Trích dịch Chương III, Quyển III, Essays of Michel de Montaigne


BÀN VỀ BA THÚ GIAO DU

Chúng ta không nên quá cố chấp với tính khí và khuynh hướng của mình. Khả năng quan trọng nhất của con người là biết thích nghi với nhiều công việc và hoàn cảnh khác nhau. Nếu cứ tự trói buộc mình vào một lối sống duy nhất, không sao thoát ra được, thì đó chỉ là tồn tại chứ không phải sống. Những tâm hồn cao quý nhất là những tâm hồn phong phú và linh hoạt nhất. Cato Già là một tấm gương đáng kính về điều ấy:

“Ông có tài ứng biến, việc gì cũng làm được, đến nỗi dù đang làm việc gì, người ta cũng ngỡ ông sinh ra chỉ để làm việc ấy.” – Livy

Nếu được tự do sống theo ý mình, tôi sẽ không gắn bó với bất cứ lối sống nào đến mức không thể rời bỏ nó, dẫu nó có đẹp đẽ tới đâu. Cuộc đời là một sự vận động không đều đặn, không theo khuôn phép và muôn hình muôn vẻ. Cứ để bản thân bị những khuynh hướng sẵn có lôi đi, đến nỗi không thể đổi hướng hay thoát khỏi cái ách mình tự đeo vào cổ, thì chẳng những không làm chủ được mình, mà cũng chẳng biết thương lấy mình nữa. Như thế là làm nô lệ cho chính mình, lúc nào cũng tự mình dắt mũi mình. Tôi nói điều này ở tuổi đời hiện tại, khi nhận thấy mình khó lòng thoát khỏi những đòi hỏi dai dẳng của tâm trí. Nó thường chỉ biết bận bịu với một số ít chuyện, mà hễ đã làm việc gì thì phải dốc hết tâm sức vào việc ấy. Gặp một chuyện dù nhỏ nhặt đến đâu, nó cũng mở rộng, đào sâu đến mức phải đem hết khả năng ra mà giải quyết. Bởi vậy, đối với tôi, nhàn rỗi lại là một công việc hết sức nhọc nhằn, có hại không ít cho sức khỏe. Tâm trí của phần đông người ta cần những chuyện bên ngoài để hoạt động và trở nên sinh động; còn tâm trí tôi lại cần đến chúng để được yên ổn và nghỉ ngơi.

“Phải lấy công việc mà xua đi những thói xấu do nhàn rỗi sinh ra.” – Seneca

Bởi công việc quan trọng nhất, khó khăn nhất của tâm trí tôi là tự tìm hiểu chính mình. Sách vở chỉ là một thứ công việc khiến nó xao nhãng việc tìm hiểu ấy. Hễ có một ý nghĩ vừa nảy ra, tâm trí tôi lập tức trở nên bận rộn, đem hết sức mình ra thử nghiệm theo đủ mọi hướng, lúc thì thử sức, lúc thì củng cố, điều hòa và sắp xếp mọi thứ sao cho có trật tự, có chừng mực. Tự nó đã có đủ những gì cần thiết để khơi dậy các khả năng của mình. Tạo hóa đã ban cho nó, cũng như cho mọi tâm trí khác, đủ chất liệu để khai thác, đủ đề tài để suy xét và sáng tạo.

Đối với những ai biết thưởng thức và chuyên tâm vào việc suy ngẫm, đó là một công việc lớn lao và phong phú. Tôi thích rèn giũa tâm hồn mình hơn là chất đầy kiến thức vào đó. Không có việc gì vừa dễ dàng, vừa khó khăn bằng việc ngồi với những ý nghĩ của chính mình, tùy theo tâm hồn mỗi người. Những con người vĩ đại nhất đã dành trọn đời mình cho việc ấy.

“Đối với họ, sống tức là suy nghĩ.” – Cicero

Bởi vậy, tạo hóa đã dành cho việc suy nghĩ một đặc ân: không có việc gì chúng ta có thể làm lâu đến thế, cũng không có việc gì chúng ta thường làm một cách dễ dàng và tự nhiên đến thế. Aristotle nói rằng đó là công việc của các vị thần, và chính từ công việc ấy mà hạnh phúc của thần linh cũng như của con người nảy sinh.

Đối với tôi, ích lợi lớn nhất của việc đọc sách là nhờ tiếp xúc với nhiều điều khác nhau mà lý trí được khơi dậy và óc phán đoán được rèn luyện, chứ không phải trí nhớ. Hiếm có cuộc trò chuyện nào giữ được sự chú ý của tôi mà không khiến tôi phải gắng sức. Thật ra, vẻ đẹp và sự tao nhã của lời nói thường cuốn hút tôi không kém, thậm chí còn hơn cả tầm quan trọng và chiều sâu của vấn đề. Trong phần lớn những cuộc chuyện trò khác, tôi rất dễ buồn ngủ và chỉ chú tâm một cách qua loa. Bởi vậy, khi phải nghe những câu chuyện tầm phào, toàn những lời tán gẫu vô bổ, tôi thường đáp lại bằng những câu ngớ ngẩn, lơ mơ, đến trẻ con cũng không nói như thế, khiến người ta phải bật cười; hoặc còn ngốc nghếch và thô lỗ hơn, tôi cứ lì ra mà im lặng. Tôi vốn hay trầm ngâm, thường thu mình vào thế giới riêng, lại thêm sự dốt nát nặng nề và tính trẻ con đối với nhiều chuyện hết sức thông thường. Hai điều ấy khiến người ta có thể kể ra năm sáu chuyện tức cười về tôi, chẳng kém gì về bất cứ ai khác.

Nhưng trở lại chuyện đang bàn, chính cái tính khí khó chiều ấy khiến tôi rất kén chọn người trò chuyện. Tôi phải lựa đi lựa lại mới tìm được người hợp ý, thành thử không thích hợp với những cuộc giao tiếp thông thường. Chúng ta sống và làm việc giữa mọi người. Nếu việc trò chuyện với họ khiến ta khó chịu, nếu ta khinh thường việc phải hòa mình với những tâm hồn tầm thường, thấp kém – mà những người tầm thường, thấp kém đôi khi cũng có nề nếp chẳng kém gì những người tinh tế nhất, và mọi sự khôn ngoan đều là ngu dại nếu không biết thích nghi với sự thiếu hiểu biết của số đông – thì tốt hơn hết đừng nhúng tay vào công việc của người khác, mà cũng đừng lo công việc của chính mình nữa. Bởi mọi việc, dù công hay tư, đều phải có quan hệ với những con người ấy. Những cử động tự nhiên nhất, ít gượng ép nhất của tâm hồn cũng là những cử động đẹp đẽ nhất; những công việc tốt đẹp nhất là những công việc ít phải gắng gượng nhất. Lạy Chúa! Sự khôn ngoan đã giúp ích biết bao cho những ai biết giới hạn ham muốn trong phạm vi khả năng của mình! Đó là điều hiểu biết có ích nhất. “Tùy theo sức mình” là câu nói và phương châm ưa thích của Socrates. Một phương châm thật vững vàng.

Chúng ta phải biết tiết chế và hướng những ham muốn của mình đến những điều gần gũi, dễ đạt được nhất. Chẳng phải tôi thật ngớ ngẩn khi xa lánh hàng nghìn người mà hoàn cảnh đã đưa tôi đến sống cùng, những người tôi không thể sống thiếu, để rồi chỉ gắn bó với một hai người ngoài tầm giao du của mình hay sao? Hay đúng hơn, chẳng phải đó là một ham muốn viển vông, muốn có được điều mình không thể có? Tính tình tôi vốn hiền hòa, dễ chịu, không ưa sự chua chát hay khắc nghiệt, nên lẽ ra đã có thể giúp tôi tránh được lòng ghen ghét và những mối thù hằn. Tôi không dám nói mình đáng được yêu mến, nhưng có lẽ chẳng mấy ai ít gây ra lý do để người khác ghét mình hơn tôi. Tuy nhiên, sự lạnh nhạt trong cách giao tiếp đã khiến tôi mất đi thiện cảm của nhiều người. Và cũng không thể trách họ nếu họ hiểu sự lạnh nhạt ấy theo một nghĩa khác xấu hơn.

Tôi rất có khả năng gây dựng và duy trì những tình bạn hiếm có, sâu sắc. Bởi một khi gặp được người hợp ý, tôi lập tức gắn bó với họ một cách nồng nhiệt đến mức hiếm khi không tạo được một mối quan hệ bền chặt và để lại dấu ấn trong lòng họ, như tôi đã nhiều lần may mắn được chứng nghiệm. Nhưng trong những tình bạn thông thường, tôi lại hơi lạnh nhạt và dè dặt, bởi tôi không thể sống thật tự nhiên nếu không được mở hết lòng mình. Thêm nữa, ngay từ thời trẻ, số phận đã cho tôi nếm trải một tình bạn duy nhất và trọn vẹn, khiến tôi thực sự không còn mấy hứng thú với những tình bạn khác. Kinh nghiệm ấy đã khắc quá sâu vào tâm trí tôi ý nghĩ rằng, như một người xưa từng nói, con người là giống vật thích có bạn đồng hành, chứ không phải giống vật sống theo bầy đàn. Tôi cũng vốn khó lòng bộc lộ bản thân một cách nửa vời, không quen với những lời nói dè chừng, những sự nhún nhường, những tính toán thận trọng đến mức luồn cúi và đầy nghi kỵ, vốn cần thiết khi giao du với nhiều người mà tình bạn chẳng mấy sâu sắc. Thế mà ở thời đại chúng ta, chính những mối quan hệ như vậy lại là điều người ta phải dựa vào nhiều nhất, khi mà muốn nói chuyện đời, chúng ta thường chỉ có thể hoặc liều lĩnh nói thật, hoặc đành phải nói dối.

Tuy nhiên, tôi hiểu rất rõ rằng một người lấy những tiện nghi thiết yếu của cuộc sống làm mục đích như tôi thì phải tránh xa sự khó tính và kén chọn ấy như tránh bệnh dịch. Tôi sẽ hết lời khen ngợi một tâm hồn biết co giãn, biết lúc nào nên cương, lúc nào nên nhu; một tâm hồn có thể sống thoải mái trong bất cứ hoàn cảnh nào mà số phận đưa đến, có thể chuyện trò với người hàng xóm về việc xây nhà, chuyện đi săn, những cuộc cãi vã của ông ta, hay vui vẻ tán gẫu với một người thợ mộc, một người làm vườn. Tôi ghen tị với những ai có thể thân mật ngay cả với người hầu thấp kém nhất của mình và trò chuyện với họ bằng chính cách nói của họ. Tôi không tán thành lời khuyên của Plato rằng người ta phải luôn giữ giọng nghiêm nghị, bề trên khi nói chuyện với tôi tớ, bất kể nam hay nữ, không bao giờ đùa vui hay tỏ ra thân mật. Ngoài những lý do đã nói, tôi còn cho rằng quá coi trọng cái đặc quyền nhỏ nhoi do số phận ban cho mình là điều vô nhân đạo và bất công. Theo tôi, những xã hội không để cho khoảng cách giữa chủ và tớ trở nên quá lớn là những xã hội công bằng hơn cả. Người khác tìm cách nâng cao tâm hồn mình; còn tôi tìm cách hạ nó xuống, khiến nó trở nên khiêm nhường. Chỉ khi muốn vươn lên quá cao, tâm hồn mới dễ mắc sai lầm:

“Ngươi kể mãi chuyện dòng dõi Aeacus và những trận chiến dưới thành Troy thiêng liêng; nhưng một vò rượu Chios đáng giá bao nhiêu, ai sẽ đun nước tắm, nhà ai có thể cho ta trú chân, và khi nào ta mới thoát được cái rét xứ Peligni, thì ngươi chẳng nói.” – Horace

Người Sparta vốn dũng mãnh, nên khi ra trận phải biết tiết chế lòng can đảm của mình. Họ cần đến tiếng sáo dịu dàng, hòa nhã để làm nguội bớt khí thế, kẻo lao vào sự liều lĩnh và cuồng nộ. Trong khi đó, các dân tộc khác thường dùng những âm thanh chói tai, dữ dội, những tiếng hò hét vang dội và đầy giục giã để khơi dậy lòng dũng cảm của binh lính lên mức cao nhất. Tương tự, theo tôi, trái với cách nghĩ thông thường, trong việc rèn luyện tâm trí thì phần lớn chúng ta cần học cách tự giữ mình hơn là tìm cách bay cao, cần sự điềm tĩnh và chừng mực hơn là lòng hăng hái và những xao động. Nhưng trên hết, theo tôi, không gì ngớ ngẩn hơn việc ra vẻ nghiêm trang, cao siêu giữa những người chẳng có chút gì như thế; lúc nào cũng nói năng như thể đang đọc một cuốn sách in sẵn.

“Nói năng kiểu cách, làm bộ làm tịch.”

Chúng ta phải biết hạ mình xuống ngang tầm với người đang trò chuyện, đôi khi còn phải tỏ ra như mình không biết. Trong những cuộc nói chuyện thông thường, hãy gác lại sự sắc sảo và những điều sâu xa. Chỉ cần giữ được phép lịch sự và chừng mực là đủ. Nếu họ muốn, cứ việc hạ mình xuống sát đất mà nói chuyện với họ.

Những người có học thường vấp phải chính điều này. Họ lúc nào cũng muốn phô bày kiến thức sách vở, đi đâu cũng mang theo cả đống chữ nghĩa. Ngày nay, họ đã nhồi nhét những thứ ấy vào phòng riêng và tai mắt của các quý bà nhiều đến mức, dù các bà chưa hiểu được thực chất thì ít nhất cũng thuộc được lời lẽ. Bởi thế nên trong mọi cuộc trò chuyện, về bất cứ chuyện gì, dù nhỏ nhặt và tầm thường đến đâu, các bà cũng nói năng và viết lách theo một lối mới, đầy vẻ uyên bác:

“Bằng thứ ngôn ngữ ấy, họ nói ra nỗi sợ hãi, cơn giận dữ, niềm vui, nỗi lo âu và mọi điều thầm kín trong lòng. Còn gì nữa? Ngay cả chuyện chăn gối họ cũng làm một cách uyên bác.” – Juvenal

Họ viện dẫn Plato và Thomas Aquinas để bàn những chuyện mà bất cứ người qua đường nào cũng có thể phân xử chẳng kém. Những kiến thức không thấm được vào tâm hồn thì rốt cuộc chỉ đọng lại trên đầu lưỡi. Nếu các quý bà quyền quý chịu nghe lời tôi, họ nên bằng lòng với việc bộc lộ những vẻ đẹp tự nhiên vốn có của mình. Họ lại che giấu vẻ đẹp ấy dưới những thứ vay mượn chẳng thuộc về họ. Thật ngớ ngẩn khi tự dập tắt ánh sáng của mình để tỏa sáng nhờ ánh sáng của kẻ khác. Họ tự chôn vùi mình dưới lớp son phấn, hương liệu và những thứ trang sức từ đầu đến chân. Ấy là bởi họ chưa hiểu mình cho đủ, chưa biết quý trọng chính mình. Trên đời này chẳng có gì đẹp hơn họ. Chính họ mới là những người đem lại vẻ đẹp cho nghệ thuật, khiến ngay cả hội họa cũng phải nhờ đến họ mà thêm phần rực rỡ. Họ còn cần gì ngoài việc sống sao cho được yêu mến và kính trọng? Để làm được điều ấy, họ đã có và biết quá đủ. Họ chỉ cần đánh thức và khơi dậy đôi chút những khả năng tự nhiên của mình. Khi thấy họ mày mò học thuật hùng biện, luật pháp, lôgic và những thứ thuốc men khác vừa không thích hợp vừa không cần thiết cho công việc của họ, tôi bắt đầu ngờ rằng những người đàn ông gieo vào đầu họ những ý tưởng ấy chỉ nhằm nhờ đó mà thao túng họ. Tôi còn có thể tìm ra lời giải thích nào khác? Chẳng cần ai dạy, họ đã biết dùng ánh mắt để biểu lộ sự vui tươi, nghiêm nghị hay dịu dàng, biết pha vào một lời từ chối chút lạnh lùng, chút lưỡng lự hoặc chút ưu ái. Họ chẳng cần ai phiên dịch cho mình những lời chúng ta nói để lấy lòng họ. Chỉ bằng những hiểu biết ấy, họ đã có thể cầm roi sai khiến, điều khiển cả thầy dạy lẫn trường học. Nhưng nếu họ vẫn không chịu nhường chúng ta ở bất cứ lĩnh vực nào, và vì tò mò mà muốn được chia phần trong thế giới sách vở, thì thơ ca là một thú tiêu khiển thích hợp với họ. Đó là một nghệ thuật lẳng lơ, tinh tế, khéo che đậy, lắm lời, đầy thú vui và vẻ hào nhoáng, cũng giống như chính họ vậy. Họ cũng có thể rút ra nhiều điều bổ ích từ lịch sử. Còn trong triết học, họ có thể chọn học phần đạo đức, để biết xét đoán tính khí và hoàn cảnh của chúng ta, tự bảo vệ mình trước sự lừa lọc của đàn ông, điều hòa những ham muốn của bản thân, sử dụng tự do cho phải lẽ, kéo dài những thú vui trong đời, và bình thản chịu đựng sự thay lòng đổi dạ của người tình, sự thô lỗ của ông chồng, cũng như những phiền toái do tuổi tác, nếp nhăn và những điều tương tự gây ra. Đó là giới hạn xa nhất mà tôi muốn dành cho họ trong việc học hành.

Có những người sinh ra đã thích sống kín đáo, lánh mình khỏi thiên hạ. Còn bản tính tôi lại hợp với việc giao du và bộc lộ mình. Tôi là người cởi mở, chẳng có gì phải giấu giếm, sinh ra để sống giữa mọi người và kết bạn. Sự cô độc mà tôi yêu thích và thường khuyên người khác tìm đến, chủ yếu chỉ là thu những ý nghĩ và tình cảm trở về với chính mình; không phải hạn chế bước chân, mà là hạn chế những nỗi lo âu và ham muốn; gạt bỏ mọi sự bận tâm đến chuyện bên ngoài, hết sức tránh sự lệ thuộc và những ràng buộc, tránh đám đông công việc hơn là đám đông con người. Thật ra, sự cô độc về nơi chốn lại khiến tâm trí tôi được tự do và rộng mở hơn. Khi ở một mình, tôi càng dễ lao vào suy nghĩ những chuyện quốc gia và thế sự. Trái lại, khi ở cung Louvre, giữa cảnh triều đình náo nhiệt, tôi lại thu mình vào trong lớp vỏ của chính mình. Đám đông đẩy tôi trở về với bản thân, và chưa bao giờ tôi để mặc cho những ý nghĩ của mình tự do, phóng túng và riêng tư đến thế như khi ở những nơi đầy lễ nghi, phép tắc và sự thận trọng. Điều khiến tôi buồn cười không phải những chuyện điên rồ của chúng ta, mà chính là sự khôn ngoan của chúng ta. Vốn dĩ tôi chẳng ghét đời sống cung đình. Tôi đã sống một phần đời mình ở đó, và cũng thích vui vẻ tham dự những cuộc hội họp đông người, miễn là thỉnh thoảng mới dự và vào lúc mình muốn. Nhưng sự khó tính trong cách xét đoán mà tôi vừa nói lại buộc tôi phải tìm đến cô độc. Ngay tại nhà, giữa một gia đình đông đúc và trong một ngôi nhà thường xuyên có khách, tôi gặp rất nhiều người nhưng hiếm khi gặp được người khiến mình thích trò chuyện. Ở đó, tôi dành cho cả mình lẫn người khác một thứ tự do hiếm thấy. Nhà tôi không có những nghi thức khách sáo, không có chuyện phải ra đón, đưa tiễn khách ra tận xe ngựa hay những thứ lễ nghi phiền phức khác mà phép xã giao bắt chúng ta tuân theo. Ôi, những thói tục vừa nô lệ vừa rắc rối biết bao! Ai ở nhà tôi cũng được tự do làm theo cách của mình. Muốn nói gì thì cứ nói, còn tôi có thể ngồi im, suy ngẫm trong phòng riêng, mà khách chẳng vì thế phải phật lòng.

Những người mà tôi mong được gần gũi và kết giao là những người chân thành và có tài. Hình ảnh của họ khiến tôi chẳng còn mấy hứng thú với những người khác. Nếu hiểu cho đúng, đó là một hạng người hiếm có nhất, mà phần lớn phẩm chất của họ là do tự nhiên ban tặng. Mục đích của việc giao du với họ chỉ đơn giản là được gần nhau, thường xuyên gặp gỡ, trò chuyện và để tâm hồn được rèn luyện qua sự tiếp xúc ấy, chứ không nhằm thu được lợi lộc nào khác. Khi trò chuyện với họ, đề tài nào đối với tôi cũng như nhau. Chẳng cần phải là chuyện quan trọng hay sâu sắc. Trong những câu chuyện ấy vẫn có cái duyên và sự thích đáng, mọi lời nói đều thấm đượm một óc phán đoán chín chắn, vững vàng, đi cùng đó là lòng tốt, sự tự do, vui vẻ và tình bạn. Tài trí của con người không chỉ bộc lộ sức mạnh và vẻ đẹp khi bàn chuyện vua chúa, quốc gia, mà còn bộc lộ chẳng kém trong những cuộc chuyện trò riêng tư. Tôi hiểu bạn mình ngay cả qua sự im lặng và nụ cười của họ; có khi tôi còn hiểu họ rõ hơn bên bàn ăn so với lúc họ ngồi giữa hội đồng. Hippomachus đã nói rất đúng rằng chỉ cần nhìn một người đi ngoài phố, ông cũng có thể biết người ấy có phải là một đô vật giỏi hay không. Nếu kiến thức muốn góp mặt trong cuộc trò chuyện của chúng tôi, nó sẽ không bị khước từ, nhưng phải đến với tư cách một người bạn khiêm nhường, biết lắng nghe, chứ không phải một ông thầy thích lên mặt, ra lệnh và làm phiền người khác, như nó vẫn thường làm. Chúng tôi đến với nhau chỉ để vui vẻ cho qua thời giờ. Khi nào muốn được giảng dạy hay thuyết giáo, chúng tôi sẽ tự tìm đến nơi dành riêng cho những việc ấy. Còn lúc này, xin kiến thức hãy hạ mình xuống với chúng tôi. Bởi dù bổ ích và đáng quý đến đâu, tôi vẫn cho rằng khi cần, chúng tôi hoàn toàn có thể sống và làm việc tốt mà không cần đến nó. Một tâm hồn có phẩm chất tốt đẹp bẩm sinh, lại từng trải trong việc giao du với mọi người, tự nó đã đủ khiến người khác cảm thấy dễ chịu. Nghệ thuật chẳng qua chỉ là sự mô phỏng và ghi chép lại những gì các tâm hồn ấy tự nhiên làm được.

Việc giao du với những người phụ nữ xinh đẹp và đức hạnh cũng là một thú vui ngọt ngào đối với tôi:

“Bởi chúng ta cũng có đôi mắt biết thưởng thức cái đẹp.” – Cicero

Nếu trong thú vui này, tâm hồn không được hưởng nhiều như trong thú vui thứ nhất, thì các giác quan của thân thể lại được hưởng nhiều hơn, khiến hai thứ gần như ngang nhau, tuy theo tôi thì thú vui này vẫn không thể sánh bằng thú vui kia. Nhưng đây là một cuộc giao du mà người ta phải biết giữ mình đôi chút, nhất là những người dễ bị xác thịt lôi cuốn như tôi. Thuở trẻ, tôi đã từng phải bỏng vì nó và nếm đủ những đau khổ mà các thi sĩ thường kể về những kẻ lao đầu vào tình yêu một cách thiếu suy xét, chẳng biết chừng mực. Quả thực, những trận đòn ấy đã khiến tôi khôn ngoan hơn về sau:

“Kẻ nào trong đoàn thuyền Hy Lạp từng thoát khỏi ghềnh đá Caphareus, về sau bao giờ cũng tránh xa vùng biển Euboea.” – Ovid

Thật điên rồ khi dồn hết tâm trí vào chuyện tình ái, để mình chìm đắm trong một thứ đam mê cuồng nhiệt và mù quáng. Nhưng ngược lại, nếu bước vào chuyện ấy mà chẳng có tình yêu hay chút rung động nào, chỉ như một diễn viên đóng một vai quen thuộc, không bỏ vào đó điều gì của chính mình ngoài những lời nói suông, thì quả là giữ được an toàn, nhưng cũng hèn nhát chẳng khác gì kẻ vì sợ nguy hiểm mà từ bỏ danh dự, lợi lộc hay thú vui của mình. Bởi chắc chắn rằng người làm như thế không thể mong nhận được thành quả nào đủ khiến một tâm hồn cao quý hài lòng. Muốn thực sự tìm thấy niềm vui khi có được một điều gì, trước hết người ta phải thực lòng mong muốn điều ấy. Tôi nói vậy ngay cả khi vận may bất công chiều chuộng những kẻ giả dối, điều vẫn thường xuyên xảy ra. Bởi chẳng có người đàn bà nào, dù xấu đến mức ma chê quỷ hờn, lại không cho rằng mình hoàn toàn xứng đáng được yêu. Ai cũng tự thấy mình hơn những người đàn bà khác ở một điểm nào đó, có thể là tuổi trẻ, màu tóc hay dáng đi uyển chuyển. Thật ra, cũng như không có người đàn bà nào đẹp hoàn toàn về mọi mặt, chẳng có người đàn bà nào xấu hoàn toàn. Người ta kể rằng, trong số những thiếu nữ Bà-la-môn không có vẻ đẹp nào đáng kể, có những cô được đưa ra chợ trước đám đông, sau khi đã có người loan báo, để phô bày những phần kín của cơ thể, thử xem ít nhất chúng có đủ sức quyến rũ khiến ai đó muốn lấy họ làm vợ hay không. Bởi vậy, chẳng có người đàn bà nào không dễ mềm lòng trước lời thề đầu tiên của một kẻ xin được phụng sự mình. Chính từ thói lừa dối phổ biến và tầm thường ấy của đàn ông thời nay mà nảy sinh điều chúng ta đã thấy: hoặc phụ nữ liên kết với nhau, đứng riêng ra để tránh xa đàn ông, hoặc họ học theo gương chúng ta, cũng đóng trò như chúng ta, cũng lao vào cuộc vui mà chẳng có đam mê, bận lòng hay tình yêu:

“Không chịu để tình cảm của mình hay của người khác ràng buộc.” – Tacitus

Họ tin theo lời Lysias trong tác phẩm của Plato rằng càng ít được đàn ông yêu, họ càng có lợi và càng thuận tiện khi trao thân cho đàn ông. Khi ấy, cũng như trong một vở hài kịch, khán giả sẽ được vui thú chẳng kém, thậm chí còn hơn cả diễn viên. Về phần mình, tôi không thể hình dung một Venus không có Cupid, cũng như không thể hình dung một người mẹ mà chẳng có con. Hai điều ấy dựa vào nhau, làm nên ý nghĩa tồn tại của nhau. Bởi vậy, sự lừa dối rốt cuộc lại quay về hại chính kẻ gây ra nó. Quả thực, hắn chẳng phải bỏ ra bao nhiêu, nhưng cũng chẳng thu được mấy, thậm chí chẳng được gì. Những người tôn Venus làm nữ thần đã hiểu rằng vẻ đẹp cao quý nhất của nàng không thuộc về thể xác, mà thuộc về tinh thần. Nhưng thứ Venus mà những kẻ này săn đuổi thậm chí còn không xứng với con người, mà cũng chẳng xứng với loài vật. Ngay cả súc vật cũng không chấp nhận một thứ tình ái thô thiển và hoàn toàn xác thịt đến thế. Chúng ta thấy rằng ở loài vật, trí tưởng tượng và ham muốn thường được khơi dậy, trở nên nồng nhiệt trước cả khi thân thể có phản ứng. Ở cả con đực lẫn con cái, chúng đều biết lựa chọn đối tượng trong đàn và dành tình cảm riêng cho một con nào đó. Giữa chúng cũng có những mối quyến luyến kéo dài. Ngay cả những con vật đã già, không còn khả năng thỏa mãn ham muốn, vẫn run rẩy, hí vang hay ríu rít vì tình yêu. Trước khi giao phối, chúng đầy hy vọng và nồng nhiệt; sau khi thân thể đã được thỏa mãn, chúng vẫn còn vui sướng khi nhớ lại khoái lạc vừa qua. Có con tỏ ra kiêu hãnh sau cuộc giao phối, có con dù đã mệt mỏi và thỏa mãn vẫn cất tiếng kêu vang như để reo mừng chiến thắng. Kẻ nào chỉ muốn trút bỏ một nhu cầu tự nhiên của thân xác thì chẳng cần làm phiền người khác bằng bao nhiêu công phu và nghi thức cầu kỳ như thế. Đó không phải món ăn dành cho một thứ thèm khát thô tục và tầm thường.

Vì không muốn người khác nghĩ mình tốt đẹp hơn thực chất, tôi sẽ kể đôi điều về những sai lầm thời trẻ. Không chỉ vì sợ tổn hại sức khỏe – dù đã cẩn thận, tôi vẫn gặp hai lần rủi ro nhẹ – mà còn vì lòng khinh thường, tôi hiếm khi tìm đến những cuộc ân ái tầm thường phải trả bằng tiền. Tôi muốn làm cho khoái lạc thêm phần thú vị bằng sự khó khăn, bằng lòng ham muốn và một chút vinh dự nào đó. Tôi có cùng sở thích với Tiberius, người trong chuyện tình ái coi trọng sự đoan trang và dòng dõi chẳng kém bất cứ phẩm chất nào khác; và cũng giống nàng kỹ nữ Flora, người không bao giờ chịu trao thân cho ai có địa vị thấp hơn một nhà độc tài, chấp chính quan hay kiểm duyệt quan, bởi nàng lấy làm thích thú với phẩm giá của những người tình. Quả thực, ngọc trai, gấm vóc dát vàng, tước vị và đoàn tùy tùng cũng góp thêm ít nhiều vào sức hấp dẫn ấy.

Ngoài ra, tôi rất coi trọng trí thông minh, miễn là người có trí thông minh ấy không có gì đáng chê về diện mạo. Bởi thú thật, nếu nhất thiết phải thiếu một trong hai vẻ hấp dẫn ấy, tôi thà bỏ qua trí tuệ. Trí tuệ còn có thể dùng vào những việc tốt đẹp hơn. Còn trong chuyện tình ái, vốn chủ yếu liên quan đến thị giác và xúc giác, người ta có thể không cần đến vẻ đẹp tâm hồn mà vẫn làm nên chuyện, nhưng nếu thiếu vẻ đẹp thân thể thì không. Sắc đẹp là đặc quyền thực sự của phụ nữ, thuộc về họ một cách riêng biệt đến mức vẻ đẹp của đàn ông, dù tự nhiên đòi hỏi những đường nét khác hẳn, cũng chỉ rực rỡ nhất khi còn trẻ và chưa mọc râu, nghĩa là khi còn mang đôi chút dáng vẻ của phụ nữ. Người ta kể rằng những người phục vụ vị Đại vương Thổ Nhĩ Kỳ nhờ sắc đẹp của mình, mà số lượng đông vô kể, đều bị cho thôi việc chậm nhất là khi hai mươi hai tuổi. Lý trí, sự khôn ngoan và những bổn phận của tình bạn thường được tìm thấy ở đàn ông nhiều hơn, bởi vậy họ mới là những người cai quản công việc trên thế gian.

Hai thú giao du ấy đều tùy thuộc vào may rủi và những người khác. Thú thứ nhất khó có được vì quá hiếm hoi; thú thứ hai lại tàn phai theo tuổi tác. Bởi vậy, cả hai đều không đủ để tôi dựa vào mà sống suốt đời. Thú vui thứ ba, sách vở, chắc chắn hơn nhiều và cũng thuộc về ta nhiều hơn. So với hai thú kia, nó có thể thua kém về những điều thú vị khác, nhưng bù lại, nó luôn sẵn có và chẳng bao giờ khiến ta phải nhọc công tìm kiếm. Sách theo tôi suốt cuộc đời, ở đâu cũng giúp ích cho tôi. Nó an ủi tôi trong tuổi già và những lúc cô độc, làm nhẹ đi gánh nặng của sự nhàn rỗi buồn chán, và bất cứ lúc nào cũng có thể giúp tôi tránh khỏi những người mà tôi không muốn gặp. Nó làm dịu bớt những nỗi đau, miễn là nỗi đau ấy chưa quá lớn và chưa chiếm trọn hồn tôi. Khi muốn thoát khỏi một ý nghĩ phiền muộn, tôi chỉ việc tìm đến sách. Lập tức sách cuốn hút tôi, đẩy ý nghĩ kia ra khỏi đầu. Sách cũng chẳng hề giận dỗi vì tôi chỉ tìm đến nó khi thiếu những thú vui khác thiết thực, tự nhiên và sinh động hơn. Nó luôn đón nhận tôi bằng một sự ân cần không đổi. Người ta thường nói, có ngựa trong tay thì đi bộ cũng chẳng hề gì. Vua James của chúng ta, người từng trị vì Naples và Sicily, khi còn trẻ, đẹp trai và khỏe mạnh, lại sai người khiêng mình đi trên một chiếc cáng, nằm trên tấm đệm tồi tàn, khoác áo vải xám thô sơ và đội chiếc mũ cùng màu, trong khi xung quanh vẫn có cả đoàn tùy tùng hoàng gia, đủ loại kiệu, ngựa dắt theo, quý tộc và quan lại. Cảnh tượng ấy chỉ khiến uy quyền của ông trông yếu đuối và thiếu vững vàng. “Người bệnh chẳng có gì phải than phiền nếu đã có sẵn thuốc chữa trong túi áo.” Toàn bộ lợi ích mà tôi nhận được từ sách vở nằm ở kinh nghiệm và việc thực hành câu nói rất đúng ấy. Thực ra, tôi gần như chẳng sử dụng sách nhiều hơn những người không biết đến sách. Tôi hưởng sách như kẻ keo kiệt hưởng tiền của mình, chỉ cần biết rằng bất cứ lúc nào muốn, mình cũng có thể dùng đến nó. Chỉ riêng cái quyền ấy đã đủ khiến tôi hài lòng. Tôi không bao giờ đi đâu mà không mang theo sách, dù trong thời bình hay thời chiến. Thế nhưng có khi tôi để mặc chúng suốt mấy ngày, thậm chí mấy tháng mà chẳng mở ra xem. Tôi tự nhủ: lát nữa sẽ đọc, ngày mai sẽ đọc, hoặc khi nào thích thì đọc. Trong lúc ấy, thời gian cứ lặng lẽ trôi qua mà tôi chẳng thấy phiền hà gì. Không ai có thể hình dung tôi vui thích và mãn nguyện đến mức nào khi nghĩ rằng sách luôn ở bên cạnh, sẵn sàng giúp tôi khuây khỏa bất cứ lúc nào tôi muốn, và chỉ cần nhớ đến sự an ủi mà sách mang lại cho đời mình cũng đã đủ khiến tôi sung sướng. Đó là hành trang tốt nhất mà tôi tìm được cho cuộc hành trình làm người, và tôi rất thương những người có trí tuệ mà lại thiếu thứ hành trang ấy. Nhờ biết rằng thú vui này chẳng bao giờ bỏ rơi mình, tôi càng dễ dàng đón nhận mọi thú tiêu khiển khác, dù nhỏ nhặt đến đâu.

Khi ở nhà, tôi thường lui tới thư phòng nhiều hơn. Từ đó, tôi có thể nhìn bao quát mọi sinh hoạt trong gia đình. Thư phòng nằm gần lối vào nhà, từ đó nhìn xuống có thể thấy khu vườn, sân trong, sân ngoài và gần như toàn bộ các tòa nhà. Ở đây, tôi giở hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, thuộc đủ mọi đề tài, chẳng theo một trật tự hay dự định nào. Có lúc tôi ngồi suy ngẫm; lúc khác, tôi vừa đi đi lại lại vừa ghi chép hoặc đọc cho người khác chép những ý nghĩ bất chợt, chẳng hạn những điều tôi đang trình bày với các bạn ở đây. Thư phòng nằm trên tầng ba của một ngọn tháp. Tầng trệt là nhà nguyện của tôi; tầng hai gồm một phòng ngủ, một phòng nhỏ bên cạnh và một buồng riêng, nơi tôi thường đến ngủ khi muốn được yên tĩnh hơn. Phía trên thư phòng còn có một phòng lớn dùng để chứa quần áo. Trước kia, đây là phần ít được sử dụng nhất trong nhà. Nay tôi dành phần lớn những ngày trong đời mình và phần lớn thời gian của mỗi ngày ở đây. Ban đêm thì không bao giờ. Bên cạnh thư phòng có một căn phòng nhỏ khá đẹp, với lò sưởi được bố trí rất tiện lợi và nhiều ánh sáng. Nếu không ngại phiền phức hơn ngại tốn kém – mà chính sự phiền phức khiến tôi sợ phải làm bất cứ việc gì – thì tôi đã có thể dễ dàng xây thêm ở hai bên, trên cùng tầng ấy, một hành lang dài một trăm bước, rộng mười hai bước, bởi những bức tường dành cho một công trình khác đã được xây đến độ cao cần thiết. Nơi ẩn cư nào cũng cần có chỗ đi lại. Nếu ngồi yên, ý nghĩ của tôi cũng ngủ yên. Trí tưởng tượng của tôi không thể tự vận động tốt như khi đôi chân tôi đang bước. Những ai quen suy nghĩ mà không dựa vào sách vở đều như vậy. Thư phòng của tôi có hình tròn, phần tường để trống chỉ vừa đủ kê một chiếc bàn và một chiếc ghế. Nhờ thế, đứng ở đâu tôi cũng có thể nhìn thấy tất cả sách của mình, được xếp thành năm tầng giá chạy vòng quanh phòng. Căn phòng có ba hướng nhìn thoáng đãng, rộng rãi, đường kính mười sáu bước. Vào mùa đông, tôi không thường xuyên ở đây. Ngôi nhà tôi nằm trên một vùng đất cao, đúng như tên gọi của nó, và không phần nào trong nhà phải chịu gió mưa nhiều bằng ngọn tháp này. Nhưng chính điều ấy lại càng khiến tôi yêu thích nơi đây, vì nó khó đến hơn đôi chút và tách biệt khỏi những chỗ khác. Nhờ vậy, tôi vừa có dịp vận động thân thể, vừa được xa đám đông và yên tĩnh hơn. Ở đây, tôi ở trong vương quốc của riêng mình, và cố gắng trở thành một ông vua có quyền lực tuyệt đối, tách riêng góc nhỏ này khỏi mọi quan hệ xã hội, dù là vợ chồng, cha con hay công việc chung. Ở những nơi khác, quyền hành của tôi chỉ có trên lời nói, mà lại còn mơ hồ, lẫn lộn. Theo tôi, thật khốn khổ cho người nào không có lấy một chỗ riêng trong nhà để được ở một mình, tự trò chuyện với bản thân hay tránh khỏi ánh mắt người khác. Tham vọng đã hành hạ những kẻ chạy theo nó đủ rồi, bởi nó buộc họ lúc nào cũng phải phô mình ra trước thiên hạ, chẳng khác gì một pho tượng đặt giữa quảng trường.

“Địa vị càng cao, sự lệ thuộc càng lớn.” – Seneca

Họ thậm chí chẳng thể được riêng tư ngay cả khi đi vệ sinh. Trong đời sống khổ hạnh của các tu sĩ, không có gì khiến tôi thấy khắc nghiệt hơn một điều từng chứng kiến ở vài tu viện: theo quy định, họ phải luôn sống chung trong cùng một không gian, và làm bất cứ việc gì cũng có nhiều người hiện diện. Theo tôi, phải sống một mình suốt đời còn dễ chịu hơn là chẳng bao giờ được ở một mình.

Nếu có ai bảo rằng tôi coi thường các nàng thơ khi chỉ tìm đến họ để vui chơi và giết thời gian, tôi sẽ đáp rằng người ấy không hiểu giá trị của sự vui chơi, niềm vui và thú tiêu khiển bằng tôi. Tôi suýt muốn nói thêm rằng mọi mục đích khác đều đáng buồn cười. Tôi sống ngày nào hay ngày ấy, và xin được nói một cách kính cẩn, tôi chỉ sống cho chính mình. Mọi dự định của tôi đều dừng lại ở đó. Thuở trẻ, tôi học để khoe khoang; về sau, tôi học để trở nên khôn ngoan hơn đôi chút; còn bây giờ, tôi học để giải khuây, chứ chưa bao giờ học vì lợi lộc. Trước kia, tôi từng có thói ham mê tích lũy sách vở một cách phù phiếm và hoang phí, không chỉ để dùng mà còn để trang hoàng, phô trương. Nhưng nay tôi đã hoàn toàn sửa được thói ấy.

Sách có nhiều điều thú vị đối với những ai biết lựa chọn. Nhưng cái gì tốt cũng có mặt xấu của nó. Đọc sách cũng là một thú vui không hoàn toàn trong sạch, chẳng khác gì những thú vui khác. Nó có những điều bất tiện, mà lại còn rất đáng kể. Quả thực, trong khi tâm trí được vận động thì thân thể, thứ mà tôi không bao giờ được phép lơ là chăm sóc, lại nằm yên, trở nên nặng nề và uể oải. Ở cái tuổi xế chiều này, tôi không biết có sự quá độ nào gây hại cho mình hơn, hoặc cần phải tránh xa hơn sự quá độ ấy.

Đó là ba thú vui riêng mà tôi yêu thích nhất. Tôi không kể đến những công việc mà bổn phận đối với xã hội buộc tôi phải làm.


Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Ảnh đại diện Vũ Thành Long

Đăng tải bởi

Thể loại: ,

Để lại một bình luận

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc