• Sê-khốp

    Đọc thử

    Dạo ấy tôi còn trẻ, còn nuôi mộng con chữ – thật tình mà nói, ngoài viết lách ra tôi chẳng có tài gì khác, mà cũng chẳng muốn làm gì khác. Tôi vốn là con nhà buôn và được ăn học đàng hoàng. Ở quê, bố mẹ tôi sống khá tươm tất – ông bà có một xưởng buôn sắt, và không biết có phải vì đặc thù công việc hay không, cả hai đều ra sức vùi dập thiên hướng nghệ sĩ trong tôi, mà ông bà cho là ngọn nguồn của chứng u uất, rồi tới việc tính tình tôi từ sớm đã có nhiều điểm lập dị thái quá so với bạn bè đồng trang lứa. Nhưng, một thân một mình trên thủ đô, trong khi nuốt trôi số tiền cấp dưỡng từ quê gửi lên, tôi nghiễm nhiên xếp đặt cuộc sống của mình đúng như cuộc đời của một nghệ sĩ: thuê một căn gác xép, chất hàng chồng sách trên kệ hoặc mặc chúng lăn lóc trên sàn nhà, còn trên chiếc bàn viết bằng gỗ nâu thì từng chồng giấy viết la liệt khắp nơi, vài bản thảo đem gửi tạp chí thì được tôi nâng niu gom thành một tập, nhưng cũng rất mỏng thôi…

    Độ ấy là đầu mùa thu, tôi trọ ở phố Nguyễn Tuân, gần đường Nguyễn Trãi, với một anh bạn tên là Đức. Anh ta hơn tôi ba tuổi, người nhỏ thó, ăn mặc có phần tuềnh toàng, và trong giao thiệp cũng khá bông lơn, hài hước. Trước mặt mọi người, anh ta tự giới thiệu mình là sinh viên “năm cuối” trường đại học kiến trúc, nhưng qua bộ điệu nhác nhớn, qua quầng mất tím bầm sau nhiều đêm la cà ngất ngưởng, tôi biết được là anh ta bỏ học từ lâu rồi. Nguyên quán anh ta ở đâu, tôi không rõ, chỉ nhớ là ở một thị trấn miền núi thuộc tỉnh Lào Cai. Mỗi dịp hãn hữu về quê, anh ta đều mang lên hàng lô hàng lốc những thức nhắm đặc sản có cái tên lạ lạ vui tai, thi thoảng còn vác theo cả một bình rượu và, vừa kéo bạn bè về nhâm nhi vừa nghêu ngao mua vui cho cả bọn bằng cái giọng mèn mén không ai bắt chước nổi. Tất nhiên Đức là một gã buông tuồng, thảy đám bạn mà anh ta giao du cũng thế nốt, nhưng tựu chung anh ta vẫn là một bạn cùng phòng dễ chịu; anh ta ít để bụng, ít câu nệ, chuyện tiền nong thì rất sòng phẳng. Hơn nữa anh ta hiếm về nhà, lúc về cũng chỉ làm biếng hoặc lăn ra ngủ thẳng cẳng, ít quấy quả đến việc viết lách của tôi. Chúng tôi đối đãi với nhau còn khá khách khí, vì tôi đủ khôn ngoan để không đẩy mối thân giao đi xa hơn – bất cứ ai há chẳng đều muốn giữ lại một chút riêng tư về phần mình? Chưa kể tôi còn là nhà văn, mà nhà văn thì cần sự riêng tư hơn hẳn người thường.

    Có một dạo, đầu tháng mười, đợt lứa tân sinh viên lên nhập học, Đức bỏ việc ca đêm ở siêu thị và vào làm một quán bar trên phố. Thoạt đầu anh ta chỉ là một chân sai vặt, nhưng nhờ tửu lượng vượt trội đã nhanh chóng ngóc đầu ngoi lên vị trí “trưởng ban hầu rượu”. Dù sao thì anh ta kiếm cũng khá, đổi lại là luôn lết về nhà vào rạng sáng trong tình trạng ngất ngư cò bợ, tự tay móc họng nôn thốc tháo vào bồn cầu. Người anh ta gầy rộc đi trông thấy. Tôi còn nhớ những ngày đó mưa liên miên, những ngày Hà Nội buồn rượi, xám xịt, buổi sáng trông như buổi chiều, những ngày mà điều thú vị nhất người ta có thể nghĩ ra là nằm ngủ. Cứ tầm mười rưỡi tối là tôi lên giường, còn Đức thì lóc cóc bò về vào tầm hai, ba giờ sáng, dầm mưa ướt như chuột lột, mái tóc chải bồng ép chặt vào đỉnh đầu, chẳng thèm tắm táp qua loa mà lập tức chui vào chăn nằm cạnh tôi. Thoạt đầu thì tôi còn cáu bẳn vì cái bộ dạng lếch thếch, hơi thở nồng nặc mùi rượu của anh ta, nhưng dần dần thì đâm chai lì, thây mặc anh ta thích làm gì thì làm, tôi cứ quay mặt vào tường mà ngủ khì thôi. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy thì Đức đã lục tục thay đồ đi chạy xe ôm – anh ta kiếm ác mà tiêu cũng ác, nợ như chúa chổm nên phải gò lưng ra mà kiếm tiền, và với cái vai gù cùng đốt sống cổ nhô cao thì anh ta trông y chang một con lạc đà.

    Chính vào một buổi sáng trời mưa như vậy, tôi thức giấc vào tầm bảy giờ như thường lệ, lúc quay sang bên, tôi cơ hồ thất kinh khi thấy nằm cạnh mình không phải Đức, mà là một đứa con gái. Tôi phải gọi là “đứa” vì trông cô ta còn rất trẻ con, nét mặt choai choai như đám con gái mới dậy thì. Cô ta để tóc mullet theo mốt tomboy, làn da mịn màng trắng trẻo, cái miệng nhỏ khép hờ, khuôn ngực gầy gầy rung lên theo nhịp thở khe khẽ. Thoạt đầu, tôi thử lay vai và thì thầm vào tai cô gái: “Ê, ê, dậy đi!” nhưng cô chỉ khẽ cựa mình, lảm nhảm vài câu gì đó tỏ vẻ khó chịu, rồi quay người về phía bên kia, tiếp tục ngủ. Theo lẽ thường, tôi cũng vén tấm chăn rồi nhòm vào trong, nhưng không có gì đáng ngại cả: cô gái mặc một chiếc váy dài có hàng khuy màu trắng chạy dài từ cổ xuống dưới thắt lưng, những viền xếp nếp loà xoà ngang đùi; qua lần vải mỏng, tôi thấy đầu gối cô thon tròn, bắp chân cũng thon, có vài sợi lông tơ mọc lên trông rất đẹp.

    Tôi tựa lưng vào thành giường và ngắm cô gái một lượt nữa: cô có một nốt ruồi đen sẫm ở cuối đuôi mắt, sống mũi cao nhưng chóp mũi lại hơi rộng. “Dậy đi!” tôi xáp lại gần cô và nhắc lại nhiều lần, và nhận ra là cô gái không mặc áo lót…

    Tôi lưỡng lự một hồi rồi cũng thử choàng tay ngang eo cô gái, thì thấy cô không phản ứng gì cả. Tôi càng có can đảm để tiến lên. Dần dần, bàn tay tôi luống cuống dò dẫm trong lớp chăn để cởi hàng khuy trên váy. Căn phòng như lắng đọng lại, gần như nín thở, tôi nghe rõ mồn một tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức trên chiếc bàn ở đầu giường. Bỗng cô gái chồm dậy và mở mắt nhìn tôi trân trân:

    “Chán anh thật, thà tự cởi còn hơn,” cô ta vừa gạt tay tôi ra vừa nói với vẻ giễu cợt.

    Và đúng lúc đó, chiếc khuy cuối cùng ở sát cổ bung ra, phần trên của tấm váy tuột xuống: cô gái hoàn toàn không mặc gì bên trong. Hai bầu ngực nhô cao và chĩa về hai bên, núm vú màu sâm sẫm có xỏ khuyên, và rốn của nàng cũng xỏ khuyên, đoạn dưới bụng xăm một nụ hồng nho nhỏ, một túm lông đen được tỉa tót gọn gàng hiện ra mờ mờ sau lần vải mỏng gần như trong suốt. Nàng thì dường như không xấu hổ với sự khoả thân của mình, trái lại, ánh mắt dần dần chuyển sang khêu gợi như muốn thách thức. Lúc ấy, tôi chẳng còn nghĩ được gì nữa, bất giác nhào tới nàng và hôn vào ngực, vào bụng nàng.

    “Không dạo đầu gì à?” nàng ngả người xuống gối, vừa choãi rộng hai chân vừa tiếp tục nói bằng giọng giễu cợt…

    Lát sau, tôi cởi trần ngồi trên bàn viết, vừa hút thuốc vừa lật giở mấy xấp bản thảo. Nàng khoả thân bước quanh phòng, điệu bộ điềm nhiên như ở nhà mình, vừa gật gù đầu vừa nói:

    “Chu cha! Đống sách này của anh tất đấy à?”

    “Ừ, của anh hết,” tôi trả lời. “Em đọc không?”

    Nàng dẩu môi:

    “Làm gì có thời gian! Thật ra thì đợt trước cũng đọc chút ít. Thôi, để xem anh có những sách gì nào!”

    “Em thích cuốn nào thì anh kỉ em luôn,” tôi thích chí trả lời.

    “Á à, nhớ mồm nhé, cứ cuốn nào đắt nhất thì em lấy!”

    Nàng bắt đầu lục lọi, rồi lát sau thì chống tay vào nạnh thở dài:

    “Thôi chịu chết! Sách của anh toàn cái gì ấy. Không có sách nào cho người bình thường đọc được à?”

    Lúc ấy, tôi nhìn vào túm lông đen đen hình tam giác dưới bụng nàng, rồi lập tức choàng tay kéo nàng lại gần.

    “Thôi,” nàng lùi phắt lại và nói bằng giọng hơi châm chọc, “vừa nãy là đủ rồi. Gắng nhịn đi nhé, cún yêu! Bây giờ thì mình phải đi học rồi cậu ạ!”

    “Em học ở đâu? Để anh đưa em đi,” tôi nhổm dậy và nói.

    “Ô không, mình có bạn đón rồi!”

    Lát sau, trên người đã vận lại tấm váy, nàng ngoái đầu lại bên ngưỡng cửa và gửi một nụ hôn gió:

    “Tạm biệt nhé, tình yêu!”

    “Thế bao giờ gặp lại?”

    “Để xem nào,” nàng nói và gật gù đầu ra bộ suy tính, “nếu cưng quả thực muốn gặp lại, thì thứ tư tới đây đúng sáu giờ, đón mình ở đầu Xuân Quỳnh, hôm đó có chiếu bộ phim hay lắm. Nói chung là mình mới lên Hà Nội nên còn nhiều bỡ ngỡ, mấy đứa bạn ở ký túc lại bận hết cả rồi. Cưng là người thứ hai tớ đi chơi cùng đấy, à không, thứ nhất mới phải chứ, vì anh Đức đâu có tính!”

    “Khoan đã, em là gì của Đức?”

    “Chà, em họ thôi…”

    Tất nhiên, chẳng bao lâu sau thì tôi bỏ viết, còn nàng cũng học hành chểnh mảng. Chúng tôi không rời nhau nửa bước, quấn quýt như vợ chồng mới cưới, nắm tay lượn lờ khắp phố Cổ, đi xem bảo tàng tranh dù chẳng hiểu biết gì và, sau khi đã ngắm nghía chán chê những căn nhà cổ kính quanh con phố Đinh Lễ, bèn ghé thăm nhà sách Mão.

    “Sách thì cũ rích đến long cả gáy, đã thế còn không cho chụp ảnh!” nàng bĩu môi nói lúc trở ra ngoài.

    “Nhưng em xem anh đã kiếm được gì này: Sê-khốp của Phan Hồng Giang,” tôi hồ hởi trả lời. “Của hiếm đấy cưng ạ, nhiều người tìm mỏi mắt mà không ra đâu.”

    “Thây kệ cái ông sê khốp sê khiếc nhà anh! Lần sau anh đi mà vào một mình!”

    Đầu mùa xuân, theo ý nàng, tôi bắt đầu viết truyện đăng báo. Dứt khoát là không thể câu chấp với cái lý tưởng non nớt nghệ thuật vị nghệ thuật được nữa: việc cần kíp hơn cả bấy giờ là kiếm được một chân bồi bút, làng nhàng thôi cũng được, vì tiền trợ cấp hàng tháng của tôi do gia đình gửi lên luôn bay vèo như bùi nhùi bén lửa. Quả thật những cuộc hẹn hò luôn tốn kém, vả lại nàng cũng chẳng có nhiều: nàng đã đi làm thêm ở chính cái quán bar nơi Đức làm việc, bốn buổi trên tuần. Nàng bắt đầu dặm phấn, đi giày cao gót, về rất muộn, nên nàng thường sang ngủ nhờ nhà tôi. Thoạt đầu, chúng tôi trải đệm nằm dưới đất, và có trời biết cả hai đã táo tợn tới mức nào, nhưng dần dà thì Đức cũng tinh ý nên thường viện cớ vắng mặt mỗi khi nàng ghé chơi. Thi thoảng, tôi bị dằn vặt đến nỗi phải dúi vào tay gã ít tiền để gã thoải mái đi đâu thì đi…

    Về phần Đức, gã chẳng cho tôi biết gì hơn ngoài việc nàng là một cô em họ cùng quê với gã và, theo cái lối bông phèng của gã, là từng “cởi truồng tắm mưa” với nhau. Tôi hơi phật ý vì cái lối ví von suồng sã này. Nàng theo học khoa thiết kế thời trang ở trường đại học kiến trúc, và vì chẳng quen biết ai, nàng đeo bám gã khắp nơi. Thằng cha ấy có lẽ cũng chẳng lạ cái tính nhẹ dạ ham chơi của nàng, đã dẫn nàng tới quán bar nơi gã làm việc, tiếp rượu cho nàng thả cửa rồi lết về nhà trong tình trạng say như hũ chìm. Ký túc xá đóng cửa, gã bèn chở nàng về thẳng trọ rồi mặc nàng nằm cạnh tôi vào rạng sáng hôm ấy. Đức thường tếu táo thuật lại chuyện ấy và cho rằng chúng tôi cần cảm ơn gã vì cái tình yêu như từ trên trời rơi xuống kia. Nàng chỉ cười nhếch mép ra vẻ khinh khỉnh, nhưng tôi thì vô hình trung lại đâm ra cảm kích gã, ngày càng đối xử với gã niềm nở, săn đón hơn.

    Sang đầu xuân, tôi xin được một chân cộng tác viên ở một tạp chí lá cải, mỗi tuần chỉ cần lên văn phòng ba buổi, công việc thì chủ yếu là lục lọi đống chuyện tiếu lâm từ thời tám hoánh, thêm thắt, cải biên sao cho hợp với “thị hiếu công chúng”, theo lời của ông chủ bút. Thi thoảng tôi cũng chêm vào những truyện ngắn tự sáng tác và khoan khoái tận hưởng niềm vui được tự trả chút nhuận bút còm cõi cho mình. Những ngày làm việc tại nhà, tôi thường dậy từ sáu rưỡi, nhưng không viết ngay mà còn nhìn vẩn vơ ra ngoài ban công rất lâu. Mưa phùn liên miên, xung quanh nhà thấp nhà cao chen chúc trong con phố nhỏ quanh co, chật hẹp. Bầu trời vẩn đục vì sương mù và bụi mịn – ở Hà Nội thật khó phân định hai thứ này. Bàn viết của tôi kê sát ban công, nhìn thẳng ra hồ Rùa qua khung cửa kính chạy dài từ sàn lên tới trần. Sáng ra, màn sương mỏng nhẹ bay la đà trên mặt hồ như một tầng mây, và thấp thoáng ẩn hiện những khóm thuỷ trúc đứng lỏng chỏng như những ốc đảo. Dân cư dậy sớm thể dục, người bước thơ thới nhẹ nhàng, người cắm đầu chạy hồng hộc. Và trong khi cả thiên nhiên lẫn con người cùng đang trở mình cho một ngày mới, thì tôi lặng lẽ ngồi bên bàn viết, ngồi đến mọc rễ, cắn răng cắn lợi mà chẳng rặn nổi một câu. Qua hàng chấn song, tôi thấy mặt trời lẩn khuất trong lớp sương mù dày đặc, vẫn chuyên chú giăng toả ánh nắng làm nền đất ướt át khô dần, đến trưa, không khí chóng trở nên hầm hập, oi bức. Tầm xế chiều thì bầu trời xám xịt trở lại, mây đen lừ lừ từ xa kéo đến, chẳng chốc con phố đã lại mờ đi trong màn mưa mờ ảo, những vũng nước chưa kịp vơi từ sáng giờ đã chất đầy lá úa… Rồi mưa ngớt, tôi ra bến xe buýt đón nàng. Đường tắc, xe buýt thường tới chậm, hoa sữa rơi thành từng mảng rộng, phủ kín vỉa hè nhớp nhúa, toả ra mùi hương ngai ngái đến nhức đầu. Lũ lượt từng tốp sinh viên tụ tập quanh các quán xá xập xệ dưới chân cầu vượt, và nàng lanh lẹ lách mình giữa cái đám đông nhốn nháo ấy, trên tay vung vẩy tập ký hoạ vẽ những mẫu trang phục do nàng tự chế ra… Chúng tôi ăn tối ở một quán ăn Hàn, chỉ riêng hai người. Trước khi nàng bắt xe ra quán bar, tôi cùng nàng đi dạo quanh công viên. Nàng bước thong thả, ngả đầu vào cánh tay tôi, và đôi mắt tư lự nhìn về đằng xa, nàng bảo:

    “Em đang nghĩ bao giờ mình mới mua được một căn hộ như kia.”

    Nàng là một người phù phiếm và thực dụng đến khó chịu. Tâm hồn nàng không có gì độc đáo, nếu tôi yêu nàng, thì cũng chỉ vì tôi không thể không yêu nàng mà thôi. Hiển nhiên là nàng thích tiền, tiền đi trước và hạnh phúc theo sau, còn tôi, người chưa bao giờ lâm vào cảnh túng quẫn, thì bác lại rằng tiền bạc chỉ là thứ yếu, là phương tiện, và những người điềm nhiên nói rằng đam mê của họ là kiếm tiền chỉ để lại trong tôi cảm giác ngán ngẩm, khinh bỉ về một bản chất tầm thường, một cốt cách vào hạng xoàng xĩnh nhất.

    “Tiền bạc có thể là động lực,” tôi giảng giải cho nàng. “Nhưng không bao giờ có thể coi là đam mê hay mục đích của cuộc đời. Anh muốn có tiền trong người chỉ để không bao giờ phải lo nghĩ về tiền, và do đó, chuyên tâm làm những công việc khác ích lợi hơn.”

    “Việc ích lợi như anh nói là viết văn?” nàng cong cớn đáp trả. “Kể mà ra tiền thì cũng tốt đấy, đằng này…”

    Đành rằng không thể đôi co với nàng đến cùng, tôi chỉ phẩy tay cho qua và lặng lẽ bước vòng quanh bờ hồ. Mặt nước lấp loáng những cột sáng liên xiên do ánh đèn trên cao rọi xuống, vài ông trung niên ngồi bó gối bên cái cần câu sát mép hồ, cả người đen thùi lũi chỉ có điếu thuốc cháy sáng trên môi. Qua hàng rào thâm thấp của công viên, dòng người tan tầm nườm nượp lướt qua, ai ai cũng có vẻ nôn nóng, đứng chờ đèn đỏ thì dậm dậm chân, bỏ thuốc ra hút, hoặc cúi gằm mặt lướt điện thoại. “Hà Nội là nơi làm việc, còn thích nhàn hạ thì về quê mà trồng rau nuôi cá” – hình như ai đó đã từng nói câu này, và tôi nhắc lại nó với nàng.

    “Phải đấy, cưng ạ! Cưng cũng nên nghĩ như thế!” nàng hồ hởi nói. “Eo ôi, mùi tanh quá, té thôi anh, hôm nào cũng lẩn thẩn ở đây làm cái gì…”

    Sau đợt Tết, tôi với Phúc chuyển ra một căn trọ mới, rộng rãi và tươm tất hơn, nằm ở đầu phố Chiến Thắng, cách ký túc xá của nàng ngót một cây số. Nàng hăm hở chiếm dụng khu bếp và gần như dọn sang ở hẳn cùng chúng tôi. Những ngày trời nồm thế này, trong nhà lúc nào cũng đóng kín mít. Nàng nằm sấp trên giường, bỏ tập ký hoạ ra tô tô vẽ vẽ, hoặc đọc sách. Nàng không ngại ngần ôm ấp tôi trước mặt Đức, và ăn mặc đôi khi lả lơi quá trớn – tôi thường phải nhắc nàng về điều này. Khi tôi bận làm việc, nàng chạy qua tấm vách ngăn cách hai phòng, dựng Đức dậy bằng được, kèo nèo gã phải đánh uno với nàng hoặc cùng chơi một cái game gì đấy trên điện thoại. Gã thường chết trước và quay sang chỉ đạo nàng, hai người cãi cọ ầm lên, rồi tôi nghe tiếng nàng thì thào: “Suỵt! Anh Tuấn đang làm việc!” Gần bảy giờ, tiện đường ra quán bar, gã chở nàng tới rạp chiếu phim.

    Trước lễ giải phóng, tôi phải về quê lo ít giấy má. Tôi rủ nàng về cùng rồi tiện thể ra mắt gia đình, nhưng nàng không chịu: nàng đã nghỉ quá tiết giảng trên trường, và còn sắp thi nữa. Tôi đành tiu nghỉu bắt tàu về một mình.

    Vì bị đám bồi giấy ở uỷ ban xã làm tình làm tội, công chuyện dây dưa sang tận tuần sau. Công việc tắc trách đã đành, lại còn thêm những dòng tin nhắn thưa thớt nàng gửi đi, lòng tôi rối bời khôn tả. Tôi không thể không láng máng nhận thấy một sự hờ hững, và dần dà, trong tôi dâng lên một nỗi lo ngại mơ hồ: “Lẽ nào chỉ vì xa nhau từng ấy ngày mà nàng đã chán và đang tâm rời bỏ tôi?” Riêng nàng thì cái gì cũng có thể được! Đến lúc nàng ngó lơ tin nhắn của tôi đến cả ngày trời thì chẳng đặng đừng được nữa, tôi thây mặc đống hồ sơ kia và vội vã từ biệt gia đình. Nhảy phắt xuống nhà ga đông đúc giữa màn mưa phùn lâm thâm, tôi nôn nóng chộp lấy bác tài mời chào đầu tiên. Lúc dừng chân trước cổng ký túc, tôi chạy vù vào căng tin, mua đủ thứ đồ ăn vặt mà nàng vẫn thường nhấm nháp, rồi cũng vẻ sốt sắng như thế tôi nhảy ba bậc một lên tầng bốn của khu học xá, chỉ bước chậm lại khi cánh cửa gỗ phòng nàng hiện ra phía cuối hàng lang. Tôi gõ cửa ba lần, quay lưng thấp thỏm đợi. Lát sau, một cô gái tướng tá béo tốt nhưng mặt mũi không lấy gì làm thân thiện cho được, ra mở cửa, nhìn tôi với vẻ cáu kỉnh.

    Tôi hỏi cô ta về nàng.

    “Không có đây đâu! Mấy ngày nay nó không về ngủ rồi,” cô ta trả lời bằng giọng đả đớt vẫn lẫn âm vùng miền.

    “Mấy ngày nay?” tôi ngơ ngẩn nhắc lại.

    “Phải, phải gần tuần rồi. Nhắn tin không trả lời, gọi điện thì số bận, nói chung là bặt tin luôn. Này, tìm được thì bảo là gửi tiền điện nước đi nhé. Tôi ứng cho rồi đấy!”

    “Thế… thế… lớp ở đâu? Giờ này chắc phải ở trên trường chứ.”

    “Giời biết!”

    Trong lúc đi lẩn thẩn quanh khuôn viên ký túc, tôi chẳng màng đến cái dự định làm nàng bất ngờ nữa, nhấc máy nhắn mấy dòng tin rồi thử gọi điện, nhưng tất cả đều vô hiệu. Vẫn bác tài ban nãy chở tôi về khu trọ ẩm thấp nơi tôi trú ngụ. Tôi thất thểu xuống xe rồi leo ba tầng gác về phòng trọ của mình.

    Trước ngưỡng cửa, tim tôi như muốn rụng ra: đôi giày bệt nàng thường hay đi xếp ngay ngắn trên kệ, bên dưới là đôi sneaker của Phúc nằm lăn lóc, chiếc lật chiếc úp. Vậy là nàng ở đây? Làm cái gì? Tôi lại ngó xuống kệ giày một lần nữa, rồi tôi thận trọng ghé sát tai vào khung cửa. Tôi nghe thấy tiếng nước sủi sùng sục và tiếng trò chuyện trai gái ngắt quãng. Vậy là đích thị có hai người, một nam một nữ, và nàng đã ở lì đây cả tuần nay: tức là nàng đã chung chạ… Tôi đứng im lặng hồi lâu, rồi gom hết sức bình tâm mà gõ cửa thật khẽ, và liền đó tôi nhận ra giọng nói của Đức vang lên một cách dè dặt:

    “Ai đấy?”

    “Em đây,” tôi bình thản trả lời.

    Một lúc sau cánh cửa mới mở ra, tôi bước vào và ngó một lượt gian bếp với những đĩa ăn tươm tất được bày biện trên bệ đá hoa cương. Một nồi canh đang bốc khói nghi ngút. Đức đứng nép mình bên tôi, chân nghiêm chân nghỉ, khẽ khép cánh cửa lại sau lưng một cách sượng sùng. Tôi để ý thấy cổ áo polo của gã còn chưa bẻ cổ, bàn tay gã run run.

    “Nay lại nấu ăn cơ à?” tôi hỏi.

    “À… à… thì mưa gió này đi đâu được,” gã lừng khừng đáp lời.

    Lúc đó, tôi chộp lấy nồi canh và liệng thẳng vào người gã bằng một sự quả quyết mà tôi không bao giờ chứng kiến ở mình nữa. Và, như thể phát điên, tôi nhảy bổ tới, đấm túi bụi vào người gã. Bỗng nàng lầm lầm hiện ra ở gian khách và hét lên:

    “Anh làm cái đéo gì thế?”

    Chúng tôi nhìn nhau chòng chọc một lúc lâu, không ai nói một lời. Nàng mặc chiếc váy đăng ten với hàng khuy trắng chạy dài, chiếc váy nàng bận vào hôm đầu tiên hai đứa gặp mặt; tóc nàng đã dài ra rất nhiều kể từ dạo ấy. Cổ họng nghẹn ứ, nước mắt trào ra, tôi mường tượng tới sự thật rằng tấm thân đằng sau lớp vải kia đã không chỉ dành cho riêng tôi, rằng con người mà tôi đã yêu tưởng đến chết đi sống lại, hoá ra chỉ là một con điếm.

    “Mày… mày không khác gì một con đĩ,” tôi gắng gượng thốt ra.

    “Ừ thì con đĩ,” nàng lập tức đáp trả với vẻ điềm nhiên đến độ ngoa ngoắt, “Nhưng anh làm thế là ngu lắm, vì con đĩ này đếch có yêu anh! Anh khỏi phải khóc lóc, trông lố lắm! Nào, anh gọi tôi là con đĩ nữa đi! Anh tưởng những câu văn, những cuốn sách của anh vui lắm hở? Nói thật nhé, đéo ai thèm đọc đâu, để đấy mà chùi đít!”

    Lúc ấy, lồng ngực căng lên tưởng đến nghẹn thở, tôi chỉ muốn bóp cổ nàng cho chết. Nàng vẫn tiếp tục trâng tráo, kết cục, tôi đã tát nàng một cái như trời giáng – có lẽ trong đời nàng chưa bao giờ chịu một sự sỉ nhục lớn tới thế.

    “Thằng chó! Thằng đàn bà!” nàng quỳ sụp xuống mặt sàn, vừa rú lên man rợ vừa ném vào tôi những ngôn từ miệt thị nhất. Tôi không còn cảm nhận được đôi chân của mình nữa, thậm chí không còn cảm nhận được cả sự hiện diện của mình, câm lặng, nhục nhã, tôi loạng choạng bước ra ngoài…

    Đêm hôm ấy tôi về phòng thì thấy sách vở đã rách bươm, duy cuốn Sê-khốp nhờ kê dưới gối nên vẫn còn nguyên. Ở giữa các trang có dính vài sợi tóc.


  • Đêm đông

    Đọc thử

    Truyện này có hai bản: bản dưới đây là bản ngắn dùng đăng báo với tựa đề “Mùa Đông thương nhớ”, bản còn lại là bản dài với tựa đề “Đêm đông” nằm ở trang kế bên.


    1.

    Một mùa Đông giá lạnh, cách đây nhiều năm về trước, tôi tốt nghiệp đại học và tranh thủ về quê nghỉ ngơi. Ở nhà được dăm bữa thì mẹ tôi, phần vì thấy tôi rảnh rỗi, phần vì biết đã lâu tôi chưa thăm quê ngoại, bảo tôi thử tạt qua đó ít hôm xem sao, hoặc thích thì lưu lại vài tuần. Tôi hơi lừng khừng, bởi lẽ giờ về quê ngoại thì chỉ có thể ở lại nhà người bá, chị ruột của mẹ tôi, mà tôi thì vốn dĩ không ưa bá ấy cho lắm. Điều này không hẳn là không có duyên do, bá tôi bình sinh tính khó, cung cách lại có phần trưởng giả, lắm điều và ưa bày vẽ. Còn ông bác rể tôi là một doanh nhân kiểu mẫu, một người đàn ông của gia đình; trên bàn ăn ông toàn nói chuyện công việc. Ấy thế mà có lần tôi mắc lỗi, ông đã điềm nhiên nói với bá rằng: “Cháu của bà thì bà dạy đi.” – kể từ đó tôi đâm ra lãnh đạm với bác. Ở quê, vợ chồng bá có một ngôi nhà bề thề, nhưng quanh năm suốt tháng hai người túc trực ở xưởng gara trên Hà Nội. Ngoài ra trong nhà còn có cậu con trai út tên Quyết bằng tuổi tôi, bấy giờ đang học trên trường mỹ thuật công nghiệp, còn cô chị gái tên Vy thì làm việc ở quê, thành thử phần lớn thời gian nhà cửa là một tay chị Vy trông nom. Tôi vốn là con một, có thời tôi từng rất quấn quýt chị, coi chị như chị gái ruột vậy. Nói trắng ra, cả nhà bá tôi chỉ quý có chị Vy, và cũng chỉ vì chị mà sau một quãng trù trừ, tôi đã thưa với mẹ rằng tôi sẽ đáp tàu về.

    Tôi đến thị trấn ấy vào một ngày nắng hanh giữa tháng mười một. Đang giờ nghỉ trưa nên bốn bề im ắng. Tôi đeo ba lô dọc theo con ngõ chật hẹp với những mặt tiền đơn điệu một màu vàng xỉn, nhiều nhà lớp ve đã tróc ra thành từng mảng. Giữa những gia cư xập xệ cổ lỗ ấy, ngôi nhà hai tầng kiên cố, bốn bề quét vôi trắng xóa của bá tôi sừng sững nhô lên, nom có vẻ lạc quẻ và kênh kiệu thế nào ấy.

    Có một cái nút bấm dưới cái đèn trụ gắn trên cột cổng xây bằng đá trắng, tôi nhấn hai lần chuông và đợi. Lát sau, tôi thấy một cô gái lạ từ trong nhà bước ra. Nàng có vóc người thon thả, xinh đẹp, nhìn mặt có lẽ chỉ mười tám là cùng; miệng nàng hơi rộng, đôi mắt to tròn ngước nhìn tôi lộ vẻ ngạc nhiên, lúc nàng cúi người mở then chốt cổng, tôi còn để ý thấy gò má của nàng lấm tấm tàn nhang.

    Cô gái trở vào nhà trước, thoăn thoắt leo lên thang gác, còn tôi cũng lập cập cởi giày bên thềm tam cấp, rồi vừa xoa tay vào nhau tôi vừa men theo hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp mờ mờ tôi tối. Chị Vy nheo mắt ngó ra, vừa tháo tạp dề vừa nói bằng giọng nhả nhớt thân thuộc:

    “Ái chà! Đúng là thắp hương muỗi cũng lên! Tao vừa nhắc tới mày xong!”

    “Chứ không phải mẹ em báo trước cho chị rồi à?” tôi trả lời. “Mỗi chị ở nhà hay sao?”

    “Thì vẫn thế. Thôi ngồi đi, đợi tao hâm lại đồ ăn. Ăn tạm chả cá nhé, tao vừa lỡ đổ hết canh đi rồi.” 

    “Vô tư đi,” tôi vừa nói vừa kéo ghế ngồi xuống chiếc bàn gỗ kê giữa phòng.

    Mọi thứ cơ hồ chẳng mấy đổi khác kể từ lần cuối tôi về đây, hoặc giả nếu có thì cũng rất ít thôi, chiếc quạt trần nhám bụi cứng đờ, bất động giữa trần nhà thâm thấp; mái hiên nhỏ trổ ra sân giếng, gian bếp tinh tươm với những đáy nồi đen thui xếp đều tăm tắp trên đinh gắn tường. Còn cô chị họ của tôi thật vẫn trẻ trung, duyên dáng như ngày nào – chị mới hai tư tuổi. Bữa ấy chị ăn bận rất thoải mái theo cái mốt trên đông dưới hè đang được ưa chuộng, quần bò ngắn màu bạc và áo len cổ tròn màu xám tro, mái tóc vấn qua loa bằng một chiếc trâm gỗ có khắc hình hai con thiên nga chụm đầu vào nhau.

    “Ăn mặc sành chưa kìa!” tôi nhìn chị và cất giọng đùa đùa.

    Chị vừa cười vừa liệng vỏ trứng vào bồn rửa bát:

    “Chứ ai già như mày cho được. Học đâu ra cái thói để râu không biết! Ái à, lại còn cặp mắt kia nữa, thật vẫn đáng ghét như ngày nào!”

    “Mắt em làm sao?”

    “Mắt này chắc hay liếc ngang liếc dọc lắm mà!”

    Trên bàn ăn đã dọn một đĩa chả cá xốt cà chua nóng hổi, một bát cơm xới đầy ắp và hai lon bia Hà Nội ướp lạnh đặt cạnh nhau. Tôi bật nắp một lon bia, tợp một ngụm, vừa nhăn mặt vừa nói:

    “Nãy ai ra mở cổng thế?”

    “À, con bé An ấy mà. Nãy đang dở tay nên tao nhờ nó mở hộ. Thấy con bé xinh đúng không?” chị Vy nhìn tôi đầy tinh nghịch và nói.

    “Ừ, cũng xinh, nhưng gầy quá! Lưng trước lưng sau như một.”

    “Ái chà, đã kịp nhìn rồi đấy! Nhưng cái này chưa khám chưa biết được đâu!”

    “Nhưng mà từ giờ cho đến lúc đấy em vẫn cứ cho là vậy.”

    “Khiếp, đùa ông có tý mà ông cũng chớt nhả ngay được. An là người yêu thằng Quyết đấy nhé!” chị trả lời với vẻ cong cớn và thấy tôi im re nên càng lựa đà đế thêm: “Thế nào, tắt điện rồi phỏng? Liệu cái thần hồn nha! Nghe chửa?”

    Quả thật là tôi hơi phật ý trước lời hăm dọa có phần sống sượng ấy, đành cười trừ rồi lẳng lặng ăn tiếp. Chị Vy bật nắp lon bia của mình, tợp một ngụm nhỏ, dẩu môi theo kiểu đàn bà, rồi tiếp tục nhìn tôi bằng ánh mắt giễu cợt hóm hỉnh. Tôi cũng uống một hơi dài.

    “Học xong rồi chứ hả?”

    “Xong rồi,” tôi trả lời.

    “Ừ hôm trước dì gọi điện khoe nên tao mới biết đấy chớ. Thế tính ra là mày tốt nghiệp sớm nửa năm nhỉ? Cu Quyết đợt này mới bắt đầu làm luận án cơ. À đấy, dạo này hai anh em còn hay rủ nhau đi đá bóng không?”

    “Em nghỉ bóng bánh lâu rồi.”

    Chị Vy im lặng thở dài, đoạn hạ giọng nói: 

    “Thôi nào, nói thật đi, mày vẫn giận nó phải không?”

    Tôi bình thản nhún vai.

    “Lại chẳng,” chị nói tiếp, “từ sau vụ ấy mày ít về đây hẳn… Chân đến mùa này chắc buốt lắm hở? Chậc, không muốn nói thì thôi vậy!”

    Tôi chẳng biết đáp gì nữa, lại cụng lon. Dưới chiếc đồng hồ quả lắc trên tường có một bức tranh khổ rộng, không nhìn ra hình thù gì, chỉ có những đốm sơn loang lổ trên lớp toan được ánh đèn trần rọi chiếu làm cho sáng loáng. Tôi khẽ chạm vào lớp toan.

    “Tranh của thằng Quyết đấy,” chị Vy nhanh nhảu nói. “Cả nhà chẳng biết nó vẽ cái gì, thế mà vẫn giật giải hẳn hoi! Con bé An suốt ngày qua đây, ngắm tranh rồi thì ‘anh Quyết của em’, ‘anh Quyết sắp về chưa chị?’ Buồn cười, tao mới bảo: ‘Mẹ mày chứ! Người yêu mày chứ người yêu tao đâu mà tao biết!’

    Tôi vừa cười vừa nói bằng giọng bỡn cợt:

    “Thế con bé kia nhà ở đâu? Ngày nào nó cũng qua đây chơi à?”

    “An là cháu bà Thắm, nhà cách đây một quãng. Bà Thắm trước ghi lô đề ấy, bà ấy là anh em họ xa với bố chị. Con bé này là cháu ngoại bà đấy. Năm nay cuối cấp, bà nó xin cho nó thỉnh thoảng qua đây để tiện đường ra trường, chứ nhà bố mẹ nó thì ở trên thành phố cơ. Cái này nói riêng nhé, bố nó là dân xã hội đấy, nghe đâu giàu lắm thì phải. Nói chung làm cái nghề ấy chưa thấy ai nghèo bao giờ. Còn mẹ nó thì… hơi khó nói, hình như cũng bồ bịch trai gái gì gì đấy. Tao cũng chẳng biết hai đứa nó quen nhau thế nào. Con bé này nhìn chung cũng lễ phép, mồm mép, nhưng tính tình cũng hơi đồng bóng, chẳng biết đường nào mà lần… Con bé này luỵ lắm, mấy lần chia tay đều sang đây khóc lóc, kể lể, ấy thế mà vẫn yêu nhau đến giờ. Thế tài!”

    “Chà, thế nhỡ nó thích em thì không phải tốt cho nó à?” tôi nói giọng cợt nhả.

    “Vớ vẩn,” chị Vy bỗng đanh giọng. “Riêng chuyện này thì không đùa được đâu cu. Lằng nhằng có khi lại cạch mặt nhau! Mà mày cứ nói thế chứ chắc gì mày đã tán nổi nó!”

    Vừa dứt lời, chị Vy đứng dậy thu dọn bát đĩa và dẫn tôi về gian phòng sát bàn thờ – căn phòng này thường khi vẫn để trống, có cái mùi ẩm mốc rất đặc trưng. Tôi chẳng thèm cởi đồ, lập tức lăn phịch xuống nệm, trong đầu cảm thấy ong ong, rã rời vì mỏi mệt, sung sướng. Ban nãy, ngay lúc bước vào trong phòng, tôi ngoái đầu lại thì thấy An đứng thập thò từ ngưỡng cửa ở phía bên kia cầu thang ngó sang. Chạm mắt tôi, nàng lập tức lảng đi ngay. Lúc ấy, tôi bất giác nhớ lại lời đe nẹt ngoa ngoắt của chị Vy trên bàn ăn, nhưng rồi chỉ lát sau là tôi đã quên béng và đánh một giấc hết cả buổi chiều. Tối hôm ấy trôi qua thế nào nhỉ? Hình như sau bữa ăn sớm, tôi và chị Vy đã ngồi lại tám chuyện một lúc, rồi thì ai về phòng nấy, thỏa thuê với những ý nghĩ của riêng mình…

    2.

    Năm ngày đã qua. Sáng nào thị trấn cũng có sương mù, tầm năm giờ chiều thì trời đã xâm xẩm tối và về đêm thì lạnh vô cùng. Thường nhật chị Vy dậy từ rất sớm và tự nấu bữa sáng, rồi về phòng giam mình đến quá trưa, còn tôi thì ăn xong lại ra nằm trên đi văng ngoài phòng khách đọc sách. Thoạt đầu, tôi cũng dạo sang nhà họ hàng ở lân cận để thăm hỏi cho phải lẽ, nhưng trừ những phút ấy ra thì cả ngày họ cũng phải mải miết kiếm ăn, chẳng hơi đâu mà tiếp mình mãi. Và thế là niềm vui được gặp lại người thân cứ mai một dần, trơ ra cảm giác chán ngán do nếp sống đơn điệu, tẻ nhạt bao trùm cái huyện lỵ hẻo lánh này, dân cư toàn người già và bậc hưu trí, còn thảy lứa trẻ đều bỏ đi làm ăn tha phương hết. Những ngày này, niềm an ủi duy nhất với tôi là việc cứ độ chín giờ thì An sẽ xuất hiện (nàng chỉ đi học ca chiều), chân xỏ đôi dép lót bông đi trong nhà, băng qua hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp, bắt gặp tôi ở một mình thì chỉ dám lí nhí:

    “Chị Vy đâu ạ?”

    Thoạt đầu, nàng hồ như còn thẹn thùng với tôi, nàng chẳng hề hé miệng, nhưng dần dần, vào những lúc chị Vy bận việc, nàng vừa bước vẩn vơ quanh nhà vừa ngắm những khung tranh treo trên tường phòng khách, lát sau thì điềm nhiên ngồi xuống ghế đi văng đối diện, giương con mắt tò mò và hỏi tôi đang đọc sách gì. Đôi chập, nàng còn dạn dĩ đòi tôi đọc to thành tiếng. Và người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hồn nhiên ấy, khuôn mặt lúc nào cũng như đang khúc mắc điều gì, hễ nghe tôi đọc được một lát là mí mắt đã lim dim, khuôn miệng đáng yêu khép hờ… Lúc sực tỉnh, nàng vớ vội ba lô và trách tôi bằng giọng ngúng nguẩy dằn dỗi:

    “Tại anh đấy! Lại đi học muộn mất rồi!”

    Có lần, vào buổi sáng, độ chín giờ, trên đường ra tiệm tạp hoá mua thuốc lá (dù hồi ấy tôi hút cũng có chừng mực thôi), tôi thấy An đang chậm rãi bước xuống con dốc, trên người vận bộ đồng phục hơi rộng so với vóc người; bắt gặp tôi, gương mặt nàng thoáng ửng hồng, đôi mắt còn hơi ngơ ngác – có lẽ nàng mới ngủ dậy.

    “Chị Vy đang làm việc ạ?” nàng cất giọng khe khẽ.

    “Ừ,” tôi trả lời.

    “Anh đi đâu thế?”

    “Đi lang thang.”

    Nàng khẽ bật cười. Và rồi cả hai lại lặng lẽ lướt ngang qua nhau, như những người hoàn toàn xa lạ. Nhưng, khi tới chân dốc, tôi nghe tiếng nàng gọi lại:

    “Đợi em với!”

    Nhìn nét mặt, cử chỉ, giọng nói của An, không hiểu sao tôi lại tin rằng mọi chuyện thật ra chẳng tình cờ như nó vốn thế. Cơn mưa phùn rạng sáng đã tạnh hẳn nhưng mặt đường còn hơi ướt. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Mỗi khi muốn nói điều gì, An dấn lên ngang hàng như để trông rõ mặt tôi.

    “Em để ý rồi, hôm nào cũng thấy anh đọc cuốn này. Anh đọc mãi vậy không chán à?” Nàng vừa nhìn cuốn sách tôi cầm trên tay vừa nói ra bộ khó hiểu.

    “Chán chứ, nhưng vẫn đỡ hơn ngồi không,” tôi trả lời. “Cái khu này buồn thật, đến một cái sân bóng cũng không có.”

    Nàng hớn hở:

    “Trường em có sân bóng đấy!”

    “Không, bóng rổ cơ,” tôi vừa đáp vừa đá một viên sỏi vào lề đường.

    An nhìn tôi từ đầu đến chân, chắc nàng đoán rằng một người to cao, vạm vỡ như tôi ắt trên trường đại học phải vào dạng sao số lắm và tôi thì hồ hởi thuật lại chi li mọi giải đấu mình từng tham dự. Nàng im lặng lắng nghe, gật gù và tỏ vẻ thán phục.

    Khi chúng tôi về gần đến nhà, An bỗng dừng lại và nói:

    “Chị Vy kể rằng anh với anh Quyết từng xích mích và giận nhau đến giờ. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?” – nàng khẽ chạm vào tay tôi và nói – “Dẫu sao cũng là họ hàng với nhau, tội gì lại không làm lành cơ chứ?”

    “Bởi vì nó là một thằng chó má.”

    Nàng cụp mắt xuống và tôi thấy khóe miệng nàng run run.

    “Sao anh phải nặng lời thế?” Nàng ấm ức kêu lên, và lập tức xẵng giọng một cách ngoa ngoắt: “Nếu anh nói được thế chứng tỏ anh cũng chẳng ra gì!”

    “Thôi được rồi,” tôi im lặng một hồi rồi trả lời bằng giọng khô khốc. “Nhìn cái đầu gối này đi, có ba chiếc nẹp vít trong này, và sẽ găm ở đấy suốt đời. Tất cả là nhờ một pha vào bóng ‘không may’ của người yêu em đấy, của ông anh họ quý hoá, dù đếch ai cũng biết là nó cố tình. Những ngày nổi gió thế này, chân anh buốt đến mức muốn chặt phứt đi rồi quăng ra vườn!”

    “Em xin lỗi, em không biết,” nàng thổn thức đáp lời…

    Những ngày sau đó chúng tôi thường đi dạo cùng nhau. Đương nhiên tôi cũng lờ mờ đoán ra rằng nàng giả đò tình cờ gặp tôi trên con ngõ nhỏ – sau này nàng thường đắc chí kể lại chuyện đó. Sáng sáng, nàng đứng ở đầu con dốc cách nhà nàng không xa, cạnh một cây bàng trơ cành trụi lá. Sương mai đọng trên chiếc khăn choàng cổ màu đỏ nàng hay mang mỗi khi ra ngoài. Thường ngày nàng khoác áo đồng phục màu đen với quần thể thao ống suông màu xanh thẫm. Trong khi đi dạo, tôi kể nàng nghe về tuổi ấu thơ, thời niên thiếu của mình, về những khát vọng đôi mươi và những vỡ mộng trên thành phố; nàng chăm chú lắng nghe, mắt nhìn tôi vừa khâm phục vừa tò mò. Cuộc sống bề ngoài đơn điệu của tôi cứ thế trôi qua nhưng cả tôi lẫn An đều nhận ra mối tình thầm lặng mà trong những chuyến đi dạo ngày càng dài hơn, thường xuyên hơn đã được thổ lộ qua nhiều câu đùa lấp lửng như muốn thăm dò tình ý, qua những cử chỉ quan tâm vụng về, dè dặt.

    Tôi còn nhớ, một ngày thứ sáu rất bình thường, trời rét khô, hanh hao làm da dẻ nứt toác. Hôm ấy, An và chị Vy rủ nhau ra tiệm cắt tóc. Còn lại một mình, tôi nằm rũ người bên bàn bếp, đầu gối lên tay, tư lự trông ra rẻo vườn sau nhà – tôi nằm đó rất lâu, thấy trong lòng bâng khuâng khó tả, một nỗi buồn thật mơ hồ, dịu ngọt, say sưa, một cảm giác thân thuộc ùa về, bồi hồi xao xuyến như khi được trông thấy lại thời thơ ấu… Lát sau, vẫn ngồi đó, tôi lại nghe tiếng cười đùa vui vẻ ngoài sân, tiếng chân bước nhẹ êm trên hành lang rõ dần và liền đó là cái giọng lanh lảnh của chị Vy: “A lô!” Chắc lại thằng Quyết đây mà. “Có khi nào nó sắp về?” tôi thầm nghĩ trong lúc vẫn nằm yên chỗ cũ.

    Và liền đó, tôi thấy An bước vào gian bếp một mình. Nàng lẳng lặng tới cúi người trước mặt tôi, áp một bên má xuống bàn, mặt nàng sát đến mức tôi có thể ngửi thấy hương thơm dìu dịu toả ra từ mái tóc nàng.

    “Anh nghĩ cái gì thế?” nàng tròn xoe mắt hỏi.

    Lúc ấy tôi đăm đắm nhìn vào mắt An, rồi không hề báo trước, tôi hôn vào môi nàng. Nàng giật mình lùi phắt về sau, bất giác đảo mắt liếc quanh: chị Vy có thấy không? Mặt đỏ bừng, nàng hấp tấp chạy vụt ra ngoài, bất thần va ngay phải chị Vy đang từ hành lang tiến vào.

    “Ối, em xin lỗi!”

    “Đấy đấy, mắt với cả mũi!”

    Chị Vy vào, liếc nhìn tôi, vừa treo nón vừa nói giễu:

    “Mày lại trêu gì nó thế?”

    “Hở?” tôi làm giọng vờ vịt hết sức.

    Chị Vy ngồi xuống bàn, vẫn nhìn tôi bằng con mắt riết róng, ngờ vực như muốn nói: Anh cứ liệu cái thần hồn đấy! Vẫn còn sửng sốt vì pha chết hụt vừa rồi, tôi bèn vớ lấy cuốn sách bỏ dở lúc nãy, nâng cao sách che mặt giả vờ đọc. Chị Vy bày đồ lề ra bàn và bắt đầu trang điểm.

    “Chị đi đâu à?”

    “Ra ngân hàng gửi tiền cho thằng Quyết!” chị vừa dặm phấn vừa đáp gọn lỏn. “Chiều tao còn đi có việc nữa, nếu đói thì tự hâm lại đồ mà ăn nhé!”

    Chị Vy khoác chiếc măng tô màu be bằng dạ, tà áo chớm đầu gối, xoa xoa tay vào nhau trong lúc tôi đề ga hộ chị. Tôi phát mệt trước những lời căn dặn của chị. Thế mà vừa bước vào trong nhà, tôi bỗng dưng hoảng sợ với cái ý nghĩ rằng chỉ còn lại mình tôi với tôi, rằng nửa ngày đã trôi qua phung phí và nửa còn lại sẽ chẳng khá khẩm hơn: biết làm gì cho hết chiều đây? Lại ngủ? Hay đọc sách? Thế là đủ lắm rồi! Nhưng rồi tôi vẫn đọc sách, vẫn thiếp đi trên đi văng như thường lệ.

    Khi tôi tỉnh dậy thì đã gần năm giờ, đầu váng vất, toàn thân ê ẩm. Căn nhà vốn trống trải như càng rộng thêm ra, chung quanh tối sầm, không cả nhìn rõ mặt người trên khung ảnh gia đình treo tường. Qua ô cửa kính trên thềm nghỉ cầu thang, tôi thấy bầu trời xam xám, buồn buồn, như sắp đổ cơn giông. Ngoài vườn không có gió, trong nhà tĩnh lặng như một nấm mồ và chính tôi cảm thấy toàn thân như mục ruỗng, tan ra…

    Sao lại ngủ đẫy mắt thế không biết! Tôi vò đầu tự trách mình. Giờ thì biết đi đâu đây? À, có lẽ giờ này An sắp tan học!

    Với ý nghĩ đó trong đầu, tôi chộp ngay lấy chiếc áo bành tô treo trên chiếc móc áo gần cửa ra vào, chẳng thèm xỏ giày cho tử tế, đoạn đâm bổ ra ngoài đường. Một cơn gió bất ngờ thốc vào má, vào tai lạnh buốt như kim châm. Tôi chậm rãi leo lên con dốc thoai thoải về phía đường ray, băng qua cánh đồng cằn cỗi, qua những đụn rạ toả khói mờ mờ về phía thị trấn, toàn thân rúm ró cả lại. Trời tối dần. Vừa đi, tôi vừa nghĩ về An.

    Tôi đến ngôi trường ấy vừa sát giờ tan ca. Rồi tiếng trống gióng lên ba hồi dài, âm thanh trầm trầm lan ra trong không gian trống trải, ông bảo vệ đội chiếc mũ cối từ căn phòng nhỏ quét vôi vàng rề rà bước ra mở thanh chốt cổng. Học sinh nô nức ùa ra như đàn ong vỡ tổ, vài đứa nhanh chân đã tụm thành một tốp rảo bước trên sân trường. Chỉ lát sau là không gian đã tĩnh mịch trở lại, chỉ còn nghe tiếng chổi loẹt xoẹt, đều đều của người lao công.

    Trời đã tối không còn nom rõ mặt người, chỉ thấy một phòng học ngay sát cầu thang tầng ba là vẫn sáng đèn. Vì bận ôn thi cuối cấp, lớp An thường tan muộn hơn. Tôi ngồi ở ghế đá dưới hàng cây xà cừ đợi nàng. Tôi nhớ vài cậu học sinh lớp nhỡ không chịu về ngay mà còn nán lại ném dép chọc tổ ong, lúc sốt sắng chạy ngang qua tôi thì ném đi những tia nhìn ranh mãnh như muốn nói: Này, anh kia, đến đón người yêu phải không?

    Lát sau, tôi thấy An trùm khăn kín đầu, khoác tay cùng một bạn học khác chầm chậm bước xuống cầu thang, rồi đôi bạn vẫy tay chào nhau ở khúc rẽ dẫn về nhà để xe. Tôi mừng rỡ tiến đến đón nàng:

    “An!”

    Nàng giương cặp mắt ngơ ngác nhìn quanh, khựng lại một thoáng, rồi ngay lập tức bổ nhào về phía tôi. Trong nỗi sửng sốt hân hoan, giọng nàng vang lên trong trẻo, không kìm nổi niềm vui sướng:

    “Ôi! Anh đợi lâu chưa? Trời ơi, lâu lắm rồi mới có người đi đón thế này!” Nàng vừa khoác tay tôi vừa hí hửng nói.

    Lúc gần đến cổng trường, An chợt dừng lại, nàng đã để quên chiếc khăn choàng trong gầm bàn. Chúng tôi đành rảo bước trở lại. Những học sinh cuối cùng đã ra về hết, đường nét của khu nhà hoang vắng hiện lên dưới ánh đèn nhập nhoạng trông rờn rợn khó tả, hành lang dài hun hút. Trong lúc An khum người mở thanh chốt cửa, tôi đứng tựa lưng vào lan can đợi nàng. Lát sau nàng trở ra, chiếc khăn choàng màu đỏ đã quấn hờ trên cổ và trong bóng tối mờ mờ, tôi thấy đôi mắt của nàng đang nhìn tôi tràn ngập âu yếm. Đúng ra là lúc ấy, tôi đã chẳng còn nhìn thấy gì khác ngoài đôi mắt của nàng. Tôi lập tức hôn vào đôi môi giá lạnh, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn giá lạnh, tôi dẫn nàng về góc hành lang tối tăm, heo hút…

    Từ sau lần ấy, An và tôi bắt đầu một mối quan hệ mập mờ, giấu diếm dưới sự con mắt riết róng của chị Vy. Cơ hồ chị đã nhận ra điều gì ám muội giữa hai chúng tôi, nhưng ngoài mặt thì chị vẫn hoàn toàn bình thường, thi thoảng, chị vời chúng tôi ra chơi tú lơ khơ. Có chị ở cạnh, An liền quay ngoắt thái độ, bề ngoài trưng ra vẻ thờ ơ giả hiệu; trái lại tôi thấy vui vẻ một cách khoái trá trước màn đóng kịch của nàng. Nhiều lần, khi đang đi dạo ngoài trời, lựa lúc chung quanh không có ai, tôi kéo nàng lại gần và hôn nàng đắm đuối. Bây giờ thì thật khó mà dứt nàng ra được, nàng ngoan ngoãn chiều theo mọi âu yếm nơi tôi bằng vẻ cam chịu thơ ngây và tính thẹn thùng của lứa tuổi nàng nữa. Và bao giờ những phút giây lén lút vụng trộm ấy cũng để lại trong tôi dư vị ngọt ngào, đê mê, đồng thời là cảm giác rạo rực, bức bối vì những cuộc ái ân chưa thật đến nơi đến chốn. Xa nàng, những khao khát giày vò tôi…

    3.

    Khoảng hơn một tuần sau lần đón nàng ở trường, tôi bị đuổi cổ khỏi nhà chị Vy, thâm tâm không khỏi bàng hoàng vì sự chia ly ập đến quá đỗi nhục nhã, đột ngột.

    Một lần sau bữa ăn trưa, chị Vy kêu mệt rồi đi nằm ở phòng bên, còn tôi ngồi ở góc phòng xem phim trên chiếc bàn gấp được chừng ba mươi phút thì An tới. Nàng vẫn mặc bộ đồng phục như thường nhật và trông nàng có vẻ phấn chấn.

    “Chị Vy đâu rồi?” Nàng nói rồi vui vẻ ngồi xuống cạnh tôi, cằm tựa vào đầu gối. “Ồ, phim này hồi bé em xem rồi, cái gì mà… hình như có một ông sát thủ với một con bé… xong rồi kết buồn phải không?”

    “Em yên lặng xem nào,” tôi dịu giọng nói và choàng tay ôm ngang khuôn ngực nhỏ nhắn của nàng. “Mà xem này, trên người em cũng có nhiều tàn nhang, ngộ thật!”

    “Thôi nào, anh hư thế,” nàng khẽ đánh vào tay tôi và thì thào…

    Bất thần có tiếng chân bước êm ru từ ngoài hành lang. Chị Vy hiện ra trên ngưỡng cửa, đầu tóc rối tung, miếng hạ sốt vắt ngang vầng trán. Thoạt đầu, cặp mắt đen sắc của chị ánh lên một vẻ vừa căm phẫn, vừa ma mãnh như muốn khiêu khích. Chị nhếch mép cười rồi lắc lắc đầu. An vùng khỏi tôi, đứng bật dậy, vừa tủi hổ chỉnh lại áo quần vừa cúi gằm mặt đâm bổ xuống lầu…

    Chị Vy chạy vụt vào phòng và vung tay tát tôi một cái rất đau, vừa nhìn tôi tôi đầy hằn học vừa hét lên: “Sao mày không đội luôn áo ngực nó lên đầu luôn đi? Nào, có gì mà phải ngạc nhiên thế, mày vần vò nó bao nhiêu hôm rồi mà? Mày cứ tưởng tao không biết phỏng? Tao biết hết! Lại còn ngay trong nhà này!”

    “Chị ngồi xuống giường đi đã, nghe em…” Tôi lắp bắp tìm lời.

    Buổi chia tay hôm ấy, chiều cuối năm buồn da diết, cái lạnh cô liêu đã giăng khắp mọi chốn. Cánh đồng trơ trọi với những luống cày đen trũi như dài thêm ra. Trên khoảng trời xam xám buồn buồn, một con diều hâu cứ chao liệng mãi; con chim bình thản sà xuống rồi lại đập cánh vươn lên, đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ, dường như nó chẳng mảy may phiền muộn, cũng chẳng thấy lý do gì phải phiền muộn vì tình cảnh đơn độc. Sương mù la đà trên mặt đường ẩm ướt như một làn bụi.

    Như thường lệ, An đứng đợi tôi dưới mái ở gần cổng trường. Chúng tôi lặng lẽ lê bước theo ngõ phố vòng vèo và tăm tối, không ai nói một lời nào. Trông nàng rầu rĩ, mỏi mệt, môi nàng mấp máy như muốn nói điều gì.

    “Anh này,” nàng bước chậm lại và cất giọng khe khẽ, “từ mai anh không cần đi đón em nữa đâu, em sẽ nhờ bạn chở đi.”

    “Ừ,” tôi ngập ngừng trả lời, mắt không nhìn sang nàng, “mai anh cũng đi rồi.”

    An khựng lại một thoáng rồi lại tiếp tục bước đi, nàng đi trước còn tôi đi sau. Khi đến cạnh gốc cây bàng, nàng bỗng quay lại và tôi nhìn thấy gò má nàng ướt đẫm, nàng khóc.

    “Vậy là cứ thế mà đi thật đấy?” Nàng nghẹn ngào nói qua làn nước mắt, bờ vai run run vì sương lạnh – nàng chỉ mặc áo sơ mi mỏng bên trong áo khoác đồng phục. “Là sẽ không gặp nhau nữa đấy?”

    Nhìn gương mặt nàng, tôi chợt thấy tiếc dáng điệu vô tư thơ trẻ của nàng, mắt nàng nhìn tôi với vẻ bi ai đầy khó hiểu. Người con gái trẻ trung tôi đã tán tỉnh một cách bông lơn, tôi đã lợi dụng nàng để thỏa mãn sự hẹp hòi trong mình, đang lặng lẽ nhìn tôi bằng đôi mắt buồn da diết. Nhìn dáng vẻ ủ rũ của nàng, cảm tưởng tất cả mọi thứ hết sức nặng nề. Và thật sự không thể tin nổi mai đây rồi tôi sẽ quên nàng, hay nàng sẽ quên tôi, rằng tất thảy rồi sẽ chìm vào quên lãng và mọi luyến lưu nào có ích gì…

    “An này, dù sao thì em sẽ không quên anh ngay đấy chứ?” tôi nói.

    Tôi cầm tay nàng rồi áp lên má tôi. An gạt nước mắt, áp tay kia của tôi lên má nàng; nàng cười gượng như sợ làm tan mất bóng đêm. Lúc ấy, tôi bất giác ôm lấy nàng, hôn lên cổ, lên vai, lên tóc nàng.

    “Em bảo này,” nàng khẽ gỡ tôi ra và dè dặt nói. “Nửa năm nữa thôi là em tốt nghiệp rồi. Lúc đó em cũng sẽ lên Hà Nội. Thế… thế… anh đợi em nhé? Em không ngại gì anh Quyết, có lẽ chia tay em, anh ấy còn mừng là khác, nhưng chị Vy thì… ôi, em sợ chị ấy lắm… ngộ nhỡ chị ấy lại làm om sòm lên… Thôi bà em kia rồi, em phải vào nhà đây.”

    Nàng chạy về phía cánh cổng:

    “Anh nhớ nhé! Về đi anh, kéo khoá áo lên khỏi lạnh!”

    Tôi nhìn theo bóng nàng, cố nán lại nghe tiếng bước chân nhè nhẹ xa dần. Bóng tối dày đặc đã bao trùm con ngõ, tôi kéo khoá áo kín cổ, vừa xoa hai tay vào nhau vừa chậm rãi bước về ngôi nhà của bá tôi, thầm ước rằng trong ấy sẽ chẳng có ai, rằng một phép màu sẽ xảy đến và…

    Gian khách sáng đèn, cửa để ngỏ, từ sân giếng có tiếng trò chuyện râm ran vọng ra. Liền đó, tôi chạm mặt cả hai chị em Vy trong phòng bếp, chị Vy im lặng nhìn tôi bằng ánh mắt khinh khi, và tôi bắt được cái liếc nhìn của thằng Quyết xuống đầu gối tôi…

    Cuối cùng, chính nó cất giọng phá tan bầu không khí gượng gạo bằng cái giọng giả lả cố hữu:

    “Chú trốn ở đâu mà kỹ thế?”

    Ngay đêm hôm ấy tôi sửa soạn hành lý rồi đáp chuyến tàu sau chót về thẳng quê nhà.

    4.

    Từ dạo ấy tôi không bao giờ ghé chơi nhà chị Vy nữa. Duy có một lần cách đây không lâu, vào ngày chị đi lấy chồng, do bố tôi đương đóng quân ở Móng Cái nên tự tôi phải cầm lái để chở mẹ về chung vui. Từ xa tôi đã trông thấy bá tôi đứng tiếp khách một mình – trước đó vài năm ông bác rể tôi đã đột ngột từ trần; bá vận bộ áo dài diêm dúa chiết eo lồ lộ những ngấn mỡ ở bụng, mặt trát phấn dày cộm. Còn Quyết thì lăng xăng chỉ đạo, thắng lên mình bộ âu phục cắt may đỏm dáng đến mức có thể tưởng lầm cậu chàng là chú rể cũng nên. Trông thấy mẹ con tôi, Quyết lập tức sán đến, hỉ hả tay bắt mặt mừng. Anh ta vẫn xưng hô với tôi theo cái lối “chú chú anh anh” dạo nào.

    Lát sau, tôi bắt gặp chị Vy trên phòng trang điểm cho cô dâu. Chị tự hào kháo chuyện với mẹ con tôi rằng chị đã quen một anh chàng ở miền trong, và rất hài lòng vì cuối cùng đã thuyết phục được anh này về đây ở rể.

    “Nếu Huy (đó là tên chồng chị) không về đây, còn lâu cháu mới cưới!” chị cao giọng.

    Còn về câu chuyện dạo trước, chị gượng cười coi như chuyện cũ gác sang bên, chẳng đáng nhắc lại làm gì. Theo như chị nói, đến Tết năm ấy thì bà ngoại An ngã bệnh rồi qua đời, giờ ngôi nhà với bờ giậu thâm thấp cùng mái hiên giăng giàn hoa giun đó bỏ không, mỗi tháng một lần có người ghé qua lo chuyện quét tước, hương hoả. Cũng cái năm ấy, bố nàng lĩnh án bảy năm trong một pha chết chùm, còn nàng thì tốt nghiệp phổ thông xong liền theo mẹ về quê ngoại ở trong miền Nam. Từ đó không ai nghe tin gì về nàng, và có lẽ chẳng ai còn nhớ tới nàng nữa.

    Tôi cũng đã dần quên gương mặt nàng. An, khi ấy nàng mười bảy tuổi, lúc nàng rảo những bước nhanh qua con ngõ nhỏ, dáng dong dỏng cao và hai dải bím tóc đen nhánh đung đưa sau tấm lưng. Riêng điều này thì tôi nhớ mãi – gò má nàng lấm tấm tàn nhang, càng rành rọt hơn lúc nàng cười, bao giờ cũng ửng hồng vì sương giá… Thi thoảng, khi đợt gió mùa đầu tiên ùa về làm bầu trời chuyển xám, khi tôi từ ngoài đường trở về nhà dậm dậm chân, xoa đôi bàn tay giá lạnh, tôi sực nhớ rằng đã từng có một mùa đông như thế, một mùa đông gắn liền với mối tình thơ trẻ cùng người con gái mà gương mặt theo năm tháng đã dần phai nhạt trong tâm trí tôi.

    “Sao thế, vẫn còn nhung nhớ con bé à?” Chị Vy huých khẽ vào tay tôi và nói bằng giọng đùa đùa.

    “Ồ, bậy nào…”

    Truyện đăng báo Văn nghệ số 5 ngày 31/1/2026

    Trang: 1 2


  • Ivan Bunin: Tôi viết như thế nào?

    Đọc thử

    Ivan Bunin, nhà văn Nga đầu tiên nhận giải Nobel

    Tôi viết thế nào nhỉ? Hồi trẻ, tôi rất đãng trí. Tôi luôn muốn viết, nhưng đồng thời cũng muốn sống, nên việc viết lách không phải lúc nào cũng diễn ra như tôi mong đợi. Hồi trẻ, tôi gần như lúc nào cũng viết quá vội vàng, bừa bãi. Ngày ấy tôi cũng vậy thôi, trong khi mọi người viết về tôi như thể tôi có một cách viết tuyệt vời trong từng câu chữ vậy.

    …Sáng tạo câu chữ! Nhưng tôi chưa bao giờ làm vậy cả. Mà “sáng tạo” là gì cơ chứ? Suy cho cùng, đối với một nhà văn, hình thức gắn bó mật thiết với nội dung và bắt nguồn từ đó.

    Sau này, công việc của tôi diễn tiến suôn sẻ hơn, bình thản hơn. Tôi đã quen làm việc trong sự yên bình – thành thử, tôi thường lui về nơi cô độc, về miền quê, hoặc như sau này tôi đã làm, là về Ý, về Capri. Nhưng tôi luôn viết một cách say mê. Tôi ngồi xuống viết, và điều đó có nghĩa là tôi sẽ ngồi đó rất lâu, cho đến khi tâm trí hoàn toàn tự do. Và, tiện đây, tôi không bao giờ viết, và chưa bao giờ viết, vào ban đêm. Nói chung, tôi không làm việc khi tôi lo lắng…

    Cảm hứng viết đến với tôi như thế nào? Thông thường, nó đến hoàn toàn bất ngờ. Cảm hứng viết luôn xuất phát từ một cảm giác phấn khích, một xúc cảm buồn vui, thường gắn liền với một bức tranh nào đó đang bày ra trước mắt, với hình ảnh một con người cụ thể, với một tình cảm con người… Đó chính là khoảnh khắc phát khởi. Đôi khi tôi giấu kín sự khởi phát này trong lòng rất lâu, đôi khi tôi ngồi xuống viết ngay lập tức, nếu điều đó diễn ra ở làng quê, trong im lặng, trong cô đơn, trong một lối mòn công việc. Nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là, khi cầm bút lên, tôi đã biết trước mọi thứ nói chung mà mình sẽ viết. Điều này hiếm khi xảy ra. Tôi thường bắt đầu công việc của mình không chỉ khi chưa có một cốt truyện rõ ràng trong đầu, mà còn chưa hiểu rõ mục đích cuối cùng của nó. Chỉ có ý nghĩa chung nhất mới hiện ra trong tôi khi tôi bắt đầu. Không phải một ý tưởng có sẵn, mà chỉ có ý nghĩa bao quát nhất của tác phẩm mới chiếm hữu tôi vào khoảnh khắc khởi phát này – có thể nói là chỉ có âm điệu của nó. Và tôi thường không biết mình sẽ kết thúc thế nào: đôi khi ta hoàn thành một tác phẩm hoàn toàn khác so với trù tính ban đầu, hoặc thậm chí khác so với khi ta đang làm việc. Nhưng, tôi xin nhắc lại, điều quan trọng nhất là âm điệu tổng thể của toàn bộ tác phẩm phải được xác định ngay từ đầu…

    Đúng vậy, câu đầu tiên rất quan trọng. Trên hết, nó quyết định nhịp điệu của tác phẩm, âm thanh tổng thể của tác phẩm. Và còn một điều nữa. Nếu bạn không thể phát âm đúng âm đầu, chắc chắn bạn sẽ bị nhầm lẫn và gạt nó sang một bên, hoặc đơn giản là vứt nó đi vì nó vô giá trị…

    …Tôi chưa bao giờ viết dưới ảnh hưởng của bất cứ tác nhân nào bên ngoài, mà luôn viết “từ bên trong”. Một điều gì đó phải nảy nở bên trong tôi, và nếu điều đó không tồn tại, tôi không thể viết. Tôi chưa bao giờ có thể, và không thể, cách điệu hóa. Tôi không thể và sẽ không viết “theo tinh thần” của bất cứ điều gì. Tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình bất kỳ nhiệm vụ bên ngoài nào trong văn chương… Khi làm thơ, tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình nhiệm vụ cố tình phá vỡ câu thơ, đưa “sự đổi mới” vào đó. Nhân tiện, tôi không phân biệt thơ với văn xuôi. Cả hai đều có cùng nhịp điệu… vấn đề chỉ là thay đổi tiết tấu của nó.

    “Từ bên ngoài” cũng không ảnh hưởng đến tôi theo cách nào khác. Tôi chưa bao giờ được truyền cảm hứng viết lách từ văn chương của người khác. Nhưng dĩ nhiên, tác phẩm hay luôn khơi dậy khát khao viết lách. Về điểm này, tôi hoàn toàn trái ngược với một nhà văn từng nói rằng khi không muốn viết, ông ta sẽ lấy Kruglov hay Zlatovratsky từ kệ sách ra. “Tồi quá, thà tự viết còn hơn!” Tôi nhắc lại – bí mật của cảm giác ban đầu thôi thúc một nhà văn sáng tác rất khó nắm bắt. Cảm giác này đã đến với tôi trên cánh đồng, trên đường phố, trên biển, ở nhà, khi đáp lại ánh sáng này hay ánh sáng kia, hay khuôn mặt một người mà tôi gặp, đôi khi trong lúc đọc. Nhưng bằng cách nào? Chỉ một từ, thường là từ bình thường nhất, một cái tên nào đó, đã khơi dậy cảm giác mà từ đó ý chí viết lách được khơi nguồn. Và rồi, bằng cách nào đó, ta ngay lập tức nghe thấy tiếng gọi mà từ đó toàn bộ tác phẩm được sinh ra…


  • Flannery O’Connor bàn về truyện ngắn

    Đọc thử

    Dưới đây là bản dịch chương 5 – Writing Short Stories trong tiểu luận Mysteries and Manners của O’Connor.

    Cách viết một truyện ngắn

    Tôi từng nghe người ta nói rằng truyện ngắn là một trong những hình thức văn học khó nhất, và tôi luôn cố gắng tìm hiểu tại sao mọi người lại cảm thấy như vậy về một thể loại mà tôi cho là một trong những cách biểu đạt tự nhiên và cơ bản nhất của con người. Xét cho cùng, bạn bắt đầu nghe và kể chuyện từ khi còn nhỏ, và dường như chẳng có gì quá phức tạp trong việc này. Tôi đồ rằng hầu hết các bạn đã kể chuyện suốt đời mình, vậy mà giờ đây các bạn lại đến ngồi đây – để tìm hiểu cách làm điều đó.

    Rồi tuần trước, sau khi tôi thảo ra những suy nghĩ bình thản này để nói vào ngày hôm nay, tôi đã choáng váng khi các bạn gửi tới bảy bản thảo truyện nhờ tôi đọc. Sau trải nghiệm này, tôi thấy mình sẵn sàng thừa nhận rằng nếu truyện ngắn không phải là một trong những hình thức văn học khó nhất, thì ít nhất nó cũng khó khăn hơn đối với một số người.

    Tôi vẫn ngờ rằng hầu hết mọi người sinh ra với một năng khiếu kể chuyện nào đó, nhưng năng khiếu này bị cùn mòn theo thời gian. Tất nhiên, khả năng tạo ra sự sống bằng ngôn từ về cơ bản là một món quà. Nếu bạn có nó ngay từ đầu, bạn có thể phát triển nó; còn nếu bạn không có, tốt nhất là quên nó đi. Nhưng tôi nhận thấy rằng những người không có năng khiếu này thường là những người quyết tâm viết truyện nhất. Tôi cam chắc họ là những người viết sách và bài tạp chí về cách viết truyện ngắn. Tôi có một người bạn đang học một khóa học qua thư về chủ đề này, và cô ấy đã chia sẻ với tôi một vài tiêu đề chương – chẳng hạn như “Công thức viết truyện cho nhà văn,” “Cách tạo dựng nhân vật,” “Xây dựng cốt truyện nào!” Hình thức tham nhũng này tốn của cô ấy hai mươi bảy đô la.

    Tôi cảm thấy rằng việc thảo luận về viết truyện theo các khía cạnh cốt truyện, nhân vật và chủ đề giống như cố gắng tả nét biểu cảm trên một khuôn mặt bằng cách chỉ ra vị trí của mắt, mũi và miệng. Tôi từng nghe sinh viên nói, “Em rất giỏi về cốt truyện, nhưng em không biết xử lý các nhân vật ra sao,” hoặc “Em có chủ đề này nhưng không xây nổi cốt truyện cho nó,” và có lần tôi nghe một bạn nói, “Em đã có câu chuyện nhưng em thiếu kỹ thuật.” Kỹ thuật là từ mà tất cả họ đều viện ra. Tôi từng nói chuyện với một câu lạc bộ nhà văn, và trong phần hỏi đáp, một người tốt bụng đã nói, “Cô có thể mách tôi kỹ thuật để viết một truyện ngắn theo kiểu khung-lồng-khung được không?” Tôi phải thừa nhận rằng mình quá khù khờ đến mức không biết đó là cái gì, nhưng cô ấy quả quyết với tôi rằng có một thứ như vậy vì cô ấy đã tham gia một cuộc thi viết một truyện như thế với giải thưởng là năm mươi đô la.

    Nhưng gạt sang bên những người không có tài năng, vẫn có những người có tài nhưng loay hoay vì họ không thực sự biết truyện là gì. Tôi cho rằng những điều hiển nhiên là khó định nghĩa nhất. Ai cũng nghĩ mình biết truyện là gì. Nhưng nếu bạn yêu cầu một sinh viên mới bắt đầu viết truyện, bạn có thể nhận được gần như bất cứ thứ gì – một thiên hồi ký, một sự kiện, một quan điểm, một giai thoại, bất cứ thứ gì trên đời trừ một câu chuyện. Một câu chuyện là một hành động kịch tính hoàn chỉnh – và trong những truyện hay, nhân vật được lột tả thông qua hành động, và hành động được kiểm soát thông qua nhân vật, và kết quả của điều này là ý nghĩa khởi phát từ toàn bộ trải nghiệm được phô bày. Tôi muốn nói rằng một câu chuyện là một sự kiện kịch tính liên quan đến một con người vì họ là con người, và là một con người cụ thể – tức là, vì họ chia sẻ điều kiện chung của con người và trong một tình huống con người cụ thể nào đó. Một câu chuyện luôn liên quan mật thiết đến tính bí ẩn của nhân cách. Tôi đã cho một bà cụ ở vùng quê gần nhà mượn vài truyện, và khi bà trả lại, bà nói, “Ừ, mấy câu chuyện đó cốt chỉ cho thấy một số người sẽ làm gì,” và tôi tự nhủ rằng đúng là thế; khi bạn viết truyện, bạn phải chấp nhận bắt đầu từ chính điểm đó – cho thấy một số người cụ thể sẽ làm gì, rằng họ sẽ làm gì bất chấp mọi sự.

    Đây là một mức độ rất khiêm tốn để bắt đầu, và hầu hết những người nghĩ rằng mình muốn viết truyện không sẵn lòng bắt đầu từ đó. Họ muốn viết về các đề tài, không phải con người; hoặc về các vấn đề trừu tượng, không phải là tình huống cụ thể. Họ có một ý tưởng, một cảm xúc, một cái tôi tràn đầy, hoặc họ muốn trở thành Nhà Văn, hoặc họ muốn truyền đạt sự thông thái của mình cho thế giới theo cách đủ đơn giản để thế giới có thể tiếp thu. Bất luận ra sao, họ không có một câu chuyện và họ cũng không sẵn lòng viết nếu có; và khi không có một câu chuyện, họ bắt đầu tìm kiếm một lý thuyết, một công thức, hoặc một kỹ thuật.

    Tuy nhiên, không có điều nào trong số này nói rằng khi bạn viết một truyện, bạn phải quên đi hoặc từ bỏ bất kỳ lập trường đạo đức nào mà bạn nắm giữ. Niềm tin của bạn sẽ là ánh sáng chỉ đường dẫn lối cho bạn, nhưng chúng không phải là thứ bạn nhìn thấy và cũng không phải là thứ có thể thay thế cho việc nhìn. Đối với nhà văn tiểu thuyết, mọi thứ đều có điểm kiểm nghiệm qua đôi mắt, và đôi mắt là quan năng cuối cùng liên quan đến toàn bộ nhân cách và cả thế giới mà nó có thể chứa đựng. Nó liên quan đến sự phán đoán. Sự phán đoán bắt đầu từ hành động nhìn, và khi nó không bắt đầu từ đó, hoặc khi nó bị tách rời khỏi tầm nhìn, thì một sự rối loạn sẽ nảy mầm trong tâm trí và lan sang câu chuyện.

    Tiểu thuyết hoạt động qua các giác quan, và tôi nghĩ một lý do khiến mọi người thấy khó viết truyện là vì họ quên mất cần bao nhiêu thời gian và kiên nhẫn để thuyết phục qua các giác quan. Không có độc giả nào thực sự trải nghiệm, thực sự cảm nhận được câu chuyện sẽ tin bất cứ điều gì nếu tiểu thuyết gia chỉ nói suông. Đặc tính rõ ràng nhất của tiểu thuyết là nó đối mặt với thực tại qua những gì có thể thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm vào. Đây là điều không thể chỉ nhẩm trong đầu; nó phải được lĩnh hội bằng thói quen. Nó phải trở thành cách bạn thường xuyên nhìn nhận mọi thứ. Nhà tiểu thuyết phải nhận ra rằng anh ta không thể tạo ra lòng trắc ẩn bằng lòng trắc ẩn, cảm xúc bằng cảm xúc, hay suy nghĩ bằng suy nghĩ. Anh ta phải cung cấp tất thảy những thứ này bằng một cơ thể; anh ta phải tạo ra một thế giới có trọng lượng và độ giãn rộng.

    Hình tượng về Flannery O’Connor gắn liền với con công – loài vật yêu thích của bà. Nguồn ảnh: Joe McTyre

    Tôi nhận thấy rằng các truyện của những nhà văn mới bắt đầu thường tràn ngập cảm xúc, nhưng cảm xúc đó thường rất mông lung. Đối thoại thường diễn ra mà không có sự hỗ trợ của bất kỳ nhân vật nào bạn thực sự có thể nhìn thấy, và những suy nghĩ không được kiểm soát tràn ra từ mọi ngóc ngách của câu chuyện. Lý do thường là vì sinh viên chỉ quan tâm đến suy nghĩ và cảm xúc của mình, chứ không phải hành động kịch tính, và họ quá lười biếng hoặc kiêu kỳ để hạ mình xuống mức cụ thể nơi hư cấu hoạt động. Họ nghĩ rằng sự phán đoán tồn tại ở một nơi và cảm giác giác quan ở một nơi khác. Nhưng đối với nhà văn hư cấu, sự phán đoán khởi phát từ những chi tiết anh ta nhìn thấy và cách anh ta nhìn chúng.

    Những nhà văn hư cấu không quan tâm đến các chi tiết cụ thể này phạm phải điều mà Henry James gọi là “sự cụ thể yếu ớt.” Đôi mắt sẽ lướt qua từ ngữ của họ trong khi sự chú ý thì ngủ quên. Ford Madox Ford đã dạy rằng bạn không thể để một người xuất hiện đủ lâu để bán một tờ báo trong truyện mà không đặt anh ta vào đó với đủ chi tiết để khiến độc giả nhìn thấy anh ta.

    Tôi có một người bạn đang học diễn xuất ở New York từ một bà giáo người Nga được cho là xuất sắc trong việc dạy diễn viên. Bạn tôi viết thư kể rằng tháng đầu tiên họ không nói một câu thoại nào, họ chỉ học cách nhìn. Học cách nhìn là cơ sở để học tất cả các nghệ thuật trừ âm nhạc. Tôi biết khá nhiều nhà văn hư cấu vẽ tranh, không phải vì họ giỏi vẽ, mà vì nó giúp ích cho việc viết của họ. Nó buộc họ phải nhìn mọi thứ. Viết hư cấu rất hiếm khi là việc nói ra điều gì; nó là việc phô bày điều đó.

    Tuy nhiên, nói rằng tiểu thuyết tiến triển bằng việc sử dụng chi tiết không có nghĩa là việc chất đống chi tiết một cách máy móc, vô tư. Chi tiết phải được kiểm soát bởi một mục đích tổng thể, và mọi chi tiết phải nhằm phục vụ mục đích đó. Nghệ thuật là sự chọn lọc. Những gì có ở đó là thiết yếu và tạo ra chuyển động. Tất cả những điều ấy đòi hỏi thời gian. Một truyện ngắn hay không nên có ít ý nghĩa hơn một tiểu thuyết, cũng không nên có hành động kém hoàn chỉnh hơn. Không có gì thiết yếu đối với trải nghiệm chính yếu có thể bị bỏ qua trong một truyện ngắn. Tất cả hành động phải được giải thích thỏa đáng về mặt động cơ, và phải có một phần đầu, một phần giữa, và một phần kết, mặc dù không nhất thiết phải theo trình tự đó. Tôi nghĩ nhiều người quyết định muốn viết truyện ngắn vì chúng ngắn, và họ nghĩ chúng ngắn ở mọi khía cạnh. Họ nghĩ rằng một truyện ngắn là một hành động không hoàn chỉnh trong đó rất ít điều được thể hiện và rất nhiều điều được ngụ ý, và họ nghĩ bạn ngụ ý điều gì đó bằng cách bỏ nó ra. Rất khó để khiến một sinh viên từ bỏ ý niệm này, vì họ nghĩ rằng khi bỏ một thứ gì đó ra, đó là sự tinh tế; và khi bạn nói với họ rằng họ phải đặt một thứ gì đó vào trước khi có bất cứ thứ gì, họ nghĩ bạn là một kẻ dốt nát thiếu nhạy cảm.

    Có lẽ câu hỏi trung tâm cần xem xét trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về truyện ngắn là chúng ta muốn nói gì khi nói “ngắn”. Ngắn không có nghĩa là hời hợt. Một truyện ngắn nên có chiều sâu và mang lại cho chúng ta một trải nghiệm về ý nghĩa. Tôi có một bà cô nghĩ rằng không có gì xảy ra trong một câu chuyện trừ khi có ai đó kết hôn hoặc bị bắn vào cuối truyện. Tôi đã viết một câu chuyện về một gã lang thang cưới cô con gái ngốc nghếch của một bà già để chiếm đoạt chiếc ô tô của bà ta. Sau đám cưới, hắn đưa cô con gái đi hưởng tuần trăng mật bằng chiếc ô tô và bỏ rơi cô ta tại một quán ăn rồi lái xe đi một mình. Đó là một câu chuyện hoàn chỉnh. Không còn gì liên quan đến bí ẩn của nhân cách gã đó có thể được thể hiện qua sự kịch hóa cụ thể đó. Nhưng tôi chưa bao giờ thuyết phục được bà cô rằng đó là một câu chuyện hoàn chỉnh. Bà ấy muốn biết chuyện gì xảy ra với cô con gái ngốc nghếch sau đó.

    Cách đây không lâu, câu chuyện đó được chuyển thể thành một vở kịch truyền hình, và người chuyển thể, biết việc của mình, đã để gã lang thang đổi ý, quay lại đón cô con gái ngốc nghếch, và cả hai cùng lái xe đi, cười điên dại. Bà cô tôi tin rằng cuối cùng câu chuyện đã hoàn chỉnh, nhưng tôi có những cảm nhận khác về nó – những cảm nhận không thích hợp để nói ra công khai. Khi bạn viết một câu chuyện, bạn chỉ cần viết một câu chuyện, nhưng sẽ luôn có những người từ chối đọc câu chuyện bạn đã viết.

    Và điều này tự nhiên dẫn đến câu hỏi đáng sợ về việc bạn viết truyện hư cấu cho loại độc giả nào. Có lẽ mỗi chúng ta nghĩ rằng mình có một giải pháp cá nhân cho vấn đề này. Về phần mình, tôi có một quan điểm rất cao về nghệ thuật tiểu thuyết và một quan điểm rất thấp về cái gọi là “độc giả trung bình”. Tôi tự nhủ rằng mình không thể thoát khỏi họ, rằng đây là nhân cách tôi phải giữ cho tỉnh táo, nhưng đồng thời, tôi cũng phải cung cấp cho độc giả thông minh trải nghiệm sâu sắc hơn mà họ tìm kiếm trong tiểu thuyết. Thực ra, cả hai loại độc giả này chỉ là những khía cạnh của nhân cách của chính nhà văn, và xét cho cùng, độc giả duy nhất mà nhà văn có thể đoán biết gì đó chính là bản thân họ. Tất cả chúng ta đều viết ở mức độ hiểu biết của riêng mình, nhưng đặc tính của tiểu thuyết là bề mặt chữ nghĩa của nó có thể mang lại sự giải trí ở mức vật chất rõ ràng cho một loại độc giả, trong khi cùng bề mặt đó có thể mang lại ý nghĩa cho người được trang bị để trải nghiệm nó ở đó.

    Ý nghĩa là thứ giữ cho truyện ngắn không bị ngắn. Tôi thích nói về ý nghĩa trong một câu chuyện hơn là chủ đề của một câu chuyện. Mọi người nói về chủ đề của một câu chuyện như thể chủ đề là sợi dây buộc một bao thức ăn cho gà. Họ nghĩ rằng nếu bạn có thể tìm ra chủ đề, giống như cách bạn chọn đúng sợi dây trong bao thức ăn cho gà, bạn có thể xé toạc câu chuyện và nuôi gà. Nhưng ý nghĩa trong hư cấu không hoạt động theo cách ấy.

    Khi bạn có thể nêu ra chủ đề của một câu chuyện, khi bạn có thể tách rời nó ra khỏi câu chuyện, thì bạn có thể đoan chắn rằng câu chuyện đó không hay lắm. Ý nghĩa của một câu chuyện phải được thể hiện trong đó, phải được cụ thể hóa trong đó. Một câu chuyện là một cách để nói điều gì đó không thể nói theo cách khác, và cần mọi từ trong câu chuyện để nói lên ý nghĩa đó. Bạn kể một câu chuyện vì một tuyên bố là không đủ. Khi bất kỳ ai hỏi một câu chuyện nói về điều gì, điều duy nhất đúng đắn là bảo họ đọc câu chuyện. Ý nghĩa của hư cấu không phải là ý nghĩa trừu tượng mà là ý nghĩa được trải nghiệm, và mục đích của việc đưa ra các tuyên bố về ý nghĩa của một câu chuyện chỉ là để giúp bạn trải nghiệm ý nghĩa đó trọn vẹn hơn.

    Hư cấu là một nghệ thuật đòi hỏi sự chú ý nghiêm ngặt nhất đến thực tại – dù nhà văn đang viết một câu chuyện hiện thực hay một câu chuyện giả tưởng. Ý tôi là chúng ta luôn bắt đầu với những gì đang tồn tại hoặc với những gì có tính chất chân thực nổi bật. Ngay cả khi viết một câu chuyện giả tưởng, thực tại là nền tảng thích hợp của nó. Một điều là giả tưởng vì nó quá thực, quá thực đến mức trở thành giả tưởng. Graham Greene từng nói rằng ông không thể viết, “Tôi đứng trên một cái hố không đáy,” vì điều đó là vô lý, hoặc “Chạy xuống cầu thang, tôi nhảy vào một chiếc taxi,” vì điều đó cũng vô lý nốt. Nhưng Elizabeth Bowen có thể viết về một nhân vật của mình rằng “cô ấy giật tóc mình như thể nghe thấy điều gì trong đó,” vì điều ấy hoàn toàn có thể xảy ra. Tôi thậm chí còn đi xa hơn khi nói rằng người viết giả tưởng phải chú ý nghiêm ngặt hơn đến chi tiết cụ thể so với người viết theo lối hiện thực – vì câu chuyện càng căng thẳng về tính xác tín, các yếu tố trong đó càng phải thuyết phục.

    Một ví dụ điển hình là câu chuyện Hoá thân của Franz Kafka. Đây là câu chuyện về một người đàn ông thức dậy một buổi sáng và phát hiện mình đã biến thành một con gián, trong khi vẫn giữ bản chất con người. Phần còn lại của câu chuyện kể về cuộc sống, cảm xúc và cái chết chung cục của anh ta như một con côn trùng với bản chất con người, và tình huống này được độc giả chấp nhận vì chi tiết cụ thể của câu chuyện hoàn toàn thuyết phục. Sự thật là câu chuyện này mô tả bản chất kép của con người một cách thực tế đến mức gần như không thể chịu nổi. Sự thật không bị bóp méo ở đây, mà đúng hơn, một sự bóp méo nhất định được sử dụng để tiếp cận sự thật. Nếu chúng ta thừa nhận, như chúng ta phải thừa nhận, rằng vẻ bề ngoài không giống với thực tại, thì chúng ta phải cho nghệ sĩ tự do thực hiện một số sắp xếp lại tự nhiên nếu những điều này dẫn đến chiều sâu lớn hơn của tầm nhìn. Bản thân nghệ sĩ luôn phải nhớ rằng thứ anh ta đang sắp xếp lại là tự nhiên, và anh ta phải biết nó và có thể mô tả nó chính xác để có quyền sắp xếp lại nó.

    Vấn đề đặc biệt của nhà văn truyện ngắn là làm thế nào để hành động anh ta mô tả tiết lộ càng nhiều bí ẩn của sự tồn tại càng tốt. Anh ta chỉ có một không gian ngắn để làm điều đó và không thể làm điều đó bằng cách nói suông. Anh ta phải làm điều đó bằng cách phô bày, không phải bằng cách nói, và bằng cách cho thấy cái cụ thể – vì vậy vấn đề thực sự của anh ta là làm thế nào để cái cụ thể làm việc gấp đôi cho anh ta. Trong truyện hư cấu hay, một số chi tiết sẽ có xu hướng tích lũy ý nghĩa từ chính hành động của câu chuyện, và khi điều này xảy ra, chúng trở thành biểu tượng theo cách chúng hoạt động. Tôi từng viết một câu chuyện có tên “Những người nhà quê tốt bụng,” trong đó một nữ tiến sĩ bị một gã bán Kinh Thánh ăn cắp cái chân gỗ sau khi cô ta cố gắng quyến rũ hắn. Bây giờ tôi thừa nhận rằng, khi được diễn giải theo cách này, tình huống chỉ là một trò đùa vặt vãnh. Độc giả trung bình hài lòng khi thấy chân gỗ của bất kỳ ai bị ăn cắp. Nhưng không ngừng hấp dẫn độc giả đó và không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về ý định cao cả, câu chuyện này vẫn xoay sở để hoạt động ở một cấp độ trải nghiệm khác, bằng cách để cái chân gỗ tích lũy ý nghĩa. Ngay từ đầu câu chuyện, chúng ta được biết rằng nữ tiến sĩ không chỉ tàn tật về thể chất mà còn về tinh thần. Cô ta không tin vào bất cứ điều gì ngoài niềm tin của mình vào sự hư vô, và chúng ta nhận ra rằng có một phần gỗ trong tâm hồn cô ta tương ứng với cái chân gỗ của cô ta. Tất nhiên, điều ấy không bao giờ được nói ra. Nhà văn tiểu thuyết nói càng ít càng tốt. Độc giả tự kết nối từ những gì được bày ra trước mắt họ. Họ có thể không biết rằng mình đã kết nối, nhưng mối liên kết vẫn có ở đó và có tác động đến họ. Khi câu chuyện tiếp diễn, cái chân gỗ tiếp tục tích lũy ý nghĩa. Độc giả biết được cô gái cảm thấy thế nào về cái chân của mình, mẹ cô cảm thấy thế nào về nó, và người phụ nữ nhà quê ở đó cảm thấy thế nào về nó; và cuối cùng, khi gã bán Kinh Thánh xuất hiện, cái chân gỗ đã tích lũy quá nhiều ý nghĩa đến mức, như người ta nói, nó “nặng trĩu”. Và khi gã bán Kinh Thánh ăn cắp nó, độc giả nhận ra rằng hắn đã lấy đi một phần bản ngã của cô gái và lần đầu tiên tiết lộ cho cô ta thấy sự tật nguyền sâu sắc hơn của mình.

    Nếu bạn muốn nói rằng cái chân gỗ là một biểu tượng, bạn có thể nói như vậy. Nhưng trước hết nó là một cái chân gỗ, và với tư cách là một cái chân gỗ, nó hoàn toàn cần thiết cho câu chuyện. Nó có vị trí ở cấp độ chữ nghĩa của câu chuyện, nhưng nó cũng hoạt động ở chiều sâu cũng như trên bề mặt. Nó mở rộng câu chuyện theo mọi hướng, và đây về cơ bản là cách một câu chuyện thoát khỏi việc bị ngắn.

    Bây giờ có thể nói một chút về cách điều này xảy ra. Tôi không muốn bạn nghĩ rằng trong câu chuyện đó, tôi đã ngồi xuống và nói, “Bây giờ tôi sẽ viết một câu chuyện về một nữ tiến sĩ với một cái chân gỗ, dùng cái chân gỗ làm biểu tượng cho một loại tật nguyền khác.” Tôi nghi ngờ liệu có nhiều nhà văn biết mình sẽ làm gì khi bắt đầu. Khi tôi bắt đầu viết câu chuyện đó, tôi không biết sẽ có một nữ tiến sĩ với cái chân gỗ trong đó. Tôi chỉ thấy bản thân vào một buổi sáng đang viết về hai người phụ nữ mà tôi quen biết, và trước khi nhận ra, tôi đã cho một người trong số họ một cô con gái với cái chân gỗ. Khi câu chuyện tiến triển, tôi đưa vào gã bán Kinh Thánh, nhưng tôi chưa biết sẽ làm gì với hắn. Tôi không biết hắn sẽ ăn cắp cái chân gỗ cho đến mươi hoặc mười hai dòng trước khi điều đó xảy ra, nhưng khi tôi phát hiện ra đó là điều sẽ xảy ra, tôi biết điều ấy là không tránh khỏi. Đây là một câu chuyện gây sốc cho độc giả, và tôi nghĩ một lý do là vì nó đã gây sốc cho chính nhà văn. Dù câu chuyện này hình thành theo cách dường như vô thức như vậy, nó là một câu chuyện hầu như không cần chỉnh sửa. Nó là một câu chuyện được kiểm soát trong suốt quá trình viết, và có thể đặt câu hỏi rằng sự kiểm soát như vậy đến từ đâu, vì nó không hoàn toàn có ý thức.

    Tôi nghĩ câu trả lời cho điều này là điều mà Maritain gọi là “thói quen của nghệ thuật.” Sự thật là viết tiểu thuyết là một việc mà toàn bộ nhân cách tham gia – cả tâm trí ý thức lẫn vô thức. Nghệ thuật là thói quen của nghệ sĩ; và các thói quen phải được bám rễ sâu trong toàn bộ nhân cách. Chúng phải được trau dồi như bất kỳ thói quen nào khác, qua một thời gian dài, bằng trải nghiệm; và việc dạy bất kỳ loại hình viết nào phần lớn là giúp sinh viên xây dựng thói quen của nghệ thuật. Tôi nghĩ đây không chỉ là một kỷ luật, mặc dù đúng là như vậy; tôi nghĩ đó là một cách nhìn vào thế giới được tạo ra và sử dụng các giác quan để tìm ra càng nhiều ý nghĩa càng tốt trong mọi thứ.

    Giờ thì tôi không ngây ngô đến mức cho rằng hầu hết mọi người đến các hội thảo nhà văn để nghe về loại tầm nhìn cần thiết để viết những câu chuyện sẽ trở thành một phần vĩnh cửu của văn học. Ngay cả khi bạn muốn nghe điều này, mối quan tâm lớn nhất của bạn là những vấn đề thực tế ngay lập tức. Bạn muốn biết làm thế nào để thật sự viết một câu chuyện hay, và hơn nữa, làm thế nào để biết khi nào bạn đã làm được điều đó; và vì vậy bạn muốn biết hình thức của một truyện ngắn là gì, như thể hình thức là thứ tồn tại bên ngoài mỗi câu chuyện và có thể được áp dụng hoặc áp đặt lên chất liệu. Tất nhiên, càng viết nhiều, bạn sẽ càng nhận ra rằng hình thức là hữu cơ, rằng nó là thứ phái sinh từ chất liệu, rằng hình thức của mỗi câu chuyện là độc nhất. Một câu chuyện hay không thể bị thu gọn, nó chỉ có thể được mở rộng. Một câu chuyện hay khi bạn tiếp tục thấy ngày càng nhiều trong đó, và khi nó tiếp tục thoát khỏi bạn. Trong hư cấu, hai cộng hai luôn nhiều hơn bốn.

    Cách duy nhất, tôi nghĩ, để học viết truyện ngắn là viết chúng, và sau đó cố gắng khám phá xem bạn đã làm được gì. Thời điểm để xét về kỹ thuật là khi bạn thực sự có câu chuyện trong tay. Giáo viên có thể giúp sinh viên bằng cách xem xét công việc cá nhân của họ và cố gắng giúp họ quyết định liệu họ đã viết một câu chuyện hoàn chỉnh hay chưa, một câu chuyện mà hành động rọi chiếu đầy đủ ý nghĩa. Có lẽ điều hữu ích nhất tôi có thể làm là kể cho bạn về một số quan sát chung mà tôi đã thực hiện về bảy câu chuyện của các bạn mà tôi đã đọc. Tất cả các quan sát này sẽ không hoàn toàn phù hợp với bất kỳ câu chuyện nào, nhưng chúng là những điểm mà bất kỳ ai quan tâm đến việc viết đều nên cân nhắc.

    Điều đầu tiên mà bất kỳ nhà văn chuyên nghiệp nào nhận thức được khi đọc bất cứ thứ gì, dĩ nhiên, là cách sử dụng ngôn từ. Cách sử dụng ngôn từ trong các câu chuyện này là như thế, ngoại trừ một trường hợp, rất khó để phân biệt câu chuyện này với câu chuyện khác. Mặc dù tôi nhớ đã bắt gặp một vài câu sáo rỗng, tôi không thể nhớ nổi một hình ảnh hay một ẩn dụ nào từ bảy câu chuyện đó. Tôi không có ý nói rằng không có hình ảnh trong chúng; tôi chỉ muốn nói rằng không có hình ảnh nào đủ ấn tượng để bạn mang theo.

    Liên quan đến điều này, tôi đã có một quan sát khác khiến tôi khá bàng hoàng. Ngoại trừ một câu chuyện, hầu như không có sự ứng dụng ngôn ngữ địa phương. Đây là một Hội thảo Nhà văn miền Nam. Tất cả các địa chỉ trong những câu chuyện này đều ở Georgia hoặc Tennessee, vậy mà không có cảm giác đặc trưng nào về cuộc sống miền Nam trong chúng. Một vài địa danh được nhắc đến, Savannah hoặc Atlanta hoặc Jacksonville, nhưng chúng có thể dễ dàng được đổi thành Pittsburgh hoặc Passaic mà không cần thay đổi gì khác trong câu chuyện. Các nhân vật nói chuyện như thể họ chưa bao giờ nghe bất kỳ loại ngôn ngữ nào ngoài những gì phát ra từ một chiếc vô tuyến. Điều này cho thấy có điều gì đó rất lệch lạc.

    Có hai phẩm chất tạo nên hư cấu. Một là cảm giác bí ẩn và hai là cảm giác về phong thái. Bạn có được phong thái từ kết cấu của sự tồn tại xung quanh bạn. Lợi thế lớn của việc là một nhà văn miền Nam là chúng ta không phải đi đâu xa để tìm phong thái; dù tốt hay xấu thì chúng ta vẫn dồi dào về mặt này. Chúng ta sống ở miền Nam trong một xã hội giàu mâu thuẫn, giàu châm biếm, giàu tương phản, và đặc biệt giàu có trong cách nói chuyện. Vậy mà đây là sáu [có lẽ Flannery viết nhầm, đúng ra phải là bảy] câu chuyện của người miền Nam mà hầu như không sử dụng những món quà của vùng này. Tất nhiên, lý do cho việc này có thể là bạn đã thấy những món quà này bị lạm dụng quá thường xuyên đến mức bạn trở nên tự ý thức khi sử dụng chúng. Nhưng không có gì tệ hơn việc một nhà văn không tận dụng những món quà của vùng, mà đắm mình trong chúng. Mọi thứ trở nên quá miền Nam đến mức gây khó chịu, quá địa phương đến mức không thể hiểu nổi, quá chân thực đến mức không truyền tải được gì. Cái chung bị chôn vùi trong cái riêng thay vì được thể hiện qua nó. Tuy nhiên, khi cuộc sống thực sự xung quanh chúng ta bị hoàn toàn bỏ qua, khi các cách thức nói chuyện của chúng ta bị bỏ qua hoàn toàn, thì có điều gì đó không ổn. Nhà văn nên tự hỏi liệu mình có đang vươn tới một loại cuộc sống xa lạ với mình hay không.

    Một ngôn ngữ đặc trưng phản ánh một xã hội, và khi bạn bỏ qua ngôn ngữ đó, bạn rất có thể đang bỏ qua toàn bộ kết cấu xã hội có thể tạo nên một nhân vật đầy ý nghĩa. Bạn không thể tách nhân vật ra khỏi xã hội của họ và nói được nhiều về họ như những cá nhân. Bạn không thể nói bất cứ điều gì ý nghĩa về bí ẩn của một nhân cách trừ khi bạn đặt nhân cách đó trong một bối cảnh xã hội đáng tin cậy và có ý nghĩa. Và cách tốt nhất để làm điều này là thông qua chính ngôn ngữ của nhân vật. Khi bà lão trong một câu chuyện của Andrew Lytle nói một cách khinh miệt rằng bà có một con la già hơn Birmingham, chúng ta cảm nhận được trong một câu đó cả một xã hội và lịch sử của nó. Phần lớn công việc của nhà văn miền Nam đã được thực hiện trước khi họ bắt đầu, vì lịch sử của chúng ta nằm trong cách nói chuyện của chúng ta. Trong một câu chuyện của Eudora Welty, một nhân vật nói, “Nơi tôi đến, chúng tôi dùng cáo làm chó và cú làm gà, nhưng chúng tôi hát đúng lời.” Bây giờ, trong một câu đó có cả một cuốn sách; và khi người dân ở khu vực của bạn có thể nói như vậy, và bạn bỏ qua điều đó, bạn chỉ đang không tận dụng những gì thuộc về mình. Âm thanh của cách nói chuyện của chúng ta quá rõ ràng để có thể bị vứt bỏ mà không bị trừng phạt, và nếu nhà văn cố gắng loại bỏ nó, họ có thể phá hủy phần lớn sức mạnh sáng tạo của mình.

    Một điều khác tôi nhận thấy về các câu chuyện này là hầu hết chúng không đi sâu vào bên trong một nhân vật, không tiết lộ nhiều về nhân vật. Tôi không có ý nói rằng chúng không đi vào tâm trí của nhân vật, mà chỉ là chúng không cho thấy nhân vật có một nhân cách. Điều này lại liên quan một phần đến ngôn ngữ. Những nhân vật này không có cách nói đặc trưng để thể hiện bản thân; và đôi khi họ không có đặc điểm thực sự nổi bật. Bạn cảm thấy cuối cùng rằng không có nhân cách nào được tiết lộ vì không có nhân cách nào ở đó cả. Trong hầu hết các câu chuyện hay, chính nhân cách của nhân vật tạo ra hành động của câu chuyện. Trong hầu hết các câu chuyện này, tôi cảm thấy rằng nhà văn đã nghĩ ra một hành động nào đó và sau đó tìm một nhân vật để thực hiện nó. Bạn thường sẽ thành công hơn nếu bắt đầu theo cách ngược lại. Nếu bạn bắt đầu với một nhân cách thực sự, một nhân vật thực sự, thì điều gì đó chắc chắn sẽ xảy ra; và bạn không cần phải biết điều gì trước khi bắt đầu. Thực tế, có thể tốt hơn nếu bạn không biết điều gì trước khi bắt đầu. Bạn có thể khám phá điều gì đó từ câu chuyện của mình. Nếu bạn không làm được, có lẽ không ai khác sẽ làm được.


  • 18 quy tắc viết văn của Chekhov

    Đọc thử

    Nghe tiêu đề thì có vẻ nghiêm trọng đấy…


    Anton Chekhov (1860 – 1944), cây bút truyện ngắn vĩ đại của văn học Nga. Nguồn ảnh: Fine Art Images

    Quy tắc dành cho các cây bút mới vào nghề

    (Quà tặng kỷ niệm – Thay vì hộp thư)

    Mỗi đứa trẻ vừa chào đời cần được tắm rửa cẩn thận, để nó nghỉ ngơi sau những ấn tượng đầu tiên, rồi quất roi thật mạnh kèm theo lời dặn: “Không được viết! Không được viết! Không được làm nhà văn!” Nếu, bất chấp sự trừng phạt này, đứa trẻ vẫn bộc lộ khuynh hướng viết lách, hãy thử đối xử mềm mỏng. Nếu ngay cả sự dịu dàng cũng vô tác dụng thì hãy buông xuôi và nói rằng “hỏng rồi”. Cơn ngứa viết lách là không thể chữa khỏi.

    Con đường của người viết từ đầu chí cuối đầy rẫy chông gai, đinh sắt và cây tầm ma, vì vậy một người tỉnh táo phải tìm mọi cách tránh xa việc viết lách. Nhưng nếu số phận nghiệt ngã, bất chấp mọi cảnh báo, vẫn đẩy ai đó vào con đường làm nhà văn, thì con người bất hạnh đó cần tuân thủ các quy tắc sau:

    1) Nên nhớ rằng viết lách ngẫu hứng hoặc viết theo dịp tốt hơn viết liên tục. Một người soát vé xe làm thơ sẽ sống dễ chịu hơn một nhà thơ không làm soát vé.

    2) Cũng cần khắc ghi rằng thất bại trong văn chương hơn hẳn thành công cả nghìn lần. Thất bại chỉ bị trừng phạt bằng sự thất vọng và sự thẳng thắn đáng buồn từ hộp thư, còn thành công kéo theo việc mệt mỏi chạy theo nhuận bút, nhận thù lao bằng phiếu giảm giá năm 1899, “hệ lụy” và những lần thử sức mới.

    3) Viết như một “nghệ thuật vì nghệ thuật” có lợi hơn sáng tác vì tiền bạc tầm thường. Nhà văn không mua được nhà, không đi toa hạng nhất, không chơi cò quay, không ăn súp cá tầm. Thức ăn của họ là mật ong và châu chấu do Savrasenkov chế biến, chỗ ở là phòng trọ có sẵn đồ đạc, phương tiện di chuyển là đi bộ.

    4) Danh tiếng là miếng vá sáng chói trên tấm áo rách của người nghệ sĩ, còn sự nổi tiếng văn chương chỉ có ở những nơi mà khi nghe từ “nhà văn” người ta không phải tra “Từ điển 30.000 từ nước ngoài.”

    5) Ai cũng có thể thử viết, bất kể địa vị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn hay tình trạng gia đình. Ngay cả người điên, người yêu sân khấu hay kẻ mất hết quyền lợi cũng không bị cấm viết. Tuy nhiên, tốt nhất những ai leo lên ngọn núi Parnassus nên là người trưởng thành, biết rằng từ “đi” và “bánh mì” trong tiếng Nga được viết với chữ “ять” (hàm ý cần nắm rõ ngữ pháp cơ bản.)

    6) Tốt hơn hết họ không nên là sĩ quan trẻ tuổi hay học sinh trung học.

    7) Giả định rằng người viết, ngoài khả năng trí tuệ thông thường, cần có kinh nghiệm sống. Những người nhận nhuận bút cao nhất là những người đã kinh qua lửa, nước và ống đồng, còn thấp nhất là những tâm hồn trong trẻo, chưa bị vấy bẩn. Nhóm đầu gồm: người kết hôn lần ba, người tự vẫn bất thành, người tay trắng trong cờ bạc, người đấu súng tay đôi, người trốn nợ, v.v. Nhóm sau là: người không nợ nần, chàng rể tương lai, người không uống rượu, nữ sinh, v.v.

    8) Trở thành nhà văn rất dễ. Không có kẻ dị dạng nào không tìm được bạn đời, cũng không có thứ nhảm nhí nào không tìm được độc giả phù hợp. Vì vậy, đừng ngần ngại… Đặt giấy trước mặt, cầm bút lên, khơi dậy ý nghĩ bị giam cầm và viết. Viết về bất cứ thứ gì: mận khô, thời tiết, nước kvass của Govorov, Đại dương, kim đồng hồ, tuyết năm ngoái… Viết xong, cầm bản thảo, cảm nhận sự run rẩy thiêng liêng trong huyết quản, rồi đến tòa soạn. Cởi giày cao su ở tiền sảnh, hỏi: “Ông biên tập có đây không?”, rồi bước vào thánh đường, tràn trề hy vọng, trao tác phẩm của mình… Sau đó, nằm dài trên ghế sofa ở nhà một tuần, nhổ nước bọt lên trần nhà và mơ mộng. Một tuần sau, quay lại tòa soạn và nhận lại bản thảo. Tiếp theo là hành trình gõ cửa các tòa soạn khác… Khi tất cả tòa soạn đều từ chối, hãy tự xuất bản tác phẩm. Sẽ có độc giả.

    9) Nhưng trở thành nhà văn được in và được đọc thì rất khó. Để làm được, bạn phải tuyệt đối biết chữ và có tài năng dù chỉ nhỏ như hạt đậu lăng. Nếu không có tài lớn, tài nhỏ cũng được quý trọng.

    10) Hãy trung thực. Đừng ăn cắp của người khác rồi nhận là của mình, đừng in cùng một tác phẩm ở hai nơi, đừng giả mạo người khác, đừng gọi tác phẩm ngoại quốc là sáng tác gốc, v.v. Nói chung, hãy nhớ mười điều răn.

    11) Trong thế giới xuất bản có những phép lịch sự. Cũng như trong đời sống, không nên giẫm lên vết chai yêu thích của người khác, hỉ mũi vào khăn tay của họ, hay thọc tay vào đĩa của người khác, v.v.

    12) Nếu muốn viết, hãy làm như sau. Trước tiên chọn chủ đề. Bạn có toàn quyền tự do. Bạn có thể tùy ý, thậm chí độc đoán. Nhưng để không khám phá lại châu Mỹ hay tái phát minh thuốc súng, hãy tránh những chủ đề đã bị khai thác từ lâu.

    13) Chọn xong chủ đề, cầm cây bút không gỉ sét, viết rõ ràng, không nguệch ngoạc, trên một mặt giấy, để mặt kia trống. Điều này không chỉ vì lợi ích của các nhà sản xuất giấy, mà còn vì những lý do cao cả hơn.

    14) Khi thả hồn theo trí tưởng tượng, hãy kìm tay lại. Đừng để nó chạy theo số lượng dòng. Bạn càng viết ngắn và ít, bạn càng được in nhiều và thường xuyên hơn. Sự ngắn gọn không làm hỏng việc.

    15) Viết xong, ký tên. Nếu không muốn nổi tiếng và sợ bị đánh, hãy dùng bút danh. Nhưng nhớ rằng, dù ẩn danh thế nào, tên thật và địa chỉ của bạn phải được tòa soạn biết. Điều này cần thiết phòng khi biên tập viên muốn chúc mừng bạn năm mới.

    16) Nhận nhuận bút ngay sau khi được in. Tránh xin tạm ứng. Tạm ứng là ăn trước tương lai.

    17) Nhận nhuận bút rồi, làm gì tùy bạn: mua tàu hơi nước, tháo khô đầm lầy, chụp ảnh, đặt chuông Phần Lan, tăng gấp ba vòng váy của vợ… nói chung, bất cứ thứ gì. Tòa soạn trả nhuận bút là trao cả quyền tự do hành động. Tuy nhiên, nếu tác giả muốn gửi biên tập viên bảng chi tiêu nhuận bút, tòa soạn sẽ không phản đối.

    18) Cuối cùng, hãy đọc lại những dòng đầu tiên của “Quy tắc” này.


  • Maupassant trong mắt Tolstoy

    Đọc thử

    Lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh “The Works of Guy de Maupassant”.


    Các trước tác của Maupassant

    (Lev Tolstoy)

    Hình như là vào năm 1881, Turgenev, trong một lần ghé thăm, đã rút từ túi xách ra một tập truyện Pháp có tựa đề Maison Tellier và đưa cho tôi.

    “Đọc thử xem sao,” ông nói, vẻ thản nhiên, hệt như năm ngoái ông từng đưa tôi một số báo Russian Wealth, trong có một bài viết của Garshin, một tác giả mới vào nghề. Rõ rành, tương tự trường hợp của Garshin, giờ đây ông e mình sẽ tác động tới tôi theo hướng này hay hướng khác, và ông muốn biết ý kiến không thiên lệch của tôi.

    “Anh ta là một nhà văn trẻ người Pháp,” ông nói; “cứ đọc qua đi, – không tồi đâu; anh ta biết cậu và kính trọng cậu vô ngần,” ông nói thêm, như để khích lệ tôi. “Con người anh ta làm tôi nhớ đến Druzhinin. Anh ta là một cậu con trai mẫu mực, một người bạn tuyệt vời, un homme d’un commerce sur, như Druzhinin vậy, và, thêm nữa, anh ta gắn bó với cánh thợ thuyền, anh ta dẫn dắt và đỡ đần họ. Ngay cả thái độ của anh ta với phụ nữ cũng làm tôi nhớ đến Druzhinin.”

    Và Turgenev kể tôi nghe một điều đáng kinh ngạc và khó tin về Maupassant trong khía cạnh này.

    Thời gian này, cái năm 1881 ấy, đối với tôi là quãng thời gian sôi nổi nhất của sự tái cơ cấu toàn bộ thế giới quan trong tôi, và trong công cuộc tái cấu trúc này, hoạt động được gọi là nghệ thuật mà dạo trước tôi từng cống hiến toàn tâm toàn ý, đã không chỉ mất đi tính quan thiết mà tôi gán cho nó, mà thậm chí còn trở nên đáng ngán rõ rệt bởi vị trí sai lệch mà nó chiếm lĩnh trong cuộc đời tôi và trong quan niệm của những người thuộc tầng lớp thượng lưu nói chung.

    Vì lý do này mà vào quãng thời gian đó tôi không hề có chút hứng thú nào với những tác phẩm như cái mà Turgenev đã gợi ý. Nhưng, để chiều lòng ông, tôi đã đọc cuốn sách.

    Ngay từ câu chuyện đầu tiên, Maison Tellier, tôi không thể không nhận thấy, mặc dù cốt truyện có phần khiếm nhã và tầm thường, rằng tác giả này sở hữu cái gọi là tài năng.

    Tác giả được phú cho một thiên tư đặc biệt, gọi là tài năng, có nghĩa là năng lực điều hướng, tuỳ theo ý thích của anh ta, sức tập trung mãnh liệt, dai dẳng, vào một hoặc nhiều đối tượng, qua đó người sở hữu nhìn thấy ở những đối tượng mà anh ta chú mục tới, điều gì đó mới lạ, điều mà những người khác không thấy. Hiển nhiên Maupassant sở hữu năng lực nhìn thấy trong những chủ thể điều gì đó mà người khác không thấy. Nhưng, chiếu theo tập sách nhỏ mà tôi đã đọc, anh ta hoàn toàn thiếu hụt tiêu chí quan trọng nhất, bên cạnh tài năng, để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

    Trong ba tiêu chí:

    1. một mối quan hệ đúng đắn, tức là, một mối quan hệ đạo đức của nhà văn với chủ đề,

    2. sự rõ ràng trong cách trình bày, hoặc vẻ đẹp của hình thức, cũng tương tự nhau, và

    3. sự chân thành, tức là, cảm xúc yêu hay ghét thành thật với thứ mà nghệ sĩ mô tả

    Maupassant chỉ sở hữu hai cái cuối, và hoàn toàn thiếu cái đầu tiên. Tức là, anh ta không có mối quan hệ đạo đức đúng đắn với những chủ đề được diễn tả. Từ những gì tôi đã đọc, tôi bị thuyết phục rằng Mauppasant có tài, tài ở đây là cái năng lực tập trung mà theo đó những vấn đề và hiện tượng của cuộc sống hé lộ cho nhà văn những phẩm chất mà người khác không nhìn ra; đồng thời anh ta sở hữu một hình thức tao nhã, tức là anh ta diễn tả những gì mình muốn nói một cách rõ ràng, đơn giản, và đẹp, và anh ta cũng đáp ứng cái tiêu chí giúp cấu thành một tác phẩm nghệ thuật đích thực, mà thiếu nó thì không gây nổi ấn tượng gì, — sự chân thành, — anh ta không vờ vĩnh yêu hay ghét, mà thực sự yêu và ghét cái anh ta mô tả. Nhưng thật không may, bởi thiếu sót điều kiện đầu tiên, gần như là điều kiện quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật đích thực, về mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cái mà anh ta miêu tả, hay về sự hiểu biết về khác biệt giữa tốt và xấu, anh ta đã yêu và mô tả những gì không đáng để yêu và mô tả, và lại không yêu và không mô tả những cái đáng ra anh ta phải yêu và mô tả. Thế là anh nhà văn trong tuyển truyện này tỏ ra ưa chuộng và miệt mài mô tả cách đàn bà quyến rũ đàn ông và cách đàn ông cám dỗ đàn bà, và thậm chí còn mô tả vài chi tiết tục tĩu khó hiểu, được phô bày trong La Femme de Paul, và anh ta khắc hoạ người dân lao động nông thôn, không chỉ với sự thờ ơ, mà thậm chí với sự khinh miệt, coi họ không khác gì loài cầm thú.

    Sự thiếu phân định phải trái đặc biệt nổi cộm trong câu chuyện Une Partie de Campagne, ở đó, dưới một dạng thức giễu cợt thông minh và dí dỏm nhất , anh ta tỉ mỉ thuật lại cách hai người đàn ông với cánh tay để trần, đang chèo thuyền, cùng lúc cám dỗ hai người đàn bà; một gã quyến rũ bà mẹ già, và gã còn lại dụ dỗ một thiếu nữ trẻ, con gái của bà kia.

    Sự cảm thông của tác giả trong suốt thiên truyện rõ ràng thiên về phía hai gã bất lương, theo đó nhà văn phớt lờ, hoặc, tệ hơn, không nhìn thấy những gì mà bà mẹ bị cám dỗ, cô gái, người cha, và chàng trai trẻ, hiển nhiên là vị hôn phu của cô con gái, đã phải hứng chịu, và do đó chúng ta không chỉ nhận được một mô tả thái quá về một tội ác tày đình dưới dạng thức một trò đùa vui nhộn, mà tự bản thân sự kiện cũng bị mô tả sai lệch, vì chỉ có một khía cạnh vô cùng tầm thường của chủ đề được mô tả: khoái cảm mà những kẻ vô lại nhận được.

    Trong cùng tập sách đó có một truyện ngắn, Histoire d’une Fille de Ferme, mà Turgenev đặc biệt khuyến nghị với tôi, và truyện này càng làm tôi khó chịu hơn, một phần cũng vì thái độ không đúng đắn của tác giả đối với chủ đề này. Tác giả dường như chỉ nhìn tất cả những người lao động mà anh ta mô tả như những con vật, những kẻ không vượt lên trên được tình mẫu tử và thú nhục dục, nên cách miêu tả này để lại cho chúng ta một ấn tượng nửa vời, giả tạo.

    Sự thiếu hiểu biết về cuộc sống và lợi ích của giai cấp công nhân, và việc khắc hoạ những người thuộc tầng lớp đó dưới hình thái nửa người nửa thú, chỉ bị thúc đẩy bởi nhục dục, ác tâm, và lòng tham, là một trong những thiếu sót chính và nổi cộm nhất của phần lớn các tác giả Pháp đương đại, trong đó có Maupassant, không riêng câu chuyện này mà còn ở tất cả các câu chuyện khác, trong đó anh ta bàn phớt về nhân dân và luôn khắc hoạ họ như những con vật thô kệch, ngu đần, chỉ đáng đem ra mà chế nhạo. Tất nhiên, các tác giả Pháp hẳn phải hiểu rõ tình cảnh của nhân dân nước họ hơn tôi; nhưng, dù tôi là người Nga chăng nữa, và chưa từng sống với nhân dân Pháp, tôi vẫn quả quyết rằng các tác giả Pháp đã mô tả sai về quần chúng nước nhà, và nhân dân Pháp không thể giống những gì họ được mô tả. Nếu có một nước Pháp như chúng ta đã biết, nước Pháp với những con người thật sự vĩ đại với những đóng góp to lớn cho khoa học, nghệ thuật, chính sách dân sự và sự trau dồi đạo đức của nhân quần, thì những người dân lao động đã gánh trên vai cả nước Pháp lẫn những nhân vật vĩ đại của nó không thể là loài súc vật, mà phải là những con người có phẩm giá tinh thần cao thượng; và vì vậy, tôi không tin vào các tiểu thuyết như La Terre và các câu chuyện của Maupassant, cũng như tôi sẽ không tin nếu người ta mách tôi về sự tồn tại của một ngôi nhà khang trang mà không cần nền móng. Rất có thể những phẩm hạnh cao quý của nhân dân không hề giống những phẩm hạnh được mô tả trong La petit Fadette và La Mare au Diable, nhưng những phẩm chất này có tồn tại, tôi cam đoan thế, và nhà văn mô tả quần chúng, như Maupassant đã làm, bằng cách kể lể một cách chân thành về “hông” và “khe vú” của những hầu gái người Breton, nhưng lại tỏ ra khinh miệt và giễu cợt cuộc sống của dân lao động, đã phạm một sai lầm lớn về mặt nghệ thuật, bởi vì anh ta chỉ mô tả chủ thể từ một khía cạnh vật chất ít thú vị nhất, mà hoàn toàn bỏ qua khía cạnh còn lại, khía cạnh tinh thần quan yếu nhất, cái cấu thành bản chất của chủ thể.

    Nói chung, khi đọc xong cuốn sách mà Turgenev đưa cho, tôi hoàn toàn dửng dưng với nhà văn trẻ này.

    Vào thời điểm đó, tôi cực lực chán ghét những câu chuyện Une Partie de Campagne, La Femme de PaulL’Histoire d’une Fille de Ferme đến nỗi tôi không để ý đến câu chuyện tuyệt đẹp Le Papa de Simon và thiên truyện xuất sắc Sur l’Eau trong đoạn mô tả buổi đêm.

    “Thời đại của chúng ta, khi có quá nhiều người muốn viết, thì cũng có rất nhiều người có tài năng nhưng không biết vận dụng vào việc gì, hoặc liều lĩnh áp dụng vào những điều sai trái và không nên được mô tả chút nào,” tôi nghĩ. Thế là tôi nói với Turgenev. Và tôi quên tiệt Maupassant.

    Tác phẩm tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Une Vie, do ai đó khuyên tôi đọc. Cuốn sách này ngay lập tức khiến tôi thay đổi suy nghĩ về Maupassant, và sau đó tôi hứng thú đọc mọi thứ được viết dưới tên anh ta. Une Vie là một tiểu thuyết trác tuyệt, không chỉ là tiểu thuyết hay nhất của Maupassant, mà còn gần như là tiểu thuyết Pháp hay nhất kể từ Les Misérables của Hugo. Ngoài sức mạnh đáng kể của tài năng, tức là sức tập trung đặc biệt mãnh liệt dành cho chủ đề, nhờ đó nhà văn nhìn thấy những nét hoàn toàn mới trong cuộc sống mà anh ta mô tả, tiểu thuyết này còn kết hợp, gần như ở mức độ ngang bằng, cả ba điều kiện của một tác phẩm nghệ thuật đích thực:

    1. mối quan hệ đúng đắn, tức là mối quan hệ đạo đức, của tác giả với chủ đề,
    2. vẻ đẹp của hình thức,
    3. sự chân thành, tức là tình yêu dành cho những gì tác giả mô tả.

    Ở đây, ý nghĩa của cuộc sống không còn được tác giả nhìn nhận qua những trải nghiệm của các nhân vật phóng đãng nữa, mà nội dung, như tựa đề đã tiết lộ, là mô tả về cuộc đời của một người phụ nữ ngây thơ, ngọt ngào, đón chờ mọi điều tốt đẹp, nhưng bị hủy hoại bởi chính sự thô bỉ, bởi bản năng thú vật, mà trong các câu chuyện trước đó tác giả coi là hiện tượng trung tâm của cuộc sống, chi phối mọi thứ, và ở đây sự đồng cảm của tác giả hoàn toàn hướng thiện.

    Hình thức, vốn đã đẹp ngay từ những câu chuyện đầu tiên, giờ được nâng lên một tầm mức hoàn hảo, mà theo tôi, chưa một người viết viết văn xuôi Pháp nào từng đạt đến. Và, bên cạnh đó, điều quan trọng nhất, ở đây tác giả thực sự yêu thương, và yêu thương mãnh liệt, gia đình tốt đẹp mà anh ta mô tả, và thực sự khinh miệt gã đàn ông thô bỉ đã phá hủy hạnh phúc và sự bình yên của gia đình đáng mến này, và đặc biệt là của nhân vật nữ chính.

    Chính vì lẽ đó mà mọi sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết này đều quá sống động và đáng nhớ: người mẹ sa ngã, ốm o, tốt bụng; người cha cao thượng, cả nể, đáng mến; và cô con gái, thậm chí còn đáng mến hơn bởi đức giản dị, sự thuần phác và tâm thế háo hức cho mọi điều tốt đẹp; mối quan hệ giữa họ, chuyến đi đầu tiên của họ, những gia bộc, láng giềng của họ, vị hôn phu so đo, thô bỉ, keo kiệt, nhỏ nhen, vô phép, người như thường lệ đã lừa dối cô gái ngây thơ bằng cách lý tưởng hóa một cách đớn hèn những tình cảm thô thiển nhất; cuộc hôn nhân; đảo Corse với những mô tả quyến rũ về thiên nhiên; rồi cuộc sống điền viên; màn lừa dối trắng trợn của gã chồng; việc gã nắm quyền kiểm soát điền trang; những mâu thuẫn của gã với ông nhạc; sự nhượng bộ của những người tốt; chiến thắng của sự trơ tráo; mối quan hệ với hàng xóm – tất cả đều là cuộc sống thực, với tất cả sự phức tạp và muôn màu muôn vẻ của nó. Nhưng không chỉ được mô tả một cách sống động và xuất sắc, tất cả còn được bao phủ bởi một giọng điệu chân thành, cảm thông, khiến người đọc bất giác bị ảnh hưởng. Người ta cảm nhận được rằng nhà văn yêu thương người phụ nữ này, rằng anh ta yêu cô không phải vì hình thức bên ngoài, mà là vì tâm hồn của cô, vì những gì tốt đẹp trong cô, và rằng anh ta đồng cảm với cô và đau khổ vì cô, và cảm giác này bất giác lan truyền sang người đọc. Những câu hỏi về lý do tại sao, vì mục đích gì mà cô gái ngây thơ này bị hủy hoại, và tại sao mọi chuyện phải như vậy, tự nhiên nảy sinh trong tâm hồn độc giả, và khiến họ khựng lại và suy ngẫm về ý nghĩa và giá trị của cuộc sống con người.

    Dù có một vài khuyết điểm xuất hiện rải rác trong tiểu thuyết, như việc miêu tả chi li về làn da của thiếu nữ, hay những chi tiết không cần thiết và khó tin về việc người vợ bị ruồng rẫy, theo lời khuyên của vị linh mục, lại trở thành mẹ một lần nữa, những chi tiết tàn phá hết vẻ quyến rũ trong ngần của nữ nhân vật chính; hay câu chuyện trả thù của gã chồng bị xúc phạm, cường điệu hoá và không tự nhiên – bất chấp những khuyết điểm này, cuốn tiểu thuyết không chỉ đẹp trong mắt tôi, mà qua đó tôi không còn coi tác giả như một người kể chuyện tài năng và bỡn cợt, không biết và không muốn biết điều gì tốt, điều gì xấu, như tôi từng đánh giá anh ta qua cuốn sách đầu tiên, mà là một con người nghiêm túc, đào sâu vào cuộc sống con người và bắt đầu hiểu ra những điều trong đó.

    Tiểu thuyết tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Bel-Ami.

    Bel-Ami là một cuốn sách rất bẩn thỉu. Tác giả dường như phóng túng trong việc mô tả những gì lôi cuốn anh ta, và đôi khi dường như đánh mất quan điểm căn bản, phê phán đối với nhân vật chính và chuyển sang đứng về phía y; nhưng nhìn chung, Bel-Ami, giống như Une Vie, được đặt nền tảng trên một tư tưởng và cảm xúc nghiêm túc.

    Trong Une Vie, tư tưởng cốt lõi là nỗi bàng hoàng trước sự tàn nhẫn vô nghĩa về cuộc đời đau khổ của một người phụ nữ đẹp, người bị hủy hoại bởi sự vô luân của một gã đàn ông; ở tiểu thuyết sau thì không chỉ là sự bàng hoàng nữa, mà còn là sự phẫn nộ của tác giả khi nhìn thấy sự thịnh vượng và thành công của một con thú thô tục, người nhờ chính sự thô bỉ của mình mà gây dựng cơ đồ và thủ đắc địa vị cao trong xã hội, cùng với sự phẫn nộ trước sự tha hóa của môi trường mà nhân vật chính công thành danh toại. Ở cuốn trước, tác giả dường như thắc mắc: “Tại sao, vì mục đích gì, sinh vật đáng yêu này bị hủy hoại? Tại sao chuyện đó lại xảy ra?” Ở cuốn sau, anh ta cơ hồ trả lời những câu hỏi đó: “Mọi thứ thuần khiết và tốt đẹp đã và đang bị hủy hoại trong xã hội chúng ta, bởi vì xã hội này thật khủng khiếp, đồi bại và vô nghĩa.”

    Đoạn cuối của tiểu thuyết, tả đám cưới trong một nhà thờ thời thượng của gã bất lương chiến thắng, người được thưởng Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, với một cô gái trẻ trong trắng, con gái của người mẹ một thời chính chuyên, người mà hắn từng cám dỗ, đám cưới được giám mục ban phước và được tất cả những người tham dự công nhận đó là điều tốt đẹp và chính đáng, thể hiện ý tưởng này một cách mạnh mẽ bất thường. Trong tiểu thuyết này, dù bị cản trở bởi những chi tiết tục tĩu mà tác giả dường như thích thú, chúng ta vẫn thấy được mối quan hệ nghiêm túc của tác giả với cuộc sống.

    Hãy đọc cuộc trò chuyện của nhà thơ già với Duroy, khi họ rời khỏi nhà Walters sau bữa tối, tôi nghĩ vậy. Nhà thơ già hé lộ cuộc sống trước người đối thoại trẻ tuổi và cho anh ta thấy cuộc sống như nó vốn có, với người bạn đồng hành vĩnh cửu và không thể tránh khỏi – cái chết.

    “Cái chết đã nắm lấy tôi, la gueuse,” ông ta nói về cái chết. “Nó đã làm răng tôi lung lay, bứt trụi tóc tôi, làm gân cốt tôi tàn tạ, và sắp sửa nuốt chửng tôi. Tôi đã nằm trong tay nó, – nó chỉ đùa giỡn với tôi, như mèo vờn chuột ấy, biết tỏng không đời nào tôi thoát khỏi nó. Vinh quang, giàu có – tất cả phỏng có ích gì, khi không thể dùng chúng để mua được tình yêu của một người phụ nữ, thứ duy nhất khiến cuộc đời này đáng sống. Và cái chết sẽ tước đoạt điều đó. Nó sẽ cướp đoạt điều này trước tiên, rồi đến sức lực, nhiệt huyết, và chính cuộc sống. Và ai mà chẳng thế. Có vậy thôi.”

    Đó là ý nghĩa của những lời nhận xét của nhà thơ già. Nhưng Duroy, người tình may mắn của tất cả những người phụ nữ mà y thích, tràn đầy nhục cảm và thôi thúc bản năng đến mức y nghe mà không nghe, hiểu mà không hiểu lời của nhà thơ già. Y có nghe và hiểu, nhưng bản năng trong y tuôn trào dữ dội đến mức cái sự thật không thể chối cãi, rằng y rồi cũng phải đối mặt với cùng một kết cục, không khiến y mảy may sợ hãi.

    Chính sự mâu thuẫn nội tại này, bên cạnh ý nghĩa châm biếm, tạo nên ý nghĩa chính của Bel-Ami. Tư tưởng tương tự cũng loáng thoáng trong những phân đoạn đẹp về cái chết của nhà báo bị lao phổi. Tác giả tự đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cách giải quyết mâu thuẫn giữa tình yêu cuộc sống và nhận thức về cái chết không thể tránh khỏi, – nhưng anh ta không trả lời những câu hỏi này. Anh ta dường như đang tìm kiếm và chờ đợi, chưa đưa ra quyết định theo bất kỳ hướng nào. Do đó, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống trong tiểu thuyết này vẫn đúng đắn.

    Nhưng trong các tiểu thuyết tiếp theo, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống bắt đầu trở nên rối rắm, việc đánh giá các hiện tượng của cuộc sống bắt đầu dao động, mờ nhạt, và trong các tiểu thuyết cuối thì hoàn toàn bị bóp méo.

    Trong Mont-Oriol, Maupassant dường như kết hợp các động cơ của hai tiểu thuyết trước, và lặp lại chính mình về mặt nội dung. Dù có những mô tả đẹp đẽ, đầy hài hước ý nhị về một khu nghỉ dưỡng thời thượng và hoạt động của các bác sĩ ở đó, chúng ta vẫn thấy ở đây một người đàn ông, tên Paul, vừa hèn mạt vừa vô cảm như người chồng trong Une Vie, và một người phụ nữ đáng yêu, bị lừa dối, bị hủy hoại, yếu đuối, cô đơn, luôn luôn cô đơn, và vẫn cùng một sự chiến thắng lãnh đạm của sự tầm thường và sự ti tiện như trong Bel-Ami.

    Tư tưởng vẫn như cũ, nhưng mối liên hệ của tác giả với những gì anh ta mô tả giờ đây yếu hơn nhiều, đặc biệt yếu so với tiểu thuyết đầu tiên. Việc phán đoán nội tâm của tác giả về điều gì tốt, điều gì xấu bắt đầu trở nên rối rắm. Dù tác giả có chủ định tinh thần là khách quan, không thiên vị, nhưng gã bất lương Paul rõ ràng nhận được sự đồng cảm tuyệt đối của tác giả. Vì lý do này, câu chuyện về tình yêu của Paul, những nỗ lực mồi chài của hắn, và thành công của hắn gây ra một ấn tượng sai lệch. Người đọc không biết liệu tác giả muốn gì – liệu anh ta muốn phơi bày sự trống rỗng và thấp hèn của Paul, người thờ ơ quay lưng lại với người phụ nữ và xúc phạm cô chỉ vì vóc dáng cô bị tàn phá do mang thai đứa con của hắn, hay ngược lại, anh ta muốn cho thấy sống như Paul là điều dễ chịu và tuyệt vời.

    Trong các tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur, mối quan hệ đạo đức của tác giả với các nhân vật càng trở nên rối rắm hơn, và trong tiểu thuyết cuối cùng thì hoàn toàn biến mất. Trên tất cả các tiểu thuyết này đã in dấu sự thờ ơ, vội vã, giả tạo, và trên hết, lại là sự thiếu vắng mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cuộc sống, điều đã thấy trong những tác phẩm đầu tiên của anh ta. Điều này bắt đầu từ khi danh tiếng của Maupassant như một tác giả thời thượng được thiết lập, và anh ta phải đối mặt với cám dỗ khủng khiếp mà mọi tác giả nổi tiếng, đặc biệt là một người hấp dẫn như Maupassant, phải đối mặt. Một mặt, đó là thành công của những tiểu thuyết đầu tay, sự lăng xê của báo giới, và sự tung hô của xã hội, đặc biệt là của phụ nữ; mặt khác, đó là phần thưởng ngày càng tăng, nhưng, không theo kịp những nhu cầu ngày càng lớn; thứ nữa, đó là sự thúc ép từ các nhà xuất bản, những người cạnh tranh nhau, nịnh hót, nài gặng, và không còn đánh giá chất lượng các tác phẩm mà tác giả cung cấp, mà chỉ hân hoan chấp nhận mọi thứ xuất hiện dưới cái tên đã tạo dựng được danh tiếng với công chúng. Rõ ràng tất cả những cám dỗ này quá lớn đến mức khiến tác giả say mê: anh ta chịu khuất phục chúng, và dù tiếp tục trau chuốt các tiểu thuyết về mặt hình thức, thậm chí còn tốt hơn trước, và vẫn yêu những gì mình mô tả, anh ta không còn yêu những gì mình mô tả vì nó tốt và phải đạo, tức là vì nó được mọi người yêu mến, và ghét những gì mình mô tả không phải vì nó xấu và bị mọi người khinh bỉ, mà chỉ vì một sự tình cờ nó khiến anh ta thích thứ này, còn thứ khác thì không.

    Trong tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, bắt đầu từ Bel-Ami, đều mang vết tích của sự vội vã và trên hết, của sự giả tạo. Từ đó trở đi, Maupassant không còn làm những thứ anh ta từng làm trong hai tiểu thuyết đầu tiên của mình – anh ta không còn lấy những yêu cầu đạo đức nhất định đặt nền tảng cho tiểu thuyết và dựa trên đó để mô tả hoạt động của các nhân vật, mà anh ta viết tiểu thuyết như mọi tiểu thuyết gia làng nhàng khác, tức là bịa ra những nhân vật và tình huống thú vị nhất, cảm động nhất hoặc hợp thời nhất, rồi từ đó xây dựng tiểu thuyết, trang điểm nó bằng tất cả những quan sát mà anh ta tình cờ có được và phù hợp với bộ khung của tiểu thuyết, mà không màng đến việc những sự kiện được mô tả liên quan thế nào đến các yêu cầu đạo đức. Đó là Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur.

    Dù chúng ta quen đọc trong các tiểu thuyết Pháp về các gia đình sống ba người ra sao, và luôn có một gã nhân tình mà ai cũng biết trừ ông chồng, nhưng vẫn khó hiểu làm sao mà tất cả các ông chồng luôn là những kẻ ngu ngốc, mọc sừng, và lố bịch, còn tất cả những người tình, sau rốt kết hôn và trở thành những ông chồng, thì lại không lố bịch và cũng chẳng bị cắm sừng, mà được xem là những bậc trượng phu. Và càng khó hiểu hơn làm sao tất cả phụ nữ đều phóng đãng về mặt đạo đức còn tất cả các bà mẹ thì đều thánh thiện.

    Chính trên những tình huống gượng ép, vô lý, và trên hết, vô cùng phi đạo đức này mà Pierre et JeanFort comme la Mort được cấu tứ nên, thành thử những đau khổ của các nhân vật trong những cảnh huống này không gây ở ta nhiều mối xúc động. Người mẹ của Pierre và Jean, người đã sống cả đời để lừa dối chồng mình, ít khơi gợi được sự đồng cảm khi phải thú nhận tội lỗi với con trai, và còn ít hơn nữa khi bà ta tự biện bạch, khẳng định rằng bà ta không thể không nắm bắt cơ hội hạnh phúc xảy đến với mình. Chúng ta càng ít thông cảm hơn với người đàn ông trong Fort comme la Mort, người suốt đời lừa dối bạn mình, dụ dỗ vợ bạn, và giờ lại than thở vì, khi đã già, không thể làm hỏng nốt cô con gái của tình nhân. Nhưng tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, thậm chí không có bất kỳ vấn đề nội tại nào, ngoài việc mô tả đủ mọi sắc thái của đam mê thể xác. Những gì được mô tả là một kẻ phóng đãng, nhàn cư, chán chường, không biết mình muốn gì, lúc thì gặp một người phụ nữ cũng phóng đãng, tinh thần suy đồi, không có cả sự biện minh của bản năng, lúc thì chia tay cô ta và quen một cô gái hầu phòng, rồi lại quay về với người đầu tiên và dường như chung chạ cả hai. Dù trong Pierre et JeanFort comme la Mort có những phân đoạn cảm động, tiểu thuyết cuối cùng này chỉ gây ra cảm giác ghê tởm.

    Câu hỏi trong tiểu thuyết đầu tiên của Maupassant, Une Vie, được đặt ra thế này: Đây là một con người đứng đắn, thông minh, dễ mến, sẵn sàng cho mọi điều tốt đẹp, nhưng vì lý do nào đó, con người này phải hy sinh trước tiên cho một gã chồng thô lậu, nhỏ nhen, ngu ngốc, và rồi cho một người con trai cũng y thế, và chết đi vô nghĩa, không để lại gì cho thế gian. Điều này cốt để làm gì? Tác giả đặt câu hỏi như vậy, và dường như không đưa ra câu trả lời. Nhưng cả tiểu thuyết của anh ta, tất cả những xúc cảm đồng điệu với cô ấy và sự ghê tởm với những gì đã hủy hoại cô, chính là câu trả lời cho câu hỏi của anh ta. (…) Trong tiểu thuyết tiếp theo, Bel-Ami, câu hỏi không còn là tại sao người đáng kính lại chịu đau khổ, mà là tại sao kẻ không xứng đáng lại được hưởng giàu sang và vinh hiển. Và giàu sang, vinh hiển này là gì, và chúng được thủ đắc như thế nào? Và cũng như trước, câu hỏi này chứa đựng một câu trả lời, đó là sự phủ nhận mọi thứ được đám đông tôn sùng. Nội dung của tiểu thuyết thứ hai này vẫn nghiêm túc, nhưng mối liên hệ đạo đức của tác giả với chủ đề được mô tả đã suy yếu đáng kể, và trong khi ở tiểu thuyết đầu tiên chỉ thi thoảng mới xuất hiện vài vết nhơ của sự thô tục làm hỏng tiểu thuyết, thì ở Bel-Ami, những vết nhơ này loang rộng, và nhiều chương được viết trong sự tục tĩu thuần túy mà tác giả dường như cảm thấy thích thú.

    Trong tiểu thuyết tiếp theo, Mont-Oriol, những câu hỏi tại sao và vì mục đích gì mà người phụ nữ đáng yêu phải chịu đau khổ và gã đàn ông man rợ lại thành công và vui vẻ không còn được đặt ra nữa, mà dường như được giả định rằng mọi chuyện phải như vậy, và những yêu cầu đạo đức hầu như tắt bặt; thay vào đó ở đây xuất hiện những mô tả tục tĩu, thô lậu, không cần thiết và không được khơi gợi bởi bất kỳ yêu cầu nghệ thuật nào. Một ví dụ nổi bật về sự xúc phạm nghệ thuật này, do mối quan hệ sai lầm của tác giả với chủ đề, là mô tả chi tiết về vẻ ngoài của nữ chính trong bồn tắm, được phô bày trong cuốn tiểu thuyết. Mô tả này hoàn toàn vô ích, và hoàn toàn không tương quan đến ý nghĩa bên ngoài hay bên trong của tiểu thuyết: những bong bóng bám vào cơ thể hồng hào.

    “Thế thì sao?” người đọc hỏi.

    “Chỉ vậy thôi,” nhà văn trả lời. “Tôi tả thế, vì tôi thích thế.”

    Trong hai tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et JeanFort comme la Mort, ta không còn thấy bất kỳ yêu cầu đạo đức nào. Cả hai tiểu thuyết đều được xây dựng trên sự phóng đãng, lừa dối, và xảo trá, những thứ đã đẩy các nhân vật đến những tình huống bi kịch.

    Trong tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, tình trạng của các nhân vật là kỳ quái, man rợ và vô đạo nhất, và những nhân vật này không còn đấu tranh với bất cứ điều gì, mà chỉ tìm kiếm lạc thú, của dục vọng, của bản năng, của tình dục, và tác giả dường như hoàn toàn đồng cảm với những nỗ lực của họ. Kết luận duy nhất có thể rút ra từ tiểu thuyết cuối này là hạnh phúc lớn nhất trong đời là giao hợp thể xác, và vì thế, chúng ta phải tận dụng niềm hạnh phúc này một cách khoan khoái nhất.

    Còn đáng kinh ngạc hơn trong mối quan hệ phi đạo đức với cuộc sống là điều được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng Yvette. Nội dung của tác phẩm cực kỳ vô đạo này như sau: một cô gái quyến rũ, với tâm hồn thơ ngây, nhưng bị tha hóa bởi những kiểu cách mà cô học được từ môi trường suy đồi của mẹ mình, đã khiến một gã phóng đãng say mê. Hắn yêu cô, nhưng tưởng rằng cô gái chủ tâm nói những lời lẽ gợi tình ngu ngốc mà cô thu lượm trong môi trường của mẹ mình, và lặp lại như một con vẹt, không hiểu gì, nên hắn đồ rằng cô nàng hẳn đã sa đoạ, và bất nhã đề nghị một mối lang chạ. Đề nghị này khiến cô thất đảm và bị xúc phạm (cô yêu hắn), mở mắt cho cô về vị trí của mình và của mẹ, khiến cô đau khổ sâu sắc. Tình huống cảm động – sự xung đột giữa vẻ đẹp của tâm hồn ngây thơ với sự đồi truỵ vô luân của thế giới – được mô tả một cách tuyệt bích, và đáng lẽ nên dừng lại ở đây, nhưng tác giả, không vì bất kỳ nhu cầu ngoại tại hay nội tại nào, tiếp tục câu chuyện và cho người đàn ông này lẻn đến chỗ cô gái vào ban đêm và quyến rũ cô. Trong phần đầu của tiểu thuyết, tác giả rõ ràng đứng về phía cô gái, nhưng ở phần sau thì anh ta đột nhiên chuyển sang ủng hộ gã phóng đãng. Ấn tượng này phá hủy ấn tượng kia, và cả tiểu thuyết tan rã, vỡ vụn, như một ổ bánh chưa được nhào kỹ.

    Trong tất cả các tiểu thuyết sau Bel-Ami (tôi không nói đến các truyện ngắn, vốn là công lao và danh tiếng chính yếu của anh ta, – về điều này chúng tôi sẽ nói sau), Maupassant rõ ràng đã đầu hàng cái tư tưởng, không chỉ tồn tại trong giới của anh ta ở Paris, mà giờ đây tồn tại ở khắp nơi trong giới nghệ sĩ, rằng một tác phẩm nghệ thuật không chỉ không cần có ý niệm rõ ràng về điều gì tốt, điều gì xấu, mà ngược lại, nghệ sĩ phải tuyệt đối gạt sang bên mọi hoài nghi đạo đức – rằng đó là một phần công lao của người nghệ sĩ. Theo đó, một nghệ sĩ có thể và phải mô tả những gì có thật, những gì tồn tại, hoặc những gì đẹp, tức là những gì làm hài lòng anh ta, hoặc thậm chí những gì có thể hữu ích như tư liệu cho “khoa học,” nhưng việc bận tâm về điều gì là đạo đức hay phi đạo đức, là phải hay trái thì không phải chuyện của nghệ sĩ.

    Tôi nhớ một họa sĩ nổi tiếng từng cho tôi xem bức tranh của ông về một đám rước tôn giáo. Mọi thứ được vẽ rất tinh xảo, nhưng tôi không thấy bất kỳ mối tương quan nào giữa nghệ sĩ với chủ đề của mình.

    “Thế ông cho rằng những nghi lễ này là tốt, và nên được thực hiện, có hay không?” tôi hỏi họa sĩ.

    Họa sĩ trả lời tôi, với chút giọng điệu ban ơn cho sự ngây thơ của tôi, rằng ông ta không biết và cảm thấy không cần phải biết: việc của ông là khắc hoạ cuộc sống.

    “Nhưng ít nhất ông cũng yêu thích điều này chứ?”

    “Chuyện này cũng khó nói.”

    “Thế ông có khinh miệt những nghi lễ này không?”

    “Không yêu mà cũng không ghét,” người nghệ sĩ thời thượng, có học thức trả lời với nụ cười thương hại cho sự ngu độn của tôi, người đã thể hiện cuộc sống mà không hiểu ý nghĩa của nó và không yêu hay ghét các hiện tượng của nó.

    Đáng tiếc là Maupassant cũng nghĩ như vậy.

    Trong phần giới thiệu cho Pierre et Jean, anh ta nói rằng công chúng bảo nhà văn: “Hãy an ủi tôi, hãy làm tôi vui, làm tôi buồn, làm tôi cảm động, làm tôi mơ màng, làm tôi cười, làm tôi rẩy, làm tôi khóc, làm tôi suy nghĩ. Chỉ riêng vài đầu óc ưu việt yêu cầu nghệ sĩ: hãy làm cho tôi cái gì đẹp, trong hình thức nào phù hợp với bạn nhất, tuỳ theo tạng của bạn.”

    Chính để đáp ứng yêu cầu của những đầu óc ưu việt này mà Maupassant đã viết các tiểu thuyết của mình, ngô nghê tưởng rằng cái được coi là đẹp trong giới của anh ta cũng là cái đẹp mà nghệ thuật nên phụng sự.

    Trong cùng giới mà Maupassant sinh hoạt, phụ nữ, một người phụ nữ trẻ, đẹp, thường là khỏa thân, và việc giao hợp với cô ta, được coi là cái đẹp mà nghệ thuật phải phục tùng. Quan điểm này không chỉ được hậu thuẫn bởi các đồng nghiệp “nghệ thuật” của Maupassant, như họa sĩ, điêu khắc gia, tiểu thuyết gia và thi sĩ, mà còn bởi các triết gia, những người thầy của thế hệ trẻ.

    (…)

    Vậy là, trong giới mà Maupassant đã sinh trưởng và được giáo dục, việc khắc hoạ vẻ đẹp phái nữ và tình yêu đã được cân nhắc rất nghiêm túc, như một điều được xác quyết từ lâu bởi những người thông minh và uyên bác nhất, là vấn đề thực sự của nghệ thuật đỉnh cao – le grand art.

    Chính tư tưởng này, khủng khiếp vì sự vô vị của nó, mà Maupassant đã phải gánh chịu khi trở thành một nhà văn thời thượng. Và, như dự đoán, trong các tiểu thuyết, lý tưởng sai lệch này đã dẫn Maupassant đến một loạt những sai lầm và các tác phẩm ngày càng yếu kém hơn.

    Điều này cho thấy sự khác biệt căn bản giữa các yêu cầu cho tiểu thuyết và truyện ngắn. Tiểu thuyết, ngay cả về mặt vấn đề bề mặt, đặt ra nhiệm vụ là mô tả toàn bộ cuộc đời của một con người hoặc nhiều cuộc đời, và vì thế tiểu thuyết gia phải có một khái niệm rõ ràng và vững chắc về điều gì tốt, điều gì xấu trong cuộc sống, và Maupassant thì thiếu sót điều này; trái lại, theo lý tưởng mà anh ta noi theo, người ta còn cho rằng điều đó là không cần thiết. Nếu anh ta là một nhà văn bất tài như một vài tiểu thuyết gia viết dâm thư , anh ta sẽ bình thản mà mô tả cái xấu như cái tốt, và các tiểu thuyết của anh ta sẽ đủ đầy và thú vị đối với những người chung quan điểm với tác giả. Nhưng Maupassant có tài năng, tức là anh ta nhìn thấy mọi thứ trong hình dạng thực của chúng, và vì thế anh ta vô tình phơi bày sự thật: anh ta vô tình nhìn thấy cái xấu trong những gì anh ta muốn coi là tốt. Vì lý do này, sự đồng cảm của anh ta liên tục dao động trong tất cả các tiểu thuyết của mình, ngoại trừ tiểu thuyết đầu tiên: lúc thì anh ta mô tả cái xấu như cái tốt, lúc thì nhận ra cái xấu là xấu và cái tốt là tốt, và lúc thì cứ nhảy từ cái này sang cái kia. Nhưng điều này phá hủy chính bản chất của mọi ấn tượng nghệ thuật, charpente, nền tảng mà trên đó anh ta đứng vững. Những người không nhạy cảm lắm với nghệ thuật thường tưởng rằng một tác phẩm nghệ thuật cấu thành một thể thống nhất, vì có cùng những nhân vật hành động xuyên suốt, vì mọi thứ được xây dựng trên cùng một cốt truyện, hoặc vì mô tả cuộc đời của cùng một người. Điều này không đúng. Nó chỉ gây cảm tưởng như vậy với kẻ quan sát hời hợt thôi: chất keo kết dính mọi tác phẩm nghệ thuật thành một thể thống nhất và tạo ra ảo giác về sự phản ánh cuộc sống không phải là sự thống nhất của các nhân vật và tình huống, mà là sự thống nhất trong mối quan hệ đạo đức cốt lõi của tác giả với chủ đề của mình. Thực tế, khi chúng ta đọc hoặc chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn mới, câu hỏi căn bản luôn nảy sinh trong lòng chúng ta là: “Này, anh là người như thế nào? Anh khác gì với tất cả những người mà tôi biết, và anh có thể nói gì mới mẻ với tôi về cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc sống của mình?” Dù nghệ sĩ mô tả gì – thánh nhân, kẻ cướp, vua chúa, tôi đòi – chúng ta chỉ đang tìm kiếm và nhìn ngắm tâm hồn của người nghệ sĩ. Nếu đó là một nghệ sĩ quen thuộc, câu hỏi không còn là “anh là ai?” mà là, “Này, anh có thể nói gì mới mẻ với tôi? Anh sẽ rọi sáng cuộc đời tôi từ góc độ mới nào?” Và vì thế, một tác giả không có quan điểm rõ ràng, độc đáo về thế giới, và càng tệ hơn, người không coi điều này là cần thiết, thì không thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Anh ta có thể viết hay, và viết nhiều, nhưng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật nào cả. Đó chính là trường hợp của Maupassant trong các tiểu thuyết của anh ta. Trong hai tiểu thuyết đầu tiên, đặc biệt là Une Vie, ta thấy một mối liên hệ rõ ràng, dứt khoát, độc đáo với cuộc sống, và vì thế ta có một tác phẩm nghệ thuật; nhưng ngay khi anh ta, khuất phục trước tư tưởng thời thượng, quyết định rằng không cần bất kỳ mối liên hệ nào của tác giả với cuộc sống, và bắt đầu viết chỉ để faire quelque chose de beau [tạo ra thứ gì đó đẹp], các tiểu thuyết của anh ta không còn là những tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong Une VieBel-Ami, tác giả biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét, và người đọc đồng thuận với anh ta và tin tưởng anh ta, tin vào những nhân vật và sự kiện được mô tả. Nhưng trong Notre CoeurYvette, tác giả không biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét; người đọc cũng không biết. Và vì người đọc không biết, họ không tin vào các sự kiện được mô tả và không đoái hoài đến chúng. Vì thế, ngoại trừ hai tiểu thuyết đầu tiên, hoặc nói đúng ra, chỉ một tiểu thuyết đầu tiên, tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, với tư cách là tiểu thuyết, đều yếu kém; và nếu Maupassant chỉ để lại cho chúng ta các tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ là một minh chứng điển hình cho việc một tài năng xuất chúng có thể tàn lụi ra sao do môi trường sai lầm mà trong đó nó phát triển, và do những tư tưởng nghệ thuật sai lầm được thiết lập bởi những người không yêu nghệ thuật và vì thế không hiểu nó. Nhưng may mắn thay, Maupassant đã viết những truyện ngắn, trong đó anh ta không khuất phục trước tư tưởng lệch lạc mà anh ta đã chấp nhận, và viết, không phải quelque chose de beau [thứ gì đó đẹp], mà là những gì chạm đến và khơi gợi xúc cảm đạo đức của anh ta. Chính trong những truyện ngắn này, không phải tất cả, mà là trong những truyện hay nhất, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành về mặt đạo đức của nhà văn.

    Thật sự mà nói, chính ở đây, ở phẩm chất đáng chú ý của mọi tài năng đích thực, miễn là nó đừng tự làm phương hại mình dưới ảnh hưởng của một tư tưởng sai lầm, rằng nó dạy cho người sở hữu nó, dẫn dắt anh ta trên con đường phát triển đạo đức, sẽ khiến anh ta yêu những gì đáng được yêu, và ghét những gì đáng bị ghét. Một nghệ sĩ là nghệ sĩ chính vì anh ta nhìn thấy các đối tượng, không phải như anh ta muốn thấy, mà như bản chất đích thực của chúng. Người mang trong mình tài năng – con người – có thể mắc sai lầm, nhưng tài năng, một khi được nới lỏng, như Maupassant đã làm trong các truyện ngắn của mình, sẽ phô bày và bộc lộ chủ đề, khiến nhà văn yêu nó, nếu nó đáng được yêu, và ghét nó, nếu nó đáng bị ghét. (…) Hiếm có nhà văn chân thành nghĩ rằng tất cả những điều tốt đẹp, toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống nằm ở phụ nữ, ở tình yêu, và mô tả phụ nữ và tình yêu của cô ấy từ mọi góc độ với sức đam mê như vậy, và hiếm có nhà văn nào, với sự minh xác như vậy, từng chỉ ra tất cả những mặt khủng khiếp của cùng một hiện tượng, mà với anh ta dường như là cao cả nhất, mang lại điều tốt đẹp lớn lao nhất cho con người. Càng hiểu sâu hơn về hiện tượng này, nó càng trở nên chân xác; những tấm màn che đậy rơi xuống, và tất cả những gì còn lại là những hậu quả khủng khiếp của nó và thực tại còn khủng khiếp hơn.

    Hãy đọc Idiot Son, A Night with the Daughter (L’Ermite), The Sailor and His Sister (Le Port), Field of Olives, La Petit Roque, Miss Harriet, Monsieur Parent, L’Armoire, The Marriage trong Sur l’Eau, và biểu trưng tối hậu của mọi thứ, Un Cas de Divorce.

    (…)

    Sự trưởng thành đạo đức mãnh liệt của Maupassant, trong suốt văn nghiệp của anh ta, được đánh dấu bằng những dấu tích không thể xóa nhòa trong những truyện ngắn tuyệt vời này và trong cuốn sách hay nhất của anh ta, Sur l’Eau.

    Và không chỉ trong việc lật tẩy, sự lật tẩy bất tự giác và vì thế càng mạnh mẽ hơn của đam mê nhục dục, mà chúng ta thấy được sự trưởng thành đạo đức của tác giả; chúng ta cũng thấy điều đó trong tất cả những yêu cầu ngày càng cao hơn mà anh ta đặt ra cho cuộc sống.

    Không riêng trong đam mê thể xác mà anh ta thấy được mâu thuẫn nội tại giữa các ước vọng của con người bản năng và con người lý trí, – anh ta thấy điều đó trong toàn bộ cấu trúc của thế giới.

    Anh ta thấy rằng thế giới, thế giới vật chất, như nó đang tồn tại, không chỉ không phải là thế giới tốt nhất, mà ngược lại, có thể hoàn toàn khác – ý tưởng này được thể hiện một cách ấn tượng trong Horla – và không đáp ứng được các đòi hỏi của lý trí và tình cảm; anh ta thấy rằng có một thế giới khác, hoặc ít nhất là những ước vọng cho một thế giới như vậy, trong tâm hồn con người.

    Anh ta bị dày vò, không chỉ bởi sự phi lý của thế giới vật chất và sự thiếu vắng vẻ đẹp trong đó, mà còn bởi sự thiếu vắng tình yêu, bởi sự chia rẽ của nó. Tôi không biết tiếng kêu tuyệt vọng nào của một con người lầm lạc, ngộ ra sự cô đơn của mình, lại đau lòng hơn lời cầu cứu trong câu chuyện tuyệt vời Solitude.

    Hiện tượng khiến Maupassant đau khổ hơn bất kỳ điều gì khác, và anh ta thường xuyên trở lại, là trạng thái cô đơn khốn khổ, trạng thái cô đơn tinh thần của con người, rào cản ngáng giữa người này và người khác, cái rào cản mà, như anh ta nói, thể xác càng gần gũi bao nhiêu thì tinh thần càng đau đớn bấy nhiêu.

    Điều gì khiến anh ta đau khổ? Và anh ta muốn gì? Điều gì đạp tan rào cản này, chấm dứt nỗi cô đơn này? Tình yêu, không phải tình yêu với phụ nữ, thứ mà anh ta đã chán ngấy, mà là thứ tình yêu tinh thần, thuần khiết, thiêng liêng. Và đó là điều mà Maupassant đã tìm kiếm; hướng tới vị cứu tinh của cuộc đời, thứ đã được hé lộ rõ ràng từ lâu cho mọi người, anh ta đau đớn kéo lê những xiềng xích mà anh ta cảm thấy đang trói buộc mình.

    Anh ta chưa thể gọi tên điều mình đang tìm kiếm, anh ta không muốn chỉ gọi tên nó bằng miệng, vì sợ làm ô uế nơi thánh địa của mình. Nhưng khát vọng chưa được đặt tên của anh ta, được thể hiện qua nỗi kinh hoàng trước cảnh cô đơn, chân thành đến mức lan toả sang chúng ta và cuốn hút chúng ta mạnh mẽ hơn nhiều, rất nhiều các bài giảng về tình yêu, những bài giảng chỉ được thốt ra bằng lời.

    Bi kịch cuộc đời Maupassant nằm ở chỗ, sống trong một môi trường khủng khiếp vì sự quái dị và phi đạo đức của nó, anh ta bằng sức mạnh của tài năng, bằng tia sáng đặc biệt bên trong, đã vượt ra khỏi thế giới quan của tầng lớp mình, đã đạt gần đến sự giải phóng, đã hít thở bầu không khí tự do, nhưng, sau khi tiêu hao chút sức tàn trong cuộc đấu tranh này, đã gục ngã mà vẫn không được tự do, vì anh ta không đủ sức để thực hiện nỗ lực sau chót này.

    Bi kịch của sự sụp đổ này nằm ở cùng một điều mà nó vẫn tiếp tục xảy đến với phần lớn những người được gọi là con người của thời đại chúng ta.

    Con người nói chung chưa bao giờ sống mà không có lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống mà họ đang sống. Ở mọi nơi và mọi thời, đã xuất hiện những con người cấp tiến, giàu thiên tư, những nhà tiên tri, như cách họ được gọi, những người đã diễn giải ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc sống cho con người, và vào mọi thời đại, những người bình thường, những người không đủ sức tự làm sáng tỏ ý nghĩa này, đã noi theo lời giải thích về cuộc sống mà các nhà tiên tri của họ đã hé lộ.

    Ý nghĩa này đã được Kitô giáo giải thích một cách đơn giản, rõ ràng, không thể ngờ vực và chan chứa vui mừng cách đây một nghìn tám trăm năm, như được chứng minh bởi cuộc sống của tất cả những người đã chấp nhận ý nghĩa này và đi theo chỉ dẫn cuộc sống phát sinh từ ý nghĩa đó.

    Nhưng đã xuất hiện những người diễn giải ý nghĩa này theo cách mà nó thành ra vô nghĩa. Và con người rơi vào thế lưỡng nan – liệu có nên công nhận Kitô giáo, như cách nó được diễn giải bởi Công giáo, Lourdes, Giáo hoàng, giáo điều về sự thụ thai vô nhiễm, v.v., hay sống tiếp, được dẫn dắt bởi những chỉ huấn của Renan và những người tương tự, tức là sống mà không có bất kỳ chỉ dẫn và sự hiểu biết nào về cuộc sống, đầu hàng những dục vọng của họ khi chúng còn sôi sục, và theo những thói quen, khi đam mê đã lắng xuống.

    Và con người, những người bình thường, chọn cái này hoặc cái kia, đôi khi cả hai, đầu tiên là phóng đãng, rồi tìm đến Công giáo. Và con người tiếp tục sống như vậy qua nhiều thế hệ, bao bọc bản thân bằng những lý lẽ khác nhau, những lý lẽ không nhằm tìm ra sự thật, mà cốt để che giấu nó. Và những người bình thường, đặc biệt là những người ù lì, thì lại cảm thấy dễ chịu.

    Nhưng cũng có những người khác – rất ít và cách biệt nhau – và Maupassant là một trong số họ, những người với đôi mắt của mình nhìn thấy mọi thứ như đúng bản chất của chúng, thấy được ý nghĩa của chúng, thấy cả những mâu thuẫn của cuộc sống, những mâu thuẫn bị che mắt khỏi người đời, và hình dung một cách sống động những mâu thuẫn này sẽ dẫn họ đến đâu, và dự kiến những giải pháp. Họ tìm kiếm chúng ở mọi nơi, ngoại trừ nơi chúng có thể được tìm thấy, trong Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đối với họ dường như đã lỗi thời, ngu ngốc và đáng ghê tởm bởi sự quái dị của nó. Cố gắng trong vô ích để tự mình tìm ra những giải pháp này, họ đi đến kết luận rằng không có giải pháp nào cả, rằng đặc tính của cuộc sống nằm ở việc mang trong mình những mâu thuẫn còn bỏ ngỏ này. Khi đã đạt được giải pháp như vậy, những người này, nếu bản chất họ yếu đuối, thiếu nhiệt tâm, sẽ thoả hiệp với một cuộc sống quẩn quanh như vậy, thậm chí tự hào về tình trạng của mình, coi sự thiếu hiểu biết của mình là một công trạng, một dấu hiệu của văn hoá; nhưng nếu bản chất họ mạnh mẽ, trung thực, và tài năng, như Maupassant, họ không thể chịu đựng nổi và theo cách này hay cách khác cố thoát ra khỏi cuộc sống vô vị ấy.

    Giống như những người khát nước trong sa mạc tìm kiếm nước ở mọi nơi, ngoại trừ ở gần những người đứng giữa một dòng suối, sẽ làm ô uế nó và đưa lại bùn sình hôi thối thay vì nước sạch, trong khi nước vẫn tiếp tục chảy ra xa hơn, bên dưới lớp bùn. Maupassant đã ở trong tình trạng đó; anh ta không thể tin, – thậm chí không bao giờ nghĩ rằng chân lý mà anh ta hoài công kiếm tìm đã được phát lộ từ lâu và đang ở rất gần anh ta; anh ta cũng không thể tin rằng một người có thể sống trong một mâu thuẫn mà anh ta cảm thấy mình đang sống.

    Cuộc sống, theo những lý thuyết mà anh ta được nuôi dưỡng, những tư tưởng bao quanh anh ta, và được xác minh bởi tất cả những đam mê tuổi trẻ và bản chất mạnh mẽ về tinh thần lẫn thể chất của anh ta, nằm ở sự hưởng thụ, chủ yếu là phụ nữ và tình yêu với cô nàng, và trong sự hưởng thụ kép ấy – trong việc thể hiện tình yêu và khơi gợi tình yêu này ở người khác. Tất cả điều đó sẽ rất tốt, nhưng khi soi kỹ vào những sự hưởng thụ này, chúng ta thấy giữa chúng xuất hiện những hiện tượng hoàn toàn xa lạ và thù địch với tình yêu và vẻ đẹp kia: người phụ nữ vì lý do nào đó trở nên xấu xí, khi mang thai trông đến phát hoảng, sinh đẻ trong sự dơ bẩn, rồi thêm những đứa con khác, những đứa con không mong muốn, rồi những sự lừa dối, tàn nhẫn, rồi những khổ đau tinh thần, rồi đơn giản là tuổi già, và sau cùng là cái chết.

    Vậy, vẻ đẹp này có thực sự là vẻ đẹp không? Và rốt cuộc, tất cả để làm gì? Sẽ thật tuyệt nếu có thể chặn đứng cuộc sống. Nhưng nó vẫn tiếp diễn. “Cuộc sống tiếp diễn” nghĩa là sao? Cuộc sống tiếp diễn, nghĩa là – tóc bạc và rụng dần, răng thì móm, xuất hiện nếp nhăn, và miệng có mùi. Ngay cả trước khi mọi sự kết thúc, tất cả trở nên kinh hoàng và gờm tởm: ta nhận ra lớp phấn son bôi trét, mùi mồ hôi, sự hôi hám, sự khả ố. Thứ mà tôi hằng phụng sự đâu rồi? Cái đẹp ở đâu? Mà nó lại là tất cả. Nếu không có nó – thì không có gì cả. Cuộc sống cũng không.

    Nhưng chưa hết, không chỉ không có cuộc sống trong những thứ dường như chứa đựng cuộc sống, mà chính ta cũng bắt đầu xa rời nó, trở nên tàn tạ, yếu ớt, mục ruỗng, trong khi những người khác, ngay trước mắt ta, tước đoạt từ ta những niềm vui mà toàn bộ điều tốt đẹp của cuộc sống nằm trong đó. Hơn thế nữa: bắt đầu le lói khả năng của một cuộc sống khác, một điều gì đó khác biệt, một mối liên hệ khác của con người với toàn bộ thế giới, thanh trừ tất cả những sự dối trá kia, điều gì đó không thể bị băng hoại bởi bất cứ thứ gì, tỏ chân lý và đẹp đẽ trường tồn. Nhưng điều đó không thể có – nó chỉ là một cái nhìn tréo ngoe về một ốc đảo, khi chúng ta biết rằng nó không có thật và mọi thứ chỉ độc là cát.

    Maupassant đã sống đến khoảnh khắc bi kịch của cuộc đời khi bắt đầu cuộc tranh đấu giữa sự dối trá của cuộc sống xung quanh anh ta và sự thật mà anh ta bắt đầu nhìn thấy. Anh ta đã có những dấu hiệu của sự thai nghén tinh thần.

    Chính những đau đớn của sự thai nghén này được thể hiện trong những tác phẩm hay nhất của anh ta, đặc biệt là trong các truyện ngắn.

    Nếu số mệnh của anh ta không phải là chết trong cơn sinh nở, mà là được thoát thai, anh ta sẽ mang lại những tác phẩm vĩ đại, giàu ý nghĩa giáo dục, nhưng ngay cả những gì anh ta trao cho chúng ta trong quá trình thoát thai của mình cũng đã là nhiều. Hãy biết ơn người đàn ông mạnh mẽ, trung thực này vì những gì anh ta đã đem đến cho chúng ta.


  • Làng

    Đọc thử

    Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn.

    1.

    Ở một làng nhỏ của huyện X., trong một ngôi nhà hai tầng sơn trắng với những ô cửa lợp gỗ im lìm, có một giáo viên hồi hưu – một goá phụ đang yên hưởng tuổi già nhàn tản và phong lưu của mình. Thời trẻ có lẽ bà từng rất đẹp, còn bây giờ tuổi ngoài lục tuần, qua dáng vẻ đạo mạo cùng những lời chào hỏi của láng giềng có thể đoán biết rằng bà rất được thiên hạ vì nể; không ai không biết bà và đều gọi bà một cách thành kính là: bà giáo.

    Bà giáo có hai người con trai. Người con cả tên Tuấn – không thể hy vọng gì ở anh chàng này – anh ta từng phục vụ tại ngũ ba năm và dăm tháng trong ngành hoả xa, nhưng tỏ ra cực lực chán ghét công vụ, sau rốt về quê làm thợ đóng gạch. Người em trai tên Tú thì khấm khá hơn, công tác trong ngạch cảnh sát giao thông, thuộc hạng người hách dịch và máu kiếm chác; còn Sương vợ anh ta bán thuốc ở quầy dược phẩm, là một cô gái gầy nhẳng, mắt xếch, cũng thuộc nòi gia giáo và có của, sống cách X. độ một quãng sông. Bộ dạng của cô ta phản chiếu tính nết của cô ta. Cô ta là người căn cơ, tháo vát, bẻm mép và khá ma lanh, và nhìn chung rất tự hào về những điều này.

    Từ lâu trong nhà bà giáo đã kiên tâm duy trì một đời sống quy củ, mực thước, do đó bà ghét cay ghét đắng những thứ phương hại đến thanh danh gia đình. Bà coi anh con cả là một nỗi thất vọng, nhưng bà yêu mến con dâu, một người ăn học đàng hoàng, và nhất là anh con thứ, chiến sĩ công an, bộ mặt của gia đình. Vừa được lo lót cho một chức nghiệp, anh này đã bộc lộ năng khiếu phi thường trong việc bòn rút dân đen, biết ăn cánh với đám sĩ quan nhận của đút lót, và thạo chia chác không kém cạnh phường lái buôn. Trong công vụ, anh ta đóng rất tròn vai một gã bù nhìn, biết nhắm mắt làm thinh trước thói nhũng lạm, hơn nữa lại nghiêm cẩn thừa hành các chỉ thị mà cấp trên giao phó, thành thử bước đường công danh của anh ta khá xuôi chèo mát mái. Bà giáo hùn tiền đưa anh ta về công tác tại huyện nhà. Cố nhiên anh ta kiếm bẫm, nhưng phạt tiền đồng hương không khoan nhượng, do đó họ khinh miệt gọi anh ta là “con chó vàng”; tuy vậy bà mẹ lúc nào cũng lấy làm hãnh diện và được dịp khoe mẽ bà lại tấm tắc nói:

    “Con trai tôi đấy! Con trai tôi đấy!”

    Chứng kiến con trai tấn tới trên đường hoạn lộ, bà giáo hởi lòng hởi dạ lắm. Khi chàng công an đóng lon đại uý thì bà rục rịch lo chuyện xây nhà xây cửa cho hai vợ chồng. Bà không phải nghĩ nhiều vì hồi còn mồ ma ông nhà đã cắt sẵn cho cậu thứ khoanh đất hai trăm mét vuông. Nhưng thửa đất nằm cuối một con dốc, chìm lút trong đám cỏ dại um tùm, muốn xây sân phải phá tường, san vườn, nói chung đủ điều cách rách. Vợ chồng Tú chạy đôn chạy đáo mấy tháng trời, rồi hai tuần trước ngày đào móng bỗng xảy ra một chuyện rầy rà nho nhỏ.

    Sương vốn từ lâu đã nhăm nhe miếng đất sát sườn nhà mẹ chồng, cô ta thấy thửa đất đó đắc địa, thâm tâm không tránh khỏi cắc cớ rằng tại sao bà giáo mến chuộng chồng mình là thế, vậy mà lại di cho con trai một thửa đất tối như hũ nút thế này. Tối hôm ấy hai vợ chồng cùng nằm nhà, Sương gối đầu lên tay chồng, ngón tay mân mê thái dương của Tú, hỏi:

    “Miếng đất bỏ trống trước nhà là của u hay của ông Tuấn thế anh?”

    “Của ông Tuấn,” Tú lè nhè đáp lời vợ.

    “U cắt cho ông đấy à?”

    “Không, là thầy cắt. Trong di chúc thầy chia đất chia cát cả rồi. Mình là mảnh phía sau, còn mảnh phía trước thầy để riêng cho ông đấy, dành sau này cưới vợ thì ở. Cứ nói thế chứ biết bao giờ mới xây được nhà.”

    Sương, vẻ phật ý, thôi không vân vê thái dương chồng nữa.

    “Này, sao vậy?”

    “À, cái mảnh đất đẹp quá chứ lị!” cô vợ làm giọng nũng nịu, mắt lúng liếng. “Thế ông ấy không nhường mình được à? Thế à… Tiếc quá nhỉ! Hay thử hỏi mua xem sao? Biết đâu ông ấy lại bán.”

    Tú lầm lầm không đáp, vân vê cằm ra chiều nghĩ ngợi. Anh ta thừa nhận đó là thửa đất đẹp, tuy kích thước nhỏ hơn nhưng về mặt địa thế thì hoàn hảo, mặt tiền đón gió phía Nam lại hướng ra đường lớn, hứa hẹn một chuyện làm ăn béo bở. Mấy ngày liền anh ta dò la thám thính, hết bàn bạc với mẹ lại thương lượng với anh, và một tuần sau trở lại đứng trước mặt vợ, mặt đỏ như gấc, hậm hực nói:

    “Không được. Lão nhất quyết không nhường, gạ bán cũng không. Trả bảy chục nghìn cho một mét vuông cũng không bán. Mà bây giờ ngoài kia chúng nó trả có năm chục thôi.”

    “Thế u có nói đỡ không?” cô vợ nối lời.

    “Không ăn thua!”

    “Thế đấy, anh em nhà anh buồn cười thật!” cô vợ sưng sỉa đáp. “Dâng đến mồm còn không biết đường ăn, mà cái ngữ ông Tuấn thì… Thôi, chả thèm nói nữa! Rõ là phí phạm! Phí phạm!”

    Không sờn lòng, hai vợ chồng cùng bà giáo thử thuyết phục một lần chót, nhưng người anh cả vẫn dằn từng tiếng: “Không là không!”

    Như một sợi dây căng quá hoá đứt, hai anh em dần đâm mặt lưng mày vực với nhau. Bà giáo rẻ rúng con cả, em dâu dè bỉu anh chồng, em ruột hầm hè anh trai. Vợ giống tính chồng, ngày ngày Tú và Sương chằm chặp trông ra bãi đất bỏ không, cảm tưởng mình mới xứng đáng là chủ nhân của nó và, đau đớn như thể nó bị tước đoạt khỏi mình. Riêng Tuấn tính không chấp nhặt nên chẳng chốc đã quên khuấy đi: anh ta còn bận bịu những công chuyện riêng.

    Nửa năm sau vợ chồng Tú dọn ra nhà mới. Đó là một căn nhà vườn sơn trắng xây theo phong cách làm đỏm của đám trọc phú, có khoảng hiên rộng nhô ra ở mỗi tầng, sân cũng rộng, lát gạch đỏ, bày biện nhiều thứ cây cảnh đựng trong các chậu đất nung. Hai cột trụ án ngữ trước cửa ra vào trông oai vệ như hai gã lính gác khổng lồ, lạc quẻ với bờ giậu thấp tè cùng khung cổng mạ nhôm màu bạc cũng thấp y chang. Dân làng khi tạt ngang hiên nhà thường nán lại để chiêm ngưỡng thứ kiến trúc cầu kỳ khác lạ ấy, nhưng toán thợ nề lại bình phẩm về nó theo một khía cạnh ít chuyên môn hơn nhiều.

    “Đấy, nhà của cán bộ đấy!” họ vừa huých sườn nhau vừa nói giọng cay nghiệt. “Oai như cóc, nhưng tiền công thì mặc cả từng hào! Thằng kia, lễ tân gia nó có mời mày không?”

    “Em á? Em sao mà được mời, hì hì,” một gã thợ phụ vữa trẻ tuổi ngơ ngác nói.

    “Thì tao từng xây nhà cả cho thầy u nó mà nó cũng có mời đâu.”

    2.

    Lưng dài vai rộng, với giọng nói sang sảng và tiếng cười hồn hậu dễ lan, Tuấn rất được lòng ông quản đốc vốn là chú ruột của mình. Và cả toán thợ đối đãi với anh cũng có phần nể nả, vì anh là, như người ta nói, một bàn tay vàng. Người anh như đúc từ thép, sức vóc khó ai bì kịp, trong công việc tỏ ra hết sức mẫn cán, có thể đội nắng dầm mưa mà đúc cả nghìn viên gạch. Anh không tiêu hoang, không nợ nần và không dính vào một thói sa đoạ nào (kể cả món chọi gà mà các cậu thanh niên ở X. rất khoái).

    Tuy đường nét có hơi thô kệch, diện mạo Tuấn vẫn vào dạng ưa nhìn mà ở quê họ gọi là điển trai. Anh cao ngót mét chín, da ngăm, vai rộng, đậm người, lông mày đen, rậm. Ở thần thái, cử chỉ, dáng dấp của anh một cái gì ngang tàng, một ma lực hấp dẫn những người đàn bà, như đường thu hút kiến. Tuấn biết điều đó, và bản thân càng ra sức tận dụng những ưu thế của mình. Gần như đi đến đâu anh reo rắc những chuyện tình ái lăng nhăng đến đấy, nhưng kỳ lạ là dư luận trong làng vẫn coi anh như một đám bở. Họ quý mến anh vì cái sức vóc khoẻ mạnh, bản tính hay lam hay làm; vì anh xuất thân gia giáo, tác phong đường hoàng, gặp người làng ai cũng niềm nở đón chào. Nhưng hơn cả, anh chinh phục họ hoàn toàn vì hoạ hoằn mới thấy anh chối ai điều gì, từ gieo mạ, gặt lúa, đắp đê, xây cống, anh hăng hái làm tất tật; riêng tài nghệ gói bánh chưng của anh thì xuất sắc, anh gói không cần khuôn mà bánh vẫn vuông chằn chặn, như một vết tích sót lại của thời quân ngũ. Nói chung, anh rất năng nổ trong công tác giúp đỡ bà con láng giềng. Do đó, họ sẵn lòng xuê xoa cái thói bồ bịch bừa bãi của anh, và về điều này quan điểm của họ giống như câu nói quen thuộc mà ai cũng thuộc nằm lòng: “Trăng đến rằm trăng tròn.”

    Những chuyện lang chạ của Tuấn sớm muộn đều đến tai bà giáo. Thực tâm bà sẵn lòng thể tất cho bản tính phong tình của con trai đấy thôi, nhưng bà bất mãn kinh khủng với cái hướng đi mà anh vạch ra cho cuộc đời mình. Bà có cảm tưởng rằng vì anh từ giã binh nghiệp để làm một công viện chân tay thấp hèn, anh đã thẳng tay bôi tro trát chấu lên mặt bà và cả cái gia đình học thức này. Một ngày, bà thổ lộ nỗi lòng trên với ông Sô, viên quản đốc, người từ khi về làng nhận việc rất năng lui tới nhà bà chị già. Thoạt đầu bà than thở chỉ cho có chuyện, nhưng được hưởng ứng nhiệt tình quá nên bà cũng lây cái cung cách xuề xoà của ông em, và dần dần bà bộp chộp tuôn ra mọi nỗi trăn trở trong lòng.

    Ông quản đốc im lặng lắng nghe, từng nếp nhăn hằn rõ trên vầng trán mai mái lấm tấm mồ hôi, mũ cối úp vào đầu gối, tay vân vê khoảng giữa cặp lông mày chổi xể.

    “Cô giáo này (ông ta biết chị mình thích được gọi như thế),” viên quản đốc nói giọng khàn đặc của hạng người mua thuốc lá theo dây, “khả năng phải cưới vợ cho nó đi thôi. Như thế mới tu tâm dưỡng tính được.”

    “Ừ, tôi cũng đã tính đến nước đó,” bà Xoan ậm ừ đáp. “Nhưng chú bảo cưới ai?”

    Hẳn quản đốc đã thì thầm một điều gì rất tếu vì thấy cả hai người cùng cười khùng khục. Đoạn bà giáo thừa dịp thăm dò, hỏi:

    “Thế dạo này trên xưởng nó tòm tem con nào?”

    “À,” ông em lúng búng đáp, “cái đấy thì tôi cũng chẳng biết. Tôi hơi đâu mà ngồi thám thính mấy chuyện trai gái cho chị được. Tôi khuyên là khuyên chị thế, còn quyết định thế nào là ở phần chị.”

    “Thế mà chú nói cứ như đinh đóng cột!”

    Sau khi quản đốc cáo lui, bà Xoan khởi sự suy tính. Bấy nay mấy mụ mối đã xun xoe mách nước cho bà, nhưng thực tình bà chẳng ưng bụng cô nào. Bà những muốn một nàng dâu nhu mì, căn cơ, biết kính trên nhường dưới, biết lo toan vun vén cho nhà chồng, và đặc biệt phải có học thức, không thì cũng phải mồm mép tí chút để bù lại. Cánh cổng xoay trên bản lề đánh két một tiếng cắt ngang dòng suy tưởng miên man của bà.

    Tuấn dựng thuổng vào tường, lảo đảo từ ngoài hiên bước lại phòng ăn, áo cộc vén cao sát nách, mặt đỏ nhừ như quả cà chua, mái tóc rễ tre loà xoà chấm mi. Bà Xoan ngừng nhai, liếc nhìn bộ dạng bầy hầy của con trai và chẹp miệng bất mãn. Thoạt đầu hai mẹ con ăn trong thinh lặng, rồi bà giáo sực nhớ ra cao kiến của ông quản đốc; bà bèn buông đũa, nhìn con trai chòng chọc như thể đang lựa lời.

    “Xem kìa, ngày nào cũng bia với bọt. Lại say rồi phải không?” cuối cùng bà nói.

    “Tôi có uống bằng tiền của u đâu mà lo,” Tuấn lạnh lùng đáp.

    “Cốt là ấm vào cái thân cậu,” bà giáo thở dài nói. “Cậu tự nhìn lại mình đi, xem còn ra thể thống gì nữa không? Em trai thì…”

    “Thằng Tú cũng chỉ được cái mẽ ngoài.”

    “Thế mà giờ nó lên làm cán bộ, làm tôi nở mày nở mặt, rồi nhà cửa nó cũng xây xong,” bà giáo rít giọng. “Thầy cậu cứ chiều cậu quen thói, giờ vạ vật ra không làm nên trò trống gì.”

    “Trời đánh tránh miếng ăn!” Tuấn đập phắt đôi đũa xuống bàn và quát lớn. Anh không lạ gì cái thói mào đầu lan man của mẹ, nên anh đế thêm:

    “Có việc gì u cứ nói thẳng cho.”

    “Thôi,” bà Xoan đổi giọng thân tình sau một thoáng lựa lời, và quyết định đổi luôn cách xưng hô. “Chuyện thế này, u tính cưới vợ cho mày. Thế nào, có thích cưới vợ không?”

    “Tôi vừa gặp chú Hùng trên đường, chú cũng lảm nhảm y chang u,” Tuấn nói chớt nhả. “Cưới cũng được thôi, thú thực tôi cũng đang muốn thưa chuyện với u đây.”

    “Thế mày nhắm ai?”

    “Khỏi phải giấu u, tôi nhắm con bé Thương.”

    “Thương con nhà bà Tuất?”

    Tuấn gật đầu. Bà Xoan đứng phắt dậy, mắt trố tròn, hai bàn tay bấu lấy thành bàn cho khỏi ngã.

    “Sao mày vẫn qua lại với cái ngữ ấy?” bà quát to. “Mày không biết thiên hạ họ đồn gì hay sao? Hay mày giả đui giả điếc?”

    “Toàn chuyện ba láp,” Tuấn khoát tay bác lại.

    “Ôi trời, mày dại như vích ấy! Chưa kể nhà nó nghèo, nghèo kiết, nghèo nhất cái đất Thao Sơn. Không… không thể được… ai cũng được trừ cái ngữ ấy ra. Thôi thôi, mày chơi bời tán tỉnh nó ra sao thì ra, nhất quyết không được cưới nó làm vợ. Cái này tao cấm tiệt đấy!”

    Tuấn trả lời sau một thoáng im lặng, giọng khô khốc:

    “Thế nếu không cưới không được thì sao?”

    Một bầu không khí ngột ngạt ngự trị gian phòng. Bà giáo giương mắt trân trân nhìn con trai, ngờ ngợ ngộ ra vấn đề, cảm giác ngực như bị đè nặng bởi một tảng đá; quá xúc động, bà hổn hển mãi mới thốt lên nổi:

    “Mày làm nó có chửa rồi?”

    Anh con trai chỉ nhún vai và đứng dậy rời đi.

    3.

    Thao Sơn cách X. mười hai cây về hướng Bắc, cứ men theo đường ray, lấy ống khói của nhà máy nhiệt điện làm đích là sẽ tới. Vùng phụ cận khu xí nghiệp rất giàu, nhưng Thao Sơn là vùng giáp ranh, dân cư phần lớn là cánh thợ nề, thợ sơn, thợ ốp gạch. Đó là một làng nghèo, nghèo nhất cả huyện, và nhà Thương thuộc hạng cùng đinh trong cái xó ấy. Cô lớn lên mà không biết mặt cha, vốn là một hạ sĩ quèn người gốc Hà Tây, dạo xảy ra chiến tranh biên giới từng tới đồn trú vùng này – cô là hệ luỵ của một cuộc chung chạ dân quân mà giữa thời buổi loạn lạc diễn ra nhan nhản.

    Sau khi bà mẹ qua đời, Thương bấy giờ sáu tuổi được cưu mang bởi người bá ruột, một goá phụ khắc khổ, ốm o. Bà dạy con bé chăm lợn, cho nó đi học trường làng tử tế như ai. Bà nuôi hai miệng ăn bằng đồng trợ cấp liệt sĩ còm cõi của ông chồng quá cố, rồi một năm sau bà cũng nối gót ông. Bốn anh chị em nhà Thương họp lại, cãi vã, đùn đẩy, sau rốt bà chị cả miễn cưỡng đón em út về ở cùng vợ chồng mình. Bà này tính tình thờ ơ nên thả rông cho nó thích làm gì thì làm, và chưa đầy năm bà ép nó thôi học để tự kiếm ăn. Thương bắt đầu đi làm như ai, tức là đi gom sắt vụn. Ngày ngày con bé còi cọc thất thểu trong chiếc áo vá chằng vá đụp, kéo lệt sệt cái bao bố rách mướp, sục sạo khắp các ngõ, hẻm, bãi thải, công xưởng để nhặt nhạnh sắt vụn, vỏ chai, rác rến, và hoạ may là những con búp bê mất tay cụt đầu – điều này làm nó vui hơn cả. Thời gian rảnh, nó ngồi trông đứa cháu trai lên ba của vợ chồng chị.

    Vài năm qua đi. Mười hai tuổi, trong vỏn vẹn vài tháng Thương đã ra dáng đàn bà, với bộ ngực ngồn ngộn, đùi vế chắc lẳn, thịt da mơn mởn như quả đào chín, và điệu bộ ngô nghê chỉ càng tăng thêm dáng vẻ gợi tình. Ông anh rể trong một dịp say quắc cần câu, hai mắt bơi trong đầu, mới nhìn nhầm em gái thành vợ mình (sau này ông ta thanh minh thế), quên hết cả luân thường đạo lý mà vồ tới hôn lấy hôn để. Một tháng sau mọi chuyện vỡ lở, trong nhà đánh cãi chửi nhau om sòm, và cuối cùng bà chị, vì ghen tuông, bèn tống khứ đứa em gái côi cút (hiển nhiên bà đã tha thứ cho chồng và bà chỉ có thể ruồng bỏ những thứ bà có thể ruồng bỏ) lên một chuyến xe thùng, gửi thẳng xuống Hà Nội làm con ở. Cuộc sống ở thủ đô chẳng khoan nhượng với cô gái khốn khổ hơn được bao; Thương được một lão bán thịt chó nhận làm ô-sin, rồi lại bị chính lão gạ gẫm và xâm hại dẫn tới mang bầu. Bước lầm lỡ đầu tiên không dễ gì gột rửa, và cái tiếng xấu đeo đẳng cô gái về tận huyện nhỏ. Thời gian đầu, không còn biết nhét em gái vào đâu, bà chị đành dẫn Thương tới phụ việc ở xưởng may cùng mình. Cô gái trẻ cũng thêu thùa, cũng vá vít áo quần, bấm đai lưng như ai; chưa đầy tháng thì chính quyền đương nhiệm khởi động rà soát lao động dưới tuổi, cuối cùng bà chị tống quách cô em ra xưởng gạch.

    Lúc đầu mới gặp Tuấn, Thương đã phát hoảng khi trông thấy thân hình lực lưỡng của anh, có phải ra cầm cuốc đưa xẻng thì cô cũng nhích ra xa hai tầm tay với, trong đầu chỉ nơm nớp lo sợ hễ anh ta bắt chuyện thì không biết phải tiếp lời thế nào. Còn Tuấn ban đầu không có gì quan tâm đặc biệt đến cô, nhưng dần dà bắt đầu tươi cười mỗi khi hai người chạm mặt, rồi sau độ một tháng thì chú ý đến cô hơn, và cuối cùng, đến mắt cũng không rời. Về phần mình, Thương biết tỏng anh ta chỉ ve vãn nhằm thò tay vào quần mình, và ra sức cự nự mọi nỗ lực mồi chài của anh ta. Nhưng một lần, khi cô đang loay hoay mở nắp một chiếc bi đông, anh ta bỗng giật phắt lấy, tu nước ừng ực rồi dúi trả vào tay cô, vẻ thản nhiên như không, nhoẻn miệng cười đầy tình ý. Chẳng hiểu sao lúc ấy cô bỗng đớ ra như phỗng rồi bật cười, khoe hàm răng trắng đều và đôi mắt sáng rực như trăng đêm rằm. Từ đó trở đi, Tuấn không để cô yên nữa. Trên xưởng anh ta làm đỡ hết phần cô, hễ ngơi tay lại cà rà sát cạnh như hình với bóng. Nhiều lần anh ta trực sẵn ở đường ray, mũ cối áp đùi, huýt sáo vẩn vơ như một gã chăn bò; trông thấy cô, anh ta đâm ra xun xoe tựa cún trông thấy chủ, còn cô gái khốn khổ không biết ứng đối thế nào, không biết từ khước ra sao, chỉ lặng lặng rảo bước thật nhanh. Anh ta lẽo đẽo theo sau, hễ cô ngoặt là anh ta ngoặt theo, quanh đâu quẩn đấy, thi thoảng lại dấn lên ngang hàng để buông lời tình tứ.

    Sau một tháng thì cả xưởng gạch đã biết hết về chiến dịch tán tỉnh của anh chàng trai lơ; bao nhiêu bông đùa, bao nhiêu trêu chọc cứ thế chĩa thẳng vào Thương. Vốn không lạ gì bản tính phóng đãng của Tuấn, họ chẳng ngại bỡn cợt cô gái ngay trước mặt anh – một sự khinh suất đến thế! Một lần cả toán thợ đang ngồi ăn trưa, một tên học việc trẻ tuổi tính tình cũng khá bông lơn, chọc ghẹo cô gái khốn khổ tới mức mặt cô đỏ lựng, tưởng phát khóc vì ấm ức. Tức thì Tuấn bật dậy trên đôi chân vững chãi như gắn lò xo, lia phắt chiếc đĩa nhắm thẳng mặt gã kia. Gã nhanh nhẹn né được, chiếc đĩa đập vào tường vỡ tan tành. Tất cả im phăng phắc.

    “Thằng chó, nếu mày còn nói năng luyên thuyên,” Tuấn gầm lên, “mỗi lần tao sẽ vặn của mày một cái răng, riêng cái cuối tao sẽ đấm cho nó phập sâu vào cuống họng! Mày rõ chưa? Địt mẹ nhà mày nữa!”

    Toán thợ xúm xít đẩy Tuấn ra ngoài, anh ta chửi đổng một hồi rồi cắp mũ bỏ đi. Ngay khi anh bước ngang ngưỡng cửa, lão thợ cả trước nay chỉ biết chuyện mình cũng phải lẩm bẩm:

    “Dại thế chứ lại! Chọc ai không chọc lại chọc đúng tổ ong bầu!”

    Cả chiều hôm ấy Tuấn lặn mất tăm; ông quản đốc vừa đi công tác về chứng kiến xưởng gạch đình trệ, chưa rõ đầu đuôi cơ sự nên hết sức gắt gỏng. Ông cho gọi lão thợ cả, lão cung cúc chạy tới và thật thà thuật lại toàn bộ câu chuyện. Quản đốc đang nằm vắt vẻo trên võng, mũ bê rê trùm kín mặt, nghe xong sự tình bỗng ngồi phắt dậy, khoái chí vỗ đùi cười ha hả. Đoạn ông ho húng hắng vài hơi, cho gọi tên học việc kia đến và trách mắng một thôi một hồi cái hành vi dại dột của gã. Ông đe doạ sẽ tống cổ gã, nhưng trông vẻ khúm núm của gã rồi ông cũng nguôi.

    “Thế mày còn không xin lỗi nó à?” cuối cùng ông nói giọng kẻ cả. “Chắc nó nằm ở nhà đấy, đi mà giải quyết với nhau.”

    Lời khuyến nghị tức tốc được thi hành. Sáng hôm sau Tuấn trở lại, mặt hầm hầm không thèm bắt chuyện với ai – mọi chuyện thế là ngã ngũ, chẳng ma nào dại mà chơi với lửa nữa. Suốt một thời gian cả xưởng kiên quyết tránh mắc mớ tới cặp đôi kia, rằng dù muốn hay không muốn, Thương vẫn luôn nằm dưới sự bảo trợ của Tuấn, mà Tuấn lại được lão quản đốc chống lưng. Còn Thương sau sự việc thì như cá mắc câu, đâm cảm mến vị cứu tinh của mình, lòng dạ liêu xiêu, cũng bắt đầu cười đùa ngả ngớn, rồi hẹn hò, rồi ưng thuận trao thân.

    Một tháng rưỡi qua. Cặp đôi vẫn qua lại thường xuyên. Một buổi chiều Thương không đi làm, Tuấn vừa tan ca ở xưởng gạch về, chiếc khăn màu đỏ ướt rượt vắt thõng trên vai, đủng đỉnh bước một xuống dưới chân đồi; đi trước anh có hai người thợ khác, vai cũng vắt khăn và đội mũ cụ hồ vành rộng màu xanh da lính. Bước tới khúc quanh, bỗng một người trong bọn khựng lại, bá vai Tuấn, tay trỏ xuống gốc cây sung toả rợp phía dưới chân đồi. Anh nheo mắt và nhận ra người yêu đang đứng khép nép trông về phía mình, thoáng chột dạ. Xuống tới nơi, hai người thợ biết ý bèn lảng đi thẳng. Còn lại một mình, Thương tiến gần Tuấn, giương đôi mắt đỏ hoe dáo dác ngó quanh. Cô bận bộ đồ lanh mặc ở nhà, vẻ luộm thuộm, tóc xổ tung, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Mặc Tuấn cực lực gặng hỏi, cô vẫn lần khần, đầu cúi gằm.

    “Em… em có thai rồi!” cuối cùng cô nói.

    Tuấn sững sờ như vừa ăn một đòn sau gáy.

    “Kìa anh nói gì đi, em sợ quá! Em không ngủ với ai ngoài anh cả, cái này em thề! Nếu anh không nhận thì… anh cho em tiền… rồi em sẽ tự xử lý…”

    Tức thì Tuấn nhìn chằm chặp vào mắt người tình như muốn đọc từng ý nghĩ, mặt trơ như đá.

    “Xử lý cái gì?” anh ta gầm lên, mặt đỏ như lửa.

    “Em sẽ.. bỏ…”

    “Câm ngay! Con tao sống hay chết là quyền của tao!”

    “Có phải lỗi tại em đâu mà,” người đàn bà rên lên một tiếng đầy ai oán, quỳ sụp xuống vạt cỏ, vùi mặt vào tay tấm tức khóc…

    4.

    Vác bụng chửa về làm dâu, Thương bị cả gia đình nhà chồng khinh ra mặt. Mẹ chồng, em chồng và đặc biệt là người em dâu không những không thích chạm mặt cô, mà nếu không thật cần thiết thì họ cũng chẳng buồn đếm xỉa tới cô nữa. Những ngày ở cữ trôi qua đơn điệu, chán chường. Buổi sáng, nhân viên bưu điện đến cùng giờ Tuấn vác thuổng đi làm; bà Xoan đeo cặp kính lão, nghển cổ đọc từng cột báo chi chít trước hiên nhà, sau đó bà rảo bộ ra chùa, mình bận bộ đồ lam màu xanh xám, đầu đội nón lá, gặp hàng xóm thì vươn cổ như rắn ngóc đầu khỏi vựa lúa non, trưng ra nụ cười hoà nhã niềm nở. Nhưng trước mặt các bạn cao niên, bà than thở luôn mồm về nàng dâu mới về còn đần độn, cung cách đặc sệt con nhà bần nông. Ban đầu các bà bạn vì tế nhị cũng hùa theo chê trách, nhưng lâu dần hoá nhàm, họ đành ngán ngẩm chịu đựng màn than van vô tận của cô giáo già.

    “Không bằng một góc con dâu nhà người ta!” bà giáo ca cẩm. “Rồi sắp tới đẻ đái lại khổ cái thân già này thôi!”

    Thế rồi Thương hạ sinh một đứa con trai ngay trước Tết âm, bà giáo lại vui như mở cờ trong bụng. Bà đích thân xuống uỷ ban cùng Tuấn làm giấy khai sinh, và đặt cho thằng cháu đích tôn một cái tên rất kêu: Gia Bảo; bản thân bà cũng cật lực coi sóc cháu nhỏ. Bất chấp sự bao bọc chặt chẽ của cả gia đình, thằng bé vẫn còi cọc, da vàng như nghệ và trông chẳng lanh lợi tẹo nào. Thấy cháu quặt quẹo bà giáo lấy làm buồn phiền lắm… Riêng Thương càng vì thế mà yêu con hơn, yêu đến phát cuồng. Quả thực kiếm khắp làng cũng không thấy ai yêu con như cô ta. Cô cáu bẳn khi mẹ chồng giành cu cậu ra khỏi mình, cô lườm nguýt khi họ hàng tới thăm nắn nắn ngấn tay ngấn chân của thằng bé, còn ai đòi thơm má nó thì cô đến là thất đảm… Tóm lại, cô luôn ghen bóng ghen gió dù chính cô cũng không rõ nguyên cớ tại sao.

    Bây giờ thì trong nhà bắt đầu diễn ra một trận sống mái giữa mẹ chồng và nàng dâu về cách chăm bẵm con mọn. Những cuộc cãi cọ phần nhiều khởi nguồn từ bà mẹ chồng. Vốn rảnh rang nên bà cật lực bới bèo ra bọ và thường thường bà lên giọng hạch sách vào giờ ăn tối. Khi thì bà nhận xét rằng bát đĩa rửa chưa sạch, khi thì bữa ăn không đủ chất, khi thì trách móc con trai chống cùi tay lên đùi lúc ăn, khi thì bà than thở cháu trai quặt quẹo, nàng dâu ít sữa, chăm chút không mát tay. Và bà quy tội cho cô về tất tật những chuyện này. Thanh danh bị uế tạp đã đành, trật tự cố hữu cũng bị đảo lộn vì chị chàng đến là đuểnh đoảng, do đó bà đâm tức bực, và tự giao cho mình nhiệm vụ phải càng riết róng canh chừng, xét nét cô ta từng li từng tí… Vốn quen nói ngoa nên đôi khi bà mạt sát con dâu bằng những lời lẽ không được xứng danh nhà giáo cho lắm. Thoạt đầu Thương ấm ức và đem chuyện phàn nàn với chồng, nhưng lần nào anh cũng đấu dịu theo hướng chủ hoà, đến nỗi dần dà cô hiểu rằng anh sẽ chẳng thể giúp được gì cô, cho nên cô thôi không mách nữa, mà chỉ lẳng lặng nghiền ngẫm cảnh ngộ bi đát của mình. Và càng thấm thía cảnh ngộ của mình bao nhiêu, cô càng căm ghét mẹ chồng bấy nhiêu. Cô bắt đầu mong bà chết đi, nhưng phần vì sợ phải tội, phần vì nhận thấy viễn cảnh khó lòng xảy ra, cô càng não nề hơn và kết luận rằng thảm trạng của mình là vô phương cứu chữa. Cô coi mình là một kẻ tối bất hạnh, cô oán giận, giấu giếm niềm oán giận đó, và lòng hiềm oán ngấm ngầm này của cô càng đơm thêm sự đay nghiến của bà mẹ chồng.

    Tuy cảm biết được mối hiềm khích giữa mẹ chồng nàng dâu và bị lương tâm thôi thúc phải đứng về phía vợ, những lời đàm tiếu về quá khứ bất hảo của Thương đã phần nào ảnh hưởng đến Tuấn. Giữa cảnh vợ bìu con díu, anh bỗng đánh bạn với ma men và thường mò về trong tình trạng say bí tỉ. Khi tỉnh táo anh ra sức bao bọc vợ bao nhiêu, thì nốc rượu vào anh càng thẳng tay đánh đập vợ bấy nhiêu. Có cảm tưởng anh ta cho rằng vì mình là chồng, là người cưu mang cô nàng khốn khổ, hơn nữa còn phải ăn lại đồ thừa của kẻ khác, do đó vợ phải chịu ơn anh và anh có đặc quyền được đối xử với cô ra sao thì ra; những lúc ấy mặt anh đỏ phực, mắt trợn ngược, cúc ngực mở phanh, xắn tay áo đến tận khuỷu, anh vớ được cái gì dùng cái nấy, khi thì cán chổi, khi thì cần câu, không kiếm được gì thì dùng tay vả đôm đốp. Vừa đánh anh vừa rủa: “Con đĩ, con đĩ, mày ngủ với bao nhiêu thằng rồi!”, và liên tục doạ dẫm sẽ quăng vợ xuống giếng. Dạo đầu Thương gắng gượng chịu đựng những trận đòn tới tấp vô nguyên cớ ấy, nhưng lâu dần cô bắt đầu phản kháng, cũng đổi cách xưng hô và quay lại nhục mạ chồng, và xét về tính khí cùng mức độ sát thương của lời nói thì hai bên cũng một chín một mười, không ai chịu thua kém ai. Rồi cũng chính hai con người trái nết ấy, chỉ một lát sau, lại sà vào vòng tay nhau và ân ái cuồng nhiệt tới khi mệt lả. Vai kề vai, chồng ra sức dỗ dành và thề thốt sẽ không tái phạm, vợ cũng nhắm mắt đưa chân, nhưng hễ có cơ hội là họ lại đánh đập, chửi bới, không nề hà mà quẳng vào nhau những tính từ miệt thị nhất.

    Chuyện cứ dằng dai như thế suốt ba tháng trời. Một buổi trưa, Thương trở về sau khi đem cặp lồng lên xưởng gạch cho chồng. Mệt phờ vì phải cuốc bộ, cô vừa bước vào gian khách thì bắt gặp bà Xoan đang lén cho thằng cu bú sữa từ một túi trữ (bà xin từ hàng xóm, nhà này cũng vừa có sản phụ mới sinh). Lúc ấy cô cảm thấy máu trong người như sôi lên, giận đến mức quên hết cả nhún nhường lễ độ; cô hùng hổ tiến tới, dậm chân thình thịch, buông xõng một câu đầy xấc xược:

    “Sao u phải đi xin sữa?”

    Bà già cố tình làm thinh, rung rung đùi, bàn tay vẫn thong thả đưa lên đưa xuống bịch sữa. Trông thằng bé mút chòm chọp cái của vay mượn ấy, Thương điên tiết giật phắt ra, khiến sữa vung vẩy khắp sàn, dây cả lên mình mẹ chồng; rồi cô khựng lại như để lấy hơi và rống lên như loài thú dữ:

    “Sao phải thế? Hả?”

    Tiếng khóc oang oang của thằng bé vang dội khắp nhà. Bà giáo cơ hồ thất kinh vì những lời lẽ hết sức táo tợn của nàng dâu: trước nay cô ả vẫn luôn phục tòng mọi ý chí của bà. Môi bà tím ngắt, hai mắt trợn ngược lên, bà rống lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Tiên sư con này láo toét!”

    “Bà đưa cháu đây!” Thương nói như ra lệnh, giành lấy thằng cu từ tay mẹ chồng rồi chạy biến lên lầu…

    Chập tối Tuấn trở về. Từ trên gác Thương cũng nghe rõ mồn một cái giọng ngoa ngoắt của mẹ chồng đang mách chuyện với anh con trai. Rồi cô nghe tiếng bước chân như tiếng búa nện của chồng khi anh leo cầu thang, càng ngày càng gần, và im bặt. Anh đứng chắn ngang ngưỡng cửa, cô ngồi ngoan ngoãn cạnh mép giường, vẻ rúm ró, cam chịu tựa hồ con chó sắp bị chủ đánh phạt. Tuấn nhìn quanh quất khắp phòng, thấy con trai đang nằm trong nôi, rồi anh mắm môi, trừng trừng nhìn vợ, trông gương mặt đỏ dừ của anh cũng đoán biết được anh đang trải qua một sự tranh đấu nội tâm dữ dội thế nào.

    “Hay ho nhỉ?” anh buông độc một câu rồi bỏ ra sân thượng, châm thuốc.

    Lát sau anh trở vào, nét mặt cơ hồ đã dịu vợi đi. Những nếp nhăn trên trán chùng xuống. Anh đằng hắng vài hơi rồi bắt đầu bài giảng muôn thưở của mình về phép tắc, về phận làm dâu, về thói kính trên nhường dưới… Cứ theo anh nói, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy, bất kể chuyện gì cũng thế thôi, rằng mẹ chồng nàng dâu khục khặc với nhau là chuyện thường tình, rằng những lúc cần thiết thì anh đây vẫn có thể phân bua phải trái ra trò, và thi thoảng anh còn gằn giọng tỏ ý rằng vợ hãy biết điều vì anh mà nóng máu lên thì không xong đâu. Còn đối với Thương, tất cả những lời lẽ sáo rỗng ấy chỉ quy về một câu hỏi duy nhất: bao giờ thì kết thúc những điều này? Nhưng Tuấn dường như không đoán được ý nguyện của cô, anh vẫn nói sa sả và bởi vợ cứ im ỉm như thóc, anh bực quá mới vả cô một cái. Rồi một cái, một cái nữa. Lời qua tiếng lại, như thể tăng xông, Tuấn nhảy bổ lên giường, một tay quặp chặt cổ tay vợ, tay còn lại vả vợ chan chát như khua chèo. Thương dùng dằng giẫy ra, nhưng dưới cái thân hình hộ pháp kia, cô chỉ còn biết khum tay che mặt, cam tâm hứng chịu trận đòn trút xuống như mưa.

    “Sau tao nói thì phải trả lời, nhớ chửa?” lát sau Tuấn nói với vợ khi đã thoả thuê.

    “Mày cứ đánh tiếp đi, đánh mạnh vào!” Thương ngồi rúm ró bên thành giường, vừa lau máu trên môi vừa trâng tráo khích bác. “Mày chỉ được có thế!”

    “Mày nói lại xem nào!”

    “Thằng khốn nạn! Mày cứ hứa, hứa mãi, rồi xem mày làm được cái gì! Mày chỉ biết đánh tao thôi!”

    Nói tới đây Thương lăn đùng ra khóc rũ rượi. Tuấn toan vào thế, không hay để ý đứa bé bị tiếng động làm cho tỉnh giấc, nãy giờ nó la khóc vô cùng dữ dội. Khó tin nổi một cái cuống họng nhỏ nhắn có thể phát ra âm thanh chói tai đến thế. Thương chạy vội về phía chiếc nôi và ôm chặt thằng bé vào mình, nhảy phắt về sát góc tường. Vừa dỗ con vừa khóc, cô ném ánh nhìn căm phẫn vào chồng, giữa làn nước mắt, giọng cô gằn lên cơ hồ đe doạ:

    “Tao biết mày cưới tao chỉ vì thương hại! Mẹ con mày cứ đánh chửi tao thế nào cũng được, nhưng con tao phải để tao nuôi! Bố tổ, con giun xéo lắm cũng quằn, tao chẳng dám hứa trước đâu. Nếu mày thực sự quý trọng con mày thì đừng dồn tao đến mức đường cùng, lúc ấy tao sẽ chẳng ngập ngừng đắn đo mà nhảy xuống giếng cùng với thằng bé này! Lúc đấy mày đi mà vớt xác hai mẹ con tao!”

    Tuấn rùng mình. Anh ta nhìn đôi mắt sòng sọc tia máu của vợ, sửng sốt vì bị đe doạ bởi chính lời đe doạ mà mình vẫn hay dùng. Vẻ mặt anh có vẻ hằn học của người vừa chơi khăm người khác nhưng bị kẻ đó chơi lại một vố đau hơn. Anh ta dường như bực mình vì đã tỏ ra bối rối, hơi sượng sùng vì chịu lép vế trước lời hăm doạ kia, nhưng đồng thời không thể không tin tất cả có thể trở thành sự thực: Thương tất nhiên là thuộc loại người đến con mình cũng không tiếc nữa huống hồ tiếc cái thân mình.

    “Sang năm mình dọn ra riêng,” anh ta cả quyết nói sau một hồi thinh lặng. Thương chẳng nói chẳng rằng, anh ta dằn giọng nhắc lại:

    “Nghe gì không? Sang năm mình dọn ra riêng! Sớm muộn gì cũng phải thế, nói thật tao cũng chẳng chịu nổi cái tính chấp nhặt của bà già.”

    “Có thật không?” đến đây người vợ ngước mắt nói với vẻ ngờ vực.

    Một quãng lặng trong đó đôi bên dò xét nhau.

    “Thật không?”

    “Thật!”

    “Mày hứa đi!”

    Tuấn chần chừ vài giây, vẻ miễn cưỡng, rồi nói:

    “Tao hứa!”

    Lúc ấy, người đàn bà cảm tưởng mình có thể ăn thêm chục cái tát nữa cũng không xi nhê, rằng dù thế nào thì cô vẫn vui như thường. Giữa đêm khuya thanh vắng, đứa bé vẫn kêu oe oé, còn mẹ nó thì vừa khóc nức nở vừa cười man dại trong sự sửng sốt của đức lang quân. Mười hai giờ, đoàn tàu chở than xình xịch kéo qua. Trong căn buồng nhỏ, vợ chồng lại vần nhau đến mệt lử rồi lăn ra ngủ như chết, như chưa từng có cuộc cãi vã nào…

    5.

    Ba tháng nữa qua. Như thể có một phép màu, đứa bé dần dần khoẻ mạnh hơn, thân mình trở nên bụ bẫm, bắp tay bắp chân tròn trặn, má núng nính. Sự phổng phao của nó tạm thời lắng đọng những xung khắc trong nhà và gây ảnh hưởng rõ rệt tới từng thành viên. Bà Xoan đon đả như thể hồi xuân, Thương vẫn củ mỉ cù mì và tận lực nâng niu con nhỏ, còn Tuấn từ sau vụ kia thôi không dám động thủ với vợ nữa. Nói không ngoa vợ chồng ăn ở với nhau còn hoà thuận là khác. Họ cùng kiên nhẫn dõi theo sự phát triển của cậu quý tử. Thằng bé bắt đầu tập lẫy, rồi ê a những tiếng đầu tiên, tỏ ra là một cu cậu hết sức hoạt bát, hiếu động. Đường nét của nó giống Tuấn như tạc, và tuy ai bế nó cũng theo, nhưng riêng bố thì bám chằng chằng.

    “Không sao dứt nổi cái ông cụ này,” Tuấn làm bộ ngúng nguẩy, uốn dài giọng như hát. “Thôi ông lớn nhanh cho tôi nhờ, ông tướng ạ!”

    Anh ta quả thực đã tu chí làm ăn, bắt đầu biết chắt chiu, dè xẻn. Chủ quán bia tiếc hùi hụi vì sự tiết chế bất ngờ của một khách hàng thân thiết. Trong sáu tháng, anh ta để riêng được năm trăm viên gạch ba banh, cùng năm chục tấm lợp bờ lô chất đống đằng sau vườn nhà, dưới cây mít na mà anh tự tay đốn sát gốc. Vườn tược quang quẻ, có đôi chim chào mào không biết từ đâu ngày nào cũng tới đậu trên bờ giậu và cất tiếng hót lảnh lói. Nghe tiếng người chúng bay vút đi, Tuấn bồng con nhìn theo chúng, rồi xốc nách nhấc bổng thằng bé lên cao như Rafiki bế Simba trước mặt toàn thể muông thú.

    “Cái ông kễnh này!” anh ta thích chí reo lên. “Tôi xây nhà cho ông đây, sau này lớn rồi xây lại cho tôi nhé! Sao nào, ông có nhất trí với tôi không?”

    Đứa bé bật cười khanh khách, giơ đôi bàn tay mũm mĩm quặp chặt hai tai bố. Tuấn liếc mắt nhìn Thương đang đứng phía sau, cả hai phì cười. Sau khi xoay vòng con trai thêm vài lượt nữa, anh trả nó về tay vợ; cô ta khạng nạng địu con bước vào nhà. Còn lại một mình, anh đứng trầm mặc rất lâu trước đống gạch ba banh, châm thuốc hết điếu này đến điếu khác. Như viên kỹ sư lập đồ án một công trình, anh ta trù tính, phác thảo, sắp đặt đời sống tương lai của mình, và chu đáo đến mức định đắp một cái bể nhỏ cho thằng con trai vày nước.

    Ông quản đốc tạt ngang hiên nhà, chú cháu nghếch đầu chào nhau.

    “Tôi bảo có sai đâu, hở cô giáo, cứ cưới vợ vào là khác hẳn!” ông ta thầm nhủ, rất hài lòng vì sự ứng nghiệm này.

    6.

    Tin tức về tai nạn của Tuấn đến giữa đêm. Anh bỏ mạng giữa xa lộ, toàn thây biến dạng không rõ hình người, óc văng ra ngoài bờ ruộng. Một lão hàng xóm goá vợ tên Gia bấy giờ đang đánh kích trộm ngoài đầm, quen thói hóng hớt bèn tót lại chỗ đám đông. Người ta tưởng lão là thân quyến người bị nạn, vì lão bỗng rú lên kinh hoàng trước đống bầy nhầy, rồi lão nôn thốc nôn tháo, chống tay vào cột mốc cho khỏi ngã… Hoàn hồn rồi lão phi hết tốc lực về làng báo tin. Đêm ấy cả xóm thức trắng vì tiếng thét bi thảm đến xé lòng của người vợ trẻ…

    Tuấn chết vào mùa đông, rồi xuân đi đưa hạ tới, và mùa thu vội qua, một mùa đông giá rét nữa ập về. Khi bất kỳ ai đi ngang hiên nhà, họ lại nhớ về người quá cố; và hễ họ bắt gặp bất cứ ai trong gia đình bà giáo trên đường đi chợ buổi sáng hoặc đi tập thể dục buổi chiều, điều này cũng lại đánh động cho họ nhớ về vụ tử nạn kinh hoàng kia.

    Dường như một màn tối đã giăng xuống căn nhà. Cảnh nhà ảm đạm hơn, bắt đầu có những vết tróc trên trần, mưa trút xối xả xuống các máng sắt hoen gỉ; con chó già đâm đầu vào tàu hoả gãy làm đôi, như thể tự hoá kiếp khỏi tình cảnh tù túng, rồi cả xóm nhặt phần thây lành về giết thịt; gà toé bậy đầy khoảng hiên nhỏ, cỏ dại chen nhau mọc trên các lối… Và Thương dường như cũng ám vào mình cái vẻ ủ dột. Cô đau ốm triền miên, thân hình choắt cheo, mặt dài vêu ra, da dẻ xám ngoét cả lại. Ma chay, giỗ giếc, con mọn, sự lãnh đạm vô ưu của nhà chồng, ánh nhìn thương cảm của hàng xóm – tất cả chuyện này làm cô kiệt lực và dồn cô đến nước tuyệt vọng.

    “Chồng mất thì còn con,” bà Xoan cao giọng của người từng trải. “Chao ôi! Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, cái số kiếp tôi hẩm hiu như chén cơm nguội! Lại còn thằng bé, tí tuổi đầu đã mồ côi cha!”

    Bà cũng buồn, khóc ông ổng trước mặt khách viếng, nhưng lại đẫy đà hơn, da trắng lốp, và chẳng vì con trai mất mà bà ăn ít đi hay ngủ bớt ngon đi. Bà vẫn nhẩn nha đọc báo vào buổi sáng, đi bách bộ vào buổi chiều, thi thoảng dự lễ hầu đồng, trên đường về tán chuyện cùng bạn cao niên. Vợ chồng Tú báo tin sắp có con đầu lòng, bà túc trực bên đấy luôn. Họ toan tính một chuyện gì đấy, về đất đai, và Tú gần như ngày nào cũng tất bật bôn hành, mày râu nhẵn nhụi, gặp người quen dưới uỷ ban thì vồn vã chìa tay ra bắt, với nụ cười bí ẩn gắn chặt trên môi.

    Một chiều tháng sáu, Sương ngồi một mình bên bàn tiếp khách, im lặng trông ra khoảng sân. Bên ngoài trời nóng nực, đến con chó cái cũng hoá uể oải, nằm sõng soài trong chuồng, thi thoảng lại cất tiếng rên rỉ yếu ớt, giả dụ có khách vào nhà hay trộm tới khuân hết đồ đạc đi thì nó cũng thây mặc, chẳng buồn đứng dậy mà tiếp nữa. Sương vẫn ngồi im trông ra khoảng sân ngập nắng, đầu ong ong. Cô thấp thỏm chờ đợi như bứt rứt điều gì…

    Bỗng nghe tiếng then cổng rít lên. Cô ta chạy nhào ra hiên; qua bờ giậu, cô thấy bà Xoan tay cắp nón bước vào nhà. “Sao lâu thế nhỉ?” cô ta tự hỏi lúc trở vào trong, nôn nóng dậm chân bần bật xuống sàn như ngồi máy may. Tú xuống uỷ ban từ sáng và hẹn trưa sẽ trở về, nhưng đã ba giờ chiều rồi vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Cô ta sốt ruột ngóng đợi, dỏng tai nghe ngóng từng tiếng rịn ga, tâm can chộn rộn vì niềm hiếu kỳ thiêu đốt.

    Cuối cùng có tiếng đế giày đánh cộp ngoài thềm. Tú bước vào nhà, tay ve vẩy một tập hồ sơ màu đỏ mỏng tang; bắt gặp cái nhìn rào đón của vợ, gã nhoẻn miệng cười ranh mãnh.

    “Xong rồi!” gã nói với vẻ hài lòng của người vừa lập chiến công.

    Cô vợ cập rập kéo chồng ngồi xuống.

    “Cứ từ từ,” gã giơ tay trước mặt chặn lại, cùng lúc mắc nón kepi lên cây treo đồ, đoạn ngồi xuống cạnh vợ, nới lỏng cà vạt, chân nọ vắt chân kia, ngả lưng vào tấm nệm đầy khoan khoái.

    “Mang xin cốc nước! Nước đá nhé!”

    Người vợ chạy vù vào bếp, trở lại ngay, trao ly nước cho chồng bằng cả hai tay. Tú nốc cạn như thằng chết khát, “khà!” một tiếng rất to, đoạn hắng giọng.

    “Đúng là số hên!” gã cất lời. “Tự dưng gặp được thằng Xuân, cái thằng đợt Tết vào thăm nhà mình ấy. Lai rai một hồi mới té ra ông chú nó làm chủ tịch. Ông già nó vừa mất, nó cũng đi làm hồ sơ giống mình. Vậy mà đếch nói sớm! Anh mới nhờ nó nói đỡ vài câu. Thế là xong! Giấy tờ đây,” anh ta quăng tập hồ sơ xuống mặt bàn, “giấy chuyển nhượng, giấy cam kết, rồi hồ sơ đủ cả.”

    “Thế là xong chửa anh?” Sương ngơ ngác lật giở tập hồ sơ một hồi rồi hỏi, hoàn toàn mù tịt.

    “Xong thế nào nhanh thế!” gã phẩy tay đáp. “Bây giờ con bé kia nó phải ký vào đây, đồng ý sang tên cho bà già. Còn phần đất của thằng con thì để nguyên đấy, mình được quyền khai thác trên cơ sở giám hộ. Tất nhiên cũng phải bưng bít chút đỉnh, nhưng… người ta nói thế nào ấy nhỉ… à… phải rồi… muốn ăn cá cả phải thả câu dài. Vậy đấy…”

    “Trời ạ!” Sương nói, lúc lắc đầu. “Chắc gì nó đã chịu ký mệ! Bây giờ phải làm gì đó!”

    “Dĩ nhiên là phải làm gì đó! Nghĩ đi!”

    Hai vợ chồng nhìn nhau chằm chặp tựa hồ đang trao đổi ý nghĩ qua ánh mắt.

    “A!” Sương kêu lên. “Thế mà không nghĩ ra”

    “Thế nào?”

    “Con bé kia nó có biết chữ đâu!”

    Tú im lặng, vẻ khó hiểu. Sương vồn vã lý giải:

    “Thế này, giờ anh lựa lời bảo nó ký vào đây, bịa ra một cái lý do gì đấy. Anh bảo nó chuyển hết đất đai của bà cụ, rồi bà chết không về mình thì về ai. Mà từ dạo ông Tuấn mất bên đấy em thấy cũng chí choé tối ngày, bà cũng muốn tống cổ nó đi từ lâu rồi. Chẳng qua bà sợ thiên hạ dị nghị đấy thôi!”

    “Tài thật!” Tú thầm nhủ, và gã ra vẻ suy tính dù trong lòng rất hài lòng với mưu chước mà vợ gã vừa bày ra, đoạn gã nói:

    “Được đấy! Vậy phen này phải nhờ bà già một thể rồi.”

    “Thế anh thưa chuyện với u luôn đi!”

    “Hừm,” Tú nhíu mày nói, “từ từ xem nào… mới tính thế…”

    “Từ từ cái gì! Bà cũng đến tuổi lẩm cẩm rồi, chỉ muốn cốt cho xong chuyện thôi.”

    Đoạn Tú đứng dậy, bước ra hiên, dóng mắt về phía nhà bà Xoan.

    “U có nhà không?” anh ta hỏi vợ.

    “Có đấy!” cô ta hăm hở tiếp lời. “Em vừa thấy bà xong, chắc đang ngồi phòng khách. Anh sang mau đi!”

    Và cũng hơi lần chần, gã vòi thêm một cốc nước nữa, tu ực như nuốt luôn nỗi cấn cái trong lòng, rồi gã cắp theo tập hồ sơ bước sang, đầu vẫn bận rộn với những suy tính. Đằng sau, vợ gã mắm môi nhìn theo.

    7.

    Tháng bảy. Mưa rả rích ngày đêm, đàn ruồi vo ve bên ô cửa sổ, bên dưới bậu cửa xác ruồi chết như ngả rạ. Từ vườn đưa lại cái mùi tanh nồng đặc trưng của nấm mốc ứ đọng sau nhiều ngày oi bức. Bà Xoan ngồi bên bàn pha chè, một tay chống cằm, một tay nắm quai cốc nước chè nghi ngút khói. Bà ngồi im như tượng, những nếp nhăn trên trán hằn sâu cho thấy bà đang suy nghĩ rất hung. Trên lầu, Thương lăng xăng chạy đi chạy lại nô giỡn cùng đứa con nhỏ. Thằng bé nằm trong võng, còn cô đứng cạnh khung cửa, chụm tay che mặt.

    “Ú…oàaaaa! ú… oàaaaa!”

    Rồi chạy vụt đến hôn hít điên cuồng. Cũng như mọi khi, trông thấy mẹ, thằng bé hé cái miệng chưa mọc răng bật cười khanh khách, vẫy vẫy hai bàn tay mũm mĩm như hai nắm cơm tròn trĩnh.

    “Ôi, sao mà kháu thế không biết,” Thương nhìn con hồi lâu, vừa nói vừa kéo vạt áo chặm nước mắt. Rồi cô bồng thằng bé lên, ngả đầu nó vào vai, thầm thì như nói với chính mình. “Tội nghiệp con tôi! Cục vàng của mẹ! Bố thương Bảo đến thế… Mẹ cũng thương Bảo lắm, nhưng không bằng bố được! Thế Bảo có thương mẹ không?”

    Thằng bé im re, chỉ nhoẻn miệng cười khoe vành lợi nhợt nhạt, nhưng cô hiểu hết, hiểu rằng nếu nó nói được, nó sẽ bảo cô rằng nó có thương. Cô yêu nó quá! Cô đã trút tất cả sức mạnh của mối tình mãnh liệt nhưng đầy sóng gió với ông chồng quá cố vào đứa con độc nhất này. Và ở nó cô thấy niềm hy vọng, như ánh sáng le lói phía cuối đường hầm. Cô thích thú tưởng tượng mai này nó sẽ trở thành một ông lớn nào đó, nó sẽ lớn phổng phao như Thánh Gióng, tay chân cứng cáp, đỏ da thắm thịt, sự trưởng thành của nó sẽ giúp cô khuây khoả, sẽ là niềm an ủi tinh thần mà qua đó cô có thể đạp bằng mọi gian nan, sóng gió…

    Bỗng cô nghe tiếng văng vẳng vọng lên từ dưới lầu. Tiếng gọi lặp lại rõ ràng hơn. Cô đặt con vào võng và đứng thẳng, rồi không kìm được lại cúi xuống hôn chụt một cái. Cô đóng cửa thật khẽ rồi bước xuống cầu thang. Cô thấy mẹ chồng đang ngồi sau bàn pha chè; vẫn một tay chống cằm, một tay nắm chặt quai cốc. Bà bảo cô ngồi xuống đi và cô ngồi xuống, hơi lừng khừng vì cuộc nói chuyện bất thường này. Cô im lặng ngắm nhìn bà; bà mặc một chiếc áo thụng màu đen bằng vải lanh rất tươm, bận chiếc quần lửng bằng lụa màu đen y chang, in hằn một vết nhàu nhĩ do khuỷu tay bà chống lên nãy giờ. Bà để mặc con dâu suy đoán rồi tự tay rót một tách trà, đẩy về phía cô, vẻ mặt nghiêm cẩn như đang làm kế toán.

    “Có việc gì thế mẹ?” Thương rụt rè hỏi.

    Vẫn lặng thinh.

    “Mày còn trẻ, mới có mười tám đôi mươi,” cuối cùng bà giáo mở lời. “Thôi thì sống chết có số, việc xảy ra cũng xảy ra rồi.

    Thương không hiểu gì, mặt vẫn ngẩn ngơ, bàn tay vần vò mép áo, mím chặt môi. Bà già tiếp:

    “Tao thú thực suốt từ hôm ấy tới giờ tao ăn không ngon, ngủ không yên,” bà khựng lại, đánh mắt dò la phản ứng của con dâu, “tao biết mày còn thủ tiết chứ chưa vội cải giá ngay. Đó là điều đáng quý… Phải, đáng quý… Nhưng mày còn trẻ, trẻ lắm, ở vậy rồi phí tuổi xuân ra… Mà… tao biết mày sống với tao cũng chẳng dễ chịu gì, tao cũng chẳng muốn chì chiết mày, nhưng khổ cái tính tao nó thế! Giờ mày có đi bước nữa tao cũng chẳng oán trách. Đời ai nấy sống, tao bây giờ không còn quyền hạn gì với mày cả. Mày hãy coi như giữa chúng ta không còn ràng buộc… Thế nào, tao nói thế mày có hiểu không?”

    “Thế nào?” bà Xoan nôn nóng thúc chuyện.

    “Dạ… vậy còn thằng Bảo?” Thương nói nhát gừng.

    “À đấy, còn thằng bé,” bà đáp, hơi bối rối. “Cái đấy thì mày cứ yên tâm. Tao còn sống ngày nào thì còn nuôi nó ngày đấy. Thi thoảng mẹ con có thể vào thăm nhau…”

    “Sao con lại phải thăm nó?”

    “Thì là thế…”

    “Thế tức là?”

    “Ừ.”

    “Không thể được!” Thương buột miệng nói to, và trước ánh nhìn điềm nhiên của mẹ chồng cô càng cáu tiết hơn, “không, dứt khoát không! Không thể…”

    “Có gì mà không được?” bà Xoan ngắt lời.

    “Thằng bé là con của con,” Thương nói giọng nghèn nghẹt do ảnh hưởng từ cơn xúc động.

    “Thì nó cũng là cháu tao!”

    “Con có thể nuôi được nó,” Thương cập rập nói không ra hơi. “Nó vẫn còn nhỏ, không thể để nó sống xa mẹ nó được. Còn bản thân con, xin thú thực với mẹ, nếu không có thằng bé thì con đến chết mất!”

    “Mẹ nào mà chả thương con,” bà Xoan nói giọng ôn tồn, “dứt ruột đẻ ra đâu ai muốn cảnh chia lìa.”

    “Dạ.”

    “Thế nhưng mày phải nhìn lại mình: mày nghề ngỗng không có, học hành không đâu ra đâu, tiền kiếm còn chả đủ nuôi thân nói gì nuôi con nhỏ. Suốt từ lúc thằng Tuấn mất đến giờ toàn là tao nuôi nó cả chứ đâu, chứ dăm ba đồng còm của mày thì bõ bèn gì! Sao, thế chẳng nhẽ mày muốn con mày khổ? Đời mày đã thế rồi thì mày phải biết nghĩ cho đời con mày chứ!”

    Bà giáo nói một tràng, không ngắt nghỉ rồi đằng hắng, có vẻ cảm thấy lý lẽ mình đưa ra hết sức thuyết phục, đoạn nhấp một ngụm chè, chốt hạ:

    “Thôi thế nhé, nội trong tuần này cứ suy nghĩ rồi báo lại cho tao.”

    Câu nói ấy phập xuống như một nhát dao.

    Ngoài trời mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn không thôi vần vũ trên bầu trời xam xám, buồn buồn.

    8.

    Đã một năm trôi qua từ khi bà chị ruột ngán ngẩm đón Thương về quê ngoại. Cô vẫn đi rao sắt vụn, nhưng suốt ngày người ta thấy cô vứt chiếc xe cào cào chỏng chơ bên khóm cỏ gà rồi bơ thờ rảo bước dọc theo đường ray, hết đứng lại ngồi, đôi mắt vô hồn như nhìn vào chỗ trống. Cảnh nhà cũng không yên ả. Thoạt đầu hai chị em cãi cọ liên miên vì Thương nằng nặc đòi đón con về cùng mình. Bà chị cực lực phản đối do phát hoảng với cái ý nghĩ phải đèo bòng thêm một miệng ăn, nhưng rồi đốm lửa tàn nơi đáy tim bà nhóm dậy, bà đích thân tìm đến nhà bà Xoan đề nghị thi thoảng cho cháu trai về quê ngoại dăm ba ngày. Bà Xoan bán tính bán nghi nhưng rồi vẫn bằng lòng, với điều kiện bà phải đi theo kèm cặp. Họ xếp cho bà căn phòng sát vách gian khách, thường ngày làm phòng ngủ của anh con trai đang theo đại học trên thành phố. Bà canh chừng hai mẹ con Thương không ngơi nghỉ, mắt thao láo như loài cú vọ, có cảm tưởng một con ruồi bay ngang cũng phải sợ mà bay vòng đường khác. Còn thằng Bảo không uổng công bà nội dung dưỡng, dần dà nó quấn quýt bà bằng cái nhiệt tình hồn nhiên của tụi trẻ con, và điều này khiến Thương đau khổ khôn tả, giá có thể móc tim rồi liệng ra vườn thì cô đã làm rồi. Thời gian ở cạnh con sao mà chóng vánh, hai ngày trôi nhanh như hai canh đồng hồ. Như mọi khi, đến lúc tiễn hai bà cháu ra về, cô khóc thổn thức, bịn rịn không muốn rời con. Trông thấy mẹ khóc, thằng bé sợ sệt víu lấy áo bà. Nó còn nhỏ quá, nó chưa hiểu được tấn thảm kịch vừa ập xuống gia đình nhỏ của nó, cũng như chưa hiểu được vũng lầy ngập ngụa mà mẹ nó vừa sa vào, còn bà già chỉ lẩm rầm rằng con mẹ nó bị dấm dớ đấy thôi.

    Một tối thứ bảy, Thương nói với chị:

    “Em nhớ con quá, chị ạ! Tuần nào gặp nó em cũng khóc. Nhưng thương con quá nên em mới khóc đấy thôi! Em mất mẹ, mất chồng, bây giờ thì mất cả con. Chị nghe em không thế? Thế đấy, em khổ quá… Sao chị biết mà chị không bênh em?”

    “Thôi em ạ,” bà chị đã quá quen với cái tính mau nước mắt của cô em, nên bà kiên nhẫn nói lại những điều mà bà thường nói, “âu cũng bởi cái số. Bây giờ mày đưa thằng bé về đây tao với mày cầy cục cũng không kham nổi. Quay đi quay lại nhà nội họ vẫn có quyền. Tạm thời mình cứ gửi con ở đấy, sau này nó lớn nó tự khắc biết theo ai.”

    “Ôi, chị nói thế! Nó còn nhỏ, có biết cái gì đâu! Nó sẽ quên em mất!”

    “Lại nói lằng nhằng rồi,” bà chị lầm bầm, vỗ nhẹ vào lưng em gái đang run rẩy từng hồi. “Thôi nguôi nào, mai hai mẹ con mày gặp nhau rồi mà…”

    Trời đêm vắng lặng, nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo trên chạn bát, đám muỗi vo ve như than oán điều gì… Thi thoảng con chó ngoài chuồng cất tiếng kêu tru tréo lạc điệu giữa cảnh thanh vắng, rồi tắt ngấm như bị màn đêm nuốt chửng…

    “Chết chửa,” bà chị hỏi, như sực nhớ ra một dự định, “thế cái miếng đất kia thì sao? Giờ tao mới nghĩ ra! Miếng đất ấy thế nào rồi?”

    “Em không biết,” Thương đáp, lắc lắc đầu. “Ôi, mệt óc lắm! Suốt từ hôm anh Tuấn mất đến giờ nhà bên đấy chỉ toàn đất với cát. Đến bữa một trăm ngày họ cũng nói, nói suốt, thậm chí còn đánh cãi chửi nhau!”

    “Sao lại không biết? Mày phải biết rõ hơn ai hết chứ, đấy là đất của chồng mày mà!”

    “Đầu tiên,” Thương cất giọng ề à như vừa nói vừa nghĩ, “sau đám tang, mẹ với vợ chồng Tú cứ bàn tính gì đấy. Họ không tiết lộ gì cho em. Em bận trông cháu nên cũng chẳng mấy đoái hoài. Về sau em mới hiểu ra, con bé Sương nó đòi xây một cái quầy thuốc. Hai vợ chồng nó dành ra được hơn trăm triệu, nhưng cần bà nội cho thêm ít vốn. Ban đầu bà cụ cũng gật gù, nhưng một hôm bà cụ đang ngồi trên bàn ăn nó nhắc lại vụ ấy, bà cụ bỗng tối sầm mặt bảo: ‘Tiền thì tao cho ngay cũng được, nhưng phải xây trên đất nhà chúng mày, còn đất này là đất của thằng Bảo, sau này nó lớn thì nó hưởng.’ Thế là con bé ấy nó lườm, lườm ghê lắm, mắt sắc như dao găm ấy, rồi nó chẳng thèm ăn, mặt sưng mày sỉa suốt bữa cơm. Nó cũng chả ở lại phụ em rửa bát, chồng nó đứng dậy là nó cũng cắp đít về luôn.”

    “Ôi!” bà chị thốt lên. “Láo ghê chưa!”

    “Thế rồi vài hôm sau nó lại tươi phơi phới,” Thương nói tiếp. “Nó với chồng xuống xin lỗi bà cụ, rồi bà nguôi. Đấy là một tuần trước ngày bà cụ đuổi em đi. Rồi nguyên năm ngày bà với thằng Tú đánh xe xuống uỷ ban hoài. Cuối cùng bà bảo em là đất cát bà sang hết cho thằng Bảo rồi, em không cần phải lo nữa. Thế rồi bà bảo em ký vào một cái tờ gì ấy, hình như là giấy chuyển nhượng đất. Thì em cũng giả vờ đọc, nhưng em nào có biết chữ, chẳng hiểu nó nói mô tê gì. Bà sốt ruột nên ký nhoằng luôn hộ em. Em hỏi bà: ‘Thế còn đống gạch ba banh thì sao mẹ?’ Bà mới đáp: ‘Tạm thời cứ để đấy, con ạ! Rồi đâu sẽ có đó!’”

    Bà chị kiên nhẫn lắng nghe em gái kể từ đầu chí cuối, rồi bà thở dài tức tưởi, rên lên:

    “Ôi thôi em ơi! Thế là chúng nó phỗng mất rồi! Đất đấy là đất của mẹ con mày, đáng ra mày phải hỏi tao trước rồi hẵng ký. Mày bị chúng nó ăn hớt rồi em ơi!”

    “Thế là sao?” Thương lập bập nói.

    “Là bị cướp đất rồi! Cướp đất rồi! Sao lại dại thế hở trời? Mày nhớ kỹ lại xem nào, có thật là mày ký rồi hay không?”

    Thương trơ ra như đá rồi run rẩy gật đầu. Bà chị bất lực thở hắt một hơi rồi lao bổ về phòng. Ông chồng ngơ ngác một hồi rồi cũng hiểu ra sự thể, vừa nghe vợ kể lể vừa lật lại trong trí tất tật những kinh nghiệm đất đai. Trước ánh nhìn nôn nóng của vợ, ông ậm ừ bảo rằng nếu thế thì khả năng mất toi rồi, khó gỡ gạc cho nổi. Vẫn còn gượng gạo với em dâu sau vụ bê bối, từ bận Thương dọn về đây ông cực lực tránh ngó ngàng đến cô, và về chuyện này ông cũng lựa chọn thái độ tương tự, tức là làm ngơ, coi đó chẳng phải chuyện của mình. Rồi ông kêu ông đi làm cả ngày mệt rồi nên hãy để yên cho ông ngủ, ngả lưng chưa ấm chỗ thì đã ngáy tít thò lò.

    Bà chị trở lại với em gái. Bà sốt sắng hỏi em một lô một tràng, nhưng, như mọi con sông đều dẫn về một biển: Vô vọng! Thương quả thực đã ký.

    “Trời ơi, mày tồ quá!” bà chị buột miệng một câu, nhìn em gái đầy cay đắng như thể chính bà mới là người bị cướp đất, chứ chẳng phải cô kia…

    Đêm ấy Thương nằm mãi, nằm mãi mà không ngủ được. Sự phát giác này đã nhen lại đốm lửa căm tức âm ỉ trong lòng cô. Cô uất nghẹn vì bị lừa gạt quá ư trắng trợn, dằn vặt vì bản tính ngô nghê ở mình. Và cũng đêm ấy, trong trí óc ngây dại của người goá phụ bỗng loé lên một ý tưởng ngông cuồng, – về điều này ta hãy cùng xem rồi cô có phải hối hận hay không.

    9.

    Một ngày, như thường lệ, bà Xoan và ông quản đốc ngồi tán chuyện với nhau. Họ đang ngồi sau bàn pha chè, ông em trai vừa khen ngợi hành động cao thượng của chị giáo già, khi đã “giải thoát” cho cô con dâu khốn khổ! Lắng nghe những lời phỉnh nịnh ấy khiến bà giáo khoan khoái, bà vừa cắn hạt bí vừa để ý đứa cháu lê la ngoài sân, nó đang vờn đám chuồn chuồn.

    “Thế từ hôm ấy đến giờ cái Thương nó có tạt qua thăm con không?” ông quản đốc khẽ hỏi.

    “Qua suốt,” bà Xoan đáp gọn lỏn.

    “Ái dà! Con bé ấy thế mà tốt!”

    “À đấy,” bà kêu lên. “Nay chủ nhật thể nào nó chả qua. Cũng nguôi rồi, nguôi rồi, nhưng lần nào gặp cũng nước mắt ngắn dài.”

    Ông quản đốc vẫn làm bộ xuýt xoa, và sau một thoáng im lặng, ông hỏi thêm, vẻ đắn đo:

    “Vậy còn đống gạch kia, bỏ không cũng ngót năm rồi, hay chị bán rẻ cho em?”

    “Gớm! Chú mày chỉ được cái tinh tướng!”

    “Dẫu sao cũng từ một lò!”

    “Ừ, ừ, biết thế, còn để xem giấy tờ thế nào đã,” bà già đáp cho xong chuyện, đoạn nhấp một ngụm chè, rồi mỗi bên theo đuổi những suy nghĩ riêng. Bà chị nghĩ về thửa đất, về giấy tờ chuyển nhượng, còn đầu óc ông em vẫn quanh quẩn không dứt miếng mồi bở ăn.

    Bỗng ngoài sân vang lên một tiếng thét chói tai. Hai chị em sửng sốt nhìn nhau và bổ nhào ra thềm. Chỉ kịp thấy một vệt đen lướt ngang khung cổng, như một bóng ma!

    “Thôi chết rồi, thằng Bảo, thằng Bảo!” bà Xoan cuống quýt kêu lên.

    Ông quản đốc liền hét to:

    “Bắt cóc! Bắt cóc!”

    Hai chị em vừa nháo nhào đuổi theo kẻ gian vừa la làng la nước, do đó chỉ lát sau, dân làng đã lũ lượt đổ ra, tụ thành một đám đông hỗn độn, già có trẻ có, mấy con cẩu hiếu kỳ cũng đồng loạt tru tréo réo gọi bầy đàn. Nhiều thanh niên trai tráng tưởng có trộm chó, đang dở công chuyện cũng đâm bổ ra đường, tay thủ sẵn dao, mắt đảo láo liên như mắt kẻ nghiện.

    “Đâu, đâu, thằng nào?” đám đông túm tụm hỏi nhau.

    “Ở đằng này!” có tiếng trẻ con vọng xuống từ đường ray.

    Đám đông dáo dác nhìn về phía tiếng nói, rồi như một dòng lũ, họ hùng hổ lao ra khúc đường mòn quanh co, hành quân về phía mỏm đồi. Tiếng dậm đồng thanh nghe ầm ã như tiếng sấm dội, sỏi đạp lạo xạo dưới chân, bụi mịn cuộn tròn tứ phía. Mùi chua loét xông lên từ những thân thể còm cõi, cái mùi đặc trưng của công việc đồng áng.

    Cuối cùng họ đến trước một mô đất trồng keo, hai bên bờ là hai ao nước đục ngàu màu cà phê sữa. Ở đó, họ khựng lại và thấy giữa một vách núi cheo leo chếch ra mặt hồ, Thương đang ghì chặt con trai ngang mình, nước mắt giàn giụa, thở hổn hển, ánh mắt đùng đằng sát khí. Thằng bé giãy giụa đòi ra, có vẻ nó chưa nhận ra mẹ mình, và nhìn thấy bà nội lúc này vừa hớt hải rẽ lối đám đông tiến lên, nó liền khóc ré lên, giọng lạc đi vì sợ hãi.

    “Ngoan nào,” Thương ghì chặt hơn và cúi xuống nói với con, “mẹ đây mà! Mẹ thân yêu của con đây, mẹ đến đón con đây!”

    Người ta đùn đẩy, người ta chen lấn; những kẻ đến sau sốt sắng hỏi kẻ đến trước, vồn vã cập nhật tình hình. Một tên nào nhanh trí đã lập tức đánh điện cho viên cảnh sát. Thằng bé càng khóc tợn hơn, mẹ nó cập rập ra sức dỗ dành… Chỉ lát sau, tiếng ống bô nổ bành bạch từ xa vọng lại. Đó là Tú, đang dở phiên gác nhưng được đánh tiếng đã lập tức phóng về ngay. Anh ta dựng chiếc bồ câu trắng giữa đường và, như con thuyền rẽ làn nước, đám đông ráo riết nhường lối cho anh ta lên. Với vẻ đĩnh đạc đường hoàng, với bộ cảnh phục nghiêm chỉnh cùng một dàn sao ánh bạc trên nền cấp hiệu, anh ta lập tức tuýt còi inh ỏi xua đuổi đám đông, rồi gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Mấy ông bà này xê ra, xê ra hết!”

    Đám đông sợ hãi dạt sang bên, tiếng xì xào tắt bặt. Họ cùng chờ đợi ở anh ta một động thái. Bấy giờ viên cảnh sát mới quắc mắt về phía Thương.

    “Còn con kia, mày làm gì thế?” anh ta gầm lên. “Mày chán sống rồi à?”

    “Mày thử lại đây,” Thương trừng mắt, giọng như rít qua kẽ răng, “tao sẽ ôm con tao nhảy xuống!”

    “Mày dám…”

    “Mày câm đi, tao làm thật đấy!”

    Bà Xoan thổn thức níu áo con trai, anh ta bực tức giật lại ba bước. Tiếng xì xào rộn lên. Ai nấy cũng thấp thỏm vì sợ. Rồi đến lượt bà giáo hớt hải bước lên, nhưng tức thì Thương lùi sát về mép vực, làm những viên sỏi sàn sạt dưới chân rơi bì bõm xuống nước.

    “Cả bà nữa,” cô quát, “bà cút đi!”

    Cứ thế, hễ ai mon men lại gần đều bị tiếng thét điên dại của cô làm cho chùn lại, và đám đông nhốn nháo bày mưu tính kế: phải như này, phải như kia! Lão Gia, người ngợm bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cũng lật đật tới nhập bọn. Lão cáu kỉnh cố nhoi lên, nhưng vướng phải mấy mụ sồ sề, bèn chửi đổng:

    “Mẹ kiếp! Đồ ngu! Xích ra nào, đàn bà biết cái gì?”

    “Ông ngu thì có!” một giọng nói chua như giấm dội lại.

    “Mày bảo ai ngu? Con kia, mày đứng lại đấy!”

    Lão đập phắt chiếc vợt kích vào đầu mụ kia. Mụ ta thét lên, thế là đánh cãi chửi nhau inh ỏi. Người ta ùa vào can ngăn, và ông quản đốc, lợi dụng phút lộn xộn để tiến lên, nhưng tiếng chưa thoát khỏi vành môi thì Thương đã chặn họng:

    “Chú xa tôi ra, không phải việc của chú! Chú cũng cùng một giuộc với bọn nó thôi!”; và thấy ông quản đốc vẫn còn chần chừ, cô hét vang:

    “Chú điếc à, xa tôi ra!”

    Ông quản đốc sượng sùng đảo mắt nhìn quanh rồi cũng đành lui về cạnh chỗ hai mẹ con Tú. Đôi bên cáu bẳn liếc nhau. Vài phút trôi qua, sau rốt dân làng chọn mặt gửi vàng cho ông xã trưởng. Ông này là một lão già quắc thước tuổi ngoài lục tuần, ăn bận nghiêm chỉnh như các cán bộ hương thôn, mái đầu bạc phơ sau nhiều năm miệt mài cạo giấy ở uỷ ban xã, chùm râu muối tiêu che mất cổ. Lão đặt tay trên môi ra hiệu đám đông im lặng, rồi dấn lên một mình một hàng, mặt đối mặt với cô gái trẻ. Đúng như họ trù tính, Thương chỉ giương mắt dò xét lão già đạo mạo chứ không xua đuổi. Lão nhanh chóng biến mô đất trồng keo thành bục thuyết giảng; bằng giọng cha chú tâm tình, lão ôn tồn lý giải cho cô gái trẻ hiểu rõ tính nghiêm trọng của vấn đề. Trong thần thái, cử chỉ, dáng điệu của lão toát ra một sức thuyết phục kinh hồn; lão nói vanh vách như đọc thuộc lòng, không vồn vã, vấp váp, và lão gọi Thương là “cháu”, chắc mẩm tính chất thân mật của cách xưng hô có thể khiến cô gái nhà quê mủi lòng.

    “Kìa cháu gái, sao cháu lại làm thế?” lão cố tình rên dài giọng tựa hồ rất xúc động. “Con cái là lộc trời ban… Ôi, khổ thân cháu gái tôi, làm sao mà đến nông nỗi này! Cháu trông kìa, thằng bé tái mét cả rồi, việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của nó. Cháu hẵng khoan, hãy bình tâm lại, hãy suy xét tình hình. Mọi chuyện đều có cách giải quyết của nó. Nào, nào, hãy thả thằng bé xuống, rồi nói ta nghe cháu muốn gì? Đừng nghĩ quẩn, trẻ con không đáng chung tội với người lớn.”

    “Lũ phong kiến các người,” Thương dường không để ý đến lời của lão, ném một tia nhìn hằn học vào mẹ con bà Xoan, “lũ đốn mạt các người! Các người cướp con của tôi, cướp đất của chồng tôi. Ôi, đến nước này thì tôi sẽ nói hết! Các người ăn hối lộ, các người coi tôi như con trâu kéo cày, vậy mà các người vẫn ra vẻ cao đạo liêm khiết! Còn chồng tôi khi sống thì các người rẻ rúng, khinh miệt, đến chết vẫn bị chính máu mủ bòn đãi! Gái này thà chết còn hơn!”

    “Ấy đừng, đừng!” lão già đâm hoảng khi thấy cô gái bốc lên.

    “Có thật bác hiểu cho tôi không?” cô giương mắt hỏi lão, giọng nghẹn lại vì bao uất ức bị đè nén bấy lâu.

    “Tất nhiên là bác hiểu! Tạm thời hãy thả thằng bé xuống đã.”

    “Phải đấy, phải đấy, thả thằng bé xuống đi cô!” đám đông đồng thanh hưởng ứng.

    Thương thở hổn hển vì xúc động. Cô chợt thõng vai, và thằng bé thừa lúc sơ hở nhanh nhảu tuột phắt xuống. Kìa! nó chạy như bay về phía bà nội. Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Thương hoảng hốt nhìn theo những bước chạy của nó, toàn thân sững sờ như hoá đá. “Thôi chết rồi,” ý nghĩ này cắt ngang đầu cô.

    “Lại đây con!” cô hét lên và chạy bổ theo thằng bé.

    Nhưng cô không bao giờ bắt kịp nó. Nhanh như cắt, lão xã trưởng túm lấy nó, bà giáo dang tay chực sẵn, thốc cháu lẹ làng như xách một cái bị và lập tức lỉnh về phía sau. Tất cả nín bặt…

    Chưa bao giờ một người đàn bà có thể thảm hại tới thế. Sự can đảm tan ra như khói, Thương co rúm lại như một con rùa rụt cổ. Cơn giận bỗng xẹp đi, cô cảm thấy chỉ muốn khóc. Cô cảm thấy trơ trọi trước đám dân làng, như thể cô đang độc thủ chống chọi cả một toán quân đông hơn mình gấp bội, người ta cầm giáo, cầm mác còn cô chỉ có tay không. Cô cắn chặt môi để khỏi khóc, nhưng hai dòng lệ cứ xối xả tuôn ra như thác đổ. Dân làng nhìn cô đầy ái ngại, không ai biết làm gì, quyết định gì với cô nàng xốc nổi này…

    Rồi cô lê đôi chân trần về phía con trai. Nhưng cô càng tiến thì đám đông càng lùi, và đầu gối cô run bần bật, cô ngã chúi nhủi như đứt gánh. Người ta dè chừng như đang đối mặt một con thú dữ. Cô gào rú tức tưởi, cô đập đầu xuống đất, cô tự vò đầu bứt tóc, cô bấu víu những hòn đá lởm chởm, rồi cô ngửa mặt nhìn thẳng lên trời như để ông xanh soi rõ từng giọt nước mắt của cô. Mệt lả, kiệt lực, cô đau đớn với tay về đứa con trai. Thằng bé, mặt cắt không còn hột máu, trốn lẩn sau lưng bà, khóc nấc lên. “Nó sợ hãi, nó không nhận ra mình!” cô tự nhủ. “Phải, nó sợ quá đấy thôi!”

    “Con yêu của mẹ,” cô thều thào cất giọng. “Ra đây với mẹ nào con!”

    “Mẹ, con điên!” bà giáo đứng sau hàng người rủa lại.

    Tuyệt vọng, rền rĩ, người đàn bà khốn khổ lại lết tới cạnh Tú. Cô quỳ xuống hôn đôi giày phết xi bóng loáng của người em chồng. Những giọt nước mắt lã chã rơi, một giọt rơi xuống mũi giày, một giọt rơi xuống nền đất. Gã giận điên lên, đẩy cô ra và lùi về sau, còn cô vẫn quỳ dưới đất, vội quặp chặt chân gã bằng đôi cánh tay bê bết. Bị chửi rủa, bị xô ngã sõng soài, nhưng cô quyết không buông, cô gồng sức kéo gã lại, và gã suýt ngã sụp xuống cạnh cô.

    “Chú Tú, chú bảo mẹ chú đi!” cô rên lên thảm thiết. “Chú là người có ăn có học, đúng thế, đúng, chú biết lẽ phải. Nào, chú bảo mẹ chú đi, hãy trả con cho tôi! Chú hãy vì tình nghĩa với anh Tuấn mà thương lấy tôi, rồi suốt đời tôi không quên ơn chú!”

    Và con người có ăn có học ấy vả người đàn bà một phát như trời giáng trong sự ngỡ ngàng đến choáng váng của bàn dân thiên hạ. Để mặc chị dâu ngã dấm dúi, gã trừng mắt nhìn quanh, phủi phủi giày, cảm thấy có lẽ cũng cần thanh minh với hương hồn người anh trai quá cố, miệng lầm bầm:

    “Cứ phải thế này mới chừa! Loại thân lừa ưa nặng!”

    “Cậu làm thế phải tội chết, cậu Tú ạ!” ông xã trưởng bám tay gã nói giọng dè dặt.

    Gã giương cặp mắt ráo hoảnh nhìn ông ta không đáp, rồi lập tức quay về phía dân làng.

    “Còn mấy bà này, cứ nhoi nhoi lên đây làm gì, giải tán mau!” gã nạt nộ quát. “Ô hay, điếc à, giải tán!”

    Gã lại tuýt còi và nhanh chóng xua đám dân quê như lùa những con gà vào chuồng. Và chính gã cũng vội vã chở mẹ mình cùng đứa cháu đi. Dân làng ngơ ngác nhìn theo gã, thở dài thườn thượt, rồi chia năm xẻ bảy, đám đông vãn dần, ai nấy đều lắc đầu ngán ngẩm, chèm chẹp miệng, và lại liên tục rủa gã là con chó vàng…

    Sau năm phút, chỉ còn mấy đứa lau chau nãy giờ đứng trên tháp canh ráng nán lại, rồi xuôi lối mòn chúng thoăn thoắt chạy, như lũ trẻ báo tin vặt, tự cảm thấy mình quan trọng và đáng được săn đón vì sự việc vừa chứng kiến; hễ gặp ai ngược chiều chúng đều túm lại, vừa kể lể sự tình vừa thở hồng hộc, mắt sáng long lanh vì phấn khích. Và chúng họp thành một cánh, đứng tụm vào nhau, đồng loạt chỉ trỏ vào cái bóng đen đen đằng xa đang thất thểu dọc theo đường ray, nhập nhoạng dưới ráng chiều tà…


  • Truyện ngắn là gì?

    Đọc thử

    Dịch từ nguyên bản The Short Story (1958) của Willam Somerset Maugham. Tiểu luận được được đăng tải trên tạp chí Văn Plus, tại đây.

    1.

    Nhiều năm về trước, một biên tập viên đang trong quá trình biên soạn một cuốn đại bách khoa toàn thư đã viết thư hỏi tôi rằng liệu tôi có muốn đóng góp bài viết về lĩnh vực truyện ngắn hay không. Tôi rất lấy làm hãnh diện vì lời thăm hỏi, nhưng đã từ chối. Bản thân là một cây bút truyện ngắn, tôi không nghĩ mình có thể viết một bài như thế với sự công tâm cần thiết. Mỗi nhà văn viết theo cách mà họ cho là phù hợp nhất; bằng không họ sẽ viết khác đi. Có vô vàn cách viết, và mỗi nhà văn sử dụng cách phù hợp với phong cách riêng của mình. Với tôi thì bài viết về chủ đề này sẽ thấu đáo hơn nếu được viết bởi một văn nhân chưa từng viết truyện. Sẽ không có gì ngăn trở ông ta sắm vai một thẩm phán công minh. Chẳng hạn, hãy lấy những truyện của Henry James làm ví dụ. Ông đã viết rất nhiều, và truyện của ông được những độc giả trí thức vô cùng ngưỡng mộ, những người mà ý kiến của họ ta buộc phải tôn trọng. Tôi đồ rằng bất cứ ai quen biết Henry James bằng xương bằng thịt đều không thể đọc những truyện của ông một cách khách quan. Ông gieo âm giọng của mình vào từng câu văn, và bạn chấp nhận lối viết quanh co trong rất nhiều tác phẩm của ông, sự miên man và phong cách ứng xử của ông, vì chúng là một phần không thể thiếu của sức quyến rũ, lòng nhân từ và sự khoa trương hóm hỉnh của người đàn ông mà bạn nhớ đến. Nhưng dẫu vậy, tôi thấy những câu chuyện của ông rất không thoả đáng. Tôi không tin chúng. Tôi không tin bất cứ ai có thể hình dung ra nỗi đau đớn của một đứa trẻ mắc bệnh bạch hầu lại quan điểm rằng mẹ của đứa bé sẽ để nó chết còn hơn để nó lớn lên và được đọc những cuốn sách của cha mình. Đó là những gì đã xảy ra trong một câu chuyện có tên Tác giả của Beltraffio. Tôi không nghĩ Henry James từng biết cách hành xử của người bình thường. Các nhân vật của ông khuyết thiếu ruột gan lẫn cơ quan sinh dục. Ông đã viết một số câu chuyện về những người có học thức, và người ta kể rằng khi ai đó phản bác rằng những người có học thức không hề như thế, ông vặc lại, “Thế thì càng tệ cho họ.” Dường như ông không tự cho mình là một người theo chủ nghĩa hiện thực. Mặc dù tôi không rõ đó có phải sự thật hay không, nhưng tôi cho rằng ông coi Bà Bovary là một nỗi kinh hoàng. Có lần Mattise cho một thiếu nữ xem tranh của James vẽ một phụ nữ khoả thân, và cô thiếu nữ thốt lên, “Nhưng một phụ nữ đâu có thế này”: ông trả lời, “Đó không phải một phụ nữ, thưa bà, đó là một bức tranh.” Tương tự, tôi nghĩ, nếu ai đó mạo muội nói rằng một câu chuyện của James không giống đời thực, ông sẽ trả lời, “Đó không phải cuộc sống, đó là một câu chuyện.”

    Henry đã làm rõ quan điểm của mình về vấn đề này trong một lời tựa ông viết cho tập truyện ngắn có tên Bài học của bậc thầy. Đây là một tác phẩm khó nhằn và, dẫu đã đọc nó ba lần, tôi vẫn không chắc mình đã hiểu nó. Tôi nghĩ ý chính là, khi đối mặt với “sự phù phiếm và nỗi bất hạnh ngự trị của cuộc sống”, một tác giả tự nhiên sẽ tìm kiếm “một số ví dụ hay về sự phản ứng, sự từ khước hoặc sự thoát ly”; và vì không thể tìm thấy các hình mẫu trong đời thực để minh họa ý định của mình, ông buộc phải thai nghén chúng từ ý thức nội tại. Đối với tôi, thách thức ở đây là tác giả phải gán cho các tạo vật của trí tưởng tượng một vài đặc tính chung của giống người, và chúng không tương hợp với những đặc tính mà ông đã gán cho chúng, thành thử chúng thiếu sức thuyết phục. Nhưng đây chỉ là cảm nhận của riêng tôi, và tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình.

    Một lần, khi Desmond MacCarthy nghỉ lại cùng tôi trên Riviera, chúng tôi đã đàm luận về những câu chuyện của Henry James. Ký ức ngày nay ngắn ngủi và tôi có thể gợi nhắc người đọc rằng Desmond MacCarthy không chỉ là một bạn đồng hành duyên dáng mà còn là một nhà phê bình uyên thâm. Ông đọc rộng và từng trải, cái ưu thế mà không phải nhà phê bình nào cũng có. Những phán đoán của ông trong phạm vi hạn chế của chúng (ông có phần thờ ơ với nghệ thuật tạo hình và âm nhạc), là xác đáng, vì sự uyên bác nơi ông hoà quyện với sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống. Vào dịp đặc biệt này, chúng tôi đang ngồi trong phòng khách sau bữa tối và giữa buổi trò chuyện, tôi buột miệng nhận xét rằng mặc dù được trau chuốt kỹ lưỡng, nhiều câu chuyện của Henry James lại tầm thường một cách đáng ngạc nhiên. Desmond, người vô cùng ngưỡng mộ James, đã phản đối kịch liệt; vì vậy, để trêu chọc ông, tôi lập tức bịa ra một câu chuyện mà tôi cho là điển hình của Henry James. Theo như tôi nhớ, câu chuyện diễn ra như sau:

    Đại tá và bà Blimp sống trong một ngôi nhà khang trang ở Quảng trường Lowndes. Họ đã trải qua một phần mùa đông ở Riviera, nơi họ kết bạn với một số người Mỹ giàu có tên là – tôi ngập ngừng tìm một cái tên – Bremerton Fisher. Gia đình Fisher đã tiếp đãi họ rất xa hoa, đưa họ đi tham quan La Mortola, Aix và Avignon, và luôn khăng khăng giành mọi hoá đơn về phía mình. Khi gia đình Blimp rời đi để quay về Anh, họ đã nài nỉ những gia chủ hào phóng báo tin cho mình ngay khi đến London; và sáng hôm đó, bà Blimp đọc được trên tờ Morning Post rằng ông bà Bremerton Fisher vừa đến Khách sạn Brown. Rõ ràng là gia đình Blimp phải làm gì đó để đáp lại lòng hiếu khách nồng hậu mà họ từng nhận được.

    Trong lúc họ đang quyết định nên làm gì, một người bạn ghé qua uống trà. Đây là một người Mỹ xa xứ tên Howard, người từ lâu đã ấp ủ một tình yêu thuần khiết với bà Blimp. Dĩ nhiên bà chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đáp lại tình cảm của ông, thực ra vốn chưa bao giờ quá gấp gáp; nhưng đó là một mối quan hệ tốt đẹp. Howard là kiểu người Mỹ mà, sau khi sống ở Anh trong hai mươi năm, đã trở nên Anh hơn cả người Anh. Ông quen biết mọi nhân vật quan trọng và, như câu nói, từng đi đây đi đó. Bà Blimp kể cho ông nghe tình hình. Ngài Đại tá đề xuất rằng họ nên tổ chức tiệc tối cho những người lạ này. Bà Blimp bán tính bán nghi. Bà biết rằng những người bạn mà ta từng thân thiết khi ở nước ngoài có thể rất khác khi ta gặp lại họ ở London. Nếu họ giới thiệu nhà Fishers với những người bạn đáng mến của họ, và tất thảy bạn bè của họ đều đáng mến, thì bạn bè của họ sẽ thấy nhàm tẻ phát khiếp và gia đình Fisher tội nghiệp sẽ hoàn toàn “lạc lõng”. Howard đồng thuận với bà. Kinh nghiệm cay đắng bảo ông rằng một bữa tiệc như vậy hầu như luôn là một thất bại thảm hại.

    “Sao không mời họ ăn tối riêng?” Đại tá nói.

    Bà Blimp phản đối rằng điều này nghe như thể họ lấy làm xấu hổ về nhà Fisher hoặc không có bạn bè đáng mến. Rồi ông gợi ý nên đưa gia đình Fisher đi xem kịch và sau đó ăn tối tại Savoy. Điều này xem chừng chưa đủ.

    “Chúng ta phải làm gì đó”, Đại tá nói.

    “Dĩ nhiên chúng ta phải làm gì đó”, bà Blimp đáp.

    Bà mong ông đừng can thiệp. Ông có tất cả những phẩm chất tuyệt vời mà bạn có thể mong đợi ở một đại tá vệ binh, không phải tự nhiên mà ông có được huân chương Công trạng Xuất sắc, nhưng ông thật vô vọng khi bàn đến các vấn đề xã giao. Bà Blimp cảm thấy rằng đây là vấn đề mà bà và Howard phải tự quyết lấy; thế nên sáng hôm sau, khi chưa thu xếp được gì, bà gọi điện cho Howard Jarvis và bảo ông ghé qua uống rượu lúc sáu giờ tối, khi Đại tá đang chơi bài bridge ở câu lạc bộ.

    Howard đến, và từ đó trở đi tối nào cũng đến. Tuần lại tuần, bà Blimp và ông cân nhắc mọi khía cạnh. Họ thảo luận, xem xét vấn đề từ mọi góc độ với sự tinh tế vô biên. Ai ngờ được rằng chính Đại tá lại là người đưa ra giải pháp? Ông tình cờ có mặt tại một trong những buổi hẹn giữa bà Blimp và Howard, giữa lúc họ, gần như tuyệt vọng, đang thảo luận tình huống nan giải này.

    “Sao không để lại danh thiếp nhỉ?” ông nói.

    “Hoàn hảo”, Howard kêu lên.

    Bà Blimp thở phào kinh ngạc. Bà ném một tia nhìn tự đắc về phía Howard. Bà biết Howard cho rằng Đại tá là một gã kiêu ngạo ngu ngốc, hoàn toàn không xứng với bà. Cái nhìn của bà nói rằng, “Đấy, đấy mới là người Anh thứ thiệt. Ông ấy có thể không thông minh lắm, có thể hơi tẻ nhạt, nhưng đến lúc khủng hoảng, ta có thể tin tưởng ông ấy sẽ làm điều đúng đắn.”

    Bà Blimp không phải là người hay do dự khi con đường trước mắt đã rõ ràng. Bà gọi quản gia và bảo ông này chuẩn bị xe ngựa ngay lập tức. Để tỏ lòng tôn kính gia đình Fisher, bà bận chiếc váy đẹp nhất và đội chiếc mũ mới. Với hộp danh thiếp trên tay, bà lái xe đến Khách sạn Brown – chỉ để biết rằng gia đình Fisher đã rời đi Liverpool ngay sáng hôm đó cho kịp chuyến tàu Cunarder trở về New York.

    Desmond lắng nghe câu chuyện giễu nhại của tôi với vẻ khá chua chát; rồi ông cười khúc khích. “Nhưng điều mà anh quên mất, Willie tội nghiệp của tôi,” ông nói, “là Henry James sẽ mang đến cho câu chuyện sự uy nghiêm cổ điển của Nhà thờ St. Paul, nỗi kinh hoàng u ám của St. Pancras và – và sự lộng lẫy bụi bặm của Woburn.”

    Nghe vậy, cả hai chúng tôi cùng phá ra cười, tôi rót cho ông một ly whisky pha soda nữa, và sau đó, rất hài lòng với chính mình, chúng tôi chia tay nhau để về phòng ngủ.

    2.

    Hơn hai mươi năm trước, tôi đã viết cho độc giả Mỹ một lời tựa dài cho một hợp tuyển truyện ngắn của thế kỷ mười chín do đích thân tôi chọn lọc. Khoảng mười năm sau, tôi sử dụng phần lớn những gì đã nói trong một bài giảng về truyện ngắn trước các thành viên của Hội Văn học Hoàng gia. Tuyển tập của tôi chưa từng được xuất bản ở Anh và đã ngừng in từ lâu ở Mỹ; và tuy bài giảng của tôi được in trong tập niên giám của Hội, nó chỉ dành riêng cho các thành viên. Gần đây, khi đọc lại hai bài viết này, tôi nhận thấy mình đã thay đổi quan điểm ở một số chỗ và một vài tiên đoán của tôi đã không được thực tế chứng minh. Trong những trang sau, dù buộc phải nhắc lại rất nhiều điều đã nói, gần như nguyên văn, vì tôi không biết cách diễn đạt những gì tôi phải nói hay hơn những gì tôi đã nói trước đó, tôi sẽ trình bày những suy ngẫm của tôi, như chúng vốn có, về một thể loại văn học mà bản thân tôi từng miệt mài thực hành.

    Con người bẩm sinh đã thích kể chuyện, và tôi cho rằng truyện ngắn ra đời từ thuở xa xưa, vào đêm tối khi người thợ săn, để giải khuây cho bè bạn sau bữa chè chén no nê, bèn ngồi bên đống lửa trong hang động mà thuật lại một sự kiện kỳ lạ nào đó mà anh ta từng nghe. Đến nay, ở các thành phố phương Đông, bạn vẫn có thể bắt gặp người kể chuyện ngồi giữa chợ, vây quanh bởi những thính giả hiếu kỳ, kể lại những câu chuyện mà y kế tục từ một quá khứ xa xưa. Nhưng tôi cho rằng phải đến thế kỷ mười chín thì truyện ngắn mới thịnh hành và chiếm lĩnh một phần quan yếu trong sáng tác văn chương. Dĩ nhiên trước đó truyện ngắn đã được viết và đọc rộng rãi: những câu chuyện tôn giáo về nguồn gốc Hy Lạp, những câu chuyện mang tính giáo huấn thời Trung Cổ, và những câu chuyện bất hủ trong Nghìn lẻ một đêm. Xuyên suốt thời kỳ Phục Hưng, ở Ý và Tây Ban Nha, ở Pháp và Anh Quốc, truyện ngắn rất được ưa chuộng. Mười ngày của Boccaccio và Những thiên truyện mẫu mực của Cervantes là những chứng tích bất tử của thể loại này. Nhưng trào lưu ấy đã thoái trào với sự trỗi dậy của tiểu thuyết. Những người bán sách không còn trả tiền hậu hĩnh cho một tập truyện ngắn nữa, và các tác giả bắt đầu xem thường một thể loại hư cấu không đem lại cho họ cả tiền tài lẫn danh vọng. Khi thỉnh thoảng nghĩ ra một chủ đề mà họ có thể xử lý thoả đáng nhưng không cần quá dài, họ bắt tay viết một truyện ngắn, rồi không biết phải làm gì với nó; và vì vậy, không muốn uổng công, đôi khi các nhà văn phải thừa nhận rằng họ đã chèn nó một cách hết sức vụng về vào giữa tiểu thuyết của mình.

    Nhưng vào đầu thế kỷ XIX, một hình thức xuất bản mới đã được giới thiệu đến độc giả và nhanh chóng trở nên cực kỳ phổ biến. Đó là ấn phẩm thường niên. Dường như nó bắt nguồn từ Đức. Đây là một tuyển tập các tác phẩm văn xuôi và thơ, và ở quê hương của nó, nó đã cung cấp cho độc giả những món ăn tinh thần đáng kể, vì chúng ta được biết rằng Người hầu gái xứ Orleans của Schiller và Hermann và Dorothea của Goethe đã xuất hiện lần đầu trên các ấn phẩm dạng này. Nhưng khi thành công của chúng khiến các nhà xuất bản Anh bắt chước, họ chủ yếu dựa vào truyện ngắn để thu hút đủ lượng độc giả nhằm giúp việc kinh doanh sinh lời.

    Giờ là lúc thích hợp để nói với độc giả đôi điều về sáng tác văn học mà như tôi được biết, các nhà phê bình, những người rõ ràng có nhiệm vụ chỉ đường dẫn lối cho độc giả, đã tảng lờ việc khai trí cho anh ta. Nhà văn có trong mình sự thôi thúc sáng tạo, nhưng bên cạnh đó y cũng khao khát đưa tác phẩm của mình đến tay bạn đọc và khao khát (một khao khát vô hại mà độc giả không quan tâm) kiếm được miếng ăn. Nhìn chung, y có thể định hướng năng lực sáng tạo của mình vào những nguồn cho phép thoả mãn những mục tiêu khiêm tốn này. Với nguy cơ gây sốc cho những độc giả nghĩ rằng cảm hứng của nhà văn không nên chịu ảnh hưởng của những cân nhắc thực tế, tôi phải nói thêm rằng về bản chất, các nhà văn bị thôi thúc viết những thứ mà thị trường cần. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì họ không chỉ là nhà văn, họ còn là độc giả, và với tư cách một công dân, họ chịu sự chi phối của bầu không khí dư luận đang thịnh hành. Khi các vở kịch thơ có thể mang lại danh tiếng cho tác giả, nếu không phải là tiền bạc, sẽ rất khó để tìm được một chàng trai trẻ có năng khiếu văn chương mà không sở hữu một vở bi kịch năm màn trong số các tác phẩm của mình. Tôi cho rằng hiện nay ít chàng trai trẻ nào có ý định viết một vở như vậy. Ngày nay, họ viết kịch bằng văn xuôi, tiểu thuyết và truyện ngắn. Đúng là trong những năm gần đây, một số vở kịch thơ đã được dựng thành công, nhưng đối với tôi, đã từng chứng kiến những gì mà tôi có dịp chứng kiến, thì khán giả coi thơ ca như một thứ họ phải chịu đựng thay vì thứ làm họ thích thú; và phần lớn các diễn viên đều cảm thấy tương tự, họ làm mọi cách để xoa dịu sự khó chịu ở mình bằng cách đọc thơ như thể nó thực sự là văn xuôi.

    Tiềm năng xuất bản, các nhu cầu cấp thiết của giới biên tập viên, tức là ý niệm của họ về mong muốn của độc giả, có ảnh hưởng to lớn đến loại tác phẩm được sản xuất tại một thời điểm cụ thể. Vì vậy, khi các tạp chí nở rộ dọn chỗ cho những câu chuyện dài, những câu chuyện như thế sẽ được viết ra; mặt khác, khi các tờ báo cho xuất bản truyện, nhưng chỉ có thể dành ra một không gian nhỏ, những câu chuyện có thể lấp đầy không gian đó sẽ được cung ứng. Không có gì đáng xấu hổ ở đây cả. Một tác giả tài năng có thể viết một câu chuyện mười lăm ngàn từ dễ dàng như viết một câu chuyện mười ngàn từ. Nhưng y chọn một câu chuyện khác hoặc xử lý nó theo một phương cách khác. Guy de Maupassant đã viết một trong những thiên truyện nổi tiếng nhất của mình, Món gia tài, hai lần, lần đầu dài vài trăm từ cho một tờ báo và lần sau dài vài ngàn từ cho một tạp chí. Cả hai đều được in trong tuyển tập tác phẩm của ông, và tôi nghĩ không ai có thể đọc hai phiên bản này mà không thừa nhận rằng không có gì thiếu hụt ở phiên bản đầu cũng như không có gì thừa thãi ở phiên bản sau. Ở đây tôi muốn làm rõ: bản chất của phương tiện mà nhà văn sử dụng để tiếp cận độc giả là một trong những quy ước mà họ phải chấp nhận, và nhìn chung họ thấy mình có thể làm điều này mà không đi ngược lại với khuynh hướng riêng.

    Giờ đây, vào đầu thế kỷ mười chín, các niên giám và keepsakes [kỷ yếu] đã tạo cơ hội cho các nhà văn giới thiệu bản thân với công chúng qua truyện ngắn, và do đó truyện ngắn, với mục đích không đơn thuần chỉ nhằm kích thích sự hứng thú của độc giả trong quá trình đọc một tiểu thuyết dài, bắt đầu được viết nhiều hơn bao giờ hết. Nhiều lời bài xích khắc nghiệt đã được buông ra về các tập niên giám và sách dành cho quý bà, và có những lời chỉ trích thậm tệ hơn nữa về các tạp chí kế nhiệm vốn được công chúng ưa chuộng; nhưng khó có thể phủ nhận rằng sự phong nhiêu của truyện ngắn trong thế kỷ mười chín đến từ cơ hội mà các ẩn phẩm thường kỳ này đem lại. Ở Mỹ, truyện ngắn đã tạo ra một trường phái các nhà văn xuất sắc và đa dạng đến mức một vài người, vốn lạ lẫm với lịch sử văn học, tuyên bố rằng người Mỹ đã phát minh ra truyện ngắn. Tất nhiên không phải vậy; nhưng dù sao cũng thích đáng khi thừa nhận rằng không có đất nước nào ở châu Âu mà truyện ngắn được vun trồng một cách cần mẫn như ở Hoa Kỳ; và các phương pháp, kỹ thuật và tiềm năng của nó cũng chưa từng được nghiên cứu tỉ mỉ như nơi đây.

    Trong quá trình đọc tuyển tập các truyện ngắn được viết vào thế kỷ mười chín, tôi đã lĩnh hội được rất nhiều về thể loại này. Bây giờ, tôi cần cảnh báo độc giả rằng tác giả, như tôi đã đề cập trước đó, khi bàn đến một nghệ thuật mà y theo đuổi, thường có thành kiến. Hoàn toàn dễ hiểu khi một nhà văn quan niệm cách làm của mình là tốt nhất. Y viết như y có thể và phải viết, vì y là một kiểu người nhất định; y có năng khiếu và tính khí riêng, vì vậy y nhìn nhận mọi thứ theo cách riêng của y, và thể hiện góc nhìn ấy theo hình thức mà bản chất của y áp đặt. Nhà văn cần có một sức mạnh tinh thần đặc biệt để đồng cảm với những tác phẩm trái ngược với khuynh hướng tự nhiên ở mình. Người ta nên cẩn trọng khi đọc những lời phê bình của một tiểu thuyết gia về tiểu thuyết của người khác. Ông ta dễ cho rằng điều ông ta đang hướng tới là xuất sắc và khó thấy giá trị ở những phẩm chất mà ông ta thiếu sót. Một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc về tiểu thuyết đến từ một nhà văn đáng ngưỡng mộ, người cả đời chưa từng xây dựng nổi một cốt truyện hợp lý. Tôi không ngạc nhiên khi thấy ông ấy không mấy coi trọng các tiểu thuyết gia, những người có tài năng tuyệt vời là có thể thổi hồn vào những sự kiện mà họ thuật lại một cách chân xác đến nghẹt thở. Tôi không trách cứ ông về điều này. Khoan dung là một phẩm chất tuyệt vời ở con người; nếu nó phổ biến hơn, thế giới ngày nay hẳn dễ sống hơn nhiều; nhưng tôi không chắc liệu nó có hữu ích như vậy ở một nhà văn hay không. Bởi vì về lâu về dài, một nhà văn có thể cho bạn điều gì? Chính là bản thân ông ta. Thật tốt nếu ông ta có tầm nhìn bao quát, bởi vì cuộc sống trong toàn bộ phạm vi của nó là lĩnh vực của ông ta; nhưng ông ta chỉ có thể nhìn thấy nó qua đôi mắt của chính mình, nắm bắt nó bằng trí óc, trái tim và ruột gan của mình: dĩ nhiên kiến thức của ông ta hạn hẹp, nhưng nó rất rõ ràng, bởi vì ông ta là chính ông ta chứ không phải ai khác. Thái độ của ông ta rất quán triệt và đặc trưng. Nếu ông ta thực sự cảm thấy bất kỳ quan điểm nào khác cũng đáng giá như quan điểm của mình, ông ta sẽ khó lòng giữ vững lập trường của bản thân và không thể trình bày nó một cách thuyết phục. Thật đáng khen nếu một người nhận ra rằng một đồng xu có hai mặt; nhưng nhà văn, đối với nghệ thuật mà ông ta đang thực hành (và quan điểm sống của ông ta tất nhiên bao hàm trong nghệ thuật của ông ta) chỉ có thể đạt được thông qua nỗ lực suy luận; và trong thâm tâm, ông ta không cảm thấy rằng mình chiếm sáu cái và bên kia chiếm nửa tá còn lại, mà tất tật cả tá đều của ông ta và bên kia không có gì cả. Sự phi lý này sẽ thật đáng tiếc nếu số lượng nhà văn khan hiếm, hoặc nếu tầm ảnh hưởng của một người quá lớn đến mức buộc những người còn lại phải tuân theo; nhưng chúng ta có hàng ngàn người. Mỗi nhà văn trong chúng ta đều có thông điệp muốn truyền tải, rất hạn chế, và từ tất cả những thông điệp này độc giả có thể thoải mái lựa chọn thông điệp phù hợp với họ, tuỳ theo khuynh hướng của bản thân họ.

    Tôi nói điều này nhằm dọn đường trước. Tôi thích nhất những câu chuyện mà tôi có thể tự viết. Đó là kiểu câu chuyện mà nhiều người đã viết tốt, nhưng không ai viết điêu luyện hơn Maupassant; do đó, để trình bày chính xác bản chất của nó, tôi không thể làm gì khác ngoài thảo luận về một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, Chiếc dây chuyền. Bạn sẽ nhận ra một điều rằng nó là câu chuyện bạn có thể kể bên bàn ăn tối hoặc trong khoang hút thuốc của một con tàu mà vẫn khiến thính giả phải chăm chú dõi theo. Truyện đề cập đến một sự việc kỳ lạ nhưng không phải không thể xảy ra. Bối cảnh được phô bày trước mắt bạn một cách ngắn gọn, đúng như đặc tính của phương tiện, nhưng vẫn rõ ràng; và những người liên quan, lối sống của họ cùng sự lao dốc của họ, được trình bày với lượng chi tiết vừa đủ để làm rõ hoàn cảnh của vấn đề. Bạn được cho biết mọi chi tiết bạn cần biết về họ. Trong trường hợp độc giả không nhớ câu chuyện, tôi xin tóm tắt lại. Mathilde là vợ một của một viên chức nghèo tại Bộ giáo dục. Vị Bộ trưởng mời họ đến một bữa tiệc tối, và vì không có trang sức riêng, cô bèn mượn một chiếc vòng cổ kim cương từ một cô bạn giàu có. Cô đánh mất chiếc vòng. Nó phải bị đánh tráo, và với ba mươi bốn nghìn franc, một khoản tiền khổng lồ đối với họ, với lãi suất cắt cổ, viên thư ký và vợ anh ta đã mua được một chiếc vòng cổ giống hệt chiếc đã mất. Đèo bòng một mớ nợ nần, hai vợ chồng phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, và cuối cùng khi trả xong nợ, sau mười bốn năm trời, Mathilde kể cho cô bạn giàu có kia về câu chuyện đã xảy ra. “Nhưng, chị yêu quý của em ơi,” cô bạn nói, “chiếc vòng cổ đó là đồ giả. Cùng lắm là năm trăm franc.”

    Một nhà phê bình nghiêm khắc có thể phản đối rằng xét từ lập trường của riêng nó, Chiếc dây chuyền không phải một câu chuyện hoàn hảo, vì loại truyện này cần có phần đầu, phần thân và phần kết; và đến hồi kết thì mọi thứ cần kể đều đã được kể, bạn không nên muốn hay cần hỏi gì thêm. Ô chữ của bạn đã được lấp đầy. Tuy nhiên trong câu chuyện này Mauppasant hài lòng với một cái kết đầy tính châm biếm và hiệu quả. Người đọc sành sỏi khó tránh khỏi việc tự hỏi, điều gì sẽ xảy đến tiếp theo? Đúng là một cặp đôi bất hạnh đã bỏ lỡ tuổi trẻ của họ và phần lớn những gì khiến cuộc sống trở nên êm đềm trong nhiều năm trời đằng đẵng để ky cóp từng đồng trả nợ cho chiếc dây chuyền thất lạc; nhưng khi sai lầm được phát lộ và chiếc dây chuyền họ đã mua được hoàn trả, họ sẽ thấy mình nắm trong tay một gia tài nho nhỏ. Trong sự khô cằn về tinh thần mà sự hy sinh của họ đã dẫn đến, đó có thể là một sự đền bù đáng kể. Chưa kể, nếu người phụ nữ khốn khổ kia đủ sáng suốt để giãi bày với cô bạn về sự mất mát – và không có lý do chính đáng nào được đưa ra nhằm lý giải tại sao cô ta không nên làm vậy – thì đã chẳng có câu chuyện nào. Thật đáng ngợi ca tài năng của Maupassant khi ít độc giả nào còn đủ bình tĩnh để nhận ra những điểm bất hợp lý này. Một nhà văn như Maupassant không sao chép cuộc sống; ông khéo léo sắp xếp nó để gây hứng thú, kích thích và bất ngờ. Ông không hướng câu chuyện trở thành một dịch bản của đời sống, mà là một sự kịch tính hoá đời sống. Ông sẵn lòng hi sinh tính hợp lý nhằm tạo hiệu quả cho câu chuyện, và thử thách ở đây là liệu ông có trót lọt hay không; nếu ông đã định hình những sự kiện mà ông mô tả và những người liên quan trong câu chuyện theo cách đó. Nếu bạn ý thức được sự khiên cưỡng mà ông áp đặt lên chúng, thì ông đã thất bại. Nhưng đôi khi việc ông thất bại không phải là lý lẽ phản bác phương pháp này. Có những thời kỳ mà, độc giả yêu cầu sự tuân thủ chặt chẽ với những sự kiện của cuộc sống đúng như họ biết – đó là lúc chủ nghĩa hiện thực đang thịnh hành; có những thời kỳ khác, họ đòi hỏi những điều mới lạ, khác thường, kỳ khôi; và sau đó, miễn là bị cuốn hút, độc giả sẵn lòng tạm gác lại sự hoài nghi. Tính hợp lý không phải là một thực thể bất di bất dịch; nó biến chuyển theo xu thế của thời đại: đó là điều nhà văn có thể khiến độc giả đón nhận. Trên thực tế, trong mọi tác phẩm hư cấu, một số điều bất hợp lý vẫn được cho qua mà không cần thắc mắc vì chúng là điều bình thường và thường là cần thiết để tác giả có thể tiếp tục câu chuyện của mình một cách nhanh chóng.

    Không ai nhấn mạnh những chuẩn mực của loại truyện mà tôi đang thảo luận chính xác hơn Edgar Allan Poe. Nếu không vì độ dài, tôi đã trích dẫn toàn bộ bài phê bình của ông về tác phẩm Truyện kể hai lần của Hawthorne: nó đã nói mọi thứ cần nói về vấn đề này. Tôi xin giới thiệu một trích đoạn ngắn:

    “Một nghệ sĩ tài ba cấu tứ lên một câu chuyện. Nếu khôn ngoan, y không uốn nắn suy nghĩ của mình cho phù hợp với các sự kiện; mà sau khi đã hình dung, với sự cân nhắc kỹ lưỡng, một hiệu ứng độc đáo hoặc duy nhất cần đạt được, y sẽ bịa ra những sự kiện đó – sau đó y tạo ra những hiệu ứng có thể bổ trợ tốt nhất cho việc thiết lập hiệu ứng chung đã được hình dung trước đó. Nếu ngay câu đầu tiên của y đã không hướng đến việc tạo ra hiệu ứng này, thì y đã thất bại ngay từ bước sơ khởi. Trong toàn bộ tác phẩm, không nên có một từ nào được viết ra mà khuynh hướng, dù trực tiếp hay gián tiếp, không nhắm tới thiết kế đã định sẵn. Và bằng những phương tiện như vậy, với sự cẩn trọng và kỹ năng, cuối cùng một bức hoạ được vẽ ra, để lại trong tâm trí người chiêm ngưỡng nó, với một nghệ thuật tương tự, một cảm giác thoả nguyện trọn vẹn nhất. Ý tưởng của câu chuyện được trình bày một cách trọn vẹn, vì không bị xáo trộn ….”

    3.

    Không khó thể nêu định nghĩa của Poe về một truyện ngắn hay: đó là một tác phẩm hư cấu, giải quyết một xung đột duy nhất, về mặt vật chất hoặc tinh thần, có thể đọc liền mạch; nó phải độc đáo, phải lấp lánh, phải gây phấn khích hoặc ấn tượng; và nó phải có sự thống nhất về hiệu ứng hoặc ấn tượng. Nó phải di chuyển theo một đường thẳng đều từ đầu chí cuối. Để viết một câu chuyện theo các nguyên tắc ông đặt ra không hề dễ như vài người nghĩ. Nó đòi hỏi trí thông minh, có lẽ không ở cấp độ quá cao, nhưng là một loại thông minh đặc biệt; nó yêu cầu một ý niệm về hình thức và không ít khả năng sáng tạo. Không ai ở Anh viết những câu chuyện theo kiểu này cừ hơn Rudyard Kipling. Trong số các nhà văn viết truyện ngắn người Anh, chỉ có ông là đủ sức đương đầu với các bậc thầy ở Pháp và Nga. Hiện tại ông bị xem thường quá mức. Điều này rất bình thường. Khi một tác giả nổi tiếng qua đời, cáo phó được đăng tải trên các tờ báo và mọi người từng giao thiệp với ông, thậm chí không hơn gì việc từng uống một tách trà cùng ông, đều viết cho tờ Times để thuật lại sự việc. Trong vòng hai tuần ông không còn là tin sốt dẻo nữa, và lặng lẽ chìm vào lãng quên. Thế rồi, nếu may mắn, sau một thời gian nhất định, có thể ít, có thể nhiều, thường phụ thuộc vào những hoàn cảnh không mấy liên quan đến văn học, ông sẽ được nhớ tới và được công chúng thưởng thức trở lại. Ví dụ điển hình nhất cho điều này, tất nhiên, là Anthony Trollope. Sau một thế hệ bị lãng quên, cùng sự biến cách trong đời sống nước Anh, các tiểu thuyết của ông đã thu hút rất nhiều độc giả nhờ sức quyến rũ mang phong vị hoài cổ.

    Mặc dù Rudyard Kipling đã chiếm được cảm tình của công chúng ngay từ những buổi đầu tiên và duy trì được nó, nhưng giới học giả luôn có phần hạ cố trong việc đánh giá ông. Một số đặc điểm trong phong cách của ông gây khó chịu cho các độc giả có gu thẩm mỹ cầu kỳ. Ông bị xem là người theo chủ nghĩa đế quốc, điều này làm khó chịu nhiều người nhạy cảm và giờ đây trở thành một ngọn nguồn của sự sỉ nhục. Ông là người kể chuyện tuyệt vời, đa dạng và độc đáo. Ông có óc sáng tạo phong phú và có tài kể lại sự việc theo cách thức gây ngạc nhiên và giàu kịch tính ở cấp độ cao nhất. Như mọi nhà văn khác, ông có những khiếm khuyết ở mình, mà tôi nghĩ là do môi trường và cách nuôi dạy, do những nét tính cách của thời đại ông sống. Ông có ảnh hưởng to lớn đến những đồng nghiệp, nhưng có lẽ còn lớn hơn đối với những người đương thời, những người bằng cách này hay cách khác đã sống kiểu cuộc đời mà ông mô tả. Khi đi du lịch ở phương Đông, thật đáng kinh ngạc khi du khách thường bắt gặp những người đã bắt chước các nhân vật mà ông sáng tạo ra. Người ta nói rằng các nhân vật của Balzac chân thực với thế hệ sau ông hơn là với thế hệ mà ông được cho là đã miêu tả. Tôi rút từ kinh nghiệm của bản thân rằng hai mươi năm sau khi Kipling viết những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình, có những người đàn ông rải rác khắp các vùng xa xôi của Đế chế Anh, những người sẽ không bao giờ chính xác như họ vẫn là nếu không có ông. Ông không chỉ tạo ra các nhân vật; ông còn định hình nên con người. Họ là những người đàn ông dũng cảm, tử tế, hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ được giao, trong khả năng của họ và theo quan điểm của họ: thật không may, vì những lý do mà tôi không cần phải luận đến, di sản họ để lại là lòng căm thù. Rudyard Kipling thường bị cho là người đã khiến dân chúng Anh nhận thức được Đế chế của họ, nhưng đó là một thành tựu chính trị mà tôi không cần luận bàn; điều quan trọng đối với mục đích hiện tại của tôi là trong khám phá của ông về cái được gọi là câu chuyện kỳ lạ, ông đã khai phá ra một mảnh đất mới lạ và màu mỡ cho các nhà văn. Đây là câu chuyện đặt bối cảnh ở một đất nước mà phần lớn độc giả còn lạ lẫm. Nó đề cập đến những phản ứng của người da trắng khi họ lưu trú tại một vùng đất xa lạ và ảnh hưởng của việc tiếp xúc với những người khác chủng tộc và màu da đối với họ. Các nhà văn hậu bối đã đề cập đến chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, nhưng Rudyard Kipling là người đầu tiên khai đường mở lối qua vùng đất được tìm thấy này, và không ai từng khoác lên nó một vẻ quyến rũ lãng mạn hơn, không ai từng tái hiện nó một cách sống động và đa sắc như vậy. Sẽ đến lúc cuộc chiếm đóng Ấn Độ của người Anh trở thành lịch sử cổ xưa và khi sự mất mát của những vùng thuộc địa lớn lao đó sẽ không khơi dậy sự nuối tiếc và cảm giác cay đắng nào hơn những gì đã được khơi dậy bởi sự mất mát, từ hàng thế kỷ trước, của Normandy và Aquitaine. Khi đó, người ta sẽ nhận ra rằng Rudyard Kipling, trong những câu chuyện về người Ấn Độ của mình, trong Chuyện rừng xanh, trong Kim, đã viết những tác phẩm sẽ được vinh danh trong nền văn học Anh vĩ đại của chúng ta.

    Ngay cả những điều tốt đẹp cũng làm người ta chán ngán. Họ khao khát sự thay đổi. Hãy lấy một ví dụ từ một loại hình nghệ thuật khác: kiến trúc nhà ở trong kỷ nguyên Georgian đã đạt tới một sự hoàn hảo hiếm có; những ngôi nhà được xây cất thời đó vừa đẹp mắt vừa tiện nghi. Phòng ốc rộng rãi, thoáng đãng và kích thước cân đối. Bạn hẳn nghĩ người ta sẽ hài lòng với những ngôi nhà như vậy cho tới mãn đời. Nhưng không. Đến thời kỳ lãng mạn; người ta muốn sự cổ kính, những sự khác thường, kỳ khôi; và những kiến trúc sư, lòng đầy bất mãn, buộc phải chiều lòng họ. Sáng tác một câu chuyện như Poe đã viết là một việc khó nhằn và, như chúng ta được biết, kể cả Poe cũng không tránh khỏi lặp lại chính mình. Có vô số thủ thuật trong các câu chuyện thuộc loại này và khi các tạp chí thường kỳ ra đời và lập tức trở nên phổ biến, nhu cầu cho những câu chuyện này là rất lớn, các tác giả đã không chậm trễ để học hỏi những kỹ xảo trong nghề. Nhằm tạo hiệu quả cho những câu chuyện, họ gò chúng vào một thiết kế thông dụng và chẳng chốc đã xa rời thực tế đến nỗi độc giả phải gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Người đọc chán ngán những câu chuyện được viết theo một khuôn mẫu mà họ đã biết quá rõ. Họ phản đối rằng trong đời thực mọi sự không xảy ra một cách chỉn chu như vậy; đời thực là một chuỗi những sợi chỉ đứt đoạn và những đầu mối rời rạc; việc sắp xếp chúng một cách khuôn sáo chỉ càng làm sai lệch thêm. Họ đòi hỏi một chủ nghĩa hiện thực vượt trội hơn. Giờ thì, sao chép cuộc sống chưa bao giờ là việc của nghệ sĩ cả. Sir Kenneth Clark đã làm sáng tỏ điểm này trong cuốn sách Trần trụi của mình. Ông đã cho chúng ta thấy rằng những điêu khắc gia vĩ đại của Hy Lạp cổ đại không hề bận tâm đến việc mô tả hình mẫu của họ với sự chân xác tuyệt đối, mà sử dụng chúng như một công cụ nhằm đạt tới lý tưởng về cái đẹp. Nếu bạn nhìn vào các tác phẩm hội hoạ và điêu khắc trong quá khứ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy các nghệ sĩ vĩ đại ít quan tâm đến việc tái hiện chính xác những gì phô bày trước mắt họ ra sao. Người ta thường cho rằng những biến cải mà các nhà điêu khắc áp đặt lên chất liệu của họ, được minh hoạ rõ nét nhất trong trường phái Lập Thể, là một phát minh của thời đại chúng ta. Nhưng không phải vậy. Họ chỉ nghĩ vậy vì họ đã quá quen với những biến cải của quá khứ đến mức chấp nhận chúng như những biểu hiện theo nghĩa đen của sự thật. Ngay từ buổi bình minh của hội hoạ phương Tây, các nghệ sĩ đã hy sinh tính chân thực để đạt được hiệu ứng mong muốn. Tiểu thuyết cũng vậy. Khỏi phải nói đâu xa, hãy lấy Poe làm ví dụ; thật khó tin khi ông lại cho rằng con người nói năng theo cách ông bắt các nhân vật của mình nói: nếu ông nhét vào miệng họ những lời thoại mà chúng ta thấy dường như không chân thực, thì hẳn là vì ông nghĩ rằng nó phù hợp với câu chuyện mà ông đang kể và giúp ông đạt được mục đích mà ông ấp ủ. Các nghệ sĩ chỉ noi theo chủ nghĩa tự nhiên khi họ nhận ra rằng họ đã xa rời thực tế đến mức cần quay đầu lại, và rồi họ cam tâm sao chép nó một cách chính xác nhất có thể, không phải như một mục đích tự thân, mà có lẽ như một thứ kỷ luật bổ ích.

    Vào thế kỷ mười chín, chủ nghĩa tự nhiên trong truyện ngắn trở nên thịnh hành trong bối cảnh chủ nghĩa lãng mạn vốn đã hoá nhàm. Lần lượt, các nhà văn ra công tái hiện cuộc sống với sự chính xác không suy suyển. “Tôi chưa bao giờ luồn cúi cả,” Frank Norris nói. “Tôi không bao giờ ngả mũ trước trào lưu hay ngửa tay xin từng cắc lẻ. Lạy Chúa! Tôi kể cho họ Sự Thật. Họ thích hay không cũng mặc. Điều đó can hệ gì tới tôi? Tôi nói với họ Sự Thật, từ trước tới nay đó vẫn là Sự Thật.” (Đây là những lời lẽ quyết đoán, nhưng thật khó để nói sự thật là gì; nó không nhất thiết phải trái ngược với lời nói dối.) Các nhà văn thuộc trường phái này nhìn cuộc sống với con mắt ít thiên vị hơn so với thế hệ trước; họ ít ngọt ngào và lạc quan hơn, bạo lực hơn và thẳng thắn hơn; lời thoại của họ tự nhiên hơn, và họ chọn nhân vật từ một thế giới mà kể từ thời Defoe, các nhà văn hư cấu đã phần nào lãng quên; nhưng họ không có sự cách tân nào về mặt kỹ thuật. Về cốt lõi của truyện ngắn, họ vẫn bằng lòng với những khuôn mẫu cũ. Những hiệu ứng họ theo đuổi vẫn là những hiệu ứng mà Edgar Allan Poe đã theo đuổi; họ sử dụng công thức mà ông đã đặt ra. Giá trị của chúng chứng minh giá trị của nó; tính giả tạo của chúng phô bày sự yếu kém của nó.

    4

    Nhưng có một đất nước mà công thức này không phát huy tác dụng. Ở Nga, trong vài thế hệ, họ đã viết những câu chuyện theo một trật tự hoàn toàn khác; và khi thực tế buộc phải đánh động đến cả độc giả và tác giả rằng thể loại truyện được ưa chuộng từ lâu nay đã trở nên máy móc một cách chán chường, người ta mới phát hiện ra rằng ở đất nước đó có một nhóm các nhà văn đã biến truyện ngắn thành một thứ gì đó mới mẻ. Thật kỳ lạ khi mất nhiều thời gian đến vậy để thể loại truyện này cập bến Tây phương. Đúng là các câu chuyện của Turgenev đã được đọc trong bản dịch Pháp ngữ. Ông được anh em nhà Goncourt, Flaubert và giới trí thức đón nhận nhờ dáng vẻ uy nghiêm, gia sản dồi dào và gốc gác quý tộc của ông; và các tác phẩm của ông được đánh giá cao với sự ngưỡng mộ dè dặt, như cách người Pháp vẫn luôn nhìn nhận các sáng tác của các tác giả ngoại quốc. Thái độ của họ giống như thái độ của Tiến sĩ Johnson trước lời rao giảng của một phụ nữ: “Nó không được thực hiện tốt, nhưng dù thế bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nó được thực hiện.” Phải đến khi Melchior de Vogué xuất bản cuốn sách Le Roman Russe [Tiểu thuyết Nga] vào năm 1886 thì văn học Nga mới có tác động đến thế giới văn học Paris. Theo thời gian, khoảng năm 1905, tôi cho là vậy, một vài truyện ngắn của Chekhov đã được dịch sang tiếng Pháp và nhìn chung được đón nhận rất nồng nhiệt. Ông vẫn vô danh ở Anh. Khi ông mất, vào năm 1904, người Nga coi ông là nhà văn hàng đầu của thế hệ: Encyclopædia Britannica trong ấn bản thứ mười một, xuất bản năm 1911, không nói gì thêm về ông ngoài câu, “Nhưng A. Chekhov đã thể hiện uy lực đáng kể trong các truyện ngắn của mình.” Lời khen ngợi lạnh lùng. Mãi đến khi bà Garnett cho xuất bản trong mười ba tập nhỏ một tuyển tập từ kho trước tác đồ sộ của Chekhov thì độc giả Anh mới quan tâm đến ông. Kể từ đó, uy tín của các nhà văn Nga nói chung và của Chekhov nói riêng đã trở nên rất lớn. Điều này đã thay đổi đáng kể phong cách sáng tác và phương pháp đánh giá truyện ngắn. Những độc giả có óc phê bình vẫn thờ ơ với câu chuyện về mặt kỹ thuật “được thực hiện tốt”, và những nhà văn sáng tác ra nó nhằm phục vụ đại đa số công chúng thì lại không được xem trọng.

    Cuộc đời của Chekhov đã được David Magarshack viết lại [Chekhov: A Life]. Đó là một bản tường thuật về những thành tựu giành được bất chấp khó khăn khủng khiếp – nghèo đói, trách nhiệm nặng nề, môi trường làm việc nhũng nhiễu và sức khoẻ tồi tệ. Chính từ cuốn sách thú vị và được ghi chép tỉ mỉ này mà tôi đã nắm được những sự kiện sau. Chekhov sinh năm 1860. Ông nội của ông là một nông nô đã dành dụm đủ tiền để chuộc tự do cho chính mình và ba người con trai. Một trong số họ, tên là Pavel, sau đó đã mở một tiệm tạp hoá tại Taganrog trên Biển Azov, kết hôn, có năm người con trai và một người con gái. Anton Chekhov là con trai thứ ba. Pavel vô học, ngu dốt, phù phiếm, ích kỷ, tàn bạo và cực kỳ mộ đạo. Nhiều năm sau, Chekhov đã viết về cha mình, “Tôi nhớ cha tôi bắt đầu dạy tôi khi tôi năm tuổi, hay nói một cách đơn giản, là đánh tôi khi tôi mới năm tuổi. Ông ấy đánh tôi, bạt tai tôi, nện vào đầu tôi, và câu đầu tiên tôi hỏi sau khi thức dậy vào buổi sáng là, hôm nay con có bị đánh nữa không? Tôi bị cấm chơi đùa hoặc nô giỡn. Tôi phải tham dự các buổi lễ nhà thờ vào buổi sáng và buổi tối, hôn tay các linh mục và cha xứ, đọc thánh ca ở nhà thờ…. Khi tôi tám tuổi, tôi phải trông coi quầy hàng, tôi làm việc như một thằng nhóc chạy vặt bình thường, và điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôi, vì tôi bị đánh đập hầu như mỗi ngày. Sau đó, khi tôi được gửi đến một trường trung học, tôi học đến bữa tối, nhưng từ bữa tối đến đêm tôi phải ngồi trong cửa hàng.”

    Khi Anton Chekhov mười sáu tuổi, cha ông, què quặt vì nợ nần và sợ bị bắt, đã trốn đến Moscow, nơi hai người con trai cả của ông, Alexander và Nicholas, đang theo học đại học. Anton ở lại Taganrog để học nốt và tự nuôi sống bản thân bằng công việc dạy kèm cho những cậu bé chậm phát triển. Sau ba năm, tốt nghiệp và được cấp học bổng hai mươi lăm rúp một tháng, ông đoàn tụ với bố mẹ ở Moscow. Quyết định trở thành bác sĩ, ông nộp đơn xin vào trường Y. Khi đó ông là một chàng trai trẻ cao lớn, nhỉnh hơn mét tám, tóc nâu nhạt, mắt nâu với khuôn miệng đầy đặn, rắn rỏi. Ông chứng kiến gia đình mình sống trong một tầng hầm ở một khu ổ chuột mà phần lớn là nhà thổ. Anton đưa hai người bạn học và các bạn hữu của mình tới trọ cùng gia đình. Họ trả bốn mươi rúp mỗi tháng, một người thuê trọ thứ ba trả hai mươi rúp nữa và cộng với hai lăm rúp của Chekhov, gộp lại được tám mươi năm rúp để nuôi chín miệng ăn và trả tiền nhà. Họ nhanh chóng dọn đến một căn hộ lớn hơn trên cùng một con phố tồi tàn. Hai cậu sinh viên ở chung một phòng, người thứ ba ở một phòng nhỏ riêng, Anton ở phòng thứ ba với các em trai, mẹ và chị gái ông ở phòng thứ tư, và phòng thứ năm, dùng làm phòng ăn và phòng khách, đồng thời là phòng ngủ của hai người anh cả Alexander và Nicholas. Pavel, cha của họ, cuối cùng đã kiếm được một chân tại một nhà kho, lĩnh ba mươi rúp mỗi tháng, và ông phải sống ở đó, vì vậy trong một thời gian, họ đã thoát khỏi người đàn ông ngu ngốc, chuyên quyền đã đày đoạ cuộc sống của họ bấy lâu.

    Chúng ta nghe kể rằng Anton có tài ứng tác những câu chuyện hài hước khiến bạn bè ông cười ngặt nghẽo. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của gia đình, ông nghĩ mình có thể thử viết chúng. Ông đã viết một câu chuyện và gửi đến một tuần báo của Petersburg có tên là The Dragon Fly. Một buổi chiều tháng Giêng, trên đường trở về từ trường y, ông mua một bản in và thấy câu chuyện của mình đã được phê duyệt. Ông sẽ được trả năm cô-pếch một dòng. Tôi xin nhắc lại với độc giả rằng một rúp trị giá hai si-linh và một trăm cô-pếch được một rúp, vì vậy khoản thù lao được đưa ra vào khoảng một xu một dòng. Từ đó, Chekhov gửi truyện cho tờ The Dragon Fly hầu như mỗi tuần, nhưng chỉ một số ít được chấp nhận; tuy ông cũng gửi chúng cho các tờ báo Moscow, nhưng họ không đủ khả năng thanh toán; nhuận bút được gán cho một đôi giày, và nhiều khi đám cộng tác viên, nhằm đòi lấy thù lao ít ỏi của họ, phải đợi ở văn phòng cho đến khi những đứa trẻ đem về những đồng cô-pếch mà chúng thu được từ việc rao báo trên phố. Một biên tập viên ở Petersburg tên là Leykin đã trao cho Chekhov cơ hội đầu tiên của mình. Ông này điều hành một tạp chí tên là Fragments, và ông giao cho Chekhov nhiệm vụ viết một truyện ngắn mỗi tuần dài một trăm dòng với giá tám cô-pếch một dòng. Đó là một tờ báo khôi hài, và khi Chekhov thỉnh thoảng gửi đi một câu chuyện nghiêm túc, Leykin phàn nàn rằng đây không phải là điều mà độc giả mong muốn. Mặc dù những câu chuyện ông viết được nhiều người yêu thích và đem lại cho ông một chút danh tiếng, nhưng những hạn chế áp đặt lên ông, cả về độ dài lẫn nội dung, khiến ông bất mãn, vì vậy, để làm ông nguôi, Leykin, người có vẻ là một quý ông tinh tế và đàng hoàng, đã nhận lời đề nghị từ Petersburg Gazette để viết một truyện ngắn hàng tuần, dài hơn và theo một thể loại khác, với cùng mức giá tám cô-pếch một dòng. Từ năm 1880 đến năm 1885, Chekhov đã viết ba trăm truyện!

    Chúng là potboilers [những câu chuyện nhảm nhí]. Từ điển Oxford cho chúng ta biết rằng đây là một danh từ ám chỉ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được làm ra đơn thuần vì mục đích thương mại. Đây là một thuật ngữ có thể bị loại khỏi từ điển của các nhà phê bình văn học. Tôi phải nói rằng một tác giả trẻ tuổi phát hiện ra mình có một thôi thúc sáng tạo để viết (và cách anh ta sở hữu nó là một bí ẩn khó hiểu như nguồn gốc của tình dục) có thể nghĩ rằng nó sẽ đem lại cho anh ta danh tiếng, nhưng chắc chắn rất hiếm khi nghĩ rằng nó sẽ đem lại tiền bạc; và về điều này, anh ta đã đúng, vì trong những ngày đầu của anh ta, điều đó hầu như bất khả thi. Nhưng khi anh ta quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp với mục đích kiếm sống, anh ta không thể thờ ơ với số tiền mà tài năng của mình sẽ đem lại. Động cơ viết của anh ta không phải điều mà độc giả quan tâm.

    Trong khi Chekhov miệt mài viết những thiên truyện này, ông học tập ở trường y để lấy bằng tốt nghiệp. Ông chỉ có thể viết vào ban đêm sau một ngày làm việc vất vả tại bệnh viện. Điều kiện viết lách của ông rất khó khăn. Những khách thuê trọ đã bị đuổi đi và gia đình Chekhov chuyển đến một căn hộ nhỏ hơn, nhưng “Ở phòng bên cạnh,” ông viết cho Leykin, “đứa con của một người họ hàng của tôi [anh trai Alexander] đang khóc, ở phòng bên cạnh, bố tôi đang đọc to một câu chuyện Leskor cho mẹ nghe, ai đó đã lên dây cót cho hộp nhạc của chúng tôi và tôi có thể nghe thấy tiếng Helen xinh đẹp… Giường ngủ của tôi đầy rẫy những họ hàng ghé thăm, những người cứ vài phút lại đến cạnh tôi và bắt đầu lảm nhảm về y học… Đứa trẻ đang rống lên! Tôi vừa quyết định sẽ không bao giờ sinh con. Tôi đoán người Pháp có rất ít con vì họ là một dân tộc văn chương…” Một năm sau, trong một lá thư gửi cho người em trai Ivan, ông viết, “Anh kiếm được nhiều tiền hơn bất cứ sĩ quan trung uý nào của em, nhưng anh không có tiền, không có thức ăn tử tế, không có phòng làm việc riêng… Ngay lúc này đây anh đang rỗng túi, và anh háo hức chờ đợi đến ngày đầu tháng để nhận được sáu mươi rúp từ Petersburg, số tiền mà anh sẽ tiêu ngay lập tức.”

    Năm 1884, Chekhov bị thổ huyết. Gia đình có người mắc bệnh lao, và ông không thể không biết điều này tiên báo điều gì, nhưng lo sợ rằng nghi ngờ của mình sẽ được xác nhận nên ông không thăm khám bác sĩ chuyên khoa. Để xoa dịu nỗi lo lắng của mẹ mình, ông nói với bà rằng chứng thổ huyết chỉ là do vỡ mạch máu trong họng và không có gì nghiêm trọng. Vài tháng sau, ông dành dụm đủ tiền để lên Petersburg lần đầu tiên. Ông chưa bao giờ coi trọng những câu chuyện của mình; chúng được viết vì tiền và ông nói rằng không truyện nào tốn quá một ngày để viết. Khi đến Petersburg ông kinh ngạc phát hiện ra rằng mình đã nổi tiếng. Tuy những câu chuyện của ông có vẻ tầm thường, những người trí thức ở Petersburg, khi đó là trung tâm văn hoá của Nga, thấy ở đó sự tươi mới, sống động và một quan điểm độc đáo. Họ rất coi trọng ông. Ông được xem là một trong những nhà văn tài năng nhất thời bấy giờ. Các biên tập viên mời mọc ông đóng góp cho các tạp chí của họ với mức nhuận tốt hơn bất kỳ con số nào ông từng nhận được trước đây. Một trong những nhà văn lỗi lạc của Nga đã thúc giục ông từ bỏ thể loại truyện mà ông đã viết và bắt đầu viết những câu chuyện thực sự thú vị.

    Chekhov rất ấn tượng, nhưng ông chưa bao giờ có ý định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Ông nói rằng “Y học là vợ hợp pháp của tôi còn văn học chỉ là tình nhân,” và khi ông trở lại Moscow, ông có ý định hành nghề bác sĩ. Phải thừa nhận rằng ông đã không làm gì đáng kể để tạo dựng một phòng khám phát đạt. Ông kết bạn với rất nhiều người và họ giới thiệu khách hàng cho ông, nhưng bệnh nhân hiếm khi trả tiền cho những lần thăm khám. Ông hóm hỉnh và quyến rũ, với tiếng cười vang dội, dễ lan, là một bảo vật trong các nhóm du mục mà ông năng lui tới. Ông thích đi dự tiệc và tổ chức tiệc. Ông uống rượu thoải mái, nhưng, ngoại trừ những dịp đám cưới hay lễ lạt, hiếm khi thấy ông say. Phụ nữ thấy ông hấp dẫn, và ông đã có một vài mối tình. Nhưng chúng đều vặt vãnh. Theo thời gian, ông thường xuyên đến thăm Petersburg và đi du lịch khắp nước Nga. Mỗi mùa xuân, mặc những bệnh nhân của mình tự lo liệu, ông đưa cả gia đình về nông thôn và ở lại đó cho đến mùa thu. Ngay khi biết ông là bác sĩ, dân làng lại kéo đến khám bệnh và tất nhiên không trả cho ông đồng nào. Để kiếm tiền, ông buộc phải viết truyện. Những câu chuyện đó ngày càng thành công và ông được trả công hậu hĩnh, nhưng ông vẫn thấy khó cáng đáng nổi. Trong một lá thư gửi cho Leykin, ông viết, “Ông hỏi tôi đang làm gì với tiền bạc của mình. Tôi không sống xa hoa, tôi không đi lại hay ăn bận như một gã bảnh bao, tôi không nợ nần, và tôi thậm chí chẳng phải bao một cô bồ (tôi được yêu miễn phí), nhưng dù sao thì tôi cũng chỉ còn lại bốn mươi rúp trong số ba trăm rúp tôi nhận được từ ông và Suvorin trước lễ Phục sinh, chưa kể tôi sẽ phải chi bốn mươi rúp vào ngày mai. Chỉ có Chúa mới biết tiền của tôi đã đi đâu”. Ông dọn tới một căn hộ mới, cuối cùng cũng có một căn phòng riêng, nhưng ông vẫn xin xỏ Leykin tạm ứng trước để trả tiền thuê nhà. Năm 1886, ông lại bị thổ huyết. Ông biết mình nên đến Crimea, nơi mà vào thời điểm đó những người mắc bệnh lao thường đến để hưởng khí hậu ấm áp hơn, giống như bên Tây Âu họ đến Riviera của Pháp và Bồ Đào Nha – và chết như ruồi; nhưng ông gần như rỗng túi. Năm 1889, anh trai Nicholas của ông, một hoạ sĩ khá tài năng, đã qua đời vì bệnh lao. Đó là một cú sốc và một lời cảnh tỉnh. Đến năm 1892, sức khoẻ của chính ông đã suy sụp tới mức ông sợ hãi viễn cảnh phải trải qua một mùa đông nữa ở Moscow. Bằng số tiền vay được, ông mua một điền trang nhỏ gần một ngôi làng tên là Melikhovo cách Moscow năm mươi dặm và như thường lệ, ông đưa cả gia đình theo cùng, ông bố trái nết, bà mẹ, em gái và em trai Michael. Ông đem theo một xe thuốc và bệnh nhân lại đổ xô đến khám ông. Ông đã đối xử với họ tốt nhất có thể và không bao giờ tính phí họ một cô-pếch nào.

    Chekhov dành năm năm ở Melikhovo và nhìn chung đó là những năm tháng hạnh phúc. Ông đã viết một số thiên truyện hay nhất của mình ở đây và được trả thù lao hậu hĩnh, bốn mươi cô-pếch một dòng, gần bằng một si-linh. Ông quan tâm đến các vấn đề địa phương, cho xây một con đường mới và trường học cho nông dân bằng tiền túi của mình. Anh trai ông, Alexander, một gã bợm rượu cố hữu, đã dọn đến cùng vợ và các con; bạn bè ghé thăm đôi khi nán lại nhiều ngày, và mặc dù ông phàn nàn rằng họ cản trở công việc của ông, nhưng thiếu họ thì ông không sống nổi. Tuy đau ốm triền miên, ông vẫn vui vẻ, thân thiện, hóm hỉnh và hoạt bát. Thi thoảng ông lại lên Moscow chơi. Một trong những dịp như vậy, vào năm 1897, ông bị xuất huyết nghiêm trọng đến mức được đưa vào phòng khám, và trong một vài ngày ông đã mấp mô bên lề cửa tử. Ông luôn từ chối tin rằng mình bị lao, nhưng giờ đây các bác sĩ bảo ông rằng phần trên của phổi bị hư hoại và nếu muốn sống tiếp, ông phải thay đổi lề thói sinh hoạt. Ông về Melikhovo, nhưng hiểu rõ mình không thể trụ lại đó thêm một mùa đông nữa. Ông nhận ra mình phải từ bỏ nghề y. Ông ra nước ngoài, đến Biarritz và Nice, rồi cuối cùng định cư tại Yalta ở Crimea. Các bác sĩ khuyên ông nên lưu lại đó lâu dài và nhờ khoản ứng trước từ Suvorin, người bạn và biên tập viên của ông, ông xây cho mình một ngôi nhà. Như thường lệ, tài chính của ông vẫn lao đao.

    Việc phải từ bỏ nghề y là một đòn giáng mạnh vào Chekhov. Tôi không rõ ông là kiểu bác sĩ thế nào. Sau khi được cấp phép hành nghề, ông chưa bao giờ phục vụ lâm sàng tại bệnh viện quá ba tháng và tôi đoán chừng cách ông đối xử với bệnh nhân có phần thô lỗ và qua loa. Nhưng ông có lý lẽ và sự cảm thông, và nếu ông để mọi chuyện thuận theo tự nhiên, có lẽ ông đã giúp ích cho bệnh nhân của mình không kém gì một người có kiến thức sâu rộng hơn. Những trải nghiệm phong phú mà ông có được từ đó đã giúp ích cho ông rất nhiều. Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn. Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.

    Mặc dù buồn chán ở Yalta, sức khoẻ của Chekhov đã cải thiện trong một thời gian. Tôi chưa có dịp đề cập đến việc Chekhov, ngoài số lượng truyện dài của mình, vào thời kỳ này đã viết hai hoặc ba vở kịch không mấy thành công. Nhờ chúng, ông biết đến một nữ diễn viên trẻ tên là Olga Knipper. Ông đã yêu nàng và vào năm 1901, bất chấp gia đình phản đối, họ đã kết hôn. Người ta thu xếp để nàng tiếp tục diễn xuất và do vậy họ chỉ ở bên nhau khi Chekhov lên Moscow để gặp nàng hoặc chính nàng, để nghỉ ngơi, như giới sân khấu thường nói, tìm xuống Yalta. Những lá thư ông gửi cho nàng được lưu giữ lại. Chúng dịu dàng và cảm động. Sức khoẻ của ông lại lao dốc và ông đã trở nên rất kiệt quệ. Ông ho rất nhiều và không ngủ nổi. Đau khổ hơn nữa là Olga Knipper bị sảy thai. Chính nàng đã thúc giục Chekhov viết một vở hài kịch nhẹ nhàng, đó là điều mà công chúng mong muốn, và tôi cho rằng ông đã bắt tay vào viết vở kịch đó chủ yếu để làm đẹp lòng nàng. Vở kịch được gọi là Vườn anh đào và ông hứa với Olga sẽ dành riêng một đoạn hay cho nàng. “Tôi viết bốn dòng một ngày,” ông thư cho một người bạn, “và ngay cả điều này cũng khiến tôi đau đớn khôn tả.” Ông hoàn thiện vở kịch và nó được công chiếu ở Moscow vào đầu năm 1904. Vào tháng 6 năm sau, theo lời khuyên từ bác sĩ, ông đến khu nghỉ dưỡng của Đức ở Badenweiler. Một người đàn ông trẻ người Nga đã viết một bài tường thuật về cuộc gặp gỡ với Chekhov vào buổi tối trước ngày ông rời đi. Tôi trích dẫn những dòng sau từ A Life của Magarshack:

    “Trên một chiếc ghế sofa, được đỡ bởi những tấm nệm, có một người đàn ông rất gầy và có vẻ nhỏ bé, với bờ vai hẹp và khuôn mặt nhợt nhạt không chút sinh khí, mặc áo khoác ngoài hoặc áo choàng và phủ một tấm thảm lên chân – Chekhov đã trở nên tiều tuỵ đến mức không thể nhận ra. Tôi không bao giờ nghĩ một người có thể thay đổi nhiều đến thế.

    “Ông ấy giơ bàn tay yếu ớt, trắng bệch như sáp, bàn tay mà tôi không dám trông vào, và nhìn tôi bằng đôi mắt dịu dàng nhưng thiếu vắng nụ cười…

    “‘Tôi sẽ rời đi vào ngày mai,’ ông ấy nói. ‘Tôi sẽ đi xa để chết.’ “Ông ấy dùng một từ khác, một từ tàn nhẫn hơn ‘chết’, mà tôi không muốn nhắc lại bây giờ.”

    “‘Tôi sẽ đi xa để chết,’ ông cố tình lặp lại. ‘Hãy vĩnh biệt bạn bè của anh thay tôi …. Nói với họ rằng tôi nhớ họ và tôi rất quý một số người trong số họ. Chúc họ thành công và hạnh phúc thay tôi. Chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.’”

    Ban đầu ở Badenweiler, Chekhov cảm thấy bệnh tình thuyên giảm đến mức ông bắt đầu thảo kế hoạch đến Ý. Một buổi tối, khi ông lên giường đi ngủ, vì Olga đã dành cả ngày túc trực cạnh ông, ông khăng khăng rằng nàng nên đi dạo quanh công viên. Khi nàng trở lại, ông lại bảo nàng xuống ăn tối, nhưng nàng nói với ông rằng tiếng chuông báo chưa reo. Để giết thời giờ, ông bắt đầu kể cho nàng nghe một câu chuyện về một khu nghỉ mát đông đúc gồm những du khách sành điệu, những ông chủ nhà băng béo phì, những gã người Mỹ và người Anh tráng kiện. “Một buổi tối, tất cả du khách trở về khách sạn và phát hiện tên đầu bếp đã bỏ trốn và không có bữa tối nào đang đón chờ họ cả. Chekhov tiếp tục mô tả sự việc trên đã ảnh hưởng ra sao tới từng du khách quen được nuông chiều này.” Ông đã kể một câu chuyện rất vui nhộn về điều đó và Olga Knipper cười phá lên. Nàng trở lại với ông sau bữa tối. Chekhov đang nghỉ ngơi trong an tĩnh. Nhưng đột nhiên tình hình trở nên tồi tệ và các bác sĩ liền kéo đến. Họ đã làm mọi cách có thể, nhưng vô ích. Chekhov đã chết. Những lời trăng trối của ông là bằng tiếng Đức, Ich Sterbe. Ông bốn mươi bốn tuổi.

    Alexander Kuprin đã viết trong hồi ký của mình về Chekhov như sau, “Tôi nghĩ rằng ông ấy không mở lòng hay trao trọn trái tim mình cho bất kỳ ai. Nhưng ông ấy đối xử tử tế với mọi người, trong tình bạn giữ một sự lãnh đạm chừng mực – và đồng thời với sự quan tâm lớn lao, có lẽ là vô thức.” Điều này sáng tỏ một cách lạ lùng. Nó tiết lộ cho chúng ta nhiều hơn về Chekhov so với bất kỳ sự kiện nào trong bản tường thuật ngắn gọn về cuộc đời ông mà tôi có dịp kể lại.

    5.

    Những câu chuyện đầu tiên của Chekhov phần lớn là truyện khôi hài. Ông viết chúng rất dễ dàng; như ông nói thì viết như chim hót, và không mấy coi trọng chúng. Chỉ đến sau chuyến ghé thăm đầu tiên đến Petersburg, khi ông phát hiện ra mình được coi là một tác giả tài năng đầy triển vọng, ông mới bắt đầu coi trọng bản thân. Sau đó, ông tự đặt ra mục tiêu để thông thạo nghề của mình. Một ngày nọ, một người bạn thấy ông đang sao chép một câu chuyện của Tolstoy và khi được hỏi ông đang làm gì, ông trả lời, “Tôi đang viết lại nó”. Người bạn kia đã rất sốc khi thấy ông lại thản nhiên làm vậy với tác phẩm của bậc thầy, sau đó Chekhov lý giải rằng ông làm vậy như một bài tập; ông đã hình thành ý tưởng (theo tôi biết thì là một ý tưởng hay) rằng bằng cách viết lại như vậy, ông có thể học hỏi phương pháp của các nhà văn mà ông ngưỡng mộ và qua đó phát triển một phong cách riêng của mình. Rõ ràng công sức bỏ ra không hề lãng phí. Ông đã học được cách sáng tác những câu chuyện của mình với kỹ năng hoàn hảo: Ví dụ, Dân quê được viết tao nhã như Bà Bovary của Flaubert. Chekhov đã kỷ luật bản thân để viết đơn giản, rõ ràng và khúc chiết, và chúng ta được biết rằng ông đã đạt tới một phong cách tuyệt bích. Điều này, chúng ta, những người đọc ông qua bản dịch, buộc phải tin tưởng, vì ngay cả trong dịch bản chính xác nhất thì hương vị, cảm xúc, sự du dương trong lời văn của tác giả cũng bị mất đi.

    Chekhov rất quan tâm đến kỹ thuật viết truyện ngắn và ông có một số bí quyết thú vị khác thường để bàn về nó. Ông tuyên bố rằng một câu chuyện không được chứa bất kỳ điều gì thừa thãi. “Mọi thứ không liên quan đến câu chuyện phải bị loại bỏ không thương tiếc,” ông viết. “Nếu trong chương đầu tiên anh nói rằng có một khẩu súng treo trên tường, thì trong chương thứ hai hoặc thứ ba, nó phải được bóp cò.” Điều này có vẻ khá xác đáng, và tuyên bố của ông rằng các mô tả thiên nhiên nên ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm cũng xác đáng. Bản thân ông có thể chỉ bằng một hay hai từ để đem đến cho người đọc ấn tượng sống động về một đêm hè khi những chú chim hoạ mi hót líu lo hoặc về sự rực rỡ lạnh lẽo của những thảo nguyên vô tận dưới lớp tuyết mùa đông. Đó là một món quà vô giá. Tôi nghi ngờ việc ông lên án các phép nhân hoá. “Biển cười,” ông viết trong một lá thư, “tất nhiên là anh phải phải say mê nó. Nhưng nó thô thiển và rẻ tiền… Biển không cười hay khóc, nó gầm rú, loé sáng, lấp lánh. Hãy xem Tolstoy làm thế nào: ‘Mặt trời mọc rồi lặn, chim hót.’ Không ai cười hay nức nở cả. Và đó là điều quan trọng nhất – sự giản dị”. Điều này đúng, nhưng, suy cho cùng, chúng ta đã nhân cách hoá thiên nhiên từ thuở khai thiên lập địa và nó đến với chúng ta một cách tự nhiên đến nỗi chúng ta chỉ có thể tránh né nó bằng nỗ lực. Bản thân Chekhov không phải lúc nào cũng làm như vậy; và trong truyện Cuộc đấu súng của mình, ông kể với chúng ta rằng “một ngôi sao ló ra và rụt rè chớp một bên mắt”. Tôi không thấy điều này có gì đáng bắt bẻ; thực tế là tôi thích phép nhân hoá đó. Đối với người anh trai Alexander, cũng là một nhà văn viết truyện ngắn, nhưng bất tài, ông này nói rằng một tác giả không bao giờ được mô tả những cảm xúc mà chính anh ta chưa trải qua. Đây là một tuyên bố khó nghe. Chắc chắn là không nhất thiết phải giết người để mô tả cho thuyết phục những cảm xúc mà kẻ giết người cảm thấy khi hắn ta phạm tội. Rốt cuộc, nhà văn có trí tưởng tượng và nếu y là một nhà văn giỏi, y có khả năng đồng cảm để nhập tâm vào nhân vật của mình. Nhưng nguyên tắc quán triệt nhất mà Chekhov đưa ra là một tác giả phải cắt bỏ phần đầu và phần cuối của câu chuyện. Đó là điều mà chính ông đã làm, nghiêm ngặt tới mức bạn bè ông thường nói rằng các bản thảo của ông phải bị lấy đi trước khi ông có cơ hội cắt xén chúng, “nếu không, anh ta sẽ rút gọn những câu chuyện của mình thành thế này, rằng họ còn trẻ, đã yêu, đã kết hôn và không hạnh phúc.” Khi nghe được điều này, Chekhov trả lời, “Nhưng hãy xem này, thực tế mọi chuyện xảy ra đúng như vậy.”

    Chekhov coi Maupassant là hình mẫu. Nếu ông không tự mình nói với độc giả điều đó, tôi sẽ không bao giờ tin, vì đối với tôi mục đích và phương pháp của họ có vẻ hoàn toàn khác biệt. Nhìn chung, Maupassant tìm cách kịch tính hoá những câu chuyện của mình và để làm được điều này, như tôi đã nói trước đây, ông sẵn sàng hy sinh tính hợp lý nếu cần thiết. Tôi thiên về quan điểm rằng Chekhov cố tình tránh né lối kịch tính. Ông viết về những người bình thường sống cuộc sống bình thường. “Mọi người không đến Bắc Cực để ngã khỏi tảng băng trôi”, ông đã viết trong một lá thư. “Họ đến văn phòng, cãi nhau với vợ và ăn súp bắp cải”. Người ta có thể phản bác một cách đích đáng rằng mọi người đến Bắc Cực nếu không để rơi khỏi tảng băng trôi thì cũng để trải qua những cuộc phiêu lưu mạo hiểm, và không có lý do gì mà một tác giả lại không nên viết những câu chuyện hay ho về họ. Rõ ràng là không đủ thoả đáng khi chỉ viết về những người bình thường đến văn phòng làm việc và ăn súp bắp cải, và tôi không tin rằng Chekhov từng nghĩ như vậy: để tạo ra một câu chuyện, chắc chắn họ phải thụt két hoặc ăn hối lộ, phải đánh đập hoặc lừa dối vợ mình, và khi họ ăn súp bắp cải thì phải có ý nghĩa. Sau đó, nó trở thành một biểu tượng của một cuộc sống gia đình êm ấm hoặc nỗi thống khổ của một con người tuyệt vọng.

    Sự nghiệp y học của Chekhov, mặc dù gián đoạn, đã khiến ông tiếp xúc với đủ loại người, từ nông dân, công nhân nhà máy, chủ xưởng, thương gia đến giới quan chức, những người ít nhiều đã góp chút công sức hèn mọn trong việc tàn phá cuộc sống dân đen, những chủ đất đã rớt xuống mức bần cùng do cuộc giải phóng nông nô. Ông dường như không bao giờ tiếp xúc với tầng lớp quý tộc, và tôi chỉ biết một câu chuyện, một câu chuyện cay đắng có tên là Công chúa, trong đó ông đề cập đến tầng lớp này. Ông đã viết với sự thẳng thắn tàn nhẫn về sự vô trách nhiệm của những trang chủ đã phung phí gia sản của mình đến mức mục ruỗng; về số phận khốn khổ của những công nhân nhà máy sống lay lắt trong cảnh bần cùng, làm việc quần quật mười hai tiếng một ngày để ông chủ của họ có thể tậu thêm bất động sản; về sự thô bỉ và tham tàn của tầng lớp thương nhân; về sự bẩn thỉu, say xỉn, tàn bạo, ngu dốt, lười nhác của những nông dân được trả lương thấp, luôn đói khát, sống trong những túp lều hôi thối, đầy giun sán.

    Chekhov có thể trao cho những sự kiện mà ông mô tả một tính chân thực khác thường. Bạn chấp nhận những gì được kể với bạn như nghe từ một phóng viên đáng tin cậy. Nhưng tất nhiên Chekhov không đơn thuần là một phóng viên; ông quan sát, thu thập, phỏng đoán và kết hợp. Như Koteliansky đã nói, “Với sự khách quan tuyệt diệu của mình, vượt lên trên nỗi buồn và niềm vui cá nhân, Chekhov hiểu biết và nhìn thấu mọi thứ. Ông có thể tử tế và hào phóng mà không yêu thương; dịu dàng và cảm thông mà không ràng buộc, là một ân nhân không trông cậy ở lòng biết ơn.”

    Nhưng sự thờ ơ của Chekhov khiến nhiều nhà văn đồng nghiệp phẫn nộ và ông đã bị đả kích dữ dội. Ông bị buộc tội là dửng dưng với các sự kiện và hoàn cảnh xã hội của thời đại. Giới trí thức đòi hỏi ở một nhà văn Nga nghĩa vụ phải giải quyết chúng. Câu trả lời của Chekhov là công việc của nhà văn là tường thuật các sự kiện và để độc giả tự quyết định nên làm gì với chúng. Ông nhấn mạnh rằng nghệ sĩ không nên bị yêu cầu phải giải quyết các vấn đề mang tính chuyên môn hẹp. “Đối với những vấn đề đặc biệt,” ông nói, “chúng ta có các chuyên gia; công việc của họ là xét đoán công chúng, số phận của chủ nghĩa tư bản, tác hại của rượu chè…” Điều đó có vẻ thoả đáng. Nhưng vì đây là một quan điểm mà hiện nay dường như đang được thảo luận rộng rãi trong thế giới văn chương, tôi sẽ mạo muội trích dẫn một số nhận xét mà tôi đã đưa ra cách đây vài năm trong bài giảng mà tôi đã trình bày tại Liên hiệp Sách Quốc gia. Một ngày nọ, tôi đọc, như thói quen thường lệ, trang báo mà một trong những tuần san tiếng Anh hay nhất của chúng tôi dành để xem xét văn học đương thời. Nhân dịp này, người đánh giá bắt đầu bài viết của mình về một tác phẩm hư cấu mới xuất bản bằng những từ, “Ông Gì Gì Đó không đơn thuần là một người kể chuyện.” Từ “đơn thuần” tắc ứ trong cổ họng tôi và vào ngày hôm đó, giống như Paolo và Francesca trong một dịp khác, tôi không đọc thêm nữa. Bản thân nhà phê bình này là một tiểu thuyết gia nổi tiếng và mặc dù tôi chưa đủ may mắn để đọc bất kỳ tác phẩm nào của ông, tôi không nghi ngờ rằng chúng rất đáng ngưỡng mộ. Nhưng từ nhận xét này của ông, tôi chỉ có thể kết luận rằng theo ông, một tiểu thuyết gia không thể chỉ là một tiểu thuyết gia. Rõ ràng là, mặc dù có thể tồn tại vài mối quan ngại, ông chấp nhận quan niệm phổ biến trong giới nhà văn ngày nay, rằng trong tình trạng hỗn loạn của thế giới mà chúng ta đang sống, thật phù phiếm khi một tiểu thuyết gia chỉ viết nhằm mục đích giúp người đọc trải qua vài giờ dễ chịu. Như chúng ta đã biết, những tác phẩm như vậy bị khinh rẻ là thoát ly thực tế. Từ đó, giống như “potboiler”, là một từ có thể bị loại khỏi từ điển của nhà phê bình. Tất cả nghệ thuật đều thoát ly thực tế, các bản giao hưởng của Mozart cũng như các bức tranh phong cảnh của Constable; và chúng ta có đọc Shakespeare hay những áng thơ ca ngợi của Keats vì bất cứ điều gì khác không, ngoài niềm vui mà chúng đem lại cho ta? Tại sao ta phải đòi hỏi nhiều hơn từ tiểu thuyết gia so với thi sĩ, nhạc sĩ hay hoạ sĩ? Trên thực tế, không có thứ gì gọi là một câu chuyện “đơn thuần”. Khi viết một câu chuyện, tác giả, đôi khi không có ý định nào khác ngoài việc làm cho nó dễ đọc, tuỳ tiện đưa ra lời chỉ trích về cuộc sống. Trong tác phẩm Truyện kể núi đồi, Rudyard Kipling viết về những thường dân Ấn Độ, những sĩ quan chơi polo và về vợ của họ, ông đã viết với sự ngưỡng mộ ngây thơ của một nhà báo trẻ xuất thân khiêm tốn bị lóa mắt bởi những gì anh ta xem là quyến rũ. Thật đáng kinh ngạc khi không ai vào thời điểm đó thấy những câu chuyện này là lời cáo buộc lên án Quyền lực Tối cao. Giờ đây ta không thể đọc chúng mà không nhận ra sớm muộn gì người Anh cũng sẽ buộc phải từ bỏ ách thống trị của họ đối với Ấn Độ. Chekhov cũng vậy. Mặc dù ông cố gắng tỏ ra khách quan, chỉ muốn mô tả cuộc sống bằng sự thật, bạn không thể đọc những câu chuyện của ông mà không nhận ra rằng sự tàn bạo và sự ngu dốt mà ông đã viết, hay sự tham nhũng, cảnh khốn khổ cùng kiệt của người nghèo và sự vô tư của người giàu, chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng đẫm máu.

    Tôi cho rằng hầu hết mọi người đọc truyện hư cấu vì họ không có nhiều việc khác để làm. Họ đọc vì niềm vui, đó là điều nên làm, nhưng những người khác nhau tìm kiếm ở việc đọc những niềm vui khác nhau. Trước tiên là niềm vui được công nhận. Những độc giả đương thời đọc Biên niên sử Barchester của Trollope với sự mãn nguyện sâu sắc vì ông đã mô tả cuộc sống mà chính họ đã trải qua. Phần lớn độc giả của ông thuộc tầng lớp trung thượng lưu và họ cảm thấy thoải mái với tầng lớp trung thượng lưu mà ông đã tiếp xúc. Họ cảm thấy cùng một sự tự mãn khoan khoái khi ông Browning thân yêu nói với họ rằng “Chúa ngự trên thiên đường của Người – Với thế gian mọi sự đều đúng.” Thời gian đã mang lại sức hấp dẫn của thể tài cho những tiểu thuyết này. Chúng ta thấy chúng vui nhộn, và khá cảm động (thật tuyệt khi được sống trong một thế giới mà cuộc sống của những người khá giả lại dễ dàng đến vậy và cuối cùng mọi chuyện đều ổn!) và chúng có cùng một sức hấp dẫn như những bức tranh giai thoại vào giữa thế kỷ XIX, với những quý ông râu rậm trùm áo choàng và đội mũ chóp cao, và những thiếu nữ xinh đẹp đội mũ nồi và diện váy phồng. Những độc giả khác tìm kiếm trong tiểu thuyết sự kỳ lạ và mới mẻ. Câu chuyện kỳ lạ luôn có người hâm mộ. Hầu hết mọi người sống một cuộc đời buồn tẻ vô cùng, và việc đắm mình trong một thế giới đầy bất trắc và những chuyện phiêu lưu nguy hiểm là một lối thoát khỏi sự đơn điệu của cuộc sống. Tôi ngờ rằng những độc giả người Nga tìm thấy ở những câu chuyện của Chekhov một niềm vui rất khác so với những độc giả châu Âu. Họ thấu triệt hoàn cảnh của những người mà ông đã dày công mô tả. Những độc giả Anh tìm thấy trong những câu chuyện của ông một điều gì đó mới mẻ và kỳ lạ, thường là khủng khiếp và buồn bã, nhưng được trình bày với một sự thật ấn tượng, hấp dẫn và thậm chí lãng mạn.

    Chỉ những người rất ngây ngô mới có thể tin rằng một tác phẩm hư cấu có thể cung cấp cho chúng ta thông tin xác đáng về các chủ đề mà chúng ta cần nắm rõ để hiểu về cách đối nhân xử thế. Theo bản chất của năng khiếu sáng tạo, nhà văn không đủ năng lực để giải quyết những vấn đề như vậy; y không lý giải được tại sao, mà chỉ cảm nhận, tưởng tượng và sáng tạo. Y thiên vị. Các chủ đề mà nhà văn lựa chọn, các nhân vật mà y tạo ra và thái độ của y đối với họ bị chi phối bởi tính thiên vị nơi y. Những gì y viết là sự tái hiện tính cách của y và thể hiện bản năng, cảm xúc, trực giác và kinh nghiệm của y. Y nạp xúc xắc, đôi khi không rõ mình đang làm gì, nhưng đôi khi lại rất rõ; và sau đó y vận dụng kỹ năng mà y sở hữu để ngăn người đọc nhận ra y. Henry James nhấn mạnh rằng nhà văn hư cấu nên kịch tính hoá. Đó là một lối nói ẩn dụ, mặc dù xem chừng không được sáng suốt lắm, để nói rằng ông phải sắp xếp các sự kiện của mình sao cho thu hút được người đọc và giữ chân họ. Như mọi người đều biết, đây là điều Henry James đã luôn làm, nhưng tất nhiên đó không phải cách một tác phẩm có giá trị khoa học hoặc giàu thông tin được viết ra. Nếu độc giả quan tâm đến những vấn đề cấp thiết của thời đại, họ sẽ thu về nhiều hơn khi đọc, như Chekhov đã khuyên họ, không phải tiểu thuyết hay truyện ngắn, mà là những tác phẩm đặc thù đề cập đến chúng. Mục đích đúng đắn của nhà văn không phải là chỉ dẫn, mà là để làm hài lòng độc giả.

    Các tác giả sống một cuộc đời ẩn dật. Họ không được mời đến tiệc chiêu đãi với ngài Thị trưởng. Nền tự do của các thành phố lớn không được trao tay họ. Họ không có vinh dự đập vỡ một chai sâm-panh vào thân một con tàu viễn dương sắp xuất chinh lần đầu tiên. Không giống với các ngôi sao điện ảnh, đám đông không tụ tập để thấy các nhà văn bước ra khỏi khách sạn và nhảy lên một chiếc Roll-Royce. Họ không được mời đến các hội chợ lộ thiên để giúp đỡ những quý bà thượng lưu cùng đường ách vận, cũng không được mời đến trước đám đông reo hò để trao chiếc cúp bạc cho quán quân khuôn khổ đơn nam tại Wimbledon. Nhưng họ có sự đền bù. Từ thời tiền sử, những người đàn ông được ban tặng một món quà sáng tạo đã xuất hiện, những người từng tô điểm cho công việc kinh doanh ảm đạm của cuộc sống bằng các tác phẩm nghệ thuật. Như bất kỳ ai cũng có thể tự mình chứng kiến khi đến Crete, những chiếc cốc, bát, bình đã được trang trí bằng các hoạ tiết – không phải để làm chúng hữu ích hơn mà khiến chúng đẹp mắt hơn. Trong suốt nhiều thế kỷ, các nghệ sĩ đã tìm thấy sự thoả mãn tuyệt đối của họ khi tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Nếu tiểu thuyết gia có thể làm được điều đó, y đã làm tất cả những gì có thể được đòi hỏi một cách hợp lẽ. Thật là một sự lạm dụng khi coi tiểu thuyết như một bục giảng hoặc một diễn đàn.

    6.

    Tôi cho rằng sẽ thiếu công tâm nếu kết thúc bài luận rời rạc này mà không nhắc đến một tác giả tài năng, người đã viết những câu chuyện rất được ngưỡng mộ trong khoảng giữa hai cuộc thế chiến. Đó là Katherine Mansfield. Nếu kỹ thuật của các nhà văn viết truyện ngắn người Anh ngày nay có phần khác biệt so với kỹ thuật của các bậc thầy thuộc thế kỷ mười chín, tôi tin rằng ít nhiều chúng chịu ảnh hưởng của bà. Ở đây không có chỗ để thuật lại cuộc đời của Bà Mansfield, nhưng vì các tác phẩm của bà phần lớn đều mang tính cá nhân mạnh mẽ, tôi sẽ phải lướt qua một vài điểm. Bà sinh năm 1888 tại New Zealand. Từ sớm bà đã viết một loạt những mẩu truyện nhỏ ít nhiều hứa hẹn và bà quyết tâm trở thành một nhà văn. Cảm thấy cuộc sống của New Zealand tù túng và nhàm tẻ, bà thúc giục cha cho phép bà trở lại Anh Quốc, nơi bà từng đi học cùng các chị gái của mình trong hai năm. Gia đình đáng kính của bà đã phát hoảng khi phát hiện ra bà từng có một chuyến phiêu lưu chóng vánh với một chàng trai trẻ mà bà gặp ở một vũ hội, và dường như điều này đã thúc đẩy họ cho phép bà đi. Cha bà cho bà một khoản trợ cấp thường niên một trăm bảng, số tiền mà vào thời đó nếu biết tiết kiệm, một thiếu nữ có thể sống khá đủ đầy. Ở London bà nối lại quan hệ với một vài người bạn đồng hương. Một người là Arnold Trowell, người đã tạo dựng được tên tuổi như một nghệ sĩ xen-lô. Cô từng yêu anh điên cuồng ở New Zealand, nhưng ở London cô liền hướng trái tim mình về người em trai, vốn là một nhạc công vĩ cầm. Họ trở thành tình nhân. Chi phí ăn uống và nhà ở của một thiếu nữ chưa kết hôn tiêu tốn của cô hai mươi lăm si-linh mỗi tuần và do đó cô chỉ còn mười lăm si-linh để sắm sửa quần áo cùng giải trí tiêu khiển. Cô thấy phiền hà vì phải sống trong cảnh túng thiếu như vậy và, khi một giáo viên âm nhạc, George Bowden, hơn cô mười tuổi, tới hỏi cưới cô, cô đã gật đầu ưng thuận. Cô làm lễ cưới trong một tấm váy đen với một cô bạn là chứng nhân duy nhất. Đêm đó họ về một khách sạn. Cô từ chối trao cho chồng thứ mà anh tin rằng thuộc quyền lợi hôn nhân của mình, và rời bỏ anh ta ngay hôm sau. Sau đó, cô viết một câu chuyện dữ dằn về anh, tên là Ngày của ngài Reginald Peacock. Cô tìm tới tình nhân của mình, bấy giờ đang kéo đàn tại Liverpool, trong dàn nhạc của một đoàn hài kịch lưu động, và người ta nói rằng trong một thời gian ngắn, cô đã tham gia dàn hợp xướng. Cô có thai, nhưng không rõ cô biết chuyện này trước hay sau khi kết hôn một thời gian ngắn. Katherine đánh một bức điện tín về cho cha mẹ ở New Zealand để thông báo về cuộc hôn nhân sắp tới của mình và một bức khác để nói rằng cô đã bỏ chồng. Mẹ cô tìm đến tận Anh để chứng kiến tình hình, và bà hẳn đã rất sốc khi thấy con gái mình đang ở trong tình trạng mà thời Victoria họ gọi là “trong một hoàn cảnh thú vị”. Người ta thu xếp cho cô đến ở cữ tại Wörishofen ở Bavaria. Tại đó, cô đã đọc những câu chuyện của Chekhov, có lẽ qua bản dịch tiếng Đức, và viết những câu chuyện sau này sẽ được xuất bản trong cuốn sách Ở nhà trọ Đức. Do một tai nạn, cô phải nằm viện và đứa trẻ qua đời ngay sau khi sinh. Hồi phục xong, cô trở về Anh.

    Những câu chuyện đầu tiên của Mansfield được đăng tải trên tờ Orage’s New Age và đem lại cho cô một ít sự công nhận. Cô đã giao thiệp với một vài bạn văn của mình. Năm 1911 cô gặp Middleton Murry. Mặc dù vẫn là một sinh viên nhưng anh này đã thành lập một tạp chí có tên Rhythm và anh chấp nhận một câu chuyện mà cô đã viết theo yêu cầu của anh. Đó là Người đàn bà ở cửa hàng. Middleton Murry xuất thân từ tầng lớp hạ trung lưu, nhưng một sự kết hợp khéo léo giữa trí thông minh và tính chuyên cần đã giúp anh đi từ một trường nội trú tới trường Higher Grade, rồi từ đây, nhờ một học bổng, tới được Christ’s Hospital và cuối cùng, lại nhờ một học bổng, cập bến Oxford. Anh quyến rũ và và ưa nhìn. Thực sự thì anh rất đẹp, theo lời Francis Carco, một trí thức người Pháp từng quen biết anh trong một chuyến đi tới Paris, đám gái điếm ở Montmartre đã tranh giành nhau để được lên giường với anh mà không tính phí. Murry yêu Katherine. Điều này thúc đẩy anh thực hiện một bước tiến mà anh vẫn luôn trù trừ; đó là rời bỏ Oxford mà không tham dự kỳ thi đầu vào như mong đợi, và vì anh chẳng có năng khiếu gì đặc biệt ngoài việc thi cử, nên anh phải viết văn để kiếm sống. Oxford làm anh thất vọng và anh cảm thấy nó đã cho anh tất cả những gì anh có thể mong đợi. Fox, gia sư cũ của anh, đã giới thiệu anh với Spender, biên tập viên của tờ The Westminster Gazette, người đã đồng ý cho anh thử việc. Anh đang tìm một nơi ở tại London, và một ngày nọ, khi anh đang dùng bữa tối cùng Katherine, cô đề xuất cho anh thuê một phòng trong căn hộ mà cô đang ở với giá bảy hào sáu xu một tuần. Anh chuyển đến ở cùng. Vì cả hai đều bận bịu cả ngày, cô với những câu chuyện của mình, anh với công việc của tờ The Westminster Gazette, nên họ chỉ gặp nhau vào buổi tối. Sau đó, họ sẽ nói chuyện với nhau, chủ yếu theo kiểu những người trẻ tuổi vẫn thường làm, tôi đoán vậy, về bản thân họ cho tới hai giờ sáng. Vào một buổi tối, sau một khoảng lặng giữa cuộc trò chuyện, cô hỏi anh: “Sao anh không làm người yêu của em?” “Ồ, không,” anh đáp, “điều đó sẽ phá hỏng mọi chuyện. Em không nghĩ vậy sao?” “Chắc vậy,” cô trả lời. Một lúc sau, anh ngạc nhiên khi biết rằng câu trả lời của mình cho lời đề nghị của cô đã khiến cô vô cùng khó chịu. Tuy vậy, ngay sau đó, họ đã làm tình, và theo cuốn tự truyện của Murry, Giữa hai thế giới, họ dự tính sẽ kết hôn ngay khi cô được trả tự do. George Bowden, khả năng là vì oán giận, đã từ chối ly dị. Cặp đôi đến Paris hưởng tuần trăng mật, nhân tiện Murry muốn giới thiệu cô với anh bạn thân Francis Carco của mình. Trên đường về Anh họ sống thi thoảng ở London, thi thoảng ở miền quê. Chưa kịp an cư ở một chỗ nào thì Katherine đã chán ghét nó và họ lại chuyển đi. Trong hai năm họ đã chuyển nhà mười ba lần. Cuối cùng họ quyết định an trú trọn đời ở Paris. Vào khoảng này Murry đã nên danh trong báo giới, và đã có thể tiết kiệm một phần thu nhập của mình; giờ đây anh thu xếp với Spender và với Richmond, biên tập viên của tờ The Times Literary Supplement, để viết những bài viết về nền văn chương Pháp đương đại. Với khoản tiết kiệm của mình, với khoản thù lao mà anh kỳ vọng ở công việc này cùng với khoản trợ cấp của Katherine, họ không mảy may nghi ngờ liệu họ có đủ tiền trang trải hay không.

    Một lần ở Paris, cặp đôi tậu một căn hộ và mang theo từ Anh những đồ nội thất sưu tầm với một cái giá phải chăng. Họ gặp gỡ Francis Carco rất nhiều. Sự hiện diện của anh ta làm Katherine thích thú; anh ta năng nổ và hài hước; và dường như anh ta đã khiến cô cảm nhận được điều mà người Pháp gọi là un petit brin de cour [một chút ve vãn]. Nhưng những bài viết của Murry đồng thời bị từ chối bởi tờ The WestminsterThe Times Literary Supplement và tiền nong trở nên cạn kiệt. Carco không thể giúp họ: trái lại, suốt thời gian qua anh ta còn là một gánh nặng tài chính. Họ đã lâm vào đường cùng. Bỗng Murry nhận được một lá thư từ Spender nói rằng vị trí phê bình nghệ thuật ở The Westminster Gazette sắp bị bỏ trống và nếu anh chịu quay lại đây thì anh sẽ đảm nhận chức vụ này. Họ miễn cưỡng trở về Anh. Đó là tháng Ba năm 1914. Như thường lệ họ sống nay đây mai đó. Vào tháng Tám chiến tranh nổ ra và công việc phê bình nghệ thuật của Murry cũng chấm dứt. Họ dọn tới một chái nhà gianh ở Cholesbury, Buckinghamshire, để được gần D. H. Lawrance và vợ ông, những người mà họ đã đánh bạn. Nhưng nó không thành công. Katherine khao khát cuộc sống thị thành, Murry lại chán ghét nó. Cô bị chứng tê khớp hành hạ và không viết nổi. Họ rất cùng kiệt. Cô phàn nàn rằng Murry không muốn kiếm tiền và không chịu kiếm tiền. Anh chàng hầu như không có cơ hội làm điều đó. Họ tức bực nhau tới nỗi đến Giáng Sinh, cả hai ngầm hiểu rằng họ sắp chia tay. Katherine và Francis vẫn thư từ qua lại kể từ khi Murry và bà rời Paris. Có lẽ cô coi trọng những lá thư của Francis hơn anh ta dự tính, bởi dường như cô nghĩ rằng anh ta yêu mình. Liệu cô có yêu anh ta không thì không ai biết được. Anh ta quyến rũ và cô muốn rời xa Murry. Cô nghĩ rằng Francis Carco có thể đem đến cho cô niềm hạnh phúc mà Murry giờ đây không thể đem lại được nữa. Murry, người hiểu rõ Francis hơn cô, cả quyết rằng cô đang tự huyễn hoặc mình, nhưng không hề cố gắng khuyên giải. Em trai của Katherine, Leslie Heron Beauchamp, đến Anh để tòng ngũ và trao cô tiền để sang Pháp đoàn tụ với Francis Carco. Vào thứ Hai, ngày 15 tháng Hai, Murry tiễn cô đến London, và hai hoặc ba ngày sau đấy cô rời đi Paris.

    Carco đã bị gọi nhập ngũ và đóng quân tại một nơi gọi là Gray. Doanh trại nằm trong khu vực cấm phụ nữ, khiến Katharine gặp khó khăn khi đến đó. Carco đón cô tại nhà ga và đưa bà đến căn nhà nhỏ nơi anh ta trú ngụ. Cô ở lại với anh ta ba ngày rồi trở về Paris – trong cảm giác thất vọng cay đắng. Nguyên do thì chỉ có thể phỏng đoán. Đột nhiên Murry nhận được điện tín từ Katherine báo rằng cô sẽ trở về và sẽ có mặt tại Victoria vào 8 giờ sáng hôm sau. Khi đến nơi, cô bảo anh (phải thừa nhận là có phần thiếu tế nhị) rằng cô sẽ không quay lại với anh, và cô đến đây chỉ vì không còn nơi nào khác để đi. Họ lại tiếp tục chung sống trong trạng thái mà Murry gọi là “một kiểu đình chiến mệt mỏi”. Chuyến phiêu lưu của Katherine đã cung cấp chất liệu cho câu chuyện mang tên Je ne Parle pas Français. Trong đó, cô vẽ một bức chân dung cay nghiệt, nhưng hoàn toàn bất công, về Francis Carco và một bức chân dung ác độc về Murry. Cô đưa bản đánh máy cho anh đọc, và anh đã vô cùng đau khổ – điều mà chắc chắn cô muốn anh phải chịu đựng.

    Tôi có thể lướt nhanh quãng đời ngắn ngủi còn lại của Katherine một cách vắn tắt. Cuối cùng đến khoảng năm 1918, George Bowden ly dị bà, Katherine và Murry đã có thể kết hôn. Sức khoẻ của bà rất kém. Suốt những năm trước bà đau ốm triền miên và từng thực hiện ít nhất một ca phẫu thuật nghiêm trọng. Bây giờ bà phải chịu đựng chứng lao phổi. Sau khi được điều trị bởi vô số bác sĩ, Murry khuyên nhủ bà nên thăm khám một chuyên gia. Vị bác sĩ đến. Katherine nằm trên giường và Murry chờ ở dưới tầng để đón nhận kết quả của buổi thăm khám. Vị chuyên gia, lúc xuống lầu, nói với ông rằng bà chỉ còn một cơ hội duy nhất, đó là vào nhà an dưỡng ngay lập tức. Nếu không, bà sẽ khó lòng sống nổi hai hoặc ba năm – tối đa là bốn năm. Tôi xin trích dẫn từ tự truyện của Murry:

    “Tôi cảm ơn ông ấy (vị bác sĩ), tiễn ông ra ngoài rồi lên gặp Katherine.

    ‘Ông ấy nói em phải đến nhà an dưỡng,’ cô nói. ‘Em sẽ chết ở đấy mất.’ Rồi cô liếc nhìn tôi thật nhanh, đầy hoảng sợ. ‘Anh có muốn em đi không?’

    ‘Không,’ tôi buồn rầu đáp. ‘Có ích gì đâu?’

    ‘Anh tin rằng nó sẽ giết chết em?”

    ‘Phải, anh tin,’ tôi đáp.

    ‘Anh tin em sẽ khoẻ lên?’

    ‘Phải,’ tôi trả lời.”

    Thật kỳ lạ khi cả bác sĩ lẫn Murry không nghĩ đến việc đề nghị Katherine thử vào viện điều dưỡng một tháng để xem bà cảm thấy thế nào. Có một nhà an dưỡng tử tế ở Banchory tại Scotland; tôi cho rằng bà sẽ thấy cuộc sống ở đây đủ dễ chịu, và tôi không nghi ngờ rằng bà sẽ tìm được chất liệu cho một câu chuyện. Các bệnh nhân ở đó muôn hình vạn trạng. Có vài người đã trú lại đó nhiều năm trời vì họ chỉ có thể sống nếu sống ở đó. Những người khác điều trị xong rồi rời đi. Một vài người qua đời, và họ qua đời trong an yên và, tôi nghĩ, không luyến tiếc gì. Tôi nói những điều tôi biết, vì đó là chuyện đã xảy ra hồi tôi ở Banchory cùng thời gian Katherine có thể đã tới đây. Lẽ ra tôi đã gặp bà. Chắc chắn bà sẽ lập tức nuôi có mối ác cảm với tôi, nhưng điều đó không quan trọng.

    Kể từ đó, trong công cuộc phục hồi sức khoẻ đầy tuyệt vọng của mình, Katherine sống ở nước ngoài cùng một người bạn, Ida Baker, đi theo để chăm sóc bà. Ida Baker là một phụ nữ trạc tuổi bà, tận hiến cuộc đời mình để phục vụ. Katherine đối xử với cô còn kém cả một con chó, châm chọc cô, sỉ vả cô, ghét bỏ cô, đôi lúc có thể đã giết cô, nhưng đồng thời lợi dụng cô một cách vô liêm sỉ; và Ida Baker vẫn là kẻ bầy tôi trung thành, tận tuỵ. Katherine vô cùng ích kỷ, dễ bất chợt nổi cơn tam bành, cực kỳ đay nghiến, khắt khe, cay nghiệt, ích kỷ, ngạo mạn và hống hách. Điều này không khơi gợi một tính cách dễ chịu, nhưng thực tế bà vô cùng hấp dẫn. Clive Bell, người quen của bà, nói với tôi rằng bà rất quyến rũ. Bà có khiếu hài hước chua cay và khi muốn thì có thể rất thú vị. Công việc của Murry buộc ông phải ở lại London và thi thoảng ông mới có thể gặp Katherine. Họ đã thư từ rất nhiều. Sau khi Katherine mất, Murry đem công bố những bức thư bà gửi cho ông, nhưng tất nhiên, tôi cho rằng, không thêm những bức thư của ông vào, vì vậy bạn chỉ có thể dò đoán mối quan hệ giữa họ trong thời kỳ này ra sao. Phần lớn những bức thư của bà đều rất trìu mến, nhưng khi ông làm bà khó chịu, chúng hết sức cay nghiệt. Cha của Katherine dần dần tăng tiền trợ cấp cho con, và giờ đây lên tới hai trăm năm mươi bảng Anh một năm, nhưng bà vẫn thường xuyên túng thiếu. Có lần, bà viết thư nói với Murry rằng bà có một khoản chi bất ngờ; sau đó, bà thảo một bức thư phẫn nộ vì ông không chịu gửi tiền ngay lập tức, khiến bà phải nhục nhã ngửa tay xin ông. Ông đã thanh toán các hóa đơn y tế và chi phí bệnh tật cho bà. Ông nợ nần lút đầu. “Nếu tài chính eo hẹp,” bà hỏi ông, “sao ông còn sắm một chiếc gương?” Người đàn ông tội nghiệp vẫn phải cạo râu. Khi Murry được bổ nhiệm làm biên tập viên của tờ The Athenæeum với mức lương tám trăm bảng một năm, Katherine đã dứt khoát ra lệnh rằng ông phải gửi cho bà mười bảng mỗi tháng. Nếu ông chủ động đề nghị như vậy hẳn sẽ rất lịch sự. Có lẽ ông khá keo kiệt trong việc chi tiêu. Điều đáng bận tâm là khi Katherine gửi cho ông một bài viết để đánh máy, bà đã nói rõ với ông rằng bà sẽ phải trả tiền cho bài viết đó. Đó là một sự xúc phạm có chủ đích.

    Sự thật là ngay từ đầu họ đã không hợp nhau. Murry, dù chu đáo hơn, nhưng cũng ích kỷ như Katherine. Dường như ông không có khiếu hài hước, nhưng ông tốt bụng, điềm tĩnh, bao dung và vô cùng kiên nhẫn. Như chúng ta đều biết, ghen tuông có thể là nỗi thống khổ một khi tình yêu đã chết, và tuy Murry không còn yêu Katherine nữa, nhưng chắc hẳn việc bà rời bỏ ông để đến với một gã đàn ông khác là một đòn lăng nhục; và khi mà, sau trải nghiệm đáng thất vọng với Francis Carco, ông đã đón bà trở lại, đó là một sự hào phóng, thậm chí rộng lượng. Không có dấu hiệu cho thấy bà từng tỏ ra biết ơn ông. Bà mặc nhiên coi những gì ông làm cho mình là xứng đáng. Tuy Murry (theo cách nói hiện tại) khá “sướt mướt”, những lời phê bình của ông cho các câu chuyện của Katherine rất có giá trị đối với bà. Về sau, ông đã viết cuốn Cuộc đời của Swift, được mọi người đồng thuận là cuốn sách hay nhất từng viết về một nhân vật nham hiểm nhưng lại là một văn sĩ tài ba.

    Vị chuyên gia người Anh đã tiên lượng chính xác. Ông cho Katherine tối đa bốn năm để sống. Sau khi dành một thời gian ở Riviera tại Ý, rồi đến Pháp, và sau đó ở Thuỵ Sĩ, bà nhập Viện Gurdjieff tại Fontainebleau như một cơ hội cuối cùng. Bà qua đời tại đó vào đầu năm 1923, khi mới ba mươi tư tuổi.

    Phần lớn mọi người đồng tình rằng Katherine chịu ảnh hưởng to lớn từ Chekhov. Middleton Murry phủ nhận điều này. Ông tuyên bố bà vẫn có thể viết nhưng câu chuyện của mình y như thế ngay cả khi chưa từng đọc Chekhov bao giờ. Tôi nghĩ ông đã sai. Tất nhiên bà sẽ viết truyện, điều này ăn sâu vào máu của bà; nhưng tôi tin nếu thiếu Chekhov thì những câu chuyện đó sẽ rất khác. Những câu chuyện của Katherine Mansfield là tiếng lòng của một người phụ nữ cô đơn, nhạy cảm, ốm đau và thần kinh bấn loạn, chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với châu Âu là nơi mà mình đã chọn để sống. Đó là nội dung của chúng. Hình thức của chúng chịu ơn Chekhov. Cấu trúc của truyện ngắn trong quá khứ rất đơn giản. Nó bao gồm A, bối cảnh, B, giới thiệu nhân vật, C, họ làm gì và điều gì xảy đến với họ, và D, kết cục. Đây là một cách kể chuyện nhàn nhã và tác giả có thể tuỳ ý co giãn độ dài của truyện; nhưng khi đó các tờ báo bắt đầu xuất bản những câu chuyện mà dung lượng của chúng bị giới hạn một cách nghiêm ngặt. Để thoả mãn yêu cầu này, tác giả phải áp dụng kỹ thuật phù hợp; y phải loại bỏ mọi thứ không cần thiết khỏi câu chuyện của mình. A, bối cảnh, nhằm đặt người đọc vào một trạng thái tinh thần thích hợp để thưởng thức câu chuyện hoặc tăng tính chân thực; nó có thể dễ dàng bị gạt bỏ, và ngày nay nhìn chung là vậy. Tuy vậy, chừa lại phần D, kết cục, cho độc giả tự tưởng tượng chẳng khác nào một canh bạc. Độc giả bị cuốn vào các tình huống được mô tả trong truyện, và nếu tác giả không nói cho họ kết cục ra sao thì họ có thể cảm thấy bị lừa gạt, nhưng khi kết cục đã rõ ràng, bỏ qua nó lại là điều sáng suốt và hiệu quả. Truyện ngắn Người đàn bà có con chó nhỏ của Chekhov là một minh chứng hoàn hảo. B và C là thiết yếu, thiếu chúng sẽ không có câu chuyện nào cả. Rõ ràng là một câu chuyện đưa người đọc ngay vào trung tâm sự việc sẽ đem lại sự kịch tính giúp thu hút và giữ chân người đọc. Chekhov đã viết hàng trăm truyện theo hướng này và với sự nổi tiếng ngày càng tăng, khi đã có thể viết những câu chuyện dài hơn trên tạp chí, ông vẫn sử dụng mô típ mà mình quen thuộc.

    Kiểu mẫu này rất phù hợp với bản chất tính khí cũng như năng lực của Katherine Mansfield. Bà sở hữu một tài năng khiêm tốn nhưng tinh tế. Tôi nghĩ rằng những người hâm mộ quá khích đã đưa ra những tuyên bố mà tác phẩm của bà khó lòng chứng minh nổi. Năng lực sáng tạo của bà rất hạn chế. Sáng tạo là một năng lực kỳ lạ. Nó là một đặc tính của tuổi trẻ và sẽ mai một dần theo tuổi tác. Điều đó hết sức tự nhiên, vì nó là sự đúc kết của kinh nghiệm, và năm tháng qua đi, những sự kiện trong cuộc sống không còn đem lại cảm giác mới mẻ, hứng khởi, kích thích như thời thanh xuân nữa, và do đó không còn khơi gợi tác giả thể hiện chúng. Vốn sống của Katherine khá hạn hẹp. Bà biết mình cần nó. Murry, với vẻ hơi bất bình, nói rằng “cô ấy muốn tiền bạc, xa hoa, những chuyến phiêu lưu, đời sống đô thị”; dĩ nhiên là bà ấy muốn, vì chỉ khi đó bà ấy mới có thể tìm được chất liệu cho những câu chuyện của mình. Nhà văn hư cấu, để nói lên sự thật đúng như cách họ nhìn nhận, phải dấn thân vào cuộc sống xô bồ. Nếu từ điển nói rằng một câu chuyện là một bản tường thuật về những sự kiện đã xảy ra hoặc có thể đã xảy ra, thì phải công nhận rằng Katherine Mansfield không có năng khiếu kể chuyện xuất chúng. Năng khiếu của bà nằm ở chỗ khác. Bà có thể nắm bắt một tình huống và phô bày tất cả sự mỉa mai, cay đắng, bi thương và bất hạnh ẩn chứa trong đó. Một ví dụ về điều này là câu chuyện mang tên Tâm lý học. Bà đã viết một vài truyện ngắn khách quan, chẳng hạn như Người con gái viên Đại tá hay Mấy bức tranh; chúng là những truyện hay, nhưng bất kỳ nhà văn có năng lực nào cũng có thể viết chúng; còn những truyện đặc trưng nhất của bà là những truyện thường được gọi là truyện về bầu không khí. Tôi đã hỏi nhiều bạn văn của mình về ý nghĩa của từ “bầu không khí” trong ngữ cảnh này; nhưng họ không thể, hoặc không muốn, đưa ra một lời giải đáp hoàn toàn thoả đáng. Từ điển Oxford cũng chẳng giúp ích. Nó đưa ra định nghĩa hiển nhiên, “theo nghĩa bóng, yếu tố tinh thần hoặc đạo đức xung quanh môi trường.” Trên thực tế, nó dường như hàm nghĩa là những chi tiết trang trí mà bạn dùng để tô điểm cho một câu chuyện, mỏng manh đến mức nếu không có chúng, câu chuyện sẽ không tồn tại. Katherine Mansfield đã làm được điều này bằng tài năng và sự duyên dáng nơi bà. Bà sở hữu một năng khiếu quan sát thực sự đáng nể và có thể mô tả những hiệu ứng của thiên nhiên, hương vị đồng nội, gió và mưa, biển và trời, cây cối, hoa lá với một cảm quan tinh tế hiếm thấy. Một trong những năng khiếu của bà là khả năng truyền tải nỗi đau lẩn khuất đằng sau những gì thoạt nhìn chỉ là một cuộc đàm thoại bình thường bên bàn uống trà; và hỡi ôi, đó chẳng phải điều dễ dàng. Bà viết theo một phong cách trò chuyện dễ chịu, và bạn có thể đọc ngay cả những câu chuyện nhỏ nhặt nhất của bà với niềm thích thú. Chúng không đọng lại trong trí nhớ của bạn, chẳng hạn, như Viên mỡ bò của Maupassant hay Phòng số 6 của Chekhov; có lẽ vì lưu giữ một sự kiện dễ hơn một cảm xúc. Bạn có thể nhớ việc ngã cầu thang và trẹo mắt cá, nhưng không phải cảm xúc khi yêu. Nhưng liệu việc câu chuyện đọng lại trong bạn có phải một phẩm chất của một câu chuyện hay hay không thì tôi không dám cho ý kiến.

    Khi sống ở New Zealand, chẳng điều gì làm Katherine Mansfield hài lòng, nhưng sau này, khi nước Anh không đáp ứng kỳ vọng của bà, khi sức khoẻ ngày càng suy yếu, bà lại hồi tưởng về những năm tháng đầu đời ở đó. Có những lúc bà ước mình chưa từng rời đi. Nhìn lại, cuộc đời khi đó bà đã sống gần như trọn vẹn, phong phú và tuyệt vời. Bà không thể không viết về nó. Câu chuyện đầu tiên bà viết có tên là Khúc dạo đầu. Bà viết nó khi bà cùng Murry đang dành ba tháng ở Bandol trên vùng Riviera của Pháp, và khi họ chung sống hạnh phúc hơn bao giờ hết hoặc không bao giờ hạnh phúc được nữa. Bà định đặt tên cho câu chuyện là Lô Hội và chính Murry đã gợi ý bà nên gọi nó là Khúc dạo đầu. Tôi cho rằng ông cảm thấy rằng nó không hẳn là một câu chuyện mà là bối cảnh cho một câu chuyện. Bà đã khởi sự nó, như ta đã biết, với ý đồ xây dựng một cuốn tiểu thuyết, và có lẽ vì lý do này mà nó có phần vô dạng. Sau đó, bà đã viết một loạt những câu chuyện khác có cùng bối cảnh: Một chuyến đi, Vịnh lưỡi liềmTiệc vườn. Một chuyến đi mô tả một đêm của một cô bé vốn được bà ngoại nuôi nấng, xuôi theo hải trình từ một cảng biển ở New Zealand đến một cảng biển khác. Không gì có thể dịu dàng hay quyến rũ hơn. Những câu chuyện khác là về cha, mẹ, anh trai, chị gái, anh em thúc bá và hàng xóm của cô bé. Chúng tươi mới, sống động và tự nhiên. Chúng ta biết rõ Katherine đã dành rất nhiều tâm huyết cho chúng, nhưng chúng sở hữu một bầu không khí tự phát đầy mê hoặc. Chúng không chứa đựng sự cay đắng, vỡ mộng, hay bi ai như rất nhiều câu chuyện khác của Katherine. Theo tôi, đó là những tác phẩm hay nhất bà từng viết.

    Tôi được biết rằng truyện của Katherine Mansfield không được đánh giá cao như hồi những năm 1920. Thật đáng tiếc nếu bà bị lãng quên. Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Suy cho cùng, chính cá tính của tác giả đem lại cho tác phẩm sự hấp dẫn đặc biệt. Chẳng quan trọng nếu đó là một cá tính hơi kỳ quặc như Henry James, có phần thô tục, như Maupassant, hơi phô trương hào nhoáng như Kipling – miễn là tác giả có thể trình bày nó, một cách chân thực và độc đáo, tác phẩm của họ sẽ có sức sống. Đó chắc chắn là điều Katherine Mansfield đã làm được.


  • Mạt kiếp

    Đọc thử

    Sáng hôm ấy khi Thịnh đến văn phòng của Ban Chỉ huy Quân sự, cửa để ngỏ, bên trong có hai người: ông chỉ huy trưởng tuổi trạc năm mươi, mặc sơ mi cộc tay cổ cồn, dáng dấp bệ vệ, mặt đỏ gay, ngồi lút sâu trong chiếc ghế bành ở giữa phòng; người ngồi cạnh cửa ra vào thì trẻ hơn, trông giống sinh viên hơn là viên chức, chừng hai mươi lăm tuổi, đang cắm cúi ghi chép gì đó.

    Thịnh tiến thẳng tới bàn ông chỉ huy trưởng. Ông ta nhướng mày, dùng tay nâng gọng kính, mắt trố ra, hỏi khách bằng giọng kẻ cả rằng khách đến đây có chuyện gì. Thịnh dè dặt xưng tên, đế thêm rằng ông Hồng phó chủ tịch là chỗ quen biết, vừa chỉ anh qua đây xin giấy tạm hoãn. Nghe thế những nếp nhăn trên gương mặt phừng phực của ông chỉ huy giãn ra, và ông ta hạ giọng:

    “Thế ra chỗ thằng kia.”

    Thịnh gật gù quay đầu cùng lúc người trẻ tuổi ngẩng mặt lên. Đôi bên đơ ra vài giây. Hoá ra là bạn cũ!

    Thịnh biết Tuấn từ những ngày cấp ba. Tuấn hơn anh bốn tuổi, bố làm cai còn mẹ cặp bồ bên nước ngoài rồi không về nữa. Đôi bên không thân thiết gì nhưng vì gần nhà nên họ chung nhau những thói tật của thời niên thiếu, và khi gặp nhau ngoài đường, họ vẫn gật đầu chào nhau chiếu lệ. Dù là người thờ ơ với ngoại hình, Thịnh ngày trẻ nhiều lần vẫn tấm tắc, hoặc ghen tỵ cũng nên, cái dáng dấp dong dỏng thon gọn của Tuấn. Nhưng bây giờ nhìn cái chóp mũi to, cái cà vạt đỏ chấm bi đen rộng bản quê mùa, cặp lông mày thưa mọc lộn xộn, cái vai rộng, cái cổ ngắn và gù, anh thấy bạn thô kệch quá. Ánh mắt cương nghị cũng không còn nữa, mà bây giờ trông tinh ranh, thậm chí phảng phất nét phỉnh lịnh. Tuấn đang so vai, bàn tay thô kệch đen đúa lật giở từng tập hồ sơ trắng muốt và vừa chấm ngón tay lên miệng, vừa hỏi hú hoạ vài lời.

    “Học trường nào?”

    “Bách Khoa ạ.”

    “Ngành gì thế?”

    “Em nói ra chắc anh cũng chẳng biết.”

    “Nhưng cứ nói đi chứ!”

    “Thôi được rồi, khoa công nghệ sinh học… Đấy, em bảo mà, anh biết làm sao được.”

    Ông chỉ huy trưởng bước lại gần, căn dặn Tuấn vài lời gì đó rồi nhanh chóng lảng đi.

    “Chuyện gì thế?” Thịnh hỏi.

    “Ra xin dấu ở trạm xá.”

    Đôi bạn men theo bìa rừng, chuyện trò bâng quơ và chẳng mấy đã đến trước cổng bệnh xá. Thịnh ngồi đợi ở hàng ghế đá dưới cây bằng lăng. Vài phút sau, Tuấn trở ra và tới ngồi cạnh. Họ im lặng hút thuốc.

    Hôm ấy trời oi nồng, nóng bức, từ trên cao thấy màn trời xam xám vẩn đục, ngán ngẩm trông xuống một thửa ruộng cằn cỗi trải dài, cỏ dại mọc tua tủa khắp gò đê, có thể nghe rõ tiếng đưa liềm lạo xạo đều đều. Mùi khen khét từ xa đưa tới, có tiếng nổ lách tách của đống rơm gần đó. Cảnh buồn tênh, ngái ngủ, và có cảm tưởng mặt đất đang bốc hơi, còn thời gian dài mãi ra như cánh đồng trước mặt họ.

    “Thế là cũng bốn, năm năm rồi đấy!” Tuấn vươn vai nói sau một cú ngáp dài. “Mới ngày nào còn ngồi quán điện tử với nhau. Mày còn chơi game không?”

    “Em bỏ rồi anh ạ.”

    “Ừ, cũng phải bỏ thôi! Tao thì đến tối vẫn chơi nhưng cũng ít rồi. Nhưng ngày xưa tụ tập vui thật nhỉ?”

    “Ừ, vui thật! Bây giờ có muốn cũng không được nữa.”

    Thịnh bỗng nhớ lại một thời ngây dại từng trốn gia đình ra quán điện tử thâu đêm suốt sáng. Những hồi ức tuổi thơ lẩn vẩn trong tâm trí anh cũng mờ nhạt như dải mây nhờ nhờ màu váng sữa kia, anh thấy lòng nhẹ nhõm và vẻ mặt anh lúc ấy nom hiền hoà, gần như lơ đãng. Chuyện trò duy có Tuấn là người gợi chuyện, và bằng giọng ề à, anh ta kể rằng năm năm trước, sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh ta không học đại học mà tòng ngũ ngay, nhờ tư chất tốt nên được cấp trên chú ý, ra quân được cất nhắc vào uỷ ban làm việc. Thịnh biết ông chủ tịch xã là họ hàng của anh ta, nhưng vì tế nhị nên anh chỉ lẳng lặng gật đầu.

    “Nhưng ban nãy mày bảo mày học ngành gì ấy nhỉ? Sinh học gì gì ấy? Học cái đấy xong ra làm cái gì?”

    “Viện nghiên cứu, đại loại thế,” Thịnh đáp sau một thoáng nghĩ ngợi.

    “Thế rồi sao, cứ ở trên Hà Nội thôi à?”

    “Vâng, có lẽ thế. Về quê không có việc anh ạ.”

    “Học mấy năm?”

    “Lấy bằng kỹ sư thì năm năm anh ạ.”

    “Cũng tốn phết ấy nhể?”

    “Tất nhiên, nhưng cái gì cần chi thì vẫn phải chi thôi.”

    Im lặng một lát.

    “Chỗ anh em với nhau tao nói thật,” Tuấn cất giọng lè nhè, vẻ bí hiểm như sắp tiết lộ một bí mật, “đừng học đại học em ạ! Sau rồi cũng ra làm thuê thôi. Tao chẳng bịp mày làm gì, bạn bè tao cũng đổ xô đi học đại học tuốt. Toàn học mấy trường làng nhàng, lấy xong bằng thì vẫn về quê xin việc như công nhân bình thường. Đến lúc đấy thì những người không học đại học đã có hai, ba năm kinh nghiệm rồi, hoặc đi nước ngoài thì có khi đã huề vốn và tích cóp được một khoản kha khá. Nghĩ mà xem, bốn năm trời xong ra vẫn đi làm thuê có phải phí không? Tốn bao nhiêu tiền rồi vẫn phải ngửa tay xin việc… Đúng là chỉ để cho oai!”

    Thịnh ậm ừ giây lát rồi trả lời, giọng khô khốc:

    “Có lẽ thế, nhưng mọi chuyện luôn bắt đầu từ đâu đó. Dân nhà quê không người chống lưng thì học tập là con đường ngắn nhất rồi.”

    “Tốt nhất là cứ đi nghĩa vụ! Trông mày dáng dấp thế này có khi học xong người ta vẫn bốc đi đấy. Vào đấy rồi quân đội họ rèn cho, bao ăn bao ở, ra quân cầm về hai chục triệu, lúc đấy thích làm gì thì làm. Như anh đây, trước cũng lông ba lông bông, mà nói thật nhé, giờ nhớ lại anh còn chẳng biết mình đã làm những gì… Nhưng bây giờ thì tỉnh ngộ rồi! Ở quê thế mà lại nhàn, trưa về ăn cơm với gia đình, đánh một giấc rồi chiều lại đến cơ quan, tối thích thì cà phê cà pháo, còn không thì thể thao. Bọn trẻ như mày thì ở quê là kêu chán, chỉ thích đâm đầu lên thành phố hít bụi mịn thôi, mà cám dỗ lắm em ạ, thằng nào không vững là đổ ngay.”

    “Nhưng học thì vẫn phải học chứ anh,” Thịnh nói, câu chữ nghe như rít qua kẽ răng, “nói như anh thì ai nấy đều đi lính rồi về quê làm ruộng hết à? Mà đất thì nhà nước cũng trưng thu hết rồi còn đâu, về quê giờ chỉ có chết đói.”

    “Thế mà tao đã chết đâu.”

    “Nhưng anh… thôi, kệ đi!”

    Đôi bạn cùng đoán biết được câu nói kia qua ánh mắt nhau.

    “Còn về chuyện cám dỗ,” Thịnh nói tiếp bằng giọng rắn rỏi, “thì ở đâu cũng như nhau mà thôi. Từ thưở khai thiên lập địa người ta đã biết cách để sa đoạ. Đúng là trên thành phố dễ lung lạc hơn, nhưng anh thấy dân mình có những người cả đời không ra khỏi luỹ tre làng mà sau rốt vẫn ngồi tù mọt gông đấy thôi! Chẳng nói đâu xa, ngay thằng Tiến con nhà ông Hài, cái thằng đen nhẻm ngày xưa vẫn theo chân anh em mình, ngoan ngoãn hiền lành là thế, đến năm lớp sáu vẫn còn khóc tu tu vì không được mẹ cho đi chợ cùng, nhưng nhoáng cái nó ở tù đã ba năm rồi đấy!”

    “Dào!” Tuấn thở dài. “Cái lũ ấy thì nói làm gì. Cứ thằng nào không chơi với tao là hỏng hết! Thử tính mà xem…”

    “Ôi, chẳng phải ở ông!” Thịnh bỗng ngắt lời bạn, mặt đỏ bừng. “Nếu nó đã muốn hỏng thì có vào chùa vẫn hỏng. Quân ngũ của anh cũng chỉ giải quyết được một phần. Cái chính là ở tư duy, ở ý chí của con người. Chúng ta là những kẻ may mắn vì được trời phú cho một thân thể lành lặn và một khối óc biết suy nghĩ; chúng ta biết suy tính thiệt hơn, cân nhắc trước mỗi quyết định, và có lẽ hơn cả là chúng ta biết chùn. Có nhiều người không sa đoạ chỉ vì nỗi sợ trong họ quá lớn, phần khác vì không đủ điều kiện để sa đoạ, chỉ có thiểu số những người thực sự đứng đắn biết mình cần tránh né những gì và giữ bản thân luôn trong chừng mực cho phép.”

    “Không sai.”

    “Còn chuyện đại học thì chẳng có gì là vô ích đâu! Cái quan trọng là ở đây,” anh chỉ tay vào trán, “là tư duy và tự do mà giáo dục đem lại. Anh lôi những trường hợp học đại học xong về vẫn nai lưng đi xin việc, trong lúc anh chức nghiệp ổn định, đủng đỉnh vắt chân rung đùi ở văn phòng, nhưng anh quên mất đó chỉ là lớp cặn. Những tấm gương thành đạt, những học giả, những chủ doanh nghiệp, từng làm mọi cách để được tới giảng đường thì anh đâu có nhắc tới.”

    Tuấn đuối lý và đâm hoảng trước thái độ xốc nổi của bạn, bèn lảng mặt nhìn chỗ khác, huýt sáo mồm. Còn những phản biện trong đầu Thịnh cứ sôi lên sùng sục, có cảm tưởng nếu không được thoát ra khởi vòm miệng, khỏi lỗ mũi, lỗ tai thì nó sẽ bật tung cái chỏm đầu anh mất, và vừa hổ thẹn vì đã thổ lộ quá trớn, vừa giận dỗi vì mếch lòng, anh chủ động đứng dậy đi trước, thở rất mạnh.

    Vài phút sau, giấy tờ trao tay, Thịnh chào anh bạn viên chức một cách qua quýt và về thẳng.

    Chà, sảng khoái làm sao! Bước ra ngoài như thể về với thế giới thực. Một cánh đồng trơ trọi trải dài, hay một sa mạc mêng mang cũng không thể tẻ nhạt hơn cái cục đá ngồi cạnh anh ban nãy. Nghe một gã ít học rao giảng sự đời, anh cảm tưởng như bị tra tấn. Giờ đây còn lại một mình, khí trời thoáng đãng giúp anh suy nghĩ thấu suốt hơn, anh cuộn tròn tờ giấy trên tay như một cái ống nhòm, và anh nghĩ:

    “Chậc, thằng cha ấy đụt thật! Thế mà cũng gọi là tương lai của nước nhà. Cái nếp nghĩ của nó cũng chẳng hơn gì cha ông nó. Nhưng nó nói cũng có ý đúng. Không thể phủ nhận. Có không ít người học đại học ra rồi vẫn phải cày cục xin việc, rằng bốn năm giảng đường chỉ là sự trì hoãn cuộc chiến với đời, chứ chẳng phải khâu chuẩn bị hay gì sất.”

    Nhưng Thịnh còn trẻ, giàu nhiệt huyết, và tự cho mình là người có thiên tư, anh tự tin nghĩ rằng những trường hợp bất trắc ấy sẽ trừ anh ra. Là người dễ kích động nhưng cũng dễ nguôi khuây, anh sẵn lòng miễn thứ cho sự thiển cận của Tuấn, nhưng anh vừa khoái trá vừa cay đắng nghĩ rằng tuổi đời chẳng khiến con người ta thêm sáng suốt được bao. Suy cho cùng, Tuấn chỉ là một anh viên chức tốt số, may mắn được người nhà cất nhắc vô một chức vụ nhàn tản, ở đó, cuộc đời gã sẽ trôi qua nhàn tản y thế, và cái thân hình phổng phao của gà dần dà sẽ trở thành một con ngỗng căng dù, no nê vì những bữa rượu và mãn nguyện với cái chức nghiệp hèn mọn của gã. Gã hẳn sẽ hạnh phúc lắm bởi gã đâu có nghĩ tới ai ngoài bản thân mình. Gã không bao giờ phải dừng lại để ngẫm nghĩ xem mình sẽ đi đâu, làm gì, vì con thuyền đời gã đã được cấp sẵn một hải trình. Dẫu sau này gã có leo lên tới chức chủ tịch thì anh vẫn nhìn gã không hơn một thằng cha hãnh tiến. Một con người dù tầm thường nhất cũng chưa bao giờ làm ta hết ngạc nhiên, cái anh Tuấn ngày nào còn áo quần xộc xệch, bản mặt cù lần, thân hình quá khổ đè lên chiếc xe cà tàng, thế mà giờ đã sơ mi cà vạt tươm tất, đầy đủ lệ bộ, từ gương mặt cho đến thần thái đều tỏ rõ ta đây là người quan trọng, là cán bộ đàng hoàng đấy nhé!

    Uỷ ban nằm trên một con dốc nơi xưa kia là mỏm đồi, con đường trải dài xuống đường cái, hai bên những con trâu, cái nghé mình mẩy bê bết bùn lầy, đóng vảy như sáp, đám ruồi nhặng vo ve quanh cái đuôi phất phơ như nhành lau của chúng. Chúng chậm rãi nhai cỏ, liếc đôi mắt đen nhánh nhìn khách qua đường, trông mới nhàn hạ và vô tư làm sao…

    “Phải rồi,” Thịnh nghĩ, “ý chí tự do là thứ tách biệt con người văn minh với đám súc vật. Thế mà nhiều người sống chẳng hơn đám súc vật là bao! Con trâu nó ngủ, nó gặm cỏ, nó nhúng mình trong bùn, trông nó thong dong, vì chỉ cần cái bụng nó no, cái thân nó ấm, là nó mãn nguyện, thở phì phò! Đến tối người ta nhốt nó vào chuồng, ban ngày thả ra, ngày nào nó cũng làm ngần ấy thứ việc. Còn con người, con người đâu chỉ sống vì tiền, vì danh vọng, hay vì những bữa ăn ngon… mà phải phát triển, phải đi lên, phải trau dồi! Ấy mà suy cho cùng, nhiều con người được cho là học thức, tiến bộ, quan trọng, cũng đâu khác một tốp thợ thủ công, với những đầu việc được giao sẵn, những thao tác lặp đi lặp lại, những vấn đề cũng lặp đi lặp lại y thế, như thể một chu trình tuần hoàn; họ thông thuộc công vụ tới mức bàn tay và trí não thoăn thoắt vào việc như một con nhện giăng tơ, nhưng nghĩ mà xem, trước khi giăng tơ, con nhện có nghĩ rằng nó phải giăng tơ ra sao không, hay việc ngày nào cũng giăng tơ có khiến đời sống nó ý vị hơn, có khiến nó trở thành một con nhện tốt hơn, hay nó chỉ miệt mài giăng tơ bởi vì số phận đã đặt định rằng nó phải giăng tơ, cho tới ngày chết? Những anh cạo giấy kia, ngày ngày lết tới văn phòng chỉ để đóng dấu, loạt xoạt những giấy má hố sơ, đón tiếp bà con nông dân với cái điệu bộ phách lối, hách dịch, như thể chúng đang ban phát một ân huệ, trong khi tất thảy cùng ăn lương nhà nước, chúng no kễnh bụng, chúng nuôi vợ con chúng bằng tiền của dân, nhưng chúng khinh thường dân, chúng chẳng lễ độ hơn trước những bà già hèn mọn và ra vẻ trịch thượng trước đám sinh viên loắt choắt như mình.”

    Giá như có thể tống hết đống suy nghĩ này vào tai gã kia. Và giả sử được đá nó mấy phát, thì vui biết mấy! Ôi, chán chết! Ở cái xó xỉnh này, cái tỉnh nhỏ đìu hiu này, chưa kể là những phố thị chật chội những tưởng chứa chấp toàn những con người trí thức, thì còn biết bao kẻ như gã, là đồng đội của gã, một đội quân toàn những thành phần nông cạn, thích ăn no, ngủ kỹ, thích cuộc đời êm ấm, ngay ngắn như tấm khăn trải bàn, bên trên là những món ăn của mâm cỗ cuộc đời, mà mâm nào cũng giống mâm nào, nhưng chẳng mấy ai phàn nàn, còn giả sử thiếu đi một món dù là nhỏ nhặt nhất, rằng mâm cỗ bàn họ không được đủ đầy như chúng bạn, thì họ kêu toáng lên!

    Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa, và đến cảnh mấy bà già ngồi tán chuyện cũng khiến anh ngao ngán. Nơi đây cuộc sống bí bách và buồn tẻ, nó giam hãm những tâm hồn trẻ trung như anh, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập mọi thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của họ là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không; còn lại, họ sống một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá… Nhảy từ thị trấn lên thành phố đã tám năm nhưng không có lấy một cái trường học cho tử tế, – thì cũng có một cái trường đại học đấy! nhưng toàn thu nhận những đứa đầu trâu mặt ngựa, lũ du đãng, đốn mạt, học hành làng nhàng cốt trốn quân dịch; nhìn mà xem, cả thành phố rộng gần ba mươi ngàn héc-ta mà không có lấy một cái thư viện, không rạp chiếu bóng, chỉ lổn nhộn toàn những quán bida, những quán hát tay vịn; những miếu, đền xây cất bề thề nhưng quanh năm cửa đóng then cài; phá cả công viên thiếu nhi đi để xây vườn hoa nhưng không thấy hoa đâu, chỉ trơ ra một cái cối xay gió cũ rích mà lớp sơn đã bạc phếch vì dãi dầu sương gió; còn bệnh viện thì chỉ nhận người quen, các ông bà già quặt quẹo đứng xếp hàng từ năm giờ sáng, lương y hồn khô như ngói, quát tháo bệnh nhân…

    Kể cũng lạ, thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội tìm về đây lập nghiệp. Cuộc sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, con người hiển nhiên luôn trong trạng thái chuyển động; ấy thế không những họ không xê dịch mà còn chây ì, biếng nhác từ những ngày thanh niên. Có những cô giáo, thầy giáo trẻ măng về đây thực tập, nhưng hoàn toàn không phải những vị trí giả miệt mài cống hiến đâu, mà chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận và ngại sống xa nhà. Và họ sẽ ở đó có lẽ đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng khổ nỗi chỉ thuộc mỗi một câu, thành thử phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…


  • Một buổi dạo chơi ở Hà Nội

    Đọc thử

    Tôi là con một và cũng là con cưng. Bố tôi nguyên là một sĩ quan về hưu, hưởng lương ngót chục đồng hàng tháng. Còn mẹ tôi khi ấy vẫn đang giảng dạy ở trường phổ thông cách nhà ba cây số, và đó cũng là trường của tôi luôn.

    Gia đình tôi được coi là một gia đình kiểu mẫu ở thôn quê. Bố mẹ tôi là những người có học, nhưng ngoài đồng lương ra không kinh doanh gì thêm, nên tiền nong chỉ gọi là đủ trang trải và dư dật chút ít thì cũng để nuôi tôi học đại học. Năm ấy, tôi mười tám tuổi, trẻ trung và hồng hào, trong đầu đầy viễn tưởng và trong tim đầy ước mộng, vừa nhận giấy báo nhập học từ trường Kinh tế. Tôi hơi buồn vì không đỗ nguyện vọng đầu, còn bố mẹ tôi biết tin thì mở tiệc chiêu đãi ngay. Suốt bữa ăn, bố tôi, người đã bị buộc kiêng rượu hơn ba năm vì tiểu đường, cũng không nén nổi niềm tự hào mà nâng ly chúc mừng. Tối hôm ấy, khi mẹ vào phòng tôi chuẩn bị đồ đạc để vài hôm nữa tôi lên Hà Nội thì bà sụt sùi hoài, đến mức bố phải ngó vào và nói:

    “Cái bà này làm sao thế, hử? Nó đi học chứ có phải đi lính đâu mà bà cứ nhặng xị hết cả lên!”

    Mẹ tôi càng khóc to hơn…

    Đó là một buổi sáng tháng Mười trời trong xanh, không khí có mùi ngai ngái sau trận mưa đêm. Bố tôi trước đó đã tỏ ra rất ngậm ngùi vì không thể đưa tôi lên Hà Nội (ông là con trưởng nên phải ở lại để lo đám giỗ ông nội tôi), nhưng người đã kịp gửi gắm tôi cho bác Thôn là người anh em đồng hao. Anh Sơn con trai bác hôm ấy cũng lên Hà Nội nhập học.

    Tờ mờ sáng, bố chở tôi ra đường cái. Ông ngồi tạm ở một ghế đá, còn tôi bồn chồn không yên, chốc chốc lại nhổm dậy ngó ra xem hai người kia đã đến chưa. Để giết thì giờ, ông căn dặn tôi vài lời sáo mòn như bất cứ vị phụ huynh nào cũng sẽ nói với con trước lúc chia xa.

    Chừng mười lăm phút sau, một chiếc Toyota màu xám xỉn hiện ra, tấp vào dưới tấm biển quảng cáo của nhà hàng gần đó. Anh Sơn ngồi ở ghế sau, chỉ ngó ra chào tôi lấy lệ. Hàng ghế rộng nên lúc tôi chen vào, anh ngồi im chẳng xi nhê, mắt vẫn nhìn chằm chặp vào điện thoại. Trông bộ dạng anh khinh khỉnh nên tôi không muốn đánh chuyện. Trong lúc đó, tôi thấy bác Thôn đứng trao đổi với bố tôi vài lời gì đó mà tôi không nghe rõ, rồi bố tôi rút ví ra dúi vào tay bác vài đồng, nhưng bác nằng nặc dúi trả, lắc lắc đầu. Cái thói thường ấy mà, sau một hồi giằng co thì bác thuận tình, nhưng mặt vẫn ra vẻ bức bối, khiên cưỡng lắm…

    Chiếc xe chầm chậm lăn bánh rồi vút đi. Bên phải tôi là cánh đồng lúa trải dài như một dòng sông vàng, xa xa những bờ đê chắn nhấp nhổm như những cồn cát. Mọi thứ lùi về phía sau, lúc ấy tôi cảm tưởng như mình đang đoạn tuyệt một phần đời đã cũ. Tôi thấy bồi hồi, cái bồi hồi ở một chàng trai trẻ, trải nghiệm trước nay gói gọn trong sách vở nhà trường, đang chuẩn bị dấn bước vào đời sống thị thành mà bản thân còn chưa nắm rõ một điều tí ti. Ban đầu, bác Thôn hỏi tôi dăm ba câu lấy lệ, như việc tôi học ở đâu, trường kinh tế lấy bao nhiêu điểm, rồi tôi theo học khoa nào, vân vân. Như thể bù lại cho cậu con trai, bác tỏ ra là một người rất xởi lởi, tếu táo. Bác không thiếu những câu đùa vui và có vẻ cũng am hiểu chút ít về đường sá thủ đô – bác có một bà chị ruột lấy chồng trên này. Đó cũng là nơi chúng tôi sẽ tới trú nhờ tối nay.

    Quãng đường dài hơn 200 cây số. Sau khi dừng chân ở Hai Bà Trưng, ba người chúng tôi tạt vào một quán phở bò ngay cổng trường Bách Khoa. Nước lèo nhạt như nước ốc, vừa ăn tôi vừa nghĩ đến món canh rau ngót mẹ nấu ở nhà. Chắc lúc ấy bà cũng đang ăn trưa và thầm nghĩ tôi đang ăn gì. Đến một giờ chiều thì chia ngả, bác Thôn và Sơn ra xếp hàng ở Bách Khoa, còn tôi thì bác đặt một cuốc xe ôm đến trường Kinh tế. Ông tài xế chở tôi lòng vòng từ Trần Đại Nghĩa ra Bạch Mai rồi ngược lại, sau rốt đòi của tôi ba mươi nghìn. Ngay tối hôm ấy tôi vỡ lẽ mình bị lừa…

    ***

    Thú thực là khi đặt chân tới trước cổng trường ở Phố Vọng, tôi nhìn lên “toà nhà thế kỷ” và thấy choáng ngợp lắm. Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, như thể toà nhà bề thề kia chuẩn bị đổ xuống đến nơi. Một vườn hoa với những hàng cột chạy dài, những ghế gỗ uốn cong dựng san sát nhau. Chung quanh ồn ào, người ra người vào tấp nập, xe ô tô nối đuôi nhau thành hàng. Tôi kẹp bìa hồ sơ ở nách và bước vào sảnh G. Vì khoa tôi chọn là một khoa khá ít tên tuổi, bàn tiếp tân của câu lạc bộ chỉ chiếm một góc nhỏ so với các khoa khác, nổi tiếng và được săn đón hơn, như khoa Marketing, Quan hệ công chúng, Quản trị khách sạn… nên việc thăm thú diễn ra cũng nhanh. Thực ra là không có nhiều mà thăm thú. Tôi còn nhớ có một chị gái, dáng thâm thấp, tóc xoã ngang ngực, có hai chiếc răng khểnh hai bên, hồ hởi dắt tay tôi tới bên quầy. Tôi thấy vui thích lắm và cuối buổi còn chụp ảnh với chị một tấm.

    Sau khi buổi tham quan kết thúc, tôi bước ra ngoài và gọi điện cho bác Thôn. Hai bố con nhà họ vẫn đang trong hàng chờ, bên đó “đông như quân Nguyên.” Bác bảo tôi cứ đi loanh quanh một lát và chúng tôi thống nhất sẽ gặp lại vào năm giờ chiều. Bấy giờ là gần ba giờ. Tôi bước thơ thẩn dọc vườn hoa và đột nhiên tôi nhớ ra Hiếu, một người anh hơn tôi hai tuổi, cũng đang học trường này.

    “Sao bây giờ mình mới nhớ ra nhỉ?” tôi tự trách mình và vội vàng nhấc máy gọi cho anh.

    Tôi quen anh Hiếu từ năm lớp mười. Chúng tôi chơi bóng rổ cùng nhau. Mọi người thường gọi anh là “Trâu”, vì khi chơi bóng anh cứ khom lưng và lao hồng hộc. Một lần tôi thử gọi anh bằng biệt danh đó thì anh đấm tôi rách miệng, nhưng sau vụ ấy chúng tôi lại đâm ra thân thiết, kể cũng lạ! Nhưng tôi đã không gặp anh từ ngày anh rời trường, và dịp này xứng đáng là một cuộc hàn huyên nho nhỏ.

    “Chú đợi anh tý! Ở im đấy nhé đừng đi đâu!” anh Hiếu xăng xái nói với tôi qua điện thoại.

    Mười lăm phút sau thì anh ta tới. Anh trắng trẻo, người thâm thấp nhưng chắc nịch, đôi mắt ti hí hơi nheo lại vì đứng ngược nắng, chiếc cặp đeo chéo giắt lệch khiến tà áo sơ mi của anh xếch hẳn sang một bên. Chúng tôi bắt tay nhau, mắt cười miệng cười, rồi cùng quay đầu hướng về khu kí túc xá. Anh trách tôi:

    “Thế mà không nói sớm để tao ra bến xe đón!”

    “À đâu,” tôi nói, “nay em không bắt xe. Em đi nhờ một ông bác.”

    “Thế đi được những đâu rồi?”

    “Mới quanh trường thôi anh.”

    Sau vài giây im lặng, anh hỏi thêm:

    “Mày ngành gì ấy nhỉ?”

    “Kinh tế luật ạ.”

    Chúng tôi tạt vào căng tin mua hai chai nước. Anh dẫn tôi đi xem tất cả các khu, từ sân bóng đá, bóng rổ, cầu lông đến sân bóng chuyền, nơi tôi bắt gặp một người con gái rất cao, đôi chân rám nắng dài miên man. Cô đeo một miếng đệm ở đầu gối, đang lùi về sau mấy bước và vụt lên nhoài người đập bóng. Như thể quả bóng đã đập trúng đâu đó trong tôi. Bằng một giọng rè rè, anh Hiếu bắt đầu tiết lộ cho tôi về đời sống đại học, về những thú vui đang chờ đón được khám phá, về những thứ cũ người nhưng mới ta, chưa khi nào thôi cám dỗ đám loắt choắt mới đặt chân lên thị thành. Sau một hồi, anh than rằng cứ đi bộ như này thì chán chết, phải kiếm một cái gì đó chơi tạm mới được. Rồi anh rủ tôi đi chơi bi-da, và khi tôi toan từ chối vì mình chơi rất kém, thì anh xua tay nói:

    “Bây giờ thì thế thôi. Anh cũng mới chơi mà. Thôi, tập nhiều khắc quen, đời đại học chẳng lẽ cứ ru rú trong phòng trọ mãi. Phải đi đây đi đó chứ. Rồi sắp tới mày đi học, bạn bè nó rủ đi thì còn biết ti tí mà đánh với đấm. Con gái giờ nó cũng chơi đầy ra, mình con trai việc gì mà phải ngại.”

    Và chúng tôi quay đầu trở lại.

    Quán bida anh Hiếu dẫn tôi vào là một quán tồi tàn, hay như người ta thường gọi là “quán cỏ”. Một căn phòng trải thảm dạ nhem nhuốc, rách lỗ chỗ, hàng cơ đựng trong các tủ kính gắn tường, bên dưới tấm biển đề: “GẬY THUÊ 30K/GIỜ.” Anh Hiếu kiếm cho tôi một cây cơ ngọn mộc đã bôi lơ sẵn và chúng tôi bắt đầu chơi.

    Quả thực là tôi không biết chơi. Hồi cấp ba tôi từng bám gót vài cậu bạn và được chỉ dạy chút út về cách điều cái, nhưng theo thời gian mọi kiến thức lượm lặt được đã trôi tuột. Trái lại, anh Hiếu vẫn đinh ninh rằng tôi giấu nghề, khi thấy tôi may mắn ăn được vài điểm. Anh khen tôi ra ngọn đẹp đấy và dẹp bỏ vẻ mặt lơ đãng, anh nghiêm nghị đánh. Anh luôn ăn gần hết các bi trước tôi nhưng luôn chừa lại bi số tám, trầy trật mãi không ăn được, rồi tôi lần lượt xử các bi kia và chiến thắng. Những màn lội ngược dòng thường tâng bốc lòng tự mãn và thú chinh phục ở người con trai. Tôi hăng lên.

    Ở bàn bên, chốc chốc lại thấy vài cậu sinh viên bôi lơ đầy mặt và chui qua gầm bàn mỗi khi thua cuộc. Thấy thế, anh Hiếu gạ tôi chơi bài ăn tiền, mỗi điểm tính ăn ba nghìn đồng, cùng một vài luật khác mà tôi không nhớ rõ. Anh nói chắc nịch rằng phải bồi thêm tí tiền nó mới “say” được, còn đánh suông thì chẳng khác nào uống nước lã.

    Lúc ấy tôi nào có kiêng dè gì, không khác nào một chú ngựa non háu đá, nên tôi chấp nhận ngay. Vì thời gian có hạn, chúng tôi quyết định chỉ chơi chạm bảy. Tôi thắng hai ván đầu, cảm thấy tràn trề hưng phấn và các động tác dường như mượt mà hơn. Mỗi lúc quả bida rơi xuống lỗ, tôi thoả thích và hơi sững sờ, hình ảnh về cô gái đập bóng chuyền ban nãy thoáng qua trí óc tôi. Vài lần, tôi chọc gậy mạnh khiến viên bi bay ra khỏi thành bàn, rồi mỗi khi nhìn Hiếu lượn vòng về bàn để lật bảng tỷ số, tôi thấy cay cú khôn tả. Tôi đâm cáu bẳn và trách cứ thằng nhân viên đã xếp bi không khít. Thời gian trôi qua nhanh. Tôi vẫn mải miết chơi và đặt tiền cược lên rất cao. Lúc tỷ số đang sáu đều thì bác Thôn bất chợt gọi điện. Liền đó, anh Hiếu giơ tay ra hiệu dừng lại và cho biết tôi đã thua hơn năm trăm ngàn. Anh ta tháo găng và chờ đợi tôi trả tiền. Tôi cố tỏ ra dửng dưng dù trong lòng đang uất nghẹn, vừa cay cú vừa nơm nớp lo sợ. Vơ vội chiếc mũ lưỡi trai, tôi lúng túng xin lỗi anh ta vì tiền bạc đã gửi ở chỗ ông bác cả.

    Anh ta vỗ vai tôi một cách thân tình:

    “Thoải mái đi, hôm khác trả anh cũng được. Anh em mình thì lo gì!”

    Nói xong, Hiếu bước trước ra quầy lễ tân trả tiền. Tôi xin phép được chạy về trước và vừa đi vừa nguyền rủa cái tính sĩ diện ở mình.

    Tối hôm ấy mọi chuyện trôi qua bình thường. Nhà bà chị của bác Thôn nằm ở ngoại thành, khi chúng tôi tới nơi thì cơm nước đã bày biện xong cả, chỉ việc ngồi vào và đánh chén. Bà chủ trạc sáu mươi tuổi, người tròn lẳn, gương mặt phúc hậu, liên tục thúc mọi người ăn nhiều lên. Chúng tôi tống đầy bụng nào gà luộc, nào miến, nào thịt bò sốt vang, thêm cả một ít rượu vang mà ông chồng của bà bảo rằng nhấp ti tí thì không sao đâu. Tầm mười giờ tối, bác Thôn trải ba tấm thảm trên sàn nhà và dù hai bố con nhà bác đua nhau ngáy, tôi vừa nằm xuống đã ngủ thiếp đi.

    Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy muộn, đầu nhức như búa bổ, nhưng không dám than vãn vì sợ bị chê trách đã uống rượu. Hai bố con nhà Sơn vẫn ngáy o o. Tôi lẹ làng trở dậy, đánh răng qua quýt rồi xuống dưới lầu, nơi bà chủ nhà đang uống nước chè một mình. Bà múc cho tôi một bát thịt bò hầm hâm lại từ hôm qua và cắt cho tôi hai khoanh bánh mì, đoạn ngồi xuống trở lại và hỏi han tôi vài câu. Tôi mệt mỏi nên chỉ ậm ừ cho qua chuyện.

    Vừa lúc ấy, chiếc điện thoại trên bàn rung lên ba hồi. Tôi mở ra và thấy dòng thông báo:

    “Ê!

    Tiền bida hôm qua anh trả hộ mày ấy, có trả anh hôm nay được không? Tổng là 535k nhé, nhưng chuyển anh 500k là được rồi.

    Anh đang gấp lắm.”

    Hồi ấy tôi còn trẻ, còn mang cái cốt cách trượng phu rởm đời, rằng tiền bạc chi cho những thứ ích lợi cho bản thân thì tôi luôn lần khân, trễ nải, nhưng riêng tiền nợ nần thì tôi sẽ thanh toán bằng hết, không muốn dây dưa, sợ phương hại đến thanh danh của mình, và sợ nhất là người ta nghĩ tôi không có tiền. Tôi trả lời ngay:

    “Đợi chút, trưa em trả.”

    Vài phút sau, bên kia nhắn lại:

    “Ừ, thông cảm nhé, chuyển vào đây giúp anh.”

    Anh ta gửi kèm một mã QR ngân hàng. Tôi cảm thấy bực bội như thể anh ta đang cố gắng bòn rút tiền của tôi vậy.

    Giữa trưa, khi tôi nói với bác Thôn rằng tôi cần năm trăm ngàn thì bác bất ngờ lắm và xoay ra hỏi tôi đã làm gì mà cần từng ấy tiền.

    “Làm gì mà tận năm trăm,” bác nói. “Mày mua những gì mà tốn thế hả cháu?”

    “Cháu nợ tiền người ta,” tôi nói sau một hồi im lặng.

    Bác nhìn tôi chằm chặp, mặt đanh lại.

    “Nợ từ bao giờ?”

    “Hôm qua… lúc chờ bác, cháu có đi chơi bida với bạn. Cháu để thua mất. Bác cho cháu vay ít tiền rồi về nhà cháu trả bác.”

    “Mày cứ lằng nhằng. Có tờ năm trăm hôm qua bố mày đưa bác đây này…” bác nói giọng bực bội. “Những ngần ấy tiền, năm trăm chứ có phải ít đâu. Thôi, mày cầm lấy…”

    “Cháu cần tiền tài khoản, bác ạ.”

    “Thế thằng ấy nó không chịu lấy tiền mặt à?”

    “À không… nó ở mãi trong nội thành nên giờ chỉ còn cách chuyển khoản thôi bác ạ.”

    Bác Thôn không đáp mà lập tức bước ra ngoài. Vài phút sau, bác trở lại với cậu con trai. Anh Sơn nhìn tôi vẻ khinh thị, hai tay anh dùng dằng tỏ ý bất mãn.

    “Đây, con chuyển cho em nó năm trăm nghìn vào tài khoản rồi bố đưa tiền mặt cho.”

    “Mày đọc số tài khoản đi,” anh Sơn lạnh lùng nói.

    “Em có mã đây,” tôi nói và chìa mã QR ra trước mặt anh ta.

    Anh ta quét mã, chẳng cần biết tôi đã nhận được tiền chưa đã bỏ ra ngoài. Bác Thôn nhìn tôi, khẽ lắc đầu và đi ra theo.

    Còn lại một mình, tôi nhớ lại cuộc đi chơi hôm qua và thấy đọng lại chỉ toàn là những viên bi sọc trơn đủ màu, những cây cơ có phần ngọn như lớp xi bóng loáng, rồi những cơ tôi đi hỏng khiến viên bi bật ra khỏi thành bàn lăn xuống sàn gạch kêu lộc cộc. Gương mặt khoái trá và cái thở dài đầy khoan khoái của Hiếu khi anh ta thắng ván cuối bỗng rõ mồn một trước mắt tôi.

    Trên đường về, cả ba chúng tôi nói năng rất ít. Bầu không khí trong xe ngột ngạt kinh khủng. Rồi khi còn cách nhà khoảng ba mươi cây số, bác Thôn lựa lời nói khéo với tôi rằng chơi bời cá tiền như thế là không hay. Cái thú ấy chỉ dành cho bọn mạt hạng, bọn cầu bất cầu bơ và ăn chơi vô độ mà thôi, còn những người đàng hoàng, có ăn có học và biết quý trọng công sức lao động thì không ai làm thế cả.

    “Phải biết chừng mực, biết suy nghĩ,” bác nói. “Bố mẹ ở quê làm ăn tích cóp, con cái cũng phải biết mình và cố gắng. Dẹp mấy cái trò ấy đi con nhé! Bác nói là nói cả cháu và Sơn, hai thằng sắp tới phải biết bảo ban nhau (chúng tôi sắp thành bạn cùng phòng). Mới tí tuổi mà đã cá cược là không hay đâu.”

    Bác khẽ quay đầu để xem hai thằng chúng tôi có đang lắng nghe không. Im lặng một lát, bác nói tiếp, giọng đã hiền hoà hơn:

    “Hôm qua bố mày đưa bác năm trăm, bác cũng cầm gọi là cho bố mày vui. Rút kinh nghiệm nhé! Còn vụ này thì thôi, bác sẽ coi như chưa xảy ra gì cả.”

    Bấy giờ, Sơn, những tưởng vẫn ngủ gà ngủ gật suốt đường đi, bỗng ghé vào tai tôi và nói khẽ:

    “Dốt lắm con ạ!”

    Trước mặt, cao lộ trải ra bạt ngàn như một dải lụa màu xám tro. Bầu trời dần sa sầm lại và những hạt mưa quất tới tập vào ô cửa kính…

    Bố mẹ bày một bữa thịnh soạn đón tôi về. Nhìn bộ mặt hớn hở vì vui sướng của ông bà, tôi chỉ biết cúi gằm mặt, nhớ lại những lời quở trách ban chiều của bác Thôn, cái tia nhìn hằn học của Sơn khi hạ cố chuyển tiền cho tôi và tin nhắn “Anh nhận được rồi nhé!” của Hiếu. Tôi lặng thinh hối hận và tin rằng sẽ không bao giờ gặp lại ông thầy “đời đại học” của mình nữa.