I
Tháng Mười năm ấy lần đầu tiên tôi đặt chân tới Hà Nội, trong lòng vừa khấp khởi vừa lo sợ trước cảnh sống tự do tự tại sắp tới của mình.
Dạo ấy là cuối thu. Những ngày mưa ngâu vừa chấm dứt. Trước buổi nhập học một ngày, một hôm tiết trời nắng ráo, tôi cùng Tuấn – người bạn chí cốt của tôi suốt mấy năm đèn sách – bắt chuyến xe liên tỉnh lăn bánh từ Quảng Ninh cho tới thủ đô – “trái tim của Tổ quốc”. Kèm cặp chúng tôi có chú Lâm là bố của Tuấn. Trên xe chúng tôi chỉ trò chuyện liến thoắng, tôi ôm khư khư cái ba lô trong đựng tập hồ sơ nhập học và một chiếc phong bao là tiền ăn đường mà mẹ tôi đưa cho trước lúc tôi rời nhà. Chuyến xe, đông hơn thường khi vì chở toàn đám sinh viên năm nhất, chật ních người, hành khách lắc lư nghiêng ngả mỗi khi tài xế chen làn. Chẳng mấy chốc những thửa ruộng chạy dài hai bên đường cao tốc đã lùi mãi về sau, và lổm nhổm hiện lên những trạm nghỉ, những bảng biển quảng cáo, những quán giải khát rìa đường. Cuối cùng xe băng qua cầu và phải dừng lại rất lâu trước một cột đèn báo, tôi biết mình đã đến Hà Nội. Tôi nhìn ra ngoài qua khoảng hở của tấm rèm xanh xanh khẽ lay động, và tôi thấy ngay dưới chân tôi, hàng dài những người là người trong đủ mọi thứ trang phục, không hiểu đâu ra mà lắm người thế, – tôi bỗng thấy hãi sợ trước vẻ xa lạ toát ra từ bộ dạng của đoàn người không quen biết ấy; tôi tính quay sang Tuấn trò chuyện chút đỉnh hầu vơi bớt nỗi trống trải trong lòng, nhưng cậu chàng đầu ngật về sau, miệng há hốc, ngáy nhè nhẹ – anh ta hãi mấy chuyến xe khách kinh khủng và trước lúc lên xe đã nốc liền hai viên chống say rồi giờ đây đang ngủ thẳng cẳng. Tôi nhìn về trước, nhìn tấm lưng bè bè trong chiếc áo polo mỏng nhẹ bó siết do chú Lâm, bố của Tuấn, đè mông lên cả vạt áo, đầu chú thì gục về trước, lộ ra mảng tóc cắt sát nham nhở trắng đen ở gáy trông không khác gì một mỏm đồi trọc. Chú cũng đương gà gật, hễ có ai vô tình chạm vào người thì giật bắn mình, ngơ ngác nhìn quanh rồi ngó về sau như thể sợ rằng hai thằng chúng tôi đã lẻn đi khỏi sự canh chừng của chú. Yên tâm vì thấy hai thằng tôi vẫn ngồi đó, kham khổ, nhẫn nại, chú chẹp chẹp miệng, chẳng thèm lấy tay che miệng ngáp, chú tiếp tục ngủ khò. Chú Lâm làm bảo vệ tại ngân hàng B., một chức vụ thoạt nghe ta những tưởng là quèn, nhưng nghe đâu chú là một chủ nợ cự phách và theo thâm niên đã tích cóp được số của nả khá lớn, dư sức nuôi thằng bạn tôi cùng con em gái nó (bấy giờ cô này vẫn theo học phổ thông) bốn năm đại học. Không cao, đậm người, vai rộng, bụng to, để đầu đinh và phát âm bằng giọng lè nhè, chú là tiêu biểu cho những bậc phụ huynh quê mùa chất phác ở chốn tỉnh lẻ, lẽ sống ở đời chỉ xoay quanh chim chóc, câu cá, vườn tược và nuôi lũ con ăn học thành tài. Trong mắt tôi, thằng Tuấn luôn là thằng may mắn vì có một ông bố như vậy.
Nửa tiếng sau, xe thả ba người chúng tôi ở phố Lê Quý Đôn, một con phố sầm uất đông người lại qua ven nội thành. Có thể cảm thấy nhịp sống thành thị đang phừng phực trong cái nhá nhem của chiều muộn: ồn ào, huyên náo, hàng dài xe cộ tấp nập nối đuôi nhau, ai nấy đều vội vã… Gió cuốn đám lá khô cuộn tròn trên những con đường dài rộng với vỉa hè lát đá như còn đang bốc hơi sau một ngày dài nóng bức. Chú Lâm xách chiếc ba lô rằn ri đi trước, chân bước chữ bát, hết ngó bên trái lại đến bên phải. Tôi nhìn chú và bật cười trước sự ngơ ngác ấy – hoá ra chú cũng chẳng hiểu biết gì về Hà Nội hơn tụi tôi, giờ chú đang nhìn quanh, chân giậm giậm, cố tìm cho ra địa chỉ nhà của bà chị ruột. Quả thật, ngót hai mươi năm trời chú không đặt chân lại thủ đô, kể từ ngày chú cưới vợ và rồi tám tháng sau thì tòi ra cái thằng cao lớn tồng ngồng đang ngật ngưỡng đi cạnh tôi giờ đây. Tôi quay qua anh bạn mình: vóc dáng cao lớn, khung xương to nhưng người lại gầy, về bộ dạng cũng như tính cách thì rõ là một anh gà tồ nhất hạng. Và một ý nghĩ lướt qua đầu tôi: rồi tới đây cuộc sống của hai thằng sẽ ra sao, khi chú Lâm đã tin cẩn giao phó “trách nhiệm” kèm cặp ông gà tồ này cho tôi? Trong hai đứa, rõ ràng tôi là thằng hoạt bát và lanh lẹn hơn, nhưng xét cho cùng thì tôi cũng chỉ chẳng khác nó là bao, một anh sinh viên tỉnh lẻ mới lên thành phố, nứt mắt ra và thấy cái gì cũng choáng ngợp, lạ lẫm. Tôi bồn chồn và lo lắng cho quãng đời tới đây của mình…
Có vẻ như đã lùng ra được địa chỉ, chú Lâm quay về sau vẫy gọi hai thằng tôi rồi xăm xái đi trước. Vài phút sau một căn nhà năm tầng hiện ra ở chỗ khúc ngoặt, với khoảng sân được rào giậu kín mít bởi bờ tường đắp gạch đất nung, trên cột cổng xây bằng đá trắng có gắn một chiếc đèn trụ màu đen toả ánh sáng lờ mờ yếu ớt, như run rẩy mỗi khi có làn gió thổi vào từ phía đường cái. Ra đón chúng tôi là một phụ nữ tuổi trạc sáu mươi, vóc người tầm thước, trên mình khoác chiếc tạp dề màu đen; bà bước xuống bậc thềm, chân vẫn xỏ đôi dép nhựa dẻo dùng đi trong nhà, lập tức hỉ hả hỏi chuyện chú Lâm, rồi quay sang hai thằng tôi đứng ngay ngắn như hai anh lính quèn chờ mệnh lệnh nãy giờ, bà nói:
“Hai cậu này chắc đói ngấu rồi hả?” bà vừa nói vừa lay vai cả hai thằng tôi (trước đó chú Lâm đã thông báo trước về tôi nên xem chừng bà không bất ngờ cho lắm). “Thôi vào đây các con, nhanh nhanh lên,” bà nói tiếp với một vẻ nhiệt thành khác thường.
Bữa ăn tối diễn ra sau đó không lâu, một cách nhẩn nha êm ái, trên chiếc bàn ăn gỗ dài kê giữa phòng ăn (ba vị khách chúng tôi ngồi một bên và bà chủ nhà ngồi bên còn lại, suốt bữa ăn bà chẳng ăn mấy mà cứ thong thả xới cơm và hỏi chuyện từng người), ngăn với gian khách bằng một vách kệ đựng đủ thứ rượu vang và tiếp đó là một cầu thang lát gỗ với bậc thềm dài, bóng nhẵn. Khung cảnh này toát lên một vẻ gì đó thật đầm ấm, dễ chịu, có lẽ là sức mê hoặc của bữa ăn quây quần sau một ngày đi đường mệt nhọc, mà thoáng chốc trong trạng thái lâng lâng khoan khoái, ta bỗng thấy ghê tởm những quán ăn rìa đường với những thứ thức ăn hổ lốn tạm bợ và có ăn thì cũng chỉ để mà ăn, cho có cái bỏ bụng mà thôi. “Tay nghề của bà mợ này thật không xoàng,” tôi nghĩ thầm, cùng lúc cắm cúi xé bánh mì trắng chấm vào chiếc bát bằng sứ đựng thứ sốt vang đặc sệt. Thi thoảng tôi ngưng miệng và ngó quanh, đâu đâu cũng thấy những vật dụng tinh tế, khác lạ được bày biện ngăn nắp, trong một vẻ trang nhã có chủ đích. Tôi bỗng thấy nhói lên một nỗi cay đắng mơ hồ trước nếp sống điềm nhiên, đơn giản, nhẹ nhõm của những con người đang sinh sống và hít thở trong cái cơ ngơi này. Đến lúc đấy tôi chưa hề biết Tuấn có một bà bác oách tới vậy.
“Hai bác mày làm gì?” tôi hỏi Tuấn khi đã lên tới phòng.
“Chả làm gì,” nó trả lời bằng giọng ề à – thằng này nói chuyện với ai nó cũng dùng kéo dài giọng ra như vậy, khó chịu vô cùng. “Hai ông bà về vườn trông cháu cũng chục năm nay rồi.”
“Thế ông anh họ mày làm hết à?”
“Ừ, nhưng các bác cũng có của mà.”
“Trông là biết mà,” tôi nói. “Thế ông ấy làm gì?”
“Bán thịt lợn.”
“Bán thịt lợn gì mà tranh treo đầy tường như phòng triển lãm thế?”
“Thịt lợn đóng hộp ấy, cái thịt lợn mà họ bán trong Winmart. Hôm bữa tao vừa gặp ổng ở chỗ siêu thị nhà mình xong.”
“Thế là buôn thịt lợn!”
“Buôn với bán thì cũng như nhau cả. Giàu lắm. Tí mày phải gặp thằng con ông ấy. Nó kém mình một tuổi, đang ôn thi SAT để du học Mỹ.”
“Cái nhà này hay thật, ngộ thật,” tôi vừa nghĩ thầm vừa bắt chiếc khăn tắm mà Tuấn liệng cho từ phía đầu giường…
Chừng tám giờ tối, sau khi sửa soạn xong xuôi để đi ngó nghiêng một vòng quanh khu phố, lúc xuống tới tầng hai chúng tôi tiện thể ghé vào phòng thăm hai bố con nhà kia. Cả hai đã về và đều đương có mặt. Ông bố, hãy còn trẻ nhưng đỉnh đầu đã hói trọc lóc, mặc quần khaki màu nâu đất và áo sơ mi cộc tay hoạ tiết kẻ caro, anh đang ngồi xổm dưới cái kệ sách bằng gỗ kê sát tường. Cậu con trai thì chưa thay đồng phục, nửa ngồi nửa nằm trên chiếc ghế sofa kê dưới khung cửa sổ có những hàng chấn song bằng gỗ (trong nhà này dường như đồ gì cũng bằng gỗ). Giữa sàn nhà nằm lăn lóc một quả bóng rổ Wilson.
“Em cũng chơi bóng rổ à?” tôi xoay quả bóng trên ngón tay trỏ và hỏi thằng bé, trong lúc Tuấn và “anh bán thịt” hàn huyên với nhau.
“Chơi phong trào thôi ạ,” thằng bé đáp lí nhí, nhổm dậy và ngồi ngay ngắn.
“Bóng rổ Ams mạnh lắm đúng không?”
“Thì… cũng tạm gọi là thế anh ạ.”
“Dân bên ngoài có vào trường giao lưu được không?”
“Cái này khó anh ạ. Phải có thẻ bảo vệ mới cho vào.”
“Long, ra xem này!” Tuấn gọi tôi.
Tôi tạm dúi quả bóng vào tay cậu em rồi vén rèm bước qua vách ngăn. Phòng này rộng ít phải gấp rưỡi phòng kia, trừ vách tường có một ô cửa sổ bốn cánh chạy dài ra thì vách nào cũng dựng kệ gỗ, đầy sách là sách. Đó là lần đầu tiên tôi tận mắt trông thấy một thư phòng. Và chẳng phải một thư phòng theo lối trưởng giả học làm sang đâu, vì ngay kia, tôi đã thấy, trên tay Tuấn là một pho sách đóng bìa da, ấn bản đặc biệt của Chiến tranh và hoà bình (đến lúc đấy tôi còn chưa đọc được một trang của Tolstoy, nhưng tôi đã biết ông này là nhà văn vĩ đại và do đó các tác phẩm của ông ta hẳn phải vĩ đại theo), và có cả những cuốn tôi nghe danh đã nhiều: Bá tước Monte Cristo, Dracula, Ba chàng lính ngự lâm, v.v.. Cánh tủ khép lại rồi mà vẻ choáng ngợp vẫn còn đọng lại trên gương mặt chúng tôi rất lâu. Tuấn và tôi xuôi theo lòng đường, ngược về phố Cụt, một con phố trái với tên gọi, dài hun hút, vắt ngang ba tuyến phố khác, đón gió lồng lộng và dường như toả ra mọi hướng. Lúc đi qua sân chơi của toà chung cư, tôi chơi bóng rổ cùng đám trẻ con chút đỉnh, Tuấn nhìn tôi chơi và lát sau, cũng thế, nó nhìn tôi ăn xiên bẩn (nó chê ỏng chê eo cái món này như một thằng công tử bột!), chỉ đứng bấm điện thoại nhưng thế nào rồi vẫn trả tiền cho tôi. Tối hôm ấy, chú Lâm nốc nhiều rượu nên chín giờ đã đi nằm. Chín rưỡi tụi tôi về, và nhanh chóng nhập bọn với chú.
II
Gần tám giờ sáng hôm sau, ba người chúng tôi từ biệt bà chủ nhà. Con trai của bà, bấy giờ tôi đã biết được tên anh là Hưng, đã cất công đánh xe sang từ sớm để chở chúng tôi lên trường. Áo sơ mi kẻ ô vuông, thắt lưng da rộng bản, đóng thùng chỉn chu, trông anh giống một cán bộ hương thôn hơn là một chủ doanh nghiệp. Và về tư thái cũng như tính tình anh (ít nhất qua những gì anh biểu lộ ra ngoài), anh cũng thường thường nói năng theo giọng quan phương, tỏ rõ mình là một người quan trọng, có ý thức rõ rành về mình, về những thứ xung quanh mình – một con người của văn minh và học thức. Nghe đâu trước đây anh cũng từng theo học Kinh Tế, anh đùa đùa gọi hai thằng tôi là ‘hậu bối’. Tôi mau chóng thấy cảm mến anh, phần vì anh nói năng bùi tai quá dỗi, nhưng tuyền là bởi vầng hào quanh của sự thành đạt như khoác lên dung mạo của anh một vẻ gì đó tươi tắn và đường hoàng. Dạo ấy tôi còn trẻ, hai tiếng ‘thành công’ vang vọng trong tôi như một thứ kèn xung trận, tôi luôn nhìn những người đàn ông thành đạt với một ánh mắt nể vì xen lẫn hờn tị; thú vui của tôi là quan sát cách họ đi đứng, nói năng, dò đoán xem vào cái tầm tuổi như tôi bây giờ, họ đã là ai, đã làm được những gì, hay liệu tự họ bấy giờ có hình dung ra cái thành công mà họ đang thản nhiên tận hưởng hay không…
Chưa quá sáu rưỡi khi chúng tôi chui vào chiếc xe Kia Morning của anh Hưng. Tôi thoáng nghĩ một người oách như anh hẳn phải đi một con xế xịn hơn nhiều. Liền đó chú Lâm cất lời:
— Con này mới mua à?
— Vâng, — anh Hưng đáp, — đúng ra là mua cho ông nội, cho ông có cái còn đưa đón thằng Gấu, chứ ông giờ cũng yếu rồi, con Dream chiến của ông dạo không ăn thua.
— Con này giờ có đến năm trăm không?
— Làm gì! Bốn trăm là hết vị! — anh Hưng phẩy tay đáp — chính ra vào nội thành đi mấy con như này lại nhàn. Nhỏ nhưng có võ. Ha. Ha. Nhà mình có ăn sáng không? — anh ngó về sau hỏi cả tôi lẫn Tuấn — Thôi cứ vào làm bát phở rồi làm gì thì làm, muộn chút cũng chẳng chết ai.
Anh Hưng ngoặt lại ở vòng xuyến và chúng tôi trở về khu phố. Anh chọn một quán nằm núp dưới một tán cây xà cừ rất to, khách ăn chủ yếu toàn những bậc hưu trí mặc áo ba lỗ trắng và quần lửng xám có cạp bằng chun. Tuấn và tôi vào trước, ngồi xuống một bàn inox kê sát vỉa hè. Liền đó chú Lâm và anh Hưng ngồi ở phía đối diện. Tôi mau mắn lau đũa, lau thìa, chỉ đợi bà chủ tiệm (một bà trung niên to béo đẫy đà nhưng nhanh nhẹn phát khiếp) bê khay phở ra là đánh chén ngay.
— Thôi ăn đi, khách sáo quá! — anh Hưng vừa nhận đôi đũa từ tôi vừa nói. — Tao đi ăn với các sếp bao năm nay mà chưa ông nào được tao lau đũa cho đâu đấy.
— Thằng này nó khéo lắm, — chú Lâm nói thêm vào…
Sau đó cả bốn người hì hục ăn. Quả là trời oi bức kinh khủng, mới sáng ra nắng đã tràn khắp mặt đường nhựa và cứ tí chốc lại phải ngưng đũa, lau mồ hôi dính bết trên trán, trên cổ. Gần xong bữa thì có một người phụ nữ nhỏ thó từ sau tiến tới, mặt mũi nom còn khá trẻ, đầu đội mũ vải, mình mặc chiếc áo sơ mi kẻ ca-rô trắng đen vạt dài tới đầu gối, cắp bên hông một chiếc rổ đỏ hình chữ nhật đựng một lô đĩa CD — cô ta cất giọng the thé mời chào: “Các anh ơi, mở hàng giúp em ít!”, trông dáng điệu rất thảm thương. Chú Lâm vẫn cắm cúi ăn, cơ hồ không để ý tới sự hiện diện của người đàn bà, nhưng anh Hưng thì dừng đũa, ngồi thẳng dậy và ngoái đầu về sau, nhìn lên khuôn mặt chị ta.
— Mua về thì đút vào đâu? — anh nói. — Đấy mày chỉ tao xem đút được vào đâu thì tao mua.
Người đàn bà như không lường trước được câu hỏi đánh đố và sống sượng ấy, chị ta im re không đáp, môi bặm lại và, trước khi lẳng lặng rời đi, chị đã nhìn tôi bằng một ánh mắt van vỉ, cái nhìn mà tôi chỉ có thể ví như cái nhìn của loài chó khi bị chủ nhân ruồng bỏ.
Ăn uống no nê thì tiếp tục lên đường. Ngồi trên xe, tôi mặc ba người kia trò chuyện, chỉ chăm chăm ngắm dòng người qua lại qua khung cửa kính. Phố xá thủ đô dưới cái nắng gay gắt, và chỉ mường tượng mình là một trong những người đang bêu mặt ngoài kia đã làm tôi ngán ngẩm. Hôm qua thôi tôi còn cảm thấy xa lạ với thành phố này, nhưng sau một đêm thì tôi đã nhìn mọi thứ bằng một con mắt bình thản, lãnh đạm hơn nhiều và, có lẽ còn chán nản nữa. Tuấn lại ngủ, tôi nghĩ đến là phải đặt cho cậu chàng cái biệt danh “Nô-bi-Tuấn” — thật không hiểu do đâu mà hễ lúc nào muốn là nó đều ngủ được, chưa kể còn ngủ rất say, ngáy to như sấm; chú Tuấn và anh Hưng thì thi thoảng liến thoắng vài câu. Anh nhướng mắt nhìn tôi qua gương xe và hỏi ‘định hướng’ của tôi là gì, đại loại như tôi đã có dự liệu gì về việc mình sẽ làm thêm gì hay chưa.
Tôi lúng túng trả lời:
— Em tính làm gia sư.
— Làm gì cũng được, — anh nói, — miễn là kiếm lấy cái xe. Trên Hà Nội không có xe thì đố kiếm đâu ra tiền. Bằng biếc các thứ là xong hết rồi chứ?
— Dạ?
— Bằng lái xe. Chú có chưa?
— Rồi ạ, — tôi đáp, và chợt thấy sợ hãi người ta sẽ đánh hơi ra mùi dối trá qua giọng nói nhát gừng của mình.
— Thế tốt! — anh Hưng nói, ngừng một lát rồi chợt thêm: “Nhưng trong ví cứ thủ sẵn hai trăm, còn bao nhiêu đút tài khoản hết. Hễ bị bắt thì chìa ví ra bảo anh ơi em sinh viên mới lên nhập học em chỉ có nhiêu đây thôi anh linh động giúp em với. Hoặc là anh ơi nhà em bể nợ em vừa lên Hà Nội làm việc được mới hôm nhà cửa còn chưa đâu ra đâu đây là chút tiền em để dành ăn từ giờ đến cuối tháng thôi thì em cũng không có hơn em xin gửi anh nhiêu đây anh thong thả giúp em với. Dạ dạ em cảm ơn anh! Ha. Ha.” — tới đây anh và chú Lâm đâm ra cười nắc nẻ, cứ vỗ đôm đốp vào vai, vào đùi nhau rõ là thích chí.
III
Ngay chiều hôm đó, chú Lâm bắt xe khách về quê – ngân hàng réo gọi chú như có chuyện cần kíp lắm – và chú buộc phải để lại tôi với Tuấn tự lo liệu. Nhưng chúng tôi đã chẳng lo liệu gì cho cam. Chúng tôi đi loanh quanh toà học xá, lượn khắp con phố sinh viên với đủ thứ tiệm ăn hổ lốn, rồi đi dạo vài vòng quanh khuôn viên của ký túc xá. Tình cờ sao anh Hưng vẫn giữ liên hệ với một bạn học cũ, bấy giờ đang công tác trong phòng quản lý sinh viên, thế là như cho không, người ta cắt sẵn cho tụi tôi một phòng ký túc thuộc vào hàng số dách nhất. Đích thân ông giám đốc, một ông trung niên béo phị với bọng mắt hum húp mọng đỏ, ra nghênh đón và dẫn tụi tôi đi thăm thú. Ông ta bước gióng một, cung cách có phần nghiêm cẩn lắm, và bằng một chất giọng mà tụi tôi đều nhất trí là trịnh trọng quá đáng, dẫn chúng tôi tới căn phòng nằm cuối hành lang tầng hai của toà D, bấy giờ còn chưa hoàn thiện hẳn, phòng ốc còn vương mùi sơn mới, tường quét vôi trắng lốp. Tụi tôi trao đổi với ông một thôi một hồi rồi nhờ cậy ông giữ chỗ dùm cho, trước lúc chia tay ông còn cho chúng tôi cả số liên lạc.
— Mày thấy thế nào? — Tuấn lí nhí hỏi tôi sau đó khi hai thằng ngồi bó cẩn bên hàng trà đá.
— Ổn, chắc chốt luôn đi — tôi nói. — Ô kìa! Sao lại nhăn mặt hở tiểu thư? Tiểu thư khó ở điều chi?
— Tao lạy mày. Đừng có dùng cái giọng bê đê ấy với tao, nghe tởm lắm.
— Ô kê. Vậy thì không dùng nữa. Nhưng mà làm sao?
— Nãy mày quên không hỏi nhà vệ sinh. Tao ngó vào rồi, trong đấy đếch có nhà vệ sinh khép kín đâu. Tất cả sẽ dùng chung cái phòng vệ sinh ở cạnh phòng mình ấy. Tất cả ở đây tức là nguyên một tầng!
— Ờ nhể, tao quên đấy. Nhưng dùng chung thì cũng có sao? Có phải nhà tắm lộ thiên đâu mà sợ.
— Không, tao là tao éo thích thế. Khác đéo gì đi lính. Nghĩ đến việc ỉa đái cũng không được tự nhiên tao đã thấy gờn gợn rồi. Thôi nhé, té đi mày…
Và lại tiếp tục cái công cuộc tìm trọ đầy nhọc nhằn ấy.
IV
Hai tuần qua. Chúng tôi trú tại phòng áp mái của một nhà trọ nằm cuối phố Lê Thanh Nghị, trong một con ngách tối tăm sặc mùi ẩm mốc và mùi ốm đau của những ông bà già: quả thật dân cư quanh đây toàn người đầu hai thứ tóc cả, họ thường mở toang cửa, mắt dáo dác ngó khách vãng lai và hễ nghe đài thì vặn loa to hết cỡ, ngồi gà gật và suốt thời gian luôn bất động với ánh mắt lơ đãng vô hồn, gần như trì độn, tựa như bản thân họ từ lâu đã bị phong ấn bởi thời gian và trở thành một thứ đồ đạc vô tri cố hữu của ngôi nhà. Trọ tôi ở cũng chẳng khấm khá hơn. Phòng được bày biện ở mức sơ sài, tạm bợ, có vẻ gì đó chắp vá, tiện nghi thì vào hàng tối thiểu nhất: một chiếc giường gỗ, một chiếc quạt trần và một chiếc TV gắn tường không hiểu rồi sẽ đem dùng vào việc gì – tôi mau chóng vỡ lẽ ra vài ngày sau đó là nơi ăn chốn ngủ của tụi tôi vốn được cải biến từ một nhà nghỉ cho thuê ngắn ngày.
Mới vài bữa đầu đã xảy ra xích mích với lão chủ trọ. Vóc dáng phốp pháp, cặp lông mày chổi sể đen rậm, môi thâm sì, giọng oang oang như lệnh vỡ, lão là hiện thân của những gì khả ố và thô kệch nhất; lão vơ vào mình đủ những thói ương gàn, hách dịch, mồm miệng chửi rủa liên hồi và sống như mình là vua thiên hạ. Hoặc ít nhất lão là vua trong cái nhà trọ này. Mọi sự, từ những cái vặt vãnh nhất, đều phải qua tay lão. Xưa kia lão từng làm cán bộ, quen bắt bẻ và hạch sách và giờ về vườn lão vẫn giữ khư khư cái cung cách ấy, – lúc nào lão cũng đối đáp tụi tôi với một thái độ khinh khi kẻ cả, như muốn tỏ rõ cho tụi tôi biết thân phận con sâu cái kiến của mình, cái thân tỉnh lẻ đi học xa nhà, không có người đứng ra bảo ban, kèm cặp, rào trước cho khỏi gặp phải những điều xấu xa đê mạt trên thành phố. Lão Hưng không cho tụi tôi dùng chiếc máy giặt mà lão kê ngoài sân thượng, nhưng tụi tôi vẫn lén dùng vì trộm nghĩ mỗi tháng tụi tôi đều biếu lão hai trăm nghìn tiền nước nôi mà tụi tôi có vục mặt ra uống cũng chẳng hết chỗ nước ấy. Tôi là thằng đầu sỏ trong vụ này, và đến lúc lão phát hiện ra thì lão không còn niềm nở với tôi nữa (trước đó lão thường khen tôi là “ra dáng”) và lập tức tỏ ra khinh ghét tôi, coi tôi là hạng xỏ lá, quân mất dạy chuyên cướp của người.
“Trần đời tao ghét nhất cái thói lọc lõi,” lão nói. “Mày muốn dùng thì mày phải hỏi ý kiến tao. Tao đồng ý thì mày mới được dùng. Mà chúng mày cũng một vừa hai phải thôi chứ, đây người ta toàn giặt đồ cả tuần, chúng mày thì được hai, ba cái áo cũng nhét vào rồi phí nước phí điện ra. Mà chỗ đấy là tao trả hết chứ ai trả?”
Không cho chúng tôi cơ hội được rút kinh nghiệm, ngay hôm sau lão vời người tới khiêng chiếc máy giặt đi. Những ngày sau đó tụi tôi sống bí bách như cảnh tù đày, mong sao mau mau đến tháng Giêng, hết hạn hợp đồng, hai thằng sẽ dọn đi nơi khác. Bấy giờ đang là những ngày nắng hanh của tháng mười một. Chúng tôi ít giáp mặt lão Hưng hơn. Thời gian này cả hai thằng tôi đều đã xin được chỗ làm thêm; chú Lâm gửi xe khách cho Tuấn chiếc xe đạp để tiện đi đến quán lẩu nướng nơi nó làm việc cách trọ ngót một cây số, còn tôi thì chấp nhận đi bộ rạc cẳng đến quán cà phê ở phố Chùa Bộc. Thoạt đầu tôi suýt đã bị cám dỗ bởi lời mời mọc của một người đàn anh trong trường, anh giới thiệu cho tôi một vị trí trực quầy và bơm bóng cười cho khách tới bar; tiền thù lao hấp dẫn tôi, nhưng sau rốt tôi lại gạt phắt đi và sắm một chân pha chế tại một quán cà phê hẻo lánh, ọp ẹp. Tôi giấu kín không nói với ai chuyện này. Duy có Dung là tôi chẳng đặng đừng được mà ngay lập tức kể nàng nghe về chuyện ấy. Tôi còn nhớ đó là vào một chiều nghỉ học khi tôi bắt xe sang Học viên Ngân hàng thăm nàng. Nàng tan ca học vào lúc ba rưỡi chiều, dáng điệu hân hoan khi trông thấy tôi ngồi đợi cạnh bồn hoa; nàng tung tẩy bước, mình mặc chân váy xám có viền xếp nếp và chiếc áo sơ mi cộc tay, trên ngực có đính huy hiệu trường.
“Anh không được đi làm ở chỗ đấy,” nàng nói một cách cả quyết sau khi được tôi tham vấn về lời mời làm việc tại quán bar, như thể sự việc này có một tầm quan thiết to lớn đối với nàng. “Anh phải nghe em. Đấy không phải môi trường của anh. Tốt nhất là anh tìm một chân trợ giảng, gia sư hay gì đó đại loại thế… Anh giỏi mà, anh nên làm mấy công việc ra dáng tí chút. Đời nào em để anh lao đầu vào mấy nơi như thế.”
“Em chỉ nói thế khi em chưa biết họ sẵn lòng trả anh bao nhiêu tiền thôi,” tôi đã bị nàng thuyết phục hoàn toàn nhưng vẫn cố gắng trả treo hầu khiêu khích nàng. “Mỗi tuần anh có thể mua cho em một bộ váy mới và cho em gọi Starbucks tẹt ga.”
“Thật đấy hả?”
“Tin chuẩn đấy em yêu.”
Nàng đặt ngón trỏ lên môi, đầu gật gù ra chiều suy tính. Rồi nàng nhìn thẳng vào mắt tôi, nhoẻn miệng cười với vẻ ranh mãnh.
“Không được,” nàng vẫn nói bằng giọng cả quyết, “nhất định không. Nghe anh hứa hẹn cũng thú đấy, nhưng nếu em đồng ý thì còn đâu là mặt mũi nữa! Tôi cho người yêu tôi đi bơm bóng cười để có váy mới và được ngồi Starbucks mỗi tuần. Nghe chối tai nhỉ? Anh thật sự nghĩ có thể lung lay em bằng chút quà mọn đó hả? Kìa, anh nói đi chứ! À, em biết rồi, anh đang thử lòng em phải không?”
“Phải rồi, thử lòng cả đấy,” tôi trả lời bằng giọng đùa đùa. “Anh đã quyết sẵn ngay ngày mai sẽ tới đó nhận việc.”
“Anh xứng đáng bị giận cho tới chết,” nàng phụng phịu. “Ơ kìa, bỏ tay ra! Ôm ấp cái nỗi gì, bao nhiêu người kia kìa!”
“Thôi nào, một cái thôi!”
Kể từ khi Dung đi quân sự về (nàng nhập học trước tôi hai tuần và bị “nhốt” tại quân khu một tháng), hiếm có ngày nào trôi qua mà chúng tôi không ở cạnh nhau. Thoạt đầu khi mới trở lại thủ đô, nàng còn thẹn thùng giữ kẽ, cả tuần mới chịu ghé thăm tôi đôi bận, mỗi bận đều thẳng thừng từ khước lời van nài của tôi xin nàng ở lại lâu hơn. Nhưng dần dà thì nàng cũng mở lòng, trở nên dạn dĩ và mùi mẫn một cách đáng ngạc nhiên, thì lúc đấy đã chẳng còn biết ai quyến luyến, bịn rịn hơn ai mỗi lúc chia tay. Nàng học kín ca sáng trong tuần, cuối tuần thì có tuần ở lại Hà Nội, có tuần về quê, nhưng tôi nhớ dạo ấy mẹ nàng chuẩn bị sinh đứa thứ ba nên nàng về quê miết. Mỗi lần như thế tôi đều tiễn nàng ra tới đầu phố, chân nghiêm chân nghỉ xách chiếc ba lô màu xanh lá mạ có thêu hình một con mèo mun béo núc na núc ních của nàng, và nàng, phần vì ngại người qua kẻ lại trên đường, phần vì ông tài xế vốn là chỗ quen biết của bố nàng, nàng thì thầm nói yêu tôi và khi lên xe rồi còn ngoái lại nhìn tôi rất lâu. Tôi thường tiễn đưa nàng với vẻ điềm nhiên khoan khoái và có lẽ còn hơi nhẹ nhõm là khác, nhưng nỗi trống trải mau chóng trùm lên tâm trạng của tôi cái gam màu xám xịt buồn rầu của nó – tôi nhận thấy mình ở xa nàng cốt chỉ để nhớ nàng, và nhiều lần tôi phát sốt với cái ý nghĩ rầu rĩ rằng thế là sự tự do tự tại của bản thân đã vĩnh viễn bay biến rồi, giờ thì tôi đã tự nguyện gắn chặt tâm hồn mình với một người con gái, người con gái mà về phía mình cũng đã tự nguyện gắn bó với tôi. Để khỏi đắm chìm trong nỗi nhớ nhung sầu muộn ấy, những ngày cuối tuần vắng nàng, tôi thường tránh việc ở nhà hết mức có thể; tôi đi chơi bóng ở những trường tít tận ngoại vi thành phố, tôi ngủ trên thư viện trường, ăn những thức ăn rẻ mạt, và tự thấy thương cho tình cảnh trơ trọi của chính mình. Dần dần một ý nghĩ xâm chiếm tôi: nếu thiếu sự chăm lo vun vén của người con gái kia thì đời tôi quả thực khốn khổ và đáng thương thế nào ấy. Có lẽ là bởi có đôi có cặp lâu thành thử tôi dần đâm ra sợ nỗi cô độc. Tôi cũng muốn về quê cho khuây khoả, nhưng ngày ấy “ba trăm bạc” đối với tôi bằng tiền ăn cả một tuần, vả còn là vấn đề của lòng tự trọng: tôi coi việc về quê quá thường xuyên, nếu không có chuyện cần kíp lắm, là dấu hiệu của sự yếu đuối và lệ thuộc. Tôi không muốn hình tượng nam tính cứng cỏi của tôi trong mắt chính mình bị lung lay, – trái tim tôi làm bằng thép chứ không phải “trái tim yếu mềm”.
Thời gian này, tôi và Tuấn đã trở nên ít thân thiết hơn dạo cấp ba nhiều. Thảng hoặc chúng tôi lại có chuyện lôi thôi cãi cọ, còn thì trao đổi một cách lạnh lùng và hậm hực nhau. Lỗi phần nhiều là do tôi, nhưng lúc đấy đời nào tôi chịu vơ hết trách nhiệm về mình, rằng tôi chính là kẻ đã khiến cuộc sống sinh hoạt vốn đã kham khổ của hai thằng ngày càng trở nên bí bách quá sức chịu đựng. Toàn là những chuyện vặt vãnh mà nếu đứng từ góc độ trung thực, mềm mỏng hơn hẳn chúng tôi đã bỏ qua tất và có thể chung sống êm đềm: từ chuyện Tuấn ngủ ngáy, quần áo thay xong vứt bừa bộn trên sàn, chuyện anh ta quẳng tất bẩn lẫn vào chậu quần áo sạch, hay cả chuyện anh ta ngốn sạch số táo mà Dung bỏ công lựa từng quả rồi đem sang trọ cho tôi có cái lót bụng – thảy đều làm tôi rối tung lên và tức bực khôn tả. Kế đến là tiền nong cứ vơi dần; khoản phụ cấp mà gia đình gửi lên mỗi tháng tôi tiêu cái vèo trong một tuần đầu, những ngày còn lại đành chịu cảnh thắt lưng buộc bụng, cắn răng mà ăn mì tôm, lương khô ngày này qua ngày khác…
V
Đôi khi tôi đâm tiếc rẻ mình đã bỏ lỡ cơ hội béo bở ở quán bar, mỗi lần nghĩ đến số thù lao bạc bẽo lĩnh về ở quán cà phê, ý nghĩ ấy càng xoáy sâu thêm. Ca làm việc linh hoạt miễn là tôi sắp xếp được tối thiểu bốn buổi trên tuần, và hạn chế, hay gần như cấm chuyện xin nghỉ vào cuối tuần vì lượng khách kéo đến vào những ngày này là rất đông, đến mức anh chủ quán cũng phải xắn tay áo lên mà khoác tạp dề vào, đứng sau quầy hàng tất bật chuẩn bị đồ uống cùng đám nhân viên. Mấy ngày đầu mọi thứ với tôi đều lạ lẫm, tôi ngại ngùng và ngơ ngác, hễ ai hỏi chuyện gì cũng đều ú ớ mãi mới nên câu. Nhiều lần nhân viên trong quán xúm vào trêu chọc tôi vì chất giọng nhà quê đặc sệt, ngọng líu ngọng lo, mà bản tính tôi vốn là thằng dễ tự ái, lại thù dai kèm trí nhớ tốt, nên dẫu ngoài mặt tôi có cố rặn cười ngờ nghệch để hoà nhập với đám đông thì trong tôi vẫn quặn thắt một nỗi ô nhục – tôi căm thù cái chất giọng lơ lớ vùng miền của mình. Và nữa là chẳng thể bắt bớ được thêm ai, chẳng kiếm đâu ra một người đồng minh – nhân viên ở quán thảy đều là người Hà Nội: cố nhiên là họ còn phân chia một cách giễu cợt thành Hà Nội Một, Hà Nội Hai… Họ cũng là sinh viên giống tôi, nhưng đồng thời họ cũng chẳng sinh viên lắm: họ vẫn sống cùng cha mẹ, ăn uống quây quần, lái xe đi học và vào làm việc tại quán hầu kiếm chút tiền tiêu vặt, hoặc giả cho đỡ chịu cảnh ngồi không, vô tích sự. Một thiểu số đi làm “lấy kinh nghiệm”. Tôi ở giữa hai loại này, vừa để trang trải vừa tìm va vấp.
Vào quán sau tôi đôi tuần là một cô gái bằng tuổi tên Mai Anh, sinh viên một trường cao đẳng nghệ thuật nằm ở mạn Cầu Giấy. Cô cũng là dân Hà Nội, nhưng về tác phong lẫn cách ăn mặc thì trông cô thuần phác hệt một đứa gái quê nhà lành. Cha mẹ cô đều đã về vườn cả, trên cô còn một ông anh trai ngoài ba mươi nhưng vẫn độc thân – nghe đâu anh này đảm trách một chức vụ rất to ở một khách sạn giữa trung tâm thành phố, chuyên phục vụ đám khách ngoại quốc, và anh với anh chủ quán cà phê là chỗ quen thân – nhưng anh Bình (tên anh chủ quán) chẳng nể nang gì mà vẫn mắng nàng như chém chả, khiến nàng nhiều phen phải bỏ ra cầu thang ngồi khóc rấm rứt, hay tay ôm khư khư lấy đầu gối… Mai Anh là một cô gái được nuôi dạy đàng hoàng, tử tế, một dạng gái ngoan con nhà gia giáo mà một lời chửi tục bâng quơ cũng khiến nàng nhăn mặt khó hiểu: “Tại sao người ta cứ chửi bậy thế nhờ?”, “Hay là mình chỉ nói những lời hay ý đẹp với nhau thôi được không?” Vốn quen thói tục tằn, tôi cố giải thích cho nàng hiểu rằng không phải mọi lời chửi thề đều mang hàm ý thoá mạ như nàng nghĩ, mà đôi khi đó chỉ là cách thức biểu đạt cảm xúc riêng từng người. Hiển nhiên nàng không chấp nhận, và mỗi khi trực chung ca mà tôi buột miệng thốt ra một câu bậy bạ là nàng sửa tôi ngay. “Cái miệng hư! Cái miệng hư!” nàng vừa nói vừa giơ ngón trỏ như doạ trẻ con, “Em Long ra đứng úp mặt vào tường ngay cho cô.” Chúng tôi cứ vừa đứng quầy vừa rôm rả chuyện trò như vậy, và dần dà tôi không thấy chán ghét công việc nữa, không thấy mức lương mười hai nghìn một giờ là bóc lột sức lao động nữa, mà trái lại, tôi bắt đầu hởi lòng hởi dạ mỗi khi sắp tới ca làm việc, biết thời gian sẽ trôi qua thật nhanh dưới ảnh hưởng của bầu không khí thân mật của tình bạn mà suốt mấy tháng nay, kể từ khi lên tới Hà Nội, tôi đã hoài công tìm kiếm nơi giảng đường.
Một chiều nọ tôi trực quầy một mình. Trời mưa lai rai cả ngày nên cửa hàng ế ẩm, tịnh không một bóng người. Khoảng bốn giờ thì Mai Anh bất thần xuất hiện, trên mình chỗ ướt chỗ khô, nàng nhờ tôi treo hộ chiếc ô sũng nước cạnh cái móc dưới bồn rửa bát rồi bỏ vào nhà vệ sinh một lúc lâu. Lúc trở ra nàng hỏi tôi “có gì bỏ miệng không” bằng giọng hoàn toàn cởi mở, hồn nhiên. Tôi bạo miệng nói rằng tôi có thể pha cho nàng một đồ uống bất kỳ trong bảng thực đơn và đích tay tôi sẽ trả tiền (đầu ca hôm ấy tôi vừa mới nhận lương, tiền mặt còn mới cóng trong túi quần). Mai Anh vui vẻ đón nhận lời mời. Nàng chọn đồ, và tôi pha cho nàng. Giữa chừng tôi bất cẩn nên nỡ khứa dao vào ngón tay, vết đứt không sâu và không đau nhưng máu ra nhiều vô kể; đúng lúc cuống cuồng nhất, không biết tìm đâu ra băng gạc, Mai Anh liền bổ tới và nắm lấy ngón tay tôi, đưa lên miệng mút. Đất dưới chân tôi như sụp xuống và tôi cố ngoảnh mặt sang bên vì không dám đối diện với niềm sung sướng thật bất ngờ nhưng cũng thật quái dị vào phút ấy.
“Cũng không tanh lắm như người ta nói,” Mai Anh chợt nhả miệng và nói, “hết rồi này, hiệu nghiệm ra phết! Cộng một kiến thức được tiếp thu.”
Sau đó nàng khum tay che đầu, băng qua đường về hiệu thuốc chênh chếch bên trái cửa hàng, trên đường vẫn khéo léo né những vũng nước nông. Hiển nhiên chúng tôi chẳng còn hơi đâu mà nghĩ đến món đồ uống dở dang kia nữa, nàng tỉ mẩn bôi thuốc khử trùng, dùng bông thấm rồi quấn băng gạc quanh ngón tay tôi. Rồi nàng điềm nhiên vác một chiếc ghế tới ngồi cạnh tôi. Cả buổi hôm ấy tiệt không một vị khách nào ghé thăm, chỉ có hai chúng tôi ngồi sau quầy hàng, tay nắm tay…
Hai tuần sau đấy anh chủ quán thường lượn qua cửa hàng luôn, anh soi mói chúng tôi bằng đôi mắt cú vọ và, trong những buổi trò chuyện tay đôi, khéo léo, cẩn trọng như một gã thợ săn lành nghề, anh cố khều tôi với vẻ thân mật thái quá cốt sao tôi sẽ ngô nghê tiết lộ mối quan hệ giữa tôi và Mai Anh (anh đã gặp Dung vài lần ở quán và biết nàng là bạn gái tôi). Mai Anh? Rất chóng tôi đã phát hiện ra nàng đối xử với mọi nam nhân viên trong quán như cách nàng đã đối xử với tôi, thậm chí còn thường xuyên qua nhà một người đàn anh ăn cơm trưa (có trời mới biết họ quả thật chỉ ăn cơm thôi không!); tôi ra chiều thất vọng, bất mãn, tôi liên tiếp dò hỏi, nàng cho đó là trò trẻ con và vốn không thích bị ràng buộc, nàng bớt ân cần với tôi hơn rồi sau đó là thôi hẳn, không thèm đếm xỉa gì tới tôi nữa. Tôi có tiếc nuối không ư? Cũng không hẳn. Thời cấp ba tôi từng xui xẻo va phải mấy cô nàng loại này, không muốn đau tim nên tôi cũng đành ngậm ngùi mà mau chóng rút quân. Trong đời tôi không thiếu những “cuộc phiêu lưu” chớp nhoáng kiểu vậy, thoạt đầu hứa hẹn muôn vạn sắc thái mê ly của tình yêu đôi lứa, nhưng sau rốt bỗng hiện nguyên hình là một thứ gì đó thật lồi lõm, xấu xí, đáng thất vọng. Còn những mối tình đáng trân trọng thì do khuyết tật của tuổi trẻ, tôi hiếm khi nhìn nhận được đúng mức, tôi thường đối xử với những cô gái nhẹ dạ, chất phác ấy dưới mức các nàng đáng được hưởng, thái độ lãnh đạm trong lời nói, điệu bộ, cử chỉ của tôi quá lộ liễu. Ấy thế nhưng tôi luôn vững tin mình là một người tình tốt tính và chuẩn mực; tôi so sánh mình với mấy thằng trai trạc tuổi và tôi tự tin mình có thể ăn đứt bọn chúng; tôi cố gây ra ảo tưởng rằng lũ đàn ông ngoài kia thảy đều xấu xa đê tiện, và nếu họ rời xa tôi thì cái họ để mất không chỉ là riêng tôi thôi đâu. Dường như tôi đã thành công bỏ thứ bùa mê thuốc lú này vào đầu Dung; nàng ngày càng ái mộ, chiều chuộng tôi hơn, ra dáng một thiếu nữ tỉ mẩn chăm chút cho người tình, cho đi tất cả và chẳng giữ lại gì nhiều. Tôi điềm nhiên đón nhận thứ tình yêu cao cả, không vụ lợi ấy, nhưng thật hay sao là tôi không cảm thấy áp lực với “trọng trách” phải gồng mình sao cho xứng đáng với tình yêu ấy. Tôi bị đè nén bởi một thứ áp lực khác, tầm phào và ấu trĩ hơn. Từ lâu ông bố của Dung, chủ một xưởng ga-ra trên phố, đã nhiều lần quát nạt, thậm chí còn đánh đập nàng khi biết nàng vẫn lén lút qua lại với tôi. Ở Hà Nội chúng tôi quấn quýt như cặp vợ chồng mới cưới, đi đâu làm gì cũng có nhau, cùng nhau, chúng tôi ôm hôn nhau giữa đường, thì ở thôn quê cha mẹ nàng vẫn một mực cho rằng chúng tôi yêu nhau “vụng trộm” – về sau hai tiếng này sẽ còn gây ra cho tôi nhiều nỗi đau tinh thần. Khi nàng kể tôi nghe chuyện ấy, tôi chỉ biết cười khổ, tôi thấy sự vụ có vẻ trái khoáy và ngu xuẩn thế nào ấy; bấy giờ tôi đã nhìn tình yêu của hai đứa dưới một sắc thái ít thi vị hơn, phần lãng mạn trong tôi đã ít nhiều mai một, nhưng có thể nào chúng tôi lại yêu đương thập thò như mấy tên trộm chăng? Lòng tự ái trong tôi bị tổn thương đến mức tôi không thiết hỏi han nàng bị bố đánh đập ra sao, nàng đã phải chịu đựng những màn hạch hỏi thế nào… Tôi nghĩ vào phút ấy nàng hẳn đã rất thất vọng, những điều tôi nghĩ được thì cũng chỉ là nghĩ cho riêng tôi, – nàng buồn rầu vùi vào ngực tôi mà khóc…
VI
Mùa xuân: mùa của những dự định và kế hoạch. Dạo ấy tôi chưa đọc nhiều, nhưng đã ngốn xong Anna Karenina sau vài tuần lê la quanh thư viện thành phố. Và cái câu nói về “mùa xuân”, về “dự định” và “kế hoạch” này còn đọng lại trong tâm trí tôi suốt một thời gian dài, đến mức sau kỳ nghỉ Tết năm ấy, tôi đã sốt sắng lao vào chỉnh trang lại nếp sống, hay gần như mọi mặt trong đời sống sinh viên của mình.
Việc trước nhất là chuyển trọ. Tiết mưa xuân đường sá lầy lội, mưa lắc rắc từng cơn ẩm ướt giá lạnh, ốm giao mùa, cảnh đói ăn – thảy như cấu kết lại hòng bẻ gãy mọi triển vọng về một năm mới tươi sáng như tôi mường tưởng. Tôi và Tuấn vẫn sống trong cảnh leo lắt, chắt chiu từng đồng thù lao từ công việc làm thêm, gật gà gật gù trên giảng đường; những sáng nghỉ học thì trương mình ngủ quá giờ trưa, giữa chiều lại lồm cồm bò dậy, ăn uống qua loa rồi vác xác tới quán. Cảnh hoà thuận giữa hai thằng trở nên xa vời, hiếm có ngày nào mà chúng tôi không tỏ ra chua chát, gắt gỏng, bắt bẻ nhau một chuyện gì đấy, và cảnh cãi cọ, hoạnh hoẹ triền miên nhanh chóng tháo gỡ từng chút, từng chút một những nút thắt giữa mối quan hệ của chúng tôi. Một buổi chiều hiếm hoi cả hai thằng cùng được nghỉ, tôi la rầy Tuấn, có phần thái quá, về lề lối sinh hoạt ngày càng cẩu thả và buông tuồng dạo gần đây. Anh ta ngồi tựa lưng vào khoảng bờ tường ngay dưới cửa sổ, đang lẩm bẩm tính toán gì đó trên laptop thì tôi bước vào, lập tức giở giọng chê trách. Anh ta im lặng lắng nghe màn sát phạt của tôi, trơ lì như một hòn đá, nhưng gương mặt càng lúc càng đỏ lên và cuối cùng, khi tôi quá tức bực trước thái độ hờ hững ấy mà đóng sầm cửa lại, toan bỏ lên thư viện trường, tôi nghe tiếng anh ta lầm bầm như nguyền rủa: “Loại hách dịch.” Một tuần sau tôi đem về cho anh ta một cốc cà phê thay lời xin lỗi, anh ta nói mình không chấp nhặt chuyện ấy làm gì, nhưng cũng nói thêm rằng anh đã tìm được một căn trọ mới và sẽ túc tắc dọn đi trong tuần. Thoạt tiên tôi còn gượng nổi để trưng ra vẻ mặt phớt tỉnh hồ như thông báo ấy không mảy may tác động tới mình, nhưng cái cách anh ta giải đáp những khúc mắc của tôi bằng thái độ phớt tỉnh y chang, cho hay anh ta đã sắp đặt đâu vào đấy, tiền cọc đã đặt trước ba tháng liền, mai mốt chú Lâm sẽ gửi một chiếc xe máy từ quê lên, – điều này vét nốt chút tự trọng còn sót lại trong tôi. Tôi hỏi:
“Phòng có rộng không?”
“Phòng đơn,” anh ta đáp.
“Đồ đạc chắc tự sắm lại từ đầu?”
“Không. Đủ hết đấy. Ông già gửi cho thêm cái tủ lạnh,” anh ta nói liến thoắng. “Đồ đạc ở đây tao không lấy gì đâu, nào mày chuyển thì mày cầm hết đi, hoặc đem cho, thế nào cũng được. Cái đấy tuỳ mày nhé.”
Ba hôm sau Tuấn dọn đi. Lúc ấy tôi vừa từ quê lên, bước vào phòng trọ, đập vào mắt tôi trước tiên là một chồng tiểu thuyết được bày xếp cẩn thận giữa giường – mấy cuốn này tôi đã tặng anh ta dịp mới nhập học, mua bằng tiền lương tháng đầu tại quán cà phê của tôi. Tôi ngồi bệt xuống giường và lật giở từng cuốn một, nhưng không một chữ nào lọt vào đầu. Đến lúc đấy thì tôi hiểu mình đã hoàn toàn cô quạnh: anh ta không muốn dính dáng tới tôi nữa, chỉ một chút ít cũng không. Về sau này dù vẫn học chung một trường, sống chung một khu phố, cả trên Hà Nội lẫn về quê tôi đều không vô tình bắt gặp anh ta. Anh ta vĩnh viễn chìm lẫn vào biển người xa lạ…
Vài ngày đầu sau khi Tuấn dọn đi, tôi không tài nào tận hưởng nổi cảm giác tự do mà tôi hằng ao ước khi có được một góc của riêng mình, giờ thì tôi đâm sợ cảnh lẻ loi đơn chiếc trong căn phòng trống trải, như một anh công tử yếu vía. Tôi thường xuyên phải cầu cạnh tới Dung, gạ gẫm nàng sang ngủ cùng tôi. Nàng sang liền một tuần ròng. Nàng nấu ăn, giặt giũ, phơi phóng áo quần, cân đo chi tiêu từng li từng tí…
VII
Tôi lần lữa mãi chuyện tìm trọ mới, thậm chí còn nảy ra ý định ở lại, tiếp tục chịu đựng những sự sách nhiễu của lão chủ trọ, kế đó là mò mẫm trên các diễn đàn sinh viên cốt tìm cho ra một anh bạn khác thế vào chỗ Tuấn. Nhưng số phận đã mau chóng thúc vào mông tôi.
Có lần, Dung dậy sớm đi bộ ra chợ, trên mình nàng vẫn mặc nguyên đồ ngủ, lúc đi ngang qua tầng trệt đã bị lão Hưng bắt gặp. Lão hỏi nàng ở tầng nào. Nàng thật thà đáp rằng nàng ở tầng thượng. Tức thì lão vời tôi xuống, tra hỏi một thôi một hồi và kết cuộc là yêu cầu tôi cuốn gói “nội trong tuần này”. Hôm ấy là thứ Sáu. Tôi gần như phát rồ trước cái đòi hỏi nhiễu nhương quái ác ấy, tôi thấy lão không có tình người, thấy nhục nhã vô kể vì bị lão lăng mạ, chèn ép – lão mạnh hơn và tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài khuất phục lão. Bước vào phòng, tôi những muốn xới tung nó lên, tôi sập cửa cái rầm khiến Dung giật thót mình, nàng hoảng hốt ngước nhìn tôi – phút ấy tôi bắt được ánh nhìn xa lạ trong nàng, có lẽ phút ấy tôi không là tôi mà nàng biết – và lập tức hổ thẹn vì hành vi xốc nổi của mình, tôi nghiến chặt răng, ngồi xuống mép giường, mắt nhắm lại, chờ cho cơn thịnh nộ lắng xuống và khi đã lấy lại giọng nói bình thản, tôi sẽ thuật lại mọi chuyện với Dung.
“Lão đuổi anh đi à?” nàng hỏi tôi bằng giọng xót xa. Thấy tôi không đáp, nàng lặng lẽ nắm lấy tay tôi, nép sát vào người tôi và vuốt tóc tôi như thể đang trấn an một con vật quá khích mà ta hiểu rõ.
“Anh phải tếch khỏi đây rồi em,” tôi nói khi đã trấn tĩnh lại. “Em có sẵn lòng ở lại đây cuối tuần này để phụ anh không?”
“Anh ngốc lắm. Ngốc kinh khủng. Người ta yêu nhau vì những lúc thế này này.”
Sau này trong đời tôi còn gặp vô số người đàn bà tốt bụng, những người cam tâm gắn bó với tôi và sẵn lòng theo tôi đến bất cứ đâu, những người dốc hết lòng dạ yêu thương, săn sóc tôi lúc đau ốm, nhưng trong tất cả những khuôn mặt mà thời gian sẽ nhẫn tâm xoá nhoà khỏi trí nhớ, như sóng biển cuốn trôi dấu chân trên cát, – trong tất cả những con người ấy luôn phảng phất một nét gì đó của Dung, của cô gái đã tự nguyện đồng cam cộng khổ với tôi xuyên suốt tuổi trẻ thực ra đầy rẫy khó khăn và thiếu thốn. Dần dà nàng cũng sẽ đổi khác, nàng “trưởng thành”, đánh mất vẻ ngây thơ khoái hoạt, nàng thôi ham mê những chuyện phiêu lưu lãng mạn, nàng thôi luyến lưu những cuộc đổi gió ý vị từng giúp nàng thoáng chốc thoát ra khỏi nếp sống tẻ nhạt mà bố mẹ nàng, những người thuộc giai tầng nàng đã mau mắn sắp đặt trước cho nàng với một vẻ độc đoán đến ngạo nghễ như thể nhiêu đó là đủ cầm chắc hạnh phúc trong tay…
VIII
Tôi dọn về phố Kim Giang, trọ trong một căn phòng có sẵn đồ đạc, nằm trên tầng bốn của một toà chung cư mini mới xây (dạo ấy các mô hình chung cư tương tự mọc lên như nấm, ảnh quảng bá trên mạng và hiện trạng thực tế thường khác xa một trời một vực). Căn phòng này là nhờ Dung chạy đôn chạy đáo tìm giúp cho tôi – “người ta yêu nhau vì những lúc thế này này” – và đúng là nàng đã xắn tay thu vén hết thảy, còn tôi dường như nhúng tay rất ít vào công cuộc ấy. Nàng mau chóng gạt phắt khỏi đầu những rầy rà với lão chủ trọ cũ, trong đầu chỉ chuyên chú bày biện căn phòng mới sao cho thuận mắt; nàng lăng xăng chạy từ ngõ ra chợ, cẩn thận ghi những đồ cần mua vào một tờ giấy nhớ nho nhỏ màu vàng, gập lại đút vào túi xách, nhớ nhớ quên quên. Nhờ bàn tay nàng trong thoáng chốc căn phòng không còn vẻ trống trải vì cái màu trắng lốp của bốn bức tường nữa, và vét sạch hũ tiết kiệm tôi có một chiếc bàn học tử tế màu trắng, loại rẻ tiền, tiếp đó là một chiếc ghế xoay và, lần đầu tiên trong đời, trên bàn làm việc của tôi có một bình hoa.
“Mình không được tiếc tiền với những thứ này,” nàng nói giọng cương quyết. “Hoa tốt cho tinh thần, ai làm việc trí óc ắt tinh thần phải phấn chấn mới được.”
Không hiểu do đâu mà nàng một mực tin rằng tôi “làm việc trí óc”? Tôi đã không thèm ló mặt đến quán cà phê suốt hai tuần ròng, lấy cớ gia đình ở quê có việc gấp, và có lẽ cả tôi với anh chủ quán đều ngầm hiểu với nhau rằng hễ nhận thù lao xong là tôi chính thức cuốn gói, không bao giờ trở lại nữa. Sự thể đã diễn ra đích xác như vậy, không luyến lưu, không sợ hãi, bởi trước đó một tuần, một vận may đã bất ngờ ập đến với tôi: liên tiếp ba truyện ngắn của tôi gửi cho tạp chí Văn nghệ được đem in. Hôm ấy Dung đang ngồi bệt cắm hoa ở ngoài ban công, lưng tựa vào cửa kính, tôi lẳng lặng chìa số mới nhất của tờ tạp chí ra trước mặt nàng. Thoạt tiên nàng cau mày (nàng gọi mấy thứ này là “văn nghệ văn gừng” và chuyện đọc tạp chí với nàng là chuyện xa vời lắm), rồi thấy tôi cứ tủm tỉm cười, nàng soi kỹ lại, ngờ ngợ nhận ra và sau rốt là bật dậy, nhảy phốc lên người tôi mà quàng cả hai tay víu cổ tôi xuống, hôn tới tấp lên mặt, lên tóc… Tôi không nhớ sau này trong đời tôi có bao giờ nếm trải niềm hạnh phúc ngọt ngào, sung sướng hơn giờ phút ấy không.
Chúng tôi sống với nhau như thế một năm ròng. Và biết bao chuyện đã diễn ra trong khoảng thời gian ấy, khoảng thời gian đã tự ý lìa ra khỏi quãng đời tôi trước nay, mà mai này mỗi khi nhớ lại, tôi thấy mọi điều đều láng máng, mờ mịt, như thể vào giai đoạn ấy đã có một “tôi” hoàn toàn khác, hoàn toàn xa lạ với chính tôi.
Dạo ấy tôi làm việc ở nhà. Từ lâu tôi đã bỏ học: trước kỳ đông, tôi đã bị đội quản lý sinh viên cảnh báo ba lần và họ gọi tôi đến rút hồ sơ. Tôi đến và rút, trong đầu nhẹ nhõm chẳng hãi sợ. Tôi vốn coi việc học hành của tôi chỉ có thể giúp tôi được bước đầu là đưa tôi lên thủ đô, còn thì tôi chán ngán cái bục giảng đường từ những ngày đầu rồi. Tôi không đánh bạn với ai trong lớp, tôi xa lánh mọi người và mọi người cũng xa lánh tôi; tôi ghét mấy lão giảng viên lắm điều, hay bày vẽ và đề ra đủ thứ luật lệ; tôi hận mấy thằng bảo vệ phách lối, cục súc, tác phong sặc mùi chợ búa.
Hay tin tôi bỏ học mà không hỏi ý kiến nàng, thoạt đầu Dung còn bình tĩnh hỏi lại mấy lần, sau đó tát tôi một cú đau điếng, cả buổi chiều ra ngồi ngoài ban công mặc gió rét thét gào; suốt buổi tôi lân la dỗ dành nhưng nàng vẫn giả câm giả điếc, đôi mắt ráo hoảnh nhìn vào khoảng không vô định. Rồi thình lình nàng trở vào, thu dọn đồ đạc một cách máy móc và mặc tôi nỉ non, nàng lái xe thẳng về nhà trọ. Ba ngày liền nàng kiên quyết không nhấc máy, nhắn tin cũng không trả lời – đó là lần đầu tiên nàng giận tôi một cách dứt khoát, lạnh lùng tới thế. Mấy ngày đấy cũng là lần đầu tôi nếm trải cảm giác trống rỗng kỳ lạ mà trong cảnh cô độc bỗng chốc trở nên quá độ, cái cảm giác sẽ còn đeo đẳng tôi suốt quãng đời về sau; dù tôi bên ai, dù tôi độc thân hay có người tình, vẫn trơ ra cái cảm giác trơ trọi ấy…
Sang ngày thứ bốn, khi tôi cơ hồ đã đoan chắc chuyện hai đứa thế là chấm hết, tôi choàng tỉnh vì tiếng gõ cửa giữa đêm và giọng nói quen thuộc của Dung cất lên: “Em đây,” nàng nói và ôm chầm lấy tôi ngay lúc cánh cửa mở ra, rồi lại đấm thùm thụp vào ngực tôi, “Anh tệ lắm. Nhưng em không thể nào bỏ anh được,” – nàng thì thào qua làn nước mắt…
IX
Tôi thường choàng tỉnh vào tờ mờ sáng, toàn thân bức bối vì nỗi sợ sẽ tiêu phí thêm một ngày nữa. Cần phải ngồi vào bàn làm việc ngay, cần phải viết một cái gì đó. Không thể làm việc một cách tài tử, được chăng hay chớ, không thể bình thản mà viết những thứ vô thưởng vô phạt được nữa. Kỹ năng song hành cùng tham vọng: tay nghề càng tăng, tôi càng muốn viết những thứ to lớn hơn, đích thực hơn. Tôi luôn mơ tưởng viết được những truyện ngắn hay, ngôn từ mộc mạc, giọng văn du dương, trữ tình. Mỗi khi đọc được một truyện ngắn hay, khát khao ấy lập tức trỗi dậy, thôi thúc tôi tiến bước. Nhưng hễ ngồi vào bàn làm việc thì bao nhiêu ý chí bay biến, bải hoải đến rã rời tay chân, dần dà riêng nghĩ đến cảnh gặm bút chờ vần đã đủ làm tôi khiếp sợ.
Gửi phản hồi