Nếu ở tuổi tám mươi mà bạn không què quặt hay tàn phế, nếu bạn vẫn khỏe mạnh, vẫn tận hưởng một chuyến tản bộ sảng khoái, một bữa ăn ngon (với đầy đủ đồ ăn kèm), nếu bạn có thể ngủ mà không cần nốc thuốc trước, nếu chim chóc và hoa lá, núi non và biển cả vẫn gợi cảm hứng cho bạn, thì bạn là một cá nhân cực kỳ may mắn và bạn nên quỳ gối sớm tối để tạ ơn Thượng đế vì sức mạnh che chở và gìn giữ của Ngài. Nếu bạn còn trẻ tuổi đời nhưng tinh thần đã rệu rã, đang trên đà trở thành một cỗ máy vô hồn, thì có lẽ sẽ tốt cho bạn nếu nói với gã sếp của mình – tất nhiên là lầm bầm thôi – rằng: “Đệch mẹ mày, Jack! Mày đếch có sở hữu được tao đâu”. Nếu bạn có thể cười khẩy vào mặt cuộc đời, nếu bạn vẫn còn rung động trước một bờ mông mẩy hay một bộ ngực đầy, nếu bạn có thể yêu đi yêu lại nhiều lần, nếu bạn có thể tha thứ cho cha mẹ vì cái tội đã mang bạn đến thế giới này, nếu bạn hài lòng với việc chẳng đi đến đâu, chỉ đơn giản là đón nhận mỗi ngày khi nó đến, nếu bạn có thể tha thứ cũng như lãng quên, nếu bạn có thể giữ cho mình không trở nên chua chát, gắt gỏng, cay độc và hoài nghi, thì anh bạn ạ, bạn đã nắm chắc nửa phần thắng rồi.
Chính những điều nhỏ bé mới quan trọng, không phải danh tiếng, thành công hay của cải. Trên đỉnh cao kia không gian rất chật hẹp, trong khi ở dưới đáy lại có vô khối người giống bạn, không chen lấn và chẳng ai thúc ép bạn cả. Đừng bao giờ nghĩ rằng cuộc đời của một thiên tài là một cuộc đời hạnh phúc. Còn khuya mới được thế. Hãy biết ơn vì bạn là một kẻ vô danh. Nếu bạn đã có một sự nghiệp thành công, như người ta vẫn mặc định về tôi, thì những năm tháng cuối đời có thể không phải là khoảng thời gian hạnh phúc nhất. (Trừ phi bạn đã học được cách nuốt trôi những đắng cay của chính mình.) Thành công, nhìn từ góc độ trần tục, giống như một căn bệnh dịch đối với một nhà văn vẫn còn điều muốn nói. Giờ đây, khi đáng lẽ phải được tận hưởng chút thảnh thơi, y lại thấy mình bận rộn hơn bao giờ hết. Y trở thành nạn nhân của người hâm mộ và những kẻ chúc tụng, của tất cả những ai muốn trục lợi từ tên tuổi của y. Đó là một kiểu đấu tranh hoàn toàn khác mà người ta phải làm. Vấn đề bây giờ là làm sao để giữ được tự do, làm sao để chỉ làm những gì mình muốn làm.
Bất chấp những hiểu biết về thế giới đúc kết từ bề dày kinh nghiệm, bất chấp việc đã bồi đắp được một triết lý sống thường nhật khả thi, người ta vẫn không khỏi nhận ra rằng những kẻ ngu ngốc đã trở nên ngu ngốc hơn và những kẻ tẻ nhạt càng thêm phần tẻ nhạt. Lần lượt, tử thần cướp đi bạn bè của bạn, hay những vĩ nhân mà bạn tôn kính. Càng già đi, họ càng chết mau hơn. Cuối cùng, bạn đứng trơ trọi một mình. Bạn quan sát con cái mình, hay con của con cái mình, lặp lại những sai lầm ngớ ngẩn y hệt, thường là những sai lầm đau lòng, mà bạn từng mắc phải ở tuổi của chúng. Và bạn chẳng thể nói hay làm gì để ngăn chặn điều đó. Thực ra, chính nhờ quan sát những người trẻ tuổi, cuối cùng bạn mới hiểu ra bản thân mình ngày xưa từng là một kẻ ngốc nghếch cỡ nào – và có lẽ bây giờ vẫn thế.
Có một điều giờ đây ngày càng trở nên rõ ràng đối với tôi: bản tính cơ bản của con người không hề thay đổi qua năm tháng. Ngoại trừ những trường hợp hiếm hoi, con người không phát triển hay tiến hóa: cây sồi vẫn là cây sồi, con lợn vẫn là con lợn, và kẻ ngu si vẫn hoàn ngu si. Thành công không những không cải thiện được họ mà thường còn tô đậm thêm những khiếm khuyết hay sai lầm. Những gã xuất chúng ở trường học thường chẳng có gì xuất chúng khi bước ra ngoài xã hội. Nếu bạn từng không ưa hay khinh bỉ những gã trai nào đó trong lớp, bạn sẽ càng ghét chúng hơn khi chúng trở thành các nhà tài phiệt, chính khách hay tướng năm sao. Cuộc sống buộc chúng ta phải học vài bài học, nhưng không nhất thiết phải trưởng thành. Nhẩm tính nhanh, tôi chỉ có thể nghĩ ra khoảng chục cá nhân đã học được bài học của cuộc đời; phần lớn mọi người sẽ chẳng nhận ra tên họ nếu tôi liệt kê ra đây.
Về phần thế giới nói chung, trong mắt tôi nó không những chẳng tốt đẹp hơn so với hồi tôi còn là một cậu bé tám tuổi, mà còn tệ hơn gấp ngàn lần. Một nhà văn nổi tiếng từng tóm gọn thế này: “Quá khứ đối với tôi dường như thật khủng khiếp, hiện tại xám xịt và điêu tàn, còn tương lai thì hoàn toàn kinh hoảng.” [1] May mắn thay, tôi không có cùng góc nhìn ảm đạm này. Thứ nhất, tôi không bận tâm đến tương lai. Còn về quá khứ, dù tốt hay xấu, tôi đã tận dụng nó một cách triệt để. Bất cứ tương lai nào còn lại của tôi đều được tạo ra bởi quá khứ của tôi. Tương lai của thế giới là thứ để các triết gia và những nhà nhìn xa trông rộng suy ngẫm. Tất cả những gì chúng ta thực sự có là hiện tại, nhưng rất ít người trong chúng ta thực sự sống với nó. Tôi không phải người bi quan cũng chẳng phải người lạc quan. Với tôi, thế giới không phải là thế này hay thế kia, mà là tất cả mọi thứ cùng một lúc, và hiện lên tùy theo tầm nhìn của mỗi người.
Ở tuổi tám mươi, tôi tin rằng mình là một người lạc quan hơn nhiều so với hồi hai mươi hay ba mươi tuổi. Tôi tuyệt đối không muốn trở lại làm một thiếu niên. Tuổi trẻ có thể huy hoàng, nhưng chịu đựng nó cũng đầy đau đớn. Hơn nữa, những gì được gọi là tuổi trẻ, theo tôi, không thực sự là tuổi trẻ; nó giống như một kiểu lão hóa sớm thì đúng hơn.
Tôi bị nguyền rủa hay được ban phước với một thời niên thiếu kéo dài; tôi chạm đến một sự trưởng thành có vẻ như là thực sự khi đã qua tuổi ba mươi. Chỉ khi bước vào tuổi bốn mươi, tôi mới thực sự bắt đầu cảm thấy trẻ trung. Khi đó, tôi đã sẵn sàng cho nó. (Picasso từng nói: “Người ta bắt đầu trẻ lại ở tuổi sáu mươi, và lúc ấy thì đã quá muộn.”) Đến lúc này, tôi đã đánh mất nhiều ảo tưởng, nhưng may thay, tôi đã không đánh mất đi sự nhiệt huyết, niềm vui sống hay trí tò mò không thể dập tắt của mình. Có lẽ chính sự tò mò này – về bất cứ thứ gì và mọi thứ – đã tạo nên tôi, một nhà văn như hiện tại. Nó chưa bao giờ rời bỏ tôi. Ngay cả kẻ tẻ nhạt nhất cũng có thể khơi gợi sự hứng thú của tôi, nếu tôi đang có tâm trạng muốn lắng nghe.
Đi cùng với đặc điểm này là một điều khác mà tôi đánh giá cao hơn tất thảy, đó là cảm giác kinh ngạc. Cho dù thế giới của tôi có trở nên hạn hẹp đến mức nào, tôi không thể tưởng tượng được cảnh nó để tôi lại trong sự trống rỗng, không còn chút kinh ngạc nào. Theo một nghĩa nào đó, tôi cho rằng có thể gọi nó là tôn giáo của tôi. Tôi không hỏi tạo hóa mà chúng ta đang bơi lội trong đó đã hình thành như thế nào, mà chỉ tận hưởng và trân trọng nó. Dù tôi có thể phàn nàn nhiều thế nào về điều kiện sống mà chúng ta đang kẹt trong đó, tôi đã thôi không còn tin rằng mình có thể cứu vãn nó. Tôi có thể phần nào thay đổi hoàn cảnh của bản thân nhưng không thể thay đổi hoàn cảnh của người khác. Tôi cũng chẳng thấy ai, dù trong quá khứ hay hiện tại, dù vĩ đại đến đâu, đã thực sự có thể thay đổi được la condition humaine (thân phận con người).
Điều mà hầu hết mọi người sợ hãi khi nghĩ về tuổi già là việc không còn khả năng kết bạn mới. Nếu một người đã từng có khả năng kết bạn thì họ sẽ không bao giờ đánh mất nó dù có già đi bao nhiêu. Đứng sau tình yêu, theo tôi, tình bạn là thứ vô giá nhất mà cuộc đời mang lại. Tôi chưa bao giờ gặp khó khăn trong việc kết bạn; thực tế, đôi khi nó còn là một trở ngại, cái sự dễ dãi trong việc kết bạn này. Có một câu ngạn ngữ nói rằng người ta có thể đánh giá một người qua những người bạn của anh ta. Tôi thường tự hỏi về tính chân lý của câu nói này. Cả đời mình, tôi đã kết bạn với những cá nhân thuộc về những thế giới hoàn toàn khác biệt. Tôi đã có, và vẫn đang có, những người bạn vô danh tiểu tốt, và tôi phải thú nhận họ nằm trong số những người bạn tốt nhất của tôi. Tôi đã làm bạn với tội phạm và cả những kẻ giàu có đáng khinh. Chính những người bạn đã giữ tôi ở lại với cuộc sống, truyền cho tôi lòng can đảm để tiếp bước, và cũng thường xuyên làm tôi chán đến phát khóc. Điều duy nhất tôi nhất quyết đòi hỏi ở tất cả bạn bè mình, bất kể giai cấp hay địa vị trong cuộc sống, là khả năng có thể nói chuyện một cách chân thành. Nếu tôi không thể cởi mở và thẳng thắn với một người bạn, hoặc anh ta không thể làm vậy với tôi, tôi sẽ bỏ anh ta.
Khả năng làm bạn với một người phụ nữ, đặc biệt là người phụ nữ bạn yêu, đối với tôi là thành tựu vĩ đại nhất. Tình yêu và tình bạn hiếm khi song hành. Làm bạn với một người đàn ông dễ dàng hơn nhiều so với làm bạn với một người phụ nữ, đặc biệt nếu đó là một người phụ nữ hấp dẫn. Trong suốt cuộc đời mình, tôi chỉ biết một vài cặp đôi vừa là bạn vừa là tình nhân của nhau.
Có lẽ điều an ủi nhất của việc già đi một cách duyên dáng là khả năng ngày càng tăng trong việc không coi mọi thứ quá nghiêm trọng. Một trong những khác biệt lớn nhất giữa một nhà hiền triết đích thực và một nhà thuyết giáo chính là sự hân hoan. Khi nhà hiền triết cười, đó là một tràng cười ngặt nghẽo; còn khi nhà thuyết giáo cười, điều vô cùng hiếm hoi, đó lại là một nụ cười gượng gạo. Một người thực sự khôn ngoan – thậm chí là một vị thánh! – không màng đến đạo lý. Ông ta đứng trên và vượt ra ngoài những cân nhắc đó. Ông ta là một linh hồn tự do.
Cùng với sự gia tăng của tuổi tác, những lý tưởng của tôi, thứ mà tôi thường phủ nhận là mình sở hữu, chắc chắn đã thay đổi. Lý tưởng của tôi là không có lý tưởng nào, không có nguyên tắc, không có các chủ nghĩa và hệ tư tưởng. Tôi muốn lao vào đại dương cuộc đời như cá về với nước. Khi còn là một chàng trai trẻ, tôi vô cùng trăn trở về tình trạng của thế giới; ngày nay, dù vẫn la hét và phẫn nộ, tôi bằng lòng với việc chỉ đơn giản là lên án thực trạng mọi thứ. Nói như vậy nghe có vẻ tự mãn nhưng thực ra nó có nghĩa là tôi đã trở nên khiêm nhường hơn, nhận thức rõ hơn về những giới hạn của bản thân và của đồng loại. Tôi không còn cố gắng thuyết phục mọi người theo quan điểm của mình, cũng không cố xoa dịu họ. Tôi cũng không cảm thấy mình bề trên hơn vì họ có vẻ kém thông minh. Người ta có thể chiến đấu với cái ác nhưng lại bất lực trước sự ngu dốt. Tôi tin rằng điều kiện lý tưởng cho nhân loại là sống trong trạng thái hòa bình, trong tình yêu thương đồng loại, nhưng tôi phải thú nhận rằng mình chẳng biết cách nào để hiện thực hóa điều kiện đó. Tôi đã chấp nhận sự thật, dù khó khăn đến đâu, rằng con người có xu hướng cư xử theo cách khiến các loài động vật cũng phải đỏ mặt. Điều mỉa mai, điều bi thảm là chúng ta thường hành xử một cách hèn hạ từ những gì chúng ta coi là động cơ cao cả nhất. Động vật không viện cớ khi giết con mồi; mặt khác, con vật mang hình hài con người lại có thể cầu xin sự ban phước của Thượng đế khi tàn sát đồng loại. Hắn quên mất rằng Thượng đế không đứng về phía hắn mà đang đứng cạnh hắn.
Dù vẫn là một người chăm đọc, tôi ngày càng xa lánh sách vở. Nếu như trong những ngày đầu, tôi tìm đến sách vở để được hướng dẫn và chỉ bảo, thì ngày nay tôi đọc chủ yếu để tận hưởng. Tôi không còn có thể coi sách vở, hay các tác giả, nghiêm trọng như tôi từng làm. Đặc biệt là sách của các “nhà tư tưởng”. Giờ đây tôi thấy việc đọc những thứ đó thật chết người. Nếu tôi có giải quyết một tác phẩm được gọi là nghiêm túc, thì nó thiên về việc tìm kiếm sự xác nhận hơn là sự khai trí. Nghệ thuật có thể mang tính trị liệu, như Nietzsche đã nói, nhưng chỉ một cách gián tiếp. Tất cả chúng ta đều cần sự kích thích và nguồn cảm hứng, nhưng chúng có thể đạt được bằng nhiều cách khác nhau, và thường là theo những cách khiến các nhà đạo đức học phải sốc. Bất kể ai chọn con đường nào, nó cũng giống như đang đi trên dây.
Tôi có rất ít bạn bè hay người quen ở cùng độ tuổi hoặc trạc tuổi mình. Dù thường cảm thấy không thoải mái khi ở cùng những người cao tuổi, tôi lại dành sự tôn trọng và ngưỡng mộ lớn nhất cho hai ông lão dường như luôn giữ mãi sự trẻ trung và sáng tạo. Đó là Pablo Casals và Pablo Picasso, cả hai hiện đều đã ngoài chín mươi. Những cụ già tuổi chín mươi trẻ trung như vậy khiến người trẻ phải thấy xấu hổ. Những kẻ thực sự lụ khụ, những cái xác biết đi, nói đúng ra, chính là những người đàn ông và phụ nữ tuổi trung niên, thuộc tầng lớp trung lưu, những kẻ đang kẹt trong guồng quay thoải mái của họ và ảo tưởng rằng hiện trạng này sẽ kéo dài mãi mãi, hoặc quá sợ hãi rằng nó sẽ không như vậy nên họ đã rút lui vào hầm trú ẩn tâm trí của mình để chờ cho nó qua đi.
Tôi chưa từng thuộc về bất kỳ tổ chức nào, dù là tôn giáo, chính trị hay bất cứ hình thức nào khác. Tôi cũng chưa bao giờ bỏ phiếu trong đời. Tôi đã là một người theo chủ nghĩa vô chính phủ triết học từ thời niên thiếu. Tôi là một kẻ lưu vong tự nguyện, người cảm thấy như ở nhà tại mọi nơi trừ chính ngôi nhà của mình. Khi còn là một cậu bé, tôi có một số thần tượng, và hôm nay ở tuổi tám mươi, tôi vẫn có những thần tượng của mình. Khả năng tôn kính người khác, không nhất thiết là đi theo dấu chân của họ, dường như là điều quan trọng nhất đối với tôi. Có một người thầy lại càng quan trọng hơn. Vấn đề là tìm kiếm ông ấy bằng cách nào và ở đâu. Thường thì ông ấy ở ngay giữa chúng ta, nhưng chúng ta không nhận ra. Mặt khác, tôi đã phát hiện ra rằng, rất thường xuyên, người ta có thể học được từ một đứa trẻ nhiều hơn là từ một giáo viên được cấp bằng.
Tôi nghĩ rằng một người thầy (với chữ T viết hoa) xếp ngang hàng với các nhà hiền triết và nhà tiên tri. Bất hạnh của chúng ta là không thể nuôi dưỡng được những sinh thể như vậy. Những thứ được gọi là giáo dục đối với tôi là hoàn toàn vô nghĩa và cản trở sự phát triển. Bất chấp mọi biến động chính trị và xã hội mà chúng ta đã trải qua, các phương pháp giáo dục được ủy quyền trên toàn thế giới văn minh, ít nhất là trong tâm trí tôi, vẫn lỗi thời và làm thui chột con người. Chúng góp phần duy trì những căn bệnh đang làm chúng ta què quặt. William Blake từng nói: “Những con hổ của sự phẫn nộ còn khôn ngoan hơn những con ngựa của sự rập khuôn.” Tôi chẳng học được điều gì giá trị ở trường. Tôi không tin rằng mình có thể vượt qua một bài kiểm tra tiểu học về bất kỳ môn học nào ngay cả ở thời điểm hiện tại. Tôi học được từ những kẻ ngốc nghếch và vô danh tiểu tốt nhiều hơn là từ các giáo sư dạy cái này cái kia. Cuộc sống mới là người thầy, chứ không phải Bộ Giáo dục. Nghe có vẻ nực cười, nhưng tôi có xu hướng đồng tình với cái gã Đức Quốc xã thảm hại đã nói rằng: “Khi nghe thấy từ Kultur (Văn hóa), tôi lập tức rút súng lục ra.” [2]
Tôi chưa bao giờ hứng thú với các môn thể thao có tổ chức. Tôi cóc cần quan tâm ai phá kỷ lục nào. Những người hùng của bóng chày, bóng bầu dục, bóng rổ hoàn toàn vô danh đối với tôi. Tôi ghét những trò chơi mang tính cạnh tranh. Tôi nghĩ người ta nên chơi không phải để giành chiến thắng mà để tận hưởng trò chơi, bất kể đó là trò gì. Tôi thích vận động thông qua việc vui chơi hơn là tập thể dục nhịp điệu. Tôi chuộng màn trình diễn cá nhân hơn là làm việc nhóm. Bơi lội, đạp xe, tản bộ trong rừng, hay chơi một ván bóng bàn là đủ thỏa mãn mọi nhu cầu tập thể dục của tôi. Tôi không tin vào việc hít đất, cử tạ hay tập thể hình. Tôi không tin vào việc tạo ra cơ bắp trừ phi chúng được dùng cho một mục đích sống còn nào đó. Tôi nghĩ võ tự vệ nên được dạy từ khi còn nhỏ và chỉ được sử dụng cho mục đích đó mà thôi. (Và, nếu chiến tranh là mệnh lệnh của thời đại cho vài thế hệ tiếp theo, thì chúng ta nên ngừng gửi lũ trẻ đến Trường Chúa Nhật và thay vào đó, hãy dạy chúng trở thành những kẻ giết người chuyên nghiệp.)
Tôi cũng không tin vào thực phẩm tốt cho sức khỏe hay các chế độ ăn kiêng. Có lẽ tôi đã ăn toàn những thứ sai khoáy trong suốt cuộc đời mình – và vẫn sống khoẻ nhờ chúng. Tôi ăn để tận hưởng đồ ăn của mình. Bất cứ điều gì tôi làm, tôi làm trước hết là vì niềm vui thú. Tôi không tin vào việc khám sức khỏe định kỳ. Nếu cơ thể tôi có điều gì không ổn, tôi thà không biết về nó, bởi vì khi đó tôi sẽ chỉ thêm lo lắng và làm tình trạng trầm trọng hơn. Tự nhiên thường chữa lành những căn bệnh của chúng ta tốt hơn bác sĩ. Tôi không tin rằng có bất kỳ phương thuốc nào cho sự trường thọ. Hơn nữa, ai lại muốn sống đến trăm tuổi cơ chứ? Việc đó có ý nghĩa gì? Một cuộc đời ngắn ngủi nhưng ngập tràn niềm vui còn tốt hơn rất nhiều so với một cuộc đời dài dặc được duy trì bởi nỗi sợ hãi, sự thận trọng và giám sát y tế liên tục. Với tất cả những tiến bộ mà nền y học đã đạt được theo thời gian, chúng ta vẫn có một danh sách dài những căn bệnh vô phương cứu chữa. Các mầm bệnh và vi khuẩn dường như luôn là kẻ nói lời sau chót. Khi mọi phương cách đều thất bại, bác sĩ phẫu thuật sẽ bước vào, phanh thây chúng ta ra thành từng mảnh, và vét sạch của chúng ta đến đồng xu cuối cùng. Và đó là sự tiến bộ dành cho bạn đấy.
Điều đang thiếu vắng một cách thảm hại trong thế giới ngày nay của chúng ta là sự vĩ đại, cái đẹp, tình yêu, lòng trắc ẩn, và tự do. Đã qua rồi cái thời của những cá nhân kiệt xuất, những nhà lãnh đạo xuất chúng, những nhà tư tưởng vĩ đại. Thay vào đó, chúng ta đang nhân giống một bầy quái vật, những kẻ ám sát, bọn khủng bố: bạo lực, sự tàn nhẫn, thói đạo đức giả dường như đã ăn sâu vào máu thịt. Khi triệu hồi tên tuổi của những nhân vật lừng lẫy trong quá khứ, những cái tên như Pericles, Socrates, Dante, Abelard, Leonardo da Vinci, Shakespeare, William Blake, hay thậm chí là gã Ludwig điên rồ của xứ Bavaria [3], người ta quên mất rằng ngay cả trong những thời kỳ huy hoàng nhất, vẫn tồn tại sự nghèo đói đến khó tin, sự chuyên chế, những tội ác không thể gọi tên, sự kinh hoàng của chiến tranh, sự ác độc và thói phản trắc. Luôn luôn có thiện và ác, cái xấu và cái đẹp, sự cao thượng và sự đê hèn, niềm hy vọng và nỗi tuyệt vọng. Dường như những thái cực đối lập này không thể không cùng tồn tại trong một thứ được gọi là thế giới văn minh.
Nếu chúng ta không thể cải thiện những điều kiện mà chúng ta đang sống, ít nhất chúng ta cũng có thể cung cấp một lối thoát tức thì và không đau đớn. Có một lối thoát thông qua cái chết nhân đạo. Tại sao nó không được cung cấp cho hàng triệu người đau khổ, vô vọng, những người không có cơ may nào để tận hưởng dù chỉ là một cuộc sống rẻ rúng của một con chó? Chúng ta không yêu cầu được sinh ra; vậy tại sao chúng ta lại bị từ chối cái đặc quyền được tự chọn lối thoát khi mọi thứ trở nên không thể chịu đựng nổi? Chúng ta phải chờ cho đến khi bom nguyên tử kết liễu tất cả chúng ta cùng một lúc sao?
Tôi không muốn kết thúc bằng một nốt trầm chua chát. Như các độc giả của tôi đều biết, phương châm của tôi luôn là: “Luôn vui tươi.” Có lẽ đó là lý do tôi không bao giờ mệt mỏi khi trích dẫn Rabelais: “Với tất cả những nỗi đau của bạn, tôi trao cho bạn tiếng cười.” Khi nhìn lại cuộc đời mình, một cuộc đời chứa đầy những khoảnh khắc bi kịch, tôi coi nó giống một vở hài kịch hơn là một bi kịch. Một trong những vở hài kịch mà trong khi bạn đang cười ngặt nghẽo, bạn lại cảm thấy trái tim mình đang vỡ vụn. Còn vở hài kịch nào tốt hơn thế? Kẻ nào quá coi trọng bản thân mình, kẻ đó coi như đã cầm chắc bản án tử.
Bi kịch mà phần lớn nhân loại đang sống lại là một vấn đề khác. Trong đó, tôi không thấy bất kỳ yếu tố hài hước nào để xoa dịu. Khi tôi nói về một lối thoát không đau đớn cho hàng triệu người đang đau khổ, tôi không nói với thái độ cay độc hay như một kẻ không mảy may thấy một tia hy vọng gì cho nhân loại. Bản thân cuộc sống không có gì sai trái cả. Nó là đại dương mà chúng ta đang bơi lội, và chúng ta hoặc là thích nghi với nó, hoặc là chìm nghỉm xuống đáy. Nhưng với tư cách là con người, chúng ta có quyền lực để không làm ô nhiễm dòng nước của cuộc sống, không hủy hoại tinh thần đang thổi sinh khí cho chúng ta.
Điều khó khăn nhất đối với một cá nhân sáng tạo là phải kiềm chế nỗ lực nhào nặn thế giới theo ý thích của mình và chấp nhận đồng loại của mình đúng như bản chất của họ, dù tốt, xấu hay thờ ơ. Người ta làm hết sức mình, nhưng không bao giờ là đủ.
[1] Trích Against the Grain (1884) của Joris-Karl Huysmans, nhà văn Pháp gắn liền với trào lưu Suy đồi.
[2] Nguyên văn: “Khi tôi nghe thấy từ ‘văn hóa’, tôi liền mở chốt an toàn khẩu Browning của mình”, rút từ vở kịch Schlageter (1933) của nhà văn Quốc xã Hanns Johst.
[3] Tức Vua Ludwig II của Bayern (1845 – 1886), người bảo trợ nhiệt thành cho nhà soạn nhạc Richard Wagner, cho xây dựng những lâu đài tráng lệ đến mức vỡ nợ.

Để lại một bình luận