“Dẫu muộn màng, Tự do cuối cùng cũng ngoảnh nhìn ta.” – Virgil

“Thuở ấy tôi làm nhân viên sổ sách giữa chốn Luân Đôn phồn hoa.” – O’Keefe

Thưa bạn đọc, nếu chẳng may bạn đã phải phí hoài những năm tháng vàng son của đời mình – cái tuổi trẻ tươi đẹp ấy – trong cảnh tù túng, nhọc nhằn của một văn phòng; nếu những ngày tháng bị giam cầm ấy kéo dài từ tuổi thanh niên qua tuổi trung niên, cho đến khi bạc tóc, thân thể già nua mà vẫn không có hy vọng được giải thoát hay nghỉ ngơi; nếu bạn đã sống lâu đến mức quên rằng trên đời còn có những ngày nghỉ, hoặc chỉ còn nhớ đến chúng như một đặc quyền của tuổi thơ, thì khi ấy, và chỉ khi ấy thôi, bạn mới có thể hiểu hết niềm sung sướng của tôi khi được tự do.

Đã ba mươi sáu năm trôi qua kể từ ngày đầu tiên tôi ngồi vào chiếc bàn làm việc trên phố Mincing Lane. Thật buồn biết bao khi mới mười bốn tuổi, tôi đã phải từ bỏ những giờ chơi đùa thỏa thích và những kỳ nghỉ thường xuyên của đời học trò để ngày ngày có mặt tại một văn phòng thương mại suốt tám, chín, đôi khi đến mười tiếng đồng hồ. Nhưng thời gian khiến chúng ta phần nào quen được với bất cứ cảnh ngộ nào. Dần dần, tôi cũng biết bằng lòng với số phận, một sự bằng lòng lì lợm, chẳng khác gì những con thú hoang bị nhốt trong chuồng.

Đúng là tôi vẫn được nghỉ ngày chủ nhật. Nhưng dù ngày Chủ nhật là một sự sắp đặt đáng quý cho việc thờ phụng Chúa, thì cũng chính vì mục đích ấy mà nó lại là ngày ít thích hợp nhất cho sự thư giãn và vui chơi. Đặc biệt, ngày chủ nhật ở thành phố bao giờ cũng đem đến cho tôi một nỗi buồn u ám, như thể không khí trở nên nặng nề hơn. Tôi nhớ những tiếng rao vui vẻ của Luân Đôn, tiếng nhạc, tiếng hát rong, tiếng người lao xao và những âm thanh nhộn nhịp trên đường phố. Những hồi chuông nhà thờ ngân lên không dứt khiến tôi chán nản. Những cửa hiệu đóng kín làm tôi mất cả hứng thú. Các bức tranh in, tranh vẽ, vô số món đồ trang sức, đồ chơi và hàng hóa lấp lánh được các chủ hiệu bày ra đầy vẻ phô trương, những thứ khiến việc thong dong dạo bước qua các khu phố ít đông đúc của kinh đô vào ngày thường trở nên thú vị biết bao, tất cả đều bị che khuất. Không còn những quầy sách cũ để tôi vui vẻ đứng xem giết thời giờ. Không còn những gương mặt tất bật liên tục đi ngang qua, khiến một kẻ đang rảnh rỗi được vui mắt khi ngắm nhìn họ. Chính vẻ bận rộn của công việc, khi đem so với những giờ phút tạm thời được nghỉ ngơi, cũng có sức hấp dẫn riêng. Chẳng còn gì để nhìn ngoài những gương mặt khổ sở, hoặc cùng lắm là vui vẻ được một nửa, của đám thợ học việc và những người buôn bán nhỏ vừa được nghỉ ngơi, thỉnh thoảng xen vào một cô hầu gái được chủ cho phép ra ngoài. Suốt tuần họ phải làm lụng vất vả, đến mức thói quen lao động gần như đã tước mất khả năng tận hưởng một giờ tự do, và dáng vẻ của họ cho thấy rõ một ngày vui chơi có thể trống rỗng đến nhường nào. Ngay cả những người đi dạo ngoài đồng trong ngày ấy cũng chẳng có vẻ gì là thực sự thoải mái.

Nhưng ngoài những ngày chủ nhật, tôi còn được nghỉ một ngày vào lễ Phục sinh, một ngày vào lễ Giáng sinh và trọn một tuần mùa hè để trở về hít thở không khí trên những cánh đồng quê hương Hertfordshire. Tuần nghỉ cuối cùng ấy là một đặc ân lớn lao. Tôi tin rằng chỉ riêng niềm hy vọng nó sẽ lại đến đã giúp tôi sống sót qua cả năm dài và khiến cảnh giam cầm trở nên dễ chịu đựng hơn. Nhưng khi tuần lễ ấy thực sự đến, liệu ảo ảnh rực rỡ mà tôi trông thấy từ xa có giữ đúng lời hứa hay không? Hay đó chẳng qua chỉ là bảy ngày đầy bất an, trôi qua trong cảnh mải miết đuổi theo thú vui, lo lắng đến mệt mỏi vì không biết phải làm thế nào để tận dụng cho hết những ngày ngắn ngủi ấy? Sự yên tĩnh ở đâu? Những giờ nghỉ ngơi được hứa hẹn ở đâu? Tôi chưa kịp nếm trải chúng thì tất cả đã biến mất. Tôi lại ngồi trước bàn làm việc, đếm năm mươi mốt tuần dài đằng đẵng phải chờ đợi trước khi có được một chút tự do tương tự. Dẫu vậy, niềm hy vọng về tuần nghỉ ấy vẫn rọi được một chút ánh sáng lên những mặt tối tăm trong cảnh tù đày của tôi. Như đã nói, nếu không có nó, tôi khó lòng chịu nổi kiếp sống nô lệ ấy.

Ngoài những giờ làm việc khắc nghiệt, tôi còn luôn bị ám ảnh bởi cảm giác mình không đủ khả năng làm việc kinh doanh, dù có lẽ đó chỉ là một ý nghĩ thất thường. Trong những năm cuối, cảm giác ấy ngày càng nặng nề đến mức hiện rõ trên từng đường nét gương mặt. Sức khỏe và tinh thần vui vẻ của tôi đều sa sút. Tôi không ngừng lo sợ sẽ có một biến cố nào đó xảy ra mà mình không đủ sức đối phó. Không chỉ làm nô lệ ban ngày, tôi còn tiếp tục làm nô lệ cả đêm trong giấc ngủ, thường choàng tỉnh vì khiếp sợ những khoản ghi sổ sai lầm, những chỗ tính toán nhầm lẫn và những tai họa tương tự mà mình tưởng tượng ra. Tôi đã năm mươi tuổi mà chẳng thấy chút hy vọng được giải thoát nào. Tôi dường như đã bén rễ vào chiếc bàn làm việc, còn gỗ của nó thì đã ăn sâu vào tận tâm hồn mình.

Các đồng nghiệp đôi khi trêu chọc tôi vì vẻ lo âu hiện rõ trên mặt. Nhưng tôi không hề biết rằng điều ấy cũng đã khiến các ông chủ sinh nghi. Cho đến ngày mồng 5 tháng trước, một ngày mà tôi sẽ ghi nhớ suốt đời, ông L., người cộng sự trẻ tuổi nhất trong hãng, gọi riêng tôi ra một chỗ, thẳng thắn nhận xét rằng trông tôi rất tiều tụy và hỏi nguyên do. Bị hỏi trực tiếp như vậy, tôi thành thật thú nhận tình trạng yếu kém của mình, rồi nói thêm rằng tôi sợ cuối cùng sẽ phải xin thôi việc. Ông nói vài lời động viên như lẽ thường, và câu chuyện dừng lại ở đó. Suốt một tuần sau, tôi sống trong nỗi lo rằng mình đã quá dại dột khi bộc bạch mọi chuyện, rằng chính tôi đã ngu ngốc trao cho người ta cái cớ để chống lại mình và tự đẩy nhanh ngày bị sa thải. Một tuần trôi qua như thế, có lẽ là tuần lễ lo âu nhất trong cả đời tôi. Rồi vào tối ngày 12 tháng Tư, ngay khi tôi chuẩn bị rời bàn làm việc để về nhà, lúc ấy khoảng tám giờ, tôi nhận được một lời triệu tập đáng sợ: phải đến gặp toàn thể các ông chủ đang họp trong căn phòng phía sau, một nơi vốn khiến tôi vô cùng khiếp sợ. Tôi nghĩ: Thế là hết, ngày cuối cùng của mình đã đến. Tự mình đã làm hỏng mọi chuyện. Họ sắp bảo rằng hãng không còn cần đến mình nữa. Tôi nhìn thấy ông L. mỉm cười trước vẻ kinh hoàng của mình, điều ấy cũng khiến tôi nhẹ lòng được đôi chút. Nhưng rồi, trước sự kinh ngạc tột độ của tôi, ông B., người cộng sự cao tuổi nhất, bắt đầu một bài diễn văn trang trọng. Ông nói về những năm dài tôi đã phục vụ hãng, về tư cách làm việc hết sức đáng khen của tôi trong suốt thời gian ấy. Quỷ tha ma bắt, tôi nghĩ thầm, làm sao ông ấy biết được điều đó? Tôi xin thề rằng chính mình cũng chẳng bao giờ đủ tự tin để nghĩ tốt về bản thân đến thế. Ông tiếp tục bàn về tính hợp lý của việc nghỉ hưu khi con người đã đến một độ tuổi nhất định – tim tôi đập thình thịch! – rồi hỏi thêm vài câu về tài sản riêng của tôi, vốn cũng có được một ít. Cuối cùng, ông đưa ra một đề nghị, được ba người cộng sự còn lại nghiêm trang gật đầu tán thành: để ghi nhận những năm tháng tôi tận tụy phục vụ, hãng muốn cấp cho tôi một khoản lương hưu suốt đời bằng hai phần ba mức lương trước đây. Một đề nghị hào phóng đến tuyệt vời! Giữa sự kinh ngạc và lòng biết ơn, tôi chẳng biết mình đã đáp lại những gì. Nhưng mọi người hiểu rằng tôi chấp nhận. Họ bảo rằng ngay từ giờ phút ấy, tôi được tự do rời khỏi công việc của hãng. Tôi lắp bắp vài lời cảm tạ, cúi chào, rồi đúng tám giờ mười phút, tôi trở về nhà – lần này là trở về mãi mãi. Ân huệ cao quý ấy, mà lòng biết ơn không cho phép tôi giấu tên những người đã ban nó, tôi có được nhờ lòng tốt của hãng thương mại hào phóng nhất thế gian: hãng Boldero, Merryweather, Bosanquet và Lacy.

Xin hãng trường tồn mãi mãi!

Trong một hai ngày đầu, tôi như bị một niềm vui quá lớn làm cho choáng ngợp. Tôi chỉ mới hiểu rằng mình đang được hưởng hạnh phúc, chứ tâm trí còn quá rối bời để thực sự nếm trải nó. Tôi đi lang thang, nghĩ rằng mình đang hạnh phúc mà lại biết mình chưa thực sự cảm thấy như thế. Tôi giống một tù nhân của nhà ngục Bastille ngày xưa, bất ngờ được thả tự do sau bốn mươi năm giam cầm. Tôi gần như không dám tin vào chính mình. Cảm giác ấy chẳng khác nào bước ra khỏi dòng thời gian để đi vào cõi vĩnh hằng. Bởi đối với một người được toàn quyền sử dụng thời gian của chính mình, đó quả thực là một thứ vĩnh hằng. Tôi có cảm giác mình đang nắm trong tay nhiều thời gian hơn mức có thể sử dụng. Từ một kẻ nghèo khổ, eo hẹp về thời gian, tôi bất ngờ được hưởng một nguồn lợi tức khổng lồ. Tôi chẳng nhìn thấy đâu là giới hạn tài sản của mình. Tôi cần một người quản lý, một viên quản gia khôn ngoan để trông nom cả cơ nghiệp thời gian ấy. Đến đây, tôi muốn nhắc nhở những người đã già đi trong một cuộc đời bận rộn rằng đừng vội vàng từ bỏ ngay lập tức công việc quen thuộc mà chưa cân nhắc kỹ khả năng tự xoay xở của mình, bởi điều ấy có thể nguy hiểm. Tôi hiểu điều đó qua chính bản thân. Nhưng tôi biết mình có đủ khả năng để sống những ngày nhàn rỗi. Giờ đây, khi cơn ngây ngất choáng váng ban đầu đã lắng xuống, tôi cảm nhận được hạnh phúc trong cảnh ngộ mới bằng một sự bình yên thân thuộc, như đang ở nhà mình. Tôi chẳng còn phải vội vàng. Vì ngày nào cũng là ngày nghỉ, tôi sống như thể chẳng có ngày nghỉ nào cả. Nếu thấy thời gian trôi quá chậm, tôi có thể đi dạo cho qua thì giờ. Nhưng tôi không đi bộ suốt ngày như trước, trong những kỳ nghỉ ngắn ngủi ngày xưa, khi tôi có thể đi đến ba mươi dặm một ngày chỉ để tận dụng cho hết. Nếu thời gian trở nên phiền phức, tôi có thể đọc sách để tiêu khiển. Nhưng tôi không còn đọc một cách dữ dội như những mùa đông trước nữa, khi thời gian duy nhất thuộc về mình là những giờ dưới ánh nến, và tôi đã đọc đến mỏi cả đầu óc lẫn đôi mắt. Tôi đi dạo, đọc sách hoặc viết lách đôi chút, như lúc này đây, tức chỉ khi nào cảm thấy thích. Tôi không còn săn đuổi niềm vui nữa. Tôi cứ để nó tự tìm đến. Tôi giống người

“Được sinh ra và sống qua những năm tháng đời mình,
Giữa một miền hoang vắng xanh tươi.”

“Những năm tháng ư?”, bạn sẽ hỏi. “Lão ngốc về hưu này còn đang tính toán chuyện gì thế? Chính lão vừa bảo chúng ta rằng mình đã ngoài năm mươi tuổi kia mà.”

Quả thực, trên danh nghĩa, tôi đã sống năm mươi năm. Nhưng nếu trừ đi tất cả những giờ tôi phải sống cho người khác chứ không phải cho chính mình, bạn sẽ thấy tôi vẫn còn là một chàng trai trẻ. Bởi thời gian duy nhất thực sự thuộc về một người chính là thời gian mà người ấy có thể hoàn toàn gọi là của mình, thời gian chỉ dành riêng cho bản thân. Còn những giờ khác, dù theo một nghĩa nào đó người ấy vẫn đang sống, thực ra là thời gian của người khác, không phải của mình. Phần đời nghèo nàn còn lại, dù dài hay ngắn, ít nhất cũng có giá trị gấp ba lần đối với tôi. Mười năm sắp tới, nếu tôi có thể sống được đến thế, sẽ dài bằng bất cứ ba mươi năm nào đã qua. Đó là một phép tính tỷ lệ hết sức đúng đắn.

Trong số những ý nghĩ kỳ lạ ám ảnh tôi vào những ngày đầu tiên được tự do, mà đến nay vẫn chưa hoàn toàn biến mất, có một cảm giác rằng từ lúc rời khỏi văn phòng đến nay đã trôi qua một khoảng thời gian vô cùng dài. Tôi không thể tin đó chỉ mới là chuyện hôm qua. Các ông chủ và những nhân viên mà suốt bao nhiêu năm, suốt biết bao giờ trong mỗi ngày, tôi đã sống và làm việc bên cạnh, nay bỗng nhiên bị tách khỏi tôi, khiến tôi có cảm giác họ đều đã chết. Trong một vở bi kịch của Sir Robert Howard có những câu thơ rất hay về cái chết của một người bạn, có thể giúp diễn tả cảm giác ấy:

“Anh ấy chỉ vừa mới ra đi,
Ta còn chưa kịp rơi một giọt nước mắt.
Vậy mà khoảng cách giữa ta với anh ấy đã xa xôi đến thế,
Như thể anh ấy đã rời xa ta cả nghìn năm.
Bởi trong cõi vĩnh hằng, thời gian chẳng còn được đo đếm.”

Để xua đi cảm giác kỳ quặc ấy, từ khi nghỉ việc tôi đã phải trở lại văn phòng một hai lần, thăm những người bạn từng ngồi cùng bàn, những người đồng chí mà tôi đã bỏ lại nơi chiến trận. Dù họ đón tiếp tôi hết sức thân tình, tất cả lòng tốt ấy cũng không thể hoàn toàn khôi phục cảm giác gần gũi dễ chịu mà trước kia tôi từng có khi ở giữa họ. Chúng tôi lại kể vài câu đùa cũ, nhưng tôi thấy chúng chẳng còn khiến ai cười vui như trước. Chiếc bàn làm việc ngày xưa của tôi, chiếc móc nơi tôi từng treo mũ, giờ đã thuộc về người khác. Tôi biết nhất định phải như vậy, nhưng trong lòng vẫn không thấy dễ chịu. Quỷ tha ma bắt tôi nếu tôi không cảm thấy chút ân hận nào – và hẳn tôi phải là một con vật nếu không thấy thế – khi rời bỏ những người bạn đồng nghiệp cũ, những người đã trung thành cùng tôi chia sẻ mọi nỗi nhọc nhằn trong suốt ba mươi sáu năm, những người bằng những câu đùa và câu đố vui đã giúp con đường nghề nghiệp gập ghềnh của tôi trở nên bằng phẳng hơn. Nhưng rốt cuộc, con đường ấy có thực sự gập ghềnh đến thế không? Hay tôi chỉ là một kẻ hèn nhát? Thôi thì giờ đây hối tiếc cũng đã quá muộn. Tôi cũng biết những ý nghĩ như thế là một kiểu tự đánh lừa thường gặp của tâm trí trong những hoàn cảnh tương tự. Nhưng lòng tôi vẫn thấy cắn rứt. Tôi đã cắt đứt những mối dây gắn bó giữa chúng tôi một cách quá đột ngột. Ít nhất, đó cũng không phải một hành động nhã nhặn. Hẳn phải mất thêm một thời gian nữa tôi mới hoàn toàn quen được với sự chia lìa ấy. Xin tạm biệt, những người bạn già thân thiết! Nhưng sẽ không lâu đâu, bởi nếu các anh cho phép, tôi sẽ còn trở lại thăm các anh nhiều lần nữa. Tạm biệt C., người bạn khô khan, hay châm chọc nhưng tốt bụng! D., người bạn hiền lành, chậm rãi và lịch thiệp! P., người luôn sốt sắng, tự nguyện làm những việc tốt cho người khác! Và cả ngươi nữa, tòa nhà buồn tẻ kia, một dinh cơ xứng đáng dành cho những Gresham hay Whittington thời xưa, ngôi nhà thương mại uy nghiêm, với những lối đi quanh co như mê cung, những căn phòng làm việc chật hẹp và thiếu ánh sáng, nơi suốt nửa năm người ta phải dùng nến thay cho ánh mặt trời! Ngươi đã đem lại cho ta miếng ăn nhưng cũng làm hại sức khỏe ta, một người nuôi dưỡng nghiêm khắc đã giúp ta sống qua từng ấy năm. Xin tạm biệt! Những “tác phẩm” của ta sẽ ở lại trong ngươi, chứ không phải nằm trong một bộ sưu tập ít ai biết của gã bán sách rong nào đó. Cứ để chúng yên nghỉ trên những giá sách đồ sộ của ngươi, cũng như giờ đây ta được nghỉ ngơi sau những năm tháng lao động. Những tập bản thảo khổ lớn ấy còn nhiều hơn cả số bản thảo mà Thomas Aquinas từng để lại, mà cũng hữu ích chẳng kém! Ta xin để lại tấm áo của mình cho các anh.

Hai tuần đã trôi qua kể từ khi tôi viết những dòng đầu tiên. Khi ấy, tôi đang dần tiến đến sự bình yên, nhưng chưa thực sự đạt được nó. Quả thực, tôi từng khoe rằng mình đã thanh thản, nhưng đó chỉ là sự thanh thản khi đem so với tình trạng trước kia. Trong lòng tôi vẫn còn đôi chút xao động của những ngày đầu, một cảm giác chưa yên vì mọi sự còn mới mẻ, như đôi mắt yếu ớt bị chói lòa khi bất ngờ gặp thứ ánh sáng chưa quen. Tôi còn nhớ cả những sợi xiềng xích cũ, cứ như thể chúng là một phần không thể thiếu trong bộ quần áo của mình vậy. Tôi giống một tu sĩ khổ hạnh của dòng Chartreux, đã quen với kỷ luật nghiêm ngặt trong phòng riêng, nay đột nhiên được một cuộc biến đổi nào đó đưa trở lại với thế gian. Nhưng giờ đây, tôi sống như thể từ trước đến nay mình chưa bao giờ phải phục tùng ai ngoài chính mình. Được đi đâu tùy thích, làm gì tùy thích đã trở thành điều tự nhiên đối với tôi. Mười một giờ trưa, tôi thấy mình đang ở phố Bond, và có cảm giác đã nhiều năm nay mình vẫn thường thong dong dạo bước ở đó vào đúng giờ ấy. Tôi rẽ sang khu Soho để tìm xem một quầy sách cũ, và tưởng như mình đã làm nghề sưu tầm sách đến ba mươi năm. Chẳng có gì lạ lẫm hay mới mẻ trong những việc ấy. Một buổi sáng, tôi thấy mình đang đứng trước một bức tranh đẹp. Chẳng lẽ từ trước đến nay cuộc sống lại khác hay sao? Ngọn đồi Fish Street giờ ở đâu? Phố Fenchurch ở đâu? Hỡi những phiến đá trên con phố Mincing Lane cũ kỹ mà suốt ba mươi sáu năm tôi đã giẫm mòn trong những chuyến đi làm hằng ngày, giờ đây những phiến đá cứng rắn muôn đời của các ngươi đang vang lên dưới bước chân mệt mỏi của người nhân viên nào? Còn tôi thì đang đặt dấu giày lên những phiến đá lát đường vui mắt của phố Pall Mall. Đúng vào giờ người ta đang giao dịch ở Sở giao dịch, tôi lại có mặt giữa những pho tượng cẩm thạch Elgin. Thật không quá lời khi trước đây tôi ví sự thay đổi trong hoàn cảnh mình với việc bước sang một thế giới khác. Đối với tôi, thời gian dường như đã ngừng trôi. Tôi chẳng còn phân biệt được các ngày tháng nữa. Tôi không biết hôm nay là thứ mấy trong tuần, ngày mấy trong tháng. Trước kia, mỗi ngày đều mang một ý nghĩa riêng đối với tôi, tùy theo hôm ấy có chuyến thư từ nước ngoài đến hay đi, và còn cách ngày chủ nhật tiếp theo bao xa. Tôi từng có những cảm giác riêng của ngày thứ tư, những tâm trạng riêng vào tối thứ bảy. Mỗi ngày đều mang một tính cách rõ rệt, chi phối khẩu vị, tinh thần và mọi cảm giác của tôi suốt cả ngày. Bóng ma của ngày hôm sau, kéo theo năm ngày làm việc buồn tẻ, đè nặng lên những thú vui ít ỏi của ngày Chủ nhật đáng thương. Phép màu nào đã gột sạch màu đen tối ấy? Ngày thứ hai đen tối đã biến đi đâu? Mọi ngày giờ đây đều như nhau. Ngay cả ngày chủ nhật, cái ngày thường chẳng làm tròn vai trò của một ngày nghỉ vì tôi luôn ý thức nó trôi qua quá nhanh và cố sức tận dụng từng chút niềm vui trong đó, giờ cũng hòa lẫn vào những ngày thường. Tôi có thể thong thả đến nhà thờ mà không còn thấy tiếc nuối vì buổi lễ đã lấy đi một phần lớn ngày nghỉ như trước kia. Tôi có thời gian cho mọi việc. Tôi có thể đến thăm một người bạn đang đau ốm. Tôi có thể quấy rầy một người bận rộn nhất vào đúng lúc anh ta đang tất bật với công việc. Tôi còn có thể trêu ngươi anh ta bằng lời mời cùng tôi đi chơi một ngày ở Windsor, giữa buổi sáng tháng năm đẹp trời này. Thật là một thú vui kiểu Lucretius khi đứng ngoài nhìn những con người khốn khổ mà mình đã bỏ lại giữa cuộc đời, thấy họ vẫn đang bận tâm, lo nghĩ và nhọc nhằn, chẳng khác gì những con ngựa kéo cối xay, cứ mãi quay quanh một vòng tròn không bao giờ dứt. Mà tất cả những điều ấy rốt cuộc để làm gì? Con người chẳng bao giờ có thể có quá nhiều thời gian dành cho chính mình, cũng chẳng bao giờ có quá ít việc phải làm. Nếu có một đứa con trai nhỏ, tôi sẽ đặt tên nó là KHÔNG-PHẢI-LÀM-GÌ. Và nó sẽ chẳng phải làm gì cả. Tôi thực sự tin rằng chừng nào con người còn phải làm việc, chừng ấy họ vẫn chưa được sống đúng với bản tính của mình. Tôi hoàn toàn tán thành lối sống dành cho sự suy ngẫm. Chẳng lẽ không có một trận động đất nhân từ nào chịu đến nuốt chửng những nhà máy dệt bông đáng nguyền rủa ấy hay sao? Hãy nhấc cái bàn làm việc thô kệch kia lên và ném nó xuống

“Tận nơi sâu thẳm của lũ quỷ dữ.”

Tôi không còn là ******, nhân viên của hãng nọ nữa. Giờ đây tôi là một kẻ về hưu sống trong sự nhàn rỗi. Người ta có thể tìm thấy tôi trong những khu vườn được chăm sóc tươm tất. Tôi đã bắt đầu được nhận ra qua gương mặt thảnh thơi và dáng điệu ung dung, bước đi không theo một nhịp độ cố định hay hướng đến một mục đích nhất định nào. Tôi cứ đi dạo, chứ không phải đi đến một nơi rồi trở về từ nơi ấy. Người ta bảo rằng một vẻ đường hoàng, ung dung nào đó, vốn đã bị chôn vùi quá lâu cùng những phẩm chất tốt đẹp khác của tôi, giờ đang bắt đầu nảy nở trở lại. Tôi đang trở nên phong nhã hơn một cách rõ rệt. Khi cầm một tờ báo lên, tôi chỉ đọc xem các buổi biểu diễn opera đang diễn ra như thế nào. Công việc đã hoàn thành. Tôi đã làm xong tất cả những gì mình đến thế gian này để làm. Tôi đã hoàn thành phần việc phải làm, và phần thời gian còn lại trong ngày thuộc về chính tôi.


Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Ảnh đại diện Vũ Thành Long

Đăng tải bởi

Thể loại: ,

Để lại một bình luận

Khám phá thêm từ Thành Long

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc