; quả thật là như vậy, cái chủ quan liên quan đến chúng ta nhiều hơn cái khách quan; bởi vì dù cái khách quan có là gì đi nữa, nó chỉ có thể hoạt động một cách gián tiếp, thứ cấp, và thông qua môi trường của cái chủ quan—một chân lý được Lucian diễn đạt rất hay:
Aeloutos ho taes psychaes ploutus monos estin alaethaes
Talla dechei ataen pleiona ton kteanon
Sự giàu có của tâm hồn là sự giàu có đích thực duy nhất, bởi vì với tất cả những sự giàu sang khác, lại đi kèm với một mầm mống tai họa thậm chí còn lớn lao hơn chúng. Một người có sự giàu có nội tâm không đòi hỏi điều gì từ bên ngoài ngoại trừ món quà mang tính phủ định là sự nhàn rỗi không bị quấy rầy, để phát triển và làm chín muồi các năng lực trí tuệ của mình, tức là, để tận hưởng sự giàu có của mình; tóm lại, anh ta muốn sự cho phép để được là chính mình, trong suốt cả cuộc đời mình, mỗi ngày và mỗi giờ. Nếu anh ta được định sẵn để in dấu ấn tính cách tâm trí của mình lên toàn bộ một chủng tộc, anh ta chỉ có một thước đo cho sự hạnh phúc hay bất hạnh – thành công hay thất bại trong việc hoàn thiện các năng lực của mình và hoàn thành tác phẩm của mình. Mọi thứ khác đều mang tầm quan trọng thứ yếu. Tương ứng với điều đó, những bộ óc vĩ đại nhất của mọi thời đại đã đặt giá trị cao nhất vào sự nhàn rỗi không bị quấy rầy, coi nó có giá trị ngang bằng chính xác với bản thân con người. Hạnh phúc dường như bao gồm sự nhàn rỗi, Aristotle nói; và Diogenes Laertius báo cáo rằng Socrates đã ca ngợi sự nhàn rỗi như là tài sản tốt đẹp nhất trong tất cả các tài sản. Vì vậy, trong cuốn Đạo đức học Nichomachean, Aristotle kết luận rằng một cuộc sống hiến dâng cho triết học là hạnh phúc nhất; hoặc, như ông nói trong cuốn Chính trị học, sự thực hành tự do của bất kỳ năng lực nào, bất kể nó là gì, chính là hạnh phúc. Điều này một lần nữa, ăn khớp với những gì Goethe nói trong cuốn Wilhelm Meister: Người được sinh ra với một tài năng mà anh ta được định sẵn để sử dụng, sẽ tìm thấy hạnh phúc lớn nhất của mình trong việc sử dụng nó.
Nhưng để sở hữu sự nhàn rỗi không bị quấy rầy, khác xa với việc là một phần số chung; thậm chí, nó là một thứ gì đó xa lạ với bản chất con người, bởi vì định mệnh của người bình thường là dành cả cuộc đời để mua sắm những thứ cần thiết cho sự sinh tồn của bản thân và gia đình; anh ta là một đứa con của cuộc đấu tranh và sự túng thiếu, không phải là một trí tuệ tự do. Vì vậy, như một quy luật, con người sẽ nhanh chóng cảm thấy mệt mỏi với sự nhàn rỗi không bị quấy rầy, và nó sẽ trở nên gánh nặng nếu không có những mục tiêu hư cấu và khiên cưỡng để lấp đầy nó, những trò chơi, sự tiêu khiển và những sở thích đủ mọi loại. Chính vì lý do này mà nó chứa đầy những nguy cơ tiềm ẩn, và difficilis in otio quies là một câu nói đúng đắn,—thật khó để giữ được sự bình thản nếu bạn không có việc gì để làm. Mặt khác, một thước đo trí tuệ vượt xa mức bình thường, là một điều không tự nhiên cũng như bất thường. Nhưng nếu nó tồn tại, và người được ban phú cho nó muốn được hạnh phúc, anh ta sẽ cần chính xác sự nhàn rỗi không bị quấy rầy mà những người khác cảm thấy gánh nặng hay tai hại; bởi vì không có nó, anh ta chỉ là một con ngựa có cánh Pegasus bị buộc vào ách, và do đó sẽ không hạnh phúc. Nếu hai hoàn cảnh không tự nhiên này, bên ngoài và bên trong, sự nhàn rỗi không bị quấy rầy và một trí tuệ vĩ đại, tình cờ hội tụ trong cùng một con người, thì đó là một sự may mắn to lớn; và nếu số phận thuận lợi đến mức đó, một người có thể dẫn dắt một cuộc sống cao cả hơn, một cuộc sống được bảo vệ khỏi hai nguồn gốc đau khổ đối nghịch nhau của con người, sự đau đớn và sự buồn chán, khỏi cuộc đấu tranh đau đớn vì sự sinh tồn, và sự bất lực trong việc chịu đựng sự nhàn rỗi (thứ vốn dĩ là chính sự tồn tại tự do)—những cái ác chỉ có thể trốn thoát được bằng cách được triệt tiêu lẫn nhau.
Nhưng có một điều cần phải nói để phản bác lại quan điểm này. Những món quà trí tuệ vĩ đại đồng nghĩa với một hoạt động mang đặc tính thần kinh một cách nổi trội, và do đó, một mức độ nhạy cảm rất cao đối với sự đau đớn dưới mọi hình thức. Xa hơn nữa, những món quà như vậy ngụ ý một tính khí mãnh liệt, những ý tưởng lớn lao và sống động hơn, thứ mà, như một sự đồng hành không thể tách rời của sức mạnh trí tuệ vĩ đại, kéo theo cho người sở hữu nó một cường độ cảm xúc tương ứng, khiến chúng trở nên hung bạo hơn không thể so sánh được so với những cảm xúc mà người bình thường là con mồi. Giờ đây, trên thế giới này, những thứ tạo ra sự đau đớn còn nhiều hơn những thứ tạo ra niềm vui. Lại nữa, một sự ban phú to lớn về mặt trí tuệ có xu hướng làm cho người sở hữu nó xa lánh những người khác và những việc làm của họ; bởi vì một người càng có nhiều thứ trong chính bản thân mình, anh ta sẽ càng ít có khả năng tìm thấy những điều đó ở họ; và hàng trăm thứ mà họ lấy làm thích thú, anh ta sẽ coi là hời hợt và vô vị. Khi đó, đây có lẽ lại là một ví dụ khác của định luật bù trừ luôn khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận ở khắp mọi nơi. Biết bao lần người ta nghe nói, và cũng được nói với một sự hợp lý nào đó, rằng người có tâm trí hạn hẹp xét cho cùng mới là người hạnh phúc nhất, mặc dù vận may của anh ta không có gì đáng ghen tị. Tôi sẽ không cố gắng đoán trước những phán xét của độc giả về điểm này; đặc biệt là khi bản thân Sophocles đã đưa ra hai ý kiến trái ngược nhau hoàn toàn:
Pollo to phronein eudaimonias
proton uparchei.
ở một nơi ông nói – sự khôn ngoan là phần vĩ đại nhất của hạnh phúc; và lại nữa, ở một đoạn khác, ông tuyên bố rằng cuộc đời của những kẻ vô tư lự là cuộc đời dễ chịu nhất trong tất cả:
En ta phronein gar maeden aedistos bios.
Các triết gia của Cựu Ước cũng tự thấy mình trong một sự mâu thuẫn tương tự.
Cuộc đời của một kẻ ngốc còn tồi tệ hơn cả cái chết
và:
Trong nhiều sự khôn ngoan có nhiều phiền não; và kẻ nào gia tăng tri thức thì gia tăng sự đau buồn.
Tuy nhiên, tôi có thể nhận xét rằng, một người không có nhu cầu tinh thần, bởi vì trí tuệ của anh ta ở mức độ hạn hẹp và bình thường, theo nghĩa khắt khe của từ này, là những gì được gọi là một người philistine [kẻ phàm phu tục tử, vô văn hóa]—một cách diễn đạt thoạt đầu vốn chỉ có trong ngôn ngữ Đức, một kiểu tiếng lóng tại các Trường Đại học, sau đó được sử dụng, theo phép loại suy, với một ý nghĩa cao hơn, mặc dù vẫn giữ nguyên ý nghĩa ban đầu của nó, để chỉ một người không phải là Đứa con của các Nàng thơ. Một gã phàm phu là và vẫn luôn là amousos anaer [kẻ không có thi ca]. Tôi thà chọn một quan điểm cao hơn, và áp dụng thuật ngữ phàm phu cho những người luôn luôn bận rộn một cách nghiêm túc với những thực tại không phải là thực tại; nhưng vì một định nghĩa như vậy sẽ mang tính siêu việt, và do đó không thể được hiểu một cách phổ biến, nên nó sẽ khó có chỗ đứng trong chuyên luận hiện tại, vốn nhắm đến sự đại chúng. Định nghĩa kia có thể dễ dàng được làm sáng tỏ hơn, vì nó chỉ ra, một cách đủ thỏa đáng, bản chất cốt yếu của tất cả những phẩm chất phân biệt kẻ phàm phu. Anh ta được định nghĩa là một người không có nhu cầu tinh thần. Từ điều này, có thể suy ra, thứ nhất, liên quan đến chính anh ta, rằng anh ta không có những khoái lạc trí tuệ; bởi vì, như đã nhận xét trước đó, không có khoái lạc thực sự nào nếu không có những nhu cầu thực sự. Cuộc đời của người philistine không được thổi hồn bởi bất kỳ khát khao nào muốn đạt được tri thức và sự thấu suốt vì chính lợi ích của chúng, hay để trải nghiệm thứ khoái lạc thẩm mỹ đích thực vốn rất gần gũi với chúng. Nếu những khoái lạc thuộc loại này trở thành mốt, và kẻ phàm phu thấy mình bị buộc phải chú ý đến chúng, anh ta sẽ ép bản thân phải làm như vậy, nhưng anh ta sẽ tỏ ra ít quan tâm đến chúng nhất có thể. Những khoái lạc thực sự duy nhất của y là những khoái lạc mang tính nhục dục, và y nghĩ rằng những thứ này sẽ bù đắp cho y vì sự mất mát những thứ kia. Đối với y, hàu và rượu sâm panh là đỉnh cao của sự tồn tại; mục đích cuộc đời y là mua sắm những gì sẽ đóng góp cho phúc lợi thể chất của y, và y quả thực sẽ đang đi trên một con đường hạnh phúc nếu điều này gây ra cho y một chút rắc rối. Nếu những thứ xa xỉ của cuộc đời được đổ đống lên người y, y chắc chắn sẽ bị buồn chán, và để chống lại sự buồn chán, y có trong tay vô vàn những phương thuốc tự huyễn hoặc, những buổi vũ hội, nhà hát, những bữa tiệc, chơi bài, cờ bạc, ngựa, phụ nữ, uống rượu, du lịch và v.v.; tất cả những thứ đó không thể bảo vệ một người khỏi sự buồn chán, bởi vì nơi nào không có nhu cầu trí tuệ, nơi đó không thể có những khoái lạc trí tuệ. Đặc điểm nổi bật của người phàm phu là một sự nghiêm nghị đần độn, khô khan, gần giống với của động vật. Không có gì thực sự làm y hài lòng, hay kích thích, hay thu hút y, bởi vì khoái cảm nhục dục sẽ nhanh chóng cạn kiệt, và sự giao du với những kẻ phàm phu cũng sẽ sớm trở nên gánh nặng, và người ta thậm chí có thể chán ngấy việc đánh bài. Đúng là, những khoái lạc của thói hư danh vẫn còn đó, những khoái lạc mà y tận hưởng theo cách riêng của mình, hoặc là bằng cách cảm thấy mình vượt trội hơn người khác về mặt của cải, hay địa vị, hoặc sức ảnh hưởng và quyền lực, để rồi những người đó sẽ bày tỏ sự kính trọng đối với y; hoặc, chí ít, bằng cách giao du với những kẻ có sự dư thừa về những phước lành này, tự sưởi ấm mình trong sự phản chiếu từ sự lộng lẫy của họ—cái mà người Anh gọi là một kẻ khoe khoang hợm hĩnh.
Từ bản chất cốt yếu của kẻ phàm phu, có thể suy ra, thứ hai, liên quan đến người khác, rằng, vì y không sở hữu nhu cầu trí tuệ nào, mà chỉ có nhu cầu thể chất, nên y sẽ tìm kiếm sự giao du với những người có thể thỏa mãn cái sau, chứ không phải cái trước. Điều cuối cùng mà y sẽ kỳ vọng từ bạn bè của mình là việc sở hữu bất kỳ loại năng lực trí tuệ nào; hơn thế nữa, nếu y tình cờ bắt gặp nó, nó sẽ khơi dậy sự ác cảm và thậm chí là lòng thù hận của y; chỉ đơn giản bởi vì bên cạnh một cảm giác thấp kém khó chịu, y còn trải nghiệm, trong sâu thẳm trái tim mình, một loại đố kỵ đần độn, thứ phải được che giấu kỹ lưỡng ngay cả với chính bản thân y. Tuy nhiên, đôi khi nó phát triển thành một cảm giác thù oán bí mật. Nhưng đối với tất cả những điều đó, y sẽ không bao giờ nghĩ đến việc làm cho những ý tưởng của chính mình về giá trị hay phẩm giá tuân thủ theo tiêu chuẩn của những phẩm chất như vậy; y sẽ tiếp tục dành sự ưu tiên cho địa vị và sự giàu có, quyền lực và sự ảnh hưởng, những thứ mà trong mắt y dường như là những lợi thế đích thực duy nhất trên thế giới; và mong muốn của y sẽ là tự mình xuất sắc trong những lĩnh vực đó. Tất cả những điều này là hệ quả từ việc y là một người không có những nhu cầu trí tuệ. Nỗi phiền não lớn nhất của tất cả những kẻ phàm phu là họ không có chút hứng thú nào đối với những ý tưởng, và rằng, để thoát khỏi sự buồn chán, họ luôn luôn cần đến những thực tại. Nhưng những thực tại hoặc là không làm họ thỏa mãn, hoặc là nguy hiểm; khi chúng mất đi sức hấp dẫn, chúng trở nên mệt mỏi. Nhưng thế giới lý tưởng thì vô hạn và tĩnh lặng,
một thứ gì đó xa xôi
Khỏi cõi buồn đau của chúng ta.
CHƯƠNG III. — TÀI SẢN, HAY MỘT NGƯỜI CÓ GÌ.
Epicurus chia những nhu cầu của nhân loại thành ba loại, và sự phân chia do vị giáo sư vĩ đại về hạnh phúc này đưa ra là một sự phân chia đúng đắn và tinh tế. Trước hết là những nhu cầu tự nhiên và thiết yếu, chẳng hạn như những thứ mà khi không được đáp ứng sẽ tạo ra sự đau đớn, – thức ăn và quần áo, victus et amictus, những nhu cầu có thể dễ dàng được thỏa mãn. Thứ hai, có những nhu cầu mặc dù tự nhiên nhưng không thiết yếu, chẳng hạn như sự thỏa mãn của một số giác quan. Tuy nhiên, tôi có thể nói thêm rằng trong bản báo cáo của Diogenes Laertius, Epicurus không đề cập đến việc ông muốn nói đến những giác quan nào; do đó, ở điểm này, lời giải thích của tôi về học thuyết của ông có phần rõ ràng và chính xác hơn so với bản gốc. Đây là những nhu cầu có phần khó thỏa mãn hơn. Loại thứ ba bao gồm những nhu cầu không tự nhiên cũng chẳng thiết yếu, nhu cầu về sự xa xỉ và hoang phí, sự phô trương và lộng lẫy, những thứ không bao giờ có điểm dừng, và rất khó để thỏa mãn.
Thật khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả thi, để xác định những giới hạn mà lý trí nên áp đặt lên niềm khao khát của cải; bởi vì không có một lượng của cải tuyệt đối hay xác định nào có thể làm một người thỏa mãn. Lượng đó luôn mang tính tương đối, nghĩa là, chỉ cần vừa đủ để duy trì tỷ lệ giữa những gì anh ta muốn và những gì anh ta có được; bởi vì việc đo lường hạnh phúc của một người chỉ bằng những gì anh ta có được, mà không tính đến cả những gì anh ta kỳ vọng có được, thì cũng vô ích y như việc cố gắng biểu diễn một phân số chỉ có tử số mà không có mẫu số. Một người không bao giờ cảm thấy mất mát trước những thứ mà anh ta chưa từng nghĩ đến việc đòi hỏi; anh ta vẫn hoàn toàn hạnh phúc khi không có chúng; trong khi một kẻ khác, dù có thể sở hữu gấp trăm lần như thế, vẫn cảm thấy khốn khổ vì không có được duy nhất một thứ mà hắn muốn. Thực tế, ở đây cũng vậy, mỗi người đều có một chân trời của riêng mình, và anh ta sẽ kỳ vọng nhiều như mức mà anh ta nghĩ là mình có thể đạt được. Nếu một đối tượng nằm trong chân trời của anh ta có vẻ như anh ta có thể tự tin trông cậy vào việc đạt được nó, anh ta sẽ hạnh phúc; nhưng nếu những khó khăn ngáng đường, anh ta sẽ khốn khổ. Những gì nằm ngoài chân trời của anh ta hoàn toàn không có tác động gì đến anh ta. Vì thế mà những khối tài sản khổng lồ của người giàu không làm cho người nghèo bận tâm, và ngược lại, một người giàu có cũng không được an ủi bởi tất cả của cải của mình khi những hy vọng của anh ta sụp đổ. Của cải, người ta có thể nói, giống như nước biển; càng uống nhiều, bạn lại càng khát; và điều tương tự cũng đúng với danh vọng. Sự mất mát của cải và sự thịnh vượng, ngay khi những cơn đau buồn đầu tiên qua đi, để lại một người trong trạng thái tâm lý quen thuộc gần như y hệt trước đây; và lý do của điều này là, ngay khi số phận làm giảm đi lượng sở hữu của anh ta, thì bản thân anh ta cũng lập tức giảm thiểu những đòi hỏi của mình. Nhưng khi bất hạnh ập đến với chúng ta, việc cắt giảm những đòi hỏi của mình chính là điều đau đớn nhất; một khi chúng ta đã làm được điều đó, nỗi đau sẽ ngày càng vơi đi, và không còn được cảm nhận nữa; giống như một vết thương cũ đã lành. Ngược lại, khi một may mắn đến với chúng ta, những đòi hỏi của chúng ta sẽ vươn lên ngày càng cao, vì không có gì để kiểm soát chúng; chính trong cảm giác bành trướng này mà niềm vui sướng của nó ngự trị. Nhưng nó không kéo dài hơn chính quá trình đó, và khi sự bành trướng hoàn tất, niềm vui sướng cũng chấm dứt; chúng ta đã trở nên quen thuộc với sự gia tăng trong những đòi hỏi của mình, và do đó thờ ơ với lượng của cải thỏa mãn chúng. Có một đoạn trong cuốn Odyssey minh họa cho sự thật này, mà tôi có thể trích dẫn hai dòng cuối cùng:
Toios gar noos estin epichthonion anthropon
Oion eth aemar agei pataer andron te theou te.
Rằng suy nghĩ của con người sống trên trái đất cũng giống như ngày mà cha của các vị thần và loài người ban cho anh ta. Sự bất mãn bắt nguồn từ một nỗ lực không ngừng nhằm gia tăng những đòi hỏi của chúng ta, trong khi chúng ta bất lực trong việc gia tăng lượng của cải để thỏa mãn chúng.
Khi chúng ta xem xét nhân loại chứa đầy những nhu cầu đến nhường nào, làm thế nào mà toàn bộ sự tồn tại của nó lại dựa trên chúng, thì sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi của cải lại được tôn kính một cách chân thành hơn, thậm chí, được vinh danh lớn lao hơn bất cứ điều gì khác trên thế giới; chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi lợi lộc được coi là điều tốt đẹp duy nhất của cuộc sống, và mọi thứ không dẫn đến nó đều bị gạt sang một bên hoặc ném đi – chẳng hạn như triết học, bị chính những người tuyên xưng nó vứt bỏ. Người ta thường bị trách móc vì khao khát tiền bạc hơn thảy mọi thứ, và vì yêu nó hơn bất cứ điều gì khác; nhưng việc con người yêu thích thứ mà, giống như một vị thần Proteus không biết mệt mỏi, luôn sẵn sàng biến hóa thành bất kỳ đồ vật nào mà những mong muốn lang thang hay vô vàn khát khao của họ tình cờ đậu vào trong chốc lát, là điều tự nhiên và thậm chí là không thể tránh khỏi. Mọi thứ khác chỉ có thể thỏa mãn một mong muốn, một nhu cầu: thức ăn chỉ tốt nếu bạn đang đói; rượu vang, nếu bạn có khả năng thưởng thức nó; thuốc men, nếu bạn ốm đau; áo lông thú cho mùa đông; tình yêu cho tuổi trẻ, v.v. Tất cả những thứ này chỉ tốt một cách tương đối, agatha pros ti. Chỉ có tiền mới là thứ tốt đẹp tuyệt đối, bởi vì nó không chỉ là sự thỏa mãn cụ thể cho một nhu cầu cá biệt; nó là sự thỏa mãn trừu tượng cho tất thảy mọi nhu cầu.
Nếu một người có một khối tài sản độc lập, anh ta nên coi nó như một thành lũy chống lại vô số những cái ác và bất hạnh mà anh ta có thể chạm trán; anh ta không nên nhìn nhận nó như thứ ban cho anh ta cái quyền được vắt kiệt mọi khoái lạc từ thế giới, hay coi việc phải tiêu xài nó theo cách này là một nghĩa vụ bắt buộc. Những người sinh ra không có tài sản, nhưng cuối cùng lại kiếm được một khối tài sản lớn thông qua việc rèn luyện những tài năng mà họ sở hữu, hầu như luôn đi đến chỗ suy nghĩ rằng tài năng của họ chính là tiền vốn, và số tiền họ kiếm được chỉ đơn thuần là tiền lãi từ đó; họ không để dành một phần thu nhập để tạo thành một nguồn vốn cố định, mà chi tiêu tiền bạc cũng nhanh như cách họ kiếm ra chúng. Tương ứng với điều đó, họ thường rơi vào cảnh nghèo đói; thu nhập của họ sụt giảm, hoặc hoàn toàn chấm dứt, hoặc là vì tài năng của họ bị cạn kiệt do trở nên lỗi thời, – như, chẳng hạn, rất thường xảy ra trong trường hợp của nghệ thuật tinh hoa; hoặc là vì nó chỉ có giá trị dưới một sự kết hợp đặc biệt của các hoàn cảnh vốn dĩ nay đã trôi qua. Không có gì ngăn cản những người sống bằng sức lao động chân tay thông thường xử lý thu nhập của họ theo cách đó nếu họ thích; bởi vì loại kỹ năng của họ không có khả năng biến mất, hoặc, nếu có, nó có thể được thay thế bởi kỹ năng của những người thợ bạn của họ; hơn nữa, loại công việc họ làm thì luôn luôn có nhu cầu; vì vậy câu tục ngữ nói rất đúng, một nghề nghiệp hữu ích là một mỏ vàng. Nhưng với các nghệ sĩ và những người làm nghề chuyên môn đủ mọi loại thì trường hợp lại hoàn toàn khác, và đó là lý do tại sao họ được trả công hậu hĩnh. Đáng lẽ họ phải xây dựng một nguồn vốn từ những khoản thu nhập của mình; nhưng họ lại khinh suất coi chúng chỉ là tiền lãi, và rốt cuộc kết thúc trong sự lụn bại. Mặt khác, những người thừa kế tiền bạc ít nhất cũng biết cách phân biệt giữa tiền vốn và tiền lãi, và hầu hết họ đều cố gắng bảo đảm an toàn cho số vốn của mình và không xâm phạm vào nó; thậm chí, nếu có thể, họ sẽ để dành ít nhất một phần tám số tiền lãi để phòng hờ những rủi ro trong tương lai. Nhờ vậy, hầu hết bọn họ đều duy trì được vị thế của mình. Những nhận xét ngắn gọn này về tiền vốn và tiền lãi không thể áp dụng cho đời sống thương mại, vì các thương gia coi tiền bạc chỉ như một phương tiện để tiếp tục sinh lời, giống như một người thợ coi trọng những dụng cụ của mình; vì vậy, ngay cả khi nguồn vốn của họ hoàn toàn là kết quả từ những nỗ lực của chính họ, họ vẫn cố gắng bảo tồn và gia tăng nó bằng cách sử dụng nó. Theo đó, không ở đâu của cải lại có cảm giác như ở nhà bằng trong tầng lớp thương gia.
Nhìn chung, người ta sẽ thấy rằng những ai đã từng nếm trải cảnh túng thiếu và cơ cực thì ít sợ hãi nó hơn rất nhiều, và do đó có xu hướng hoang phí hơn, so với những kẻ chỉ biết đến cái nghèo qua những lời đồn đại. Những người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh sung túc, như một quy luật, thường cẩn trọng hơn nhiều về tương lai, nói đúng ra là tiết kiệm hơn so với những kẻ, nhờ một chút may mắn, đột nhiên đổi đời từ nghèo khó sang giàu sang. Điều này có vẻ như nghèo đói thực sự không phải là một điều quá đỗi khốn khổ như khi nhìn từ xa. Tuy nhiên, lý do thực sự lại nằm ở chỗ người sinh ra trong một vị thế giàu có dần đi đến chỗ coi nó như một thứ mà nếu thiếu nó anh ta không thể sống nổi, giống như không thể sống thiếu không khí; anh ta bảo vệ nó hệt như bảo vệ chính mạng sống của mình; và vì thế anh ta thường là người yêu thích sự ngăn nắp, thận trọng và tiết kiệm. Nhưng kẻ sinh ra trong cảnh nghèo hèn lại coi đó là tình trạng tự nhiên, và nếu tình cờ anh ta vớ được một gia tài, anh ta lại xem nó như một sự dư thừa, một thứ gì đó để tận hưởng hoặc phung phí, bởi vì, nếu nó cạn kiệt, anh ta vẫn có thể sống tiếp y như trước kia, với một nỗi lo âu được trút bỏ; hay, như Shakespeare nói trong vở Henry VI.:
…. câu ngạn ngữ hẳn phải được kiểm chứng
Rằng những kẻ ăn mày khi được cưỡi ngựa sẽ bắt ngựa chạy đến chết.
Nhưng phải nói rằng những người thuộc loại này có một sự tin tưởng vững chắc và thái quá, một phần vào số phận, một phần vào những phương tiện đặc biệt đã từng nâng họ lên khỏi sự túng thiếu và nghèo đói, – một sự tin tưởng không chỉ của lý trí, mà còn của trái tim; và vì thế họ không, giống như người sinh ra đã giàu, coi vùng nước nông của sự nghèo đói là không đáy, mà tự an ủi mình với ý nghĩ rằng một khi họ đã chạm đáy một lần nữa, họ có thể thực hiện một chuyến bay cất cánh khác. Chính nét tính cách này ở con người đã giải thích cho thực tế là những phụ nữ từng nghèo khó trước khi kết hôn thường đưa ra nhiều yêu sách hơn, và hoang phí hơn, so với những người mang đến cho chồng một khoản hồi môn kếch xù; bởi vì, như một quy luật, những cô gái giàu có mang theo mình, không chỉ một gia tài, mà còn là sự sốt sắng hơn, thậm chí, là bản năng bẩm sinh di truyền, để gìn giữ nó, nhiều hơn so với những cô gái nghèo. Nếu ai đó nghi ngờ tính chân thực của điều này, và nghĩ rằng sự thật là hoàn toàn ngược lại, anh ta sẽ tìm thấy cơ sở cho quan điểm của mình trong bài Thơ trào phúng đầu tiên của Ariosto; nhưng, mặt khác, Tiến sĩ Johnson lại đồng tình với ý kiến của tôi. Một người phụ nữ có của cải, ông nói, vì đã quen với việc quản lý tiền bạc, nên sẽ chi tiêu một cách khôn ngoan; nhưng một người phụ nữ lần đầu tiên có được quyền kiểm soát tiền bạc khi kết hôn, lại có một sở thích chi tiêu lớn đến mức, cô ta vung vãi nó với một sự hoang phí tột độ. Và trong mọi trường hợp, hãy để tôi khuyên bất cứ ai cưới một cô gái nghèo đừng bao giờ để lại cho cô ấy số tiền vốn mà chỉ cho tiền lãi, và phải đặc biệt lưu tâm để cô ấy không có quyền quản lý tài sản của những đứa trẻ.
Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng mình đang chạm đến một chủ đề không đáng để bận tâm nhắc tới khi tôi khuyên mọi người hãy cẩn trọng gìn giữ những gì mình đã kiếm được hay được thừa kế. Bởi vì việc bắt đầu cuộc sống với vừa đủ những gì để khiến một người được độc lập, tức là, cho phép người đó sống thoải mái mà không phải làm việc – ngay cả khi một người chỉ có vừa đủ cho riêng mình, chưa nói đến một gia đình – là một lợi thế không thể định giá quá cao; bởi vì nó có nghĩa là sự miễn trừ và khả năng miễn dịch khỏi cái căn bệnh kinh niên của sự khốn cùng, thứ bám chặt lấy cuộc đời con người như một căn bệnh dịch; nó là sự giải phóng khỏi cái lao động cưỡng bức vốn là phần số tự nhiên của mọi kẻ phàm trần. Chỉ dưới một số phận thuận lợi như thế này, một người mới có thể được cho là sinh ra tự do, trở thành, theo đúng nghĩa của từ này, sui juris [tự làm chủ mình], làm chủ thời gian và năng lực của chính mình, và có thể nói mỗi buổi sáng rằng, Ngày hôm nay là của riêng ta. Và cũng vì lý do đó, sự khác biệt giữa người có một trăm một năm và người có một ngàn, lại nhỏ bé hơn vô hạn so với sự khác biệt giữa người trước và một người hoàn toàn không có gì cả. Nhưng của cải thừa kế sẽ đạt đến giá trị tối thượng của nó khi nó rơi vào tay cá nhân được ban phú cho những sức mạnh trí tuệ ở một đẳng cấp cao, người kiên quyết theo đuổi một lối sống không tương thích với việc kiếm tiền; bởi vì khi đó anh ta được số phận ban tặng gấp đôi và có thể sống trọn vẹn cho thiên tài của mình; và anh ta sẽ trả món nợ của mình cho nhân loại gấp trăm lần, bằng cách đạt được những gì không ai khác có thể đạt được, bằng cách sản sinh ra một tác phẩm nào đó đóng góp vào lợi ích chung, và làm rạng danh cho toàn thể nhân loại. Một người khác, lại nữa, có thể sử dụng của cải của mình để thúc đẩy các kế hoạch từ thiện, và làm cho bản thân trở nên xứng đáng với những người đồng loại. Nhưng một kẻ không làm những điều này, kẻ thậm chí còn không cố gắng làm chúng, kẻ không bao giờ cố gắng học hỏi những nguyên tắc cơ bản của bất kỳ nhánh tri thức nào để ít nhất hắn có thể làm những gì có thể nhằm thúc đẩy nó – một kẻ như thế, được sinh ra trong nhung lụa như vậy, chỉ là một tên lười biếng đơn thuần và là kẻ cắp thời gian, một gã đáng khinh bỉ. Hắn ta thậm chí sẽ không được hạnh phúc, bởi vì, trong trường hợp của hắn, sự giải thoát khỏi túng thiếu lại ném hắn sang thái cực kia của sự đau khổ con người, sự buồn chán, thứ đối với hắn là một sự đọa đày đến mức, thà hắn cứ nghèo đói để có việc gì đó mà làm thì còn tốt hơn. Và vì buồn chán, hắn rất dễ đâm ra hoang phí, và do đó đánh mất luôn cái lợi thế mà hắn đã chứng tỏ là mình không xứng đáng có được. Có vô số người thấy mình lâm vào cảnh túng quẫn, đơn giản chỉ vì, khi có tiền, họ đã tiêu xài nó chỉ để có được sự giải thoát nhất thời khỏi cảm giác buồn chán đang đè nén họ.
Chuyện lại hoàn toàn khác nếu mục tiêu của một người là sự thành công trong đời sống chính trị, nơi sự ưu ái, bạn bè và các mối quan hệ là tất cả những gì quan trọng, để nhờ vào sự trợ giúp của chúng, anh ta có thể leo lên từng bước một trên nấc thang thăng tiến, và có lẽ giành được nấc thang cao nhất. Trong kiểu cuộc sống này, sẽ tốt hơn nhiều nếu bị ném vào đời mà không có một xu dính túi; và nếu kẻ khao khát vươn lên không xuất thân từ một gia đình quý tộc, nhưng là một người có đôi chút tài năng, thì việc là một kẻ bần cùng tuyệt đối lại chính là lợi thế của anh ta. Bởi vì điều mà mọi người nhắm đến nhiều nhất trong sự giao tiếp thông thường với đồng loại của mình là chứng minh họ thấp kém hơn mình; và điều này lại càng đúng hơn biết bao trong chính trị. Giờ đây, chỉ có một kẻ bần cùng tuyệt đối mới có một niềm tin sâu sắc đến thế vào sự thấp kém hoàn toàn, sâu thẳm và tích cực của chính mình từ mọi góc nhìn, vào sự vô nghĩa và vô giá trị tột cùng của chính bản thân mình, để rồi hắn có thể lặng lẽ chiếm lấy vị trí của mình trong bộ máy chính trị. Hắn là kẻ duy nhất có thể tiếp tục cúi gập người đủ thấp, và thậm chí bò rạp xuống đất nếu cần thiết; chỉ một mình hắn có thể phục tùng mọi thứ và cười vào chúng; chỉ một mình hắn biết được sự vô giá trị hoàn toàn của phẩm giá; chỉ một mình hắn sử dụng giọng nói oang oang nhất và nét chữ đậm nhất của mình bất cứ khi nào hắn phải nói hoặc viết về những kẻ được đặt ngồi trên đầu hắn, hoặc chiếm giữ bất kỳ vị trí ảnh hưởng nào; và nếu họ có viết lách vẽ vời đôi chút, hắn luôn sẵn sàng vỗ tay ca ngợi nó như một kiệt tác. Chỉ một mình hắn hiểu được cách cầu xin, và vì thế, ngay khi vừa mới lớn, hắn đã trở thành một vị tư tế tối cao của thứ tín ngưỡng bí ẩn mà Goethe đã đưa ra ánh sáng.
Đừng có ai cất lời phàn nàn
Về những mục tiêu thấp hèn nhỏ mọn:
Bởi dẫu cho người ta có nói gì đi nữa,
Thì chúng mới chính là thế lực cai trị thế gian.
Mặt khác, người sinh ra đã có đủ để sống thường là người có một lối suy nghĩ độc lập phần nào; anh ta quen với việc ngẩng cao đầu; anh ta chưa học được tất cả các nghệ thuật của một kẻ ăn xin; có lẽ anh ta thậm chí còn hơi tự phụ về việc sở hữu những tài năng mà, như anh ta lẽ ra phải biết, không bao giờ có thể cạnh tranh với sự tầm thường quỵ lụy; về lâu dài anh ta đi đến chỗ nhận ra sự thấp kém của những kẻ được đặt ngồi trên đầu mình, và khi chúng cố gắng xúc phạm anh ta, anh ta trở nên ngang ngạnh và khó bảo. Đây không phải là cách để thăng tiến trong thế giới này. Thậm chí, một người như vậy ít nhất có thể nghiêng về ý kiến được Voltaire thẳng thắn bày tỏ: Chúng ta chỉ có hai ngày để sống; không đáng để chúng ta tiêu tốn chúng vào việc quỵ lụy những tên vô lại đáng khinh. Nhưng than ôi! nhân tiện hãy để tôi nhận xét rằng tên vô lại đáng khinh là một thuộc tính có thể dùng để phán đoán về một số lượng người nhiều đến mức kinh tởm. Những gì Juvenal nói, rằng thật khó để vươn lên nếu cái nghèo của bạn còn lớn hơn cả tài năng của bạn:
Haud facile emergunt quorum virtutibus obstat
Res angusta domi
hoá ra lại đúng với một sự nghiệp trong nghệ thuật và văn học hơn là với một tham vọng chính trị và xã hội.
Vợ và con cái tôi không tính vào số tài sản của một người đàn ông: đúng hơn là anh ta thuộc về sự sở hữu của họ. Sẽ dễ dàng hơn nếu gộp bạn bè vào mục đó; nhưng bạn bè của một người cũng không thuộc về anh ta nhiều hơn một chút nào so với việc anh ta thuộc về họ.
CHƯƠNG IV. (CẬP NHẬT DẦN)
Bình luận về bài viết này