Bài diễn thuyết tại trường Gakushuin, ngày 25 tháng 11 năm Đại Chính thứ 3 – 1914)

Sáng nay tôi có cố gom góp lại đôi chút ý nghĩ trong đầu, song sự chuẩn bị quả thật hết sức sơ sài. Tôi e rằng khó lòng đem lại một bài nói chuyện thỏa đáng cho các bạn, mong các bạn hãy lượng thứ và chịu khó lắng nghe cho.

Tôi không rõ hội này của các bạn bắt đầu từ bao giờ và duy trì cho đến nay ra sao, việc các bạn thi thoảng mời người ngoài đến diễn thuyết, xét theo thông lệ chung, tôi thấy chẳng có gì là bất tiện cả. Nhưng nhìn từ một góc độ khác, tôi trộm nghĩ, những bài diễn thuyết thú vị đúng như kỳ vọng của các bạn thì dẫu có lôi kéo bất kỳ ai từ phương trời nào tới cũng chẳng dễ gì nghe được đâu. Chẳng qua các bạn thấy người ngoài có vẻ mới lạ, ly kỳ đó thôi, phải không nào?

Trong những mẩu chuyện tiếu lâm tôi từng nghe từ các nghệ nhân rakugo, có một câu chuyện mang tính trào phúng như thế này:

Thuở xưa, có hai vị đại danh nọ cùng nhau đến vùng Meguro để đi săn chim ưng. Chạy đôn chạy đáo khắp nơi một hồi, bụng đói cồn cào, ngặt nỗi không mang theo cơm nắm, tùy tùng lại thất lạc tứ tán nên chẳng có lấy miếng gì bỏ bụng. Chẳng đặng đừng, hai người bèn đâm sầm vào một túp lều tranh rách nát của nhà nông dân ven đường, bảo có gì ăn được thì cứ dọn hết ra. Ông lão bà lão trong nhà thấy tội nghiệp, bèn nướng vội mấy con cá thu đao có sẵn trong bếp rồi bưng lên cùng cơm độn lúa mạch mời hai vị đại danh. Hai ông lớn lấy cá thu đao làm thức nhắm, ăn một bữa cơm ngon lành chưa từng thấy, rồi mới rời đi.

Đến tận ngày hôm sau, hương thơm của món cá thu đao bữa trước dường như vẫn còn phảng phất nồng nặc nơi đầu mũi, khiến họ không sao quên nổi phong vị ấy. Thế là một trong hai vị bèn mở tiệc mời người kia đến tư dinh để thết đãi món cá thu đao. Đám gia nhân nghe lệnh thì kinh ngạc tột độ. Song mệnh lệnh của chủ nhân thì không thể trái, bèn sai đầu bếp dùng nhíp nhổ sạch từng cái xương dăm li ti của con cá thu đao, đem tẩm ướp đượm rượu mirin rồi nướng vừa vặn, kính cẩn dâng lên chủ và khách.

Ngặt nỗi, người ăn lúc này bụng chẳng hề đói, lại thêm cách chế biến cẩn thận đến mức ngớ ngẩn đã làm mất tiệt vị tươi ngon nguyên bản của con cá, biến nó thành thứ đồ nhắm kỳ quặc, lấy đũa chọc chọc đôi miếng thấy chẳng ngon lành chút nào. Hai vị đại danh bèn đưa mắt nhìn nhau, rồi thốt lên một câu kỳ cục làm cái kết hạ màn cho câu chuyện: “Xem ra cá thu đao thì cứ phải ăn ở Meguro mới là nhất!”

Nhìn từ câu chuyện ấy, tôi thấy các bạn là những người đang theo học tại một ngôi trường danh giá như Gakushuin, ngày ngày được tiếp xúc với những bậc thầy khả kính, vậy mà lại cất công chờ đợi từ mùa xuân cho đến tận cuối thu chỉ để nghe một kẻ như tôi diễn thuyết, chẳng phải cũng giống hệt như việc đã chán ngấy cao lương mỹ vị chốn cung đình, bèn muốn nếm thử chút cá thu đao ở Meguro cho lạ miệng đó sao?

Hôm nay có Giáo sư Omori ngồi đây, ngài là người tốt nghiệp đại học cùng năm hoặc trước sau tôi một khóa. Giáo sư Omori dạo nọ từng phàn nàn với tôi rằng học trò dạo này chẳng chịu lắng nghe bài giảng của mình, rằng chúng thiếu sự nghiêm túc, thật chẳng ra làm sao. Tôi nhớ lời nhận xét ấy không phải dành cho học sinh trường này mà là cho một trường tư thục nào đó, nhưng dạo ấy tôi đã buông một lời thất lễ với anh Omori.

Nhắc lại ở đây quả có phần ngượng ngùng, song lúc đó tôi đã bảo: “Trên đời này đào đâu ra cái xứ sở mà học trò lại đi chắp tay cảm tạ để nghe những bài giảng của hạng người như cậu chứ!” Có thể lúc bấy giờ anh Omori chưa hiểu hết ý tôi, nên nhân cơ hội này tôi xin giãi bày để tránh hiểu lầm: thời chúng tôi còn là thư sinh, trạc tuổi các bạn bây giờ hoặc lớn hơn một chút, chúng tôi ngang tàng, lười biếng hơn các bạn ngày nay nhiều lắm, gần như có thể nói là chẳng mấy khi thèm nghe thầy giảng bài. Tất nhiên đây là tôi nói dựa trên bản thân tôi và bạn bè xung quanh, có thể không đúng với người ngoài, song nhìn lại từ vị trí của tôi hôm nay, tôi cứ có cảm giác như vậy. Bản thân tôi bề ngoài trông có vẻ ngoan ngoãn hiền lành, nhưng tính tình tuyệt nhiên chẳng phải loại chịu chú tâm vào bài giảng. Lúc nào tôi cũng lười biếng, lông bông. Mang theo ký ức ấy mà nhìn vào học trò chăm chỉ ngày nay, tôi tuyệt nhiên không đủ can đảm để buông lời chỉ trích họ như anh Omori. Chính vì lẽ đó mà tôi đã lỡ lời ăn nói lỗ mãng với anh ấy. Hôm nay tôi đến đây không phải cốt để xin lỗi anh Omori, nhưng tiện có mặt đông đủ mọi người ở đây, tôi xin công khai tạ lỗi cùng anh.

Câu chuyện đã đi hơi xa, tôi xin kéo lại mạch chính cho lớp lang đâu vào đấy, tóm lại là thế này:

Các bạn bước chân vào một ngôi trường danh giá, thường xuyên nhận được sự chỉ dạy của các bậc thầy mẫu mực, ngày ngày lắng nghe những bài giảng chuyên môn cũng như đại cương của họ. Vậy mà các bạn lại cố ý mời một kẻ như tôi từ nơi khác đến để nghe diễn thuyết, thì cũng hệt như vị đại danh thưởng thức món cá thu đao ở Meguro ban nãy, chẳng qua thấy của lạ thì muốn nếm thử một miếng xem sao. Thực lòng mà nói, những lời dạy của các vị giáo sư cơ hữu mà các bạn gặp mặt hằng ngày chắc chắn sẽ bổ ích và thú vị hơn bài nói của tôi nhiều. Ngay cả bản thân tôi, giả sử tôi có là giáo sư của trường này đi chăng nữa, thì chỉ riêng việc thiếu đi sự kích thích của yếu tố mới lạ cũng đủ khiến các bạn chẳng mảy may có chút nhiệt tình hay hiếu kỳ nào để tụ tập đông đảo thế này mà nghe tôi nói đâu.

Sở dĩ tôi giả định như vậy là vì trong quá khứ, chính bản thân tôi đã từng suýt trở thành giáo viên của trường Gakushuin này. Tất nhiên không phải do tôi tự vận động, mà là có một người quen trong trường tiến cử tôi. Thời bấy giờ, cho đến tận sát lúc tốt nghiệp, tôi vẫn là một gã ngơ ngác chẳng biết làm gì để mưu sinh cơm áo gạo tiền. Nhưng khi thực sự bước chân ra đời, ngồi khoanh tay há miệng chờ sung thì tiền trọ cũng chẳng tự rơi vào túi, nên bất kể việc mình có tư cách làm nhà giáo hay không, tôi cần phải kiếm một chỗ chui vào. Thế là tôi bắt đầu xúc tiến theo lời người quen ấy để vào trường này.

Hồi đó tôi có một đối thủ cạnh tranh. Nhưng người quen của tôi cứ khăng khăng bảo rằng mọi chuyện ổn thỏa lắm, khiến tôi cũng đinh ninh như thể mình đã được bổ nhiệm đến nơi, bèn hỏi han xem làm thầy giáo ở đây thì phải mặc y phục thế nào. Người ấy bảo không mặc áo đuôi tôm thì không được lên lớp giảng bài, thế là dù sự tình chưa ngã ngũ, tôi đã vội đi may một bộ lễ phục. Khổ nỗi đến cả vị trí trường Gakushuin nằm ở đâu tôi còn chẳng rõ, nghĩ lại thấy thật buồn cười. Đến khi may xong áo lễ phục thì ôi thôi, chỗ Gakushuin mà tôi hằng trông cậy đã đánh trượt tôi. Một người khác được nhận vào thế chân vị trí giáo viên tiếng Anh còn trống. Tên người đó là gì giờ tôi cũng quên bẵng mất rồi, có lẽ vì lúc đó tôi chẳng thấy tiếc nuối hay cay cú gì cho cam. Nghe đâu là một người du học bên Mỹ về.

Thế nên, giá như lúc bấy giờ người về từ Mỹ kia không được tuyển, mà tôi lại ăn may trở thành giáo viên của Gakushuin và gắn bó mãi cho đến tận hôm nay, thì có lẽ tôi đã chẳng bao giờ nhận được lời mời trọng thị thế này để đứng từ trên bục cao này nói chuyện với các bạn. Việc các bạn nhẫn nại chờ đợi từ mùa xuân cho đến tận tháng Mười Một để lắng nghe tôi, chẳng phải là minh chứng rành rành cho thấy tôi là kẻ đã trượt chân khỏi Gakushuin, và được các bạn xem như món cá thu đao ở Meguro vì chút lạ lẫm đó hay sao?

Tiếp theo đây, tôi muốn kể đôi chút về bản thân mình sau khi trượt khỏi Gakushuin. Tôi mong các bạn lắng nghe điều này không phải vì nó tiếp nối trình tự câu chuyện, mà bởi đây là phần cốt yếu phục vụ cho chủ đề của buổi diễn thuyết hôm nay.

Trượt Gakushuin rồi, nhưng bộ áo đuôi tôm thì tôi vẫn mặc. Chẳng còn cách nào khác vì ngoài bộ đó ra tôi chẳng có âu phục nào tử tế để mặc cả. Các bạn thử đoán xem tôi mặc bộ áo ấy đi đâu? Thời bấy giờ khác với bây giờ, đường tìm việc dễ dàng lắm. Dường như ngoảnh đi đâu cũng thấy có chỗ trống đón chờ, âu cũng là do thời ấy hiếm người có học. Ngay cả một kẻ như tôi mà trường Trung học Phổ thông số 1 (Đệ nhất Cao đẳng) và trường Cao đẳng Sư phạm Tokyo gần như cùng một lúc đánh tiếng mời về. Tôi trót nhận lời nửa chừng với một vị tiền bối đã mai mối cho tôi vào trường Cao đẳng số 1, nhưng lại buông lời ỡm ờ hứa hẹn bên phía Sư phạm, thành ra mọi chuyện rối như canh hẹ. Bản tính tôi vốn còn trẻ con, làm ăn tắc trách, thiếu sót đủ đường, để rồi tự rước họa vào thân thì đành chịu, nhưng quả thực lúc ấy tôi vô cùng bối rối. Tôi bị vị tiền bối – vốn là giáo sư kỳ cựu của trường Cao đẳng số 1 – gọi đến trách mắng tơi bời, rằng đã bảo về đây mà còn đi bàn tính chỗ khác, làm kẻ đứng giữa như ông ta khó xử khôn cùng.

Tôi tuổi còn trẻ, lại thêm cái tính nóng nảy gàn dở, bèn nghĩ bụng hay là từ chối quách cả hai bên cho xong chuyện, thế là bắt đầu sửa soạn thoái lui. Đúng lúc đó, Hiệu trưởng trường Cao đẳng số 1 lúc bấy giờ là ngài Kuhara (nay hình như đang làm Viện trưởng Đại học Khoa học Kyoto) gửi giấy gọi tôi lên trường có chút việc. Tôi tức tốc đến nơi thì thấy trong phòng đã có sẵn thầy Jigoro Kano (Hiệu trưởng trường Sư phạm) cùng vị tiền bối mai mối cho tôi ngồi đó. Mọi người bảo đã bàn bạc xong xuôi rồi, bên này không cần phải câu nệ, cậu cứ sang bên Sư phạm làm việc là tốt nhất. Thế sự đã rồi, tôi không thể chối từ nên đành vâng dạ nhận lời. Song trong thâm tâm, tôi không khỏi thấy mình đã vướng vào một rắc rối to. Nghĩ lại thời ấy thấy thật bất kính, nhưng quả thực lúc đó tôi chẳng mấy mặn mà gì với trường Sư phạm. Ngay lần đầu gặp thầy Kano, nghe thầy yêu cầu rằng đã là nhà giáo thì phải làm gương mẫu mực cho học sinh, tôi đã ngập ngừng toan thối lui vì thấy mình không kham nổi. Thầy Kano là người rất khéo léo, thầy bảo: “Nghe cậu từ chối thành thật như thế, tôi lại càng muốn mời cậu về bằng được”, thế là thầy nhất quyết giữ tôi lại. Vì cớ ấy, một kẻ non nớt như tôi dẫu chẳng hề có dã tâm tham lam muốn bắt cá hai tay, nhưng sau khi làm phiền bao nhiêu người liên quan, cuối cùng đã về dạy tại trường Cao đẳng Sư phạm.

Ngặt nỗi, tư chất để trở thành một nhà giáo dục lỗi lạc thì ngay từ đầu tôi đã hoàn toàn khiếm khuyết, nên tôi luôn cảm thấy gò bó và sợ hãi. Thầy Kano từng bảo tôi quá đỗi thành thật đến mức đáng lo ngại, có lẽ thời ấy tôi cứ việc mặt dày lười biếng một chút khéo lại hay. Nhưng dù thế nào tôi cũng thấy đó là nơi hoàn toàn không hợp với mình. Nói thẳng thắn thì tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào một gã bán cá bị bắt sang phụ việc cho tiệm bánh ngọt.

Sau một năm, rốt cuộc tôi chuyển công tác về một trường trung học ở miền quê. Đó là trường trung học ở Matsuyama, xứ Iyo. Nghe đến trường trung học Matsuyama chắc các bạn phì cười, hẳn là các bạn đã đọc cuốn Botchan của tôi rồi chứ gì. Trong Botchan có một nhân vật mang biệt danh là “Áo Đỏ” (Akashatsu), thời đó người ta hay hỏi tôi rốt cuộc nhân vật ấy là ai ngoài đời. Hỏi là ai ư? Thời điểm ấy ở cái trường trung học đó, người duy nhất có bằng Cử nhân Văn chương chỉ có mỗi mình tôi; nếu cứ nhất quyết quy chụp từng nhân vật trong Botchan ra người thật ngoài đời, thì “Áo Đỏ” chẳng phải chính là cái thằng tôi đây hay sao – thật là một sự vinh hạnh đáng cảm tạ làm sao!

Ở Matsuyama tôi cũng chỉ ở vỏn vẹn đúng một năm. Khi tôi đi, ngài Tỉnh trưởng có nhã ý giữ lại, nhưng vì đã trót ước hẹn với nơi khác nên tôi đành từ chối mà dứt áo ra đi. Lần này tôi chuyển về cắm sào tại trường Cao đẳng số 5 ở Kumamoto. Theo thứ tự như vậy, tôi đã trải qua kinh nghiệm dạy học từ trường trung học lên cao đẳng, rồi từ cao đẳng lên đại học, chỉ duy có trường tiểu học và trường nữ sinh là tôi chưa từng đặt chân vào giảng dạy bao giờ.

Tôi ở Kumamoto khá lâu. Được vài năm thì đột nhiên Bộ Giáo dục ướm hỏi xem tôi có muốn sang Anh du học hay không. Lúc đó tôi đã toan từ chối. Bởi tôi nghĩ một kẻ như mình, chẳng có mục đích lý tưởng gì rõ rệt, dẫu có đi nước ngoài về cũng chẳng giúp ích gì được cho quốc gia đại sự. Thế nhưng vị Giáo đầu truyền đạt ý kiến của Bộ lại bảo: “Đó là kỳ vọng của cấp trên, cậu việc gì phải tự đánh giá thấp mình, dù sao cứ đi thì hơn.” Thấy mình chẳng có lý do gì để chống cự tuyệt đối, tôi bèn tuân lệnh sang Anh. Nhưng quả nhiên đúng như dự đoán, sang đó tôi chẳng biết mình phải làm cái gì.

Để giải thích điều này, tôi buộc phải nói qua về con người tôi từ trước thời điểm đó. Lời bộc bạch này chính là một phần cấu thành nên bài diễn thuyết hôm nay, mong các bạn hãy lưu tâm lắng nghe.

Hồi học đại học, tôi chọn chuyên ngành Văn học Anh. Nếu các bạn hỏi Văn học Anh rốt cuộc là cái gì, thì thú thực dù đã bỏ ra ba năm chuyên sâu, tôi vẫn hoàn toàn u mê mờ mịt. Thời đó thầy giáo của tôi là một người tên Dixon. Trước mặt thầy, tôi bị bắt đọc thơ, đọc văn xuôi, viết luận văn rồi bị mắng vì làm rơi mất mạo từ, hay bị chỉnh vì phát âm sai be bét. Đến kỳ thi thì toàn ra những câu hỏi kiểu như Wordsworth sinh năm nào mất năm nào, kịch của Shakespeare có bao nhiêu bản in khổ lớn, hoặc hãy xếp các tác phẩm của Walter Scott theo thứ tự niên đại. Những người trẻ tuổi như các bạn hẳn cũng mường tượng ra được: liệu những thứ đó có thực sự là Văn học Anh hay không? Tạm gác Văn học Anh sang một bên, thì trước hết, bản thân “Văn học” là cái gì, với cách học ấy ta tuyệt nhiên không tài nào hiểu nổi.

Bảo rằng tự mình đào sâu nghiên cứu ư? Chẳng khác nào kẻ mù đi dòm trộm qua khe giậu. Bước chân vào thư viện, đi lang thang quẩn quanh khắp chốn mà chẳng tìm thấy lấy một manh mối bấu víu. Điều này không chỉ do năng lực tự thân còn non kém, mà nguồn sách vở liên quan thời ấy cũng quá đỗi nghèo nàn. Rốt cuộc, sau ba năm trầy trật dùi mài, tôi vẫn hoàn toàn mù tịt về văn học. Có thể nói, mối phiền muộn giằng xé tâm can tôi bắt nguồn sâu xa từ chính nơi này.

Với một thái độ lơ mơ lờ mờ như thế, tôi bước chân ra đời rồi trở thành thầy giáo – nói đúng hơn là bị biến thành thầy giáo. May mắn là dẫu trình độ ngoại ngữ có bập bõm đáng ngờ, tôi vẫn lần lữa đối phó cho xong chuyện, ngày qua ngày trôi qua bình an vô sự, nhưng trong thâm tâm lúc nào cũng trống rỗng, hoang hoải. Thà rằng nó trống rỗng hẳn thì có khi ta lại dứt khoát buông xuôi, đằng này cứ có một thứ gì đó bực bội, lửng lơ, mơ hồ dường như đang lẩn khuất khắp nơi làm tôi không sao chịu nổi. Đã vậy, tôi lại chẳng tìm thấy chút hứng thú nào với cái nghề dạy học mà mình đang làm. Tư chất làm nhà giáo dục tôi đã biết mình khiếm khuyết ngay từ đầu, nhưng đến việc đứng lớp dạy tiếng Anh thôi tôi cũng đã thấy phiền toái vô cùng. Tôi luôn ở trong tư thế nhấp nhổm, hễ có cơ hội là muốn nhảy tót sang lĩnh vực thuộc về bản tính đích thực của mình. Ngặt nỗi, cái gọi là “bản tính đích thực” ấy dường như vừa có lại vừa không, ngoảnh đi ngoảnh lại khắp phía, tôi chẳng thể nào hạ quyết tâm nhảy sang đâu được.

Tôi nghĩ bụng: mình sinh ra trên cõi đời này thì ắt phải làm một điều gì đó; ngặt nỗi làm cái gì thì tôi hoàn toàn mù tịt. Tôi chết đứng như một kẻ cô độc bị bủa vây giữa màn sương mù dày đặc. Thay vì hy vọng có một tia nắng từ đâu đó rọi xuống, tôi khao khát từ phía mình có thể dùng một chiếc đèn pha rọi một luồng sáng duy nhất – dù chỉ một luồng thôi cũng được – để nhìn thấu con đường phía trước. Khổ nỗi nhìn về hướng nào cũng chỉ thấy mờ mịt, tối tăm. Tôi cảm thấy mình hệt như một kẻ bị nhét chặt trong bao tải mà không tài nào chui ra được. Tôi thèm khát trong tay có một mũi dùi nhọn hoắt để chọc thủng một lỗ thoát thân, lòng bồn chồn day dứt khôn nguôi; khốn nỗi mũi dùi ấy chẳng ai ban cho, bản thân cũng không tự tìm ra được, trong bụng chỉ biết thầm lo không hiểu tương lai mình rồi sẽ trôi dạt về đâu, ngày ngày gặm nhấm nỗi u uất mà không ai hiểu cho.

Tôi ôm mối bất an ấy mà tốt nghiệp đại học, mang theo mối bất an ấy chuyển từ Matsuyama về Kumamoto, và rồi lại chôn mối bất an ấy vào đáy lòng mà vượt trùng dương sang tận trời Tây. Đã mang danh đi du học nước ngoài thì ắt phải gánh trên vai một phần trách nhiệm mới. Thế nên tôi đã cố hết sức lao tâm khổ tứ để làm một điều gì đó. Nhưng dù có đọc bao nhiêu cuốn sách đi chăng nữa, tôi vẫn chẳng thể nào thoát ra khỏi cái bao tải giam hãm mình. Mũi dùi để chọc thủng cái bao ấy, lặn lội khắp London tôi cũng chẳng tìm ra. Tôi ngồi nghĩ ngợi trong căn phòng trọ nhỏ hẹp, thấy mọi sự sao mà vô nghĩa chán chường. Tôi cay đắng nhận ra đọc bao nhiêu sách vở cũng chẳng giúp no bụng, đồng thời chính tôi cũng chẳng còn hiểu mình đọc sách để làm cái gì nữa.

Chính vào thời khắc ấy, tôi mới bừng tỉnh nhận ra rằng: ngoài việc tự lực cánh sinh gầy dựng nên một khái niệm căn bản về văn học từ gốc rễ, sẽ chẳng có con đường nào khác để cứu rỗi chính bản thân mình. Tôi mới vỡ lẽ ra bấy lâu nay mình hỏng bét là vì sống hoàn toàn theo lối “tha nhân bản vị” (lấy người khác làm chuẩn mực), trôi dạt vô định như cánh bèo không rễ.

Cái mà tôi gọi là “tha nhân bản vị” ở đây nghĩa là: đem rượu của mình cho người khác uống, rồi ngồi chờ nghe họ phẩm bình khen chê, rồi bất kể đúng sai cứ mù quáng tin răm rắp theo lời họ – đó chính là thói a dua bắt chước. Nói toạc móng heo ra thì nghe thật lố bịch, có thể các bạn sẽ nghi ngờ bảo đời nào lại có kẻ đi bắt chước ngớ ngẩn như thế, nhưng sự thực ngoài đời lại đúng mười mươi là như vậy. Dạo gần đây trào lưu triết học của Bergson hay Eucken rộ lên, âu cũng là vì bên Tây người ta bàn tán xôn xao nên người Nhật mình mới hùa theo ăn vặt tàn thuốc, nhảy cẫng lên ồn ào. Huống hồ thời của tôi, hễ là lời người phương Tây nói thì người ta đều mù quáng phục tùng rồi lấy đó làm vẻ vang, đắc chí. Thế nên những kẻ thích nhồi nhét chữ Katakana vào mồm đi rêu rao khắp nơi để làm sang nhiều như nấm sau mưa. Tôi không có ý nói xấu ai đâu, bởi chính bản thân tôi ngày ấy cũng từng là một kẻ như thế. Ví thử đọc thấy một người phương Tây này bình phẩm về tác phẩm của một người phương Tây khác, ta chẳng thèm suy xét xem lời bình ấy đúng hay sai, bản thân có tâm đắc hay không, cứ thế đi rao giảng bừa bãi khắp chốn. Nói là “ăn tươi nuốt sống” cũng được, nói là “tri thức máy móc” cũng chẳng sai, tóm lại là biến những thứ xa lạ chưa hề trở thành máu thịt hay sở hữu của mình thành thứ huênh hoang trên môi như thể của chính mình. Khổ nỗi thời thế lúc bấy giờ lại tung hô, khen ngợi những điều ấy.

Thế nhưng, dẫu có được thiên hạ tán dương đến mấy, bản chất vẫn là mượn áo người khác mặc để làm oai, nên trong lòng không tránh khỏi nỗi bất an thầm kín. Chẳng khác nào kẻ cắm lông công lên mình rồi vênh váo tự đắc. Tôi bắt đầu nhận ra rằng nếu không gạt bỏ bớt thói phù phiếm mà quay về với sự chân thực, thành kính, thì đáy lòng mình sẽ muôn đời không có được sự an yên.

Chẳng hạn, người phương Tây bảo bài thơ này tuyệt mỹ, âm điệu này thanh tao, thì đó là góc nhìn của riêng họ; dẫu nó có thể dùng để tôi tham khảo, nhưng nếu tự thâm tâm tôi không cảm thấy như vậy, tôi tuyệt đối không thể đem đi bán lại một cách mù quáng. Tôi là một người Nhật Bản độc lập, tuyệt nhiên không phải nô tỳ của người Anh; một thành viên của quốc gia phải có được phẩm giá và khí phách ấy, hơn nữa xét từ góc độ trọng đức tính “trung thực” vốn là lẽ chung của toàn thế giới, tôi không được phép bẻ cong nhận định của chính mình.

Ngặt nỗi tôi học chuyên ngành Văn học Anh. Khi ý nghĩ của mình mâu thuẫn với nhận định của các nhà phê bình chính quốc, người ta thường có tâm lý tự ti, e ngại. Thế là ta buộc phải truy nguyên xem mâu thuẫn ấy rốt cuộc nảy sinh từ đâu. Phong tục, nhân tình thế thái, tập quán, và sâu xa hơn là tính cách dân tộc – tất thảy ắt hẳn là căn nguyên của sự mâu thuẫn này. Vậy mà các học giả thông thường lại đánh đồng văn học với khoa học, lầm tưởng rằng thứ làm vừa lòng dân tộc A thì tất yếu cũng sẽ được dân tộc B tán thưởng. Phải khẳng định rằng đó là một sai lầm. Dẫu cho việc dung hòa mâu thuẫn này là bất khả, ta vẫn hoàn toàn có thể lý giải được nó. Và chỉ riêng việc đưa ra lời giải thích ấy thôi cũng đủ để rọi một luồng sáng mới vào văn đàn Nhật Bản rồi.

Thời điểm ấy tôi mới ngộ ra điều đó. Dẫu có phần muộn màng và hổ thẹn khôn cùng, song vì đó là sự thật nên tôi xin giãi bày không chút giấu giếm.

Kể từ đó, để củng cố chỗ đứng cho mình đối với văn nghệ – nói đúng hơn là để tự kiến tạo một nền tảng mới – tôi bắt đầu vùi đầu vào đọc những cuốn sách chẳng liên quan gì đến văn nghệ. Nói ngắn gọn, tôi bắt đầu đúc kết nên bốn chữ “Tự ngã bản vị” (Lấy chính mình làm chuẩn mực), và để chứng minh cho điều ấy, tôi đắm mình vào các nghiên cứu khoa học và tư duy triết học. Thời nay thời thế đã khác, những người có chút đầu óc hẳn đều đã thấu suốt điều này, song thuở ấy tôi còn quá non nớt, xã hội lại chưa tiến bộ đến mức đó, nên phương pháp của tôi quả thực là bước đường cùng không thể khác.

Kể từ khi nắm chắc trong tay bốn chữ “Tự ngã bản vị”, tôi thấy mình trở nên mạnh mẽ lạ thường. Khí phách “bọn họ là cái thá gì chứ!” bừng bừng trỗi dậy. Đối với một kẻ vốn đang bàng hoàng mất phương hướng như tôi, thứ đã chỉ đường dẫn lối bảo tôi phải đứng ở đây, phải đi theo con đường này, đích thực chính là bốn chữ “Tự ngã bản vị” ấy.

Thú thực, tôi đã làm một cuộc khởi hành mới từ chính bốn chữ ấy. Tôi nghĩ rằng, cái cảnh cứ a dua ăn theo người khác rồi làm ầm ĩ lên như hiện nay thật đáng lo ngại; nếu mình có thể đưa ra những lý lẽ đanh thép không thể bác bỏ trước mắt họ để chứng minh rằng ta chẳng việc gì phải sùng bái, học đòi làm người phương Tây, thì bản thân sẽ sảng khoái biết bao, và người đời cũng sẽ hoan hỉ nhường nào. Thế là tôi quyết định lấy việc thực hiện điều đó thông qua trước tác và các phương tiện khác làm sự nghiệp cả đời mình.

Vào khoảnh khắc ấy, mọi nỗi bất an trong tôi hoàn toàn tan biến. Tôi ngắm nhìn một London ảm đạm với một tâm hồn nhẹ nhõm, thanh thản. Nói theo cách ẩn dụ, sau bao năm tháng quằn quại khổ đau, tôi có cảm giác nhát cuốc chim của mình cuối cùng đã bổ trúng vào một mạch quặng ngầm. Nói cách khác, một kẻ vốn bị vây hãm trong sương mù, giờ đây đã được chỉ rõ hướng đi tất yếu của cuộc đời.

Khi tôi được khai sáng như thế thì thời gian du học đã trôi qua hơn một năm trời. Tôi nhận thấy khó lòng hoàn thành đại nghiệp ấy nơi đất khách quê người, nên dự tính gom góp tư liệu nhiều nhất có thể, đợi ngày hồi hương sẽ giải quyết cho thật rốt ráo. Nghĩa là so với lúc ra đi, khi trở về nước, tôi đã tình cờ nắm trong tay một nguồn sức mạnh nội tại.

Thế nhưng vừa về đến nơi, gánh nặng mưu sinh cơm áo gạo tiền lập tức đè nặng lên vai. Tôi phải đi dạy ở trường Cao đẳng, dạy ở trường Đại học; sau này tiền nong eo hẹp, tôi phải cày cuốc thêm ở cả một trường tư thục. Đã vậy tôi lại mắc chứng suy nhược thần kinh. Cuối cùng, tôi rơi vào hoàn cảnh buộc phải viết mấy thứ sáng tác vớ vẩn để đăng báo kiếm sống. Vì muôn vàn hoàn cảnh đưa đẩy, sự nghiệp vĩ đại mà tôi ấp ủ đã bị bỏ dở giữa chừng. Cuốn Văn học luận (Bungakuron) mà tôi viết ra, thay vì là một đài kỷ niệm, chi bằng gọi nó là di hài của một sự thất bại thì đúng hơn. Mà lại là di hài của một đứa trẻ dị tật. Hay tựa như tàn tích của một khu phố chưa kịp xây xong đã bị động đất san phẳng vậy.

Tuy nhiên, tư tưởng “Tự ngã bản vị” mà tôi đúc kết được dạo ấy vẫn tiếp tục tồn tại vững bền. Không những thế, năm tháng trôi qua nó lại càng thêm đỗi kiên cố. Dưới góc độ một sự nghiệp trước tác, nó có thể đã kết thúc trong thất bại, song niềm tin xác quyết mà tôi nắm chặt khi ấy – rằng “mình là chủ, người khác là khách” – đã ban cho tôi một sự tự tin và thanh thản phi thường trong cuộc sống hôm nay. Tôi cảm thấy như thể mình còn sống được đến ngày hôm nay là nhờ tiếp nối nguồn sinh lực ấy. Thực ra, việc tôi có thể đứng trên bục cao này để diễn thuyết trước mặt các bạn, âu cũng là nhờ vào sức mạnh của niềm tin đó.

Những điều tôi vừa giãi bày trên đây chỉ là đôi nét sơ lược về trải nghiệm cá nhân của tôi, nhưng tôi chia sẻ với các bạn hoàn toàn xuất phát từ tấm lòng ưu ái của một kẻ đi trước, mong rằng nó có thể giúp ích đôi chút cho các bạn. Mai này các bạn rồi sẽ rời ghế nhà trường để bước chân ra ngoài xã hội. Có người hãy còn nhiều thời gian, có người chẳng mấy chốc sẽ dấn thân vào đời thực, song tôi đồ rằng ai nấy rồi cũng sẽ lặp lại những nỗi phiền muộn, trăn trở mà tôi từng kinh qua (dẫu hình thức có thể khác nhau). Hẳn sẽ có nhiều người rơi vào tình cảnh muốn đục thủng một lối thoát mà không xong, muốn nắm bắt lấy một điều gì đó nhưng nó cứ trơn tuột như nắm đầu ấm nước sôi, khiến lòng bồn chồn ruột gan như lửa đốt.

Nếu trong số các bạn có ai đã tự lực khai phá được con đường cho riêng mình thì là ngoại lệ; hoặc có ai bằng lòng bước theo sau người khác, an phận tiến bước trên con đường mòn cũ kỹ thì tôi cũng chẳng dám bảo là xấu (miễn sao trong lòng họ thực sự có được sự tự tin và thanh thản vững vàng). Nhưng nếu không được như thế, thì dù thế nào đi nữa, các bạn cũng phải dấn bước cho đến khi nhát cuốc chim của chính mình bổ trúng vào mạch quặng. Sở dĩ tôi bảo “phải” là vì nếu không đào trúng, người đó suốt đời sẽ sống trong sự bực bội, bất an, lúc nào cũng trong tư thế nhấp nhổm, lúng túng giữa dòng đời.

Tôi nhấn mạnh điểm này hoàn toàn là vì lẽ đó, chứ tuyệt đối không có ý bảo các bạn hãy lấy tôi làm khuôn vàng thước ngọc. Một kẻ tầm thường như tôi, nếu có được ý thức tự mình mở đường mà tiến bước, thì dẫu dưới mắt các bạn con đường ấy có vụn vặt hèn mọn đến đâu, đó cũng là sự phê bình và quan sát của các bạn, chẳng mảy may làm tổn hại đến tôi. Bản thân tôi tự thấy mãn nguyện với điều đó là đủ. Nhưng không thể vì tôi có được sự tự tin và thanh thản từ con đường ấy mà các bạn lại hiểu lầm rằng lộ trình của tôi có thể làm bài học mẫu mực cho các bạn được.

Dẫu sao đi nữa, tôi đồ rằng những nỗi phiền muộn như tôi từng trải qua ắt sẽ thường xuyên xuất hiện trong cuộc đời các bạn. Nếu đúng như thế, thì việc dấn bước cho đến khi va chạm vào một điều gì đó đích thực, chẳng phải là một việc tối cần thiết cho những người học đạo, những kẻ tiếp nhận giáo dục, dẫu phải đánh đổi bằng sự nghiệp cả đời hay mười, hai mươi năm hay sao?

“A, con đường ta phải đi đây rồi! Cuối cùng ta đã đào trúng mạch quặng rồi!” – Chỉ khi từ tận đáy lòng có thể thốt lên tiếng reo vui ấy, tâm hồn các bạn mới bắt đầu có được sự an tịnh. Một niềm tự tin không dễ gì bị dập tắt sẽ theo tiếng reo ấy mà ngẩng cao đầu trỗi dậy, chẳng phải thế sao? Trong số các bạn có thể đã có người đạt đến cảnh giới ấy, song nếu có ai đang quằn quại khổ sở giữa màn sương mù dày đặc trên đường đời, thì dẫu phải trả bất cứ giá nào, tôi thiết nghĩ các bạn cũng nên đi cho đến tận cùng nơi mà mình có thể thốt lên: “Chính là đây rồi!”.

Điều này không nhất thiết chỉ vì nghĩa vụ với quốc gia, cũng chẳng phải tôi nói vì lợi ích của gia đình các bạn. Tôi nói ra điều này vì thấy nó là điều tuyệt đối cần thiết cho chính hạnh phúc của bản thân các bạn. Nếu các bạn đã vượt qua con đường như tôi từng đi thì không sao, nhưng nếu trong lòng còn điều gì vướng bận, trắc trở, các bạn buộc phải tiến bước đạp bằng nó mới xong. Biết đi thế nào khi chưa rõ lối, chi bằng cứ đi cho đến khi va phải một chướng ngại thực sự. Tôi chẳng có ý ép buộc các bạn phải nghe theo lời khuyên bảo gì, song nghĩ rằng điều này có thể trở thành một phần hạnh phúc tương lai của các bạn, tôi không thể ngồi yên làm thinh. Cứ ôm giữ một tâm thế lửng lơ, nửa vời, ba phải như loài hải sâm thì bản thân làm sao thấy dễ chịu cho được. Nếu các bạn bảo mình chẳng thấy khó chịu gì thì thôi vậy; hoặc nếu bảo mình đã vượt qua nỗi khó chịu ấy rồi thì lại càng đáng mừng. Tôi chỉ cầu chúc các bạn đều vượt qua được.

Nhưng bản thân tôi, sau khi rời trường học cho đến ngoài ba mươi tuổi vẫn chưa thể vượt qua nổi. Nỗi đau đớn ấy dẫu chỉ là cơn đau âm ỉ, song năm này qua năm khác nó vẫn là nỗi đau có thật. Vì thế, nếu trong số các bạn có ai đang mắc phải căn bệnh như tôi, tôi tha thiết mong các bạn hãy dũng mãnh tiến lên. Nếu đi được đến đích, các bạn sẽ phát hiện ra cái vị trí đích thực để mình an tọa, và nắm chắc trong tay sự tự tin cùng niềm an lạc của cả cuộc đời.

Những điều tôi vừa giãi bày trên đây tương đương với phần thứ nhất của bài nói chuyện, bây giờ tôi xin chuyển sang phần thứ hai.

Trường Gakushuin này vốn được người đời nhìn nhận là nơi theo học của những người có địa vị xã hội cao quý. Và điều đó có lẽ là sự thật. Nếu đúng như tôi suy đoán, ở đây không có tầng lớp bần hàn mà đa phần là con em giới thượng lưu quy tụ, thì mai này thứ gắn liền với các bạn trước hết phải kể đến chính là Quyền lực. Nói cách khác, khi bước chân ra xã hội, các bạn sẽ nắm trong tay nhiều quyền lực hơn hẳn những người nghèo khổ. Việc tôi nói ban nãy – làm việc và tiến bước cho đến khi đào trúng mạch quặng – chắc chắn là vì hạnh phúc và sự an yên của các bạn; sở dĩ nó đem lại hạnh phúc là vì cá tính bẩm sinh của các bạn khi chạm đúng vào đó mới thực sự tìm được chỗ đứng vững vàng. Và khi đã an tọa tại đó để tiến lên, cá tính ấy sẽ ngày càng phát triển. Chỉ khi công việc và cá tính của các bạn hòa quyện khít khao, các bạn mới có thể thốt lên: “A, đây chính là chốn an thân lập mệnh của ta!”.

Xét theo ý nghĩa tương tự, khi mổ xẻ cái gọi là Quyền lực, ta thấy quyền lực chính là thứ công cụ dùng để áp đặt cá tính của mình lên đầu người khác. Nếu bảo dứt khoát nó là công cụ nghe hơi nặng nề, thì nó chính là một thứ vũ khí sắc bén có thể dùng làm công cụ như thế.

Đứng sau quyền lực là Tiền tài. Thứ này các bạn ắt hẳn cũng sở hữu nhiều hơn người nghèo. Nhìn tiền tài dưới góc độ tương tự, nó sẽ trở thành một công cụ vô cùng tiện lợi dùng để quyến rũ, dụ dỗ người khác nhằm bành trướng cá tính của chính mình.

Như vậy, phải nói rằng quyền lực và tiền tài là những công cụ hết sức đắc lực trong việc áp đặt cá tính của mình lên người khác nhiều hơn kẻ nghèo hèn, hoặc dụ dỗ người khác ngả theo hướng của mình. Vì sở hữu sức mạnh ghê gớm ấy, trông chúng có vẻ to tát song thực chất lại vô cùng nguy hiểm. Cá tính mà tôi nói ban nãy, chủ yếu là trong học vấn, văn nghệ hay thị hiếu, chỉ có thể phát triển khi ta tìm được chốn an định cho riêng mình; song trong thực tế, phạm vi ứng dụng của nó rộng lớn vô cùng, không chỉ giới hạn trong học thuật văn nghệ.

Tôi có biết hai anh em nọ: người em thì thích thu mình trong nhà đọc sách, trái lại người anh lại đam mê câu cá đến quên ăn quên ngủ. Người anh thấy đứa em suốt ngày ru rú trong nhà thì coi đó là điều chướng tai gai mắt khôn cùng. Anh ta đinh ninh rằng chỉ tại không chịu đi câu nên em mình mới trở nên yếm thế, u sầu như vậy, bèn tìm mọi cách lôi kéo em đi câu cho bằng được. Người em thì ngán ngẩm, khó chịu vô cùng, nhưng vì người anh dùng uy quyền ép vác cần câu, xách giỏ cá, lệnh phải tháp tùng ra hồ, nên đành nhắm mắt đi theo, câu mấy con cá diếc gớm ghiếc rồi miễn cưỡng quay về. Liệu cách làm ấy có sửa được tính nết người em như toan tính của người anh không? Tuyệt đối không, trái lại nó chỉ làm bùng lên sự phản kháng đối với trò câu cá trong lòng người em. Tức là, thú câu cá và tính cách của người anh có thể hòa hợp khít khao không tì vết, song đó là cá tính của người anh, chẳng can hệ gì đến người em cả. Đây dĩ nhiên không phải ví dụ về tiền tài, mà là minh chứng cho việc quyền lực uy hiếp người khác: cá tính của người anh đã chèn ép, cưỡng bức người em phải đi câu cá. Tất nhiên trong một số hoàn cảnh nhất định – chẳng hạn như khi tiếp thu bài giảng, khi đi lính, hay đời sống ký túc xá đặt kỷ luật quân ngũ lên hàng đầu – thì biện pháp áp đặt ấy khó lòng tránh khỏi. Song ở đây tôi đang nói đến lúc các bạn đã độc lập bước chân ra đời, mong các bạn hãy lắng nghe theo tinh thần ấy.

Bởi vậy, như tôi đã nói, khi may mắn chạm đúng vào thứ mình cho là tốt, là thích, là hợp với bản tính để phát triển cá tính của mình, người ta rất dễ quên đi ranh giới giữa mình và người khác, rồi nảy sinh cái tâm lý muốn lôi kéo kẻ khác vào hùa với mình. Lúc ấy, nếu có quyền lực trong tay, ta sẽ tạo ra mối quan hệ kỳ quặc như hai anh em nọ; còn nếu có tiền tài, ta sẽ vung tiền ra để nhào nặn người khác giống như mình. Tức là dùng tiền làm mồi nhử, dùng sức mạnh cám dỗ ấy để biến đổi người khác cho vừa mắt mình. Đằng nào đi nữa cũng đều dẫn tới mối nguy hại khôn lường.

Chính vì thế, xưa nay tôi luôn tâm niệm điều này:

Thứ nhất: Các bạn phải tìm cho được công việc hoàn toàn khít khao với bản thân, tìm được nơi an tọa để phát triển cá tính của mình, nếu không sẽ là nỗi bất hạnh của cả cuộc đời.

Thứ hai: Song, một khi được xã hội cho phép tôn trọng cá tính của riêng mình, thì lẽ đương nhiên ta cũng phải công nhận cá tính của người khác và tôn trọng khuynh hướng của họ. Đó là điều tất yếu và đúng đắn duy nhất mà tôi nhìn thấy. Mình bẩm sinh thích ngoảnh mặt sang phải, mà lại bảo kẻ ngoảnh mặt sang trái là đồ chẳng ra gì, thì thật là vô lý. Tất nhiên khi đụng chạm đến những vấn đề thiện ác, chính tà phức tạp thì cần phải nhờ đến sự phẫu tích rạch ròi mới định luận được; song trong những trường hợp không can hệ đến điều đó, hoặc can hệ mà không quá phức tạp, thì hễ ta được hưởng sự tự do từ người khác bao nhiêu, ta buộc phải trao cho họ chừng ấy tự do và đối xử với họ một cách bình đẳng bấy nhiêu.

Dạo gần đây người ta hay rêu rao những từ như “Tự ngã” hay “Tự giác” rồi vin vào đó như một tấm bình phong để mặc sức làm càn, trong số đó có vô vàn điều đáng ngờ. Bọn họ mồm thì leo lẻo tôn trọng cái tôi của mình rất mực, song đối với cái tôi của người khác thì chẳng thèm đếm xỉa mảy may. Tôi tin chắc rằng một khi đã có con mắt công bằng và ý niệm về chính nghĩa, thì cùng với việc phát triển cá tính vì hạnh phúc của mình, ta không thể không trao quyền tự do ấy cho người khác. Chúng ta tuyệt đối không được phép vô cớ cản trở người khác phát triển cá tính của họ vì hạnh phúc của chính họ. Sở dĩ tôi dùng chữ “cản trở” là vì trong tương lai, nhiều người trong số các bạn sẽ đứng ở vị thế hoàn toàn có khả năng cản trở người khác. Bởi trong các bạn sẽ có những kẻ nắm quyền lực, và có rất nhiều người nắm giữ tiền tài.

Xét cho cùng, trên đời này làm gì có thứ quyền lực nào không đi liền với Nghĩa vụ. Tôi đứng trên bục cao này nhìn xuống các bạn, giữ cái quyền yêu cầu các bạn giữ trật tự lắng nghe tôi nói suốt một hai tiếng đồng hồ, thì phía tôi cũng phải có nghĩa vụ đưa ra những luận điểm xứng đáng để các bạn giữ trật tự. Dẫu là một bài diễn thuyết bình thường, thái độ và phong mạo của tôi cũng phải đủ đàng hoàng để khiến các bạn giữ lễ. Nếu bảo rằng tôi là khách, các bạn là chủ, nên các bạn phải giữ ý tứ – nói thế cũng được, song đó chỉ là thứ lễ nghi bề ngoài, là tập quán sáo rỗng chẳng dính dáng gì đến tinh thần, không đáng để bàn luận.

Lấy ví dụ khác: ở lớp học các bạn thi thoảng bị thầy giáo quở mắng. Nhưng nếu trên đời có ông thầy chỉ biết quát mắng suông, thì ông ta rõ ràng không đủ tư cách đứng lớp. Đi đôi với việc quở mắng, thầy giáo phải tận tâm tận lực truyền dạy kiến thức. Kẻ nắm quyền quở mắng ắt phải mang nghĩa vụ giảng dạy. Thầy giáo có thể sử dụng trọn vẹn cái quyền được trao để chấn chỉnh kỷ cương, duy trì trật tự; song nếu không làm tròn nghĩa vụ gắn liền với quyền hạn ấy, ông ta không thể hoàn thành thiên chức của một người thầy.

Với Tiền tài cũng hoàn toàn tương tự. Theo tôi, một kẻ giàu có mà không hiểu trách nhiệm là gì thì không nên tồn tại trên cõi đời này. Nói ngắn gọn là thế này: Tiền bạc là thứ vô cùng tiện lợi, có thể xoay chuyển linh hoạt thành bất cứ thứ gì. Ví thử bây giờ tôi chơi chứng khoán kiếm được mười vạn yên, với số tiền ấy tôi có thể xây nhà, mua sách, hoặc đem đi vung vẩy chốn lầu xanh; tóm lại nó có thể biến hóa thành muôn hình vạn trạng. Đáng sợ nhất là nó có thể được dùng làm phương tiện để mua chuộc tinh thần con người. Tức là đem tiền rải ra để thâu tóm đạo đức, biến nó thành công cụ làm tha hóa linh hồn người khác.

Nếu đồng tiền kiếm được từ đầu cơ có thể tạo ra uy lực ghê gớm về mặt đạo đức và luân lý, thì đó quả là một sự áp dụng bất chính. Song một khi thực tế đồng tiền đang vận hành như thế, ta chẳng còn cách nào khác ngoài việc đòi hỏi kẻ sở hữu nó phải có một lương tri đạo đức tương xứng, sử dụng nó sao cho không phương hại đến đạo nghĩa, ngõ hầu ngăn chặn sự băng hoại lòng người. Bởi thế tôi mới nói rằng: Tiền tài ắt phải đi liền với Trách nhiệm. Ta không chỉ phải trau dồi nhận thức để hiểu rằng: mình nắm giữ chừng này của cải, nếu dùng vào việc này sẽ dẫn đến kết quả này, dùng vào xã hội kia sẽ gây ra ảnh hưởng nọ; mà còn phải có trách nhiệm định đoạt khối tài sản ấy sao cho xứng với nhận thức của mình, nếu không thì thật có lỗi với cuộc đời, và có lỗi với chính bản thân mình.

Tóm lược lại những luận điểm từ nãy đến giờ:

  1. Muốn phát triển trọn vẹn cá tính của mình, đồng thời phải tôn trọng cá tính của người khác.
  1. Muốn sử dụng quyền lực mình sở hữu, phải thấu suốt nghĩa vụ gắn liền với nó.
  1. Muốn phô diễn sức mạnh của tiền tài, phải coi trọng trách nhiệm đi kèm theo.

Tất cả quy về ba điều cốt tử ấy.

Nói theo cách khác, một người nếu chưa đạt được một mức độ tu dưỡng đạo đức nhất định thì hoàn toàn không có tư cách phát triển cá tính, không có tư cách sử dụng quyền lực, và cũng chẳng có tư cách sử dụng tiền tài. Để có thể tự do thụ hưởng ba thứ này, đòi hỏi phải có sự chi phối của một Nhân cách vững vàng đứng phía sau. Kẻ vô nhân cách mà cố phát triển cá tính thì sẽ chèn ép người khác; dùng quyền lực thì sẽ lạm quyền; dùng tiền tài thì sẽ làm tha hóa xã hội – dẫn tới những hiện tượng vô cùng nguy hại. Và vì ba thứ này là những điều các bạn dễ tiếp cận nhất trong tương lai, nên các bạn nhất định phải tôi luyện để trở thành những con người đàng hoàng, có phẩm cách.

Mở rộng sang chuyện khác một chút: như các bạn đã biết, nước Anh là quốc gia vô cùng tôn sùng tự do. Yêu tự do đến thế, song cũng chẳng có đất nước nào trật tự và kỷ cương như nước Anh. Thú thực là tôi chẳng ưa gì nước Anh. Dù ghét nhưng vì đó là sự thật nên tôi buộc phải nói ra: trên thế giới này e rằng không có quốc gia nào vừa tự do lại vừa có trật tự quy củ đến thế. Nhật Bản chúng ta tuyệt đối không thể sánh bằng. Nhưng họ không chỉ tự do một cách đơn thuần. Ngay từ thuở ấu thơ, họ đã được giáo dục xã hội chu đáo để vừa yêu tự do của mình, vừa biết tôn trọng tự do của kẻ khác. Bởi vậy, phía sau sự tự do của họ luôn gắn liền với ý niệm về nghĩa vụ. Câu nói nổi tiếng của Đô đốc Nelson: “Nước Anh kỳ vọng mỗi người đều sẽ làm tròn nghĩa vụ của mình” tuyệt nhiên không phải là khẩu hiệu đãi bôi nhất thời. Đó ắt hẳn là tư tưởng có gốc rễ sâu xa, cùng phát triển song hành như hai mặt của một đồng xu với sự tự do của họ.

Khi có điều bất mãn, họ thường tổ chức biểu tình tuần hành. Song chính phủ tuyệt nhiên không can thiệp thô bạo, cứ mặc nhiên để yên. Đổi lại, phía người biểu tình cũng rất biết chừng mực, không bao giờ làm càn gây phiền toái vô lối cho chính phủ. Gần đây báo chí có đưa tin về những người đòi nữ quyền có những hành vi quá khích, song đó chỉ là ngoại lệ. Nếu bảo ngoại lệ mà sao đông thế thì tôi cũng chịu, nhưng quả thực chỉ có thể coi đó là trường hợp cá biệt. Do ế chồng, do không tìm được việc làm, hay do lợi dụng tập quán tôn trọng phụ nữ vốn có từ xưa mà làm tới – dù sao đó cũng không phải là phong thái thường nhật của người Anh. Xé tranh quý, tuyệt thực trong tù làm khổ cai ngục, tự xích mình vào ghế nghị viện rồi la hét om sòm – đó là những hiện tượng quái gở; biết đâu phụ nữ nghĩ rằng mình làm gì thì đàn ông cũng phải nhường nhịn nên mới làm càn như thế. Nhưng vô luận vì lý do gì, đó đều là sự lệch chuẩn. Cốt cách chung của người Anh, như tôi vừa nói, là yêu tự do trong chừng mực không rời xa ý niệm về nghĩa vụ.

Nói vậy không phải tôi bảo các bạn hãy rập khuôn theo nước Anh, song tóm lại, thứ tự do không đi liền với ý thức về nghĩa vụ thì không phải là tự do chân chính. Bởi thứ tự do ích kỷ, buông tuồng ấy tuyệt đối không thể tồn tại trong xã hội; dẫu có ngóc đầu lên cũng sẽ lập tức bị đào thải và chà đạp không thương tiếc. Tôi tha thiết mong các bạn có được sự tự do, đồng thời cũng khẩn thiết mong các bạn thấu triệt được nghĩa vụ. Theo ý nghĩa này, tôi không hề ngần ngại công khai tuyên bố mình là một người theo Chủ nghĩa cá nhân.

Không được hiểu lầm ý nghĩa của Chủ nghĩa cá nhân này. Nhất là đối với những người trẻ tuổi như các bạn, nếu để các bạn tiếp nhận những hiểu lầm tai hại thì tôi có tội lớn, nên mong các bạn hết sức lưu tâm. Thời gian không còn nhiều nên tôi xin giải thích vắn tắt: tự do cá nhân là điều tối cần thiết cho sự phát triển cá tính như đã nói ở trên, và sự phát triển cá tính ấy lại gắn liền mật thiết với hạnh phúc của các bạn; vì thế, chừng nào không gây ảnh hưởng xấu đến người khác, thì quyền tự do “tôi ngoảnh sang trái, bạn ngoảnh sang phải” là thứ bản thân ta phải nắm giữ, và cũng phải trao cho người khác. Đó chính là Chủ nghĩa cá nhân theo định nghĩa của tôi.

Về mặt tiền tài và quyền lực cũng y như vậy: nếu chỉ vì ghét một kẻ nào đó mà muốn triệt hạ, thấy ai chướng mắt là muốn tẩn cho một trận, lạm dụng sức mạnh khi người ta chẳng làm điều gì sai trái – thử hỏi chuyện gì sẽ xảy ra? Cá tính con người khi ấy sẽ bị hủy diệt hoàn toàn, và nỗi bất hạnh của nhân loại cũng từ đó mà sinh sôi. Ví thử tôi chẳng làm điều gì sai trái, chỉ vì chính phủ thấy ngứa mắt mà ngài Tổng giám đốc Cảnh sát phái lính đến bao vây nhà tôi thì ra cái thể thống gì? Ngài Tổng giám đốc có thể có quyền lực ấy, song đạo đức không cho phép ông ta sử dụng quyền lực một cách bừa bãi như vậy. Hoặc giả như những đại tài phiệt như Mitsui hay Iwasaki, chỉ vì ghét tôi mà mua chuộc người làm trong nhà tôi để họ chống đối tôi đủ điều, thì sẽ ra sao? Nếu phía sau đồng tiền của họ còn chút nhân cách nào, họ sẽ không bao giờ nhẫn tâm làm những trò vô đạo ấy.

Mọi tệ đoan này đều bắt nguồn từ việc không hiểu được Chủ nghĩa cá nhân trên phương diện đạo nghĩa, chẳng qua chỉ là thói ích kỷ muốn dùng quyền lực hay tiền tài để áp đặt cái tôi của mình lên thiên hạ. Bởi thế, Chủ nghĩa cá nhân mà tôi trình bày ở đây tuyệt nhiên không phải là thứ gây nguy hại cho quốc gia như những kẻ thiển cận vẫn tưởng; định nghĩa của tôi là: biết tôn trọng sự tồn tại của người khác cũng chính là biết tôn trọng sự tồn tại của chính mình. Tôi tin rằng đó là một chủ nghĩa vô cùng đường hoàng và cao quý.

Nói một cách dễ hiểu hơn, đó là một chủ nghĩa không màng bè phái mà chỉ trọng lẽ phải trái, đúng sai. Nó không kết bè kéo cánh, lập hội tạo đoàn để manh động vì quyền lực hay tiền tài. Chính vì thế, ẩn sâu trong nó là một nỗi cô đơn khôn cùng mà ít ai thấu suốt. Đã không thuộc về bè phái nào, ta chỉ lẳng lặng bước đi trên con đường của riêng mình, đồng thời không cản trở lối đi của kẻ khác; bởi vậy trong những thời khắc nhất định, con người ta buộc phải đứng tách biệt một mình. Đó chính là chỗ cô đơn.

Thuở tôi còn phụ trách chuyên mục văn nghệ trên tờ nhật báo Asahi, có ai đó từng viết bài phê bình chỉ trích ông Miyake Setsurei. Dĩ nhiên không phải công kích cá nhân mà chỉ là một bài bình luận đơn thuần dài vỏn vẹn đôi ba dòng. Bài đăng vào lúc nào tôi cũng không nhớ rõ, vì tuy là người phụ trách nhưng dạo ấy tôi hay ốm đau, có thể nó lên báo trong lúc tôi dưỡng bệnh, hoặc giả không phải lúc ốm mà do chính tôi đã duyệt cho đăng. Tóm lại là bài phê bình ấy đã xuất hiện trên mục văn nghệ của báo Asahi. Thế là đám người bên tạp chí Nihon oyobi Nihonjin nổi trận lôi đình. Họ không trực tiếp chất vấn tôi, mà tìm đến người phụ tá của tôi yêu cầu phải đính chính, rút lại bài viết. Người đến đòi rút bài không phải là bản thân ông Setsurei, mà là đám “đàn em” của ông ấy – nói đàn em nghe như phường cờ bạc bến bãi kể cũng kỳ, thôi thì cứ gọi là các “đồng chí” vậy. Nếu bài viết sai sự thật thì rút lại là lẽ đương nhiên, đằng này đó là một bài phê bình văn học, làm sao mà rút được? Phía chúng tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc trả lời rằng đó là quyền tự do ngôn luận. Đã vậy, trong chính nội bộ tờ Nihon oyobi Nihonjin ấy, số nào cũng có người viết bài nói xấu tôi, thế nên hành động của họ lại càng khiến người ta kinh ngạc.

Tôi không trực tiếp tranh cãi, song khi nghe kể lại, trong lòng tôi trào dâng một cảm giác rất đỗi kỳ quặc. Là bởi tôi làm việc theo Chủ nghĩa cá nhân, trong khi phía họ dường như đang hành động theo Chủ nghĩa bè phái. Thời ấy, ngay cả những bài viết chê bai tác phẩm của chính mình tôi còn sẵn sàng cho đăng lên mục văn nghệ do mình phụ trách; vậy mà đám người tự xưng là “đồng chí” kia lại đồng loạt nổi giận chỉ vì một lời bình không vừa mắt về ông Setsurei, điều đó vừa làm tôi ngạc nhiên, lại vừa thấy kỳ quặc. Thứ lỗi cho tôi phải nói thẳng, tôi thấy họ thật lỗi thời, chẳng khác nào một bang hội thời phong kiến. Nghĩ vậy rồi, tôi lại không sao thoát khỏi một nỗi cô đơn man mác.

Tôi luôn tâm niệm rằng sự bất đồng quan điểm là điều không thể tránh khỏi ngay cả giữa những người thân thiết nhất, nên đối với những người trẻ tuổi ra vào tư gia của tôi, tôi có thể đưa ra lời khuyên bảo, song tuyệt đối không bao giờ chèn ép quyền bày tỏ ý kiến của họ, trừ phi có lý do đặc biệt hệ trọng. Tôi công nhận sự tồn tại của người khác đến mức ấy, tức là trao cho họ chừng ấy tự do. Bởi vậy, nếu người ta không tình nguyện, thì dẫu bản thân tôi có phải chịu điều sỉ nhục đến đâu, tôi cũng không bao giờ cầu viện họ đứng ra bênh vực. Đó chính là sự cô đơn của Chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân đòi hỏi trước khi quyết định ngả theo ai hay chống lại ai, ta phải phân định rõ đúng sai phải trái rồi mới định liệu hành vi; bởi thế trong nhiều hoàn cảnh, ta sẽ thấy mình hoàn toàn trơ trọi một mình, cảm giác vô cùng cô độc. Âu cũng là lẽ tự nhiên: một bó củi dẫu là củi tạp, kết lại thành bó thì trông vẫn vững tâm hơn một que củi đơn độc.

Để tránh hiểu lầm, tôi xin nói thêm một lời: hễ nghe đến Chủ nghĩa cá nhân, người ta rất dễ quy chụp rằng nó đối lập và tìm cách phá hoại Chủ nghĩa quốc gia; song nó tuyệt nhiên không phải là thứ lý lẽ hồ đồ, mơ hồ như thế. Vốn dĩ tôi chẳng mấy mặn mà với các thứ “chủ nghĩa”, con người ta đâu thể dễ dàng gói gọn trong một chủ nghĩa duy nhất; song vì để tiện giải thích nên ở đây tôi buộc phải mượn chữ “chủ nghĩa” để giãi bày đôi điều.

Có những kẻ rêu rao và đinh ninh rằng nước Nhật ngày nay nếu không theo Chủ nghĩa Quốc gia thì không thể tồn tại. Thậm chí không ít kẻ lớn tiếng hô hào rằng nếu không chà đạp lên Chủ nghĩa Cá nhân thì đất nước sẽ diệt vong. Làm gì có thứ lý lẽ ngu xuẩn đến mức ấy! Trong thực tế, chúng ta vừa có thể mang tinh thần quốc gia, vừa mang tinh thần thế giới, và đồng thời vẫn là những người theo chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa Cá nhân vốn là nền tảng cho hạnh phúc của mỗi cá nhân, cốt lõi của nó không gì khác ngoài sự tự do của mỗi con người; song quyền tự do mà mỗi người được thụ hưởng ấy sẽ tùy theo sự an nguy của quốc gia mà trồi sụt như cột thủy ngân trên nhiệt kế. Đây không hẳn là lý thuyết suông, mà là lý thuyết rút ra từ thực tế, tức là quy luật tự nhiên nó phải như thế. Khi vận nước lâm nguy, tự do cá nhân ắt phải thu hẹp lại; khi đất nước thái bình thịnh trị, tự do cá nhân sẽ tự nhiên bành trướng – đó là lẽ dĩ nhiên. Một người có nhân cách đàng hoàng ắt sẽ không bao giờ lú lẫn đến mức trong lúc quốc gia tồn vong lại đi nhắm mắt nhắm mũi đòi bành trướng cá tính của riêng mình. Chủ nghĩa cá nhân mà tôi nói tới bao hàm cả lời cảnh tỉnh dành cho những kẻ đám cháy đã tắt ngấm từ lâu mà vẫn khăng khăng đội mũ cứu hỏa, tự chuốc lấy nỗi ngột ngạt gò bó vào thân dù chẳng để làm gì.

Lại xin lấy một ví dụ: hồi tôi còn học ở trường Cao đẳng, có một nhóm người đứng ra thành lập một hội nọ. Tên hội và tôn chỉ cụ thể giờ tôi đã quên bẵng, chỉ nhớ đó là một hội ồn ào giương cao ngọn cờ Chủ nghĩa Quốc gia. Dĩ nhiên đó chẳng phải là hội xấu xa gì. Thầy Hiệu trưởng lúc bấy giờ là ngài Hiroji Kinoshita dường như cũng rất tán thành. Các hội viên ai nấy đều đeo một tấm huy chương trước ngực. Tôi thì xin miễn việc đeo huy chương, nhưng rốt cuộc vẫn bị ghi tên vào hội. Dĩ nhiên không phải là người khởi xướng nên tôi có nhiều điểm bất đồng, song nghĩ bụng vào hội cũng chẳng hại gì nên tôi đã tham gia.

Đến hôm tổ chức lễ ra mắt long trọng tại giảng đường lớn, nhân một sự việc gì đó, có một hội viên bước lên diễn đài đọc một bài diễn văn hùng hồn. Vốn là hội viên nhưng tôi có nhiều quan điểm trái ngược, trước đó tôi nhớ mình đã từng công kích tôn chỉ của hội này khá nhiều. Nào ngờ đến lúc phát biểu, bài diễn văn của anh chàng kia thực chất chẳng qua chỉ là một bài bác bẻ lại toàn bộ các luận điểm của tôi. Chẳng rõ là vô tình hay cố ý, song tình thế buộc tôi phải lên tiếng đáp lời.

Chẳng đặng đừng, tôi bèn bước lên diễn đàn ngay sau anh ta. Dáng vẻ và tác phong của tôi lúc ấy hẳn trông rất khó coi, song tôi vẫn nói ngắn gọn những điều cần nói. Nếu các bạn hỏi lúc ấy tôi đã nói gì, thì câu trả lời hết sức giản đơn. Tôi đã nói thế này:

“Quốc gia đúng là tối quan trọng, song việc bắt chúng tôi từ sáng đến tối lúc nào cũng phải mở mồm ra là ‘quốc gia, quốc gia’ như thể bị ma ám thì chúng tôi tuyệt đối không làm nổi. Có thể có những kẻ cho rằng đi đứng nằm ngồi lúc nào cũng phải canh cánh nghĩ đến quốc gia, song trên thực tế làm gì có ai đủ sức nghĩ mãi về một điều không ngơi nghỉ như thế. Bác bán đậu phụ gánh hàng đi bán dạo khắp phố phường tuyệt nhiên không phải vì quốc gia; mục đích cốt lõi của bác ấy là để kiếm miếng cơm manh áo nuôi thân. Nhưng bất kể ý định của bác ấy là gì, kết quả của việc cung cấp một món đồ thiết yếu cho xã hội xét một cách gián tiếp có thể cũng mang lại lợi ích cho quốc gia.

Hoàn toàn tương tự như vậy, trưa nay tôi ăn ba bát cơm, tối nay tôi ăn tăng lên bốn bát, việc ấy tuyệt nhiên không phải vì quốc gia mà tôi tăng giảm khẩu phần. Nói thực lòng, tôi ăn là tùy theo cái dạ dày của tôi lúc ấy. Thế nhưng những việc ấy, gián tiếp của gián tiếp mà nói, chưa chắc đã không ảnh hưởng đến thiên hạ; thậm chí nhìn từ một góc độ nào đó, biết đâu nó lại chẳng có chút can hệ đến đại cục của thế giới. Dẫu vậy, nếu bắt chính bản thân người đó phải vì quốc gia mà ăn cơm, vì quốc gia mà rửa mặt, rồi lại vì quốc gia mà đi vệ sinh, thì thật là khốn khổ khốn nạn khôn cùng!

Cổ xúy cho Chủ nghĩa Quốc gia bao nhiêu cũng được, song việc tô vẽ cho những hành vi vốn không thể làm được thành ra như thể đang làm vì quốc gia – đó đích thị là sự dối trá!”

Lời đáp của tôi đại khái là như thế.

Xét cho cùng, khi tổ quốc lâm nguy, làm gì có ai không canh cánh lo cho sự an nguy của đất nước. Nước càng mạnh, nguy cơ chiến tranh càng ít, hiểm họa ngoại xâm càng giảm bao nhiêu, thì ý niệm thường trực về quốc gia càng nên bớt đi bấy nhiêu; và việc Chủ nghĩa Cá nhân bước vào để lấp đầy khoảng trống ấy là lẽ đương nhiên của đất trời. Nước Nhật ngày nay có thể chưa hẳn đã hoàn toàn yên ổn. Đất nước vừa nghèo, diện tích lại nhỏ, bất trắc có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Theo nghĩa đó, chúng ta vẫn cần phải nghĩ đến vận mệnh quốc gia. Thế nhưng, chừng nào nước Nhật chưa đến mức sắp sụp đổ hay đứng trước bờ vực diệt vong ngay trong gang tấc, thì việc gì phải cuống cuồng chạy đôn chạy đáo la ó “quốc gia, quốc gia” suốt ngày? Chẳng khác nào chưa thấy cháy nhà mà đã vội mặc đồ cứu hỏa lỉnh kỉnh, tự chuốc lấy nỗi ngột ngạt rồi hùng hục chạy khắp phố phường.

Suy cho cùng, đây hoàn toàn là vấn đề về mức độ. Khi chiến tranh thực sự nổ ra, khi đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc, những người có đầu óc suy nghĩ – những người đã trải qua sự tu dưỡng nhân cách đàng hoàng – sẽ tự khắc biết hướng về đại cuộc. Khi ấy, việc hy sinh tự do cá nhân, thu hẹp các hoạt động riêng tư để cống hiến cho đất nước sẽ diễn ra một cách tự nhiên như lẽ trời. Bởi thế tôi tin chắc rằng hai chủ nghĩa này tuyệt nhiên không phải là thứ lúc nào cũng mâu thuẫn, lúc nào cũng tìm cách trừ khử lẫn nhau. Về điểm này tôi rất muốn giãi bày chi tiết hơn, song vì thời gian có hạn nên xin phép dừng lại ở đây.

Chỉ xin lưu ý thêm một điều: Đạo đức của quốc gia, nếu so với đạo đức của cá nhân, dường như nằm ở một tầng bậc thấp hơn rất nhiều. Vốn dĩ bang giao giữa các nước với nhau, bề ngoài dẫu ngoại giao hoa mỹ đến đâu, đạo nghĩa thực chất chẳng có là bao. Lừa lọc, giả trá, bịp bợm, hỗn loạn đủ đường. Bởi vậy, hễ lấy quốc gia làm chuẩn mực, coi quốc gia là một khối thuần nhất, ta sẽ buộc phải bằng lòng chấp nhận một thứ đạo đức vô cùng hạ đẳng; trong khi nếu xét từ nền tảng của Chủ nghĩa Cá nhân, chuẩn mực đạo đức ấy lại đòi hỏi phải cao hơn rất nhiều. Thế nên vào những lúc đất nước thái bình, việc coi trọng một Chủ nghĩa Cá nhân có đạo đức cao thượng, đối với tôi, là điều tất yếu không thể chối cãi. Vì thời gian không cho phép nên hôm nay tôi xin không bàn sâu hơn nữa.

Nhận lời mời quý báu của các bạn, hôm nay tôi đã mạn phép đến đây để thuyết giảng về sự cần thiết của Chủ nghĩa cá nhân cho những người rồi đây sẽ sống một cuộc đời cá nhân độc lập. Tôi nói ra những điều này vì nghĩ rằng mai này khi bước chân ra đời, chúng có thể giúp ích đôi chút cho các bạn. Lời tôi nói liệu có chạm được tới các bạn hay chăng, bản thân tôi cũng không dám chắc; nếu có chỗ nào chưa sáng tỏ, âu cũng là do cách diễn đạt của tôi còn vụng về, thiếu sót.

Vậy nên nếu có điểm nào còn mơ hồ, mong các bạn đừng vội phán đoán hàm hồ, hãy cứ quá bộ ghé tệ xá của tôi. Tôi luôn sẵn lòng giải thích cặn kẽ trong khả năng của mình. Còn nếu chẳng cần nhọc công như thế mà các bạn đã thấu suốt được trọn vẹn chủ ý của tôi, thì niềm mãn nguyện của tôi chẳng còn gì lớn hơn thế nữa.

Thời gian đã kéo dài quá rồi, tôi xin phép được dừng lời tại đây.

Dịch từ bản tiếng Anh của Jay Rubin


Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Ảnh đại diện Vũ Thành Long

Đăng tải bởi

Thể loại:

Để lại một bình luận

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc