1

Tôi hồi tưởng lại một mùa hè nóng ran, hừng hực. Còn sớm mà trời đã sáng bảnh, mặt trời đỏ rực nhô cao trên những luỹ tre gầy, rọi thẳng vào đôi mắt kèm nhèm, ngái ngủ của tôi, – tôi đứng ở bậc thềm, dụi dụi mắt, thót mình vì sợ muộn buổi lễ tổng kết, nhưng bà tôi bấy giờ đương tưới rau ở mảnh vườn trước nhà dịu dàng nhìn tôi và bảo tôi sao mà ngốc nghếch, mới có hơn năm giờ chứ nhiêu… Tôi nhớ lại một mùa hè, một mùa hè gần như không mưa, chỉ thảng hoặc mới có một trận mưa ngắn, tầm tã, mưa đúng cái giờ những người nông dân còn đương say sưa “đánh một giấc” sau khi làm việc ngoài đồng từ tang tảng sáng. Trong không khí lúc nào cũng thoang thoảng mùi thóc lúa, mùi rơm rạ, mùi bùn. Người lớn quần áo thì lấm bết, cổ và gáy đỏ gay vì cháy nắng, ăn vội ăn vàng lấy sức rồi nhanh chóng về buồng nghỉ trưa. Vài thằng bé lít nhít dẫu biết trốn ngủ trưa là sẽ ăn đòn nên thân, dẫu biết không được lảng vảng vì đó là giờ “các quan đi tuần”, ấy thế mà chúng vẫn cứ lẻn ra đầu ngõ, tụ tập với nhau dưới bóng cây si ở chùa Việt (cây si này có thể liệt vào hàng già làng, gốc cây năm đứa trẻ con nối vòng tay mới hết), và chơi trốn tìm. Thường khi cả bọn sẽ họp lại và quyết định chơi khăm một đứa nào đó trong nhóm. Đứa bé xui xẻo ấy sẽ chống tay vào gốc si già, mặc mấy chú kiến đen bò qua tay, cố gắng đếm thật nhanh đến mười rồi tức tốc đi tìm từng đứa bạn một; nhưng chú nào có tìm thấy ai, cả bọn đã len lén bỏ đi, bỏ mặc chú ở lại một mình giữa cảnh thinh lặng của ngôi chùa mà ban ngày ban mặt vẫn có vẻ gì rợn ngợp, đầy hăm doạ, và chú khóc toáng lên rồi chạy một mạch về nhà, quyết không bạn bè gì với lũ mất dạy kia nữa. Đến chiều cái “lũ mất dạy” ấy mò đến trước cổng nhà chú bé, í ới gọi chú đi chơi, vậy là nỗi hờn giận tự dưng rơi đâu mất, chú vớ vội chiếc mũ lưỡi trai viền vàng và hăng hái nhập bọn.

2

Thuở ấy máy lạnh là một điều xa xỉ. Trong cả chòm xóm, số nhà có máy lạnh có thể đếm trên lòng bàn tay. Người ta mặc nhiên coi nhà nào có máy lạnh là nhà đấy sẵn của. Ở làng ngoài, gần với đường cái quan, người ta đã bắt đầu rủ nhau sắm máy lạnh, và dần dà mọc lên cơ man là đại lý thu mua, đại lý phân phối máy lạnh, thợ sửa máy lạnh (mấy ông thợ này trước đó chuyên sửa TV và các đồ điện gia dụng), – cứ như một trận “sốt máy lạnh” đang hoành hành. Vào những hôm trời dịu thì không sao, nhưng hễ vào một đợt nắng nóng đỉnh điểm trong tháng sáu, tháng bảy là bà con nông dân nháo nhào hết cả lên, đòi sắm máy lạnh cho bằng được. Hình như càng những năm sau trời càng nóng thì phải, mà xóm xiếc hộ nào hộ nấy đều có máy lạnh hết cả rồi, chẳng nhẽ nhà mình lại không có? Và thế là ông bà tôi trích ra một khoản từ tiền bán thóc, bán mít, bán vải để đưa cho chú út, nhờ chú đi sắm máy lạnh. Dạo ấy chú mới cưới vợ, chú cùng vợ bầu sống trong căn phòng sát vách đối diện với phòng tôi ở tầng trệt; phòng chú và phòng tôi mát nhất cả nhà, nhưng thím tôi ốm nghén liên miên mà bà nội tôi thì thương cháu thương con nên mới đành lòng bỏ tiền ra (bình sinh bà là người rất tằn tiện). Số tiền bà đưa cho chú tôi đem cược chọi gà thua gần hết, rồi chú nốc say tuý luý, sau cùng vác về nhà một dàn karaoke “đời mới nhất”. Thím tôi uất đến phát khóc, còn ông bà chửi chú là một thằng vô dụng, một thằng ngu hết thuốc chữa, riêng có tôi là mở cờ trong bụng vì ngoài dàn loa cùng bộ mic chú còn đem về một chiếc đầu đĩa mới, thứ chiếm lĩnh mọi tư tưởng của tôi vào lúc ấy. Chửi bới, mắng nhiếc mãi cũng nhàm mà không thể đánh đập chú được, cả nhà mặc thây chú thích làm gì thì làm, từ rầy không tin tưởng giao phó cho trách nhiệm gì nữa. Nhưng sau bữa ăn tối, riêng có ông tôi vẫn hậm hực, ăn xong liền bỏ ngay sang nhà hàng xóm đánh cờ tướng, còn thì cả bà và thím tôi đều chịu khuất phục trước những lời mời mọc bông đùa của chú, lần lượt cầm mic “thử giọng xem có trôi không”. Buổi thử giọng ấy sau rốt đã choán hết cả buổi tối của gia đình; chín giờ tối ông tôi đánh cờ trở về, lập tức lôi tôi xuống buồng dưới bắt phải ngủ. Trước khi vào giấc, ông vẫn lầm bầm chửi rủa chú tôi: “Đúng là ngu hết thuốc chữa!” 

3

Dạo ấy bác cả đóng quân gần nhà, mới cưới vợ nhưng chưa cất nhà riêng, nên bác cứ sáng đi tối về. Bác ở tầng gác, dậy rất sớm, năm giờ sáng đã nghe tiếng chân nện huỳnh huỵch xuống bậc cầu thang giáp phòng tôi ở. Tôi thường tỉnh giấc vì tiếng chân bác. Cách bác đi cũng khác lạ, cứ như đang đi tuần, đến phòng nào thì dừng lại trước cửa phòng ấy chút đỉnh, không thấy ai ho he gì thì mới đi tiếp. Bác di chuyển bằng con xe số hãng Suzuki, tôi nghe một thằng lớn hơn tôi hai tuổi đùa rằng “Suzuki vừa đi vừa đẩy”, thấy bực thay bác quá mà cũng tức cười, từ đấy không thể nào nhìn chiếc xe của bác một cách bình thường được nữa. Quả là chiếc xe có vẻ cổ lỗ sĩ thật, loại xe mà mấy tay thợ nề thường hay đi, – sau này tôi được biết chiếc xe ấy là quà tốt nghiệp của ông bà tặng bác, và bác đã gắn bó với nó hơn một thập kỷ, hồ như không hỏng hóc nhiều. Mãi đến khi vợ bác đòi mua một mẫu xe ga đang thịnh hành, thửa lại cho bác con xe Lead màu đen, thì bác mới thôi dùng chiếc Suzuki, gia dĩ vào lúc ấy thì nó cũng đã rệu rã và lỗi thời quá rồi, bác đem cất trong kho ở nhà ông bà. 

Về chiếc Suzuki ấy, tôi có nhớ một chuyện. 

Một buổi chiều mà tôi cũng không nhớ rõ là nắng hay mưa, lúc thì tôi nhớ bác đã dừng chân để mua giỏ hoa quả của một hàng ven đường, thậm chí còn đưa tôi một quả mận và bảo tôi ăn luôn đi, lúc tôi lại thấy bản thân ngồi lút đầu trong chiếc áo mưa, thi thoảng vén tấm áo ngó ra ngoài, thấy trời mưa tầm tã. Tôi còn nhớ bác dừng lại tại đâu đó, một ngôi nhà nhỏ bỏ hoang trong một con đường đất, có lẽ để gấp lại áo mưa.. 

Và tôi còn nhớ gì nữa? Một căn nhà vườn không dưới ba tầng, rộng vô cùng, sân cũng rộng. Nhà ấy thật hay, có tới bốn mụn con gái, đứa bé nhất bằng tuổi tôi, tên là Lan Anh thì phải. Hình như hôm đó tôi đã hôn trộm nó một cái, do quá xúc động, và nó la toáng lên cho cả ba chị lớn cùng hay. Các chị nó ùa vào cười, nói rằng thế cũng được chứ sao… 

Những năm sau này, trước khi đổ bệnh, thi thoảng bác vẫn đùa rằng tôi có muốn lấy Lan Anh không. Vô hình trung tôi lại nhớ về những bạn hữu quân nhân của bác tôi. Thật buồn, từ lúc bác ốm tới giờ, tôi chưa thấy sắc xanh quân phục nào cả. 

4

Làng X không rộng, ấy nhưng từ những năm bao cấp đã chia làm làng ngoài, làng trong. Thoạt đầu gọi là “làng ngoài” do gần đường sắt hơn, nhưng về sau đường sá được thiết lập thì “làng trong” còn gần đường cái hơn “làng ngoài”. Thức thời, nhiều người bán đất cha ông để lại ở làng ngoài để mở một tiệm tạp hoá, tiệm sửa xe, hoặc bất cứ thứ gì có triển vọng sinh lời. Theo thời gian, thành một quy luật rằng những người vốn sinh trưởng ở làng ngoài hễ làm ăn buôn bán phát tài sớm muộn đều sẽ dọn ra làng trong hết, thành thử những dân cư sót lại của làng ngoài chỉ rặt có mấy ông bà già về hưu, những người làm nông xưa nay, lẳng lặng nhấm nháp tuổi già chờ ngày tận số, và lứa trẻ cứ đủ tuổi thì hoặc là vào thẳng doanh trại hoặc là đi học đại học, còn thì sẽ đi xuất khẩu lao động.

Cha mẹ tôi đều là dân làng ngoài, cưới nhau khi còn khá trẻ: mẹ tôi vừa tròn mười tám còn bố thì hai mươi hai. Hai năm sau khi sinh tôi, bố tôi đột ngột qua đời vì bạo bệnh, mẹ tôi trở thành goá phụ ở tuổi hai mươi – về sau này người trong làng thường ngậm ngùi ta thán với tôi rằng mẹ tôi cưới chồng sớm nhất và cũng goá chồng sớm nhất cả làng. Mẹ  cố gắng ở lại với tôi nhưng không thể hoà hợp với bà nội nên đành cắp tôi về ngoại, rơi vào cảnh nợ nần túng bấn rất chóng. Cuối cùng, cô dì chú bác đằng ngoại chạy vạy cho mẹ đi xuất khẩu lao động bên Đài Loan. Trước khi đi, mẹ gửi gắm tôi cho ông bà nội, nhờ ông bà nuôi giúp. 

Và tôi lớn lên như một đứa trẻ làng ngoài. Nếu nhà bạn ở làng trong, thì bạn gần như được xem là dân phố rồi, khi có ai hỏi địa chỉ thì cũng tự tin đáp rằng mình ở khu dân cư chứ hiếm ai lại gọi là “làng” hay “thôn” hay “xóm”. Nhưng nếu nhà bạn ở làng ngoài, thì bạn gần núi gần rừng hơn, gần đồng gần ruộng, gần đường ray tàu hoả, tuổi thơ bạn vẫn được bao bọc trong bầu không khí thôn dã, gia đình bạn vẫn cấy gặt quanh năm, vẫn quây quần quanh mâm cơm trước hiên nhà sau những ngày hè oi ả; bạn trông thấy đàn cò dàn hàng trên nền trời thăm thẳm mỗi buổi chiều hôm trên đường từ trường về nhà.

Nhưng khi bạn lớn lên, bạn bắt đầu làm ra tiền, thì cái mảnh đất từng chứa đựng cả tuổi thơ của bạn ấy lại thành ra lạc hậu, quê mùa, phẳng lặng. Tệ nhất thì bạn bán quách thửa đất của tổ tiên, đỡ hơn thì bạn đem cho thuê, còn bản thân thì dọn ra ngoài thị trấn. 

5

Trên đường đi làm, hình ảnh này thường hiện ra trong đầu tôi: tất cả những thành viên trong gia đình tôi trước nay, gồm ông bà, chú thím, cô bác – khuôn mặt họ vào những tháng năm xa xưa được đặt cạnh khuôn mặt họ bây giờ… Ôi, thời gian mới tàn nhẫn làm sao!

6

Một sớm mùa đông, tôi chia tay người bá ruột của mình để về nhà cùng ông bà nội. Ông bà cất công đạp xe hơn mười cây số đến đón tôi. Bà tôi đi chiếc xe đạp màu đỏ, chiếc của ông tôi màu xanh. Ông đèo tôi vì tôi vốn quý ông hơn, dù phần lớn thời gian tôi ở bên bà. Lúc tôi chạy ra bậc thềm trước cổng nhà bá tôi, bà tôi bế phốc tôi lên (thuở ấy hẳn gân cốt bà còn dẻo dai lắm) và hỏi tôi có nhớ ông bà không. “Không”, tôi đáp một cách vô tư.

7

Đêm hôm ấy tôi ngủ say tít, sáng ra vẫn vác cặp đi học như thường, không mảy may nhận thấy một chút gì bất thường. Chỉ đến tối tôi mới biết ông tôi phải cảm giữa đêm và đang nằm trên viện, tình trạng nguy ngập.


Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Ảnh đại diện Vũ Thành Long

Published by

Categories:

Gửi phản hồi

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc