Anton Chekhov (1860 – 1944), cây bút truyện ngắn vĩ đại của văn học Nga. Nguồn ảnh: Fine Art Images
Quy tắc dành cho các cây bút mới vào nghề
(Quà tặng kỷ niệm – Thay vì hộp thư)
Mỗi đứa trẻ vừa chào đời cần được tắm rửa cẩn thận, để nó nghỉ ngơi sau những ấn tượng đầu tiên, rồi quất roi thật mạnh kèm theo lời dặn: “Không được viết! Không được viết! Không được làm nhà văn!” Nếu, bất chấp sự trừng phạt này, đứa trẻ vẫn bộc lộ khuynh hướng viết lách, hãy thử đối xử mềm mỏng. Nếu ngay cả sự dịu dàng cũng vô tác dụng thì hãy buông xuôi và nói rằng “hỏng rồi”. Cơn ngứa viết lách là không thể chữa khỏi.
Con đường của người viết từ đầu chí cuối đầy rẫy chông gai, đinh sắt và cây tầm ma, vì vậy một người tỉnh táo phải tìm mọi cách tránh xa việc viết lách. Nhưng nếu số phận nghiệt ngã, bất chấp mọi cảnh báo, vẫn đẩy ai đó vào con đường làm nhà văn, thì con người bất hạnh đó cần tuân thủ các quy tắc sau:
1) Nên nhớ rằng viết lách ngẫu hứng hoặc viết theo dịp tốt hơn viết liên tục. Một người soát vé xe làm thơ sẽ sống dễ chịu hơn một nhà thơ không làm soát vé.
2) Cũng cần khắc ghi rằng thất bại trong văn chương hơn hẳn thành công cả nghìn lần. Thất bại chỉ bị trừng phạt bằng sự thất vọng và sự thẳng thắn đáng buồn từ hộp thư, còn thành công kéo theo việc mệt mỏi chạy theo nhuận bút, nhận thù lao bằng phiếu giảm giá năm 1899, “hệ lụy” và những lần thử sức mới.
3) Viết như một “nghệ thuật vì nghệ thuật” có lợi hơn sáng tác vì tiền bạc tầm thường. Nhà văn không mua được nhà, không đi toa hạng nhất, không chơi cò quay, không ăn súp cá tầm. Thức ăn của họ là mật ong và châu chấu do Savrasenkov chế biến, chỗ ở là phòng trọ có sẵn đồ đạc, phương tiện di chuyển là đi bộ.
4) Danh tiếng là miếng vá sáng chói trên tấm áo rách của người nghệ sĩ, còn sự nổi tiếng văn chương chỉ có ở những nơi mà khi nghe từ “nhà văn” người ta không phải tra “Từ điển 30.000 từ nước ngoài.”
5) Ai cũng có thể thử viết, bất kể địa vị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn hay tình trạng gia đình. Ngay cả người điên, người yêu sân khấu hay kẻ mất hết quyền lợi cũng không bị cấm viết. Tuy nhiên, tốt nhất những ai leo lên ngọn núi Parnassus nên là người trưởng thành, biết rằng từ “đi” và “bánh mì” trong tiếng Nga được viết với chữ “ять” (hàm ý cần nắm rõ ngữ pháp cơ bản.)
6) Tốt hơn hết họ không nên là sĩ quan trẻ tuổi hay học sinh trung học.
7) Giả định rằng người viết, ngoài khả năng trí tuệ thông thường, cần có kinh nghiệm sống. Những người nhận nhuận bút cao nhất là những người đã kinh qua lửa, nước và ống đồng, còn thấp nhất là những tâm hồn trong trẻo, chưa bị vấy bẩn. Nhóm đầu gồm: người kết hôn lần ba, người tự vẫn bất thành, người tay trắng trong cờ bạc, người đấu súng tay đôi, người trốn nợ, v.v. Nhóm sau là: người không nợ nần, chàng rể tương lai, người không uống rượu, nữ sinh, v.v.
8) Trở thành nhà văn rất dễ. Không có kẻ dị dạng nào không tìm được bạn đời, cũng không có thứ nhảm nhí nào không tìm được độc giả phù hợp. Vì vậy, đừng ngần ngại… Đặt giấy trước mặt, cầm bút lên, khơi dậy ý nghĩ bị giam cầm và viết. Viết về bất cứ thứ gì: mận khô, thời tiết, nước kvass của Govorov, Đại dương, kim đồng hồ, tuyết năm ngoái… Viết xong, cầm bản thảo, cảm nhận sự run rẩy thiêng liêng trong huyết quản, rồi đến tòa soạn. Cởi giày cao su ở tiền sảnh, hỏi: “Ông biên tập có đây không?”, rồi bước vào thánh đường, tràn trề hy vọng, trao tác phẩm của mình… Sau đó, nằm dài trên ghế sofa ở nhà một tuần, nhổ nước bọt lên trần nhà và mơ mộng. Một tuần sau, quay lại tòa soạn và nhận lại bản thảo. Tiếp theo là hành trình gõ cửa các tòa soạn khác… Khi tất cả tòa soạn đều từ chối, hãy tự xuất bản tác phẩm. Sẽ có độc giả.
9) Nhưng trở thành nhà văn được in và được đọc thì rất khó. Để làm được, bạn phải tuyệt đối biết chữ và có tài năng dù chỉ nhỏ như hạt đậu lăng. Nếu không có tài lớn, tài nhỏ cũng được quý trọng.
10) Hãy trung thực. Đừng ăn cắp của người khác rồi nhận là của mình, đừng in cùng một tác phẩm ở hai nơi, đừng giả mạo người khác, đừng gọi tác phẩm ngoại quốc là sáng tác gốc, v.v. Nói chung, hãy nhớ mười điều răn.
11) Trong thế giới xuất bản có những phép lịch sự. Cũng như trong đời sống, không nên giẫm lên vết chai yêu thích của người khác, hỉ mũi vào khăn tay của họ, hay thọc tay vào đĩa của người khác, v.v.
12) Nếu muốn viết, hãy làm như sau. Trước tiên chọn chủ đề. Bạn có toàn quyền tự do. Bạn có thể tùy ý, thậm chí độc đoán. Nhưng để không khám phá lại châu Mỹ hay tái phát minh thuốc súng, hãy tránh những chủ đề đã bị khai thác từ lâu.
13) Chọn xong chủ đề, cầm cây bút không gỉ sét, viết rõ ràng, không nguệch ngoạc, trên một mặt giấy, để mặt kia trống. Điều này không chỉ vì lợi ích của các nhà sản xuất giấy, mà còn vì những lý do cao cả hơn.
14) Khi thả hồn theo trí tưởng tượng, hãy kìm tay lại. Đừng để nó chạy theo số lượng dòng. Bạn càng viết ngắn và ít, bạn càng được in nhiều và thường xuyên hơn. Sự ngắn gọn không làm hỏng việc.
15) Viết xong, ký tên. Nếu không muốn nổi tiếng và sợ bị đánh, hãy dùng bút danh. Nhưng nhớ rằng, dù ẩn danh thế nào, tên thật và địa chỉ của bạn phải được tòa soạn biết. Điều này cần thiết phòng khi biên tập viên muốn chúc mừng bạn năm mới.
16) Nhận nhuận bút ngay sau khi được in. Tránh xin tạm ứng. Tạm ứng là ăn trước tương lai.
17) Nhận nhuận bút rồi, làm gì tùy bạn: mua tàu hơi nước, tháo khô đầm lầy, chụp ảnh, đặt chuông Phần Lan, tăng gấp ba vòng váy của vợ… nói chung, bất cứ thứ gì. Tòa soạn trả nhuận bút là trao cả quyền tự do hành động. Tuy nhiên, nếu tác giả muốn gửi biên tập viên bảng chi tiêu nhuận bút, tòa soạn sẽ không phản đối.
18) Cuối cùng, hãy đọc lại những dòng đầu tiên của “Quy tắc” này.
“Nhưng mọi chuyện đều sẽ qua đi và tiếc thương phỏng có ích gì…”
1.
Có lần nàng hỏi anh thật ngây thơ:
“Có thật là anh yêu em từ cái nhìn đầu tiên không?”
Anh thở dài nhắc lại:
“Thế chả nhẽ em không cảm nhận được tình yêu của anh, chả nhẽ qua tất cả những gì anh làm đều chưa chứng tỏ tình cảm của anh với em sao?”
“Chẳng là em nghĩ mình đã rung động khi nghe anh nói câu ấy. Kỳ lạ lắm, trước đó em chỉ hơi thinh thích anh thôi. Thật ra chị Hướng biết em có tình với anh và bảo em rằng mọi chuyện sẽ mau chóng qua đi. Chính em thoạt đầu cũng cho đó là một cơn cảm nắng nhất thời thôi, hồi đi học em cũng từng thích vài cậu bạn trong lớp kiểu vậy, nhưng tự khắc nó hết, còn riêng anh thì cố mấy cũng không quên được. Anh có thế không anh?”
Anh trả lời rằng anh cũng thế, rằng anh yêu nàng từ cái nhìn đầu tiên và anh sẽ không bao giờ quên nàng, nhưng thực ra lúc ấy anh đã nói dối, và đó là chuyện của mãi về sau này.
2.
Sau khi tốt nghiệp, cụ nhà lo liệu cho anh một chân bàn giấy ở kho bạc thành phố. Cụ thân hành dẫn anh tới gặp ông giám đốc đương nhiệm: ông tên Thiêm, đầu đã hai thứ tóc nhưng thoạt chừng còn tráng kiện lắm. Thưở mới chân ướt chân ráo vào nghề, ông từng được cụ nhà nâng đỡ nên giờ theo nghĩa cử ông phải nâng đỡ anh. Anh mau chóng chiếm được cảm tình của ông, trong những chuyến công cán định kỳ ông thường dẫn anh theo luôn, và bao giờ hai người cũng lưu lại dăm ba bữa ở một huyện lị nhỏ của tỉnh S. Dạo ấy anh còn trẻ măng, thiếu tinh ý, mất một thời gian dài anh mới vỡ nhẽ ra sếp mình đang nuôi một cô vợ bé – một cô nàng người Tày chỉ đáng tuổi con gái ông. Không lâu sau anh được dẫn tới gặp cô ta; anh thấy cô ưa nhìn, hoàn toàn không quê mùa như cách anh vẫn mường tượng về đàn bà dân tộc thiểu số. Vì trạc tuổi nhau, anh với chị Hướng (đó là tên cô) đánh bạn khá dễ dàng, thứ nữa ông giám đốc có lẽ thấy anh cũng kín đáo nên những lần về thăm sau này ông chẳng còn ngại gì anh. Dần dà, anh được xem như người bạn chung của cả gia đình; – họ nhất nhất đối xử với anh thật niềm nở, lễ độ, và về phía mình anh cũng nhận thấy một nỗi quyến luyến mơ hồ y chang…
Nhưng rồi ba năm sau, bệnh tật của ông Thiêm khiến mọi thứ vỡ lở. Ông làm phẫu thuật thay gan, viên bác sĩ khăng khăng tuyên bố rằng vạn nhất thì ông sống thêm được ba năm. Ông chấp nhận bản án tử hình của mình với vẻ khinh bạc và ơ thờ cố hữu. Ngày ngày trên sở, đám thuộc cấp liên miệng kháo nhau rằng từ lâu giám đốc đã lén cất cho mình một biệt thất ở tỉnh S, quanh năm cho những người thành phố về chơi thuê, còn bây giờ ông sẽ xin nghỉ hưu sớm, sẽ lĩnh lương một cục và dọn về đó ở hẳn. Ông quả thực đã làm vậy. Thoạt đầu chuyện này dấy lên không ít dị nghị, nhưng nửa năm sau, như sự đời vốn dĩ, trên nhiệm sở chẳng ai còn đả động tới ông nữa. Cơ hồ chỉ có anh thuộc trường hợp hi hữu là người còn giữ mối tương giao với ông, và rồi đến ngày vào được biên chế, anh thấy ít nhiều cũng nên gọi điện cho ông báo tin – dù gì ông đối với anh chẳng khác nào một người cha đỡ đầu.
Thoạt tiên ông hỉ hả chúc mừng anh, nhưng khi kể về bệnh trạng của mình, ông bỗng tỏ ra trầm uất. Sau rốt ông mời anh về S. chơi. Sẵn tính nể nả, còn ham rong ruổi và thích đổi gió, nên anh lập tức thuận lòng. “Vả lại trời cũng sắp độ thu,” anh tự nhủ.
3.
Nhân dịp Quốc khánh năm ấy, anh bắt tàu về S. và dự định sẽ lưu lại đó dăm ba ngày. Anh đến nơi thì trời đã xâm xẩm tối. Tư gia của ông Thiêm là một căn nhà gỗ ba tầng với một chái nhà phụ sát rìa làm phòng ăn, cách đường cái quan hơn chục cây số, – một cậu dẫn đường loai choai đã chở anh bằng chiếc xe cà tàng leo lên một con đèo khúc khuỷu với nhiều triền dốc hồ như dựng đứng, rồi xe dừng lại trước một khoảnh vườn um tùm, rộng rãi, bốn bề chăng rào màu trắng thâm thấp. Tiếng bước chân, tiếng nói chuyện và tiếng chó sủa từ trong nhà vọng ra. Ông Thiêm đích thân ra mở cổng, nắm tay anh hồi lâu, rồi hai người cùng băng qua vườn về phía chái nhà, nơi chị Hướng (đó là tên cô vợ) đứng bồng con từ bậc thềm trông ra. Thấy anh, chị lẳng lặng cười nụ, đằng sau chị có một con gái trông như người ở đang tất bật soạn dọn bát đĩa, chỉ liếc trộm anh rồi cúi mặt xuống ngay.
Trong bữa tối ồn ào, những ly rượu chát cứ vơi lại đầy. Tầm mười giờ chị Hướng đưa con về phòng ngủ trước, riêng anh với ông Thiêm ngồi rốn lại đến quá nửa đêm. Lát sau ông tự lần về phòng mình – phòng ông ở ngay tầng trệt, còn anh thì theo nàng đi lên cầu thang, băng qua một hành lang tối tăm đến một căn phòng sát vách. Trong phòng toả mùi cũ kỹ mộc mạc, đồ đạc bày biện cũng sơ sài, ngoại trừ những vật trang trí linh tinh của người dân tộc, chỉ độc một chiếc giường gỗ kê sát vách tường có cửa sổ chênh chếch trông ra vườn cây, một cửa lách trổ ra ban công với hàng lan can thâm thấp và một chiếc ghế đôn ba chân choãi rộng đặt ngay đầu giường. Anh ngồi xuống chiếc ghế đôn và mơ màng nhìn nàng phủi lật tấm ga giường: nàng người nhỏ nhắn, nước da ngăm ngăm, người tầm thước và trông còn trẻ con lắm. Khi nàng chuẩn bị rời đi anh bèn hỏi khẽ: “Kim này, tên em là Kim đúng không nhỉ? Em bao nhiêu tuổi?” – trong bữa ăn anh đã nghe mọi người gọi nàng như thế.
Anh nhìn theo bóng nàng đi rồi lát sau khi đã nằm trên giường, anh nghĩ về nàng. Anh nhớ lại vóc dáng thanh mảnh của nàng, chiếc áo vải mỏng nàng bận trên người, đôi cánh tay trần khẳng khiu rám nắng, cặp mắt huyền ngây dại với hàng lông mi ươn ướt. Anh cứ miên man như vậy rồi ngủ quên lúc nào không hay. Lát sau ánh đèn trên trần đánh thức anh dậy, cổ họng và miệng đắng chát vì hơi rượu xộc lên. Anh trằn trọc trở mình nhưng không ngủ lại được, đành lục khắp người tìm bao thuốc mà không thấy – có lẽ khi rời phòng ăn anh đã quên đem theo. Qua hàng chấn song, đêm thu sáng trăng và êm dịu, chung quanh thanh vắng, gió khẽ lay hắt bóng những tán cây nhảy múa trên mặt sàn. Anh mò mẫm đi chân trần trong bóng tối, khẽ mở chốt cửa và bước ra hành lang với những ô cửa sổ chạy dài hắt thứ ánh sáng bàng bạc mờ mờ xuống mặt sàn lát gỗ. Ở cuối hành lang có một khoảng ban công sáng rực, anh lẹ làng băng qua từng gian phòng liền kề nhau, cửa để ngỏ như phòng khách sạn; ngó vào trong, anh thấy phòng nào cũng tối hút, toả mùi gỗ lim hăng hắc. Hoá ra xa một chút về mé bên trái bao lơn còn có một hành lang nhỏ trổ ra sân phơi, đây mới đích thị là ban công của ngôi nhà, giáp với vách tường là một cầu thang ván gỗ dẫn xuống tầng trệt. Ngay dưới chân cầu thang, đối diện với sân giếng có một căn phòng nhỏ như nhà kho, dùng làm chỗ nghỉ trưa cho những người tạp vụ – thi thoảng họ được gọi đến để dọn dẹp vào dịp cỗ bàn. Cửa phòng không chốt mà chỉ khép hờ, cơn gió ban đêm đẩy nó lui vào một khoảng và chiếc đèn ngủ cắm ở chân giường toả một vồng sáng nhàn nhạt. Anh bước vào trong và thấy nàng đang ngủ. Nàng nằm nghiêng đầu về phía mép giường, tay buông thõng, tấm chăn trơn mỏng choàng ngang bụng. Trên người nàng chỉ mặc áo lót và chiếc quần ngắn bằng vải sợi lanh, khe ngực lồ lộ qua cổ áo khoét sâu, đôi chân trần hở quá đùi và đôi mắt nhắm nghiền nom như chết. Anh đứng lặng hồi lâu rồi thận trọng lại gần chiếc giường…
4.
Từ trong chái nhà tăm tối bước ra hiên, anh cập rập châm một điếu thuốc và miên man nghĩ ngợi:
“Thật kỳ lạ! Có thật là con bé mười bảy tuổi không nhỉ?”
Tảng sáng trời còn âm u và lạnh. Sương giá bám đầy vai, râu và tóc anh. Màn sương lãng đãng tràn qua khu vườn, phà hơi lên những khung cửa kính trong suốt; tấm chăn mỏng và nhẹ ấy chờn lướt qua da, thấm đẫm cả tâm hồn; phía xa kia, những thân cây bạch đàn khẳng khiu hết mờ lại tỏ. Có cảm tưởng khi sương di chuyển thì những hàng cây cũng di chuyển theo, và khi sương tan, như thuỷ triều rút, chúng trơ lại như từng tảng đá lổm nhổm đẫm bọt.
Nép mình trong chiếc áo bành tô chần bông, anh tựa khuỷu tay vào bao lơn, ra sức nhìn xuyên qua màn sương màu xanh lam đặc quánh, hồ như đằng sau màn sương ấy hoàn toàn không có gì cả, bốn bề mịt mùng và vô định. Và cảnh vật nom sao tương hợp lạ lùng với cái cuộc chung đụng ngắn ngủi vừa qua, thật mơ hồ và khó đoán định cho nổi, như thể mọi chuyện chỉ là một giấc mộng mà hễ anh toan nắm lấy là nó sẽ tan biến như vốc cát lọt qua kẽ tay…
Thoạt đầu, khi anh chậm rãi ngả người và áp miệng vào gáy nàng, nàng chỉ hơi khẽ cựa quậy. Anh cũi xuống hôn vào rốn nàng, khẽ mân mê núm vú nàng nóng hổi, thì nàng bất thần run rẩy và trở mình. Nàng tỉnh rồi hay sao? Lúc anh chầm chậm tách đôi chân như dính chặt vào nhau của nàng, anh đã khẽ thì thầm vào tai nàng: “Anh đây mà, nằm im nhé”, nhưng nàng không phản ứng gì với câu nói ấy, hồ như nàng không nghe thấy hoặc cố tình không nghe thấy. Lát sau, khi anh toan dấn mình, thì nàng bắt đầu bấu víu người anh, quằn quại nhấc người. Rồi khi đã sực tỉnh ra, nàng bắt đầu khóc và thều thào trong thổn thức: “Đừng mà anh, ra máu đấy!” – nàng chỉ nghĩ được có thế về mọi chuyện sắp xảy đến với mình. Còn anh, anh đã chẳng còn nghĩ được gì nữa…
Cả sáng hôm ấy nàng dọn dẹp mà không ngẩng mặt lên. Chị Hướng bèn giở giọng trêu đùa:
“Sao mà mặt cứ như đưa đám thế Kim?”
“Dạ, mặt em lúc nào chả vậy.”
Khi nàng đi khuất, chị Hướng kể anh nghe về nàng. Tên đầy đủ của nàng là Kim Anh, nàng mười bảy tuổi và bỏ học cấp ba. Mẹ nàng hồi còn mồ ma là chỗ quen biết với chị Hướng, còn bố nàng là con ma men nổi tiếng khắp vùng; ông ta lại đánh đập nàng luôn. Mới năm trước đây thôi, trên đường từ quán nhậu trở về, ông ta lái xe đâm thẳng xuống vực; – từ đó nàng được đón về đây để lo việc quét tước và đỡ đần chuyện chăm bẵm con nhỏ.
“Có nó ở đây cũng nhàn, tớ bao ăn ở rồi còn trả lương đàng hoàng đấy nhé,” chị Hướng xởi lởi đế thêm. “Thôi thì cứ cho là làm ơn làm phước cho nó! Tội nghiệp con bé! Đang tuổi ăn tuổi học vậy mà!”
Càng biết thêm về nàng, anh càng đâm ra dằn vặt khủng khiếp và thấy thương nàng lắm. Lát sau thấy nàng ngồi rửa chén bên sân giếng, anh lén lại gần và tế nhị nói:
“Để anh tráng bát giúp em.”
Nàng không trả lời, vẫn cúi gằm mặt rửa bát. Anh nhìn thân hình nhỏ nhắn run run của nàng hồi lâu, rồi nói nhỏ:
“Tối qua vừa thấy em là anh đã yêu em rồi, vậy nên em đừng lo nghĩ buồn phiền gì nữa. Việc ấy phỏng có ích gì…”
Nàng ngẩng mặt nhìn anh bằng cặp mắt dút dát như muốn nói: có thật là vậy không? Và anh nhớ suốt cả ngày hôm đó nàng cứ lẩn thẩn dạo qua dạo lại rồi liếc nhìn anh dò hỏi như cố kiếm tìm một cái gật đầu cho nỗi hồ nghi đang day dứt lòng nàng: liệu anh ấy nói thật hay không?
“Nào, em nói gì đi chứ. Hay em có bạn trai rồi?” anh lại hỏi nàng.
Mãi sau nàng mới đáp, mặt đỏ bừng:
“Em làm gì có ai đâu.”
Dần dần nàng bắt đà trở lại với công việc của mình, với dáng vẻ khoái hoạt vốn có, lại nhanh nhẹn, tần tảo như trước, vẫn chân trần nàng bước thoăn thoắt, bươn bả khắp nơi, thành thử anh chỗ nào anh cũng thấy bóng dáng nàng, và càng không thể không nghĩ về nàng. Thi thoảng nàng ném về phía anh những ánh nhìn thẹn thùng xen lẫn quở trách: liệu có phải nàng giận anh vì anh cố tỏ vẻ dửng dưng với nàng? Nàng ngày càng làm duyên làm dáng hơn, không ngại tỏ lộ ý tình với anh qua ánh mắt. Còn với anh, từ gương mặt, thần thái, đến mọi cử chỉ ở nàng đều toát lên vẻ hồn nhiên, thơ trẻ, điều mà chỉ lứa tuổi của nàng mới có; tưởng như bên trong nàng có gì đó đang lớn dần, có niềm vui sướng được anh chiếu cố để tâm đến, có vẻ hân hoan của người con gái đang yêu và biết mình được yêu. Trong những đêm ân ái kế theo, anh yêu nàng thật chậm rãi, dịu dàng. Nàng dần quyến luyến anh hơn, không còn chống cự trước những đòi hỏi âu yếm vụng trộm diễn ra ngày càng nhiều, nhưng tính nết nàng vẫn giữ lại vẻ dè dặt cố hữu. Nàng cười tủm tỉm khi anh trêu đùa, thích lên mặt quở anh bằng cái giọng thân thương nhẫn nại: “Đến là mệt với anh, cứ thấy ngơi tay là sán ngay vào!”
Có lần vào một buổi tối, ông Thiêm cùng vợ đánh xe xuống thị trấn khám bệnh và gọi điện cho nàng báo sẽ về muộn, bảo nàng tự lo liệu lấy bữa ăn. Trong nhà chỉ có anh, nàng cùng thằng bé nhỏ – nó đã la khóc dữ dội khi không được cho theo, nên hai người phải bày đủ mọi trò để dỗ dành nó. Nhân lúc anh chơi đùa với thằng nhỏ, nàng tranh thủ vào bếp sửa soạn bữa tối. Nàng chỉ ăn qua loa – nàng vốn ăn rất ít, rồi suốt phần còn lại của bữa ăn lặng ngồi nhìn anh bằng ánh mắt dịu dàng rồi thi thoảng lại ngập ngừng hỏi khẽ:
“Món ấy có vừa không anh? Em nấu vội nên chắc chẳng ngon đâu nhỉ?”
Anh bảo nàng rằng trần đời anh chưa bao giờ ăn bữa nào ngon hơn thế. Nàng thẹn thùng vì vui sướng, liếc nhìn anh đầy tinh nghịch nhưng giọng nói vẫn còn ngượng nghịu:
“Vâng, anh thấy ngon thì cũng bõ công em nấu. Không có anh thì chắc em bỏ bữa rồi.”
Lát sau, nàng rủ anh cùng chơi trốn tìm, chiều theo ý muốn của thằng bé con, anh bèn kéo nàng vào sau tấm rèm rồi hôn nàng thật lâu. Lúc rứt được ra, nàng đỏ bừng mặt nói nhỏ:
“Đừng làm ở đây, anh. Người ta mà thấy là chết đấy.”
“Người ta nào?”
“Thằng Sơn chứ còn ai nữa, anh cứ làm như không biết ấy!”
“Trẻ con thì biết cái gì.”
Nàng giật thót mình như phải bỏng:
“Thôi đừng, em van anh đấy! Thằng bé nó mà không tìm thấy là nó lại lăn ra khóc, em sợ lắm! Anh đợi đến tối không được à?”
“Không được, giờ em cứ ra bật tạm TV cho nó coi rồi trở lại đây,” anh vội nói. Nàng chần chừ một lát rồi miễn cưỡng làm theo. Khi trở lại nàng nói ngay:
“Đến khổ với anh, anh kheo khéo và tiết chế lại tí chứ! Nhỡ có xảy ra chuyện gì thì mình em hứng hết đấy, còn anh thì chẳng sao đâu!”
“Thôi nào, một chút thôi mà…”
Nàng lẳng lặng nằm xuống chiếc giường trống rồi thẹn thùng bảo:
“Anh tắt điện đi đã.”
6.
Đã vào thu, trời nhiều mây và gió lộng thổi quanh khu vườn. Ban công của căn nhà gỗ thu vào mình cả một vùng bình nguyên bao la với những ruộng bậc thang uốn lượn, những mỏm đồi xanh um trập trùng ngóc đầu qua vai nhau nhìn khách bộ hành. Những phiến mây như từng dải lụa buông thõng trên bầu trời cao vời vợi. Trong những ngày này, kể cả người trây lười nhất cũng nảy ra cái nhã hứng được tản bộ, được thăm thú cảnh sắc núi đồi, được đắm mình trong làn nước mát lạnh mùa thu và tranh thủ tán dóc với người dân bản.
Cả ngày hôm ấy không thấy nàng đâu, còn gia đình ông Thiêm đánh xe xuống thị trấn mua đồ từ ban sáng vẫn chưa về. Gần xế chiều anh mới dậy, cảm nhận cơn gió mơn man ùa vào mang theo hương thơm dìu dịu của đất ẩm sau mưa. Căn nhà gỗ im lặng như đêm. Thoạt tiên anh định bụng ra ngồi thừ trước vườn nhà hút thuốc, nhưng, năm phút sau, thì anh đã bước xăm xăm trên con đường mòn thoai thoải từ đồi hướng xuống; vạt áo sơ mi trắng mỏng tung phần phật trong gió, anh ra sức hít đầy mình không khí mùa thu – có lẽ là lần đầu tiên trong đời anh cảm nhận mùa thu rõ rệt đến thế; anh thấy lòng hừng hực và sẵn lòng cuốc bộ hàng giờ liền. Tiếng thác nước đổ dồn như từ trên trời vọng xuống, nhưng anh không tài nào xác định nổi con suối bắt nguồn từ đâu. Thế rồi khi khi anh dừng chân hỏi đường một bà nông dân béo tốt đang gieo mạ trên ruộng bậc thang, thì bà ta hất hàm nói với anh bằng cái giọng choe choé của những mụ nặc nô quen nắm đầu chồng:
“Cậu này kém! Nghe thế mà không lần được ra hử? Cứ men theo đường này chừng năm trăm mét nữa là đến!”
“Cái bà già đến ngộ,” anh nghĩ thầm rồi tiếp tục rảo bước.
Càng đến gần, tiếng thác nước càng ầm ã hơn. Con suối được bao quanh bởi một rừng cây, những tán lá ngả đầu vào nhau kết thành một mái vòm, dòng chảy xiết xối vào những viên đá cuội tung bọt trắng xoá; xa xa, làn nước trong vắt soi tới tận đáy, lộ ra những con cua có hành tung mờ ám trong lớp cát mịn. Khi anh băng qua toán làm rừng – họ đang phát nứa, một ông thợ phốp pháp thân thiện đưa cho anh một thanh tre với một đầu vót nhọn để làm gậy chống. Anh tiếp tục đi lên về phía thượng nguồn. Bùn dính lép nhép dưới chân, bám vào đế giày, mặt đất nghiêng về bên trái, anh phải vừa đi vừa bám vào các thân tre cho khỏi trượt. Mùi lá mục lẫn với hương thơm dìu dịu của măng non. Đến khi toán làm rừng chỉ còn là những chấm li ti, anh bèn men theo con lạch sát rìa những bụi cây dương xỉ, bước từng bước thật chậm, chắc nịch. Vừa lúc cúi xuống xắn ống quần cho nước khỏi dây, anh bỗng thấy loáng thoáng một căn chòi nhỏ với bốn chân cột dựng cạnh một mỏm đá, căng bạt tứ phía, nhìn từ xa trông như cái vọng gác của mấy chú công an. Một thằng trai cao tồng ngồng, thân mình khẳng kheo, da đen sạm, đang đứng chàng hảng cạnh cái lán, mắt đảo láo liên. Anh toan lảng đi, nhưng thình lình có tiếng rên rỉ thoát ra nghe như tiếng mèo kêu, và anh thấy thằng lính gác sốt sắng ngó vào trong. Khi nó trở lại chỗ cũ, ánh mắt anh và nó đụng nhau, nó lập tức chạy vòng ra sau căn chòi, hốt hoảng khua tay nói gì đó không rõ, rồi lại chỉ tay về phía kẻ lạ mắt đang lầm lầm tiến tới. “Chắc chắn có chuyện gì khuất tất,” anh thầm nhủ, và còn cách mươi mét, anh lao bổ về phía chúng, trên tay lăm lăm cây gậy chống, thì bấy giờ, cảnh tượng bày ra trước mắt anh mới ngỡ ngàng làm sao… Anh thấy…
Anh thấy một thằng trai gầy ngoẳng, gần như trần truồng, chân đất, chạy vọt ra từ cái lán, vừa chạy vừa kéo khoá quần; thằng lính gác bên nãy sát bên cạnh, tay ôm một mớ quần áo của thằng kia. Chúng vừa chạy vừa ngoái lại nhìn anh, leo lên đồi như những con sóc, hồ như bò bằng cả bốn chi, làm đất rơi ràn rạt. Anh biết mình không thể bắt kịp chúng, nên anh chỉ giả bộ đuổi theo rồi khi chúng khuất dạng, bèn thận trọng rảo bước về phía căn chòi.
“Ôi!” anh chỉ kịp thốt lên một tiếng khi bước vào trong…
Nàng nằm la liệt giữa chiếc giường lợp bằng ván gỗ, không một mảnh vải trên người, núm vú nhô cao ươn ướt và vài vệt máu loang trên đùi. Nàng cúi gằm mặt, thân người co quắp và run bần bật, tựa hồ không còn ý thức được mọi chuyện xung quanh, không còn nhận ra anh đang đứng trước nàng nữa…
Lát sau, nàng cập rập bận lại áo quần, bờ vai run run, chuệnh choạng bước qua anh. Anh bàng hoàng ngóng theo nàng, từng bước chân nàng cứng nhắc như khi ta biết có người theo dõi nhất cử nhất động của mình. Chốc chốc nàng lại quỵ xuống như sắp ngất. Và rồi đến một khúc quanh vắng người nàng bỗng quay phắt lại nhìn anh bằng ánh mắt tuyệt vọng và quỳ sụp xuống, vục đầu vào tay mà khóc thổn thức, thầm kêu lên:
“Lạy trời cho con được chết đi!”
7.
Những ngày sau đó anh ra sức gặng hỏi nàng. Nàng từ chối tiếp anh, đêm đến nàng chốt chặt cửa phòng, ban ngày nàng tỏ vẻ thờ ơ một cách ngoa ngoắt, chối phắt mọi vật nài của anh yêu cầu nàng nói ra sự thật. Cơ hồ bây giờ nàng chỉ còn nghĩ được chuyện bếp núc, dọn dẹp, vật vờ như một cái bóng, ánh mắt nàng đờ đẫn, bi ai. Đến bữa ăn nàng thường cáo đau bụng, có ăn thì ăn rất ít và nàng thở dài luôn.
“Dạo này mày cứ như người mất hồn thế con kia?” chị Hướng hỏi nàng.
“Em phải cảm chị ạ,” nàng yếu ớt trả lời.
“Cảm tương tư ấy mà,” ông Thiêm nói khi nàng đi khuất và đánh mắt nhìn anh một cách đắc ý. Anh chợt thấy rùng mình.
Tình trạng tương tự tiếp diễn trong nhiều ngày. Những ngày nghỉ của anh cứ vơi dần, sự xa cách với nàng và cảnh ăn không ngồi rồi bắt đầu làm anh nhức nhối. Đến một buổi tối, khi nàng đang thu dọn bát đĩa, anh quyết định phải làm cho ra nhẽ và bảo với nàng rằng tối nay, đợi cho mọi người ngủ hết thì hãy qua phòng anh và ở lại cho đến sáng. Nàng cúi gằm mặt lắc lắc đầu nhưng rồi khẽ đáp: vâng. Và anh đột nhiên cảm thấy thương nàng: trông nàng thật rối bời, nàng chẳng còn cự nự như thường lệ mà chỉ phó mặc mọi sự cho ra sao thì ra.
Bình nhật cứ sau mười giờ là ánh đèn hàng lang vụt tắt, căn nhà chìm lẫn vào màn đêm. Anh nằm ngửa trong bóng tối mờ ảo nhìn trân trân lên trần nhà, nghĩ ngợi mông lung, cảm thấy mọi chuyện sao cứ dị thường thế nào ấy. Chưa bao giờ anh nghĩ trong đời mình lại có một cuộc tình kỳ lạ như anh đang có bây giờ đây. Anh bồn chồn nằm mãi trên giường hồi lâu, chốc chốc lại ngó ra khe cửa – ban nãy anh đã cố tình để cửa khép hờ. Nàng có đến hay không? Biết đâu nàng chẳng suy nghĩ lại và thấy việc mạo hiểm như thế là dại dột? Và bản thân việc anh làm bây giờ đấy có phải là lợi dụng sự thơ ngây của nàng? Những câu hỏi này dày vò anh và anh chợt mong cho nàng sẽ không đến nữa. “Tốt nhất là nên thế! Nếu cô ấy không đến, mình sẽ càng vì thế mà đánh giá cô ấy cao hơn,” anh thầm nghĩ và bật dậy để chốt cửa phòng. Nhưng nàng đã thập thò ở đó tự lúc nào – hành lang tối đến mức anh không nhìn rõ nàng, và anh bất giác thốt lên khi kéo nàng lại gần chiếc giường.
“Ôi, sao em không vào! Anh cứ tưởng em ngủ quên!”
“Ngủ thế nào được hở anh?” nàng khẽ đáp. “Em cũng tưởng anh ngủ rồi cơ.”
“Ồ, không, anh cũng đợi em nãy giờ.”
Anh liền nhoài người vào trong và đặt nàng xuống nằm cạnh mình, lập tức hôn lên môi nàng. Người nàng mềm oặt, miệng nàng mở hé và ngực phập phồng. Hai người đã nằm như thế bao lâu, anh không biết nữa, nhưng hôn nhau đến mỏi cả lưỡi! Càng lúc người nàng càng nóng bừng lên và thân thể nàng thuận theo mọi vuốt ve nơi anh; anh yêu nàng dịu dàng, gần gũi, như muốn chuộc lại mọi xa cách vừa qua. Giữa cuộc ân ái, nhiều lần cao hứng anh khẽ thì thào vào tai nàng: “Kim à! Kim! Anh yêu em!’; những lúc ấy, nàng ôm ghì anh tưởng chừng muốn hai người hoà lại làm một.
Lát sau, nàng nằm sõng soài trên giường, thở hổn hển và ngây ngô hỏi anh:
“Ban nãy anh nói thật hử?”
“Thật,” anh đáp ngay, tự thấy lợm giọng vì cái tính giả dối của mình, nhưng nàng đã ôm ghì lấy anh và giọng nàng cất lên bỗng tràn ngập một nỗi hân hoan dè dặt:
“Vâng, giờ thì em tin rồi! Em cũng yêu anh.”
Sau đó anh nằm dài vắt tay lên trán nghĩ ngợi. Dù sao cũng phải nói thật với nàng, chẳng nên gieo cho nàng hy vọng làm gì, và anh cất giọng thật khẽ:
“Kim này.”
“Gì ạ?” nàng đáp lại bằng giọng mơ hồ y chang.
“Anh sắp phải đi rồi em ạ.”
Nàng nhổm người dậy và thốt lên:
“Đi đâu?”
“Anh về thành phố, em biết mà. Anh đâu thể ở đây mãi được.”
Nàng im lặng một hồi, rồi cuối cùng thốt lên đầy oán trách:
“Anh gọi em qua đây cốt chỉ để làm cái đấy thôi phải không?”
Lời nàng nói như xé tim anh làm đôi. Nàng thẫn thờ nhìn anh tìm lời biện minh. Những “công chuyện” của anh gợi cho nàng những liên tưởng xa xăm, nhưng cách nói quả quyết của anh khiến nàng tin rằng đó quả thực là thứ công việc thật hệ trọng, thật khẩn thiết, và nàng đâm ra bối rối, tự trách mình vì đã quấy quả anh. Nàng cảm thấy một nỗi dằn vặt mơ hồ rằng nàng vừa đi quá phận sự của mình. Nhưng điều đó có can hệ gì tới quan hệ giữa anh và nàng? “Anh ấy nói yêu mình, yêu thì ở đâu mà chẳng yêu được,” nàng thầm nghĩ nhưng không dám nói thành lời. “Nếu không thì chắc chắn anh ấy còn khinh mình! Anh ấy không quên chuyện kia và nghĩ mình không còn trong sạch như trước!” Và nàng loay hoay tìm một lối thoát: có cách nào níu giữ mối tình đang nảy nở trong tâm hồn nàng không?
“Thôi nào, anh chẳng thể nào ở đây mãi được… em cũng biết thế mà…”
Nàng gật đầu lia lịa, mím chặt môi: nàng hoàn toàn không có quyền gì cưỡng bách anh phải chiều ý nàng. Nàng gắng gượng hỏi anh:
“Vì chuyện kia phải không anh?”
“Em đừng có như thế nữa được không? Đây là hai vấn đề khác nhau. Điều quan trọng trước mắt là anh sắp phải về thành phố, anh có những công việc cần giải quyết. Vả lại… chuyện này rồi cũng chẳng đến đâu… Nếu có thể, anh luôn muốn hai đứa kết thúc trong êm đẹp.”
Nàng tròn xoe đôi mắt:
“Sao lại kết thúc?”
“Vì… vì… em biết đấy. Anh đâu thể đưa em theo, còn công việc của anh ở thành phố.”
“Em đâu bắt anh đưa em theo.”
“Thật không thể hiểu nổi em. Vậy rốt cuộc em muốn gì?”
Nàng nhìn anh một hồi rồi quay mặt vào tường, phụng phịu trả lời anh:
“Em chẳng muốn gì cả.”
“Thôi nào, em nghe anh: sau này mọi chuyện sẽ khác đi và hai đứa có thể đến với nhau. Nhưng tạm thời thì chưa được… Anh cũng đâu muốn bắt em chờ, em cũng có tuổi xuân của em chứ…”
“Ôi, anh cứ nói… em thì làm gì có cái gọi là tuổi xuân,” nàng nói giọng đượm buồn. “Suốt đời em chỉ biết hầu hạ người khác thôi. Em cũng bị người ta hại đời rồi… Em biết chắc là anh sẽ khinh em và không coi em ra gì nữa.”
“Biết giải thích thế nào cho cô ấy hiểu đây!” anh nghĩ thầm, rồi kéo nàng sát gần mình, anh ôn tồn bảo nàng:
“Em bình tĩnh nghe anh nói, em chỉ đang làm quá lên thôi…”
“Em không nghe nữa đâu, anh đi thì anh cứ đi,” nàng thổn thức ngắt lời, dùng dằng gỡ tay anh ra, vùng chăn và chạy vọt ra ngoài hành lang tối hút…
8.
Hai hôm sau anh ra đi. Thành phố và những công chuyện của anh, có trời biết đấy là những công chuyện gì… Sau một tháng, anh đã sà vào đời sống thị thành như con cá về với nước. Triển vọng thăng tiến và những hợp đồng béo bở lại lôi cuốn anh; anh tiếp khách nhiều, trở nên nghiện thuốc và tự hào vì chất giọng ồm ồm không biết tự đâu mà có – điều ấy làm anh thấy mình chững chạc, từng trải hơn. Và anh cũng có cho mình những mối quan hệ tình ái mới… Chỉ thi thoảng, trong những khoảnh khắc tình cờ không báo trước, gương mặt nàng đột ngột hiện ra trước mắt anh, nhưng cũng rất hiếm thôi.
Ở S., mùa đông rét mướt nhất đã đến, ảm đạm và thê lương hơn bao giờ hết. Vụ lúa năm ấy thất bát, dân làng cố vớt vát bằng cách họp lại thành từng toán lên rừng đẵn tre, trồng sắn. Còn nàng thì vẫn quẩn quanh với bếp núc, quét dọn, ủ rũ coi sóc thằng cu nhỏ, rồi những mong ngóng vô vọng, những tâm sự không biết giãi bày vào đâu, cả những ký ức vui buồn lẫn lộn càng trở lại thường xuyên hơn trong cảnh cô đơn chán chường, nàng héo hon đi từng giờ chứ không phải từng ngày nữa. Mọi suy nghĩ ngây ngô trong nàng đã tan biến, nhường chỗ cho những tâm tư già dặn của một người đàn bà. Nàng ý thức được một điều gì quý giá nhất trong nàng đã bị tước đi, trong cái đêm mùa thu năm ấy, và nàng vĩnh viễn không thể trở lại là nàng của ba tháng trước nữa…
Suốt một thời gian dài, nàng vẫn thường lẻn vào căn phòng sát vách anh từng ở, nhìn đăm đắm chiếc giường mà anh từng nằm và kê tay cho nàng gối đầu bao lần ân ái, hay cái gạt tàn anh để cạnh chân giường… Nàng nâng niu cuốn sách anh bỏ quên như một kỷ vật thiêng liêng nhất, và hễ rảnh là nàng giở ra đọc, dù chẳng hiểu gì, thầm nghĩ anh phải cao siêu và học thức lắm. Và đến cả điều này trong thoáng chốc cũng đẩy lùi anh xa khỏi nàng hơn.
“Mình thật chẳng xứng với anh ấy. Anh ấy bỏ mình cũng phải thôi!” nàng đâm ra tự trách mình.
Mùa xuân năm sau nàng lấy chồng.
9.
Anh về vào dịp đám tang ông Thiêm – vị bác sĩ đã tiên liệu chính xác, ông sống vừa ngót ba năm tròn. Và trên suốt đường đi, anh chỉ nghĩ tới cô gái nhỏ nhắn có nước da rám nắng cùng kiểu hôn nhắm chặt môi thật ngờ nghệch, cố mường tượng ra nàng đã thay đổi ra sao sau một thời gian dài xa cách.
“Hôn thì phải mở miệng ra, con bé này,” bao lần anh đã nhắc nàng thế.
“Sao anh cứ trách em? Em đã hôn ai bao giờ đâu, cái gì cũng là lần đầu của em hết.”
Anh như chết đứng khi gặp lại nàng – thậm chí anh còn không nhận ra nàng khi lại gần nàng từ phía sau: cả người nàng đẫy ra, da sạm lại, đôi mắt thì buồn rầu và mất hẳn vẻ hồn nhiên thuở nào. Ba hôm trước khi nghe tin anh sẽ về, nàng bồi hồi khôn xiết; – thật oái ăm vì ngay lúc nàng tưởng chừng đã từ bỏ mọi hy vọng được gặp lại anh thì anh đang đứng sờ sờ nơi đây; anh nuôi râu quai nón và giọng nói anh không còn thanh nữa mà trở nên khàn khàn rất khó nghe, điều này trong phút chốc khiến nàng cảm thấy anh kém thân thuộc với nàng đi nhiều.
Thoạt đầu nàng đối với anh thật lãnh đạm, cố che giấu mối xúc động ở mình; nàng cũng cố xua đi vọng tưởng về một cuộc tái hợp, – tự nàng biết thế là phải tội và, hơn cả, anh với nàng bây giờ bỗng trở nên gượng gạo và xa lạ quá. Nhưng suốt một tuần anh lưu lại nhà chị Hướng, nàng vẫn tranh thủ bồng con đến chơi trong ngày rồi đến chập tối lại trở về nhà mình. Và bất chấp tất cả, nàng lại yêu anh.
Và tưởng chừng mọi chuyện lại tiếp diễn như cũ. Những tủi hờn chất chứa trong những ngày tháng đợi chờ vô vọng đã tạo cho nàng cái vẻ chai sạn mà không bao giờ anh mong sẽ nhìn thấy ở nàng. Nhưng khi nằm trong vòng tay anh thì hồ như nàng vẫn là nàng xưa kia – nàng vẫn là của anh, thuộc về anh. Vào buổi cuối ở cạnh nhau trong phòng khách sạn trước ngày anh rời đi, nàng đằm thắm với anh trên giường, nàng nói năng lộn xộn, mọi điều chẳng ăn nhập với nhau, trò chuyện lấp lửng như muốn tỏ ra mình tinh ranh, như cố cho anh hay rằng nàng đã khác xưa và hạnh phúc của nàng không còn chịu lệ thuộc vào anh nữa. Càng lúc nàng càng chuyện trò mạnh dạn hơn. Cuối cùng nàng bảo:
“Anh còn nhớ cái hôm hai đứa đang nằm thì chú Thiêm đến gõ cửa phòng anh không? Lúc đấy em sợ đến rụng cả tim, em thậm chí còn không dám thở! Em nhớ bên dưới lớp chăn, anh vừa đáp lời chú ấy vừa ôm chặt em thế nào, lúc đấy em thấy vừa sợ vừa rạo rực khắp người, đến mức khi chú ấy vừa đi mất, em chỉ muốn chạy vụt ra và bảo rằng: ‘Ê, chú Thiêm, cháu vừa ở với anh ấy này!’ Em quả thực đã nghĩ vậy đấy, như thế có bạo quá không anh?”
“Nếu em quả thực làm thế thì người rụng tim sẽ là anh!”
Nàng tiếp tục nói mà không nhìn sang anh:
“Bây giờ thì em chẳng còn sợ nữa. Nghĩ cũng lạ, em từng căm ghét anh lắm. Thế mà gặp anh rồi là em chẳng còn nhớ được gì… Sao anh cứ nhìn em mãi thế?”
“Anh đang cố ghi nhớ nét mặt em.”
“Anh không cần nịnh em như trước nữa đâu,” nàng ngậm ngùi đáp, “tự em cũng biết mình đã xấu đi nhiều thế nào” – và nàng nói đúng, nàng đã thay đổi quá nhiều, về mọi phương diện.
Cả hai cùng im lặng hồi lâu. Cuối cùng nàng thì thào khe khẽ:
“Hưng, anh ngủ đấy à?”
Anh lim dim mở mắt, nhoái người sang phía nàng đến khi chóp mũi hai người gần như đụng nhau.
“Ừ, anh chợp mắt một chút, nhưng có chuyện gì thế em?”
“Chồng em biết anh đấy,” nàng vừa nói vừa vuốt ngón tay dọc theo sống mũi anh. “Anh ấy không ưa anh, bảo anh là đồ kênh kiệu, đồ công tử bột. Anh có đang nghe không thế? Thế… thế… anh không tò mò anh ấy là ai à?”
“Không hẳn.”
“Anh ấy chính là người đã đèo anh hôm đầu tiên anh tới nhà chú Thiêm.”
Tới đây anh gạt tay nàng ra và buột miệng kêu lên:
“Ồ, thằng láo toét! Nó vòi anh những ba trăm bạc! Nhưng khoan đã, sao em với nó lại quen nhau?”
“Anh ấy chính là cái người… cái người kia,” nàng im lặng một thoáng rồi ngần ngừ đáp. “Khoan, khoan, anh bình tĩnh nghe em nói đã. Dĩ nhiên anh ấy có tội với em. Sau lần ấy anh ấy đã xin lỗi, hứa sẽ đối xử với em tử tế, thế rồi em có thai, anh bảo em còn biết làm thế nào. Nhưng tội của em còn nặng hơn! Em cũng mắc tội!”
Anh im lặng nghe nàng nói, hơi ngán ngẩm vì cái màn tự thú đến không đúng lúc và đúng chỗ này. Đoạn anh bảo nàng:
“Anh thật sự không hiểu em đang muốn nói cái gì.”
Nàng nhìn anh hồi lâu rồi thẫn thờ cất giọng:
“Chắc em dở rồi anh ạ! Em buồn lắm! Thà rằng không gặp lại anh còn tốt hơn, bây giờ thì anh lại đi, anh bảo em còn biết phải làm gì?”
Nàng gục đầu vào ngực anh rồi nức nở khóc, toàn thân run lên. “Ôi, bây giờ mình biết phải làm sao với người đàn bà này?” anh tuyệt vọng nghĩ thầm. “Lần nào chia tay cô ấy cũng khóc, cũng nhìn mình bằng đôi mắt van vỉ làm mình dằn vặt đến khổ.” Mà nào phải anh không yêu nàng đâu? Chẳng lẽ nàng vẫn mong đợi anh sẽ đưa nàng theo? Chẳng lẽ lại tự chui đầu vào rọ rồi vĩnh viễn kết liễu chính cuộc đời mình? Chưa kể hai người có thể cãi nhau, và nàng, ôi, nàng có thể không còn cam chịu nổi cái cảnh thập thò mãi, nàng sẽ đòi hỏi một danh phận… ôi, biết phải làm sao đây?
“Em không đòi anh phải đưa em theo nữa đâu, tự em cũng biết thế là vô ích,” nàng lau nước mắt rồi điềm nhiên nói. Rồi nàng đứng dậy nhặt quần áo dưới sàn, đoạn trở vào nhà tắm xối nước hồi lâu. Khi trở ra nàng quay lưng về phía giường và nói với anh:
“Em phải về.”
Anh bần thần nhìn nàng bước tới ngưỡng cửa rồi mới đứng dậy, nói nhỏ nhưng rắn rỏi:
“Em quay lại đây.”
Nàng chầm chầm tiến lại gần anh, cúi gằm mặt cố giấu những dòng nước mắt đang khẽ tuôn rơi.
“Nào, anh bảo gì em?”
“Em ngồi xuống đây đã,” anh vội vã nói và đặt nàng ngồi lên đùi mình – nàng nhỏ bé đến nỗi ngón chân còn không chạm đất. “Ngoan nào, Kim của anh, việc gì phải khóc cơ chứ, nghe anh nói: Đận thu tới anh sẽ về hẳn hai tuần, chúng mình sẽ đi chơi, sẽ đi hẹn hò. Em hãy cứ sống cho tốt, rồi khi anh về thì chúng mình sẽ cùng đánh xe ra thành phố chơi – nếu em thích mình sẽ dẫn cả con em theo. Anh biết em ngại nhất chuyện đứa bé mà, nhưng không sao đâu, anh sẽ lo được.”
“Em đi sao được mà, rồi người ta sẽ bêu rếu em đến chết mất,” nàng cay đắng thì thầm, dụi trán vào vai anh và lại khóc nấc lên, nhưng anh để ý trong giọng nàng một niềm hân hoan, một nỗi khao khát dè dặt.
“Không sao đâu! Anh sẽ nghĩ ra cách. Anh sẽ không để mọi chuyện lộ liễu, sẽ không để em phải chịu tủi nhục! Em có tin anh không? Em hãy ở đây đợi anh, cứ nuôi dạy con cái cho tốt, và tuyệt đối không được khóc nữa. Anh chúa ghét nhìn em khóc, nhớ chưa?”
“Thế… thế…”
“Nào, em nói đi,” anh dịu dàng nói với nàng. “Em yêu anh, em nói đi!”
Nàng thổn thức nhắc lại qua làn nước mắt:
“Em rất yêu anh!”
10.
Mùa xuân năm sau anh mới được tin là sau khi anh về thành phố ít lâu, nàng đem mọi chuyện thú nhận với chị Hướng và một tuần sau thì nhảy xuống vực tự trầm. Anh cũng được biết thêm là chính nàng đã dặn chị phải giấu kín thân phận của đứa con gái – ôi lạ làm sao những lời này! – đứa con gái của nàng và anh.
Hình như là vào năm 1881, Turgenev, trong một lần ghé thăm, đã rút từ túi xách ra một tập truyện Pháp có tựa đề Maison Tellier và đưa cho tôi.
“Đọc thử xem sao,” ông nói, vẻ thản nhiên, hệt như năm ngoái ông từng đưa tôi một số báo Russian Wealth, trong có một bài viết của Garshin, một tác giả mới vào nghề. Rõ rành, tương tự trường hợp của Garshin, giờ đây ông e mình sẽ tác động tới tôi theo hướng này hay hướng khác, và ông muốn biết ý kiến không thiên lệch của tôi.
“Anh ta là một nhà văn trẻ người Pháp,” ông nói; “cứ đọc qua đi, – không tồi đâu; anh ta biết cậu và kính trọng cậu vô ngần,” ông nói thêm, như để khích lệ tôi. “Con người anh ta làm tôi nhớ đến Druzhinin. Anh ta là một cậu con trai mẫu mực, một người bạn tuyệt vời, un homme d’un commerce sur, như Druzhinin vậy, và, thêm nữa, anh ta gắn bó với cánh thợ thuyền, anh ta dẫn dắt và đỡ đần họ. Ngay cả thái độ của anh ta với phụ nữ cũng làm tôi nhớ đến Druzhinin.”
Và Turgenev kể tôi nghe một điều đáng kinh ngạc và khó tin về Maupassant trong khía cạnh này.
Thời gian này, cái năm 1881 ấy, đối với tôi là quãng thời gian sôi nổi nhất của sự tái cơ cấu toàn bộ thế giới quan trong tôi, và trong công cuộc tái cấu trúc này, hoạt động được gọi là nghệ thuật mà dạo trước tôi từng cống hiến toàn tâm toàn ý, đã không chỉ mất đi tính quan thiết mà tôi gán cho nó, mà thậm chí còn trở nên đáng ngán rõ rệt bởi vị trí sai lệch mà nó chiếm lĩnh trong cuộc đời tôi và trong quan niệm của những người thuộc tầng lớp thượng lưu nói chung.
Vì lý do này mà vào quãng thời gian đó tôi không hề có chút hứng thú nào với những tác phẩm như cái mà Turgenev đã gợi ý. Nhưng, để chiều lòng ông, tôi đã đọc cuốn sách.
Ngay từ câu chuyện đầu tiên, Maison Tellier, tôi không thể không nhận thấy, mặc dù cốt truyện có phần khiếm nhã và tầm thường, rằng tác giả này sở hữu cái gọi là tài năng.
Tác giả được phú cho một thiên tư đặc biệt, gọi là tài năng, có nghĩa là năng lực điều hướng, tuỳ theo ý thích của anh ta, sức tập trung mãnh liệt, dai dẳng, vào một hoặc nhiều đối tượng, qua đó người sở hữu nhìn thấy ở những đối tượng mà anh ta chú mục tới, điều gì đó mới lạ, điều mà những người khác không thấy. Hiển nhiên Maupassant sở hữu năng lực nhìn thấy trong những chủ thể điều gì đó mà người khác không thấy. Nhưng, chiếu theo tập sách nhỏ mà tôi đã đọc, anh ta hoàn toàn thiếu hụt tiêu chí quan trọng nhất, bên cạnh tài năng, để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Trong ba tiêu chí:
1. một mối quan hệ đúng đắn, tức là, một mối quan hệ đạo đức của nhà văn với chủ đề,
2. sự rõ ràng trong cách trình bày, hoặc vẻ đẹp của hình thức, cũng tương tự nhau, và
3. sự chân thành, tức là, cảm xúc yêu hay ghét thành thật với thứ mà nghệ sĩ mô tả
Maupassant chỉ sở hữu hai cái cuối, và hoàn toàn thiếu cái đầu tiên. Tức là, anh ta không có mối quan hệ đạo đức đúng đắn với những chủ đề được diễn tả. Từ những gì tôi đã đọc, tôi bị thuyết phục rằng Mauppasant có tài, tài ở đây là cái năng lực tập trung mà theo đó những vấn đề và hiện tượng của cuộc sống hé lộ cho nhà văn những phẩm chất mà người khác không nhìn ra; đồng thời anh ta sở hữu một hình thức tao nhã, tức là anh ta diễn tả những gì mình muốn nói một cách rõ ràng, đơn giản, và đẹp, và anh ta cũng đáp ứng cái tiêu chí giúp cấu thành một tác phẩm nghệ thuật đích thực, mà thiếu nó thì không gây nổi ấn tượng gì, — sự chân thành, — anh ta không vờ vĩnh yêu hay ghét, mà thực sự yêu và ghét cái anh ta mô tả. Nhưng thật không may, bởi thiếu sót điều kiện đầu tiên, gần như là điều kiện quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật đích thực, về mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cái mà anh ta miêu tả, hay về sự hiểu biết về khác biệt giữa tốt và xấu, anh ta đã yêu và mô tả những gì không đáng để yêu và mô tả, và lại không yêu và không mô tả những cái đáng ra anh ta phải yêu và mô tả. Thế là anh nhà văn trong tuyển truyện này tỏ ra ưa chuộng và miệt mài mô tả cách đàn bà quyến rũ đàn ông và cách đàn ông cám dỗ đàn bà, và thậm chí còn mô tả vài chi tiết tục tĩu khó hiểu, được phô bày trong La Femme de Paul, và anh ta khắc hoạ người dân lao động nông thôn, không chỉ với sự thờ ơ, mà thậm chí với sự khinh miệt, coi họ không khác gì loài cầm thú.
Sự thiếu phân định phải trái đặc biệt nổi cộm trong câu chuyện Une Partie de Campagne, ở đó, dưới một dạng thức giễu cợt thông minh và dí dỏm nhất , anh ta tỉ mỉ thuật lại cách hai người đàn ông với cánh tay để trần, đang chèo thuyền, cùng lúc cám dỗ hai người đàn bà; một gã quyến rũ bà mẹ già, và gã còn lại dụ dỗ một thiếu nữ trẻ, con gái của bà kia.
Sự cảm thông của tác giả trong suốt thiên truyện rõ ràng thiên về phía hai gã bất lương, theo đó nhà văn phớt lờ, hoặc, tệ hơn, không nhìn thấy những gì mà bà mẹ bị cám dỗ, cô gái, người cha, và chàng trai trẻ, hiển nhiên là vị hôn phu của cô con gái, đã phải hứng chịu, và do đó chúng ta không chỉ nhận được một mô tả thái quá về một tội ác tày đình dưới dạng thức một trò đùa vui nhộn, mà tự bản thân sự kiện cũng bị mô tả sai lệch, vì chỉ có một khía cạnh vô cùng tầm thường của chủ đề được mô tả: khoái cảm mà những kẻ vô lại nhận được.
Trong cùng tập sách đó có một truyện ngắn, Histoire d’une Fille de Ferme, mà Turgenev đặc biệt khuyến nghị với tôi, và truyện này càng làm tôi khó chịu hơn, một phần cũng vì thái độ không đúng đắn của tác giả đối với chủ đề này. Tác giả dường như chỉ nhìn tất cả những người lao động mà anh ta mô tả như những con vật, những kẻ không vượt lên trên được tình mẫu tử và thú nhục dục, nên cách miêu tả này để lại cho chúng ta một ấn tượng nửa vời, giả tạo.
Sự thiếu hiểu biết về cuộc sống và lợi ích của giai cấp công nhân, và việc khắc hoạ những người thuộc tầng lớp đó dưới hình thái nửa người nửa thú, chỉ bị thúc đẩy bởi nhục dục, ác tâm, và lòng tham, là một trong những thiếu sót chính và nổi cộm nhất của phần lớn các tác giả Pháp đương đại, trong đó có Maupassant, không riêng câu chuyện này mà còn ở tất cả các câu chuyện khác, trong đó anh ta bàn phớt về nhân dân và luôn khắc hoạ họ như những con vật thô kệch, ngu đần, chỉ đáng đem ra mà chế nhạo. Tất nhiên, các tác giả Pháp hẳn phải hiểu rõ tình cảnh của nhân dân nước họ hơn tôi; nhưng, dù tôi là người Nga chăng nữa, và chưa từng sống với nhân dân Pháp, tôi vẫn quả quyết rằng các tác giả Pháp đã mô tả sai về quần chúng nước nhà, và nhân dân Pháp không thể giống những gì họ được mô tả. Nếu có một nước Pháp như chúng ta đã biết, nước Pháp với những con người thật sự vĩ đại với những đóng góp to lớn cho khoa học, nghệ thuật, chính sách dân sự và sự trau dồi đạo đức của nhân quần, thì những người dân lao động đã gánh trên vai cả nước Pháp lẫn những nhân vật vĩ đại của nó không thể là loài súc vật, mà phải là những con người có phẩm giá tinh thần cao thượng; và vì vậy, tôi không tin vào các tiểu thuyết như La Terre và các câu chuyện của Maupassant, cũng như tôi sẽ không tin nếu người ta mách tôi về sự tồn tại của một ngôi nhà khang trang mà không cần nền móng. Rất có thể những phẩm hạnh cao quý của nhân dân không hề giống những phẩm hạnh được mô tả trong La petit Fadette và La Mare au Diable, nhưng những phẩm chất này có tồn tại, tôi cam đoan thế, và nhà văn mô tả quần chúng, như Maupassant đã làm, bằng cách kể lể một cách chân thành về “hông” và “khe vú” của những hầu gái người Breton, nhưng lại tỏ ra khinh miệt và giễu cợt cuộc sống của dân lao động, đã phạm một sai lầm lớn về mặt nghệ thuật, bởi vì anh ta chỉ mô tả chủ thể từ một khía cạnh vật chất ít thú vị nhất, mà hoàn toàn bỏ qua khía cạnh còn lại, khía cạnh tinh thần quan yếu nhất, cái cấu thành bản chất của chủ thể.
Nói chung, khi đọc xong cuốn sách mà Turgenev đưa cho, tôi hoàn toàn dửng dưng với nhà văn trẻ này.
Vào thời điểm đó, tôi cực lực chán ghét những câu chuyện Une Partie de Campagne, La Femme de Paul và L’Histoire d’une Fille de Ferme đến nỗi tôi không để ý đến câu chuyện tuyệt đẹp Le Papa de Simon và thiên truyện xuất sắc Sur l’Eau trong đoạn mô tả buổi đêm.
“Thời đại của chúng ta, khi có quá nhiều người muốn viết, thì cũng có rất nhiều người có tài năng nhưng không biết vận dụng vào việc gì, hoặc liều lĩnh áp dụng vào những điều sai trái và không nên được mô tả chút nào,” tôi nghĩ. Thế là tôi nói với Turgenev. Và tôi quên tiệt Maupassant.
Tác phẩm tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Une Vie, do ai đó khuyên tôi đọc. Cuốn sách này ngay lập tức khiến tôi thay đổi suy nghĩ về Maupassant, và sau đó tôi hứng thú đọc mọi thứ được viết dưới tên anh ta. Une Vie là một tiểu thuyết trác tuyệt, không chỉ là tiểu thuyết hay nhất của Maupassant, mà còn gần như là tiểu thuyết Pháp hay nhất kể từ Les Misérables của Hugo. Ngoài sức mạnh đáng kể của tài năng, tức là sức tập trung đặc biệt mãnh liệt dành cho chủ đề, nhờ đó nhà văn nhìn thấy những nét hoàn toàn mới trong cuộc sống mà anh ta mô tả, tiểu thuyết này còn kết hợp, gần như ở mức độ ngang bằng, cả ba điều kiện của một tác phẩm nghệ thuật đích thực:
mối quan hệ đúng đắn, tức là mối quan hệ đạo đức, của tác giả với chủ đề,
vẻ đẹp của hình thức,
sự chân thành, tức là tình yêu dành cho những gì tác giả mô tả.
Ở đây, ý nghĩa của cuộc sống không còn được tác giả nhìn nhận qua những trải nghiệm của các nhân vật phóng đãng nữa, mà nội dung, như tựa đề đã tiết lộ, là mô tả về cuộc đời của một người phụ nữ ngây thơ, ngọt ngào, đón chờ mọi điều tốt đẹp, nhưng bị hủy hoại bởi chính sự thô bỉ, bởi bản năng thú vật, mà trong các câu chuyện trước đó tác giả coi là hiện tượng trung tâm của cuộc sống, chi phối mọi thứ, và ở đây sự đồng cảm của tác giả hoàn toàn hướng thiện.
Hình thức, vốn đã đẹp ngay từ những câu chuyện đầu tiên, giờ được nâng lên một tầm mức hoàn hảo, mà theo tôi, chưa một người viết viết văn xuôi Pháp nào từng đạt đến. Và, bên cạnh đó, điều quan trọng nhất, ở đây tác giả thực sự yêu thương, và yêu thương mãnh liệt, gia đình tốt đẹp mà anh ta mô tả, và thực sự khinh miệt gã đàn ông thô bỉ đã phá hủy hạnh phúc và sự bình yên của gia đình đáng mến này, và đặc biệt là của nhân vật nữ chính.
Chính vì lẽ đó mà mọi sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết này đều quá sống động và đáng nhớ: người mẹ sa ngã, ốm o, tốt bụng; người cha cao thượng, cả nể, đáng mến; và cô con gái, thậm chí còn đáng mến hơn bởi đức giản dị, sự thuần phác và tâm thế háo hức cho mọi điều tốt đẹp; mối quan hệ giữa họ, chuyến đi đầu tiên của họ, những gia bộc, láng giềng của họ, vị hôn phu so đo, thô bỉ, keo kiệt, nhỏ nhen, vô phép, người như thường lệ đã lừa dối cô gái ngây thơ bằng cách lý tưởng hóa một cách đớn hèn những tình cảm thô thiển nhất; cuộc hôn nhân; đảo Corse với những mô tả quyến rũ về thiên nhiên; rồi cuộc sống điền viên; màn lừa dối trắng trợn của gã chồng; việc gã nắm quyền kiểm soát điền trang; những mâu thuẫn của gã với ông nhạc; sự nhượng bộ của những người tốt; chiến thắng của sự trơ tráo; mối quan hệ với hàng xóm – tất cả đều là cuộc sống thực, với tất cả sự phức tạp và muôn màu muôn vẻ của nó. Nhưng không chỉ được mô tả một cách sống động và xuất sắc, tất cả còn được bao phủ bởi một giọng điệu chân thành, cảm thông, khiến người đọc bất giác bị ảnh hưởng. Người ta cảm nhận được rằng nhà văn yêu thương người phụ nữ này, rằng anh ta yêu cô không phải vì hình thức bên ngoài, mà là vì tâm hồn của cô, vì những gì tốt đẹp trong cô, và rằng anh ta đồng cảm với cô và đau khổ vì cô, và cảm giác này bất giác lan truyền sang người đọc. Những câu hỏi về lý do tại sao, vì mục đích gì mà cô gái ngây thơ này bị hủy hoại, và tại sao mọi chuyện phải như vậy, tự nhiên nảy sinh trong tâm hồn độc giả, và khiến họ khựng lại và suy ngẫm về ý nghĩa và giá trị của cuộc sống con người.
Dù có một vài khuyết điểm xuất hiện rải rác trong tiểu thuyết, như việc miêu tả chi li về làn da của thiếu nữ, hay những chi tiết không cần thiết và khó tin về việc người vợ bị ruồng rẫy, theo lời khuyên của vị linh mục, lại trở thành mẹ một lần nữa, những chi tiết tàn phá hết vẻ quyến rũ trong ngần của nữ nhân vật chính; hay câu chuyện trả thù của gã chồng bị xúc phạm, cường điệu hoá và không tự nhiên – bất chấp những khuyết điểm này, cuốn tiểu thuyết không chỉ đẹp trong mắt tôi, mà qua đó tôi không còn coi tác giả như một người kể chuyện tài năng và bỡn cợt, không biết và không muốn biết điều gì tốt, điều gì xấu, như tôi từng đánh giá anh ta qua cuốn sách đầu tiên, mà là một con người nghiêm túc, đào sâu vào cuộc sống con người và bắt đầu hiểu ra những điều trong đó.
Tiểu thuyết tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Bel-Ami.
Bel-Ami là một cuốn sách rất bẩn thỉu. Tác giả dường như phóng túng trong việc mô tả những gì lôi cuốn anh ta, và đôi khi dường như đánh mất quan điểm căn bản, phê phán đối với nhân vật chính và chuyển sang đứng về phía y; nhưng nhìn chung, Bel-Ami, giống như Une Vie, được đặt nền tảng trên một tư tưởng và cảm xúc nghiêm túc.
Trong Une Vie, tư tưởng cốt lõi là nỗi bàng hoàng trước sự tàn nhẫn vô nghĩa về cuộc đời đau khổ của một người phụ nữ đẹp, người bị hủy hoại bởi sự vô luân của một gã đàn ông; ở tiểu thuyết sau thì không chỉ là sự bàng hoàng nữa, mà còn là sự phẫn nộ của tác giả khi nhìn thấy sự thịnh vượng và thành công của một con thú thô tục, người nhờ chính sự thô bỉ của mình mà gây dựng cơ đồ và thủ đắc địa vị cao trong xã hội, cùng với sự phẫn nộ trước sự tha hóa của môi trường mà nhân vật chính công thành danh toại. Ở cuốn trước, tác giả dường như thắc mắc: “Tại sao, vì mục đích gì, sinh vật đáng yêu này bị hủy hoại? Tại sao chuyện đó lại xảy ra?” Ở cuốn sau, anh ta cơ hồ trả lời những câu hỏi đó: “Mọi thứ thuần khiết và tốt đẹp đã và đang bị hủy hoại trong xã hội chúng ta, bởi vì xã hội này thật khủng khiếp, đồi bại và vô nghĩa.”
Đoạn cuối của tiểu thuyết, tả đám cưới trong một nhà thờ thời thượng của gã bất lương chiến thắng, người được thưởng Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, với một cô gái trẻ trong trắng, con gái của người mẹ một thời chính chuyên, người mà hắn từng cám dỗ, đám cưới được giám mục ban phước và được tất cả những người tham dự công nhận đó là điều tốt đẹp và chính đáng, thể hiện ý tưởng này một cách mạnh mẽ bất thường. Trong tiểu thuyết này, dù bị cản trở bởi những chi tiết tục tĩu mà tác giả dường như thích thú, chúng ta vẫn thấy được mối quan hệ nghiêm túc của tác giả với cuộc sống.
Hãy đọc cuộc trò chuyện của nhà thơ già với Duroy, khi họ rời khỏi nhà Walters sau bữa tối, tôi nghĩ vậy. Nhà thơ già hé lộ cuộc sống trước người đối thoại trẻ tuổi và cho anh ta thấy cuộc sống như nó vốn có, với người bạn đồng hành vĩnh cửu và không thể tránh khỏi – cái chết.
“Cái chết đã nắm lấy tôi, la gueuse,” ông ta nói về cái chết. “Nó đã làm răng tôi lung lay, bứt trụi tóc tôi, làm gân cốt tôi tàn tạ, và sắp sửa nuốt chửng tôi. Tôi đã nằm trong tay nó, – nó chỉ đùa giỡn với tôi, như mèo vờn chuột ấy, biết tỏng không đời nào tôi thoát khỏi nó. Vinh quang, giàu có – tất cả phỏng có ích gì, khi không thể dùng chúng để mua được tình yêu của một người phụ nữ, thứ duy nhất khiến cuộc đời này đáng sống. Và cái chết sẽ tước đoạt điều đó. Nó sẽ cướp đoạt điều này trước tiên, rồi đến sức lực, nhiệt huyết, và chính cuộc sống. Và ai mà chẳng thế. Có vậy thôi.”
Đó là ý nghĩa của những lời nhận xét của nhà thơ già. Nhưng Duroy, người tình may mắn của tất cả những người phụ nữ mà y thích, tràn đầy nhục cảm và thôi thúc bản năng đến mức y nghe mà không nghe, hiểu mà không hiểu lời của nhà thơ già. Y có nghe và hiểu, nhưng bản năng trong y tuôn trào dữ dội đến mức cái sự thật không thể chối cãi, rằng y rồi cũng phải đối mặt với cùng một kết cục, không khiến y mảy may sợ hãi.
Chính sự mâu thuẫn nội tại này, bên cạnh ý nghĩa châm biếm, tạo nên ý nghĩa chính của Bel-Ami. Tư tưởng tương tự cũng loáng thoáng trong những phân đoạn đẹp về cái chết của nhà báo bị lao phổi. Tác giả tự đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cách giải quyết mâu thuẫn giữa tình yêu cuộc sống và nhận thức về cái chết không thể tránh khỏi, – nhưng anh ta không trả lời những câu hỏi này. Anh ta dường như đang tìm kiếm và chờ đợi, chưa đưa ra quyết định theo bất kỳ hướng nào. Do đó, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống trong tiểu thuyết này vẫn đúng đắn.
Nhưng trong các tiểu thuyết tiếp theo, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống bắt đầu trở nên rối rắm, việc đánh giá các hiện tượng của cuộc sống bắt đầu dao động, mờ nhạt, và trong các tiểu thuyết cuối thì hoàn toàn bị bóp méo.
Trong Mont-Oriol, Maupassant dường như kết hợp các động cơ của hai tiểu thuyết trước, và lặp lại chính mình về mặt nội dung. Dù có những mô tả đẹp đẽ, đầy hài hước ý nhị về một khu nghỉ dưỡng thời thượng và hoạt động của các bác sĩ ở đó, chúng ta vẫn thấy ở đây một người đàn ông, tên Paul, vừa hèn mạt vừa vô cảm như người chồng trong Une Vie, và một người phụ nữ đáng yêu, bị lừa dối, bị hủy hoại, yếu đuối, cô đơn, luôn luôn cô đơn, và vẫn cùng một sự chiến thắng lãnh đạm của sự tầm thường và sự ti tiện như trong Bel-Ami.
Tư tưởng vẫn như cũ, nhưng mối liên hệ của tác giả với những gì anh ta mô tả giờ đây yếu hơn nhiều, đặc biệt yếu so với tiểu thuyết đầu tiên. Việc phán đoán nội tâm của tác giả về điều gì tốt, điều gì xấu bắt đầu trở nên rối rắm. Dù tác giả có chủ định tinh thần là khách quan, không thiên vị, nhưng gã bất lương Paul rõ ràng nhận được sự đồng cảm tuyệt đối của tác giả. Vì lý do này, câu chuyện về tình yêu của Paul, những nỗ lực mồi chài của hắn, và thành công của hắn gây ra một ấn tượng sai lệch. Người đọc không biết liệu tác giả muốn gì – liệu anh ta muốn phơi bày sự trống rỗng và thấp hèn của Paul, người thờ ơ quay lưng lại với người phụ nữ và xúc phạm cô chỉ vì vóc dáng cô bị tàn phá do mang thai đứa con của hắn, hay ngược lại, anh ta muốn cho thấy sống như Paul là điều dễ chịu và tuyệt vời.
Trong các tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur, mối quan hệ đạo đức của tác giả với các nhân vật càng trở nên rối rắm hơn, và trong tiểu thuyết cuối cùng thì hoàn toàn biến mất. Trên tất cả các tiểu thuyết này đã in dấu sự thờ ơ, vội vã, giả tạo, và trên hết, lại là sự thiếu vắng mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cuộc sống, điều đã thấy trong những tác phẩm đầu tiên của anh ta. Điều này bắt đầu từ khi danh tiếng của Maupassant như một tác giả thời thượng được thiết lập, và anh ta phải đối mặt với cám dỗ khủng khiếp mà mọi tác giả nổi tiếng, đặc biệt là một người hấp dẫn như Maupassant, phải đối mặt. Một mặt, đó là thành công của những tiểu thuyết đầu tay, sự lăng xê của báo giới, và sự tung hô của xã hội, đặc biệt là của phụ nữ; mặt khác, đó là phần thưởng ngày càng tăng, nhưng, không theo kịp những nhu cầu ngày càng lớn; thứ nữa, đó là sự thúc ép từ các nhà xuất bản, những người cạnh tranh nhau, nịnh hót, nài gặng, và không còn đánh giá chất lượng các tác phẩm mà tác giả cung cấp, mà chỉ hân hoan chấp nhận mọi thứ xuất hiện dưới cái tên đã tạo dựng được danh tiếng với công chúng. Rõ ràng tất cả những cám dỗ này quá lớn đến mức khiến tác giả say mê: anh ta chịu khuất phục chúng, và dù tiếp tục trau chuốt các tiểu thuyết về mặt hình thức, thậm chí còn tốt hơn trước, và vẫn yêu những gì mình mô tả, anh ta không còn yêu những gì mình mô tả vì nó tốt và phải đạo, tức là vì nó được mọi người yêu mến, và ghét những gì mình mô tả không phải vì nó xấu và bị mọi người khinh bỉ, mà chỉ vì một sự tình cờ nó khiến anh ta thích thứ này, còn thứ khác thì không.
Trong tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, bắt đầu từ Bel-Ami, đều mang vết tích của sự vội vã và trên hết, của sự giả tạo. Từ đó trở đi, Maupassant không còn làm những thứ anh ta từng làm trong hai tiểu thuyết đầu tiên của mình – anh ta không còn lấy những yêu cầu đạo đức nhất định đặt nền tảng cho tiểu thuyết và dựa trên đó để mô tả hoạt động của các nhân vật, mà anh ta viết tiểu thuyết như mọi tiểu thuyết gia làng nhàng khác, tức là bịa ra những nhân vật và tình huống thú vị nhất, cảm động nhất hoặc hợp thời nhất, rồi từ đó xây dựng tiểu thuyết, trang điểm nó bằng tất cả những quan sát mà anh ta tình cờ có được và phù hợp với bộ khung của tiểu thuyết, mà không màng đến việc những sự kiện được mô tả liên quan thế nào đến các yêu cầu đạo đức. Đó là Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur.
Dù chúng ta quen đọc trong các tiểu thuyết Pháp về các gia đình sống ba người ra sao, và luôn có một gã nhân tình mà ai cũng biết trừ ông chồng, nhưng vẫn khó hiểu làm sao mà tất cả các ông chồng luôn là những kẻ ngu ngốc, mọc sừng, và lố bịch, còn tất cả những người tình, sau rốt kết hôn và trở thành những ông chồng, thì lại không lố bịch và cũng chẳng bị cắm sừng, mà được xem là những bậc trượng phu. Và càng khó hiểu hơn làm sao tất cả phụ nữ đều phóng đãng về mặt đạo đức còn tất cả các bà mẹ thì đều thánh thiện.
Chính trên những tình huống gượng ép, vô lý, và trên hết, vô cùng phi đạo đức này mà Pierre et Jean và Fort comme la Mort được cấu tứ nên, thành thử những đau khổ của các nhân vật trong những cảnh huống này không gây ở ta nhiều mối xúc động. Người mẹ của Pierre và Jean, người đã sống cả đời để lừa dối chồng mình, ít khơi gợi được sự đồng cảm khi phải thú nhận tội lỗi với con trai, và còn ít hơn nữa khi bà ta tự biện bạch, khẳng định rằng bà ta không thể không nắm bắt cơ hội hạnh phúc xảy đến với mình. Chúng ta càng ít thông cảm hơn với người đàn ông trong Fort comme la Mort, người suốt đời lừa dối bạn mình, dụ dỗ vợ bạn, và giờ lại than thở vì, khi đã già, không thể làm hỏng nốt cô con gái của tình nhân. Nhưng tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, thậm chí không có bất kỳ vấn đề nội tại nào, ngoài việc mô tả đủ mọi sắc thái của đam mê thể xác. Những gì được mô tả là một kẻ phóng đãng, nhàn cư, chán chường, không biết mình muốn gì, lúc thì gặp một người phụ nữ cũng phóng đãng, tinh thần suy đồi, không có cả sự biện minh của bản năng, lúc thì chia tay cô ta và quen một cô gái hầu phòng, rồi lại quay về với người đầu tiên và dường như chung chạ cả hai. Dù trong Pierre et Jean và Fort comme la Mort có những phân đoạn cảm động, tiểu thuyết cuối cùng này chỉ gây ra cảm giác ghê tởm.
Câu hỏi trong tiểu thuyết đầu tiên của Maupassant, Une Vie, được đặt ra thế này: Đây là một con người đứng đắn, thông minh, dễ mến, sẵn sàng cho mọi điều tốt đẹp, nhưng vì lý do nào đó, con người này phải hy sinh trước tiên cho một gã chồng thô lậu, nhỏ nhen, ngu ngốc, và rồi cho một người con trai cũng y thế, và chết đi vô nghĩa, không để lại gì cho thế gian. Điều này cốt để làm gì? Tác giả đặt câu hỏi như vậy, và dường như không đưa ra câu trả lời. Nhưng cả tiểu thuyết của anh ta, tất cả những xúc cảm đồng điệu với cô ấy và sự ghê tởm với những gì đã hủy hoại cô, chính là câu trả lời cho câu hỏi của anh ta. (…) Trong tiểu thuyết tiếp theo, Bel-Ami, câu hỏi không còn là tại sao người đáng kính lại chịu đau khổ, mà là tại sao kẻ không xứng đáng lại được hưởng giàu sang và vinh hiển. Và giàu sang, vinh hiển này là gì, và chúng được thủ đắc như thế nào? Và cũng như trước, câu hỏi này chứa đựng một câu trả lời, đó là sự phủ nhận mọi thứ được đám đông tôn sùng. Nội dung của tiểu thuyết thứ hai này vẫn nghiêm túc, nhưng mối liên hệ đạo đức của tác giả với chủ đề được mô tả đã suy yếu đáng kể, và trong khi ở tiểu thuyết đầu tiên chỉ thi thoảng mới xuất hiện vài vết nhơ của sự thô tục làm hỏng tiểu thuyết, thì ở Bel-Ami, những vết nhơ này loang rộng, và nhiều chương được viết trong sự tục tĩu thuần túy mà tác giả dường như cảm thấy thích thú.
Trong tiểu thuyết tiếp theo, Mont-Oriol, những câu hỏi tại sao và vì mục đích gì mà người phụ nữ đáng yêu phải chịu đau khổ và gã đàn ông man rợ lại thành công và vui vẻ không còn được đặt ra nữa, mà dường như được giả định rằng mọi chuyện phải như vậy, và những yêu cầu đạo đức hầu như tắt bặt; thay vào đó ở đây xuất hiện những mô tả tục tĩu, thô lậu, không cần thiết và không được khơi gợi bởi bất kỳ yêu cầu nghệ thuật nào. Một ví dụ nổi bật về sự xúc phạm nghệ thuật này, do mối quan hệ sai lầm của tác giả với chủ đề, là mô tả chi tiết về vẻ ngoài của nữ chính trong bồn tắm, được phô bày trong cuốn tiểu thuyết. Mô tả này hoàn toàn vô ích, và hoàn toàn không tương quan đến ý nghĩa bên ngoài hay bên trong của tiểu thuyết: những bong bóng bám vào cơ thể hồng hào.
“Thế thì sao?” người đọc hỏi.
“Chỉ vậy thôi,” nhà văn trả lời. “Tôi tả thế, vì tôi thích thế.”
Trong hai tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean và Fort comme la Mort, ta không còn thấy bất kỳ yêu cầu đạo đức nào. Cả hai tiểu thuyết đều được xây dựng trên sự phóng đãng, lừa dối, và xảo trá, những thứ đã đẩy các nhân vật đến những tình huống bi kịch.
Trong tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, tình trạng của các nhân vật là kỳ quái, man rợ và vô đạo nhất, và những nhân vật này không còn đấu tranh với bất cứ điều gì, mà chỉ tìm kiếm lạc thú, của dục vọng, của bản năng, của tình dục, và tác giả dường như hoàn toàn đồng cảm với những nỗ lực của họ. Kết luận duy nhất có thể rút ra từ tiểu thuyết cuối này là hạnh phúc lớn nhất trong đời là giao hợp thể xác, và vì thế, chúng ta phải tận dụng niềm hạnh phúc này một cách khoan khoái nhất.
Còn đáng kinh ngạc hơn trong mối quan hệ phi đạo đức với cuộc sống là điều được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng Yvette. Nội dung của tác phẩm cực kỳ vô đạo này như sau: một cô gái quyến rũ, với tâm hồn thơ ngây, nhưng bị tha hóa bởi những kiểu cách mà cô học được từ môi trường suy đồi của mẹ mình, đã khiến một gã phóng đãng say mê. Hắn yêu cô, nhưng tưởng rằng cô gái chủ tâm nói những lời lẽ gợi tình ngu ngốc mà cô thu lượm trong môi trường của mẹ mình, và lặp lại như một con vẹt, không hiểu gì, nên hắn đồ rằng cô nàng hẳn đã sa đoạ, và bất nhã đề nghị một mối lang chạ. Đề nghị này khiến cô thất đảm và bị xúc phạm (cô yêu hắn), mở mắt cho cô về vị trí của mình và của mẹ, khiến cô đau khổ sâu sắc. Tình huống cảm động – sự xung đột giữa vẻ đẹp của tâm hồn ngây thơ với sự đồi truỵ vô luân của thế giới – được mô tả một cách tuyệt bích, và đáng lẽ nên dừng lại ở đây, nhưng tác giả, không vì bất kỳ nhu cầu ngoại tại hay nội tại nào, tiếp tục câu chuyện và cho người đàn ông này lẻn đến chỗ cô gái vào ban đêm và quyến rũ cô. Trong phần đầu của tiểu thuyết, tác giả rõ ràng đứng về phía cô gái, nhưng ở phần sau thì anh ta đột nhiên chuyển sang ủng hộ gã phóng đãng. Ấn tượng này phá hủy ấn tượng kia, và cả tiểu thuyết tan rã, vỡ vụn, như một ổ bánh chưa được nhào kỹ.
Trong tất cả các tiểu thuyết sau Bel-Ami (tôi không nói đến các truyện ngắn, vốn là công lao và danh tiếng chính yếu của anh ta, – về điều này chúng tôi sẽ nói sau), Maupassant rõ ràng đã đầu hàng cái tư tưởng, không chỉ tồn tại trong giới của anh ta ở Paris, mà giờ đây tồn tại ở khắp nơi trong giới nghệ sĩ, rằng một tác phẩm nghệ thuật không chỉ không cần có ý niệm rõ ràng về điều gì tốt, điều gì xấu, mà ngược lại, nghệ sĩ phải tuyệt đối gạt sang bên mọi hoài nghi đạo đức – rằng đó là một phần công lao của người nghệ sĩ. Theo đó, một nghệ sĩ có thể và phải mô tả những gì có thật, những gì tồn tại, hoặc những gì đẹp, tức là những gì làm hài lòng anh ta, hoặc thậm chí những gì có thể hữu ích như tư liệu cho “khoa học,” nhưng việc bận tâm về điều gì là đạo đức hay phi đạo đức, là phải hay trái thì không phải chuyện của nghệ sĩ.
Tôi nhớ một họa sĩ nổi tiếng từng cho tôi xem bức tranh của ông về một đám rước tôn giáo. Mọi thứ được vẽ rất tinh xảo, nhưng tôi không thấy bất kỳ mối tương quan nào giữa nghệ sĩ với chủ đề của mình.
“Thế ông cho rằng những nghi lễ này là tốt, và nên được thực hiện, có hay không?” tôi hỏi họa sĩ.
Họa sĩ trả lời tôi, với chút giọng điệu ban ơn cho sự ngây thơ của tôi, rằng ông ta không biết và cảm thấy không cần phải biết: việc của ông là khắc hoạ cuộc sống.
“Nhưng ít nhất ông cũng yêu thích điều này chứ?”
“Chuyện này cũng khó nói.”
“Thế ông có khinh miệt những nghi lễ này không?”
“Không yêu mà cũng không ghét,” người nghệ sĩ thời thượng, có học thức trả lời với nụ cười thương hại cho sự ngu độn của tôi, người đã thể hiện cuộc sống mà không hiểu ý nghĩa của nó và không yêu hay ghét các hiện tượng của nó.
Đáng tiếc là Maupassant cũng nghĩ như vậy.
Trong phần giới thiệu cho Pierre et Jean, anh ta nói rằng công chúng bảo nhà văn: “Hãy an ủi tôi, hãy làm tôi vui, làm tôi buồn, làm tôi cảm động, làm tôi mơ màng, làm tôi cười, làm tôi rẩy, làm tôi khóc, làm tôi suy nghĩ. Chỉ riêng vài đầu óc ưu việt yêu cầu nghệ sĩ: hãy làm cho tôi cái gì đẹp, trong hình thức nào phù hợp với bạn nhất, tuỳ theo tạng của bạn.”
Chính để đáp ứng yêu cầu của những đầu óc ưu việt này mà Maupassant đã viết các tiểu thuyết của mình, ngô nghê tưởng rằng cái được coi là đẹp trong giới của anh ta cũng là cái đẹp mà nghệ thuật nên phụng sự.
Trong cùng giới mà Maupassant sinh hoạt, phụ nữ, một người phụ nữ trẻ, đẹp, thường là khỏa thân, và việc giao hợp với cô ta, được coi là cái đẹp mà nghệ thuật phải phục tùng. Quan điểm này không chỉ được hậu thuẫn bởi các đồng nghiệp “nghệ thuật” của Maupassant, như họa sĩ, điêu khắc gia, tiểu thuyết gia và thi sĩ, mà còn bởi các triết gia, những người thầy của thế hệ trẻ.
(…)
Vậy là, trong giới mà Maupassant đã sinh trưởng và được giáo dục, việc khắc hoạ vẻ đẹp phái nữ và tình yêu đã được cân nhắc rất nghiêm túc, như một điều được xác quyết từ lâu bởi những người thông minh và uyên bác nhất, là vấn đề thực sự của nghệ thuật đỉnh cao – le grand art.
Chính tư tưởng này, khủng khiếp vì sự vô vị của nó, mà Maupassant đã phải gánh chịu khi trở thành một nhà văn thời thượng. Và, như dự đoán, trong các tiểu thuyết, lý tưởng sai lệch này đã dẫn Maupassant đến một loạt những sai lầm và các tác phẩm ngày càng yếu kém hơn.
Điều này cho thấy sự khác biệt căn bản giữa các yêu cầu cho tiểu thuyết và truyện ngắn. Tiểu thuyết, ngay cả về mặt vấn đề bề mặt, đặt ra nhiệm vụ là mô tả toàn bộ cuộc đời của một con người hoặc nhiều cuộc đời, và vì thế tiểu thuyết gia phải có một khái niệm rõ ràng và vững chắc về điều gì tốt, điều gì xấu trong cuộc sống, và Maupassant thì thiếu sót điều này; trái lại, theo lý tưởng mà anh ta noi theo, người ta còn cho rằng điều đó là không cần thiết. Nếu anh ta là một nhà văn bất tài như một vài tiểu thuyết gia viết dâm thư , anh ta sẽ bình thản mà mô tả cái xấu như cái tốt, và các tiểu thuyết của anh ta sẽ đủ đầy và thú vị đối với những người chung quan điểm với tác giả. Nhưng Maupassant có tài năng, tức là anh ta nhìn thấy mọi thứ trong hình dạng thực của chúng, và vì thế anh ta vô tình phơi bày sự thật: anh ta vô tình nhìn thấy cái xấu trong những gì anh ta muốn coi là tốt. Vì lý do này, sự đồng cảm của anh ta liên tục dao động trong tất cả các tiểu thuyết của mình, ngoại trừ tiểu thuyết đầu tiên: lúc thì anh ta mô tả cái xấu như cái tốt, lúc thì nhận ra cái xấu là xấu và cái tốt là tốt, và lúc thì cứ nhảy từ cái này sang cái kia. Nhưng điều này phá hủy chính bản chất của mọi ấn tượng nghệ thuật, charpente, nền tảng mà trên đó anh ta đứng vững. Những người không nhạy cảm lắm với nghệ thuật thường tưởng rằng một tác phẩm nghệ thuật cấu thành một thể thống nhất, vì có cùng những nhân vật hành động xuyên suốt, vì mọi thứ được xây dựng trên cùng một cốt truyện, hoặc vì mô tả cuộc đời của cùng một người. Điều này không đúng. Nó chỉ gây cảm tưởng như vậy với kẻ quan sát hời hợt thôi: chất keo kết dính mọi tác phẩm nghệ thuật thành một thể thống nhất và tạo ra ảo giác về sự phản ánh cuộc sống không phải là sự thống nhất của các nhân vật và tình huống, mà là sự thống nhất trong mối quan hệ đạo đức cốt lõi của tác giả với chủ đề của mình. Thực tế, khi chúng ta đọc hoặc chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn mới, câu hỏi căn bản luôn nảy sinh trong lòng chúng ta là: “Này, anh là người như thế nào? Anh khác gì với tất cả những người mà tôi biết, và anh có thể nói gì mới mẻ với tôi về cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc sống của mình?” Dù nghệ sĩ mô tả gì – thánh nhân, kẻ cướp, vua chúa, tôi đòi – chúng ta chỉ đang tìm kiếm và nhìn ngắm tâm hồn của người nghệ sĩ. Nếu đó là một nghệ sĩ quen thuộc, câu hỏi không còn là “anh là ai?” mà là, “Này, anh có thể nói gì mới mẻ với tôi? Anh sẽ rọi sáng cuộc đời tôi từ góc độ mới nào?” Và vì thế, một tác giả không có quan điểm rõ ràng, độc đáo về thế giới, và càng tệ hơn, người không coi điều này là cần thiết, thì không thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Anh ta có thể viết hay, và viết nhiều, nhưng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật nào cả. Đó chính là trường hợp của Maupassant trong các tiểu thuyết của anh ta. Trong hai tiểu thuyết đầu tiên, đặc biệt là Une Vie, ta thấy một mối liên hệ rõ ràng, dứt khoát, độc đáo với cuộc sống, và vì thế ta có một tác phẩm nghệ thuật; nhưng ngay khi anh ta, khuất phục trước tư tưởng thời thượng, quyết định rằng không cần bất kỳ mối liên hệ nào của tác giả với cuộc sống, và bắt đầu viết chỉ để faire quelque chose de beau [tạo ra thứ gì đó đẹp], các tiểu thuyết của anh ta không còn là những tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong Une Vie và Bel-Ami, tác giả biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét, và người đọc đồng thuận với anh ta và tin tưởng anh ta, tin vào những nhân vật và sự kiện được mô tả. Nhưng trong Notre Coeur và Yvette, tác giả không biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét; người đọc cũng không biết. Và vì người đọc không biết, họ không tin vào các sự kiện được mô tả và không đoái hoài đến chúng. Vì thế, ngoại trừ hai tiểu thuyết đầu tiên, hoặc nói đúng ra, chỉ một tiểu thuyết đầu tiên, tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, với tư cách là tiểu thuyết, đều yếu kém; và nếu Maupassant chỉ để lại cho chúng ta các tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ là một minh chứng điển hình cho việc một tài năng xuất chúng có thể tàn lụi ra sao do môi trường sai lầm mà trong đó nó phát triển, và do những tư tưởng nghệ thuật sai lầm được thiết lập bởi những người không yêu nghệ thuật và vì thế không hiểu nó. Nhưng may mắn thay, Maupassant đã viết những truyện ngắn, trong đó anh ta không khuất phục trước tư tưởng lệch lạc mà anh ta đã chấp nhận, và viết, không phải quelque chose de beau [thứ gì đó đẹp], mà là những gì chạm đến và khơi gợi xúc cảm đạo đức của anh ta. Chính trong những truyện ngắn này, không phải tất cả, mà là trong những truyện hay nhất, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành về mặt đạo đức của nhà văn.
Thật sự mà nói, chính ở đây, ở phẩm chất đáng chú ý của mọi tài năng đích thực, miễn là nó đừng tự làm phương hại mình dưới ảnh hưởng của một tư tưởng sai lầm, rằng nó dạy cho người sở hữu nó, dẫn dắt anh ta trên con đường phát triển đạo đức, sẽ khiến anh ta yêu những gì đáng được yêu, và ghét những gì đáng bị ghét. Một nghệ sĩ là nghệ sĩ chính vì anh ta nhìn thấy các đối tượng, không phải như anh ta muốn thấy, mà như bản chất đích thực của chúng. Người mang trong mình tài năng – con người – có thể mắc sai lầm, nhưng tài năng, một khi được nới lỏng, như Maupassant đã làm trong các truyện ngắn của mình, sẽ phô bày và bộc lộ chủ đề, khiến nhà văn yêu nó, nếu nó đáng được yêu, và ghét nó, nếu nó đáng bị ghét. (…) Hiếm có nhà văn chân thành nghĩ rằng tất cả những điều tốt đẹp, toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống nằm ở phụ nữ, ở tình yêu, và mô tả phụ nữ và tình yêu của cô ấy từ mọi góc độ với sức đam mê như vậy, và hiếm có nhà văn nào, với sự minh xác như vậy, từng chỉ ra tất cả những mặt khủng khiếp của cùng một hiện tượng, mà với anh ta dường như là cao cả nhất, mang lại điều tốt đẹp lớn lao nhất cho con người. Càng hiểu sâu hơn về hiện tượng này, nó càng trở nên chân xác; những tấm màn che đậy rơi xuống, và tất cả những gì còn lại là những hậu quả khủng khiếp của nó và thực tại còn khủng khiếp hơn.
Hãy đọc Idiot Son, A Night with the Daughter (L’Ermite), The Sailor and His Sister (Le Port), Field of Olives, La Petit Roque, Miss Harriet, Monsieur Parent, L’Armoire, The Marriage trong Sur l’Eau, và biểu trưng tối hậu của mọi thứ, Un Cas de Divorce.
(…)
Sự trưởng thành đạo đức mãnh liệt của Maupassant, trong suốt văn nghiệp của anh ta, được đánh dấu bằng những dấu tích không thể xóa nhòa trong những truyện ngắn tuyệt vời này và trong cuốn sách hay nhất của anh ta, Sur l’Eau.
Và không chỉ trong việc lật tẩy, sự lật tẩy bất tự giác và vì thế càng mạnh mẽ hơn của đam mê nhục dục, mà chúng ta thấy được sự trưởng thành đạo đức của tác giả; chúng ta cũng thấy điều đó trong tất cả những yêu cầu ngày càng cao hơn mà anh ta đặt ra cho cuộc sống.
Không riêng trong đam mê thể xác mà anh ta thấy được mâu thuẫn nội tại giữa các ước vọng của con người bản năng và con người lý trí, – anh ta thấy điều đó trong toàn bộ cấu trúc của thế giới.
Anh ta thấy rằng thế giới, thế giới vật chất, như nó đang tồn tại, không chỉ không phải là thế giới tốt nhất, mà ngược lại, có thể hoàn toàn khác – ý tưởng này được thể hiện một cách ấn tượng trong Horla – và không đáp ứng được các đòi hỏi của lý trí và tình cảm; anh ta thấy rằng có một thế giới khác, hoặc ít nhất là những ước vọng cho một thế giới như vậy, trong tâm hồn con người.
Anh ta bị dày vò, không chỉ bởi sự phi lý của thế giới vật chất và sự thiếu vắng vẻ đẹp trong đó, mà còn bởi sự thiếu vắng tình yêu, bởi sự chia rẽ của nó. Tôi không biết tiếng kêu tuyệt vọng nào của một con người lầm lạc, ngộ ra sự cô đơn của mình, lại đau lòng hơn lời cầu cứu trong câu chuyện tuyệt vời Solitude.
Hiện tượng khiến Maupassant đau khổ hơn bất kỳ điều gì khác, và anh ta thường xuyên trở lại, là trạng thái cô đơn khốn khổ, trạng thái cô đơn tinh thần của con người, rào cản ngáng giữa người này và người khác, cái rào cản mà, như anh ta nói, thể xác càng gần gũi bao nhiêu thì tinh thần càng đau đớn bấy nhiêu.
Điều gì khiến anh ta đau khổ? Và anh ta muốn gì? Điều gì đạp tan rào cản này, chấm dứt nỗi cô đơn này? Tình yêu, không phải tình yêu với phụ nữ, thứ mà anh ta đã chán ngấy, mà là thứ tình yêu tinh thần, thuần khiết, thiêng liêng. Và đó là điều mà Maupassant đã tìm kiếm; hướng tới vị cứu tinh của cuộc đời, thứ đã được hé lộ rõ ràng từ lâu cho mọi người, anh ta đau đớn kéo lê những xiềng xích mà anh ta cảm thấy đang trói buộc mình.
Anh ta chưa thể gọi tên điều mình đang tìm kiếm, anh ta không muốn chỉ gọi tên nó bằng miệng, vì sợ làm ô uế nơi thánh địa của mình. Nhưng khát vọng chưa được đặt tên của anh ta, được thể hiện qua nỗi kinh hoàng trước cảnh cô đơn, chân thành đến mức lan toả sang chúng ta và cuốn hút chúng ta mạnh mẽ hơn nhiều, rất nhiều các bài giảng về tình yêu, những bài giảng chỉ được thốt ra bằng lời.
Bi kịch cuộc đời Maupassant nằm ở chỗ, sống trong một môi trường khủng khiếp vì sự quái dị và phi đạo đức của nó, anh ta bằng sức mạnh của tài năng, bằng tia sáng đặc biệt bên trong, đã vượt ra khỏi thế giới quan của tầng lớp mình, đã đạt gần đến sự giải phóng, đã hít thở bầu không khí tự do, nhưng, sau khi tiêu hao chút sức tàn trong cuộc đấu tranh này, đã gục ngã mà vẫn không được tự do, vì anh ta không đủ sức để thực hiện nỗ lực sau chót này.
Bi kịch của sự sụp đổ này nằm ở cùng một điều mà nó vẫn tiếp tục xảy đến với phần lớn những người được gọi là con người của thời đại chúng ta.
Con người nói chung chưa bao giờ sống mà không có lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống mà họ đang sống. Ở mọi nơi và mọi thời, đã xuất hiện những con người cấp tiến, giàu thiên tư, những nhà tiên tri, như cách họ được gọi, những người đã diễn giải ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc sống cho con người, và vào mọi thời đại, những người bình thường, những người không đủ sức tự làm sáng tỏ ý nghĩa này, đã noi theo lời giải thích về cuộc sống mà các nhà tiên tri của họ đã hé lộ.
Ý nghĩa này đã được Kitô giáo giải thích một cách đơn giản, rõ ràng, không thể ngờ vực và chan chứa vui mừng cách đây một nghìn tám trăm năm, như được chứng minh bởi cuộc sống của tất cả những người đã chấp nhận ý nghĩa này và đi theo chỉ dẫn cuộc sống phát sinh từ ý nghĩa đó.
Nhưng đã xuất hiện những người diễn giải ý nghĩa này theo cách mà nó thành ra vô nghĩa. Và con người rơi vào thế lưỡng nan – liệu có nên công nhận Kitô giáo, như cách nó được diễn giải bởi Công giáo, Lourdes, Giáo hoàng, giáo điều về sự thụ thai vô nhiễm, v.v., hay sống tiếp, được dẫn dắt bởi những chỉ huấn của Renan và những người tương tự, tức là sống mà không có bất kỳ chỉ dẫn và sự hiểu biết nào về cuộc sống, đầu hàng những dục vọng của họ khi chúng còn sôi sục, và theo những thói quen, khi đam mê đã lắng xuống.
Và con người, những người bình thường, chọn cái này hoặc cái kia, đôi khi cả hai, đầu tiên là phóng đãng, rồi tìm đến Công giáo. Và con người tiếp tục sống như vậy qua nhiều thế hệ, bao bọc bản thân bằng những lý lẽ khác nhau, những lý lẽ không nhằm tìm ra sự thật, mà cốt để che giấu nó. Và những người bình thường, đặc biệt là những người ù lì, thì lại cảm thấy dễ chịu.
Nhưng cũng có những người khác – rất ít và cách biệt nhau – và Maupassant là một trong số họ, những người với đôi mắt của mình nhìn thấy mọi thứ như đúng bản chất của chúng, thấy được ý nghĩa của chúng, thấy cả những mâu thuẫn của cuộc sống, những mâu thuẫn bị che mắt khỏi người đời, và hình dung một cách sống động những mâu thuẫn này sẽ dẫn họ đến đâu, và dự kiến những giải pháp. Họ tìm kiếm chúng ở mọi nơi, ngoại trừ nơi chúng có thể được tìm thấy, trong Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đối với họ dường như đã lỗi thời, ngu ngốc và đáng ghê tởm bởi sự quái dị của nó. Cố gắng trong vô ích để tự mình tìm ra những giải pháp này, họ đi đến kết luận rằng không có giải pháp nào cả, rằng đặc tính của cuộc sống nằm ở việc mang trong mình những mâu thuẫn còn bỏ ngỏ này. Khi đã đạt được giải pháp như vậy, những người này, nếu bản chất họ yếu đuối, thiếu nhiệt tâm, sẽ thoả hiệp với một cuộc sống quẩn quanh như vậy, thậm chí tự hào về tình trạng của mình, coi sự thiếu hiểu biết của mình là một công trạng, một dấu hiệu của văn hoá; nhưng nếu bản chất họ mạnh mẽ, trung thực, và tài năng, như Maupassant, họ không thể chịu đựng nổi và theo cách này hay cách khác cố thoát ra khỏi cuộc sống vô vị ấy.
Giống như những người khát nước trong sa mạc tìm kiếm nước ở mọi nơi, ngoại trừ ở gần những người đứng giữa một dòng suối, sẽ làm ô uế nó và đưa lại bùn sình hôi thối thay vì nước sạch, trong khi nước vẫn tiếp tục chảy ra xa hơn, bên dưới lớp bùn. Maupassant đã ở trong tình trạng đó; anh ta không thể tin, – thậm chí không bao giờ nghĩ rằng chân lý mà anh ta hoài công kiếm tìm đã được phát lộ từ lâu và đang ở rất gần anh ta; anh ta cũng không thể tin rằng một người có thể sống trong một mâu thuẫn mà anh ta cảm thấy mình đang sống.
Cuộc sống, theo những lý thuyết mà anh ta được nuôi dưỡng, những tư tưởng bao quanh anh ta, và được xác minh bởi tất cả những đam mê tuổi trẻ và bản chất mạnh mẽ về tinh thần lẫn thể chất của anh ta, nằm ở sự hưởng thụ, chủ yếu là phụ nữ và tình yêu với cô nàng, và trong sự hưởng thụ kép ấy – trong việc thể hiện tình yêu và khơi gợi tình yêu này ở người khác. Tất cả điều đó sẽ rất tốt, nhưng khi soi kỹ vào những sự hưởng thụ này, chúng ta thấy giữa chúng xuất hiện những hiện tượng hoàn toàn xa lạ và thù địch với tình yêu và vẻ đẹp kia: người phụ nữ vì lý do nào đó trở nên xấu xí, khi mang thai trông đến phát hoảng, sinh đẻ trong sự dơ bẩn, rồi thêm những đứa con khác, những đứa con không mong muốn, rồi những sự lừa dối, tàn nhẫn, rồi những khổ đau tinh thần, rồi đơn giản là tuổi già, và sau cùng là cái chết.
Vậy, vẻ đẹp này có thực sự là vẻ đẹp không? Và rốt cuộc, tất cả để làm gì? Sẽ thật tuyệt nếu có thể chặn đứng cuộc sống. Nhưng nó vẫn tiếp diễn. “Cuộc sống tiếp diễn” nghĩa là sao? Cuộc sống tiếp diễn, nghĩa là – tóc bạc và rụng dần, răng thì móm, xuất hiện nếp nhăn, và miệng có mùi. Ngay cả trước khi mọi sự kết thúc, tất cả trở nên kinh hoàng và gờm tởm: ta nhận ra lớp phấn son bôi trét, mùi mồ hôi, sự hôi hám, sự khả ố. Thứ mà tôi hằng phụng sự đâu rồi? Cái đẹp ở đâu? Mà nó lại là tất cả. Nếu không có nó – thì không có gì cả. Cuộc sống cũng không.
Nhưng chưa hết, không chỉ không có cuộc sống trong những thứ dường như chứa đựng cuộc sống, mà chính ta cũng bắt đầu xa rời nó, trở nên tàn tạ, yếu ớt, mục ruỗng, trong khi những người khác, ngay trước mắt ta, tước đoạt từ ta những niềm vui mà toàn bộ điều tốt đẹp của cuộc sống nằm trong đó. Hơn thế nữa: bắt đầu le lói khả năng của một cuộc sống khác, một điều gì đó khác biệt, một mối liên hệ khác của con người với toàn bộ thế giới, thanh trừ tất cả những sự dối trá kia, điều gì đó không thể bị băng hoại bởi bất cứ thứ gì, tỏ chân lý và đẹp đẽ trường tồn. Nhưng điều đó không thể có – nó chỉ là một cái nhìn tréo ngoe về một ốc đảo, khi chúng ta biết rằng nó không có thật và mọi thứ chỉ độc là cát.
Maupassant đã sống đến khoảnh khắc bi kịch của cuộc đời khi bắt đầu cuộc tranh đấu giữa sự dối trá của cuộc sống xung quanh anh ta và sự thật mà anh ta bắt đầu nhìn thấy. Anh ta đã có những dấu hiệu của sự thai nghén tinh thần.
Chính những đau đớn của sự thai nghén này được thể hiện trong những tác phẩm hay nhất của anh ta, đặc biệt là trong các truyện ngắn.
Nếu số mệnh của anh ta không phải là chết trong cơn sinh nở, mà là được thoát thai, anh ta sẽ mang lại những tác phẩm vĩ đại, giàu ý nghĩa giáo dục, nhưng ngay cả những gì anh ta trao cho chúng ta trong quá trình thoát thai của mình cũng đã là nhiều. Hãy biết ơn người đàn ông mạnh mẽ, trung thực này vì những gì anh ta đã đem đến cho chúng ta.
Ở một làng nhỏ của huyện X., trong một ngôi nhà hai tầng sơn trắng với những ô cửa lợp gỗ im lìm, có một giáo viên hồi hưu – một goá phụ đang yên hưởng tuổi già nhàn tản và phong lưu của mình. Thời trẻ có lẽ bà từng rất đẹp, còn bây giờ tuổi ngoài lục tuần, qua dáng vẻ đạo mạo cùng những lời chào hỏi của láng giềng có thể đoán biết rằng bà rất được thiên hạ vì nể; không ai không biết bà và đều gọi bà một cách thành kính là: bà giáo.
Bà giáo có hai người con trai. Người con cả tên Tuấn – không thể hy vọng gì ở anh chàng này – anh ta từng phục vụ tại ngũ ba năm và dăm tháng trong ngành hoả xa, nhưng tỏ ra cực lực chán ghét công vụ, sau rốt về quê làm thợ đóng gạch. Người em trai tên Tú thì khấm khá hơn, công tác trong ngạch cảnh sát giao thông, thuộc hạng người hách dịch và máu kiếm chác; còn Sương vợ anh ta bán thuốc ở quầy dược phẩm, là một cô gái gầy nhẳng, mắt xếch, cũng thuộc nòi gia giáo và có của, sống cách X. độ một quãng sông. Bộ dạng của cô ta phản chiếu tính nết của cô ta. Cô ta là người căn cơ, tháo vát, bẻm mép và khá ma lanh, và nhìn chung rất tự hào về những điều này.
Từ lâu trong nhà bà giáo đã kiên tâm duy trì một đời sống quy củ, mực thước, do đó bà ghét cay ghét đắng những thứ phương hại đến thanh danh gia đình. Bà coi anh con cả là một nỗi thất vọng, nhưng bà yêu mến con dâu, một người ăn học đàng hoàng, và nhất là anh con thứ, chiến sĩ công an, bộ mặt của gia đình. Vừa được lo lót cho một chức nghiệp, anh này đã bộc lộ năng khiếu phi thường trong việc bòn rút dân đen, biết ăn cánh với đám sĩ quan nhận của đút lót, và thạo chia chác không kém cạnh phường lái buôn. Trong công vụ, anh ta đóng rất tròn vai một gã bù nhìn, biết nhắm mắt làm thinh trước thói nhũng lạm, hơn nữa lại nghiêm cẩn thừa hành các chỉ thị mà cấp trên giao phó, thành thử bước đường công danh của anh ta khá xuôi chèo mát mái. Bà giáo hùn tiền đưa anh ta về công tác tại huyện nhà. Cố nhiên anh ta kiếm bẫm, nhưng phạt tiền đồng hương không khoan nhượng, do đó họ khinh miệt gọi anh ta là “con chó vàng”; tuy vậy bà mẹ lúc nào cũng lấy làm hãnh diện và được dịp khoe mẽ bà lại tấm tắc nói:
“Con trai tôi đấy! Con trai tôi đấy!”
Chứng kiến con trai tấn tới trên đường hoạn lộ, bà giáo hởi lòng hởi dạ lắm. Khi chàng công an đóng lon đại uý thì bà rục rịch lo chuyện xây nhà xây cửa cho hai vợ chồng. Bà không phải nghĩ nhiều vì hồi còn mồ ma ông nhà đã cắt sẵn cho cậu thứ khoanh đất hai trăm mét vuông. Nhưng thửa đất nằm cuối một con dốc, chìm lút trong đám cỏ dại um tùm, muốn xây sân phải phá tường, san vườn, nói chung đủ điều cách rách. Vợ chồng Tú chạy đôn chạy đáo mấy tháng trời, rồi hai tuần trước ngày đào móng bỗng xảy ra một chuyện rầy rà nho nhỏ.
Sương vốn từ lâu đã nhăm nhe miếng đất sát sườn nhà mẹ chồng, cô ta thấy thửa đất đó đắc địa, thâm tâm không tránh khỏi cắc cớ rằng tại sao bà giáo mến chuộng chồng mình là thế, vậy mà lại di cho con trai một thửa đất tối như hũ nút thế này. Tối hôm ấy hai vợ chồng cùng nằm nhà, Sương gối đầu lên tay chồng, ngón tay mân mê thái dương của Tú, hỏi:
“Miếng đất bỏ trống trước nhà là của u hay của ông Tuấn thế anh?”
“Của ông Tuấn,” Tú lè nhè đáp lời vợ.
“U cắt cho ông đấy à?”
“Không, là thầy cắt. Trong di chúc thầy chia đất chia cát cả rồi. Mình là mảnh phía sau, còn mảnh phía trước thầy để riêng cho ông đấy, dành sau này cưới vợ thì ở. Cứ nói thế chứ biết bao giờ mới xây được nhà.”
Sương, vẻ phật ý, thôi không vân vê thái dương chồng nữa.
“Này, sao vậy?”
“À, cái mảnh đất đẹp quá chứ lị!” cô vợ làm giọng nũng nịu, mắt lúng liếng. “Thế ông ấy không nhường mình được à? Thế à… Tiếc quá nhỉ! Hay thử hỏi mua xem sao? Biết đâu ông ấy lại bán.”
Tú lầm lầm không đáp, vân vê cằm ra chiều nghĩ ngợi. Anh ta thừa nhận đó là thửa đất đẹp, tuy kích thước nhỏ hơn nhưng về mặt địa thế thì hoàn hảo, mặt tiền đón gió phía Nam lại hướng ra đường lớn, hứa hẹn một chuyện làm ăn béo bở. Mấy ngày liền anh ta dò la thám thính, hết bàn bạc với mẹ lại thương lượng với anh, và một tuần sau trở lại đứng trước mặt vợ, mặt đỏ như gấc, hậm hực nói:
“Không được. Lão nhất quyết không nhường, gạ bán cũng không. Trả bảy chục nghìn cho một mét vuông cũng không bán. Mà bây giờ ngoài kia chúng nó trả có năm chục thôi.”
“Thế u có nói đỡ không?” cô vợ nối lời.
“Không ăn thua!”
“Thế đấy, anh em nhà anh buồn cười thật!” cô vợ sưng sỉa đáp. “Dâng đến mồm còn không biết đường ăn, mà cái ngữ ông Tuấn thì… Thôi, chả thèm nói nữa! Rõ là phí phạm! Phí phạm!”
Không sờn lòng, hai vợ chồng cùng bà giáo thử thuyết phục một lần chót, nhưng người anh cả vẫn dằn từng tiếng: “Không là không!”
Như một sợi dây căng quá hoá đứt, hai anh em dần đâm mặt lưng mày vực với nhau. Bà giáo rẻ rúng con cả, em dâu dè bỉu anh chồng, em ruột hầm hè anh trai. Vợ giống tính chồng, ngày ngày Tú và Sương chằm chặp trông ra bãi đất bỏ không, cảm tưởng mình mới xứng đáng là chủ nhân của nó và, đau đớn như thể nó bị tước đoạt khỏi mình. Riêng Tuấn tính không chấp nhặt nên chẳng chốc đã quên khuấy đi: anh ta còn bận bịu những công chuyện riêng.
Nửa năm sau vợ chồng Tú dọn ra nhà mới. Đó là một căn nhà vườn sơn trắng xây theo phong cách làm đỏm của đám trọc phú, có khoảng hiên rộng nhô ra ở mỗi tầng, sân cũng rộng, lát gạch đỏ, bày biện nhiều thứ cây cảnh đựng trong các chậu đất nung. Hai cột trụ án ngữ trước cửa ra vào trông oai vệ như hai gã lính gác khổng lồ, lạc quẻ với bờ giậu thấp tè cùng khung cổng mạ nhôm màu bạc cũng thấp y chang. Dân làng khi tạt ngang hiên nhà thường nán lại để chiêm ngưỡng thứ kiến trúc cầu kỳ khác lạ ấy, nhưng toán thợ nề lại bình phẩm về nó theo một khía cạnh ít chuyên môn hơn nhiều.
“Đấy, nhà của cán bộ đấy!” họ vừa huých sườn nhau vừa nói giọng cay nghiệt. “Oai như cóc, nhưng tiền công thì mặc cả từng hào! Thằng kia, lễ tân gia nó có mời mày không?”
“Em á? Em sao mà được mời, hì hì,” một gã thợ phụ vữa trẻ tuổi ngơ ngác nói.
“Thì tao từng xây nhà cả cho thầy u nó mà nó cũng có mời đâu.”
2.
Lưng dài vai rộng, với giọng nói sang sảng và tiếng cười hồn hậu dễ lan, Tuấn rất được lòng ông quản đốc vốn là chú ruột của mình. Và cả toán thợ đối đãi với anh cũng có phần nể nả, vì anh là, như người ta nói, một bàn tay vàng. Người anh như đúc từ thép, sức vóc khó ai bì kịp, trong công việc tỏ ra hết sức mẫn cán, có thể đội nắng dầm mưa mà đúc cả nghìn viên gạch. Anh không tiêu hoang, không nợ nần và không dính vào một thói sa đoạ nào (kể cả món chọi gà mà các cậu thanh niên ở X. rất khoái).
Tuy đường nét có hơi thô kệch, diện mạo Tuấn vẫn vào dạng ưa nhìn mà ở quê họ gọi là điển trai. Anh cao ngót mét chín, da ngăm, vai rộng, đậm người, lông mày đen, rậm. Ở thần thái, cử chỉ, dáng dấp của anh một cái gì ngang tàng, một ma lực hấp dẫn những người đàn bà, như đường thu hút kiến. Tuấn biết điều đó, và bản thân càng ra sức tận dụng những ưu thế của mình. Gần như đi đến đâu anh reo rắc những chuyện tình ái lăng nhăng đến đấy, nhưng kỳ lạ là dư luận trong làng vẫn coi anh như một đám bở. Họ quý mến anh vì cái sức vóc khoẻ mạnh, bản tính hay lam hay làm; vì anh xuất thân gia giáo, tác phong đường hoàng, gặp người làng ai cũng niềm nở đón chào. Nhưng hơn cả, anh chinh phục họ hoàn toàn vì hoạ hoằn mới thấy anh chối ai điều gì, từ gieo mạ, gặt lúa, đắp đê, xây cống, anh hăng hái làm tất tật; riêng tài nghệ gói bánh chưng của anh thì xuất sắc, anh gói không cần khuôn mà bánh vẫn vuông chằn chặn, như một vết tích sót lại của thời quân ngũ. Nói chung, anh rất năng nổ trong công tác giúp đỡ bà con láng giềng. Do đó, họ sẵn lòng xuê xoa cái thói bồ bịch bừa bãi của anh, và về điều này quan điểm của họ giống như câu nói quen thuộc mà ai cũng thuộc nằm lòng: “Trăng đến rằm trăng tròn.”
Những chuyện lang chạ của Tuấn sớm muộn đều đến tai bà giáo. Thực tâm bà sẵn lòng thể tất cho bản tính phong tình của con trai đấy thôi, nhưng bà bất mãn kinh khủng với cái hướng đi mà anh vạch ra cho cuộc đời mình. Bà có cảm tưởng rằng vì anh từ giã binh nghiệp để làm một công viện chân tay thấp hèn, anh đã thẳng tay bôi tro trát chấu lên mặt bà và cả cái gia đình học thức này. Một ngày, bà thổ lộ nỗi lòng trên với ông Sô, viên quản đốc, người từ khi về làng nhận việc rất năng lui tới nhà bà chị già. Thoạt đầu bà than thở chỉ cho có chuyện, nhưng được hưởng ứng nhiệt tình quá nên bà cũng lây cái cung cách xuề xoà của ông em, và dần dần bà bộp chộp tuôn ra mọi nỗi trăn trở trong lòng.
Ông quản đốc im lặng lắng nghe, từng nếp nhăn hằn rõ trên vầng trán mai mái lấm tấm mồ hôi, mũ cối úp vào đầu gối, tay vân vê khoảng giữa cặp lông mày chổi xể.
“Cô giáo này (ông ta biết chị mình thích được gọi như thế),” viên quản đốc nói giọng khàn đặc của hạng người mua thuốc lá theo dây, “khả năng phải cưới vợ cho nó đi thôi. Như thế mới tu tâm dưỡng tính được.”
“Ừ, tôi cũng đã tính đến nước đó,” bà Xoan ậm ừ đáp. “Nhưng chú bảo cưới ai?”
Hẳn quản đốc đã thì thầm một điều gì rất tếu vì thấy cả hai người cùng cười khùng khục. Đoạn bà giáo thừa dịp thăm dò, hỏi:
“Thế dạo này trên xưởng nó tòm tem con nào?”
“À,” ông em lúng búng đáp, “cái đấy thì tôi cũng chẳng biết. Tôi hơi đâu mà ngồi thám thính mấy chuyện trai gái cho chị được. Tôi khuyên là khuyên chị thế, còn quyết định thế nào là ở phần chị.”
“Thế mà chú nói cứ như đinh đóng cột!”
Sau khi quản đốc cáo lui, bà Xoan khởi sự suy tính. Bấy nay mấy mụ mối đã xun xoe mách nước cho bà, nhưng thực tình bà chẳng ưng bụng cô nào. Bà những muốn một nàng dâu nhu mì, căn cơ, biết kính trên nhường dưới, biết lo toan vun vén cho nhà chồng, và đặc biệt phải có học thức, không thì cũng phải mồm mép tí chút để bù lại. Cánh cổng xoay trên bản lề đánh két một tiếng cắt ngang dòng suy tưởng miên man của bà.
Tuấn dựng thuổng vào tường, lảo đảo từ ngoài hiên bước lại phòng ăn, áo cộc vén cao sát nách, mặt đỏ nhừ như quả cà chua, mái tóc rễ tre loà xoà chấm mi. Bà Xoan ngừng nhai, liếc nhìn bộ dạng bầy hầy của con trai và chẹp miệng bất mãn. Thoạt đầu hai mẹ con ăn trong thinh lặng, rồi bà giáo sực nhớ ra cao kiến của ông quản đốc; bà bèn buông đũa, nhìn con trai chòng chọc như thể đang lựa lời.
“Xem kìa, ngày nào cũng bia với bọt. Lại say rồi phải không?” cuối cùng bà nói.
“Tôi có uống bằng tiền của u đâu mà lo,” Tuấn lạnh lùng đáp.
“Cốt là ấm vào cái thân cậu,” bà giáo thở dài nói. “Cậu tự nhìn lại mình đi, xem còn ra thể thống gì nữa không? Em trai thì…”
“Thằng Tú cũng chỉ được cái mẽ ngoài.”
“Thế mà giờ nó lên làm cán bộ, làm tôi nở mày nở mặt, rồi nhà cửa nó cũng xây xong,” bà giáo rít giọng. “Thầy cậu cứ chiều cậu quen thói, giờ vạ vật ra không làm nên trò trống gì.”
“Trời đánh tránh miếng ăn!” Tuấn đập phắt đôi đũa xuống bàn và quát lớn. Anh không lạ gì cái thói mào đầu lan man của mẹ, nên anh đế thêm:
“Có việc gì u cứ nói thẳng cho.”
“Thôi,” bà Xoan đổi giọng thân tình sau một thoáng lựa lời, và quyết định đổi luôn cách xưng hô. “Chuyện thế này, u tính cưới vợ cho mày. Thế nào, có thích cưới vợ không?”
“Tôi vừa gặp chú Hùng trên đường, chú cũng lảm nhảm y chang u,” Tuấn nói chớt nhả. “Cưới cũng được thôi, thú thực tôi cũng đang muốn thưa chuyện với u đây.”
“Thế mày nhắm ai?”
“Khỏi phải giấu u, tôi nhắm con bé Thương.”
“Thương con nhà bà Tuất?”
Tuấn gật đầu. Bà Xoan đứng phắt dậy, mắt trố tròn, hai bàn tay bấu lấy thành bàn cho khỏi ngã.
“Sao mày vẫn qua lại với cái ngữ ấy?” bà quát to. “Mày không biết thiên hạ họ đồn gì hay sao? Hay mày giả đui giả điếc?”
“Toàn chuyện ba láp,” Tuấn khoát tay bác lại.
“Ôi trời, mày dại như vích ấy! Chưa kể nhà nó nghèo, nghèo kiết, nghèo nhất cái đất Thao Sơn. Không… không thể được… ai cũng được trừ cái ngữ ấy ra. Thôi thôi, mày chơi bời tán tỉnh nó ra sao thì ra, nhất quyết không được cưới nó làm vợ. Cái này tao cấm tiệt đấy!”
Tuấn trả lời sau một thoáng im lặng, giọng khô khốc:
“Thế nếu không cưới không được thì sao?”
Một bầu không khí ngột ngạt ngự trị gian phòng. Bà giáo giương mắt trân trân nhìn con trai, ngờ ngợ ngộ ra vấn đề, cảm giác ngực như bị đè nặng bởi một tảng đá; quá xúc động, bà hổn hển mãi mới thốt lên nổi:
“Mày làm nó có chửa rồi?”
Anh con trai chỉ nhún vai và đứng dậy rời đi.
3.
Thao Sơn cách X. mười hai cây về hướng Bắc, cứ men theo đường ray, lấy ống khói của nhà máy nhiệt điện làm đích là sẽ tới. Vùng phụ cận khu xí nghiệp rất giàu, nhưng Thao Sơn là vùng giáp ranh, dân cư phần lớn là cánh thợ nề, thợ sơn, thợ ốp gạch. Đó là một làng nghèo, nghèo nhất cả huyện, và nhà Thương thuộc hạng cùng đinh trong cái xó ấy. Cô lớn lên mà không biết mặt cha, vốn là một hạ sĩ quèn người gốc Hà Tây, dạo xảy ra chiến tranh biên giới từng tới đồn trú vùng này – cô là hệ luỵ của một cuộc chung chạ dân quân mà giữa thời buổi loạn lạc diễn ra nhan nhản.
Sau khi bà mẹ qua đời, Thương bấy giờ sáu tuổi được cưu mang bởi người bá ruột, một goá phụ khắc khổ, ốm o. Bà dạy con bé chăm lợn, cho nó đi học trường làng tử tế như ai. Bà nuôi hai miệng ăn bằng đồng trợ cấp liệt sĩ còm cõi của ông chồng quá cố, rồi một năm sau bà cũng nối gót ông. Bốn anh chị em nhà Thương họp lại, cãi vã, đùn đẩy, sau rốt bà chị cả miễn cưỡng đón em út về ở cùng vợ chồng mình. Bà này tính tình thờ ơ nên thả rông cho nó thích làm gì thì làm, và chưa đầy năm bà ép nó thôi học để tự kiếm ăn. Thương bắt đầu đi làm như ai, tức là đi gom sắt vụn. Ngày ngày con bé còi cọc thất thểu trong chiếc áo vá chằng vá đụp, kéo lệt sệt cái bao bố rách mướp, sục sạo khắp các ngõ, hẻm, bãi thải, công xưởng để nhặt nhạnh sắt vụn, vỏ chai, rác rến, và hoạ may là những con búp bê mất tay cụt đầu – điều này làm nó vui hơn cả. Thời gian rảnh, nó ngồi trông đứa cháu trai lên ba của vợ chồng chị.
Vài năm qua đi. Mười hai tuổi, trong vỏn vẹn vài tháng Thương đã ra dáng đàn bà, với bộ ngực ngồn ngộn, đùi vế chắc lẳn, thịt da mơn mởn như quả đào chín, và điệu bộ ngô nghê chỉ càng tăng thêm dáng vẻ gợi tình. Ông anh rể trong một dịp say quắc cần câu, hai mắt bơi trong đầu, mới nhìn nhầm em gái thành vợ mình (sau này ông ta thanh minh thế), quên hết cả luân thường đạo lý mà vồ tới hôn lấy hôn để. Một tháng sau mọi chuyện vỡ lở, trong nhà đánh cãi chửi nhau om sòm, và cuối cùng bà chị, vì ghen tuông, bèn tống khứ đứa em gái côi cút (hiển nhiên bà đã tha thứ cho chồng và bà chỉ có thể ruồng bỏ những thứ bà có thể ruồng bỏ) lên một chuyến xe thùng, gửi thẳng xuống Hà Nội làm con ở. Cuộc sống ở thủ đô chẳng khoan nhượng với cô gái khốn khổ hơn được bao; Thương được một lão bán thịt chó nhận làm ô-sin, rồi lại bị chính lão gạ gẫm và xâm hại dẫn tới mang bầu. Bước lầm lỡ đầu tiên không dễ gì gột rửa, và cái tiếng xấu đeo đẳng cô gái về tận huyện nhỏ. Thời gian đầu, không còn biết nhét em gái vào đâu, bà chị đành dẫn Thương tới phụ việc ở xưởng may cùng mình. Cô gái trẻ cũng thêu thùa, cũng vá vít áo quần, bấm đai lưng như ai; chưa đầy tháng thì chính quyền đương nhiệm khởi động rà soát lao động dưới tuổi, cuối cùng bà chị tống quách cô em ra xưởng gạch.
Lúc đầu mới gặp Tuấn, Thương đã phát hoảng khi trông thấy thân hình lực lưỡng của anh, có phải ra cầm cuốc đưa xẻng thì cô cũng nhích ra xa hai tầm tay với, trong đầu chỉ nơm nớp lo sợ hễ anh ta bắt chuyện thì không biết phải tiếp lời thế nào. Còn Tuấn ban đầu không có gì quan tâm đặc biệt đến cô, nhưng dần dà bắt đầu tươi cười mỗi khi hai người chạm mặt, rồi sau độ một tháng thì chú ý đến cô hơn, và cuối cùng, đến mắt cũng không rời. Về phần mình, Thương biết tỏng anh ta chỉ ve vãn nhằm thò tay vào quần mình, và ra sức cự nự mọi nỗ lực mồi chài của anh ta. Nhưng một lần, khi cô đang loay hoay mở nắp một chiếc bi đông, anh ta bỗng giật phắt lấy, tu nước ừng ực rồi dúi trả vào tay cô, vẻ thản nhiên như không, nhoẻn miệng cười đầy tình ý. Chẳng hiểu sao lúc ấy cô bỗng đớ ra như phỗng rồi bật cười, khoe hàm răng trắng đều và đôi mắt sáng rực như trăng đêm rằm. Từ đó trở đi, Tuấn không để cô yên nữa. Trên xưởng anh ta làm đỡ hết phần cô, hễ ngơi tay lại cà rà sát cạnh như hình với bóng. Nhiều lần anh ta trực sẵn ở đường ray, mũ cối áp đùi, huýt sáo vẩn vơ như một gã chăn bò; trông thấy cô, anh ta đâm ra xun xoe tựa cún trông thấy chủ, còn cô gái khốn khổ không biết ứng đối thế nào, không biết từ khước ra sao, chỉ lặng lặng rảo bước thật nhanh. Anh ta lẽo đẽo theo sau, hễ cô ngoặt là anh ta ngoặt theo, quanh đâu quẩn đấy, thi thoảng lại dấn lên ngang hàng để buông lời tình tứ.
Sau một tháng thì cả xưởng gạch đã biết hết về chiến dịch tán tỉnh của anh chàng trai lơ; bao nhiêu bông đùa, bao nhiêu trêu chọc cứ thế chĩa thẳng vào Thương. Vốn không lạ gì bản tính phóng đãng của Tuấn, họ chẳng ngại bỡn cợt cô gái ngay trước mặt anh – một sự khinh suất đến thế! Một lần cả toán thợ đang ngồi ăn trưa, một tên học việc trẻ tuổi tính tình cũng khá bông lơn, chọc ghẹo cô gái khốn khổ tới mức mặt cô đỏ lựng, tưởng phát khóc vì ấm ức. Tức thì Tuấn bật dậy trên đôi chân vững chãi như gắn lò xo, lia phắt chiếc đĩa nhắm thẳng mặt gã kia. Gã nhanh nhẹn né được, chiếc đĩa đập vào tường vỡ tan tành. Tất cả im phăng phắc.
“Thằng chó, nếu mày còn nói năng luyên thuyên,” Tuấn gầm lên, “mỗi lần tao sẽ vặn của mày một cái răng, riêng cái cuối tao sẽ đấm cho nó phập sâu vào cuống họng! Mày rõ chưa? Địt mẹ nhà mày nữa!”
Toán thợ xúm xít đẩy Tuấn ra ngoài, anh ta chửi đổng một hồi rồi cắp mũ bỏ đi. Ngay khi anh bước ngang ngưỡng cửa, lão thợ cả trước nay chỉ biết chuyện mình cũng phải lẩm bẩm:
“Dại thế chứ lại! Chọc ai không chọc lại chọc đúng tổ ong bầu!”
Cả chiều hôm ấy Tuấn lặn mất tăm; ông quản đốc vừa đi công tác về chứng kiến xưởng gạch đình trệ, chưa rõ đầu đuôi cơ sự nên hết sức gắt gỏng. Ông cho gọi lão thợ cả, lão cung cúc chạy tới và thật thà thuật lại toàn bộ câu chuyện. Quản đốc đang nằm vắt vẻo trên võng, mũ bê rê trùm kín mặt, nghe xong sự tình bỗng ngồi phắt dậy, khoái chí vỗ đùi cười ha hả. Đoạn ông ho húng hắng vài hơi, cho gọi tên học việc kia đến và trách mắng một thôi một hồi cái hành vi dại dột của gã. Ông đe doạ sẽ tống cổ gã, nhưng trông vẻ khúm núm của gã rồi ông cũng nguôi.
“Thế mày còn không xin lỗi nó à?” cuối cùng ông nói giọng kẻ cả. “Chắc nó nằm ở nhà đấy, đi mà giải quyết với nhau.”
Lời khuyến nghị tức tốc được thi hành. Sáng hôm sau Tuấn trở lại, mặt hầm hầm không thèm bắt chuyện với ai – mọi chuyện thế là ngã ngũ, chẳng ma nào dại mà chơi với lửa nữa. Suốt một thời gian cả xưởng kiên quyết tránh mắc mớ tới cặp đôi kia, rằng dù muốn hay không muốn, Thương vẫn luôn nằm dưới sự bảo trợ của Tuấn, mà Tuấn lại được lão quản đốc chống lưng. Còn Thương sau sự việc thì như cá mắc câu, đâm cảm mến vị cứu tinh của mình, lòng dạ liêu xiêu, cũng bắt đầu cười đùa ngả ngớn, rồi hẹn hò, rồi ưng thuận trao thân.
Một tháng rưỡi qua. Cặp đôi vẫn qua lại thường xuyên. Một buổi chiều Thương không đi làm, Tuấn vừa tan ca ở xưởng gạch về, chiếc khăn màu đỏ ướt rượt vắt thõng trên vai, đủng đỉnh bước một xuống dưới chân đồi; đi trước anh có hai người thợ khác, vai cũng vắt khăn và đội mũ cụ hồ vành rộng màu xanh da lính. Bước tới khúc quanh, bỗng một người trong bọn khựng lại, bá vai Tuấn, tay trỏ xuống gốc cây sung toả rợp phía dưới chân đồi. Anh nheo mắt và nhận ra người yêu đang đứng khép nép trông về phía mình, thoáng chột dạ. Xuống tới nơi, hai người thợ biết ý bèn lảng đi thẳng. Còn lại một mình, Thương tiến gần Tuấn, giương đôi mắt đỏ hoe dáo dác ngó quanh. Cô bận bộ đồ lanh mặc ở nhà, vẻ luộm thuộm, tóc xổ tung, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Mặc Tuấn cực lực gặng hỏi, cô vẫn lần khần, đầu cúi gằm.
“Em… em có thai rồi!” cuối cùng cô nói.
Tuấn sững sờ như vừa ăn một đòn sau gáy.
“Kìa anh nói gì đi, em sợ quá! Em không ngủ với ai ngoài anh cả, cái này em thề! Nếu anh không nhận thì… anh cho em tiền… rồi em sẽ tự xử lý…”
Tức thì Tuấn nhìn chằm chặp vào mắt người tình như muốn đọc từng ý nghĩ, mặt trơ như đá.
“Xử lý cái gì?” anh ta gầm lên, mặt đỏ như lửa.
“Em sẽ.. bỏ…”
“Câm ngay! Con tao sống hay chết là quyền của tao!”
“Có phải lỗi tại em đâu mà,” người đàn bà rên lên một tiếng đầy ai oán, quỳ sụp xuống vạt cỏ, vùi mặt vào tay tấm tức khóc…
4.
Vác bụng chửa về làm dâu, Thương bị cả gia đình nhà chồng khinh ra mặt. Mẹ chồng, em chồng và đặc biệt là người em dâu không những không thích chạm mặt cô, mà nếu không thật cần thiết thì họ cũng chẳng buồn đếm xỉa tới cô nữa. Những ngày ở cữ trôi qua đơn điệu, chán chường. Buổi sáng, nhân viên bưu điện đến cùng giờ Tuấn vác thuổng đi làm; bà Xoan đeo cặp kính lão, nghển cổ đọc từng cột báo chi chít trước hiên nhà, sau đó bà rảo bộ ra chùa, mình bận bộ đồ lam màu xanh xám, đầu đội nón lá, gặp hàng xóm thì vươn cổ như rắn ngóc đầu khỏi vựa lúa non, trưng ra nụ cười hoà nhã niềm nở. Nhưng trước mặt các bạn cao niên, bà than thở luôn mồm về nàng dâu mới về còn đần độn, cung cách đặc sệt con nhà bần nông. Ban đầu các bà bạn vì tế nhị cũng hùa theo chê trách, nhưng lâu dần hoá nhàm, họ đành ngán ngẩm chịu đựng màn than van vô tận của cô giáo già.
“Không bằng một góc con dâu nhà người ta!” bà giáo ca cẩm. “Rồi sắp tới đẻ đái lại khổ cái thân già này thôi!”
Thế rồi Thương hạ sinh một đứa con trai ngay trước Tết âm, bà giáo lại vui như mở cờ trong bụng. Bà đích thân xuống uỷ ban cùng Tuấn làm giấy khai sinh, và đặt cho thằng cháu đích tôn một cái tên rất kêu: Gia Bảo; bản thân bà cũng cật lực coi sóc cháu nhỏ. Bất chấp sự bao bọc chặt chẽ của cả gia đình, thằng bé vẫn còi cọc, da vàng như nghệ và trông chẳng lanh lợi tẹo nào. Thấy cháu quặt quẹo bà giáo lấy làm buồn phiền lắm… Riêng Thương càng vì thế mà yêu con hơn, yêu đến phát cuồng. Quả thực kiếm khắp làng cũng không thấy ai yêu con như cô ta. Cô cáu bẳn khi mẹ chồng giành cu cậu ra khỏi mình, cô lườm nguýt khi họ hàng tới thăm nắn nắn ngấn tay ngấn chân của thằng bé, còn ai đòi thơm má nó thì cô đến là thất đảm… Tóm lại, cô luôn ghen bóng ghen gió dù chính cô cũng không rõ nguyên cớ tại sao.
Bây giờ thì trong nhà bắt đầu diễn ra một trận sống mái giữa mẹ chồng và nàng dâu về cách chăm bẵm con mọn. Những cuộc cãi cọ phần nhiều khởi nguồn từ bà mẹ chồng. Vốn rảnh rang nên bà cật lực bới bèo ra bọ và thường thường bà lên giọng hạch sách vào giờ ăn tối. Khi thì bà nhận xét rằng bát đĩa rửa chưa sạch, khi thì bữa ăn không đủ chất, khi thì trách móc con trai chống cùi tay lên đùi lúc ăn, khi thì bà than thở cháu trai quặt quẹo, nàng dâu ít sữa, chăm chút không mát tay. Và bà quy tội cho cô về tất tật những chuyện này. Thanh danh bị uế tạp đã đành, trật tự cố hữu cũng bị đảo lộn vì chị chàng đến là đuểnh đoảng, do đó bà đâm tức bực, và tự giao cho mình nhiệm vụ phải càng riết róng canh chừng, xét nét cô ta từng li từng tí… Vốn quen nói ngoa nên đôi khi bà mạt sát con dâu bằng những lời lẽ không được xứng danh nhà giáo cho lắm. Thoạt đầu Thương ấm ức và đem chuyện phàn nàn với chồng, nhưng lần nào anh cũng đấu dịu theo hướng chủ hoà, đến nỗi dần dà cô hiểu rằng anh sẽ chẳng thể giúp được gì cô, cho nên cô thôi không mách nữa, mà chỉ lẳng lặng nghiền ngẫm cảnh ngộ bi đát của mình. Và càng thấm thía cảnh ngộ của mình bao nhiêu, cô càng căm ghét mẹ chồng bấy nhiêu. Cô bắt đầu mong bà chết đi, nhưng phần vì sợ phải tội, phần vì nhận thấy viễn cảnh khó lòng xảy ra, cô càng não nề hơn và kết luận rằng thảm trạng của mình là vô phương cứu chữa. Cô coi mình là một kẻ tối bất hạnh, cô oán giận, giấu giếm niềm oán giận đó, và lòng hiềm oán ngấm ngầm này của cô càng đơm thêm sự đay nghiến của bà mẹ chồng.
Tuy cảm biết được mối hiềm khích giữa mẹ chồng nàng dâu và bị lương tâm thôi thúc phải đứng về phía vợ, những lời đàm tiếu về quá khứ bất hảo của Thương đã phần nào ảnh hưởng đến Tuấn. Giữa cảnh vợ bìu con díu, anh bỗng đánh bạn với ma men và thường mò về trong tình trạng say bí tỉ. Khi tỉnh táo anh ra sức bao bọc vợ bao nhiêu, thì nốc rượu vào anh càng thẳng tay đánh đập vợ bấy nhiêu. Có cảm tưởng anh ta cho rằng vì mình là chồng, là người cưu mang cô nàng khốn khổ, hơn nữa còn phải ăn lại đồ thừa của kẻ khác, do đó vợ phải chịu ơn anh và anh có đặc quyền được đối xử với cô ra sao thì ra; những lúc ấy mặt anh đỏ phực, mắt trợn ngược, cúc ngực mở phanh, xắn tay áo đến tận khuỷu, anh vớ được cái gì dùng cái nấy, khi thì cán chổi, khi thì cần câu, không kiếm được gì thì dùng tay vả đôm đốp. Vừa đánh anh vừa rủa: “Con đĩ, con đĩ, mày ngủ với bao nhiêu thằng rồi!”, và liên tục doạ dẫm sẽ quăng vợ xuống giếng. Dạo đầu Thương gắng gượng chịu đựng những trận đòn tới tấp vô nguyên cớ ấy, nhưng lâu dần cô bắt đầu phản kháng, cũng đổi cách xưng hô và quay lại nhục mạ chồng, và xét về tính khí cùng mức độ sát thương của lời nói thì hai bên cũng một chín một mười, không ai chịu thua kém ai. Rồi cũng chính hai con người trái nết ấy, chỉ một lát sau, lại sà vào vòng tay nhau và ân ái cuồng nhiệt tới khi mệt lả. Vai kề vai, chồng ra sức dỗ dành và thề thốt sẽ không tái phạm, vợ cũng nhắm mắt đưa chân, nhưng hễ có cơ hội là họ lại đánh đập, chửi bới, không nề hà mà quẳng vào nhau những tính từ miệt thị nhất.
Chuyện cứ dằng dai như thế suốt ba tháng trời. Một buổi trưa, Thương trở về sau khi đem cặp lồng lên xưởng gạch cho chồng. Mệt phờ vì phải cuốc bộ, cô vừa bước vào gian khách thì bắt gặp bà Xoan đang lén cho thằng cu bú sữa từ một túi trữ (bà xin từ hàng xóm, nhà này cũng vừa có sản phụ mới sinh). Lúc ấy cô cảm thấy máu trong người như sôi lên, giận đến mức quên hết cả nhún nhường lễ độ; cô hùng hổ tiến tới, dậm chân thình thịch, buông xõng một câu đầy xấc xược:
“Sao u phải đi xin sữa?”
Bà già cố tình làm thinh, rung rung đùi, bàn tay vẫn thong thả đưa lên đưa xuống bịch sữa. Trông thằng bé mút chòm chọp cái của vay mượn ấy, Thương điên tiết giật phắt ra, khiến sữa vung vẩy khắp sàn, dây cả lên mình mẹ chồng; rồi cô khựng lại như để lấy hơi và rống lên như loài thú dữ:
“Sao phải thế? Hả?”
Tiếng khóc oang oang của thằng bé vang dội khắp nhà. Bà giáo cơ hồ thất kinh vì những lời lẽ hết sức táo tợn của nàng dâu: trước nay cô ả vẫn luôn phục tòng mọi ý chí của bà. Môi bà tím ngắt, hai mắt trợn ngược lên, bà rống lên bằng cái giọng chát chúa của mình:
“Tiên sư con này láo toét!”
“Bà đưa cháu đây!” Thương nói như ra lệnh, giành lấy thằng cu từ tay mẹ chồng rồi chạy biến lên lầu…
Chập tối Tuấn trở về. Từ trên gác Thương cũng nghe rõ mồn một cái giọng ngoa ngoắt của mẹ chồng đang mách chuyện với anh con trai. Rồi cô nghe tiếng bước chân như tiếng búa nện của chồng khi anh leo cầu thang, càng ngày càng gần, và im bặt. Anh đứng chắn ngang ngưỡng cửa, cô ngồi ngoan ngoãn cạnh mép giường, vẻ rúm ró, cam chịu tựa hồ con chó sắp bị chủ đánh phạt. Tuấn nhìn quanh quất khắp phòng, thấy con trai đang nằm trong nôi, rồi anh mắm môi, trừng trừng nhìn vợ, trông gương mặt đỏ dừ của anh cũng đoán biết được anh đang trải qua một sự tranh đấu nội tâm dữ dội thế nào.
“Hay ho nhỉ?” anh buông độc một câu rồi bỏ ra sân thượng, châm thuốc.
Lát sau anh trở vào, nét mặt cơ hồ đã dịu vợi đi. Những nếp nhăn trên trán chùng xuống. Anh đằng hắng vài hơi rồi bắt đầu bài giảng muôn thưở của mình về phép tắc, về phận làm dâu, về thói kính trên nhường dưới… Cứ theo anh nói, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy, bất kể chuyện gì cũng thế thôi, rằng mẹ chồng nàng dâu khục khặc với nhau là chuyện thường tình, rằng những lúc cần thiết thì anh đây vẫn có thể phân bua phải trái ra trò, và thi thoảng anh còn gằn giọng tỏ ý rằng vợ hãy biết điều vì anh mà nóng máu lên thì không xong đâu. Còn đối với Thương, tất cả những lời lẽ sáo rỗng ấy chỉ quy về một câu hỏi duy nhất: bao giờ thì kết thúc những điều này? Nhưng Tuấn dường như không đoán được ý nguyện của cô, anh vẫn nói sa sả và bởi vợ cứ im ỉm như thóc, anh bực quá mới vả cô một cái. Rồi một cái, một cái nữa. Lời qua tiếng lại, như thể tăng xông, Tuấn nhảy bổ lên giường, một tay quặp chặt cổ tay vợ, tay còn lại vả vợ chan chát như khua chèo. Thương dùng dằng giẫy ra, nhưng dưới cái thân hình hộ pháp kia, cô chỉ còn biết khum tay che mặt, cam tâm hứng chịu trận đòn trút xuống như mưa.
“Sau tao nói thì phải trả lời, nhớ chửa?” lát sau Tuấn nói với vợ khi đã thoả thuê.
“Mày cứ đánh tiếp đi, đánh mạnh vào!” Thương ngồi rúm ró bên thành giường, vừa lau máu trên môi vừa trâng tráo khích bác. “Mày chỉ được có thế!”
“Mày nói lại xem nào!”
“Thằng khốn nạn! Mày cứ hứa, hứa mãi, rồi xem mày làm được cái gì! Mày chỉ biết đánh tao thôi!”
Nói tới đây Thương lăn đùng ra khóc rũ rượi. Tuấn toan vào thế, không hay để ý đứa bé bị tiếng động làm cho tỉnh giấc, nãy giờ nó la khóc vô cùng dữ dội. Khó tin nổi một cái cuống họng nhỏ nhắn có thể phát ra âm thanh chói tai đến thế. Thương chạy vội về phía chiếc nôi và ôm chặt thằng bé vào mình, nhảy phắt về sát góc tường. Vừa dỗ con vừa khóc, cô ném ánh nhìn căm phẫn vào chồng, giữa làn nước mắt, giọng cô gằn lên cơ hồ đe doạ:
“Tao biết mày cưới tao chỉ vì thương hại! Mẹ con mày cứ đánh chửi tao thế nào cũng được, nhưng con tao phải để tao nuôi! Bố tổ, con giun xéo lắm cũng quằn, tao chẳng dám hứa trước đâu. Nếu mày thực sự quý trọng con mày thì đừng dồn tao đến mức đường cùng, lúc ấy tao sẽ chẳng ngập ngừng đắn đo mà nhảy xuống giếng cùng với thằng bé này! Lúc đấy mày đi mà vớt xác hai mẹ con tao!”
Tuấn rùng mình. Anh ta nhìn đôi mắt sòng sọc tia máu của vợ, sửng sốt vì bị đe doạ bởi chính lời đe doạ mà mình vẫn hay dùng. Vẻ mặt anh có vẻ hằn học của người vừa chơi khăm người khác nhưng bị kẻ đó chơi lại một vố đau hơn. Anh ta dường như bực mình vì đã tỏ ra bối rối, hơi sượng sùng vì chịu lép vế trước lời hăm doạ kia, nhưng đồng thời không thể không tin tất cả có thể trở thành sự thực: Thương tất nhiên là thuộc loại người đến con mình cũng không tiếc nữa huống hồ tiếc cái thân mình.
“Sang năm mình dọn ra riêng,” anh ta cả quyết nói sau một hồi thinh lặng. Thương chẳng nói chẳng rằng, anh ta dằn giọng nhắc lại:
“Nghe gì không? Sang năm mình dọn ra riêng! Sớm muộn gì cũng phải thế, nói thật tao cũng chẳng chịu nổi cái tính chấp nhặt của bà già.”
“Có thật không?” đến đây người vợ ngước mắt nói với vẻ ngờ vực.
Một quãng lặng trong đó đôi bên dò xét nhau.
“Thật không?”
“Thật!”
“Mày hứa đi!”
Tuấn chần chừ vài giây, vẻ miễn cưỡng, rồi nói:
“Tao hứa!”
Lúc ấy, người đàn bà cảm tưởng mình có thể ăn thêm chục cái tát nữa cũng không xi nhê, rằng dù thế nào thì cô vẫn vui như thường. Giữa đêm khuya thanh vắng, đứa bé vẫn kêu oe oé, còn mẹ nó thì vừa khóc nức nở vừa cười man dại trong sự sửng sốt của đức lang quân. Mười hai giờ, đoàn tàu chở than xình xịch kéo qua. Trong căn buồng nhỏ, vợ chồng lại vần nhau đến mệt lử rồi lăn ra ngủ như chết, như chưa từng có cuộc cãi vã nào…
5.
Ba tháng nữa qua. Như thể có một phép màu, đứa bé dần dần khoẻ mạnh hơn, thân mình trở nên bụ bẫm, bắp tay bắp chân tròn trặn, má núng nính. Sự phổng phao của nó tạm thời lắng đọng những xung khắc trong nhà và gây ảnh hưởng rõ rệt tới từng thành viên. Bà Xoan đon đả như thể hồi xuân, Thương vẫn củ mỉ cù mì và tận lực nâng niu con nhỏ, còn Tuấn từ sau vụ kia thôi không dám động thủ với vợ nữa. Nói không ngoa vợ chồng ăn ở với nhau còn hoà thuận là khác. Họ cùng kiên nhẫn dõi theo sự phát triển của cậu quý tử. Thằng bé bắt đầu tập lẫy, rồi ê a những tiếng đầu tiên, tỏ ra là một cu cậu hết sức hoạt bát, hiếu động. Đường nét của nó giống Tuấn như tạc, và tuy ai bế nó cũng theo, nhưng riêng bố thì bám chằng chằng.
“Không sao dứt nổi cái ông cụ này,” Tuấn làm bộ ngúng nguẩy, uốn dài giọng như hát. “Thôi ông lớn nhanh cho tôi nhờ, ông tướng ạ!”
Anh ta quả thực đã tu chí làm ăn, bắt đầu biết chắt chiu, dè xẻn. Chủ quán bia tiếc hùi hụi vì sự tiết chế bất ngờ của một khách hàng thân thiết. Trong sáu tháng, anh ta để riêng được năm trăm viên gạch ba banh, cùng năm chục tấm lợp bờ lô chất đống đằng sau vườn nhà, dưới cây mít na mà anh tự tay đốn sát gốc. Vườn tược quang quẻ, có đôi chim chào mào không biết từ đâu ngày nào cũng tới đậu trên bờ giậu và cất tiếng hót lảnh lói. Nghe tiếng người chúng bay vút đi, Tuấn bồng con nhìn theo chúng, rồi xốc nách nhấc bổng thằng bé lên cao như Rafiki bế Simba trước mặt toàn thể muông thú.
“Cái ông kễnh này!” anh ta thích chí reo lên. “Tôi xây nhà cho ông đây, sau này lớn rồi xây lại cho tôi nhé! Sao nào, ông có nhất trí với tôi không?”
Đứa bé bật cười khanh khách, giơ đôi bàn tay mũm mĩm quặp chặt hai tai bố. Tuấn liếc mắt nhìn Thương đang đứng phía sau, cả hai phì cười. Sau khi xoay vòng con trai thêm vài lượt nữa, anh trả nó về tay vợ; cô ta khạng nạng địu con bước vào nhà. Còn lại một mình, anh đứng trầm mặc rất lâu trước đống gạch ba banh, châm thuốc hết điếu này đến điếu khác. Như viên kỹ sư lập đồ án một công trình, anh ta trù tính, phác thảo, sắp đặt đời sống tương lai của mình, và chu đáo đến mức định đắp một cái bể nhỏ cho thằng con trai vày nước.
Ông quản đốc tạt ngang hiên nhà, chú cháu nghếch đầu chào nhau.
“Tôi bảo có sai đâu, hở cô giáo, cứ cưới vợ vào là khác hẳn!” ông ta thầm nhủ, rất hài lòng vì sự ứng nghiệm này.
6.
Tin tức về tai nạn của Tuấn đến giữa đêm. Anh bỏ mạng giữa xa lộ, toàn thây biến dạng không rõ hình người, óc văng ra ngoài bờ ruộng. Một lão hàng xóm goá vợ tên Gia bấy giờ đang đánh kích trộm ngoài đầm, quen thói hóng hớt bèn tót lại chỗ đám đông. Người ta tưởng lão là thân quyến người bị nạn, vì lão bỗng rú lên kinh hoàng trước đống bầy nhầy, rồi lão nôn thốc nôn tháo, chống tay vào cột mốc cho khỏi ngã… Hoàn hồn rồi lão phi hết tốc lực về làng báo tin. Đêm ấy cả xóm thức trắng vì tiếng thét bi thảm đến xé lòng của người vợ trẻ…
Tuấn chết vào mùa đông, rồi xuân đi đưa hạ tới, và mùa thu vội qua, một mùa đông giá rét nữa ập về. Khi bất kỳ ai đi ngang hiên nhà, họ lại nhớ về người quá cố; và hễ họ bắt gặp bất cứ ai trong gia đình bà giáo trên đường đi chợ buổi sáng hoặc đi tập thể dục buổi chiều, điều này cũng lại đánh động cho họ nhớ về vụ tử nạn kinh hoàng kia.
Dường như một màn tối đã giăng xuống căn nhà. Cảnh nhà ảm đạm hơn, bắt đầu có những vết tróc trên trần, mưa trút xối xả xuống các máng sắt hoen gỉ; con chó già đâm đầu vào tàu hoả gãy làm đôi, như thể tự hoá kiếp khỏi tình cảnh tù túng, rồi cả xóm nhặt phần thây lành về giết thịt; gà toé bậy đầy khoảng hiên nhỏ, cỏ dại chen nhau mọc trên các lối… Và Thương dường như cũng ám vào mình cái vẻ ủ dột. Cô đau ốm triền miên, thân hình choắt cheo, mặt dài vêu ra, da dẻ xám ngoét cả lại. Ma chay, giỗ giếc, con mọn, sự lãnh đạm vô ưu của nhà chồng, ánh nhìn thương cảm của hàng xóm – tất cả chuyện này làm cô kiệt lực và dồn cô đến nước tuyệt vọng.
“Chồng mất thì còn con,” bà Xoan cao giọng của người từng trải. “Chao ôi! Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, cái số kiếp tôi hẩm hiu như chén cơm nguội! Lại còn thằng bé, tí tuổi đầu đã mồ côi cha!”
Bà cũng buồn, khóc ông ổng trước mặt khách viếng, nhưng lại đẫy đà hơn, da trắng lốp, và chẳng vì con trai mất mà bà ăn ít đi hay ngủ bớt ngon đi. Bà vẫn nhẩn nha đọc báo vào buổi sáng, đi bách bộ vào buổi chiều, thi thoảng dự lễ hầu đồng, trên đường về tán chuyện cùng bạn cao niên. Vợ chồng Tú báo tin sắp có con đầu lòng, bà túc trực bên đấy luôn. Họ toan tính một chuyện gì đấy, về đất đai, và Tú gần như ngày nào cũng tất bật bôn hành, mày râu nhẵn nhụi, gặp người quen dưới uỷ ban thì vồn vã chìa tay ra bắt, với nụ cười bí ẩn gắn chặt trên môi.
Một chiều tháng sáu, Sương ngồi một mình bên bàn tiếp khách, im lặng trông ra khoảng sân. Bên ngoài trời nóng nực, đến con chó cái cũng hoá uể oải, nằm sõng soài trong chuồng, thi thoảng lại cất tiếng rên rỉ yếu ớt, giả dụ có khách vào nhà hay trộm tới khuân hết đồ đạc đi thì nó cũng thây mặc, chẳng buồn đứng dậy mà tiếp nữa. Sương vẫn ngồi im trông ra khoảng sân ngập nắng, đầu ong ong. Cô thấp thỏm chờ đợi như bứt rứt điều gì…
Bỗng nghe tiếng then cổng rít lên. Cô ta chạy nhào ra hiên; qua bờ giậu, cô thấy bà Xoan tay cắp nón bước vào nhà. “Sao lâu thế nhỉ?” cô ta tự hỏi lúc trở vào trong, nôn nóng dậm chân bần bật xuống sàn như ngồi máy may. Tú xuống uỷ ban từ sáng và hẹn trưa sẽ trở về, nhưng đã ba giờ chiều rồi vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Cô ta sốt ruột ngóng đợi, dỏng tai nghe ngóng từng tiếng rịn ga, tâm can chộn rộn vì niềm hiếu kỳ thiêu đốt.
Cuối cùng có tiếng đế giày đánh cộp ngoài thềm. Tú bước vào nhà, tay ve vẩy một tập hồ sơ màu đỏ mỏng tang; bắt gặp cái nhìn rào đón của vợ, gã nhoẻn miệng cười ranh mãnh.
“Xong rồi!” gã nói với vẻ hài lòng của người vừa lập chiến công.
Cô vợ cập rập kéo chồng ngồi xuống.
“Cứ từ từ,” gã giơ tay trước mặt chặn lại, cùng lúc mắc nón kepi lên cây treo đồ, đoạn ngồi xuống cạnh vợ, nới lỏng cà vạt, chân nọ vắt chân kia, ngả lưng vào tấm nệm đầy khoan khoái.
“Mang xin cốc nước! Nước đá nhé!”
Người vợ chạy vù vào bếp, trở lại ngay, trao ly nước cho chồng bằng cả hai tay. Tú nốc cạn như thằng chết khát, “khà!” một tiếng rất to, đoạn hắng giọng.
“Đúng là số hên!” gã cất lời. “Tự dưng gặp được thằng Xuân, cái thằng đợt Tết vào thăm nhà mình ấy. Lai rai một hồi mới té ra ông chú nó làm chủ tịch. Ông già nó vừa mất, nó cũng đi làm hồ sơ giống mình. Vậy mà đếch nói sớm! Anh mới nhờ nó nói đỡ vài câu. Thế là xong! Giấy tờ đây,” anh ta quăng tập hồ sơ xuống mặt bàn, “giấy chuyển nhượng, giấy cam kết, rồi hồ sơ đủ cả.”
“Thế là xong chửa anh?” Sương ngơ ngác lật giở tập hồ sơ một hồi rồi hỏi, hoàn toàn mù tịt.
“Xong thế nào nhanh thế!” gã phẩy tay đáp. “Bây giờ con bé kia nó phải ký vào đây, đồng ý sang tên cho bà già. Còn phần đất của thằng con thì để nguyên đấy, mình được quyền khai thác trên cơ sở giám hộ. Tất nhiên cũng phải bưng bít chút đỉnh, nhưng… người ta nói thế nào ấy nhỉ… à… phải rồi… muốn ăn cá cả phải thả câu dài. Vậy đấy…”
“Trời ạ!” Sương nói, lúc lắc đầu. “Chắc gì nó đã chịu ký mệ! Bây giờ phải làm gì đó!”
“Dĩ nhiên là phải làm gì đó! Nghĩ đi!”
Hai vợ chồng nhìn nhau chằm chặp tựa hồ đang trao đổi ý nghĩ qua ánh mắt.
“A!” Sương kêu lên. “Thế mà không nghĩ ra”
“Thế nào?”
“Con bé kia nó có biết chữ đâu!”
Tú im lặng, vẻ khó hiểu. Sương vồn vã lý giải:
“Thế này, giờ anh lựa lời bảo nó ký vào đây, bịa ra một cái lý do gì đấy. Anh bảo nó chuyển hết đất đai của bà cụ, rồi bà chết không về mình thì về ai. Mà từ dạo ông Tuấn mất bên đấy em thấy cũng chí choé tối ngày, bà cũng muốn tống cổ nó đi từ lâu rồi. Chẳng qua bà sợ thiên hạ dị nghị đấy thôi!”
“Tài thật!” Tú thầm nhủ, và gã ra vẻ suy tính dù trong lòng rất hài lòng với mưu chước mà vợ gã vừa bày ra, đoạn gã nói:
“Được đấy! Vậy phen này phải nhờ bà già một thể rồi.”
“Thế anh thưa chuyện với u luôn đi!”
“Hừm,” Tú nhíu mày nói, “từ từ xem nào… mới tính thế…”
“Từ từ cái gì! Bà cũng đến tuổi lẩm cẩm rồi, chỉ muốn cốt cho xong chuyện thôi.”
Đoạn Tú đứng dậy, bước ra hiên, dóng mắt về phía nhà bà Xoan.
“U có nhà không?” anh ta hỏi vợ.
“Có đấy!” cô ta hăm hở tiếp lời. “Em vừa thấy bà xong, chắc đang ngồi phòng khách. Anh sang mau đi!”
Và cũng hơi lần chần, gã vòi thêm một cốc nước nữa, tu ực như nuốt luôn nỗi cấn cái trong lòng, rồi gã cắp theo tập hồ sơ bước sang, đầu vẫn bận rộn với những suy tính. Đằng sau, vợ gã mắm môi nhìn theo.
7.
Tháng bảy. Mưa rả rích ngày đêm, đàn ruồi vo ve bên ô cửa sổ, bên dưới bậu cửa xác ruồi chết như ngả rạ. Từ vườn đưa lại cái mùi tanh nồng đặc trưng của nấm mốc ứ đọng sau nhiều ngày oi bức. Bà Xoan ngồi bên bàn pha chè, một tay chống cằm, một tay nắm quai cốc nước chè nghi ngút khói. Bà ngồi im như tượng, những nếp nhăn trên trán hằn sâu cho thấy bà đang suy nghĩ rất hung. Trên lầu, Thương lăng xăng chạy đi chạy lại nô giỡn cùng đứa con nhỏ. Thằng bé nằm trong võng, còn cô đứng cạnh khung cửa, chụm tay che mặt.
“Ú…oàaaaa! ú… oàaaaa!”
Rồi chạy vụt đến hôn hít điên cuồng. Cũng như mọi khi, trông thấy mẹ, thằng bé hé cái miệng chưa mọc răng bật cười khanh khách, vẫy vẫy hai bàn tay mũm mĩm như hai nắm cơm tròn trĩnh.
“Ôi, sao mà kháu thế không biết,” Thương nhìn con hồi lâu, vừa nói vừa kéo vạt áo chặm nước mắt. Rồi cô bồng thằng bé lên, ngả đầu nó vào vai, thầm thì như nói với chính mình. “Tội nghiệp con tôi! Cục vàng của mẹ! Bố thương Bảo đến thế… Mẹ cũng thương Bảo lắm, nhưng không bằng bố được! Thế Bảo có thương mẹ không?”
Thằng bé im re, chỉ nhoẻn miệng cười khoe vành lợi nhợt nhạt, nhưng cô hiểu hết, hiểu rằng nếu nó nói được, nó sẽ bảo cô rằng nó có thương. Cô yêu nó quá! Cô đã trút tất cả sức mạnh của mối tình mãnh liệt nhưng đầy sóng gió với ông chồng quá cố vào đứa con độc nhất này. Và ở nó cô thấy niềm hy vọng, như ánh sáng le lói phía cuối đường hầm. Cô thích thú tưởng tượng mai này nó sẽ trở thành một ông lớn nào đó, nó sẽ lớn phổng phao như Thánh Gióng, tay chân cứng cáp, đỏ da thắm thịt, sự trưởng thành của nó sẽ giúp cô khuây khoả, sẽ là niềm an ủi tinh thần mà qua đó cô có thể đạp bằng mọi gian nan, sóng gió…
Bỗng cô nghe tiếng văng vẳng vọng lên từ dưới lầu. Tiếng gọi lặp lại rõ ràng hơn. Cô đặt con vào võng và đứng thẳng, rồi không kìm được lại cúi xuống hôn chụt một cái. Cô đóng cửa thật khẽ rồi bước xuống cầu thang. Cô thấy mẹ chồng đang ngồi sau bàn pha chè; vẫn một tay chống cằm, một tay nắm chặt quai cốc. Bà bảo cô ngồi xuống đi và cô ngồi xuống, hơi lừng khừng vì cuộc nói chuyện bất thường này. Cô im lặng ngắm nhìn bà; bà mặc một chiếc áo thụng màu đen bằng vải lanh rất tươm, bận chiếc quần lửng bằng lụa màu đen y chang, in hằn một vết nhàu nhĩ do khuỷu tay bà chống lên nãy giờ. Bà để mặc con dâu suy đoán rồi tự tay rót một tách trà, đẩy về phía cô, vẻ mặt nghiêm cẩn như đang làm kế toán.
“Có việc gì thế mẹ?” Thương rụt rè hỏi.
Vẫn lặng thinh.
“Mày còn trẻ, mới có mười tám đôi mươi,” cuối cùng bà giáo mở lời. “Thôi thì sống chết có số, việc xảy ra cũng xảy ra rồi.
Thương không hiểu gì, mặt vẫn ngẩn ngơ, bàn tay vần vò mép áo, mím chặt môi. Bà già tiếp:
“Tao thú thực suốt từ hôm ấy tới giờ tao ăn không ngon, ngủ không yên,” bà khựng lại, đánh mắt dò la phản ứng của con dâu, “tao biết mày còn thủ tiết chứ chưa vội cải giá ngay. Đó là điều đáng quý… Phải, đáng quý… Nhưng mày còn trẻ, trẻ lắm, ở vậy rồi phí tuổi xuân ra… Mà… tao biết mày sống với tao cũng chẳng dễ chịu gì, tao cũng chẳng muốn chì chiết mày, nhưng khổ cái tính tao nó thế! Giờ mày có đi bước nữa tao cũng chẳng oán trách. Đời ai nấy sống, tao bây giờ không còn quyền hạn gì với mày cả. Mày hãy coi như giữa chúng ta không còn ràng buộc… Thế nào, tao nói thế mày có hiểu không?”
“Thế nào?” bà Xoan nôn nóng thúc chuyện.
“Dạ… vậy còn thằng Bảo?” Thương nói nhát gừng.
“À đấy, còn thằng bé,” bà đáp, hơi bối rối. “Cái đấy thì mày cứ yên tâm. Tao còn sống ngày nào thì còn nuôi nó ngày đấy. Thi thoảng mẹ con có thể vào thăm nhau…”
“Sao con lại phải thăm nó?”
“Thì là thế…”
“Thế tức là?”
“Ừ.”
“Không thể được!” Thương buột miệng nói to, và trước ánh nhìn điềm nhiên của mẹ chồng cô càng cáu tiết hơn, “không, dứt khoát không! Không thể…”
“Có gì mà không được?” bà Xoan ngắt lời.
“Thằng bé là con của con,” Thương nói giọng nghèn nghẹt do ảnh hưởng từ cơn xúc động.
“Thì nó cũng là cháu tao!”
“Con có thể nuôi được nó,” Thương cập rập nói không ra hơi. “Nó vẫn còn nhỏ, không thể để nó sống xa mẹ nó được. Còn bản thân con, xin thú thực với mẹ, nếu không có thằng bé thì con đến chết mất!”
“Mẹ nào mà chả thương con,” bà Xoan nói giọng ôn tồn, “dứt ruột đẻ ra đâu ai muốn cảnh chia lìa.”
“Dạ.”
“Thế nhưng mày phải nhìn lại mình: mày nghề ngỗng không có, học hành không đâu ra đâu, tiền kiếm còn chả đủ nuôi thân nói gì nuôi con nhỏ. Suốt từ lúc thằng Tuấn mất đến giờ toàn là tao nuôi nó cả chứ đâu, chứ dăm ba đồng còm của mày thì bõ bèn gì! Sao, thế chẳng nhẽ mày muốn con mày khổ? Đời mày đã thế rồi thì mày phải biết nghĩ cho đời con mày chứ!”
Bà giáo nói một tràng, không ngắt nghỉ rồi đằng hắng, có vẻ cảm thấy lý lẽ mình đưa ra hết sức thuyết phục, đoạn nhấp một ngụm chè, chốt hạ:
“Thôi thế nhé, nội trong tuần này cứ suy nghĩ rồi báo lại cho tao.”
Câu nói ấy phập xuống như một nhát dao.
Ngoài trời mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn không thôi vần vũ trên bầu trời xam xám, buồn buồn.
8.
Đã một năm trôi qua từ khi bà chị ruột ngán ngẩm đón Thương về quê ngoại. Cô vẫn đi rao sắt vụn, nhưng suốt ngày người ta thấy cô vứt chiếc xe cào cào chỏng chơ bên khóm cỏ gà rồi bơ thờ rảo bước dọc theo đường ray, hết đứng lại ngồi, đôi mắt vô hồn như nhìn vào chỗ trống. Cảnh nhà cũng không yên ả. Thoạt đầu hai chị em cãi cọ liên miên vì Thương nằng nặc đòi đón con về cùng mình. Bà chị cực lực phản đối do phát hoảng với cái ý nghĩ phải đèo bòng thêm một miệng ăn, nhưng rồi đốm lửa tàn nơi đáy tim bà nhóm dậy, bà đích thân tìm đến nhà bà Xoan đề nghị thi thoảng cho cháu trai về quê ngoại dăm ba ngày. Bà Xoan bán tính bán nghi nhưng rồi vẫn bằng lòng, với điều kiện bà phải đi theo kèm cặp. Họ xếp cho bà căn phòng sát vách gian khách, thường ngày làm phòng ngủ của anh con trai đang theo đại học trên thành phố. Bà canh chừng hai mẹ con Thương không ngơi nghỉ, mắt thao láo như loài cú vọ, có cảm tưởng một con ruồi bay ngang cũng phải sợ mà bay vòng đường khác. Còn thằng Bảo không uổng công bà nội dung dưỡng, dần dà nó quấn quýt bà bằng cái nhiệt tình hồn nhiên của tụi trẻ con, và điều này khiến Thương đau khổ khôn tả, giá có thể móc tim rồi liệng ra vườn thì cô đã làm rồi. Thời gian ở cạnh con sao mà chóng vánh, hai ngày trôi nhanh như hai canh đồng hồ. Như mọi khi, đến lúc tiễn hai bà cháu ra về, cô khóc thổn thức, bịn rịn không muốn rời con. Trông thấy mẹ khóc, thằng bé sợ sệt víu lấy áo bà. Nó còn nhỏ quá, nó chưa hiểu được tấn thảm kịch vừa ập xuống gia đình nhỏ của nó, cũng như chưa hiểu được vũng lầy ngập ngụa mà mẹ nó vừa sa vào, còn bà già chỉ lẩm rầm rằng con mẹ nó bị dấm dớ đấy thôi.
Một tối thứ bảy, Thương nói với chị:
“Em nhớ con quá, chị ạ! Tuần nào gặp nó em cũng khóc. Nhưng thương con quá nên em mới khóc đấy thôi! Em mất mẹ, mất chồng, bây giờ thì mất cả con. Chị nghe em không thế? Thế đấy, em khổ quá… Sao chị biết mà chị không bênh em?”
“Thôi em ạ,” bà chị đã quá quen với cái tính mau nước mắt của cô em, nên bà kiên nhẫn nói lại những điều mà bà thường nói, “âu cũng bởi cái số. Bây giờ mày đưa thằng bé về đây tao với mày cầy cục cũng không kham nổi. Quay đi quay lại nhà nội họ vẫn có quyền. Tạm thời mình cứ gửi con ở đấy, sau này nó lớn nó tự khắc biết theo ai.”
“Ôi, chị nói thế! Nó còn nhỏ, có biết cái gì đâu! Nó sẽ quên em mất!”
“Lại nói lằng nhằng rồi,” bà chị lầm bầm, vỗ nhẹ vào lưng em gái đang run rẩy từng hồi. “Thôi nguôi nào, mai hai mẹ con mày gặp nhau rồi mà…”
Trời đêm vắng lặng, nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo trên chạn bát, đám muỗi vo ve như than oán điều gì… Thi thoảng con chó ngoài chuồng cất tiếng kêu tru tréo lạc điệu giữa cảnh thanh vắng, rồi tắt ngấm như bị màn đêm nuốt chửng…
“Chết chửa,” bà chị hỏi, như sực nhớ ra một dự định, “thế cái miếng đất kia thì sao? Giờ tao mới nghĩ ra! Miếng đất ấy thế nào rồi?”
“Em không biết,” Thương đáp, lắc lắc đầu. “Ôi, mệt óc lắm! Suốt từ hôm anh Tuấn mất đến giờ nhà bên đấy chỉ toàn đất với cát. Đến bữa một trăm ngày họ cũng nói, nói suốt, thậm chí còn đánh cãi chửi nhau!”
“Sao lại không biết? Mày phải biết rõ hơn ai hết chứ, đấy là đất của chồng mày mà!”
“Đầu tiên,” Thương cất giọng ề à như vừa nói vừa nghĩ, “sau đám tang, mẹ với vợ chồng Tú cứ bàn tính gì đấy. Họ không tiết lộ gì cho em. Em bận trông cháu nên cũng chẳng mấy đoái hoài. Về sau em mới hiểu ra, con bé Sương nó đòi xây một cái quầy thuốc. Hai vợ chồng nó dành ra được hơn trăm triệu, nhưng cần bà nội cho thêm ít vốn. Ban đầu bà cụ cũng gật gù, nhưng một hôm bà cụ đang ngồi trên bàn ăn nó nhắc lại vụ ấy, bà cụ bỗng tối sầm mặt bảo: ‘Tiền thì tao cho ngay cũng được, nhưng phải xây trên đất nhà chúng mày, còn đất này là đất của thằng Bảo, sau này nó lớn thì nó hưởng.’ Thế là con bé ấy nó lườm, lườm ghê lắm, mắt sắc như dao găm ấy, rồi nó chẳng thèm ăn, mặt sưng mày sỉa suốt bữa cơm. Nó cũng chả ở lại phụ em rửa bát, chồng nó đứng dậy là nó cũng cắp đít về luôn.”
“Ôi!” bà chị thốt lên. “Láo ghê chưa!”
“Thế rồi vài hôm sau nó lại tươi phơi phới,” Thương nói tiếp. “Nó với chồng xuống xin lỗi bà cụ, rồi bà nguôi. Đấy là một tuần trước ngày bà cụ đuổi em đi. Rồi nguyên năm ngày bà với thằng Tú đánh xe xuống uỷ ban hoài. Cuối cùng bà bảo em là đất cát bà sang hết cho thằng Bảo rồi, em không cần phải lo nữa. Thế rồi bà bảo em ký vào một cái tờ gì ấy, hình như là giấy chuyển nhượng đất. Thì em cũng giả vờ đọc, nhưng em nào có biết chữ, chẳng hiểu nó nói mô tê gì. Bà sốt ruột nên ký nhoằng luôn hộ em. Em hỏi bà: ‘Thế còn đống gạch ba banh thì sao mẹ?’ Bà mới đáp: ‘Tạm thời cứ để đấy, con ạ! Rồi đâu sẽ có đó!’”
Bà chị kiên nhẫn lắng nghe em gái kể từ đầu chí cuối, rồi bà thở dài tức tưởi, rên lên:
“Ôi thôi em ơi! Thế là chúng nó phỗng mất rồi! Đất đấy là đất của mẹ con mày, đáng ra mày phải hỏi tao trước rồi hẵng ký. Mày bị chúng nó ăn hớt rồi em ơi!”
“Thế là sao?” Thương lập bập nói.
“Là bị cướp đất rồi! Cướp đất rồi! Sao lại dại thế hở trời? Mày nhớ kỹ lại xem nào, có thật là mày ký rồi hay không?”
Thương trơ ra như đá rồi run rẩy gật đầu. Bà chị bất lực thở hắt một hơi rồi lao bổ về phòng. Ông chồng ngơ ngác một hồi rồi cũng hiểu ra sự thể, vừa nghe vợ kể lể vừa lật lại trong trí tất tật những kinh nghiệm đất đai. Trước ánh nhìn nôn nóng của vợ, ông ậm ừ bảo rằng nếu thế thì khả năng mất toi rồi, khó gỡ gạc cho nổi. Vẫn còn gượng gạo với em dâu sau vụ bê bối, từ bận Thương dọn về đây ông cực lực tránh ngó ngàng đến cô, và về chuyện này ông cũng lựa chọn thái độ tương tự, tức là làm ngơ, coi đó chẳng phải chuyện của mình. Rồi ông kêu ông đi làm cả ngày mệt rồi nên hãy để yên cho ông ngủ, ngả lưng chưa ấm chỗ thì đã ngáy tít thò lò.
Bà chị trở lại với em gái. Bà sốt sắng hỏi em một lô một tràng, nhưng, như mọi con sông đều dẫn về một biển: Vô vọng! Thương quả thực đã ký.
“Trời ơi, mày tồ quá!” bà chị buột miệng một câu, nhìn em gái đầy cay đắng như thể chính bà mới là người bị cướp đất, chứ chẳng phải cô kia…
Đêm ấy Thương nằm mãi, nằm mãi mà không ngủ được. Sự phát giác này đã nhen lại đốm lửa căm tức âm ỉ trong lòng cô. Cô uất nghẹn vì bị lừa gạt quá ư trắng trợn, dằn vặt vì bản tính ngô nghê ở mình. Và cũng đêm ấy, trong trí óc ngây dại của người goá phụ bỗng loé lên một ý tưởng ngông cuồng, – về điều này ta hãy cùng xem rồi cô có phải hối hận hay không.
9.
Một ngày, như thường lệ, bà Xoan và ông quản đốc ngồi tán chuyện với nhau. Họ đang ngồi sau bàn pha chè, ông em trai vừa khen ngợi hành động cao thượng của chị giáo già, khi đã “giải thoát” cho cô con dâu khốn khổ! Lắng nghe những lời phỉnh nịnh ấy khiến bà giáo khoan khoái, bà vừa cắn hạt bí vừa để ý đứa cháu lê la ngoài sân, nó đang vờn đám chuồn chuồn.
“Thế từ hôm ấy đến giờ cái Thương nó có tạt qua thăm con không?” ông quản đốc khẽ hỏi.
“Qua suốt,” bà Xoan đáp gọn lỏn.
“Ái dà! Con bé ấy thế mà tốt!”
“À đấy,” bà kêu lên. “Nay chủ nhật thể nào nó chả qua. Cũng nguôi rồi, nguôi rồi, nhưng lần nào gặp cũng nước mắt ngắn dài.”
Ông quản đốc vẫn làm bộ xuýt xoa, và sau một thoáng im lặng, ông hỏi thêm, vẻ đắn đo:
“Vậy còn đống gạch kia, bỏ không cũng ngót năm rồi, hay chị bán rẻ cho em?”
“Gớm! Chú mày chỉ được cái tinh tướng!”
“Dẫu sao cũng từ một lò!”
“Ừ, ừ, biết thế, còn để xem giấy tờ thế nào đã,” bà già đáp cho xong chuyện, đoạn nhấp một ngụm chè, rồi mỗi bên theo đuổi những suy nghĩ riêng. Bà chị nghĩ về thửa đất, về giấy tờ chuyển nhượng, còn đầu óc ông em vẫn quanh quẩn không dứt miếng mồi bở ăn.
Bỗng ngoài sân vang lên một tiếng thét chói tai. Hai chị em sửng sốt nhìn nhau và bổ nhào ra thềm. Chỉ kịp thấy một vệt đen lướt ngang khung cổng, như một bóng ma!
Hai chị em vừa nháo nhào đuổi theo kẻ gian vừa la làng la nước, do đó chỉ lát sau, dân làng đã lũ lượt đổ ra, tụ thành một đám đông hỗn độn, già có trẻ có, mấy con cẩu hiếu kỳ cũng đồng loạt tru tréo réo gọi bầy đàn. Nhiều thanh niên trai tráng tưởng có trộm chó, đang dở công chuyện cũng đâm bổ ra đường, tay thủ sẵn dao, mắt đảo láo liên như mắt kẻ nghiện.
“Đâu, đâu, thằng nào?” đám đông túm tụm hỏi nhau.
“Ở đằng này!” có tiếng trẻ con vọng xuống từ đường ray.
Đám đông dáo dác nhìn về phía tiếng nói, rồi như một dòng lũ, họ hùng hổ lao ra khúc đường mòn quanh co, hành quân về phía mỏm đồi. Tiếng dậm đồng thanh nghe ầm ã như tiếng sấm dội, sỏi đạp lạo xạo dưới chân, bụi mịn cuộn tròn tứ phía. Mùi chua loét xông lên từ những thân thể còm cõi, cái mùi đặc trưng của công việc đồng áng.
Cuối cùng họ đến trước một mô đất trồng keo, hai bên bờ là hai ao nước đục ngàu màu cà phê sữa. Ở đó, họ khựng lại và thấy giữa một vách núi cheo leo chếch ra mặt hồ, Thương đang ghì chặt con trai ngang mình, nước mắt giàn giụa, thở hổn hển, ánh mắt đùng đằng sát khí. Thằng bé giãy giụa đòi ra, có vẻ nó chưa nhận ra mẹ mình, và nhìn thấy bà nội lúc này vừa hớt hải rẽ lối đám đông tiến lên, nó liền khóc ré lên, giọng lạc đi vì sợ hãi.
“Ngoan nào,” Thương ghì chặt hơn và cúi xuống nói với con, “mẹ đây mà! Mẹ thân yêu của con đây, mẹ đến đón con đây!”
Người ta đùn đẩy, người ta chen lấn; những kẻ đến sau sốt sắng hỏi kẻ đến trước, vồn vã cập nhật tình hình. Một tên nào nhanh trí đã lập tức đánh điện cho viên cảnh sát. Thằng bé càng khóc tợn hơn, mẹ nó cập rập ra sức dỗ dành… Chỉ lát sau, tiếng ống bô nổ bành bạch từ xa vọng lại. Đó là Tú, đang dở phiên gác nhưng được đánh tiếng đã lập tức phóng về ngay. Anh ta dựng chiếc bồ câu trắng giữa đường và, như con thuyền rẽ làn nước, đám đông ráo riết nhường lối cho anh ta lên. Với vẻ đĩnh đạc đường hoàng, với bộ cảnh phục nghiêm chỉnh cùng một dàn sao ánh bạc trên nền cấp hiệu, anh ta lập tức tuýt còi inh ỏi xua đuổi đám đông, rồi gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:
“Mấy ông bà này xê ra, xê ra hết!”
Đám đông sợ hãi dạt sang bên, tiếng xì xào tắt bặt. Họ cùng chờ đợi ở anh ta một động thái. Bấy giờ viên cảnh sát mới quắc mắt về phía Thương.
“Còn con kia, mày làm gì thế?” anh ta gầm lên. “Mày chán sống rồi à?”
“Mày thử lại đây,” Thương trừng mắt, giọng như rít qua kẽ răng, “tao sẽ ôm con tao nhảy xuống!”
“Mày dám…”
“Mày câm đi, tao làm thật đấy!”
Bà Xoan thổn thức níu áo con trai, anh ta bực tức giật lại ba bước. Tiếng xì xào rộn lên. Ai nấy cũng thấp thỏm vì sợ. Rồi đến lượt bà giáo hớt hải bước lên, nhưng tức thì Thương lùi sát về mép vực, làm những viên sỏi sàn sạt dưới chân rơi bì bõm xuống nước.
“Cả bà nữa,” cô quát, “bà cút đi!”
Cứ thế, hễ ai mon men lại gần đều bị tiếng thét điên dại của cô làm cho chùn lại, và đám đông nhốn nháo bày mưu tính kế: phải như này, phải như kia! Lão Gia, người ngợm bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cũng lật đật tới nhập bọn. Lão cáu kỉnh cố nhoi lên, nhưng vướng phải mấy mụ sồ sề, bèn chửi đổng:
“Mẹ kiếp! Đồ ngu! Xích ra nào, đàn bà biết cái gì?”
“Ông ngu thì có!” một giọng nói chua như giấm dội lại.
“Mày bảo ai ngu? Con kia, mày đứng lại đấy!”
Lão đập phắt chiếc vợt kích vào đầu mụ kia. Mụ ta thét lên, thế là đánh cãi chửi nhau inh ỏi. Người ta ùa vào can ngăn, và ông quản đốc, lợi dụng phút lộn xộn để tiến lên, nhưng tiếng chưa thoát khỏi vành môi thì Thương đã chặn họng:
“Chú xa tôi ra, không phải việc của chú! Chú cũng cùng một giuộc với bọn nó thôi!”; và thấy ông quản đốc vẫn còn chần chừ, cô hét vang:
“Chú điếc à, xa tôi ra!”
Ông quản đốc sượng sùng đảo mắt nhìn quanh rồi cũng đành lui về cạnh chỗ hai mẹ con Tú. Đôi bên cáu bẳn liếc nhau. Vài phút trôi qua, sau rốt dân làng chọn mặt gửi vàng cho ông xã trưởng. Ông này là một lão già quắc thước tuổi ngoài lục tuần, ăn bận nghiêm chỉnh như các cán bộ hương thôn, mái đầu bạc phơ sau nhiều năm miệt mài cạo giấy ở uỷ ban xã, chùm râu muối tiêu che mất cổ. Lão đặt tay trên môi ra hiệu đám đông im lặng, rồi dấn lên một mình một hàng, mặt đối mặt với cô gái trẻ. Đúng như họ trù tính, Thương chỉ giương mắt dò xét lão già đạo mạo chứ không xua đuổi. Lão nhanh chóng biến mô đất trồng keo thành bục thuyết giảng; bằng giọng cha chú tâm tình, lão ôn tồn lý giải cho cô gái trẻ hiểu rõ tính nghiêm trọng của vấn đề. Trong thần thái, cử chỉ, dáng điệu của lão toát ra một sức thuyết phục kinh hồn; lão nói vanh vách như đọc thuộc lòng, không vồn vã, vấp váp, và lão gọi Thương là “cháu”, chắc mẩm tính chất thân mật của cách xưng hô có thể khiến cô gái nhà quê mủi lòng.
“Kìa cháu gái, sao cháu lại làm thế?” lão cố tình rên dài giọng tựa hồ rất xúc động. “Con cái là lộc trời ban… Ôi, khổ thân cháu gái tôi, làm sao mà đến nông nỗi này! Cháu trông kìa, thằng bé tái mét cả rồi, việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của nó. Cháu hẵng khoan, hãy bình tâm lại, hãy suy xét tình hình. Mọi chuyện đều có cách giải quyết của nó. Nào, nào, hãy thả thằng bé xuống, rồi nói ta nghe cháu muốn gì? Đừng nghĩ quẩn, trẻ con không đáng chung tội với người lớn.”
“Lũ phong kiến các người,” Thương dường không để ý đến lời của lão, ném một tia nhìn hằn học vào mẹ con bà Xoan, “lũ đốn mạt các người! Các người cướp con của tôi, cướp đất của chồng tôi. Ôi, đến nước này thì tôi sẽ nói hết! Các người ăn hối lộ, các người coi tôi như con trâu kéo cày, vậy mà các người vẫn ra vẻ cao đạo liêm khiết! Còn chồng tôi khi sống thì các người rẻ rúng, khinh miệt, đến chết vẫn bị chính máu mủ bòn đãi! Gái này thà chết còn hơn!”
“Ấy đừng, đừng!” lão già đâm hoảng khi thấy cô gái bốc lên.
“Có thật bác hiểu cho tôi không?” cô giương mắt hỏi lão, giọng nghẹn lại vì bao uất ức bị đè nén bấy lâu.
“Tất nhiên là bác hiểu! Tạm thời hãy thả thằng bé xuống đã.”
“Phải đấy, phải đấy, thả thằng bé xuống đi cô!” đám đông đồng thanh hưởng ứng.
Thương thở hổn hển vì xúc động. Cô chợt thõng vai, và thằng bé thừa lúc sơ hở nhanh nhảu tuột phắt xuống. Kìa! nó chạy như bay về phía bà nội. Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Thương hoảng hốt nhìn theo những bước chạy của nó, toàn thân sững sờ như hoá đá. “Thôi chết rồi,” ý nghĩ này cắt ngang đầu cô.
“Lại đây con!” cô hét lên và chạy bổ theo thằng bé.
Nhưng cô không bao giờ bắt kịp nó. Nhanh như cắt, lão xã trưởng túm lấy nó, bà giáo dang tay chực sẵn, thốc cháu lẹ làng như xách một cái bị và lập tức lỉnh về phía sau. Tất cả nín bặt…
Chưa bao giờ một người đàn bà có thể thảm hại tới thế. Sự can đảm tan ra như khói, Thương co rúm lại như một con rùa rụt cổ. Cơn giận bỗng xẹp đi, cô cảm thấy chỉ muốn khóc. Cô cảm thấy trơ trọi trước đám dân làng, như thể cô đang độc thủ chống chọi cả một toán quân đông hơn mình gấp bội, người ta cầm giáo, cầm mác còn cô chỉ có tay không. Cô cắn chặt môi để khỏi khóc, nhưng hai dòng lệ cứ xối xả tuôn ra như thác đổ. Dân làng nhìn cô đầy ái ngại, không ai biết làm gì, quyết định gì với cô nàng xốc nổi này…
Rồi cô lê đôi chân trần về phía con trai. Nhưng cô càng tiến thì đám đông càng lùi, và đầu gối cô run bần bật, cô ngã chúi nhủi như đứt gánh. Người ta dè chừng như đang đối mặt một con thú dữ. Cô gào rú tức tưởi, cô đập đầu xuống đất, cô tự vò đầu bứt tóc, cô bấu víu những hòn đá lởm chởm, rồi cô ngửa mặt nhìn thẳng lên trời như để ông xanh soi rõ từng giọt nước mắt của cô. Mệt lả, kiệt lực, cô đau đớn với tay về đứa con trai. Thằng bé, mặt cắt không còn hột máu, trốn lẩn sau lưng bà, khóc nấc lên. “Nó sợ hãi, nó không nhận ra mình!” cô tự nhủ. “Phải, nó sợ quá đấy thôi!”
“Con yêu của mẹ,” cô thều thào cất giọng. “Ra đây với mẹ nào con!”
“Mẹ, con điên!” bà giáo đứng sau hàng người rủa lại.
Tuyệt vọng, rền rĩ, người đàn bà khốn khổ lại lết tới cạnh Tú. Cô quỳ xuống hôn đôi giày phết xi bóng loáng của người em chồng. Những giọt nước mắt lã chã rơi, một giọt rơi xuống mũi giày, một giọt rơi xuống nền đất. Gã giận điên lên, đẩy cô ra và lùi về sau, còn cô vẫn quỳ dưới đất, vội quặp chặt chân gã bằng đôi cánh tay bê bết. Bị chửi rủa, bị xô ngã sõng soài, nhưng cô quyết không buông, cô gồng sức kéo gã lại, và gã suýt ngã sụp xuống cạnh cô.
“Chú Tú, chú bảo mẹ chú đi!” cô rên lên thảm thiết. “Chú là người có ăn có học, đúng thế, đúng, chú biết lẽ phải. Nào, chú bảo mẹ chú đi, hãy trả con cho tôi! Chú hãy vì tình nghĩa với anh Tuấn mà thương lấy tôi, rồi suốt đời tôi không quên ơn chú!”
Và con người có ăn có học ấy vả người đàn bà một phát như trời giáng trong sự ngỡ ngàng đến choáng váng của bàn dân thiên hạ. Để mặc chị dâu ngã dấm dúi, gã trừng mắt nhìn quanh, phủi phủi giày, cảm thấy có lẽ cũng cần thanh minh với hương hồn người anh trai quá cố, miệng lầm bầm:
“Cứ phải thế này mới chừa! Loại thân lừa ưa nặng!”
“Cậu làm thế phải tội chết, cậu Tú ạ!” ông xã trưởng bám tay gã nói giọng dè dặt.
Gã giương cặp mắt ráo hoảnh nhìn ông ta không đáp, rồi lập tức quay về phía dân làng.
“Còn mấy bà này, cứ nhoi nhoi lên đây làm gì, giải tán mau!” gã nạt nộ quát. “Ô hay, điếc à, giải tán!”
Gã lại tuýt còi và nhanh chóng xua đám dân quê như lùa những con gà vào chuồng. Và chính gã cũng vội vã chở mẹ mình cùng đứa cháu đi. Dân làng ngơ ngác nhìn theo gã, thở dài thườn thượt, rồi chia năm xẻ bảy, đám đông vãn dần, ai nấy đều lắc đầu ngán ngẩm, chèm chẹp miệng, và lại liên tục rủa gã là con chó vàng…
Sau năm phút, chỉ còn mấy đứa lau chau nãy giờ đứng trên tháp canh ráng nán lại, rồi xuôi lối mòn chúng thoăn thoắt chạy, như lũ trẻ báo tin vặt, tự cảm thấy mình quan trọng và đáng được săn đón vì sự việc vừa chứng kiến; hễ gặp ai ngược chiều chúng đều túm lại, vừa kể lể sự tình vừa thở hồng hộc, mắt sáng long lanh vì phấn khích. Và chúng họp thành một cánh, đứng tụm vào nhau, đồng loạt chỉ trỏ vào cái bóng đen đen đằng xa đang thất thểu dọc theo đường ray, nhập nhoạng dưới ráng chiều tà…
Dịch từ nguyên bản The Short Story (1958) của Willam Somerset Maugham. Tiểu luận được được đăng tải trên tạp chí Văn Plus, tại đây.
1.
Nhiều năm về trước, một biên tập viên đang trong quá trình biên soạn một cuốn đại bách khoa toàn thư đã viết thư hỏi tôi rằng liệu tôi có muốn đóng góp bài viết về lĩnh vực truyện ngắn hay không. Tôi rất lấy làm hãnh diện vì lời thăm hỏi, nhưng đã từ chối. Bản thân là một cây bút truyện ngắn, tôi không nghĩ mình có thể viết một bài như thế với sự công tâm cần thiết. Mỗi nhà văn viết theo cách mà họ cho là phù hợp nhất; bằng không họ sẽ viết khác đi. Có vô vàn cách viết, và mỗi nhà văn sử dụng cách phù hợp với phong cách riêng của mình. Với tôi thì bài viết về chủ đề này sẽ thấu đáo hơn nếu được viết bởi một văn nhân chưa từng viết truyện. Sẽ không có gì ngăn trở ông ta sắm vai một thẩm phán công minh. Chẳng hạn, hãy lấy những truyện của Henry James làm ví dụ. Ông đã viết rất nhiều, và truyện của ông được những độc giả trí thức vô cùng ngưỡng mộ, những người mà ý kiến của họ ta buộc phải tôn trọng. Tôi đồ rằng bất cứ ai quen biết Henry James bằng xương bằng thịt đều không thể đọc những truyện của ông một cách khách quan. Ông gieo âm giọng của mình vào từng câu văn, và bạn chấp nhận lối viết quanh co trong rất nhiều tác phẩm của ông, sự miên man và phong cách ứng xử của ông, vì chúng là một phần không thể thiếu của sức quyến rũ, lòng nhân từ và sự khoa trương hóm hỉnh của người đàn ông mà bạn nhớ đến. Nhưng dẫu vậy, tôi thấy những câu chuyện của ông rất không thoả đáng. Tôi không tin chúng. Tôi không tin bất cứ ai có thể hình dung ra nỗi đau đớn của một đứa trẻ mắc bệnh bạch hầu lại quan điểm rằng mẹ của đứa bé sẽ để nó chết còn hơn để nó lớn lên và được đọc những cuốn sách của cha mình. Đó là những gì đã xảy ra trong một câu chuyện có tên Tác giả của Beltraffio. Tôi không nghĩ Henry James từng biết cách hành xử của người bình thường. Các nhân vật của ông khuyết thiếu ruột gan lẫn cơ quan sinh dục. Ông đã viết một số câu chuyện về những người có học thức, và người ta kể rằng khi ai đó phản bác rằng những người có học thức không hề như thế, ông vặc lại, “Thế thì càng tệ cho họ.” Dường như ông không tự cho mình là một người theo chủ nghĩa hiện thực. Mặc dù tôi không rõ đó có phải sự thật hay không, nhưng tôi cho rằng ông coi Bà Bovary là một nỗi kinh hoàng. Có lần Mattise cho một thiếu nữ xem tranh của James vẽ một phụ nữ khoả thân, và cô thiếu nữ thốt lên, “Nhưng một phụ nữ đâu có thế này”: ông trả lời, “Đó không phải một phụ nữ, thưa bà, đó là một bức tranh.” Tương tự, tôi nghĩ, nếu ai đó mạo muội nói rằng một câu chuyện của James không giống đời thực, ông sẽ trả lời, “Đó không phải cuộc sống, đó là một câu chuyện.”
Henry đã làm rõ quan điểm của mình về vấn đề này trong một lời tựa ông viết cho tập truyện ngắn có tên Bài học của bậc thầy. Đây là một tác phẩm khó nhằn và, dẫu đã đọc nó ba lần, tôi vẫn không chắc mình đã hiểu nó. Tôi nghĩ ý chính là, khi đối mặt với “sự phù phiếm và nỗi bất hạnh ngự trị của cuộc sống”, một tác giả tự nhiên sẽ tìm kiếm “một số ví dụ hay về sự phản ứng, sự từ khước hoặc sự thoát ly”; và vì không thể tìm thấy các hình mẫu trong đời thực để minh họa ý định của mình, ông buộc phải thai nghén chúng từ ý thức nội tại. Đối với tôi, thách thức ở đây là tác giả phải gán cho các tạo vật của trí tưởng tượng một vài đặc tính chung của giống người, và chúng không tương hợp với những đặc tính mà ông đã gán cho chúng, thành thử chúng thiếu sức thuyết phục. Nhưng đây chỉ là cảm nhận của riêng tôi, và tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình.
Một lần, khi Desmond MacCarthy nghỉ lại cùng tôi trên Riviera, chúng tôi đã đàm luận về những câu chuyện của Henry James. Ký ức ngày nay ngắn ngủi và tôi có thể gợi nhắc người đọc rằng Desmond MacCarthy không chỉ là một bạn đồng hành duyên dáng mà còn là một nhà phê bình uyên thâm. Ông đọc rộng và từng trải, cái ưu thế mà không phải nhà phê bình nào cũng có. Những phán đoán của ông trong phạm vi hạn chế của chúng (ông có phần thờ ơ với nghệ thuật tạo hình và âm nhạc), là xác đáng, vì sự uyên bác nơi ông hoà quyện với sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống. Vào dịp đặc biệt này, chúng tôi đang ngồi trong phòng khách sau bữa tối và giữa buổi trò chuyện, tôi buột miệng nhận xét rằng mặc dù được trau chuốt kỹ lưỡng, nhiều câu chuyện của Henry James lại tầm thường một cách đáng ngạc nhiên. Desmond, người vô cùng ngưỡng mộ James, đã phản đối kịch liệt; vì vậy, để trêu chọc ông, tôi lập tức bịa ra một câu chuyện mà tôi cho là điển hình của Henry James. Theo như tôi nhớ, câu chuyện diễn ra như sau:
Đại tá và bà Blimp sống trong một ngôi nhà khang trang ở Quảng trường Lowndes. Họ đã trải qua một phần mùa đông ở Riviera, nơi họ kết bạn với một số người Mỹ giàu có tên là – tôi ngập ngừng tìm một cái tên – Bremerton Fisher. Gia đình Fisher đã tiếp đãi họ rất xa hoa, đưa họ đi tham quan La Mortola, Aix và Avignon, và luôn khăng khăng giành mọi hoá đơn về phía mình. Khi gia đình Blimp rời đi để quay về Anh, họ đã nài nỉ những gia chủ hào phóng báo tin cho mình ngay khi đến London; và sáng hôm đó, bà Blimp đọc được trên tờ Morning Post rằng ông bà Bremerton Fisher vừa đến Khách sạn Brown. Rõ ràng là gia đình Blimp phải làm gì đó để đáp lại lòng hiếu khách nồng hậu mà họ từng nhận được.
Trong lúc họ đang quyết định nên làm gì, một người bạn ghé qua uống trà. Đây là một người Mỹ xa xứ tên Howard, người từ lâu đã ấp ủ một tình yêu thuần khiết với bà Blimp. Dĩ nhiên bà chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đáp lại tình cảm của ông, thực ra vốn chưa bao giờ quá gấp gáp; nhưng đó là một mối quan hệ tốt đẹp. Howard là kiểu người Mỹ mà, sau khi sống ở Anh trong hai mươi năm, đã trở nên Anh hơn cả người Anh. Ông quen biết mọi nhân vật quan trọng và, như câu nói, từng đi đây đi đó. Bà Blimp kể cho ông nghe tình hình. Ngài Đại tá đề xuất rằng họ nên tổ chức tiệc tối cho những người lạ này. Bà Blimp bán tính bán nghi. Bà biết rằng những người bạn mà ta từng thân thiết khi ở nước ngoài có thể rất khác khi ta gặp lại họ ở London. Nếu họ giới thiệu nhà Fishers với những người bạn đáng mến của họ, và tất thảy bạn bè của họ đều đáng mến, thì bạn bè của họ sẽ thấy nhàm tẻ phát khiếp và gia đình Fisher tội nghiệp sẽ hoàn toàn “lạc lõng”. Howard đồng thuận với bà. Kinh nghiệm cay đắng bảo ông rằng một bữa tiệc như vậy hầu như luôn là một thất bại thảm hại.
“Sao không mời họ ăn tối riêng?” Đại tá nói.
Bà Blimp phản đối rằng điều này nghe như thể họ lấy làm xấu hổ về nhà Fisher hoặc không có bạn bè đáng mến. Rồi ông gợi ý nên đưa gia đình Fisher đi xem kịch và sau đó ăn tối tại Savoy. Điều này xem chừng chưa đủ.
“Chúng ta phải làm gì đó”, Đại tá nói.
“Dĩ nhiên chúng ta phải làm gì đó”, bà Blimp đáp.
Bà mong ông đừng can thiệp. Ông có tất cả những phẩm chất tuyệt vời mà bạn có thể mong đợi ở một đại tá vệ binh, không phải tự nhiên mà ông có được huân chương Công trạng Xuất sắc, nhưng ông thật vô vọng khi bàn đến các vấn đề xã giao. Bà Blimp cảm thấy rằng đây là vấn đề mà bà và Howard phải tự quyết lấy; thế nên sáng hôm sau, khi chưa thu xếp được gì, bà gọi điện cho Howard Jarvis và bảo ông ghé qua uống rượu lúc sáu giờ tối, khi Đại tá đang chơi bài bridge ở câu lạc bộ.
Howard đến, và từ đó trở đi tối nào cũng đến. Tuần lại tuần, bà Blimp và ông cân nhắc mọi khía cạnh. Họ thảo luận, xem xét vấn đề từ mọi góc độ với sự tinh tế vô biên. Ai ngờ được rằng chính Đại tá lại là người đưa ra giải pháp? Ông tình cờ có mặt tại một trong những buổi hẹn giữa bà Blimp và Howard, giữa lúc họ, gần như tuyệt vọng, đang thảo luận tình huống nan giải này.
“Sao không để lại danh thiếp nhỉ?” ông nói.
“Hoàn hảo”, Howard kêu lên.
Bà Blimp thở phào kinh ngạc. Bà ném một tia nhìn tự đắc về phía Howard. Bà biết Howard cho rằng Đại tá là một gã kiêu ngạo ngu ngốc, hoàn toàn không xứng với bà. Cái nhìn của bà nói rằng, “Đấy, đấy mới là người Anh thứ thiệt. Ông ấy có thể không thông minh lắm, có thể hơi tẻ nhạt, nhưng đến lúc khủng hoảng, ta có thể tin tưởng ông ấy sẽ làm điều đúng đắn.”
Bà Blimp không phải là người hay do dự khi con đường trước mắt đã rõ ràng. Bà gọi quản gia và bảo ông này chuẩn bị xe ngựa ngay lập tức. Để tỏ lòng tôn kính gia đình Fisher, bà bận chiếc váy đẹp nhất và đội chiếc mũ mới. Với hộp danh thiếp trên tay, bà lái xe đến Khách sạn Brown – chỉ để biết rằng gia đình Fisher đã rời đi Liverpool ngay sáng hôm đó cho kịp chuyến tàu Cunarder trở về New York.
Desmond lắng nghe câu chuyện giễu nhại của tôi với vẻ khá chua chát; rồi ông cười khúc khích. “Nhưng điều mà anh quên mất, Willie tội nghiệp của tôi,” ông nói, “là Henry James sẽ mang đến cho câu chuyện sự uy nghiêm cổ điển của Nhà thờ St. Paul, nỗi kinh hoàng u ám của St. Pancras và – và sự lộng lẫy bụi bặm của Woburn.”
Nghe vậy, cả hai chúng tôi cùng phá ra cười, tôi rót cho ông một ly whisky pha soda nữa, và sau đó, rất hài lòng với chính mình, chúng tôi chia tay nhau để về phòng ngủ.
2.
Hơn hai mươi năm trước, tôi đã viết cho độc giả Mỹ một lời tựa dài cho một hợp tuyển truyện ngắn của thế kỷ mười chín do đích thân tôi chọn lọc. Khoảng mười năm sau, tôi sử dụng phần lớn những gì đã nói trong một bài giảng về truyện ngắn trước các thành viên của Hội Văn học Hoàng gia. Tuyển tập của tôi chưa từng được xuất bản ở Anh và đã ngừng in từ lâu ở Mỹ; và tuy bài giảng của tôi được in trong tập niên giám của Hội, nó chỉ dành riêng cho các thành viên. Gần đây, khi đọc lại hai bài viết này, tôi nhận thấy mình đã thay đổi quan điểm ở một số chỗ và một vài tiên đoán của tôi đã không được thực tế chứng minh. Trong những trang sau, dù buộc phải nhắc lại rất nhiều điều đã nói, gần như nguyên văn, vì tôi không biết cách diễn đạt những gì tôi phải nói hay hơn những gì tôi đã nói trước đó, tôi sẽ trình bày những suy ngẫm của tôi, như chúng vốn có, về một thể loại văn học mà bản thân tôi từng miệt mài thực hành.
Con người bẩm sinh đã thích kể chuyện, và tôi cho rằng truyện ngắn ra đời từ thuở xa xưa, vào đêm tối khi người thợ săn, để giải khuây cho bè bạn sau bữa chè chén no nê, bèn ngồi bên đống lửa trong hang động mà thuật lại một sự kiện kỳ lạ nào đó mà anh ta từng nghe. Đến nay, ở các thành phố phương Đông, bạn vẫn có thể bắt gặp người kể chuyện ngồi giữa chợ, vây quanh bởi những thính giả hiếu kỳ, kể lại những câu chuyện mà y kế tục từ một quá khứ xa xưa. Nhưng tôi cho rằng phải đến thế kỷ mười chín thì truyện ngắn mới thịnh hành và chiếm lĩnh một phần quan yếu trong sáng tác văn chương. Dĩ nhiên trước đó truyện ngắn đã được viết và đọc rộng rãi: những câu chuyện tôn giáo về nguồn gốc Hy Lạp, những câu chuyện mang tính giáo huấn thời Trung Cổ, và những câu chuyện bất hủ trong Nghìn lẻ một đêm. Xuyên suốt thời kỳ Phục Hưng, ở Ý và Tây Ban Nha, ở Pháp và Anh Quốc, truyện ngắn rất được ưa chuộng. Mười ngày của Boccaccio và Những thiên truyện mẫu mực của Cervantes là những chứng tích bất tử của thể loại này. Nhưng trào lưu ấy đã thoái trào với sự trỗi dậy của tiểu thuyết. Những người bán sách không còn trả tiền hậu hĩnh cho một tập truyện ngắn nữa, và các tác giả bắt đầu xem thường một thể loại hư cấu không đem lại cho họ cả tiền tài lẫn danh vọng. Khi thỉnh thoảng nghĩ ra một chủ đề mà họ có thể xử lý thoả đáng nhưng không cần quá dài, họ bắt tay viết một truyện ngắn, rồi không biết phải làm gì với nó; và vì vậy, không muốn uổng công, đôi khi các nhà văn phải thừa nhận rằng họ đã chèn nó một cách hết sức vụng về vào giữa tiểu thuyết của mình.
Nhưng vào đầu thế kỷ XIX, một hình thức xuất bản mới đã được giới thiệu đến độc giả và nhanh chóng trở nên cực kỳ phổ biến. Đó là ấn phẩm thường niên. Dường như nó bắt nguồn từ Đức. Đây là một tuyển tập các tác phẩm văn xuôi và thơ, và ở quê hương của nó, nó đã cung cấp cho độc giả những món ăn tinh thần đáng kể, vì chúng ta được biết rằng Người hầu gái xứ Orleans của Schiller và Hermann và Dorothea của Goethe đã xuất hiện lần đầu trên các ấn phẩm dạng này. Nhưng khi thành công của chúng khiến các nhà xuất bản Anh bắt chước, họ chủ yếu dựa vào truyện ngắn để thu hút đủ lượng độc giả nhằm giúp việc kinh doanh sinh lời.
Giờ là lúc thích hợp để nói với độc giả đôi điều về sáng tác văn học mà như tôi được biết, các nhà phê bình, những người rõ ràng có nhiệm vụ chỉ đường dẫn lối cho độc giả, đã tảng lờ việc khai trí cho anh ta. Nhà văn có trong mình sự thôi thúc sáng tạo, nhưng bên cạnh đó y cũng khao khát đưa tác phẩm của mình đến tay bạn đọc và khao khát (một khao khát vô hại mà độc giả không quan tâm) kiếm được miếng ăn. Nhìn chung, y có thể định hướng năng lực sáng tạo của mình vào những nguồn cho phép thoả mãn những mục tiêu khiêm tốn này. Với nguy cơ gây sốc cho những độc giả nghĩ rằng cảm hứng của nhà văn không nên chịu ảnh hưởng của những cân nhắc thực tế, tôi phải nói thêm rằng về bản chất, các nhà văn bị thôi thúc viết những thứ mà thị trường cần. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì họ không chỉ là nhà văn, họ còn là độc giả, và với tư cách một công dân, họ chịu sự chi phối của bầu không khí dư luận đang thịnh hành. Khi các vở kịch thơ có thể mang lại danh tiếng cho tác giả, nếu không phải là tiền bạc, sẽ rất khó để tìm được một chàng trai trẻ có năng khiếu văn chương mà không sở hữu một vở bi kịch năm màn trong số các tác phẩm của mình. Tôi cho rằng hiện nay ít chàng trai trẻ nào có ý định viết một vở như vậy. Ngày nay, họ viết kịch bằng văn xuôi, tiểu thuyết và truyện ngắn. Đúng là trong những năm gần đây, một số vở kịch thơ đã được dựng thành công, nhưng đối với tôi, đã từng chứng kiến những gì mà tôi có dịp chứng kiến, thì khán giả coi thơ ca như một thứ họ phải chịu đựng thay vì thứ làm họ thích thú; và phần lớn các diễn viên đều cảm thấy tương tự, họ làm mọi cách để xoa dịu sự khó chịu ở mình bằng cách đọc thơ như thể nó thực sự là văn xuôi.
Tiềm năng xuất bản, các nhu cầu cấp thiết của giới biên tập viên, tức là ý niệm của họ về mong muốn của độc giả, có ảnh hưởng to lớn đến loại tác phẩm được sản xuất tại một thời điểm cụ thể. Vì vậy, khi các tạp chí nở rộ dọn chỗ cho những câu chuyện dài, những câu chuyện như thế sẽ được viết ra; mặt khác, khi các tờ báo cho xuất bản truyện, nhưng chỉ có thể dành ra một không gian nhỏ, những câu chuyện có thể lấp đầy không gian đó sẽ được cung ứng. Không có gì đáng xấu hổ ở đây cả. Một tác giả tài năng có thể viết một câu chuyện mười lăm ngàn từ dễ dàng như viết một câu chuyện mười ngàn từ. Nhưng y chọn một câu chuyện khác hoặc xử lý nó theo một phương cách khác. Guy de Maupassant đã viết một trong những thiên truyện nổi tiếng nhất của mình, Món gia tài, hai lần, lần đầu dài vài trăm từ cho một tờ báo và lần sau dài vài ngàn từ cho một tạp chí. Cả hai đều được in trong tuyển tập tác phẩm của ông, và tôi nghĩ không ai có thể đọc hai phiên bản này mà không thừa nhận rằng không có gì thiếu hụt ở phiên bản đầu cũng như không có gì thừa thãi ở phiên bản sau. Ở đây tôi muốn làm rõ: bản chất của phương tiện mà nhà văn sử dụng để tiếp cận độc giả là một trong những quy ước mà họ phải chấp nhận, và nhìn chung họ thấy mình có thể làm điều này mà không đi ngược lại với khuynh hướng riêng.
Giờ đây, vào đầu thế kỷ mười chín, các niên giám và keepsakes [kỷ yếu] đã tạo cơ hội cho các nhà văn giới thiệu bản thân với công chúng qua truyện ngắn, và do đó truyện ngắn, với mục đích không đơn thuần chỉ nhằm kích thích sự hứng thú của độc giả trong quá trình đọc một tiểu thuyết dài, bắt đầu được viết nhiều hơn bao giờ hết. Nhiều lời bài xích khắc nghiệt đã được buông ra về các tập niên giám và sách dành cho quý bà, và có những lời chỉ trích thậm tệ hơn nữa về các tạp chí kế nhiệm vốn được công chúng ưa chuộng; nhưng khó có thể phủ nhận rằng sự phong nhiêu của truyện ngắn trong thế kỷ mười chín đến từ cơ hội mà các ẩn phẩm thường kỳ này đem lại. Ở Mỹ, truyện ngắn đã tạo ra một trường phái các nhà văn xuất sắc và đa dạng đến mức một vài người, vốn lạ lẫm với lịch sử văn học, tuyên bố rằng người Mỹ đã phát minh ra truyện ngắn. Tất nhiên không phải vậy; nhưng dù sao cũng thích đáng khi thừa nhận rằng không có đất nước nào ở châu Âu mà truyện ngắn được vun trồng một cách cần mẫn như ở Hoa Kỳ; và các phương pháp, kỹ thuật và tiềm năng của nó cũng chưa từng được nghiên cứu tỉ mỉ như nơi đây.
Trong quá trình đọc tuyển tập các truyện ngắn được viết vào thế kỷ mười chín, tôi đã lĩnh hội được rất nhiều về thể loại này. Bây giờ, tôi cần cảnh báo độc giả rằng tác giả, như tôi đã đề cập trước đó, khi bàn đến một nghệ thuật mà y theo đuổi, thường có thành kiến. Hoàn toàn dễ hiểu khi một nhà văn quan niệm cách làm của mình là tốt nhất. Y viết như y có thể và phải viết, vì y là một kiểu người nhất định; y có năng khiếu và tính khí riêng, vì vậy y nhìn nhận mọi thứ theo cách riêng của y, và thể hiện góc nhìn ấy theo hình thức mà bản chất của y áp đặt. Nhà văn cần có một sức mạnh tinh thần đặc biệt để đồng cảm với những tác phẩm trái ngược với khuynh hướng tự nhiên ở mình. Người ta nên cẩn trọng khi đọc những lời phê bình của một tiểu thuyết gia về tiểu thuyết của người khác. Ông ta dễ cho rằng điều ông ta đang hướng tới là xuất sắc và khó thấy giá trị ở những phẩm chất mà ông ta thiếu sót. Một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc về tiểu thuyết đến từ một nhà văn đáng ngưỡng mộ, người cả đời chưa từng xây dựng nổi một cốt truyện hợp lý. Tôi không ngạc nhiên khi thấy ông ấy không mấy coi trọng các tiểu thuyết gia, những người có tài năng tuyệt vời là có thể thổi hồn vào những sự kiện mà họ thuật lại một cách chân xác đến nghẹt thở. Tôi không trách cứ ông về điều này. Khoan dung là một phẩm chất tuyệt vời ở con người; nếu nó phổ biến hơn, thế giới ngày nay hẳn dễ sống hơn nhiều; nhưng tôi không chắc liệu nó có hữu ích như vậy ở một nhà văn hay không. Bởi vì về lâu về dài, một nhà văn có thể cho bạn điều gì? Chính là bản thân ông ta. Thật tốt nếu ông ta có tầm nhìn bao quát, bởi vì cuộc sống trong toàn bộ phạm vi của nó là lĩnh vực của ông ta; nhưng ông ta chỉ có thể nhìn thấy nó qua đôi mắt của chính mình, nắm bắt nó bằng trí óc, trái tim và ruột gan của mình: dĩ nhiên kiến thức của ông ta hạn hẹp, nhưng nó rất rõ ràng, bởi vì ông ta là chính ông ta chứ không phải ai khác. Thái độ của ông ta rất quán triệt và đặc trưng. Nếu ông ta thực sự cảm thấy bất kỳ quan điểm nào khác cũng đáng giá như quan điểm của mình, ông ta sẽ khó lòng giữ vững lập trường của bản thân và không thể trình bày nó một cách thuyết phục. Thật đáng khen nếu một người nhận ra rằng một đồng xu có hai mặt; nhưng nhà văn, đối với nghệ thuật mà ông ta đang thực hành (và quan điểm sống của ông ta tất nhiên bao hàm trong nghệ thuật của ông ta) chỉ có thể đạt được thông qua nỗ lực suy luận; và trong thâm tâm, ông ta không cảm thấy rằng mình chiếm sáu cái và bên kia chiếm nửa tá còn lại, mà tất tật cả tá đều của ông ta và bên kia không có gì cả. Sự phi lý này sẽ thật đáng tiếc nếu số lượng nhà văn khan hiếm, hoặc nếu tầm ảnh hưởng của một người quá lớn đến mức buộc những người còn lại phải tuân theo; nhưng chúng ta có hàng ngàn người. Mỗi nhà văn trong chúng ta đều có thông điệp muốn truyền tải, rất hạn chế, và từ tất cả những thông điệp này độc giả có thể thoải mái lựa chọn thông điệp phù hợp với họ, tuỳ theo khuynh hướng của bản thân họ.
Tôi nói điều này nhằm dọn đường trước. Tôi thích nhất những câu chuyện mà tôi có thể tự viết. Đó là kiểu câu chuyện mà nhiều người đã viết tốt, nhưng không ai viết điêu luyện hơn Maupassant; do đó, để trình bày chính xác bản chất của nó, tôi không thể làm gì khác ngoài thảo luận về một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, Chiếc dây chuyền. Bạn sẽ nhận ra một điều rằng nó là câu chuyện bạn có thể kể bên bàn ăn tối hoặc trong khoang hút thuốc của một con tàu mà vẫn khiến thính giả phải chăm chú dõi theo. Truyện đề cập đến một sự việc kỳ lạ nhưng không phải không thể xảy ra. Bối cảnh được phô bày trước mắt bạn một cách ngắn gọn, đúng như đặc tính của phương tiện, nhưng vẫn rõ ràng; và những người liên quan, lối sống của họ cùng sự lao dốc của họ, được trình bày với lượng chi tiết vừa đủ để làm rõ hoàn cảnh của vấn đề. Bạn được cho biết mọi chi tiết bạn cần biết về họ. Trong trường hợp độc giả không nhớ câu chuyện, tôi xin tóm tắt lại. Mathilde là vợ một của một viên chức nghèo tại Bộ giáo dục. Vị Bộ trưởng mời họ đến một bữa tiệc tối, và vì không có trang sức riêng, cô bèn mượn một chiếc vòng cổ kim cương từ một cô bạn giàu có. Cô đánh mất chiếc vòng. Nó phải bị đánh tráo, và với ba mươi bốn nghìn franc, một khoản tiền khổng lồ đối với họ, với lãi suất cắt cổ, viên thư ký và vợ anh ta đã mua được một chiếc vòng cổ giống hệt chiếc đã mất. Đèo bòng một mớ nợ nần, hai vợ chồng phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, và cuối cùng khi trả xong nợ, sau mười bốn năm trời, Mathilde kể cho cô bạn giàu có kia về câu chuyện đã xảy ra. “Nhưng, chị yêu quý của em ơi,” cô bạn nói, “chiếc vòng cổ đó là đồ giả. Cùng lắm là năm trăm franc.”
Một nhà phê bình nghiêm khắc có thể phản đối rằng xét từ lập trường của riêng nó, Chiếc dây chuyền không phải một câu chuyện hoàn hảo, vì loại truyện này cần có phần đầu, phần thân và phần kết; và đến hồi kết thì mọi thứ cần kể đều đã được kể, bạn không nên muốn hay cần hỏi gì thêm. Ô chữ của bạn đã được lấp đầy. Tuy nhiên trong câu chuyện này Mauppasant hài lòng với một cái kết đầy tính châm biếm và hiệu quả. Người đọc sành sỏi khó tránh khỏi việc tự hỏi, điều gì sẽ xảy đến tiếp theo? Đúng là một cặp đôi bất hạnh đã bỏ lỡ tuổi trẻ của họ và phần lớn những gì khiến cuộc sống trở nên êm đềm trong nhiều năm trời đằng đẵng để ky cóp từng đồng trả nợ cho chiếc dây chuyền thất lạc; nhưng khi sai lầm được phát lộ và chiếc dây chuyền họ đã mua được hoàn trả, họ sẽ thấy mình nắm trong tay một gia tài nho nhỏ. Trong sự khô cằn về tinh thần mà sự hy sinh của họ đã dẫn đến, đó có thể là một sự đền bù đáng kể. Chưa kể, nếu người phụ nữ khốn khổ kia đủ sáng suốt để giãi bày với cô bạn về sự mất mát – và không có lý do chính đáng nào được đưa ra nhằm lý giải tại sao cô ta không nên làm vậy – thì đã chẳng có câu chuyện nào. Thật đáng ngợi ca tài năng của Maupassant khi ít độc giả nào còn đủ bình tĩnh để nhận ra những điểm bất hợp lý này. Một nhà văn như Maupassant không sao chép cuộc sống; ông khéo léo sắp xếp nó để gây hứng thú, kích thích và bất ngờ. Ông không hướng câu chuyện trở thành một dịch bản của đời sống, mà là một sự kịch tính hoá đời sống. Ông sẵn lòng hi sinh tính hợp lý nhằm tạo hiệu quả cho câu chuyện, và thử thách ở đây là liệu ông có trót lọt hay không; nếu ông đã định hình những sự kiện mà ông mô tả và những người liên quan trong câu chuyện theo cách đó. Nếu bạn ý thức được sự khiên cưỡng mà ông áp đặt lên chúng, thì ông đã thất bại. Nhưng đôi khi việc ông thất bại không phải là lý lẽ phản bác phương pháp này. Có những thời kỳ mà, độc giả yêu cầu sự tuân thủ chặt chẽ với những sự kiện của cuộc sống đúng như họ biết – đó là lúc chủ nghĩa hiện thực đang thịnh hành; có những thời kỳ khác, họ đòi hỏi những điều mới lạ, khác thường, kỳ khôi; và sau đó, miễn là bị cuốn hút, độc giả sẵn lòng tạm gác lại sự hoài nghi. Tính hợp lý không phải là một thực thể bất di bất dịch; nó biến chuyển theo xu thế của thời đại: đó là điều nhà văn có thể khiến độc giả đón nhận. Trên thực tế, trong mọi tác phẩm hư cấu, một số điều bất hợp lý vẫn được cho qua mà không cần thắc mắc vì chúng là điều bình thường và thường là cần thiết để tác giả có thể tiếp tục câu chuyện của mình một cách nhanh chóng.
Không ai nhấn mạnh những chuẩn mực của loại truyện mà tôi đang thảo luận chính xác hơn Edgar Allan Poe. Nếu không vì độ dài, tôi đã trích dẫn toàn bộ bài phê bình của ông về tác phẩm Truyện kể hai lần của Hawthorne: nó đã nói mọi thứ cần nói về vấn đề này. Tôi xin giới thiệu một trích đoạn ngắn:
“Một nghệ sĩ tài ba cấu tứ lên một câu chuyện. Nếu khôn ngoan, y không uốn nắn suy nghĩ của mình cho phù hợp với các sự kiện; mà sau khi đã hình dung, với sự cân nhắc kỹ lưỡng, một hiệu ứng độc đáo hoặc duy nhất cần đạt được, y sẽ bịa ra những sự kiện đó – sau đó y tạo ra những hiệu ứng có thể bổ trợ tốt nhất cho việc thiết lập hiệu ứng chung đã được hình dung trước đó. Nếu ngay câu đầu tiên của y đã không hướng đến việc tạo ra hiệu ứng này, thì y đã thất bại ngay từ bước sơ khởi. Trong toàn bộ tác phẩm, không nên có một từ nào được viết ra mà khuynh hướng, dù trực tiếp hay gián tiếp, không nhắm tới thiết kế đã định sẵn. Và bằng những phương tiện như vậy, với sự cẩn trọng và kỹ năng, cuối cùng một bức hoạ được vẽ ra, để lại trong tâm trí người chiêm ngưỡng nó, với một nghệ thuật tương tự, một cảm giác thoả nguyện trọn vẹn nhất. Ý tưởng của câu chuyện được trình bày một cách trọn vẹn, vì không bị xáo trộn ….”
3.
Không khó thể nêu định nghĩa của Poe về một truyện ngắn hay: đó là một tác phẩm hư cấu, giải quyết một xung đột duy nhất, về mặt vật chất hoặc tinh thần, có thể đọc liền mạch; nó phải độc đáo, phải lấp lánh, phải gây phấn khích hoặc ấn tượng; và nó phải có sự thống nhất về hiệu ứng hoặc ấn tượng. Nó phải di chuyển theo một đường thẳng đều từ đầu chí cuối. Để viết một câu chuyện theo các nguyên tắc ông đặt ra không hề dễ như vài người nghĩ. Nó đòi hỏi trí thông minh, có lẽ không ở cấp độ quá cao, nhưng là một loại thông minh đặc biệt; nó yêu cầu một ý niệm về hình thức và không ít khả năng sáng tạo. Không ai ở Anh viết những câu chuyện theo kiểu này cừ hơn Rudyard Kipling. Trong số các nhà văn viết truyện ngắn người Anh, chỉ có ông là đủ sức đương đầu với các bậc thầy ở Pháp và Nga. Hiện tại ông bị xem thường quá mức. Điều này rất bình thường. Khi một tác giả nổi tiếng qua đời, cáo phó được đăng tải trên các tờ báo và mọi người từng giao thiệp với ông, thậm chí không hơn gì việc từng uống một tách trà cùng ông, đều viết cho tờ Times để thuật lại sự việc. Trong vòng hai tuần ông không còn là tin sốt dẻo nữa, và lặng lẽ chìm vào lãng quên. Thế rồi, nếu may mắn, sau một thời gian nhất định, có thể ít, có thể nhiều, thường phụ thuộc vào những hoàn cảnh không mấy liên quan đến văn học, ông sẽ được nhớ tới và được công chúng thưởng thức trở lại. Ví dụ điển hình nhất cho điều này, tất nhiên, là Anthony Trollope. Sau một thế hệ bị lãng quên, cùng sự biến cách trong đời sống nước Anh, các tiểu thuyết của ông đã thu hút rất nhiều độc giả nhờ sức quyến rũ mang phong vị hoài cổ.
Mặc dù Rudyard Kipling đã chiếm được cảm tình của công chúng ngay từ những buổi đầu tiên và duy trì được nó, nhưng giới học giả luôn có phần hạ cố trong việc đánh giá ông. Một số đặc điểm trong phong cách của ông gây khó chịu cho các độc giả có gu thẩm mỹ cầu kỳ. Ông bị xem là người theo chủ nghĩa đế quốc, điều này làm khó chịu nhiều người nhạy cảm và giờ đây trở thành một ngọn nguồn của sự sỉ nhục. Ông là người kể chuyện tuyệt vời, đa dạng và độc đáo. Ông có óc sáng tạo phong phú và có tài kể lại sự việc theo cách thức gây ngạc nhiên và giàu kịch tính ở cấp độ cao nhất. Như mọi nhà văn khác, ông có những khiếm khuyết ở mình, mà tôi nghĩ là do môi trường và cách nuôi dạy, do những nét tính cách của thời đại ông sống. Ông có ảnh hưởng to lớn đến những đồng nghiệp, nhưng có lẽ còn lớn hơn đối với những người đương thời, những người bằng cách này hay cách khác đã sống kiểu cuộc đời mà ông mô tả. Khi đi du lịch ở phương Đông, thật đáng kinh ngạc khi du khách thường bắt gặp những người đã bắt chước các nhân vật mà ông sáng tạo ra. Người ta nói rằng các nhân vật của Balzac chân thực với thế hệ sau ông hơn là với thế hệ mà ông được cho là đã miêu tả. Tôi rút từ kinh nghiệm của bản thân rằng hai mươi năm sau khi Kipling viết những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình, có những người đàn ông rải rác khắp các vùng xa xôi của Đế chế Anh, những người sẽ không bao giờ chính xác như họ vẫn là nếu không có ông. Ông không chỉ tạo ra các nhân vật; ông còn định hình nên con người. Họ là những người đàn ông dũng cảm, tử tế, hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ được giao, trong khả năng của họ và theo quan điểm của họ: thật không may, vì những lý do mà tôi không cần phải luận đến, di sản họ để lại là lòng căm thù. Rudyard Kipling thường bị cho là người đã khiến dân chúng Anh nhận thức được Đế chế của họ, nhưng đó là một thành tựu chính trị mà tôi không cần luận bàn; điều quan trọng đối với mục đích hiện tại của tôi là trong khám phá của ông về cái được gọi là câu chuyện kỳ lạ, ông đã khai phá ra một mảnh đất mới lạ và màu mỡ cho các nhà văn. Đây là câu chuyện đặt bối cảnh ở một đất nước mà phần lớn độc giả còn lạ lẫm. Nó đề cập đến những phản ứng của người da trắng khi họ lưu trú tại một vùng đất xa lạ và ảnh hưởng của việc tiếp xúc với những người khác chủng tộc và màu da đối với họ. Các nhà văn hậu bối đã đề cập đến chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, nhưng Rudyard Kipling là người đầu tiên khai đường mở lối qua vùng đất được tìm thấy này, và không ai từng khoác lên nó một vẻ quyến rũ lãng mạn hơn, không ai từng tái hiện nó một cách sống động và đa sắc như vậy. Sẽ đến lúc cuộc chiếm đóng Ấn Độ của người Anh trở thành lịch sử cổ xưa và khi sự mất mát của những vùng thuộc địa lớn lao đó sẽ không khơi dậy sự nuối tiếc và cảm giác cay đắng nào hơn những gì đã được khơi dậy bởi sự mất mát, từ hàng thế kỷ trước, của Normandy và Aquitaine. Khi đó, người ta sẽ nhận ra rằng Rudyard Kipling, trong những câu chuyện về người Ấn Độ của mình, trong Chuyện rừng xanh, trong Kim, đã viết những tác phẩm sẽ được vinh danh trong nền văn học Anh vĩ đại của chúng ta.
Ngay cả những điều tốt đẹp cũng làm người ta chán ngán. Họ khao khát sự thay đổi. Hãy lấy một ví dụ từ một loại hình nghệ thuật khác: kiến trúc nhà ở trong kỷ nguyên Georgian đã đạt tới một sự hoàn hảo hiếm có; những ngôi nhà được xây cất thời đó vừa đẹp mắt vừa tiện nghi. Phòng ốc rộng rãi, thoáng đãng và kích thước cân đối. Bạn hẳn nghĩ người ta sẽ hài lòng với những ngôi nhà như vậy cho tới mãn đời. Nhưng không. Đến thời kỳ lãng mạn; người ta muốn sự cổ kính, những sự khác thường, kỳ khôi; và những kiến trúc sư, lòng đầy bất mãn, buộc phải chiều lòng họ. Sáng tác một câu chuyện như Poe đã viết là một việc khó nhằn và, như chúng ta được biết, kể cả Poe cũng không tránh khỏi lặp lại chính mình. Có vô số thủ thuật trong các câu chuyện thuộc loại này và khi các tạp chí thường kỳ ra đời và lập tức trở nên phổ biến, nhu cầu cho những câu chuyện này là rất lớn, các tác giả đã không chậm trễ để học hỏi những kỹ xảo trong nghề. Nhằm tạo hiệu quả cho những câu chuyện, họ gò chúng vào một thiết kế thông dụng và chẳng chốc đã xa rời thực tế đến nỗi độc giả phải gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Người đọc chán ngán những câu chuyện được viết theo một khuôn mẫu mà họ đã biết quá rõ. Họ phản đối rằng trong đời thực mọi sự không xảy ra một cách chỉn chu như vậy; đời thực là một chuỗi những sợi chỉ đứt đoạn và những đầu mối rời rạc; việc sắp xếp chúng một cách khuôn sáo chỉ càng làm sai lệch thêm. Họ đòi hỏi một chủ nghĩa hiện thực vượt trội hơn. Giờ thì, sao chép cuộc sống chưa bao giờ là việc của nghệ sĩ cả. Sir Kenneth Clark đã làm sáng tỏ điểm này trong cuốn sách Trần trụi của mình. Ông đã cho chúng ta thấy rằng những điêu khắc gia vĩ đại của Hy Lạp cổ đại không hề bận tâm đến việc mô tả hình mẫu của họ với sự chân xác tuyệt đối, mà sử dụng chúng như một công cụ nhằm đạt tới lý tưởng về cái đẹp. Nếu bạn nhìn vào các tác phẩm hội hoạ và điêu khắc trong quá khứ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy các nghệ sĩ vĩ đại ít quan tâm đến việc tái hiện chính xác những gì phô bày trước mắt họ ra sao. Người ta thường cho rằng những biến cải mà các nhà điêu khắc áp đặt lên chất liệu của họ, được minh hoạ rõ nét nhất trong trường phái Lập Thể, là một phát minh của thời đại chúng ta. Nhưng không phải vậy. Họ chỉ nghĩ vậy vì họ đã quá quen với những biến cải của quá khứ đến mức chấp nhận chúng như những biểu hiện theo nghĩa đen của sự thật. Ngay từ buổi bình minh của hội hoạ phương Tây, các nghệ sĩ đã hy sinh tính chân thực để đạt được hiệu ứng mong muốn. Tiểu thuyết cũng vậy. Khỏi phải nói đâu xa, hãy lấy Poe làm ví dụ; thật khó tin khi ông lại cho rằng con người nói năng theo cách ông bắt các nhân vật của mình nói: nếu ông nhét vào miệng họ những lời thoại mà chúng ta thấy dường như không chân thực, thì hẳn là vì ông nghĩ rằng nó phù hợp với câu chuyện mà ông đang kể và giúp ông đạt được mục đích mà ông ấp ủ. Các nghệ sĩ chỉ noi theo chủ nghĩa tự nhiên khi họ nhận ra rằng họ đã xa rời thực tế đến mức cần quay đầu lại, và rồi họ cam tâm sao chép nó một cách chính xác nhất có thể, không phải như một mục đích tự thân, mà có lẽ như một thứ kỷ luật bổ ích.
Vào thế kỷ mười chín, chủ nghĩa tự nhiên trong truyện ngắn trở nên thịnh hành trong bối cảnh chủ nghĩa lãng mạn vốn đã hoá nhàm. Lần lượt, các nhà văn ra công tái hiện cuộc sống với sự chính xác không suy suyển. “Tôi chưa bao giờ luồn cúi cả,” Frank Norris nói. “Tôi không bao giờ ngả mũ trước trào lưu hay ngửa tay xin từng cắc lẻ. Lạy Chúa! Tôi kể cho họ Sự Thật. Họ thích hay không cũng mặc. Điều đó can hệ gì tới tôi? Tôi nói với họ Sự Thật, từ trước tới nay đó vẫn là Sự Thật.” (Đây là những lời lẽ quyết đoán, nhưng thật khó để nói sự thật là gì; nó không nhất thiết phải trái ngược với lời nói dối.) Các nhà văn thuộc trường phái này nhìn cuộc sống với con mắt ít thiên vị hơn so với thế hệ trước; họ ít ngọt ngào và lạc quan hơn, bạo lực hơn và thẳng thắn hơn; lời thoại của họ tự nhiên hơn, và họ chọn nhân vật từ một thế giới mà kể từ thời Defoe, các nhà văn hư cấu đã phần nào lãng quên; nhưng họ không có sự cách tân nào về mặt kỹ thuật. Về cốt lõi của truyện ngắn, họ vẫn bằng lòng với những khuôn mẫu cũ. Những hiệu ứng họ theo đuổi vẫn là những hiệu ứng mà Edgar Allan Poe đã theo đuổi; họ sử dụng công thức mà ông đã đặt ra. Giá trị của chúng chứng minh giá trị của nó; tính giả tạo của chúng phô bày sự yếu kém của nó.
4
Nhưng có một đất nước mà công thức này không phát huy tác dụng. Ở Nga, trong vài thế hệ, họ đã viết những câu chuyện theo một trật tự hoàn toàn khác; và khi thực tế buộc phải đánh động đến cả độc giả và tác giả rằng thể loại truyện được ưa chuộng từ lâu nay đã trở nên máy móc một cách chán chường, người ta mới phát hiện ra rằng ở đất nước đó có một nhóm các nhà văn đã biến truyện ngắn thành một thứ gì đó mới mẻ. Thật kỳ lạ khi mất nhiều thời gian đến vậy để thể loại truyện này cập bến Tây phương. Đúng là các câu chuyện của Turgenev đã được đọc trong bản dịch Pháp ngữ. Ông được anh em nhà Goncourt, Flaubert và giới trí thức đón nhận nhờ dáng vẻ uy nghiêm, gia sản dồi dào và gốc gác quý tộc của ông; và các tác phẩm của ông được đánh giá cao với sự ngưỡng mộ dè dặt, như cách người Pháp vẫn luôn nhìn nhận các sáng tác của các tác giả ngoại quốc. Thái độ của họ giống như thái độ của Tiến sĩ Johnson trước lời rao giảng của một phụ nữ: “Nó không được thực hiện tốt, nhưng dù thế bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nó được thực hiện.” Phải đến khi Melchior de Vogué xuất bản cuốn sách Le Roman Russe [Tiểu thuyết Nga] vào năm 1886 thì văn học Nga mới có tác động đến thế giới văn học Paris. Theo thời gian, khoảng năm 1905, tôi cho là vậy, một vài truyện ngắn của Chekhov đã được dịch sang tiếng Pháp và nhìn chung được đón nhận rất nồng nhiệt. Ông vẫn vô danh ở Anh. Khi ông mất, vào năm 1904, người Nga coi ông là nhà văn hàng đầu của thế hệ: Encyclopædia Britannica trong ấn bản thứ mười một, xuất bản năm 1911, không nói gì thêm về ông ngoài câu, “Nhưng A. Chekhov đã thể hiện uy lực đáng kể trong các truyện ngắn của mình.” Lời khen ngợi lạnh lùng. Mãi đến khi bà Garnett cho xuất bản trong mười ba tập nhỏ một tuyển tập từ kho trước tác đồ sộ của Chekhov thì độc giả Anh mới quan tâm đến ông. Kể từ đó, uy tín của các nhà văn Nga nói chung và của Chekhov nói riêng đã trở nên rất lớn. Điều này đã thay đổi đáng kể phong cách sáng tác và phương pháp đánh giá truyện ngắn. Những độc giả có óc phê bình vẫn thờ ơ với câu chuyện về mặt kỹ thuật “được thực hiện tốt”, và những nhà văn sáng tác ra nó nhằm phục vụ đại đa số công chúng thì lại không được xem trọng.
Cuộc đời của Chekhov đã được David Magarshack viết lại [Chekhov: A Life]. Đó là một bản tường thuật về những thành tựu giành được bất chấp khó khăn khủng khiếp – nghèo đói, trách nhiệm nặng nề, môi trường làm việc nhũng nhiễu và sức khoẻ tồi tệ. Chính từ cuốn sách thú vị và được ghi chép tỉ mỉ này mà tôi đã nắm được những sự kiện sau. Chekhov sinh năm 1860. Ông nội của ông là một nông nô đã dành dụm đủ tiền để chuộc tự do cho chính mình và ba người con trai. Một trong số họ, tên là Pavel, sau đó đã mở một tiệm tạp hoá tại Taganrog trên Biển Azov, kết hôn, có năm người con trai và một người con gái. Anton Chekhov là con trai thứ ba. Pavel vô học, ngu dốt, phù phiếm, ích kỷ, tàn bạo và cực kỳ mộ đạo. Nhiều năm sau, Chekhov đã viết về cha mình, “Tôi nhớ cha tôi bắt đầu dạy tôi khi tôi năm tuổi, hay nói một cách đơn giản, là đánh tôi khi tôi mới năm tuổi. Ông ấy đánh tôi, bạt tai tôi, nện vào đầu tôi, và câu đầu tiên tôi hỏi sau khi thức dậy vào buổi sáng là, hôm nay con có bị đánh nữa không? Tôi bị cấm chơi đùa hoặc nô giỡn. Tôi phải tham dự các buổi lễ nhà thờ vào buổi sáng và buổi tối, hôn tay các linh mục và cha xứ, đọc thánh ca ở nhà thờ…. Khi tôi tám tuổi, tôi phải trông coi quầy hàng, tôi làm việc như một thằng nhóc chạy vặt bình thường, và điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôi, vì tôi bị đánh đập hầu như mỗi ngày. Sau đó, khi tôi được gửi đến một trường trung học, tôi học đến bữa tối, nhưng từ bữa tối đến đêm tôi phải ngồi trong cửa hàng.”
Khi Anton Chekhov mười sáu tuổi, cha ông, què quặt vì nợ nần và sợ bị bắt, đã trốn đến Moscow, nơi hai người con trai cả của ông, Alexander và Nicholas, đang theo học đại học. Anton ở lại Taganrog để học nốt và tự nuôi sống bản thân bằng công việc dạy kèm cho những cậu bé chậm phát triển. Sau ba năm, tốt nghiệp và được cấp học bổng hai mươi lăm rúp một tháng, ông đoàn tụ với bố mẹ ở Moscow. Quyết định trở thành bác sĩ, ông nộp đơn xin vào trường Y. Khi đó ông là một chàng trai trẻ cao lớn, nhỉnh hơn mét tám, tóc nâu nhạt, mắt nâu với khuôn miệng đầy đặn, rắn rỏi. Ông chứng kiến gia đình mình sống trong một tầng hầm ở một khu ổ chuột mà phần lớn là nhà thổ. Anton đưa hai người bạn học và các bạn hữu của mình tới trọ cùng gia đình. Họ trả bốn mươi rúp mỗi tháng, một người thuê trọ thứ ba trả hai mươi rúp nữa và cộng với hai lăm rúp của Chekhov, gộp lại được tám mươi năm rúp để nuôi chín miệng ăn và trả tiền nhà. Họ nhanh chóng dọn đến một căn hộ lớn hơn trên cùng một con phố tồi tàn. Hai cậu sinh viên ở chung một phòng, người thứ ba ở một phòng nhỏ riêng, Anton ở phòng thứ ba với các em trai, mẹ và chị gái ông ở phòng thứ tư, và phòng thứ năm, dùng làm phòng ăn và phòng khách, đồng thời là phòng ngủ của hai người anh cả Alexander và Nicholas. Pavel, cha của họ, cuối cùng đã kiếm được một chân tại một nhà kho, lĩnh ba mươi rúp mỗi tháng, và ông phải sống ở đó, vì vậy trong một thời gian, họ đã thoát khỏi người đàn ông ngu ngốc, chuyên quyền đã đày đoạ cuộc sống của họ bấy lâu.
Chúng ta nghe kể rằng Anton có tài ứng tác những câu chuyện hài hước khiến bạn bè ông cười ngặt nghẽo. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của gia đình, ông nghĩ mình có thể thử viết chúng. Ông đã viết một câu chuyện và gửi đến một tuần báo của Petersburg có tên là The Dragon Fly. Một buổi chiều tháng Giêng, trên đường trở về từ trường y, ông mua một bản in và thấy câu chuyện của mình đã được phê duyệt. Ông sẽ được trả năm cô-pếch một dòng. Tôi xin nhắc lại với độc giả rằng một rúp trị giá hai si-linh và một trăm cô-pếch được một rúp, vì vậy khoản thù lao được đưa ra vào khoảng một xu một dòng. Từ đó, Chekhov gửi truyện cho tờ The Dragon Fly hầu như mỗi tuần, nhưng chỉ một số ít được chấp nhận; tuy ông cũng gửi chúng cho các tờ báo Moscow, nhưng họ không đủ khả năng thanh toán; nhuận bút được gán cho một đôi giày, và nhiều khi đám cộng tác viên, nhằm đòi lấy thù lao ít ỏi của họ, phải đợi ở văn phòng cho đến khi những đứa trẻ đem về những đồng cô-pếch mà chúng thu được từ việc rao báo trên phố. Một biên tập viên ở Petersburg tên là Leykin đã trao cho Chekhov cơ hội đầu tiên của mình. Ông này điều hành một tạp chí tên là Fragments, và ông giao cho Chekhov nhiệm vụ viết một truyện ngắn mỗi tuần dài một trăm dòng với giá tám cô-pếch một dòng. Đó là một tờ báo khôi hài, và khi Chekhov thỉnh thoảng gửi đi một câu chuyện nghiêm túc, Leykin phàn nàn rằng đây không phải là điều mà độc giả mong muốn. Mặc dù những câu chuyện ông viết được nhiều người yêu thích và đem lại cho ông một chút danh tiếng, nhưng những hạn chế áp đặt lên ông, cả về độ dài lẫn nội dung, khiến ông bất mãn, vì vậy, để làm ông nguôi, Leykin, người có vẻ là một quý ông tinh tế và đàng hoàng, đã nhận lời đề nghị từ Petersburg Gazette để viết một truyện ngắn hàng tuần, dài hơn và theo một thể loại khác, với cùng mức giá tám cô-pếch một dòng. Từ năm 1880 đến năm 1885, Chekhov đã viết ba trăm truyện!
Chúng là potboilers [những câu chuyện nhảm nhí]. Từ điển Oxford cho chúng ta biết rằng đây là một danh từ ám chỉ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được làm ra đơn thuần vì mục đích thương mại. Đây là một thuật ngữ có thể bị loại khỏi từ điển của các nhà phê bình văn học. Tôi phải nói rằng một tác giả trẻ tuổi phát hiện ra mình có một thôi thúc sáng tạo để viết (và cách anh ta sở hữu nó là một bí ẩn khó hiểu như nguồn gốc của tình dục) có thể nghĩ rằng nó sẽ đem lại cho anh ta danh tiếng, nhưng chắc chắn rất hiếm khi nghĩ rằng nó sẽ đem lại tiền bạc; và về điều này, anh ta đã đúng, vì trong những ngày đầu của anh ta, điều đó hầu như bất khả thi. Nhưng khi anh ta quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp với mục đích kiếm sống, anh ta không thể thờ ơ với số tiền mà tài năng của mình sẽ đem lại. Động cơ viết của anh ta không phải điều mà độc giả quan tâm.
Trong khi Chekhov miệt mài viết những thiên truyện này, ông học tập ở trường y để lấy bằng tốt nghiệp. Ông chỉ có thể viết vào ban đêm sau một ngày làm việc vất vả tại bệnh viện. Điều kiện viết lách của ông rất khó khăn. Những khách thuê trọ đã bị đuổi đi và gia đình Chekhov chuyển đến một căn hộ nhỏ hơn, nhưng “Ở phòng bên cạnh,” ông viết cho Leykin, “đứa con của một người họ hàng của tôi [anh trai Alexander] đang khóc, ở phòng bên cạnh, bố tôi đang đọc to một câu chuyện Leskor cho mẹ nghe, ai đó đã lên dây cót cho hộp nhạc của chúng tôi và tôi có thể nghe thấy tiếng Helen xinh đẹp… Giường ngủ của tôi đầy rẫy những họ hàng ghé thăm, những người cứ vài phút lại đến cạnh tôi và bắt đầu lảm nhảm về y học… Đứa trẻ đang rống lên! Tôi vừa quyết định sẽ không bao giờ sinh con. Tôi đoán người Pháp có rất ít con vì họ là một dân tộc văn chương…” Một năm sau, trong một lá thư gửi cho người em trai Ivan, ông viết, “Anh kiếm được nhiều tiền hơn bất cứ sĩ quan trung uý nào của em, nhưng anh không có tiền, không có thức ăn tử tế, không có phòng làm việc riêng… Ngay lúc này đây anh đang rỗng túi, và anh háo hức chờ đợi đến ngày đầu tháng để nhận được sáu mươi rúp từ Petersburg, số tiền mà anh sẽ tiêu ngay lập tức.”
Năm 1884, Chekhov bị thổ huyết. Gia đình có người mắc bệnh lao, và ông không thể không biết điều này tiên báo điều gì, nhưng lo sợ rằng nghi ngờ của mình sẽ được xác nhận nên ông không thăm khám bác sĩ chuyên khoa. Để xoa dịu nỗi lo lắng của mẹ mình, ông nói với bà rằng chứng thổ huyết chỉ là do vỡ mạch máu trong họng và không có gì nghiêm trọng. Vài tháng sau, ông dành dụm đủ tiền để lên Petersburg lần đầu tiên. Ông chưa bao giờ coi trọng những câu chuyện của mình; chúng được viết vì tiền và ông nói rằng không truyện nào tốn quá một ngày để viết. Khi đến Petersburg ông kinh ngạc phát hiện ra rằng mình đã nổi tiếng. Tuy những câu chuyện của ông có vẻ tầm thường, những người trí thức ở Petersburg, khi đó là trung tâm văn hoá của Nga, thấy ở đó sự tươi mới, sống động và một quan điểm độc đáo. Họ rất coi trọng ông. Ông được xem là một trong những nhà văn tài năng nhất thời bấy giờ. Các biên tập viên mời mọc ông đóng góp cho các tạp chí của họ với mức nhuận tốt hơn bất kỳ con số nào ông từng nhận được trước đây. Một trong những nhà văn lỗi lạc của Nga đã thúc giục ông từ bỏ thể loại truyện mà ông đã viết và bắt đầu viết những câu chuyện thực sự thú vị.
Chekhov rất ấn tượng, nhưng ông chưa bao giờ có ý định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Ông nói rằng “Y học là vợ hợp pháp của tôi còn văn học chỉ là tình nhân,” và khi ông trở lại Moscow, ông có ý định hành nghề bác sĩ. Phải thừa nhận rằng ông đã không làm gì đáng kể để tạo dựng một phòng khám phát đạt. Ông kết bạn với rất nhiều người và họ giới thiệu khách hàng cho ông, nhưng bệnh nhân hiếm khi trả tiền cho những lần thăm khám. Ông hóm hỉnh và quyến rũ, với tiếng cười vang dội, dễ lan, là một bảo vật trong các nhóm du mục mà ông năng lui tới. Ông thích đi dự tiệc và tổ chức tiệc. Ông uống rượu thoải mái, nhưng, ngoại trừ những dịp đám cưới hay lễ lạt, hiếm khi thấy ông say. Phụ nữ thấy ông hấp dẫn, và ông đã có một vài mối tình. Nhưng chúng đều vặt vãnh. Theo thời gian, ông thường xuyên đến thăm Petersburg và đi du lịch khắp nước Nga. Mỗi mùa xuân, mặc những bệnh nhân của mình tự lo liệu, ông đưa cả gia đình về nông thôn và ở lại đó cho đến mùa thu. Ngay khi biết ông là bác sĩ, dân làng lại kéo đến khám bệnh và tất nhiên không trả cho ông đồng nào. Để kiếm tiền, ông buộc phải viết truyện. Những câu chuyện đó ngày càng thành công và ông được trả công hậu hĩnh, nhưng ông vẫn thấy khó cáng đáng nổi. Trong một lá thư gửi cho Leykin, ông viết, “Ông hỏi tôi đang làm gì với tiền bạc của mình. Tôi không sống xa hoa, tôi không đi lại hay ăn bận như một gã bảnh bao, tôi không nợ nần, và tôi thậm chí chẳng phải bao một cô bồ (tôi được yêu miễn phí), nhưng dù sao thì tôi cũng chỉ còn lại bốn mươi rúp trong số ba trăm rúp tôi nhận được từ ông và Suvorin trước lễ Phục sinh, chưa kể tôi sẽ phải chi bốn mươi rúp vào ngày mai. Chỉ có Chúa mới biết tiền của tôi đã đi đâu”. Ông dọn tới một căn hộ mới, cuối cùng cũng có một căn phòng riêng, nhưng ông vẫn xin xỏ Leykin tạm ứng trước để trả tiền thuê nhà. Năm 1886, ông lại bị thổ huyết. Ông biết mình nên đến Crimea, nơi mà vào thời điểm đó những người mắc bệnh lao thường đến để hưởng khí hậu ấm áp hơn, giống như bên Tây Âu họ đến Riviera của Pháp và Bồ Đào Nha – và chết như ruồi; nhưng ông gần như rỗng túi. Năm 1889, anh trai Nicholas của ông, một hoạ sĩ khá tài năng, đã qua đời vì bệnh lao. Đó là một cú sốc và một lời cảnh tỉnh. Đến năm 1892, sức khoẻ của chính ông đã suy sụp tới mức ông sợ hãi viễn cảnh phải trải qua một mùa đông nữa ở Moscow. Bằng số tiền vay được, ông mua một điền trang nhỏ gần một ngôi làng tên là Melikhovo cách Moscow năm mươi dặm và như thường lệ, ông đưa cả gia đình theo cùng, ông bố trái nết, bà mẹ, em gái và em trai Michael. Ông đem theo một xe thuốc và bệnh nhân lại đổ xô đến khám ông. Ông đã đối xử với họ tốt nhất có thể và không bao giờ tính phí họ một cô-pếch nào.
Chekhov dành năm năm ở Melikhovo và nhìn chung đó là những năm tháng hạnh phúc. Ông đã viết một số thiên truyện hay nhất của mình ở đây và được trả thù lao hậu hĩnh, bốn mươi cô-pếch một dòng, gần bằng một si-linh. Ông quan tâm đến các vấn đề địa phương, cho xây một con đường mới và trường học cho nông dân bằng tiền túi của mình. Anh trai ông, Alexander, một gã bợm rượu cố hữu, đã dọn đến cùng vợ và các con; bạn bè ghé thăm đôi khi nán lại nhiều ngày, và mặc dù ông phàn nàn rằng họ cản trở công việc của ông, nhưng thiếu họ thì ông không sống nổi. Tuy đau ốm triền miên, ông vẫn vui vẻ, thân thiện, hóm hỉnh và hoạt bát. Thi thoảng ông lại lên Moscow chơi. Một trong những dịp như vậy, vào năm 1897, ông bị xuất huyết nghiêm trọng đến mức được đưa vào phòng khám, và trong một vài ngày ông đã mấp mô bên lề cửa tử. Ông luôn từ chối tin rằng mình bị lao, nhưng giờ đây các bác sĩ bảo ông rằng phần trên của phổi bị hư hoại và nếu muốn sống tiếp, ông phải thay đổi lề thói sinh hoạt. Ông về Melikhovo, nhưng hiểu rõ mình không thể trụ lại đó thêm một mùa đông nữa. Ông nhận ra mình phải từ bỏ nghề y. Ông ra nước ngoài, đến Biarritz và Nice, rồi cuối cùng định cư tại Yalta ở Crimea. Các bác sĩ khuyên ông nên lưu lại đó lâu dài và nhờ khoản ứng trước từ Suvorin, người bạn và biên tập viên của ông, ông xây cho mình một ngôi nhà. Như thường lệ, tài chính của ông vẫn lao đao.
Việc phải từ bỏ nghề y là một đòn giáng mạnh vào Chekhov. Tôi không rõ ông là kiểu bác sĩ thế nào. Sau khi được cấp phép hành nghề, ông chưa bao giờ phục vụ lâm sàng tại bệnh viện quá ba tháng và tôi đoán chừng cách ông đối xử với bệnh nhân có phần thô lỗ và qua loa. Nhưng ông có lý lẽ và sự cảm thông, và nếu ông để mọi chuyện thuận theo tự nhiên, có lẽ ông đã giúp ích cho bệnh nhân của mình không kém gì một người có kiến thức sâu rộng hơn. Những trải nghiệm phong phú mà ông có được từ đó đã giúp ích cho ông rất nhiều. Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn. Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.
Mặc dù buồn chán ở Yalta, sức khoẻ của Chekhov đã cải thiện trong một thời gian. Tôi chưa có dịp đề cập đến việc Chekhov, ngoài số lượng truyện dài của mình, vào thời kỳ này đã viết hai hoặc ba vở kịch không mấy thành công. Nhờ chúng, ông biết đến một nữ diễn viên trẻ tên là Olga Knipper. Ông đã yêu nàng và vào năm 1901, bất chấp gia đình phản đối, họ đã kết hôn. Người ta thu xếp để nàng tiếp tục diễn xuất và do vậy họ chỉ ở bên nhau khi Chekhov lên Moscow để gặp nàng hoặc chính nàng, để nghỉ ngơi, như giới sân khấu thường nói, tìm xuống Yalta. Những lá thư ông gửi cho nàng được lưu giữ lại. Chúng dịu dàng và cảm động. Sức khoẻ của ông lại lao dốc và ông đã trở nên rất kiệt quệ. Ông ho rất nhiều và không ngủ nổi. Đau khổ hơn nữa là Olga Knipper bị sảy thai. Chính nàng đã thúc giục Chekhov viết một vở hài kịch nhẹ nhàng, đó là điều mà công chúng mong muốn, và tôi cho rằng ông đã bắt tay vào viết vở kịch đó chủ yếu để làm đẹp lòng nàng. Vở kịch được gọi là Vườn anh đào và ông hứa với Olga sẽ dành riêng một đoạn hay cho nàng. “Tôi viết bốn dòng một ngày,” ông thư cho một người bạn, “và ngay cả điều này cũng khiến tôi đau đớn khôn tả.” Ông hoàn thiện vở kịch và nó được công chiếu ở Moscow vào đầu năm 1904. Vào tháng 6 năm sau, theo lời khuyên từ bác sĩ, ông đến khu nghỉ dưỡng của Đức ở Badenweiler. Một người đàn ông trẻ người Nga đã viết một bài tường thuật về cuộc gặp gỡ với Chekhov vào buổi tối trước ngày ông rời đi. Tôi trích dẫn những dòng sau từ A Life của Magarshack:
“Trên một chiếc ghế sofa, được đỡ bởi những tấm nệm, có một người đàn ông rất gầy và có vẻ nhỏ bé, với bờ vai hẹp và khuôn mặt nhợt nhạt không chút sinh khí, mặc áo khoác ngoài hoặc áo choàng và phủ một tấm thảm lên chân – Chekhov đã trở nên tiều tuỵ đến mức không thể nhận ra. Tôi không bao giờ nghĩ một người có thể thay đổi nhiều đến thế.
“Ông ấy giơ bàn tay yếu ớt, trắng bệch như sáp, bàn tay mà tôi không dám trông vào, và nhìn tôi bằng đôi mắt dịu dàng nhưng thiếu vắng nụ cười…
“‘Tôi sẽ rời đi vào ngày mai,’ ông ấy nói. ‘Tôi sẽ đi xa để chết.’ “Ông ấy dùng một từ khác, một từ tàn nhẫn hơn ‘chết’, mà tôi không muốn nhắc lại bây giờ.”
“‘Tôi sẽ đi xa để chết,’ ông cố tình lặp lại. ‘Hãy vĩnh biệt bạn bè của anh thay tôi …. Nói với họ rằng tôi nhớ họ và tôi rất quý một số người trong số họ. Chúc họ thành công và hạnh phúc thay tôi. Chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.’”
Ban đầu ở Badenweiler, Chekhov cảm thấy bệnh tình thuyên giảm đến mức ông bắt đầu thảo kế hoạch đến Ý. Một buổi tối, khi ông lên giường đi ngủ, vì Olga đã dành cả ngày túc trực cạnh ông, ông khăng khăng rằng nàng nên đi dạo quanh công viên. Khi nàng trở lại, ông lại bảo nàng xuống ăn tối, nhưng nàng nói với ông rằng tiếng chuông báo chưa reo. Để giết thời giờ, ông bắt đầu kể cho nàng nghe một câu chuyện về một khu nghỉ mát đông đúc gồm những du khách sành điệu, những ông chủ nhà băng béo phì, những gã người Mỹ và người Anh tráng kiện. “Một buổi tối, tất cả du khách trở về khách sạn và phát hiện tên đầu bếp đã bỏ trốn và không có bữa tối nào đang đón chờ họ cả. Chekhov tiếp tục mô tả sự việc trên đã ảnh hưởng ra sao tới từng du khách quen được nuông chiều này.” Ông đã kể một câu chuyện rất vui nhộn về điều đó và Olga Knipper cười phá lên. Nàng trở lại với ông sau bữa tối. Chekhov đang nghỉ ngơi trong an tĩnh. Nhưng đột nhiên tình hình trở nên tồi tệ và các bác sĩ liền kéo đến. Họ đã làm mọi cách có thể, nhưng vô ích. Chekhov đã chết. Những lời trăng trối của ông là bằng tiếng Đức, Ich Sterbe. Ông bốn mươi bốn tuổi.
Alexander Kuprin đã viết trong hồi ký của mình về Chekhov như sau, “Tôi nghĩ rằng ông ấy không mở lòng hay trao trọn trái tim mình cho bất kỳ ai. Nhưng ông ấy đối xử tử tế với mọi người, trong tình bạn giữ một sự lãnh đạm chừng mực – và đồng thời với sự quan tâm lớn lao, có lẽ là vô thức.” Điều này sáng tỏ một cách lạ lùng. Nó tiết lộ cho chúng ta nhiều hơn về Chekhov so với bất kỳ sự kiện nào trong bản tường thuật ngắn gọn về cuộc đời ông mà tôi có dịp kể lại.
5.
Những câu chuyện đầu tiên của Chekhov phần lớn là truyện khôi hài. Ông viết chúng rất dễ dàng; như ông nói thì viết như chim hót, và không mấy coi trọng chúng. Chỉ đến sau chuyến ghé thăm đầu tiên đến Petersburg, khi ông phát hiện ra mình được coi là một tác giả tài năng đầy triển vọng, ông mới bắt đầu coi trọng bản thân. Sau đó, ông tự đặt ra mục tiêu để thông thạo nghề của mình. Một ngày nọ, một người bạn thấy ông đang sao chép một câu chuyện của Tolstoy và khi được hỏi ông đang làm gì, ông trả lời, “Tôi đang viết lại nó”. Người bạn kia đã rất sốc khi thấy ông lại thản nhiên làm vậy với tác phẩm của bậc thầy, sau đó Chekhov lý giải rằng ông làm vậy như một bài tập; ông đã hình thành ý tưởng (theo tôi biết thì là một ý tưởng hay) rằng bằng cách viết lại như vậy, ông có thể học hỏi phương pháp của các nhà văn mà ông ngưỡng mộ và qua đó phát triển một phong cách riêng của mình. Rõ ràng công sức bỏ ra không hề lãng phí. Ông đã học được cách sáng tác những câu chuyện của mình với kỹ năng hoàn hảo: Ví dụ, Dân quê được viết tao nhã như Bà Bovary của Flaubert. Chekhov đã kỷ luật bản thân để viết đơn giản, rõ ràng và khúc chiết, và chúng ta được biết rằng ông đã đạt tới một phong cách tuyệt bích. Điều này, chúng ta, những người đọc ông qua bản dịch, buộc phải tin tưởng, vì ngay cả trong dịch bản chính xác nhất thì hương vị, cảm xúc, sự du dương trong lời văn của tác giả cũng bị mất đi.
Chekhov rất quan tâm đến kỹ thuật viết truyện ngắn và ông có một số bí quyết thú vị khác thường để bàn về nó. Ông tuyên bố rằng một câu chuyện không được chứa bất kỳ điều gì thừa thãi. “Mọi thứ không liên quan đến câu chuyện phải bị loại bỏ không thương tiếc,” ông viết. “Nếu trong chương đầu tiên anh nói rằng có một khẩu súng treo trên tường, thì trong chương thứ hai hoặc thứ ba, nó phải được bóp cò.” Điều này có vẻ khá xác đáng, và tuyên bố của ông rằng các mô tả thiên nhiên nên ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm cũng xác đáng. Bản thân ông có thể chỉ bằng một hay hai từ để đem đến cho người đọc ấn tượng sống động về một đêm hè khi những chú chim hoạ mi hót líu lo hoặc về sự rực rỡ lạnh lẽo của những thảo nguyên vô tận dưới lớp tuyết mùa đông. Đó là một món quà vô giá. Tôi nghi ngờ việc ông lên án các phép nhân hoá. “Biển cười,” ông viết trong một lá thư, “tất nhiên là anh phải phải say mê nó. Nhưng nó thô thiển và rẻ tiền… Biển không cười hay khóc, nó gầm rú, loé sáng, lấp lánh. Hãy xem Tolstoy làm thế nào: ‘Mặt trời mọc rồi lặn, chim hót.’ Không ai cười hay nức nở cả. Và đó là điều quan trọng nhất – sự giản dị”. Điều này đúng, nhưng, suy cho cùng, chúng ta đã nhân cách hoá thiên nhiên từ thuở khai thiên lập địa và nó đến với chúng ta một cách tự nhiên đến nỗi chúng ta chỉ có thể tránh né nó bằng nỗ lực. Bản thân Chekhov không phải lúc nào cũng làm như vậy; và trong truyện Cuộc đấu súng của mình, ông kể với chúng ta rằng “một ngôi sao ló ra và rụt rè chớp một bên mắt”. Tôi không thấy điều này có gì đáng bắt bẻ; thực tế là tôi thích phép nhân hoá đó. Đối với người anh trai Alexander, cũng là một nhà văn viết truyện ngắn, nhưng bất tài, ông này nói rằng một tác giả không bao giờ được mô tả những cảm xúc mà chính anh ta chưa trải qua. Đây là một tuyên bố khó nghe. Chắc chắn là không nhất thiết phải giết người để mô tả cho thuyết phục những cảm xúc mà kẻ giết người cảm thấy khi hắn ta phạm tội. Rốt cuộc, nhà văn có trí tưởng tượng và nếu y là một nhà văn giỏi, y có khả năng đồng cảm để nhập tâm vào nhân vật của mình. Nhưng nguyên tắc quán triệt nhất mà Chekhov đưa ra là một tác giả phải cắt bỏ phần đầu và phần cuối của câu chuyện. Đó là điều mà chính ông đã làm, nghiêm ngặt tới mức bạn bè ông thường nói rằng các bản thảo của ông phải bị lấy đi trước khi ông có cơ hội cắt xén chúng, “nếu không, anh ta sẽ rút gọn những câu chuyện của mình thành thế này, rằng họ còn trẻ, đã yêu, đã kết hôn và không hạnh phúc.” Khi nghe được điều này, Chekhov trả lời, “Nhưng hãy xem này, thực tế mọi chuyện xảy ra đúng như vậy.”
Chekhov coi Maupassant là hình mẫu. Nếu ông không tự mình nói với độc giả điều đó, tôi sẽ không bao giờ tin, vì đối với tôi mục đích và phương pháp của họ có vẻ hoàn toàn khác biệt. Nhìn chung, Maupassant tìm cách kịch tính hoá những câu chuyện của mình và để làm được điều này, như tôi đã nói trước đây, ông sẵn sàng hy sinh tính hợp lý nếu cần thiết. Tôi thiên về quan điểm rằng Chekhov cố tình tránh né lối kịch tính. Ông viết về những người bình thường sống cuộc sống bình thường. “Mọi người không đến Bắc Cực để ngã khỏi tảng băng trôi”, ông đã viết trong một lá thư. “Họ đến văn phòng, cãi nhau với vợ và ăn súp bắp cải”. Người ta có thể phản bác một cách đích đáng rằng mọi người đến Bắc Cực nếu không để rơi khỏi tảng băng trôi thì cũng để trải qua những cuộc phiêu lưu mạo hiểm, và không có lý do gì mà một tác giả lại không nên viết những câu chuyện hay ho về họ. Rõ ràng là không đủ thoả đáng khi chỉ viết về những người bình thường đến văn phòng làm việc và ăn súp bắp cải, và tôi không tin rằng Chekhov từng nghĩ như vậy: để tạo ra một câu chuyện, chắc chắn họ phải thụt két hoặc ăn hối lộ, phải đánh đập hoặc lừa dối vợ mình, và khi họ ăn súp bắp cải thì phải có ý nghĩa. Sau đó, nó trở thành một biểu tượng của một cuộc sống gia đình êm ấm hoặc nỗi thống khổ của một con người tuyệt vọng.
Sự nghiệp y học của Chekhov, mặc dù gián đoạn, đã khiến ông tiếp xúc với đủ loại người, từ nông dân, công nhân nhà máy, chủ xưởng, thương gia đến giới quan chức, những người ít nhiều đã góp chút công sức hèn mọn trong việc tàn phá cuộc sống dân đen, những chủ đất đã rớt xuống mức bần cùng do cuộc giải phóng nông nô. Ông dường như không bao giờ tiếp xúc với tầng lớp quý tộc, và tôi chỉ biết một câu chuyện, một câu chuyện cay đắng có tên là Công chúa, trong đó ông đề cập đến tầng lớp này. Ông đã viết với sự thẳng thắn tàn nhẫn về sự vô trách nhiệm của những trang chủ đã phung phí gia sản của mình đến mức mục ruỗng; về số phận khốn khổ của những công nhân nhà máy sống lay lắt trong cảnh bần cùng, làm việc quần quật mười hai tiếng một ngày để ông chủ của họ có thể tậu thêm bất động sản; về sự thô bỉ và tham tàn của tầng lớp thương nhân; về sự bẩn thỉu, say xỉn, tàn bạo, ngu dốt, lười nhác của những nông dân được trả lương thấp, luôn đói khát, sống trong những túp lều hôi thối, đầy giun sán.
Chekhov có thể trao cho những sự kiện mà ông mô tả một tính chân thực khác thường. Bạn chấp nhận những gì được kể với bạn như nghe từ một phóng viên đáng tin cậy. Nhưng tất nhiên Chekhov không đơn thuần là một phóng viên; ông quan sát, thu thập, phỏng đoán và kết hợp. Như Koteliansky đã nói, “Với sự khách quan tuyệt diệu của mình, vượt lên trên nỗi buồn và niềm vui cá nhân, Chekhov hiểu biết và nhìn thấu mọi thứ. Ông có thể tử tế và hào phóng mà không yêu thương; dịu dàng và cảm thông mà không ràng buộc, là một ân nhân không trông cậy ở lòng biết ơn.”
Nhưng sự thờ ơ của Chekhov khiến nhiều nhà văn đồng nghiệp phẫn nộ và ông đã bị đả kích dữ dội. Ông bị buộc tội là dửng dưng với các sự kiện và hoàn cảnh xã hội của thời đại. Giới trí thức đòi hỏi ở một nhà văn Nga nghĩa vụ phải giải quyết chúng. Câu trả lời của Chekhov là công việc của nhà văn là tường thuật các sự kiện và để độc giả tự quyết định nên làm gì với chúng. Ông nhấn mạnh rằng nghệ sĩ không nên bị yêu cầu phải giải quyết các vấn đề mang tính chuyên môn hẹp. “Đối với những vấn đề đặc biệt,” ông nói, “chúng ta có các chuyên gia; công việc của họ là xét đoán công chúng, số phận của chủ nghĩa tư bản, tác hại của rượu chè…” Điều đó có vẻ thoả đáng. Nhưng vì đây là một quan điểm mà hiện nay dường như đang được thảo luận rộng rãi trong thế giới văn chương, tôi sẽ mạo muội trích dẫn một số nhận xét mà tôi đã đưa ra cách đây vài năm trong bài giảng mà tôi đã trình bày tại Liên hiệp Sách Quốc gia. Một ngày nọ, tôi đọc, như thói quen thường lệ, trang báo mà một trong những tuần san tiếng Anh hay nhất của chúng tôi dành để xem xét văn học đương thời. Nhân dịp này, người đánh giá bắt đầu bài viết của mình về một tác phẩm hư cấu mới xuất bản bằng những từ, “Ông Gì Gì Đó không đơn thuần là một người kể chuyện.” Từ “đơn thuần” tắc ứ trong cổ họng tôi và vào ngày hôm đó, giống như Paolo và Francesca trong một dịp khác, tôi không đọc thêm nữa. Bản thân nhà phê bình này là một tiểu thuyết gia nổi tiếng và mặc dù tôi chưa đủ may mắn để đọc bất kỳ tác phẩm nào của ông, tôi không nghi ngờ rằng chúng rất đáng ngưỡng mộ. Nhưng từ nhận xét này của ông, tôi chỉ có thể kết luận rằng theo ông, một tiểu thuyết gia không thể chỉ là một tiểu thuyết gia. Rõ ràng là, mặc dù có thể tồn tại vài mối quan ngại, ông chấp nhận quan niệm phổ biến trong giới nhà văn ngày nay, rằng trong tình trạng hỗn loạn của thế giới mà chúng ta đang sống, thật phù phiếm khi một tiểu thuyết gia chỉ viết nhằm mục đích giúp người đọc trải qua vài giờ dễ chịu. Như chúng ta đã biết, những tác phẩm như vậy bị khinh rẻ là thoát ly thực tế. Từ đó, giống như “potboiler”, là một từ có thể bị loại khỏi từ điển của nhà phê bình. Tất cả nghệ thuật đều thoát ly thực tế, các bản giao hưởng của Mozart cũng như các bức tranh phong cảnh của Constable; và chúng ta có đọc Shakespeare hay những áng thơ ca ngợi của Keats vì bất cứ điều gì khác không, ngoài niềm vui mà chúng đem lại cho ta? Tại sao ta phải đòi hỏi nhiều hơn từ tiểu thuyết gia so với thi sĩ, nhạc sĩ hay hoạ sĩ? Trên thực tế, không có thứ gì gọi là một câu chuyện “đơn thuần”. Khi viết một câu chuyện, tác giả, đôi khi không có ý định nào khác ngoài việc làm cho nó dễ đọc, tuỳ tiện đưa ra lời chỉ trích về cuộc sống. Trong tác phẩm Truyện kể núi đồi, Rudyard Kipling viết về những thường dân Ấn Độ, những sĩ quan chơi polo và về vợ của họ, ông đã viết với sự ngưỡng mộ ngây thơ của một nhà báo trẻ xuất thân khiêm tốn bị lóa mắt bởi những gì anh ta xem là quyến rũ. Thật đáng kinh ngạc khi không ai vào thời điểm đó thấy những câu chuyện này là lời cáo buộc lên án Quyền lực Tối cao. Giờ đây ta không thể đọc chúng mà không nhận ra sớm muộn gì người Anh cũng sẽ buộc phải từ bỏ ách thống trị của họ đối với Ấn Độ. Chekhov cũng vậy. Mặc dù ông cố gắng tỏ ra khách quan, chỉ muốn mô tả cuộc sống bằng sự thật, bạn không thể đọc những câu chuyện của ông mà không nhận ra rằng sự tàn bạo và sự ngu dốt mà ông đã viết, hay sự tham nhũng, cảnh khốn khổ cùng kiệt của người nghèo và sự vô tư của người giàu, chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng đẫm máu.
Tôi cho rằng hầu hết mọi người đọc truyện hư cấu vì họ không có nhiều việc khác để làm. Họ đọc vì niềm vui, đó là điều nên làm, nhưng những người khác nhau tìm kiếm ở việc đọc những niềm vui khác nhau. Trước tiên là niềm vui được công nhận. Những độc giả đương thời đọc Biên niên sử Barchester của Trollope với sự mãn nguyện sâu sắc vì ông đã mô tả cuộc sống mà chính họ đã trải qua. Phần lớn độc giả của ông thuộc tầng lớp trung thượng lưu và họ cảm thấy thoải mái với tầng lớp trung thượng lưu mà ông đã tiếp xúc. Họ cảm thấy cùng một sự tự mãn khoan khoái khi ông Browning thân yêu nói với họ rằng “Chúa ngự trên thiên đường của Người – Với thế gian mọi sự đều đúng.” Thời gian đã mang lại sức hấp dẫn của thể tài cho những tiểu thuyết này. Chúng ta thấy chúng vui nhộn, và khá cảm động (thật tuyệt khi được sống trong một thế giới mà cuộc sống của những người khá giả lại dễ dàng đến vậy và cuối cùng mọi chuyện đều ổn!) và chúng có cùng một sức hấp dẫn như những bức tranh giai thoại vào giữa thế kỷ XIX, với những quý ông râu rậm trùm áo choàng và đội mũ chóp cao, và những thiếu nữ xinh đẹp đội mũ nồi và diện váy phồng. Những độc giả khác tìm kiếm trong tiểu thuyết sự kỳ lạ và mới mẻ. Câu chuyện kỳ lạ luôn có người hâm mộ. Hầu hết mọi người sống một cuộc đời buồn tẻ vô cùng, và việc đắm mình trong một thế giới đầy bất trắc và những chuyện phiêu lưu nguy hiểm là một lối thoát khỏi sự đơn điệu của cuộc sống. Tôi ngờ rằng những độc giả người Nga tìm thấy ở những câu chuyện của Chekhov một niềm vui rất khác so với những độc giả châu Âu. Họ thấu triệt hoàn cảnh của những người mà ông đã dày công mô tả. Những độc giả Anh tìm thấy trong những câu chuyện của ông một điều gì đó mới mẻ và kỳ lạ, thường là khủng khiếp và buồn bã, nhưng được trình bày với một sự thật ấn tượng, hấp dẫn và thậm chí lãng mạn.
Chỉ những người rất ngây ngô mới có thể tin rằng một tác phẩm hư cấu có thể cung cấp cho chúng ta thông tin xác đáng về các chủ đề mà chúng ta cần nắm rõ để hiểu về cách đối nhân xử thế. Theo bản chất của năng khiếu sáng tạo, nhà văn không đủ năng lực để giải quyết những vấn đề như vậy; y không lý giải được tại sao, mà chỉ cảm nhận, tưởng tượng và sáng tạo. Y thiên vị. Các chủ đề mà nhà văn lựa chọn, các nhân vật mà y tạo ra và thái độ của y đối với họ bị chi phối bởi tính thiên vị nơi y. Những gì y viết là sự tái hiện tính cách của y và thể hiện bản năng, cảm xúc, trực giác và kinh nghiệm của y. Y nạp xúc xắc, đôi khi không rõ mình đang làm gì, nhưng đôi khi lại rất rõ; và sau đó y vận dụng kỹ năng mà y sở hữu để ngăn người đọc nhận ra y. Henry James nhấn mạnh rằng nhà văn hư cấu nên kịch tính hoá. Đó là một lối nói ẩn dụ, mặc dù xem chừng không được sáng suốt lắm, để nói rằng ông phải sắp xếp các sự kiện của mình sao cho thu hút được người đọc và giữ chân họ. Như mọi người đều biết, đây là điều Henry James đã luôn làm, nhưng tất nhiên đó không phải cách một tác phẩm có giá trị khoa học hoặc giàu thông tin được viết ra. Nếu độc giả quan tâm đến những vấn đề cấp thiết của thời đại, họ sẽ thu về nhiều hơn khi đọc, như Chekhov đã khuyên họ, không phải tiểu thuyết hay truyện ngắn, mà là những tác phẩm đặc thù đề cập đến chúng. Mục đích đúng đắn của nhà văn không phải là chỉ dẫn, mà là để làm hài lòng độc giả.
Các tác giả sống một cuộc đời ẩn dật. Họ không được mời đến tiệc chiêu đãi với ngài Thị trưởng. Nền tự do của các thành phố lớn không được trao tay họ. Họ không có vinh dự đập vỡ một chai sâm-panh vào thân một con tàu viễn dương sắp xuất chinh lần đầu tiên. Không giống với các ngôi sao điện ảnh, đám đông không tụ tập để thấy các nhà văn bước ra khỏi khách sạn và nhảy lên một chiếc Roll-Royce. Họ không được mời đến các hội chợ lộ thiên để giúp đỡ những quý bà thượng lưu cùng đường ách vận, cũng không được mời đến trước đám đông reo hò để trao chiếc cúp bạc cho quán quân khuôn khổ đơn nam tại Wimbledon. Nhưng họ có sự đền bù. Từ thời tiền sử, những người đàn ông được ban tặng một món quà sáng tạo đã xuất hiện, những người từng tô điểm cho công việc kinh doanh ảm đạm của cuộc sống bằng các tác phẩm nghệ thuật. Như bất kỳ ai cũng có thể tự mình chứng kiến khi đến Crete, những chiếc cốc, bát, bình đã được trang trí bằng các hoạ tiết – không phải để làm chúng hữu ích hơn mà khiến chúng đẹp mắt hơn. Trong suốt nhiều thế kỷ, các nghệ sĩ đã tìm thấy sự thoả mãn tuyệt đối của họ khi tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Nếu tiểu thuyết gia có thể làm được điều đó, y đã làm tất cả những gì có thể được đòi hỏi một cách hợp lẽ. Thật là một sự lạm dụng khi coi tiểu thuyết như một bục giảng hoặc một diễn đàn.
6.
Tôi cho rằng sẽ thiếu công tâm nếu kết thúc bài luận rời rạc này mà không nhắc đến một tác giả tài năng, người đã viết những câu chuyện rất được ngưỡng mộ trong khoảng giữa hai cuộc thế chiến. Đó là Katherine Mansfield. Nếu kỹ thuật của các nhà văn viết truyện ngắn người Anh ngày nay có phần khác biệt so với kỹ thuật của các bậc thầy thuộc thế kỷ mười chín, tôi tin rằng ít nhiều chúng chịu ảnh hưởng của bà. Ở đây không có chỗ để thuật lại cuộc đời của Bà Mansfield, nhưng vì các tác phẩm của bà phần lớn đều mang tính cá nhân mạnh mẽ, tôi sẽ phải lướt qua một vài điểm. Bà sinh năm 1888 tại New Zealand. Từ sớm bà đã viết một loạt những mẩu truyện nhỏ ít nhiều hứa hẹn và bà quyết tâm trở thành một nhà văn. Cảm thấy cuộc sống của New Zealand tù túng và nhàm tẻ, bà thúc giục cha cho phép bà trở lại Anh Quốc, nơi bà từng đi học cùng các chị gái của mình trong hai năm. Gia đình đáng kính của bà đã phát hoảng khi phát hiện ra bà từng có một chuyến phiêu lưu chóng vánh với một chàng trai trẻ mà bà gặp ở một vũ hội, và dường như điều này đã thúc đẩy họ cho phép bà đi. Cha bà cho bà một khoản trợ cấp thường niên một trăm bảng, số tiền mà vào thời đó nếu biết tiết kiệm, một thiếu nữ có thể sống khá đủ đầy. Ở London bà nối lại quan hệ với một vài người bạn đồng hương. Một người là Arnold Trowell, người đã tạo dựng được tên tuổi như một nghệ sĩ xen-lô. Cô từng yêu anh điên cuồng ở New Zealand, nhưng ở London cô liền hướng trái tim mình về người em trai, vốn là một nhạc công vĩ cầm. Họ trở thành tình nhân. Chi phí ăn uống và nhà ở của một thiếu nữ chưa kết hôn tiêu tốn của cô hai mươi lăm si-linh mỗi tuần và do đó cô chỉ còn mười lăm si-linh để sắm sửa quần áo cùng giải trí tiêu khiển. Cô thấy phiền hà vì phải sống trong cảnh túng thiếu như vậy và, khi một giáo viên âm nhạc, George Bowden, hơn cô mười tuổi, tới hỏi cưới cô, cô đã gật đầu ưng thuận. Cô làm lễ cưới trong một tấm váy đen với một cô bạn là chứng nhân duy nhất. Đêm đó họ về một khách sạn. Cô từ chối trao cho chồng thứ mà anh tin rằng thuộc quyền lợi hôn nhân của mình, và rời bỏ anh ta ngay hôm sau. Sau đó, cô viết một câu chuyện dữ dằn về anh, tên là Ngày của ngài Reginald Peacock. Cô tìm tới tình nhân của mình, bấy giờ đang kéo đàn tại Liverpool, trong dàn nhạc của một đoàn hài kịch lưu động, và người ta nói rằng trong một thời gian ngắn, cô đã tham gia dàn hợp xướng. Cô có thai, nhưng không rõ cô biết chuyện này trước hay sau khi kết hôn một thời gian ngắn. Katherine đánh một bức điện tín về cho cha mẹ ở New Zealand để thông báo về cuộc hôn nhân sắp tới của mình và một bức khác để nói rằng cô đã bỏ chồng. Mẹ cô tìm đến tận Anh để chứng kiến tình hình, và bà hẳn đã rất sốc khi thấy con gái mình đang ở trong tình trạng mà thời Victoria họ gọi là “trong một hoàn cảnh thú vị”. Người ta thu xếp cho cô đến ở cữ tại Wörishofen ở Bavaria. Tại đó, cô đã đọc những câu chuyện của Chekhov, có lẽ qua bản dịch tiếng Đức, và viết những câu chuyện sau này sẽ được xuất bản trong cuốn sách Ở nhà trọ Đức. Do một tai nạn, cô phải nằm viện và đứa trẻ qua đời ngay sau khi sinh. Hồi phục xong, cô trở về Anh.
Những câu chuyện đầu tiên của Mansfield được đăng tải trên tờ Orage’s New Age và đem lại cho cô một ít sự công nhận. Cô đã giao thiệp với một vài bạn văn của mình. Năm 1911 cô gặp Middleton Murry. Mặc dù vẫn là một sinh viên nhưng anh này đã thành lập một tạp chí có tên Rhythm và anh chấp nhận một câu chuyện mà cô đã viết theo yêu cầu của anh. Đó là Người đàn bà ở cửa hàng. Middleton Murry xuất thân từ tầng lớp hạ trung lưu, nhưng một sự kết hợp khéo léo giữa trí thông minh và tính chuyên cần đã giúp anh đi từ một trường nội trú tới trường Higher Grade, rồi từ đây, nhờ một học bổng, tới được Christ’s Hospital và cuối cùng, lại nhờ một học bổng, cập bến Oxford. Anh quyến rũ và và ưa nhìn. Thực sự thì anh rất đẹp, theo lời Francis Carco, một trí thức người Pháp từng quen biết anh trong một chuyến đi tới Paris, đám gái điếm ở Montmartre đã tranh giành nhau để được lên giường với anh mà không tính phí. Murry yêu Katherine. Điều này thúc đẩy anh thực hiện một bước tiến mà anh vẫn luôn trù trừ; đó là rời bỏ Oxford mà không tham dự kỳ thi đầu vào như mong đợi, và vì anh chẳng có năng khiếu gì đặc biệt ngoài việc thi cử, nên anh phải viết văn để kiếm sống. Oxford làm anh thất vọng và anh cảm thấy nó đã cho anh tất cả những gì anh có thể mong đợi. Fox, gia sư cũ của anh, đã giới thiệu anh với Spender, biên tập viên của tờ The Westminster Gazette, người đã đồng ý cho anh thử việc. Anh đang tìm một nơi ở tại London, và một ngày nọ, khi anh đang dùng bữa tối cùng Katherine, cô đề xuất cho anh thuê một phòng trong căn hộ mà cô đang ở với giá bảy hào sáu xu một tuần. Anh chuyển đến ở cùng. Vì cả hai đều bận bịu cả ngày, cô với những câu chuyện của mình, anh với công việc của tờ The Westminster Gazette, nên họ chỉ gặp nhau vào buổi tối. Sau đó, họ sẽ nói chuyện với nhau, chủ yếu theo kiểu những người trẻ tuổi vẫn thường làm, tôi đoán vậy, về bản thân họ cho tới hai giờ sáng. Vào một buổi tối, sau một khoảng lặng giữa cuộc trò chuyện, cô hỏi anh: “Sao anh không làm người yêu của em?” “Ồ, không,” anh đáp, “điều đó sẽ phá hỏng mọi chuyện. Em không nghĩ vậy sao?” “Chắc vậy,” cô trả lời. Một lúc sau, anh ngạc nhiên khi biết rằng câu trả lời của mình cho lời đề nghị của cô đã khiến cô vô cùng khó chịu. Tuy vậy, ngay sau đó, họ đã làm tình, và theo cuốn tự truyện của Murry, Giữa hai thế giới, họ dự tính sẽ kết hôn ngay khi cô được trả tự do. George Bowden, khả năng là vì oán giận, đã từ chối ly dị. Cặp đôi đến Paris hưởng tuần trăng mật, nhân tiện Murry muốn giới thiệu cô với anh bạn thân Francis Carco của mình. Trên đường về Anh họ sống thi thoảng ở London, thi thoảng ở miền quê. Chưa kịp an cư ở một chỗ nào thì Katherine đã chán ghét nó và họ lại chuyển đi. Trong hai năm họ đã chuyển nhà mười ba lần. Cuối cùng họ quyết định an trú trọn đời ở Paris. Vào khoảng này Murry đã nên danh trong báo giới, và đã có thể tiết kiệm một phần thu nhập của mình; giờ đây anh thu xếp với Spender và với Richmond, biên tập viên của tờ The Times Literary Supplement, để viết những bài viết về nền văn chương Pháp đương đại. Với khoản tiết kiệm của mình, với khoản thù lao mà anh kỳ vọng ở công việc này cùng với khoản trợ cấp của Katherine, họ không mảy may nghi ngờ liệu họ có đủ tiền trang trải hay không.
Một lần ở Paris, cặp đôi tậu một căn hộ và mang theo từ Anh những đồ nội thất sưu tầm với một cái giá phải chăng. Họ gặp gỡ Francis Carco rất nhiều. Sự hiện diện của anh ta làm Katherine thích thú; anh ta năng nổ và hài hước; và dường như anh ta đã khiến cô cảm nhận được điều mà người Pháp gọi là un petit brin de cour [một chút ve vãn]. Nhưng những bài viết của Murry đồng thời bị từ chối bởi tờ The Westminster và The Times Literary Supplement và tiền nong trở nên cạn kiệt. Carco không thể giúp họ: trái lại, suốt thời gian qua anh ta còn là một gánh nặng tài chính. Họ đã lâm vào đường cùng. Bỗng Murry nhận được một lá thư từ Spender nói rằng vị trí phê bình nghệ thuật ở The Westminster Gazette sắp bị bỏ trống và nếu anh chịu quay lại đây thì anh sẽ đảm nhận chức vụ này. Họ miễn cưỡng trở về Anh. Đó là tháng Ba năm 1914. Như thường lệ họ sống nay đây mai đó. Vào tháng Tám chiến tranh nổ ra và công việc phê bình nghệ thuật của Murry cũng chấm dứt. Họ dọn tới một chái nhà gianh ở Cholesbury, Buckinghamshire, để được gần D. H. Lawrance và vợ ông, những người mà họ đã đánh bạn. Nhưng nó không thành công. Katherine khao khát cuộc sống thị thành, Murry lại chán ghét nó. Cô bị chứng tê khớp hành hạ và không viết nổi. Họ rất cùng kiệt. Cô phàn nàn rằng Murry không muốn kiếm tiền và không chịu kiếm tiền. Anh chàng hầu như không có cơ hội làm điều đó. Họ tức bực nhau tới nỗi đến Giáng Sinh, cả hai ngầm hiểu rằng họ sắp chia tay. Katherine và Francis vẫn thư từ qua lại kể từ khi Murry và bà rời Paris. Có lẽ cô coi trọng những lá thư của Francis hơn anh ta dự tính, bởi dường như cô nghĩ rằng anh ta yêu mình. Liệu cô có yêu anh ta không thì không ai biết được. Anh ta quyến rũ và cô muốn rời xa Murry. Cô nghĩ rằng Francis Carco có thể đem đến cho cô niềm hạnh phúc mà Murry giờ đây không thể đem lại được nữa. Murry, người hiểu rõ Francis hơn cô, cả quyết rằng cô đang tự huyễn hoặc mình, nhưng không hề cố gắng khuyên giải. Em trai của Katherine, Leslie Heron Beauchamp, đến Anh để tòng ngũ và trao cô tiền để sang Pháp đoàn tụ với Francis Carco. Vào thứ Hai, ngày 15 tháng Hai, Murry tiễn cô đến London, và hai hoặc ba ngày sau đấy cô rời đi Paris.
Carco đã bị gọi nhập ngũ và đóng quân tại một nơi gọi là Gray. Doanh trại nằm trong khu vực cấm phụ nữ, khiến Katharine gặp khó khăn khi đến đó. Carco đón cô tại nhà ga và đưa bà đến căn nhà nhỏ nơi anh ta trú ngụ. Cô ở lại với anh ta ba ngày rồi trở về Paris – trong cảm giác thất vọng cay đắng. Nguyên do thì chỉ có thể phỏng đoán. Đột nhiên Murry nhận được điện tín từ Katherine báo rằng cô sẽ trở về và sẽ có mặt tại Victoria vào 8 giờ sáng hôm sau. Khi đến nơi, cô bảo anh (phải thừa nhận là có phần thiếu tế nhị) rằng cô sẽ không quay lại với anh, và cô đến đây chỉ vì không còn nơi nào khác để đi. Họ lại tiếp tục chung sống trong trạng thái mà Murry gọi là “một kiểu đình chiến mệt mỏi”. Chuyến phiêu lưu của Katherine đã cung cấp chất liệu cho câu chuyện mang tên Je ne Parle pas Français. Trong đó, cô vẽ một bức chân dung cay nghiệt, nhưng hoàn toàn bất công, về Francis Carco và một bức chân dung ác độc về Murry. Cô đưa bản đánh máy cho anh đọc, và anh đã vô cùng đau khổ – điều mà chắc chắn cô muốn anh phải chịu đựng.
Tôi có thể lướt nhanh quãng đời ngắn ngủi còn lại của Katherine một cách vắn tắt. Cuối cùng đến khoảng năm 1918, George Bowden ly dị bà, Katherine và Murry đã có thể kết hôn. Sức khoẻ của bà rất kém. Suốt những năm trước bà đau ốm triền miên và từng thực hiện ít nhất một ca phẫu thuật nghiêm trọng. Bây giờ bà phải chịu đựng chứng lao phổi. Sau khi được điều trị bởi vô số bác sĩ, Murry khuyên nhủ bà nên thăm khám một chuyên gia. Vị bác sĩ đến. Katherine nằm trên giường và Murry chờ ở dưới tầng để đón nhận kết quả của buổi thăm khám. Vị chuyên gia, lúc xuống lầu, nói với ông rằng bà chỉ còn một cơ hội duy nhất, đó là vào nhà an dưỡng ngay lập tức. Nếu không, bà sẽ khó lòng sống nổi hai hoặc ba năm – tối đa là bốn năm. Tôi xin trích dẫn từ tự truyện của Murry:
“Tôi cảm ơn ông ấy (vị bác sĩ), tiễn ông ra ngoài rồi lên gặp Katherine.
‘Ông ấy nói em phải đến nhà an dưỡng,’ cô nói. ‘Em sẽ chết ở đấy mất.’ Rồi cô liếc nhìn tôi thật nhanh, đầy hoảng sợ. ‘Anh có muốn em đi không?’
‘Không,’ tôi buồn rầu đáp. ‘Có ích gì đâu?’
‘Anh tin rằng nó sẽ giết chết em?”
‘Phải, anh tin,’ tôi đáp.
‘Anh tin em sẽ khoẻ lên?’
‘Phải,’ tôi trả lời.”
Thật kỳ lạ khi cả bác sĩ lẫn Murry không nghĩ đến việc đề nghị Katherine thử vào viện điều dưỡng một tháng để xem bà cảm thấy thế nào. Có một nhà an dưỡng tử tế ở Banchory tại Scotland; tôi cho rằng bà sẽ thấy cuộc sống ở đây đủ dễ chịu, và tôi không nghi ngờ rằng bà sẽ tìm được chất liệu cho một câu chuyện. Các bệnh nhân ở đó muôn hình vạn trạng. Có vài người đã trú lại đó nhiều năm trời vì họ chỉ có thể sống nếu sống ở đó. Những người khác điều trị xong rồi rời đi. Một vài người qua đời, và họ qua đời trong an yên và, tôi nghĩ, không luyến tiếc gì. Tôi nói những điều tôi biết, vì đó là chuyện đã xảy ra hồi tôi ở Banchory cùng thời gian Katherine có thể đã tới đây. Lẽ ra tôi đã gặp bà. Chắc chắn bà sẽ lập tức nuôi có mối ác cảm với tôi, nhưng điều đó không quan trọng.
Kể từ đó, trong công cuộc phục hồi sức khoẻ đầy tuyệt vọng của mình, Katherine sống ở nước ngoài cùng một người bạn, Ida Baker, đi theo để chăm sóc bà. Ida Baker là một phụ nữ trạc tuổi bà, tận hiến cuộc đời mình để phục vụ. Katherine đối xử với cô còn kém cả một con chó, châm chọc cô, sỉ vả cô, ghét bỏ cô, đôi lúc có thể đã giết cô, nhưng đồng thời lợi dụng cô một cách vô liêm sỉ; và Ida Baker vẫn là kẻ bầy tôi trung thành, tận tuỵ. Katherine vô cùng ích kỷ, dễ bất chợt nổi cơn tam bành, cực kỳ đay nghiến, khắt khe, cay nghiệt, ích kỷ, ngạo mạn và hống hách. Điều này không khơi gợi một tính cách dễ chịu, nhưng thực tế bà vô cùng hấp dẫn. Clive Bell, người quen của bà, nói với tôi rằng bà rất quyến rũ. Bà có khiếu hài hước chua cay và khi muốn thì có thể rất thú vị. Công việc của Murry buộc ông phải ở lại London và thi thoảng ông mới có thể gặp Katherine. Họ đã thư từ rất nhiều. Sau khi Katherine mất, Murry đem công bố những bức thư bà gửi cho ông, nhưng tất nhiên, tôi cho rằng, không thêm những bức thư của ông vào, vì vậy bạn chỉ có thể dò đoán mối quan hệ giữa họ trong thời kỳ này ra sao. Phần lớn những bức thư của bà đều rất trìu mến, nhưng khi ông làm bà khó chịu, chúng hết sức cay nghiệt. Cha của Katherine dần dần tăng tiền trợ cấp cho con, và giờ đây lên tới hai trăm năm mươi bảng Anh một năm, nhưng bà vẫn thường xuyên túng thiếu. Có lần, bà viết thư nói với Murry rằng bà có một khoản chi bất ngờ; sau đó, bà thảo một bức thư phẫn nộ vì ông không chịu gửi tiền ngay lập tức, khiến bà phải nhục nhã ngửa tay xin ông. Ông đã thanh toán các hóa đơn y tế và chi phí bệnh tật cho bà. Ông nợ nần lút đầu. “Nếu tài chính eo hẹp,” bà hỏi ông, “sao ông còn sắm một chiếc gương?” Người đàn ông tội nghiệp vẫn phải cạo râu. Khi Murry được bổ nhiệm làm biên tập viên của tờ The Athenæeum với mức lương tám trăm bảng một năm, Katherine đã dứt khoát ra lệnh rằng ông phải gửi cho bà mười bảng mỗi tháng. Nếu ông chủ động đề nghị như vậy hẳn sẽ rất lịch sự. Có lẽ ông khá keo kiệt trong việc chi tiêu. Điều đáng bận tâm là khi Katherine gửi cho ông một bài viết để đánh máy, bà đã nói rõ với ông rằng bà sẽ phải trả tiền cho bài viết đó. Đó là một sự xúc phạm có chủ đích.
Sự thật là ngay từ đầu họ đã không hợp nhau. Murry, dù chu đáo hơn, nhưng cũng ích kỷ như Katherine. Dường như ông không có khiếu hài hước, nhưng ông tốt bụng, điềm tĩnh, bao dung và vô cùng kiên nhẫn. Như chúng ta đều biết, ghen tuông có thể là nỗi thống khổ một khi tình yêu đã chết, và tuy Murry không còn yêu Katherine nữa, nhưng chắc hẳn việc bà rời bỏ ông để đến với một gã đàn ông khác là một đòn lăng nhục; và khi mà, sau trải nghiệm đáng thất vọng với Francis Carco, ông đã đón bà trở lại, đó là một sự hào phóng, thậm chí rộng lượng. Không có dấu hiệu cho thấy bà từng tỏ ra biết ơn ông. Bà mặc nhiên coi những gì ông làm cho mình là xứng đáng. Tuy Murry (theo cách nói hiện tại) khá “sướt mướt”, những lời phê bình của ông cho các câu chuyện của Katherine rất có giá trị đối với bà. Về sau, ông đã viết cuốn Cuộc đời của Swift, được mọi người đồng thuận là cuốn sách hay nhất từng viết về một nhân vật nham hiểm nhưng lại là một văn sĩ tài ba.
Vị chuyên gia người Anh đã tiên lượng chính xác. Ông cho Katherine tối đa bốn năm để sống. Sau khi dành một thời gian ở Riviera tại Ý, rồi đến Pháp, và sau đó ở Thuỵ Sĩ, bà nhập Viện Gurdjieff tại Fontainebleau như một cơ hội cuối cùng. Bà qua đời tại đó vào đầu năm 1923, khi mới ba mươi tư tuổi.
Phần lớn mọi người đồng tình rằng Katherine chịu ảnh hưởng to lớn từ Chekhov. Middleton Murry phủ nhận điều này. Ông tuyên bố bà vẫn có thể viết nhưng câu chuyện của mình y như thế ngay cả khi chưa từng đọc Chekhov bao giờ. Tôi nghĩ ông đã sai. Tất nhiên bà sẽ viết truyện, điều này ăn sâu vào máu của bà; nhưng tôi tin nếu thiếu Chekhov thì những câu chuyện đó sẽ rất khác. Những câu chuyện của Katherine Mansfield là tiếng lòng của một người phụ nữ cô đơn, nhạy cảm, ốm đau và thần kinh bấn loạn, chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với châu Âu là nơi mà mình đã chọn để sống. Đó là nội dung của chúng. Hình thức của chúng chịu ơn Chekhov. Cấu trúc của truyện ngắn trong quá khứ rất đơn giản. Nó bao gồm A, bối cảnh, B, giới thiệu nhân vật, C, họ làm gì và điều gì xảy đến với họ, và D, kết cục. Đây là một cách kể chuyện nhàn nhã và tác giả có thể tuỳ ý co giãn độ dài của truyện; nhưng khi đó các tờ báo bắt đầu xuất bản những câu chuyện mà dung lượng của chúng bị giới hạn một cách nghiêm ngặt. Để thoả mãn yêu cầu này, tác giả phải áp dụng kỹ thuật phù hợp; y phải loại bỏ mọi thứ không cần thiết khỏi câu chuyện của mình. A, bối cảnh, nhằm đặt người đọc vào một trạng thái tinh thần thích hợp để thưởng thức câu chuyện hoặc tăng tính chân thực; nó có thể dễ dàng bị gạt bỏ, và ngày nay nhìn chung là vậy. Tuy vậy, chừa lại phần D, kết cục, cho độc giả tự tưởng tượng chẳng khác nào một canh bạc. Độc giả bị cuốn vào các tình huống được mô tả trong truyện, và nếu tác giả không nói cho họ kết cục ra sao thì họ có thể cảm thấy bị lừa gạt, nhưng khi kết cục đã rõ ràng, bỏ qua nó lại là điều sáng suốt và hiệu quả. Truyện ngắn Người đàn bà có con chó nhỏ của Chekhov là một minh chứng hoàn hảo. B và C là thiết yếu, thiếu chúng sẽ không có câu chuyện nào cả. Rõ ràng là một câu chuyện đưa người đọc ngay vào trung tâm sự việc sẽ đem lại sự kịch tính giúp thu hút và giữ chân người đọc. Chekhov đã viết hàng trăm truyện theo hướng này và với sự nổi tiếng ngày càng tăng, khi đã có thể viết những câu chuyện dài hơn trên tạp chí, ông vẫn sử dụng mô típ mà mình quen thuộc.
Kiểu mẫu này rất phù hợp với bản chất tính khí cũng như năng lực của Katherine Mansfield. Bà sở hữu một tài năng khiêm tốn nhưng tinh tế. Tôi nghĩ rằng những người hâm mộ quá khích đã đưa ra những tuyên bố mà tác phẩm của bà khó lòng chứng minh nổi. Năng lực sáng tạo của bà rất hạn chế. Sáng tạo là một năng lực kỳ lạ. Nó là một đặc tính của tuổi trẻ và sẽ mai một dần theo tuổi tác. Điều đó hết sức tự nhiên, vì nó là sự đúc kết của kinh nghiệm, và năm tháng qua đi, những sự kiện trong cuộc sống không còn đem lại cảm giác mới mẻ, hứng khởi, kích thích như thời thanh xuân nữa, và do đó không còn khơi gợi tác giả thể hiện chúng. Vốn sống của Katherine khá hạn hẹp. Bà biết mình cần nó. Murry, với vẻ hơi bất bình, nói rằng “cô ấy muốn tiền bạc, xa hoa, những chuyến phiêu lưu, đời sống đô thị”; dĩ nhiên là bà ấy muốn, vì chỉ khi đó bà ấy mới có thể tìm được chất liệu cho những câu chuyện của mình. Nhà văn hư cấu, để nói lên sự thật đúng như cách họ nhìn nhận, phải dấn thân vào cuộc sống xô bồ. Nếu từ điển nói rằng một câu chuyện là một bản tường thuật về những sự kiện đã xảy ra hoặc có thể đã xảy ra, thì phải công nhận rằng Katherine Mansfield không có năng khiếu kể chuyện xuất chúng. Năng khiếu của bà nằm ở chỗ khác. Bà có thể nắm bắt một tình huống và phô bày tất cả sự mỉa mai, cay đắng, bi thương và bất hạnh ẩn chứa trong đó. Một ví dụ về điều này là câu chuyện mang tên Tâm lý học. Bà đã viết một vài truyện ngắn khách quan, chẳng hạn như Người con gái viên Đại tá hay Mấy bức tranh; chúng là những truyện hay, nhưng bất kỳ nhà văn có năng lực nào cũng có thể viết chúng; còn những truyện đặc trưng nhất của bà là những truyện thường được gọi là truyện về bầu không khí. Tôi đã hỏi nhiều bạn văn của mình về ý nghĩa của từ “bầu không khí” trong ngữ cảnh này; nhưng họ không thể, hoặc không muốn, đưa ra một lời giải đáp hoàn toàn thoả đáng. Từ điển Oxford cũng chẳng giúp ích. Nó đưa ra định nghĩa hiển nhiên, “theo nghĩa bóng, yếu tố tinh thần hoặc đạo đức xung quanh môi trường.” Trên thực tế, nó dường như hàm nghĩa là những chi tiết trang trí mà bạn dùng để tô điểm cho một câu chuyện, mỏng manh đến mức nếu không có chúng, câu chuyện sẽ không tồn tại. Katherine Mansfield đã làm được điều này bằng tài năng và sự duyên dáng nơi bà. Bà sở hữu một năng khiếu quan sát thực sự đáng nể và có thể mô tả những hiệu ứng của thiên nhiên, hương vị đồng nội, gió và mưa, biển và trời, cây cối, hoa lá với một cảm quan tinh tế hiếm thấy. Một trong những năng khiếu của bà là khả năng truyền tải nỗi đau lẩn khuất đằng sau những gì thoạt nhìn chỉ là một cuộc đàm thoại bình thường bên bàn uống trà; và hỡi ôi, đó chẳng phải điều dễ dàng. Bà viết theo một phong cách trò chuyện dễ chịu, và bạn có thể đọc ngay cả những câu chuyện nhỏ nhặt nhất của bà với niềm thích thú. Chúng không đọng lại trong trí nhớ của bạn, chẳng hạn, như Viên mỡ bò của Maupassant hay Phòng số 6 của Chekhov; có lẽ vì lưu giữ một sự kiện dễ hơn một cảm xúc. Bạn có thể nhớ việc ngã cầu thang và trẹo mắt cá, nhưng không phải cảm xúc khi yêu. Nhưng liệu việc câu chuyện đọng lại trong bạn có phải một phẩm chất của một câu chuyện hay hay không thì tôi không dám cho ý kiến.
Khi sống ở New Zealand, chẳng điều gì làm Katherine Mansfield hài lòng, nhưng sau này, khi nước Anh không đáp ứng kỳ vọng của bà, khi sức khoẻ ngày càng suy yếu, bà lại hồi tưởng về những năm tháng đầu đời ở đó. Có những lúc bà ước mình chưa từng rời đi. Nhìn lại, cuộc đời khi đó bà đã sống gần như trọn vẹn, phong phú và tuyệt vời. Bà không thể không viết về nó. Câu chuyện đầu tiên bà viết có tên là Khúc dạo đầu. Bà viết nó khi bà cùng Murry đang dành ba tháng ở Bandol trên vùng Riviera của Pháp, và khi họ chung sống hạnh phúc hơn bao giờ hết hoặc không bao giờ hạnh phúc được nữa. Bà định đặt tên cho câu chuyện là Lô Hội và chính Murry đã gợi ý bà nên gọi nó là Khúc dạo đầu. Tôi cho rằng ông cảm thấy rằng nó không hẳn là một câu chuyện mà là bối cảnh cho một câu chuyện. Bà đã khởi sự nó, như ta đã biết, với ý đồ xây dựng một cuốn tiểu thuyết, và có lẽ vì lý do này mà nó có phần vô dạng. Sau đó, bà đã viết một loạt những câu chuyện khác có cùng bối cảnh: Một chuyến đi, Vịnh lưỡi liềm và Tiệc vườn. Một chuyến đi mô tả một đêm của một cô bé vốn được bà ngoại nuôi nấng, xuôi theo hải trình từ một cảng biển ở New Zealand đến một cảng biển khác. Không gì có thể dịu dàng hay quyến rũ hơn. Những câu chuyện khác là về cha, mẹ, anh trai, chị gái, anh em thúc bá và hàng xóm của cô bé. Chúng tươi mới, sống động và tự nhiên. Chúng ta biết rõ Katherine đã dành rất nhiều tâm huyết cho chúng, nhưng chúng sở hữu một bầu không khí tự phát đầy mê hoặc. Chúng không chứa đựng sự cay đắng, vỡ mộng, hay bi ai như rất nhiều câu chuyện khác của Katherine. Theo tôi, đó là những tác phẩm hay nhất bà từng viết.
Tôi được biết rằng truyện của Katherine Mansfield không được đánh giá cao như hồi những năm 1920. Thật đáng tiếc nếu bà bị lãng quên. Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Suy cho cùng, chính cá tính của tác giả đem lại cho tác phẩm sự hấp dẫn đặc biệt. Chẳng quan trọng nếu đó là một cá tính hơi kỳ quặc như Henry James, có phần thô tục, như Maupassant, hơi phô trương hào nhoáng như Kipling – miễn là tác giả có thể trình bày nó, một cách chân thực và độc đáo, tác phẩm của họ sẽ có sức sống. Đó chắc chắn là điều Katherine Mansfield đã làm được.
Nhà văn Nga Pautovsky trong thiên tuỳ bút (tập truyện ngắn) “Bông hồng vàng và Bình minh mưa”, đã viết một truyện ngắn đặc sắc, cảm động về ông hoàng truyện cổ tích Andersen. Pautovsky đã viết:
“Tôi muốn viết hẳn một chương riêng về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng của nó tới đời sống của chúng ta. Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi đã viết thay vào đó một truyện ngắn về nhà văn Andersen. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn này có thể thay thế cho chương sách và hơn nữa, nó có thể làm ta hình dung rõ ràng trí tưởng tượng hơn là những câu chuyện chung chung về đề tài này.”
Truyện ngắn về Andersen đó được biết đến dưới tựa đề “Chuyến xe đêm”, theo chân chàng trai trẻ là Andersen lưu lạc ở thành Venice, và đang khẩn thiết muốn bắt một chuyến xe đêm tới Verona.
Trên xe chỉ có ba hành khách là Andersen, một giáo sĩ có tuổi, vẻ cau có và một thiếu phụ mặc áo choàng màu sẫm. Một lát sau, Andersen đang thiu thiu ngủ bỗng sực tỉnh vì tiếng nói lao xao của người đánh xe với mấy cô gái vừa gọi xe đỗ lại giữa đường. Người lái xe không bằng lòng chở họ đến một thị trấn, với giá tiền họ trả, đôi bên kì kèo một hồi và Andersen lịch sự trả thay phần của ba cô gái lạ mặt.
Các hành khách nhanh chóng làm thân và chẳng mấy chốc Andersen đã chinh phục cả bốn người phụ nữ bằng giọng nói trầm bổng mê ly, bằng trí tưởng tượng vô bờ và những phỏng đoán chính xác, tinh tế về thân thế của từng người. Sức hấp dẫn của ông là không thể phủ nhận. Cuối cùng, binh minh ló dạng, các cô gái lần lượt ôm hôn Andersen và nhảy xuống đất. Chiếc xe tiếp tục lăn bánh…
Ngay tối hôm đó, Andersen tìm đến gặp Elena, cô gái mà chàng say mê trong chuyến xe đêm qua. Nàng đích thân ra đón chàng. Tuy nhiên, chàng thì vì quá tự ái nên chỉ tính chuyện gặp nàng xong sẽ đi ngay để không bao giờ gặp lại. Họ trao đổi tình yêu qua ánh mẳt. Nàng nói:
“Tôi biết ông là ai rồi. Ông là Hans Christian Andersen, nhà thơ và người viết truyện cổ tích danh tiếng. Nhưng hoá ra trong cuộc đời ông lại sợ truyện cổ tích. Đến nỗi ông cũng chẳng có đủ nghị lực và can đảm, thậm chí cho một cuộc tình ngắn ngủi.”
Andersen thú nhận:
“Đó là cây thập tự nặng nề của tôi.”
Họ trao nhau một cái hôn ly biệt, rồi chàng vội đứng dậy, lấy mũ và bước ra ngoài. Chuông gióng từng hồi trên toàn thành Verona.
Hai người không bao giờ gặp lại, nhưng luôn luôn nghĩ đến nhau.
Có lẽ vì thế ít lâu trước khi nhắm mắt, Andersen đã bộc bạch với một nhà văn trẻ:
“Tôi đã trả bằng một giá đắt, có thể nói là vô cùng đắt cho những truyện cổ tích của tôi. Vì chúng, tôi đã chối bỏ hạnh phúc mà lẽ ra tôi được hưởng và đã bỏ lỡ mất khoảng thời gian mà đáng lẽ trí tưởng tượng, dù cho có mạnh mẽ và hào nhoáng đến mấy, cũng phải chường chỗ cho thực tế.”
(Trích lược: Bông hồng vàng và Bình minh mưa – Pautovsky, Kim Ân & Mộng Quỳnh dịch)
Ngày 10 tháng Bảy năm 2025,
Tình thầy trò giữa Flaubert và Maupassant
Trong lao động sáng tác của Flaubert, việc sửa chữa có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Trước khi bắt tay vào viết, ông sẽ phác một dàn ý gồm những gì ông muốn nói, giống như Dickens từng làm, rồi ông viết nhanh một loạt trang của tác phẩm tương lai, về sau trong một thời gian liên tục cải biến chúng. Phương châm sáng tác của ông là từ đúng, tức là ở một hoàn cảnh nhất định, sẽ chỉ có một từ nhất định, chính xác nhất để lột tả điều mình muốn diễn đạt. Flaubert đã đi xa tới mức kiên quyết không lặp lại một từ trên cùng một trang, ra công cắt bớt những phần thừa, phần vụng, “tẩy gột những chỗ đã viết cho sạch dầu mỡ và sắt vụn”. Maupassant, người học trò và chứng nhân của công cuộc đày ải ấy, đã ví “công việc điên cuồng” của Flaubert như một “bệnh ghẻ” và nhận xét khá buồn thảm: “Tương lai hứa hẹn với tôi toàn những chỗ sửa chữa, viễn cảnh chẳng mấy gì vui vẻ”.
Sinh thời, mẹ của Maupassant là bạn đồng ấu của Flaubert; bản thân bà cũng yêu thích văn chương, vậy nên đã nhờ cậy nhà văn chỉ dẫn cho con trai mình. Sự kèm cặp của Flaubert chắc chắn đã phát huy tác dụng. Chúng ta được biết rằng truyện ngắn đầu tiên của Maupassant – “Viên mỡ bò” – đã đem lại danh tiếng cho ông ngay lập tức và mở đường cho một văn nghiệp hứa hẹn đầy vinh quang. Tuy vậy, “Viên mỡ bò” đã được chỉnh đi chỉnh lại, nằm trong ngăn kéo rất lâu, chỉ đến khi Flaubert gật đầu ưng thuận thì Maupassant mới được phép đem gửi in.
Thời gian đầu khi mới quen, Maupassant đã trình Flaubert một vài tác phẩm, người thầy nhân từ đọc chúng, không tâng bốc cũng không vùi dập chàng trai trẻ, mà chỉ khuyên: “Anh hãy làm việc đi.”
Maupassant làm việc, và hay trở lại thăm người thầy của mình. Bảy năm trời ông làm thơ, viết truyện dài, truyện ngắn. “Những cái đó chẳng còn lại gì,” Maupassant thú nhận.
Trong lá thư đề ngày mùng 3 tháng Tám năm 1878, Flaubert đã nhắn nhủ chàng trai Maupassant hai mươi tám tuổi những lời giáo huấn hết sức nghiêm khắc về lao động sáng tác như sau: “‘Không có đủ cách khác nhau để diễn đạt một câu ư?’ – cứ tìm đi rồi anh sẽ thấy… Anh phải – anh có nghe tôi không, anh bạn trẻ? – anh phải làm việc chăm chỉ hơn nữa. Tôi nghi rằng anh có hơi biếng nhác.”
Maupassant vừa làm viên chức ở Bộ Hải quan, vừa tranh thủ viết lách. Flaubert kiên nhẫn dõi theo, đưa ra những điều phê bình và dần dần đưa vào sâu trong Maupassant một vài nguyên lý thâu tóm những điều chỉ giải cốt lõi. Thầy bảo trò: “Khi anh đi qua trước một ông hàng thực phẩm đang ngồi ở cửa nhà, trước một bác gác cổng đang hút ống điếu, trước một bến xe ngựa thuê, anh hãy phô bày cho tôi ông hàng thực phẩm, hay bác gác cổng, dáng điệu của họ, toàn bộ ngoại hình của họ, nhờ sự khéo léo của hình ảnh chỉ ra những ngoại hình ấy cũng chứa đựng toàn bộ bản chất tinh thần của họ, sao cho tôi không nhầm lẫn họ với bất kỳ ông hàng thực phẩm nào khác hay bất kỳ bác gác cổng nào khác, và anh hãy làm cho tôi nhìn thấy, qua một từ thôi, vì cái gì mà một con ngựa kéo xe thuê không giống năm chục con khác đi sau nó và đi trước nó.”
Sau này, nguyên tắc về từ đúng của Flaubert đã được Maupassant kế tục và diễn giải rất rõ ràng như sau:
“Bất kể điều ta muốn nói là gì, chỉ có một từ để diễn đạt nó, một động từ để khiến nó có hồn, một tính từ để xác định nó. Vậy phải tìm kỳ cho đến lúc phát hiện được danh từ ấy, động từ ấy và tính từ ấy, và đừng bao giờ bằng lòng với cái na ná, đừng bao giờ trông cậy vào những điều hư nguỵ, dù tài tình, với những trò xiếc chữ để tránh né khó khăn.”
Đạo đức và phương châm sáng tác của Maupassant đã khiến nhiều nhà văn khác cảm phục. Không tính những nhà văn đồng hương, ở bên nước Nga đã có hai tên tuổi nổi tiếng công khai khen ngợi Maupassant. Leo Tolstoy cho rằng tiểu thuyết Một cuộc đời là tiểu thuyết Pháp vĩ đại nhất kể từ sau Nhà thờ Đức Bà của Hugo. Anton Chekhov ngưỡng mộ ở Maupassant tính giản dị, cô đúc, chân xác trong ngôn từ và kỹ thuật kể chuyện xuất sắc. Ông giãi bày với nhà văn đồng nghiệp Bunin: “Maupassant, với sự vĩ đại của mình, đã nâng tiêu chuẩn viết lách lên cao đến mức viết trở nên thật khó khăn; nhưng chúng ta phải viết, đặc biệt là người Nga chúng ta, và đã viết là phải can đảm. Có chó lớn và chó nhỏ, nhưng chó nhỏ không nên nản lòng vì chó lớn. Tất cả đều phải sủa – và phải sủa bằng giọng Chúa ban cho.”
Ngày 11 tháng Bảy năm 2025,
Về cuốn sách mới của Haruki Murakami
Trong tác phẩm mới nhất của Haruki Murakami do Nhã Nam phát hành, tập tuỳ bút có tên gọi Nghề viết tiểu thuyết, ông đã bàn về một vấn đề khá nhức nhối đối với những người làm văn: writer’s block. Nói đơn giản, đây là thời kỳ mà nhà văn bị mất cảm hứng phóng tác, thui chột động lực sáng tạo, không thể viết được gì. Ai từng viết hoặc đơn giản từng dính líu tới sáng tạo nghệ thuật nói chung, có lẽ đều thấm thía tấn thảm trạng mà nó đày đoạ lên tinh thần người nghệ sĩ. Người ta kể rằng vợ của Herman Melville đã sốt ruột thay chồng khi chứng kiến ông ngồi thừ trước bàn viết cả ngày, vò đầu bứt tai mà không viết nổi một đoạn của Moby Dick, hay giai thoại tức cười (phần nhiều bịa đặt) do Stephen King thuật lại về James Joyce, người suốt cả buổi làm việc chỉ viết được… bảy từ.
Lời khuyên thường bắt gặp nhất và tình cờ cũng hiệu quả nhất đối với writer’s block là không viết gì cả. Bỏ đi làm việc khác. Puskin khi không viết được thơ sẽ chuyển qua viết truyện, còn khi hoàn toàn tắc tịt ông sẽ đọc sách, cưỡi ngựa; còn Chekhov thì thẳng thắn tuyên bố rằng “y học là vợ của tôi trên danh nghĩa, còn văn học chỉ là tình nhân”. Khi nào công việc viết lách không xuôi, ông kiếm tìm sự nguôi khuây trong hoạt động y học, về sau này khi không còn hành nghề bác sĩ nữa thì ông chuyển qua trồng hoa (về khoản này Chekhov rất mát tay), làm vườn. Có thể liệt kê ra đây một loạt những nhà văn cùng một loạt những hoạt động ngoài lề văn học mà họ đã sử dụng nhằm khuây lãng sau công cuộc sáng tạo đầy căng thẳng, nhọc nhằn. Còn với Haruki Murakami, như chúng ta đều biết, ngoài viết lách ra ông còn đam mê chạy bộ, bơi lội, dịch thuật, âm nhạc (không thể thiếu). Bản thân ông thừa nhận rằng “chưa bao giờ có kinh nghiệm về việc muốn viết mà không viết được”. Chẳng phải ông có tài xuất khẩu thành chương và lúc nào cũng trong trạng thái dồi dào cảm hứng sáng tạo. Ông giải thích:
“Khi không muốn viết, hoặc khi không thấy có hứng viết, tôi sẽ không viết gì cả. Chỉ khi nào cảm thấy muốn viết, tôi mới quyết tâm “viết thôi” và ngồi viết. Còn hầu hết những lúc không phải như vậy thì tôi ngồi làm công việc biên dịch … Rồi tôi cũng viết cả tuỳ bút khi có hứng. Tôi vừa túc tắc làm những việc đó, và sống với thái độ bất cần ‘không viết tiểu thuyết thì cũng có chết được đâu’.”
Tất nhiên, Murakami là nhà văn sở hữu sự độc lập nhất định trong lao động sáng tác. Ông không bị hối thúc phải viết cho kịp, cho nhanh những câu chuyện để gửi đến tuần san này, tạp chí kia. Ông không phải, như ông nói, ngòi bút nuôi cơm đắp đổi qua ngày. Có lẽ kế sinh nhai của ông không lệ thuộc hoàn toàn vào việc viết lách, đem đến cho ông một khoảng đất dụng võ đủ lớn để ông được tự do viết những điều ông muốn viết, theo bất cứ thời hạn nào mà ông tự đề ra.
Quay trở lại với nội dung cuốn sách, ngoài phần tự thuật về hành trình trở thành nhà văn đầy bất ngờ, về các bước hay các kỹ thuật trong nghệ thuật tiểu thuyết, Murakami còn đề cập tới một phạm trù được quan tâm rộng rãi trong văn chương: giải thưởng.
Về cơ bản, Murakami được ví như một nhà văn xa rời văn đàn, dù chính ông lại thừa nhận rằng mình “bị văn đàn từ chối”. Ông có một fan club trung thành và một anti-fan club trung thành không kém. Ông quán triệt quan điểm sáng tác của mình rằng chỉ viết để làm vui chính bản thân và phục vụ một nhóm độc giả nhất định. Ông giữ cái nhìn nghi hoặc với các giải thưởng, cho rằng chúng lợi bất cập hại, rằng cuộc sống của ông nói riêng và thế giới nói chung sẽ không mấy biến chuyển bất kể ông có đạt được giải thưởng hay không. Nếu có biến chuyển thì ông lo sợ cuộc sống an tĩnh của mình sẽ bị xáo trộn. Chúng ta được biết rằng tiểu thuyết đầu tay của Murakami, Lắng nghe gió hát, được đem in sau khi lọt vào Chung khảo cuộc thi viết do Tạp chí Gunzo tổ chức. Sau khi gửi bản thảo dự thi, chính Murakami đã quên khuấy tác phẩm này. Nó là một thành công ngoài dự đoán, là “vé vào cửa” trong văn nghiệp của ông. Tuy vậy, ngoại trừ màn khai bút ấn tượng ấy ra thì về sau Murakami dường như không có duyên với các giải thưởng, tính cả trong và ngoài Nhật Bản. Bàn về vấn đề này, ông viện dẫn câu nói của Raymond Chandler:
“Tôi muốn trở thành một nhà văn lớn? Hay tôi muốn giành giải Nobel Văn học? Giải Nobel Văn học là cái gì cơ chứ. Nó được trao cho quá nhiều nhà văn hạng hai. Những nhà văn chẳng khơi gợi lên được chút hứng thú đọc nào.”
Tất nhiên tuyên bố trên của Chandler phần nào mang tính bài xích cực đoan, nhưng thông điệp mà Murakami muốn dẫn ra ở đây là: Giải thưởng văn học có thể mang lại hào quang cho một tác phẩm, một tác gia nào đó, nhưng dứt khoát sức sống của tác phẩm hay vị thế của tác gia không thể dựa vào đó được. Chiếc vương miện được đặt lên đầu nhà văn, những người phần lớn thích sống cuộc đời ẩn dật, nhiều người còn rạch ròi tới mức kiên quyết khước từ việc xuất hiện trước báo giới, như J. D. Salinger chẳng hạn. Các giải thưởng, theo một phép so sánh có phần thô thiển, là miếng vải lụa vá víu trên manh áo thổ tả của người nghệ sĩ. Nhân tiện, các bạn có nhớ ai là người đã giành giải Nobel Văn chương vào mười năm trước không?
Ngày 14 tháng Bảy năm 2025,
Ước nguyện của Chekhov
Năm mười tám tuổi, Chekhov rời bỏ quê hương Taganrog lên Moskva đoàn tụ cùng gia đình.
Ông đã sống một mình xuyên suốt ba năm trời, đi dạy kèm thêm cho các cậu bé chậm phát triển để lĩnh chút tiền còm. Trước khi rời đi, ông đến chào bà cô của mình lần cuối. Bà là người đã cưu mang ông rất nhiều lần trong cuộc vật lộn với đời sống khó nhọc tưởng chừng không vượt qua được.
Bà cô bật khóc.
“Đừng buồn cô ạ,” Chekhov nói. “Cháu đi Moskva rồi sẽ thành bác sĩ. Cháu sẽ sống đàng hàng, sống cho ra con người cô ạ!”
“Sống cho ra con người”, “giữa người đời cần phải ý thức được nhân phẩm của mình”, “vắt kiệt từng giọt nô lệ trong mình” – đó cũng là những lời tâm niệm mà suốt đời Chekhov đã tự nhủ mình.
Ông qua đời năm bốn mươi bốn tuổi, trong an tĩnh, giữa thời kỳ sức sáng tạo đang ở độ mãn khai và trong đầu còn ấp ủ biết bao tiểu thuyết, truyện dài, vở kịch… Truyện ngắn cuối cùng của ông, Cô dâu, trong đó ông đã để nhân vật Nadya vĩnh biệt thành phố quê hương của mình, vui vẻ ra đi: “trước mặt nàng hiện ra một cuộc sống tươi mới, rộng lớn, khoáng đạt, và cuộc sống đầy bí ẩn ấy đã lôi cuốn, thu hút nàng.”
Những lời ấy đã vang lên một cách đầy hào hứng và tự tin. Nó làm nảy sinh trong lòng Chekhov biết bao dự tính sáng sủa cho mai này. Khi vừa viết xong Cô dâu, ông lại định bắt tay vào viết một truyện mới…
Nhưng ông đã không kịp viết.
Những dòng chữ về một “cuộc đời rộng lớn khoáng đạt mai sau” đã là những dòng chữ cuối cùng của Chekhov.
… Có lần, được biết một sinh viên trẻ rơi nước mắt khi xem vở kịch của mình, Chekhov đã lạnh lùng nói với anh:
“Đấy, anh kể với tôi rằng anh đã khóc khi xem kịch của tôi. Mà không phải chỉ mình anh. Nhưng tôi đâu có viết để thấy những giọt nước mắt? … Tôi muốn cái khác kia. Tôi chỉ muốn nói thật, nói thẳng với mọi người rằng: ‘Hãy nhìn lại mình, hãy nhìn xem chúng ta đang sống tồi, sống tẻ như thế nào!’
Cái quan trọng nhất là để họ thấu hiểu điều đó, và khi đã thấu hiểu, thế nào họ cũng phải tạo cho mình một cuộc sống khác tốt hơn. Tôi không thấy cuộc sống đó, nhưng tôi biết rằng nó sẽ hoàn toàn khác, không giống gì với cuộc đời hiện tại.
Và bây giờ khi nó chưa tới, tôi sẽ còn nói, còn nói mãi với mọi người: Hãy ngộ ra đi, các người sống thật tồi và thật tẻ!
Vậy thì có gì mà phải khóc?”
Chekhov đã nói như vậy vào cuối đời và đó không phải là lời nói ngẫu nhiên với một người tình cờ bắt gặp. Trước khi từ giã cõi đời, Chekhov đã hướng mọi ý nghĩ của mình về cuộc sống khác mai sau.
Ông khẩn thiết mong sao cho mọi người cảm hiểu được tất cả sự khủng khiếp của cuộc sống tù đọng, trì trệ, nhỏ nhoi của những kiếp người bị tấm lưới tư hữu chằng buộc, níu kéo.
Ông thèm được thấy mọi người cùng chung sức với ông đánh bật tận gốc rễ tất cả những gì ngăn trở con người ta làm việc tốt, sống tốt.
Ông canh cánh trong lòng nghĩa vụ làm thức dậy trong tâm trí người đọc khát vọng về một thế giới đẹp đẽ, công bằng, cao thượng, xứng đáng với danh hiệu Con Người.
Đấy cũng là khát vọng của cả một đời Chekhov, cái khát vọng đã biến những dòng chữ của ông trở thành bất tử.
Ngày 18 tháng Bảy năm 2025,
Danh sách đọc của Lev Tolstoy
Ngày 25 tháng Mười năm 1891, từ điền trang Yasnaya Polyana, đại văn hào Tolstoy, khi đó sáu mươi ba tuổi, đã gửi một bức thư phúc đáp cho Mikhail Mikhailovich Lederle, trong đó bao gồm gần 100 đầu sách để lại ấn tượng mạnh mẽ đối với ông. Ông chia mức độ ảnh hưởng thành bốn cấp độ, được biểu thị bằng các từ: rất lớn, lớn, rất đáng kể và đáng kể, đồng thời phân loại các giai đoạn tuổi đời: 1) thời thơ ấu đến 14 tuổi; 2) từ 14 đến 20 tuổi; 3) từ 20 đến 35 tuổi; 4) từ 35 đến 50 tuổi; và 5) từ 50 đến 63 tuổi.
Dưới đây là nguyên văn bức thư:
… Danh sách này được lập dựa trên những ghi chú của tôi trên danh sách 100 cuốn sách hay nhất được đăng trên tờ Pall Mall Gazette. Tuy nhiên, danh sách này hoàn toàn không phù hợp, thứ nhất, vì nó chỉ liệt kê tên tác giả mà không chỉ rõ tác phẩm cụ thể nào từ những tác giả vốn rất đa dạng và không đồng đều; thứ hai, vì những cuốn sách được coi là “hay nhất” có thể hay hoặc không hay tùy thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn và tính cách của người đọc. Sau khi nghiền ngẫm về vấn đề này, tôi kết luận rằng ý tưởng lập danh sách 100 tác phẩm tuyệt đối vĩ đại là bất khả thi, và việc tôi đã vội vàng tham gia vào việc đánh dấu các cuốn sách theo danh sách của Stead là một ý tưởng thiếu vững chắc.
Tuy nhiên, câu hỏi đầu tiên của ngài về những cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất đến từng cá nhân, theo tôi, là một vấn đề rất đáng lưu tâm, và những hồi đáp chân thành cho câu hỏi này có thể dẫn đến những kết luận thú vị.
Lá thư này, mà giờ tôi đang chép lại, được viết cách đây khoảng ba tuần. Khi đó, tôi đã bắt đầu lập danh sách những cuốn sách để lại ấn tượng mạnh mẽ với tôi, chia mức độ ảnh hưởng thành bốn cấp độ, được biểu thị bằng các từ: rất lớn, lớn, rất đáng kể và đáng kể. Tôi chia danh sách theo các giai đoạn tuổi: 1) thời thơ ấu đến 14 tuổi; 2) từ 14 đến 20 tuổi; 3) từ 20 đến 35 tuổi; 4) từ 35 đến 50 tuổi; và 5) từ 50 đến 63 tuổi. Tôi đã lập một phần danh sách này, trong đó tôi nhớ đến khoảng 50 tác phẩm đã để lại ấn tượng mạnh mẽ, nhưng tôi nhận thấy danh sách này còn nhiều thiếu sót vì tôi không thể nhớ hết mọi thứ ngay lập tức, mà chỉ dần dần bổ sung thêm.
Kết luận từ tất cả những điều này là: tôi không thể đáp ứng mong muốn của ngài về việc lập danh sách 100 cuốn sách, và tôi rất lấy làm tiếc về điều đó. Tuy nhiên, danh sách những cuốn sách đã để lại ấn tượng với tôi, như tôi đã đề cập, tôi sẽ cố gắng hoàn thiện và gửi cho ngài.
***
Tôi gửi kèm danh sách chưa hoàn thiện để ngài tham khảo, nhưng đừng vội xuất bản, vì nó còn xa mới đầy đủ.
Các tác phẩm ấn tượng
Thời thơ ấu đến khoảng 14 tuổi
Câu chuyện về Joseph trong Kinh Thánh – rất lớn.
Nghìn lẻ một đêm: “40 tên cướp”, “Hoàng tử Kamaralzaman” – đáng kể.
Con gà đen của Pogorelsky – rất đáng kể.
Các sử thi Nga: “Dobrynya Nikitich”, “Ilya Muromets”, “Alyosha Popovich”. Các câu chuyện dân gian – rất lớn.
Thơ Pushkin: “Napoleon” – đáng kể.
Từ 14 đến 20 tuổi
Phúc Âm theo Thánh Matthew: Bài giảng trên núi – rất lớn.
Hành trình tình cảm của Sterne – rất đáng kể.
Những lời bộc bạch của Rousseau – rất lớn.
Emile của Rousseau – rất lớn.
Julie, hay Nàng Héloïse mới của Rousseau – rất đáng kể.
Evgeny Onegin của Pushkin – rất đáng kể.
Những tên cướp của Schiller – rất đáng kể.
Chiếc áo khoác, Ivan Ivanovich và Ivan Nikiforovich, Đại lộ Nevsky của Gogol – đáng kể.
Viy của Gogol – rất lớn.
Những linh hồn chết của Gogol – rất đáng kể.
Bút ký người đi săn của Turgenev – rất đáng kể.
Polenka Saks của Druzhinin – rất đáng kể.
Anton Goremyka của Grigorovich – rất đáng kể.
David Copperfield của Dickens – rất lớn.
Một anh hùng thời đại, Taman của Lermontov – rất đáng kể.
Chinh phục Mexico của Prescott – đáng kể.
Từ 20 đến 35 tuổi
Hermann và Dorothea của Goethe – rất đáng kể.
Nhà thờ Đức Bà Paris của Victor Hugo – rất đáng kể.
Thơ Tyutchev – đáng kể.
Thơ Koltsov – đáng kể.
Odyssey và Iliad (tiếng Nga) – đáng kể.
Thơ Fet – đáng kể.
Phaedo và Bữa tiệc của Plato (bản dịch của Cousin) – đáng kể.
Từ 35 đến 50 tuổi
Odyssey và Iliad (tiếng Hy Lạp) – rất đáng kể.
Các sử thi – rất đáng kể.
Anabasis của Xenophon – rất đáng kể.
Những người khốn khổ của Victor Hugo – rất lớn.
Các tiểu thuyết của Mrs. Wood – đáng kể.
Các tiểu thuyết của George Eliot – đáng kể.
Các tiểu thuyết của Trollope – đáng kể.
Từ 50 đến 63 tuổi
Kinh Phúc Âm (tiếng Hy Lạp) – rất lớn.
Sáng Thế Ký (tiếng Do Thái) – rất đáng kể.
Tiến bộ và Nghèo đói của Henry George – rất đáng kể.
Diễn văn về tôn giáo của Parker – đáng kể.
Các bài giảng của Robertson – đáng kể.
Tác phẩm của Feuerbach (quên tiêu đề, về Kitô giáo) – đáng kể.
Suy ngẫm của Pascal – rất lớn.
Epictetus – rất lớn.
Khổng Tử và Mạnh Tử – rất đáng kể.
Tác phẩm về Đức Phật của một tác giả Pháp nổi tiếng (quên tên) – rất lớn.
Đạo Đức Kinh của Lão Tử (bản dịch của Julien) – rất lớn.
Ngày 21 tháng Bảy năm 2025,
Một ngày ấm áp tháng Tư năm 1934, Arnold Samuelson, một sinh viên báo chí 22 tuổi đã tìm tới tận nhà của Ernest Hemingway, lòng dạ khấp khởi vì một cuộc mạn đàm văn chương. Hôm đầu tiên Hem không có nhà, nhưng ngày thứ hai ông đích thân ra mở cửa.
“Anh thích đọc các tác giả nào?” Hemingway hỏi chàng trai trẻ.
“Kinnapped của Stevenson, và Walden Pond của Thoreau.”
“Từng đọc Chiến tranh và Hoà bình chưa?”
Chàng thanh niên lắc đầu.
“Mẹ kiếp, đó mới là một cuốn sách hay. Anh phải đọc nó đi. Chúng ta sẽ lên phòng làm việc của tôi và tôi sẽ liệt kê cho anh một danh sách những cuốn đáng đọc.”
Danh sách ấy như sau:
The Blue Hotel – Stephen Crane
The Open Boat – Stephen Crane
Madame Bovary (Bà Bovary) – Gustave Flaubert
Dubliners (Người Dublin) – James Joyce
The Red and the Black (Đỏ và đen) – Stendhal
Of Human Bondage (Kiếp người) – Somerset Maugham
Anna Karenina – Tolstoy
War and Peace (Chiến tranh và Hoà bình) – Tolstoy
Buddenbrooks (Gia đình Buddenbrooks) – Thomas Mann
Hail and Farewell – George Moore
The Brothers Karamazov (Anh em nhà Karamazov) – Dostoevsky
Oxford Book of English Verse
The Enormous Room (E.E. Cummings)
Wuthering Heights (Đồi gió hú) – Emily Brontë
Far Away and Long Ago – W.H. Hudson
The American – Henry James
Gần một năm sau, vào tháng Hai năm 1935, Hemingway xuất bản trên tờ Esquire một danh sách “những cuốn sách hay nhất”, mà theo ông, ông sẵn lòng được đọc lại chúng như lần đầu tiên hơn có một khoản thu nhập cố định một triệu đô-la mỗi năm.
Danh sách thứ hai này, ngoài những cuốn như danh sách đầu tiên nhắc tới, có bổ sung:
Adventures of Huckleberry Finn (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) – Mark Twain
A Sportman’s Sketches (Bút kỳ người đi săn) – Ivan Turgenev
Winesburg, Ohio (Sherwood Anderson)
La Reine Margot (Hoàng hậu Margot) – Alexandre Dumas
La Maison Tellier – Guy de Maupassant
The Charterhouse of Parma (Tu viện thành Parma) – Stendhal
Autobiographies – W.B. Yeats
Đến tháng Mười năm 1935, Hemingway đăng tải câu chuyện về cuộc gặp gỡ với nhà văn trẻ Arnold Samuelson. Ông đặt tiêu đề cho bài báo thứ hai trên Esquire là Monologue to the Maestro vì Samuelson chơi violin, và sau đó biệt danh của anh ta được rút ngắn thành the Mice. Thay vì bổ sung thêm nhiều tên tác giả vào danh sách, Hemingway lại thêm nhiều tựa sách từ những tác giả yêu thích của mình.
Trong một số trường hợp (Maupassant, Kipling), ông vẫn mơ hồ về việc đề xuất những tựa sách nào. Khi ông viết “tất cả những tác phẩm hay của Maupassant”, ông ngụ ý rằng Maupassant đã viết quá nhiều câu chuyện tuyệt vời đến mức liệt kê không xuể.
Portrait of the Artist (Chân dung chàng nghệ sĩ) – James Joyce
Ulysses – James Joyce
Tom Jones (Tom Jones – Đứa trẻ vô thừa nhận) – Henry Fielding
Joseph Andrews – Henry Fielding
The Idiot (Chàng ngốc) – Dostoevsky
The Gambler (Con bạc) – Dostoevsky
Kim (Rudyard Kipling)
Madame de Mauvers – Henry James
The Turn of the Screw (Chuyện ma ám ở trang viên Bly) – Henry James
The Portrait of a Lady (Vẽ một phụ nữ) – Henry James
Lần cuối cùng Hemingway trả lời câu hỏi “Những bậc thầy văn học của ông là ai – những người mà ông học được nhiều nhất?” là vào năm 1958, trong một buổi phỏng vấn với George Plimpton của The Paris Review. Danh sách một lần nữa được thay đổi đôi chút, và lần đầu tiên Hemingway đưa vào các họa sĩ và nhà soạn nhạc vì:
“Tôi học được từ các họa sĩ về cách viết cũng nhiều như từ các nhà văn. Bạn hỏi điều này được thực hiện như thế nào? Sẽ mất thêm một ngày để giải thích. Tôi nghĩ những gì học được từ các nhà soạn nhạc và từ việc nghiên cứu hòa âm và đối âm là điều hiển nhiên.”
Dưới đây là những cuốn sách hoàn thiện danh sách các tác phẩm tâm đắc của Hemingway:
Truyện ngắn của Anton Chekhov
Walden (Walden – Một mình sống trong rừng) – Henry David Thoreau
King Lear (Vua Lear) – William Shakespeare
Thơ của Francisco de Quevedo
The Inferno (Hoả ngục) – Dante Alighieri
The Aeneid (Sử thi Aeneid) – Virgil
Thơ của San Juan de la Cruz
Thơ của Luis de Góngora
Ngày 23 tháng Bảy năm 2025,
Về Raymond Chandler
Năm 1932, Raymond Chandler, giám đốc điều hành công ty dầu mỏ với mức lương 44.000$, tự đá đổ nồi cơm của mình vì ngập đầu trong rượu, gái gú, bỏ bê công việc. Công ty quyết định thải hồi vị giám đốc bất trị và ở tuổi bốn mươi bốn, sự nghiệp Chandler trở về vạch xuất phát.
Quá cần tiền, ông chọn nghề viết văn để kiếm sống. Trong một thập kỷ tới, ông sẽ viết vô số những truyện nhạt nhẽo đăng báo lá cải, những truyện vô danh không ai thèm đọc, trước khi bom tấn nổ ra và biến ông trở thành tượng đài trinh thám trong lòng bạn đọc – cùng với “đứa con tinh thần” là thám tử Philip Marlowe rắn rỏi mà nhiều người cho rằng còn hấp dẫn hơn cả Sherlock Holmes hay James Bond.
Phong cách làm việc cứng nhắc như một người máy
Mỗi ngày, Chandler đặt mục tiêu dành bốn giờ để viết, bốn giờ để đọc và sáu giờ để suy nghĩ về việc viết.
Đầu tiên là phần viết. Ông ấy thích viết vào buổi sáng, nhưng ông không hề ngồi im trong bốn tiếng trời và gõ phím lách cách. Đoạn dưới đây sẽ tóm gọn toàn bộ phong cách làm việc của ông:
“Điều quan trọng nhất ở đây là phải có một khoảng thời gian trong ngày, cứ cho là tối thiểu bốn giờ đồng hồ, buộc một nhà văn chuyên nghiệp không làm gì khác ngoài viết cả. Y không cần phải viết, và nếu y cảm thấy không muốn viết thì y không nên cố. Y có thể nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc chồng cây chuối hoặc lăn lộn trên sàn nhà. Nhưng y không được làm bất kể hoạt động nào khác, không đọc, không viết thư, không ngó nghiêng mấy chồng tạp chí, không rà soát bản thảo. Chỉ viết hoặc không làm gì cả… Tôi thấy nó hiệu quả. Hai quy tắc vô cùng đơn giản, a: bạn không cần phải viết. b: bạn không được làm gì khác. Phần còn lại tự nó đến.”
Tóm lại, trong bốn giờ viết, Chandler biến nó thành cuộc chiến đơn độc với chính mình. Ông tự ép bản thân vào kỉ luật, kể cả không viết gì thì vẫn phải dành ra từng ấy tiếng đồng hồ mỗi ngày. Phương pháp này được Haruki Murakami (người rõ ràng là một fan hâm mộ nhiệt thành của Chandler khi đã chuyển ngữ tất cả tác phẩm của ông sang tiếng Nhật) xem như một bài tập rèn sức bền bỉ cho nhà văn. Hiển nhiên, nếu bạn ngồi xuống viết liên tục trong vòng vài tiếng đồng hồ mỗi ngày và bỏ cuộc ở tuần thứ hai, bạn sẽ không bao giờ viết nổi một cuốn tiểu thuyết.
Mặt còn lại – mặt không có Chandler – một số nhà văn khác thích đặt ra mục tiêu là số từ trong ngày hơn. Chẳng hạn như Jack London buộc mình phải viết 1.000 từ/ngày, con số này ở Stephen King được nâng lên thành 2.000. Một số nhà văn với tư tưởng khoáng đạt hơn sẵn sàng bỏ đi làm việc khác nếu không thể viết.
Nếu bạn là một người viết, hãy tự chọn lựa phương pháp phù hợp với bản thân. Có người thà làm việc một giờ thoải mái còn hơn cặm cụi suốt năm tiếng u mê, có người sẵn sàng khoá trái cửa giam mình cả ngày bất kể công việc không xuôi.
Đọc những thứ giúp ích cho việc viết của bản thân
“Đọc là trung tâm sáng tạo trong cuộc đời nhà văn”, như Stephen King từng nói. Nếu nhà văn không đọc, y không có chất liệu và phương tiện để viết.
Chandler, hiển nhiên, đọc truyện trinh thám nhiều hơn các thể loại khác. Ông cũng đọc cả tiểu thuyết kinh điển, nhưng là một nhà văn, ông biết thứ mình đọc cần gắn bó với thứ mình viết. Ông đọc sách bốn giờ mỗi ngày. Có lẽ Chanlder không ngồi xuống và đọc liên tục bốn tiếng trời. Có lẽ lúc viết xong, ông sẽ ăn trưa, đọc sách một chút, tản bộ, v.v. Nói tóm lại, ông ấy có thể đã chia nhỏ thời gian và xen kẽ việc đọc vào đó. Nhưng chung cuộc là ông sẽ nhắm đến đủ bốn tiếng trong một ngày.
Học hỏi bằng cách bắt chước thần tượng
Khi bắt đầu viết truyện trinh thám, Chandler tự học viết bằng cách phân tích và bắt chước một số truyện ngắn của Erle Stanley Gardner. Và ông tiếp tục nghiên cứu các tác giả mà ông ngưỡng mộ ngoài thể loại trinh thám như Hemingway, Shakespeare, v.v.
Sau đó, ông sẽ chọn một truyện ngắn, chẳng hạn như một truyện bán chạy nhất, rồi cố gắng nhái lại câu chuyện đó. Cách học này giống với những gì Benjamin Franklin từng chia sẻ trong cuốn tự truyện nổi tiếng: chọn ra những bài đăng báo chuẩn chỉnh nhất rồi đọc thuộc, sau đó cố diễn đạt lại bằng ý của mình nhưng vẫn giữ nguyên tinh thần của văn bản gốc.
Chandler tự nhận ông không mấy thông minh và phải bù đắp sự thiếu sót tài năng của mình (nếu không phải ông ấy đang tỏ ra khiêm tốn) bằng sức tập trung và sự bền bỉ. Ông viết thật chậm rãi và tỉ mỉ, sửa đi sửa lại nhiều lần các bản thảo. Trong khi người thầy của ông – Ngài Gardner – có thể thảo ra một truyện ngắn trong ba hoặc bốn ngày, thì Chandler phải mất tới vài tháng mới hoàn thành một câu chuyện.
Ngày 28 tháng Bảy năm 2025,
How to Write a Thriller (1963)
– Ian Fleming –
Nghề viết truyện giật gân chuyên nghiệp gần như đã chết. Các nhà văn dường như thấy xấu hổ khi tạo ra nhân vật chính diện da trắng, nhân vật phản diện da đen, và các nữ chính theo kiểu liễu yếu đào tơ.
Tôi không phải một thanh niên hay thậm chí một lão trung niên cáu kỉnh. Tôi không “dấn thân”. Các cuốn sách của tôi không “hứa hẹn”. Tôi không truyền tải thông điệp nào cho nhân loại khổ đau và, mặc dù tôi từng bị bắt nạt ở trường và mất trinh như rất nhiều người chúng ta từng làm trong những ngày xưa, tôi chưa bao giờ bị cám dỗ để áp đặt những thứ này và những trải nghiệm đớn đau khác của bản thân lên công chúng. Truyện của tôi không nhằm mục đích cải biến con người hay thúc họ ra ngoài và làm gì đó. Chúng được viết trên tàu hoả, máy bay và giường ngủ, gửi tới những kẻ lập dị với bầu máu nóng tuôn trong huyết quản.
Tôi có một người họ hàng duyên dáng, một nhà văn trẻ có số má nhưng cáu bẳn. Anh ta phát cuồng bởi thực tế là nhiều người đọc sách của tôi hơn của anh. Cách đây không lâu, chúng tôi đã trao đổi thân tình về chủ đề này và tôi đã cố gắng xoa dịu cái tôi sôi sục đó bằng cách thừa nhận mục đích nghệ thuật của anh cao thượng hơn tôi rất nhiều.
Anh chàng từng tham gia vào “The Shakespeare Stakes.” Những cuốn sách của anh nhắm tới cái đầu biết thường thức và ở một mức độ nào đó, trái tim. Mục tiêu những cuốn sách của tôi, tôi nói, ngụ đâu đó giữa búi mặt trời và, ừm, đùi trên. Những lời nhận xét hạ cố này xem chừng không xoa dịu cho lắm và cuối cùng, với một chút thiếu kiên nhẫn và có thể với thứ gì đó của ánh nhìn châm chọc trong mắt tôi, tôi hỏi anh rằng anh tự miêu tả bản thân trong hộ chiếu như thế nào.
“Tôi cá anh tự gọi bản thân là một Tác giả,” tôi nói. Anh lưỡng lự gật đầu, có lẽ bởi đã đánh hơi thấy mùi châm biếm trước đó. “Vậy đấy,” tôi nói. “Chà, tôi thì nhận mình là một Thợ viết. Chúng ta có các tác giả và hoạ sĩ, và cũng có những thợ viết và thợ vẽ.”
Thái độ khá chua cay này đã khiến chàng trai trẻ trở nên giận dữ hơn bao giờ hết và tôi không gặp lại anh nhiều như tôi đã từng nữa. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh là nếu bạn quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, nói rộng ra, bạn phải quyết định xem bạn muốn viết vì danh tiếng, vì niềm vui hay vì tiền. Tôi không hổ thẹn mà thừa nhận rằng tôi viết vì niềm vui và tiền bạc.
…
Tôi cũng cảm thấy rằng, mặc dù thể loại giật gân có thể không phải là văn học với chữ L [Literature] viết hoa, nhưng vẫn có thể viết nên thứ mà tôi có thể mô tả rõ nhất là “Giật gân được thiết kế để đọc như văn học”, những người theo đuổi thể loại này bao gồm Edgar Allan Poe, Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Eric Ambler và Graham Greene. Tôi không thấy có gì đáng xấu hổ khi đặt ra mục tiêu cao như vậy.
Được rồi, vậy là chúng ta đã quyết định viết để kiếm tiền và hướng tới những tiêu chuẩn nhất định trong bài viết của mình. Những tiêu chuẩn này sẽ bao gồm một phong cách văn xuôi tự nhiên, ngữ pháp thông thường và tính nhất quán xuyên suốt trong câu chuyện của chúng ta.
Nhưng những phẩm chất này sẽ không tạo nên một best-seller. Ở đây chỉ có một công thức duy nhất cho một best-seller và nó rất đơn giản. Bạn phải khiến người đọc lật trang.
Nếu nhìn lại những cuốn sách bán chạy nhất từng đọc, bạn sẽ thấy rằng tất cả chúng đều có phẩm chất này. Bạn chỉ cần lật trang.
Tuyệt đối không can thiệp vào động lực thiết yếu này của câu chuyện. Đó là lý do tại sao tôi nói văn xuôi của bạn phải đơn giản và bớt cứng nhắc. Bạn không thể nán lại quá lâu ở những đoạn văn miêu tả.
Ở đây không cho phép sự phức tạp về tên gọi, mối quan hệ, hành trình hoặc bối cảnh địa lý – chúng khiến độc giả bối rối và khó chịu. Nhân vật không bao giờ được tự hỏi mình “Tôi đang ở đâu? Người này là ai? Tất cả đang làm cái quái gì vậy?” Trên hết, những đoạn văn lan man về việc người anh hùng than vãn về số phận bất hạnh của mình không thể xuất hiện. Bằng mọi cách, hãy dàn cảnh hoặc làm sáng tỏ các đặc điểm của nữ chính thật đáng yêu tuỳ thích, nhưng khi làm vậy, mỗi từ viết ra phải gây hứng thú hoặc kích thích người đọc trước khi mạch truyện tiếp tục.
Tôi thú nhận rằng tôi thường phạm tội nặng nề về mặt này. Tôi bị kích thích bởi chất thơ của sự vật, và nhịp độ các câu chuyện của tôi đôi khi phải gánh hậu quả trong lúc tôi tóm cổ người đọc và nhét đầy họng y những thứ mà tôi tin rằng sẽ thu hút y, đồng thời lắc mạnh y và hét lên “Như thế này này, đồ chết tiệt!” về một điều gì đó hấp dẫn tôi. Nhưng đây là một sai lầm đáng buồn, và tôi phải thú nhận rằng ở một trong những cuốn sách của tôi, Goldfingers, ba chương liền được viết chỉ để nói về một ván golf.
Được rồi, sau khi đã đạt được phong cách của một anh thợ viết và nhịp độ tường thuật cần thiết, chúng ta sẽ đưa gì vào cuốn sách—hay nói cách khác, các thành phần của một câu chuyện ly kỳ là gì?
Tóm lại, bất cứ thứ gì có thể kích thích bất kỳ giác quan nào của con người – hoàn toàn là bất cứ thứ gì.
Về khoản này, đóng góp của tôi cho nghệ thuật viết truyện ly kỳ là nỗ lực kích thích người đọc hoàn toàn, kể cả vị giác của họ. Chẳng hạn, tôi chưa bao giờ hiểu tại sao các nhân vật trong sách phải ăn những bữa sơ sài và ảm đạm tới vậy. Những người hùng Anh Quốc dường như sống nhờ trà và bia, và khi họ có một bữa thịnh soạn, chúng ta không bao giờ nói gồm những gì. Cá nhân tôi không thuộc hạng sành ăn và tôi ghê tởm việc nhấm nháp rượu vang khi ăn. Món yêu thích của tôi là trứng bác. Trong bản đánh máy ban đầu của Live and Let Die, tôi để James Bond ăn nhiều trứng bác tới nỗi một biên tập viên tinh tường cho rằng lối sống cứng nhắc này hẳn đang trở thành một rủi ro an ninh với Bond. Nếu anh ta bị bám đuôi thì cái đuôi chỉ cần phi vào nhà hàng và hỏi “Ở đây có gã nào vừa ăn trứng bác à?” để biết mình có đang đi đúng hướng hay không. Vì vậy, tôi đã phải soát lại để thay đổi thực đơn.
Nó chắc hẳn sẽ lôi cuốn người đọc hơn nếu thay vì viết “Anh ấy nấu một bữa qua loa ở Plat du Jour – bánh và rau củ tuyệt vời, sau đó là đồ ăn vặt tự làm” thì bạn viết “Theo bản năng, vốn chẳng tin tưởng gì các Plats du Jour, anh ấy đã gọi bốn quả trứng rán chín cả hai mặt, bánh mì nướng phết bơ nóng và một tách cà phê đen lớn.” Không có sự khác biệt về giá ở đây, nhưng cần lưu ý những điểm sau: thứ nhất, tất cả chúng ta đều thích đồ ăn sáng hơn đồ ăn cho bữa trưa và bữa tối; thứ hai, Bond là một nhân vật độc lập, biết mình muốn gì và đạt được nó; thứ ba, bốn quả trứng rán mang đúng chất bữa ăn của đàn ông thực thụ và, trong trí tưởng tượng của chúng ta, một tách cà phê đen lớn sẽ khơi gợi vị giác triệt để sau món trứng béo ngậy và bánh mì nướng phết bơ nóng hổi.
Điều tôi hướng tới là một chủ nghĩa ngoại lai có kỷ luật nhất định. Tôi chưa đọc lại bất kỳ cuốn sách nào của mình để xem liệu điều này liệu có hợp lý khi xem xét kỹ lưỡng hay không, nhưng tôi nghĩ bạn sẽ thấy rằng ánh dương kia luôn rọi sáng trên trang sách của tôi – một trạng thái nâng cao tinh thần của độc giả theo lối khá tinh tế – rằng hầu hết các bối cảnh tôi viết ra đều thú vị và dễ chịu, đưa người đọc chu du khắp chốn trên thế giới, và nói chung, tính chất khoái lạc mạnh mẽ luôn hiện diện để bù đắp cho khía cạnh nghiệt ngã trong những cuộc phiêu lưu của Bond. Có thể, điều này “làm hài lòng” người đọc.
Tới đây, hãy cho tôi nán lại một chút để đảm bảo với bạn rằng, mặc dù tất cả những điều này nghe thật xảo quyệt, nhưng chỉ nhờ nỗ lực mổ xẻ sự thành công của những cuốn sách của tôi nhằm phục vụ mục đích cho bài tiểu luận này mà tôi mới đi đến những kết luận đó. Trên thực tế, tôi viết về những gì làm hài lòng và hấp dẫn chính tôi.
…
Chà, có vẻ tôi đang tiến hành rất tốt việc phân tách tác phẩm của mình thành từng mảnh, vì vậy chúng ta có thể đào sâu hơn nữa.
Mọi người thường hỏi tôi: “Làm sao ông có thể nghĩ ra điều đó? Ông hẳn phải có một trí óc phi thường (hoặc đôi khi cực kỳ bẩn thỉu).
Tôi dĩ nhiên có trí tưởng tượng sống động, nhưng tôi không thấy có gì kỳ quặc ở đây. Tất cả chúng ta đều lớn lên qua những thiên truyện cổ tích, những cuộc phiêu lưu và những câu chuyện ma quái trong 20 năm đầu đời, và điểm khác biệt duy nhất giữa tôi và bạn có lẽ là trí tưởng tượng của tôi giúp tôi kiếm ra tiền. Tuy nhiên, quay lại cuốn sách đầu tiên của tôi, Casino Royale, có những tình tiết chân thực trong cuốn sách thực tế đều xuất phát từ trải nghiệm cá nhân. Tôi trích xuất từ ký ức thời chiến của mình ở Phòng Tình báo Hải quân của Bộ Hải quân, tô điểm chúng, gắn cho chúng những nhân vật, thế là cuốn sách ra đời.
Ví dụ như phân đoạn James Bond đánh poker với Le Chiffre, điều này bật ra trong tâm trí tôi từ sự việc sau đây. Tôi và sếp của tôi, Giám đốc Tình báo Hải quân – Đô đốc Godfrey – diện thường phục, bay tới Washington vào năm 1941 để đàm phán mật với Văn phòng Hải quân Hoa Kỳ, trước khi Mỹ tham chiến. Phi cơ của chúng tôi hạ cánh xuống Lisbon để nghỉ qua đêm, và những đồng chí đã kể về việc Lisbon đang rình rập các đặc vụ Đức ra sao. Gã cầm đầu và hai tên trợ lý đánh bạc hàng đêm trong sòng bạc ở Estoril lân cận. Tôi nói với DNI rằng tôi và anh nên thám thính đôi chút. Chúng tôi đi và có ba người đàn ông đang chơi ở bàn chemin de fer cao. Sau đó, ý tưởng kỳ diệu bật ra là tôi sẽ ngồi xuống đánh bạc với những người này và đánh bại họ, từ đó làm giảm ngân sách của Cơ quan Mật vụ Đức.
Hoặc giả dụ như cảnh tra tấn. Những gì tôi mô tả trong Casino Royale là một phiên bản nhẹ nhàng hơn của kiểu tra tấn Pháp-Maroc được gọi là passer á la mandoline, mà một số đặc vụ của chúng tôi không may mắn phải nếm trải.
Bạn thấy đấy, ranh giới giữa hiện thực và hư cấu rất mong manh. Tôi nghĩ tôi có thể theo dấu hầu hết các sự kiện trung tâm trong sách của mình để khẳng định nguồn gốc của nó là từ đời sống mà ra.
Giờ thì, chúng ta đã đi tới chặng cuối và khó nhằn nhất trong việc viết một cuốn sách ly kỳ. Bạn phải lường trước những điều ly kỳ trước khi viết ra chúng. Chỉ tưởng tượng thôi là chưa đủ, nhưng những câu chuyện nghe được từ bạn bè hoặc đọc trên báo có thể được bồi đắp bằng trí tưởng tượng phong phú, cũng như một nỗ lực nghiên cứu và tham khảo tài liệu nhất định.
Sau khi áp dụng tất cả những lời khuyên đáng khích lệ này, trái tim bạn vẫn sẽ dao động trước đòi hỏi thể chất khi viết lách, ngay cả với một cuốn sách ly kỳ. Tôi nồng nhiệt cảm thông với bạn. Tôi cũng vậy, thật lười biếng. Trái tim tôi chùng xuống khi ngắm nhìn hai hoặc ba trăm tờ giấy ngu ngốc mà tôi phải gạch xoá tứ tung những từ ngữ được chọn lọc kỹ lưỡng để tạo ra một cuốn sách 60.000 từ.
Trong trường hợp của tôi, một trong những điều cần thiết đầu tiên là tạo ra một khoảng trống trong cuộc sống mà chỉ có thể được lấp đầy bằng các dạng thức sáng tạo, bất kể là viết, vẽ, điêu khắc, sáng tác hay đơn giản là làm một chiếc xuồng. Tôi may mắn về khoản này. Tôi xây một ngôi nhà nhỏ ở bờ biển phía Bắc Jamaica vào năm 1946 và thu xếp cuộc sống của mình để có thể dành ít nhất hai tháng mùa đông ở đó.
Trong sáu năm đầu, tôi có rất nhiều việc phải làm để khám phá Jamaica, làm việc với nhân viên và kết thân với người dân bản địa cũng như kiểm tra tỉ mỉ nhiều thứ. Nhưng đến năm thứ sáu, mọi thứ đã cạn kiệt và tôi chuẩn bị kết hôn – một viễn cảnh khiến tôi kinh hãi và bồn chồn. Để giúp đôi tay nhàn rỗi của mình có việc gì đó để làm, và như một liều thuốc giải tỏa nỗi lo lắng về tình trạng hôn nhân sau 43 năm độc thân, tôi quyết định sẽ ngồi xuống và viết một cuốn sách vào một ngày chết tiệt nào đó.
Liệu pháp đã thành công. Và mặc dù tôi vẫn duy trì viết lách khi ở London, nhưng chính trong những kỳ nghỉ hàng năm tới Jamaica mà tất cả sách của tôi đều ra đời. Tuy nhiên, nếu không có chốn ẩn náu như vậy, tôi có thể đề xuất các phòng khách sạn càng xa “cuộc sống” thường nhật của bạn càng tốt. Sự ẩn dật của bạn trong môi trường buồn tẻ này và việc bạn không có bạn bè cũng như những điều gây xao nhãng ở một địa điểm xa lạ sẽ tạo ra một khoảng trống buộc bạn phải có tâm trạng viết lách và giả dụ nếu ví của bạn nhẵn thín, bạn thậm chí càng có tâm trạng để viết nhanh và có phương pháp hơn nữa.
Về mặt hành vi viết lách, phương pháp của tôi là thế này. Tôi soạn tất cả trên máy đánh chữ, sử dụng sáu ngón tay. Đánh máy nhàn hơn nhiều so với viết tay và bản thảo ít nhiều cũng sạch sẽ hơn. Điều cần thiết tiếp theo là tuân thủ nghiêm ngặt một thói quen – và ý tôi là nghiêm túc. Tôi viết trong khoảng ba giờ vào buổi sáng – từ khoảng 9 giờ 30 đến 12 giờ 30 – và tôi viết thêm một giờ nữa từ 6 đến 7 giờ tối. Khi kết thúc việc này, tôi tự thưởng cho mình bằng cách đánh số các trang và nhét chúng vào một cặp hồ sơ có thể gập lại. Toàn bộ bốn giờ làm việc hàng ngày này được dành cho việc viết tường thuật.
Tôi không bao giờ sửa bất cứ điều gì và tôi không bao giờ ngó lại những gì tôi đã viết, cho đến khi tôi tới trang cuối cùng. Bạn chỉ ngoảnh đầu một lần thôi, bạn sẽ lạc lối. Làm sao mày có thể viết ra điều ngớ ngẩn này? Làm sao mày có thể dùng từ “khủng khiếp” sáu lần trên một trang?, v.v… Nếu bạn làm gián đoạn việc viết tường thuật nhanh bằng quá nhiều tranh đấu nội tâm và những màn tự vấn, viết được 500 từ mỗi ngày là may mắn lắm rồi, nhưng bạn sẽ nhanh thấy chán ghét chúng.
Bằng cách noi theo công thức của tôi, bạn sẽ viết được 2.000 từ mỗi ngày và không thấy chán ghét chúng cho đến khi cuốn sách hoàn thành, và trong trường hợp của tôi, rơi vào khoảng sáu tuần.
Tôi thậm chí không ngừng gõ để chọn từ đúng. Tất cả có thể dành lại cho khâu biên tập sau đó.
Khi cuốn sách của tôi hoàn thành, tôi dành khoảng một tuần để duyệt lại và nhặt bỏ những hạt sạn to nhất cũng như viết lại các đoạn văn. Sau đó tôi đánh máy chính xác các tiêu đề chương và xử lý tất cả việc còn lại của khâu hình thức. Rồi tôi xem lại nó, đánh máy lại những trang tệ nhất và gửi cho nhà xuất bản.
…
Nhưng sau tất cả những nỗ lực trên, phần thưởng của việc viết lách, hay viết truyện ly kỳ trong trường hợp của tôi là gì?
Trước hết, chúng là tài chính. Bạn không kiếm được nhiều từ tiền bản quyền và quyền dịch thuật, v.v., trừ phi bạn rất siêng năng, bạn mới có thể sống nhờ những khoản thu nhập này; nhưng nếu bạn bán bản quyền nhiều kỳ và bản quyền phim, bạn sẽ sống rất ổn.
Trên hết, phần thưởng cho việc trở thành một nhà văn tương đối thành công là một cuộc sống tươi đẹp. Bạn không cần phải làm việc mọi lúc và bạn giữ văn phòng của mình trong đầu. Và bạn nhận thức rõ nét hơn về thế giới xung quanh mình.
Viết khiến bạn trở nên nhạy cảm hơn với môi trường xung quanh và, vì thành phần chính của cuộc sống, mặc dù bạn có thể không nghĩ vậy khi nhìn vào phần lớn mọi người, là được sống. Đây là một tác dụng phụ khá đáng giá của việc viết, ngay cả khi bạn chỉ viết truyện giật gân, trong đó nam chính là người da trắng, phản diện là người da đen và nữ chính theo tuýp liễu yếu đào tơ.
Ngày 30 tháng Bảy năm 2025,
Vẫn là về Lev Tolstoy
Ai cũng nghĩ tới việc thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ tới việc thay đổi chính mình.
— Leo Tolstoy
Vốn thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, Leo Tolstoy đã phung phí phần lớn tuổi trẻ để đánh bạc, nhậu nhẹt, chơi điếm như mọi thanh niên thượng lưu khác. Tuy nhiên, quãng đời từ trung niên cho tới lúc lâm chung, ông bắt đà trở lại và với sức phóng tác phi thường, cho ra mắt hàng loạt các tác phẩm văn học kinh điển, đến nay được xem là mẫu mực và đỉnh cao của văn học hiện thực. Hai trong số chúng là kiệt tác Anna Karenina cùng Chiến tranh và Hòa bình, được đồng tình rộng rãi là hai trong số những tác phẩm hiện thực quan trọng nhất của thế kỷ 19.
Một tiểu thuyết gia vĩ đại như Tolstoy chắc chắn là viết không ngừng tay, chính ông cũng thừa nhận thích giữ cho bản thân bận rộn hơn là nhàn rỗi. Thật đáng ngưỡng mộ và đôi khi là khó hiểu nữa khi được biết ngoài việc dành trọn buổi sáng để sáng tác, ông còn vô số sở thích khác như cày bừa, giảng dạy, đọc sách, chơi đùa cùng lũ trẻ, thậm chí là giàu nứt đố đổ vách nhưng vẫn mày mò tự thiết kế đôi giày của chính mình.
Và dưới đây là cách ông khai thác triệt để thời gian tại thế của mình:
1. Học cách từ bỏ
Gia đình Tolstoy là một danh gia vọng tộc tại Nga. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ và chủ yếu ở với dì. Năm 1844, Tolstoy nộp đơn vào Đại học Kazan rồi bỏ học giữa chừng vì không thấy ý nghĩa của việc tiếp tục học tập.
Đa phần thời gian học tập tại trường đại học, nói rộng ra là cả tuổi trẻ của ông – giống với cuộc đời của những người ở tầng lớp thượng lưu khi ấy: không theo bất cứ một quy chuẩn nào, mọi việc đều phụ thuộc vào cảm hứng và luôn tìm kiếm những thú vui như rượu chè, bài bạc và gái điếm.
Nhưng Tolstoy không thể vô tư chấp nhận để cuộc sống thuận theo tự nhiên. Dù ý thức rất rõ về giai cấp của mình, từ rất sớm, trong nhật ký của ông cho thấy một nỗi dằn vặt khôn nguôi về giá trị đạo đức của cuộc sống, một nỗi thống khổ vô hạn và sự ghê tởm chính mình.
Trong bản danh sách được viết vào năm ông 18 tuổi, nhà văn đề ra những “quy tắc sống” và kiên trì theo đuổi trong suốt cuộc đời, như sau:
Thức dậy lúc năm giờ
Đi ngủ trước mười giờ
Được phép ngủ hai tiếng giữa ngày
Đi bộ một giờ mỗi ngày
Chỉ được ghé thăm nhà thổ hai lần một tháng (phần lớn thất bại)
Chỉ làm một việc duy nhất tại một thời điểm
Thực hiện mọi quy tắc đã đề ra
Sau này, danh sách dần được mở rộng và các quy tắc sau đã được bổ sung:
Ngừng quan tâm ý kiến của người khác về mình
Làm điều thiện thật kín đáo
Tránh xa phụ nữ
Dập tắt ham muốn bằng công việc
Giúp đỡ những người kém may mắn
Nhờ kiên trì noi theo những quy tắc trên, Tolstoy từ năm 30 tuổi về sau đã trở thành một con người khác. Những năm cuối đời, trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin nghiêm trọng, ông dần tin tưởng rằng mình đang được hưởng tài sản thừa kế một cách không công bằng, và nổi tiếng trong giới nông dân về những hành động giúp đỡ hào hiệp của mình. Ông giúp đỡ những người hành khất chẳng may gặp nạn trên đường, đưa họ về nhà và chăm sóc tử tế; và thường đưa những khoản tiền lớn cho những người ăn mày mình bắt gặp trên phố.
Năm 1862, nhà văn lúc này đã từ bỏ lối sống hoang đàng thời trẻ, nghiêm túc nghĩ tới chuyện lập gia đình. Ông viết trong nhật ký rằng ở tuổi ba tư, không một phụ nữ nào có thể yêu ông, bởi ông quá già và xấu xí. Nỗi ám ảnh về sự xấu trai vẫn đeo bám ông. Ông viết, “Có nhiều khoảnh khắc tôi đã gắng gượng trong tuyệt vọng: tôi tưởng rằng sẽ không có một hạnh phúc nào trên thế gian dành cho một kẻ mà mũi đã to, môi lại dày và có đôi mắt ti hí màu xám như tôi; và rồi tôi cầu ở Chúa một phép màu, và biến tôi trở nên đẹp trai, và rằng tôi sẵn lòng đánh đổi tất cả những gì mình đang có và sẽ có trong tương lai chỉ để đổi lấy một gương mặt đẹp trai.”
Thế nhưng chỉ vài tháng sau đó, bà Sofia Andreyevna Behrs chấp nhận lời cầu hôn và hai người chính thức trở thành vợ chồng. Cuộc hôn nhân mang lại cho Tolstoy sự giải thoát khỏi những ưu tư vẫn luôn dày vò lâu nay, là “cánh cổng” dẫn tới đời sống tinh thần ổn định và lâu dài mà ông hằng khao khát. Trước ngày cưới, ông đặt vào tay bà một bản “tự thú”, trong đó ông liệt kê tất cả những tội lỗi mà mình đã mắc phải. Bà đọc nó, khóc cả đêm, trả lại cho ông vào sáng hôm sau và chấp nhận tha thứ. Bà đã tha thứ, nhưng bà không quên.
Nhờ có vợ, đời sống của Tolstoy được ổn định phần nào. Chúng ta được nghe kể rằng bà Sofia đã chép lại bảy lần từ đầu tới cuối cuốn Chiến tranh và Hòa bình, mà mỗi cuốn những gần 600.000 từ. Tài sản thừa kế, cùng với sự quán xuyến của người phụ nữ và thu nhập từ việc viết sách, khiến tài sản của nhà Tolstoy ngày càng gia tăng và giúp ông duy trì đời sống thượng lưu vốn có.
2. Việc quan trọng vào buổi sáng
Tolstoy rất quan tâm tới giấc ngủ của mình. Theo bản danh sách trên, ông đặt ra nguyên tắc không đi ngủ muộn sau 10 giờ tối, dậy sớm vào lúc 5 giờ và “cho phép” bản thân được ngủ 2 tiếng vào ban ngày. Trực giác mách bảo ông rằng, các nhiệm vụ quan trọng nhất nên được hoàn thành vào buổi sáng – trước khi các nhà khoa học tuyên bố bộ não con người đạt công suất tốt nhất sau khi ăn sáng và khoảng trước 3-4 giờ chiều. Ông thẳng thắn tuyên bố Dostoevsky đã tự làm hại tài năng của mình khi thường thức đêm viết lách. “Trong mỗi nhà văn đều có một nhà phê bình,” Tolstoy lý giải, “vào ban đêm nhà phê bình đi ngủ, nên nhà văn sẽ viết ra những điều lung tung, những điều mà vào lúc tỉnh táo hơn anh ta hẳn phải hổ thẹn.”
Dậy sớm viết văn dần trở thành thói quen của Tolstoy trong suốt văn nghiệp của mình. Khi làm việc, ông thích trạng thái tự cô lập: nhốt mình trong phòng và không cho phép ai khuấy động sự tĩnh mịch ấy. Ông không thích những chuyến viếng thăm bất ngờ. Ông quan niệm một buổi sáng năng suất là dấu hiệu của một ngày làm việc hiệu quả. Sau khi ngồi uống trà với gia đình, ông nói: “Đến giờ làm việc rồi!” và lập tức lui về thư phòng. Mọi người trong nhà không ai dám làm phiền ông.
Lẽ vậy, Tolstoy sẽ dành hết trí lực để phóng tác trong buổi sáng; trì hoãn tất cả các nhiệm vụ “dễ tiêu” hơn như đọc thư, đi dạo hoặc việc nhà cho tới buổi chiều. Buổi tối, nhà văn dành thời gian bên gia đình, đón tiếp khách khứa và đọc sách.
Trước khi bàn về tài nghệ văn chương của Tolstoy, ta phải chấp nhận sự thật rằng chính thói quen làm việc nghiêm ngặt và có phần máy móc này (thực ra là không máy móc mấy, vì ông thú thực vẫn có những ngày “không làm gì cả”) – đóng góp một phần to lớn giúp ông kiến tạo nên di sản văn học vĩ đại như hậu thế vẫn ca tụng ngày nay.
3. Vận động thường xuyên
Nhiều người nếu chỉ nhìn ảnh chân dung của Tolstoy sẽ nghĩ ông là một lão già khắc khổ, uể oải và có khi mắc bệnh lao cũng nên. Thật khó để tưởng tượng lão già đó từng là một thanh niên tràn đầy năng lượng, và đã duy trì được mức năng lượng đó trong suốt cuộc đời mình. Trên thực tế, Tolstoy ngày còn tại ngũ có thể ngồi trên lưng ngựa cả ngày, đi bộ hơn 20 dặm mà không có dấu hiệu xuống sức.
Nhờ từ bỏ được những thói xấu từ sớm và biết đầu tư cho sức khỏe bản thân, ông duy trì được thể lực đáng ngưỡng mộ cho tới những ngày cuối đời. Người ta kể lại rằng, chỉ với một chiếc ba lô trên lưng và một cây gậy trong tay, Tolstoy dễ dàng “hóa thân” thành lãng khách và xử gọn 200 cây số từ Moscow đến Yasnaya Polyana vào cuối những năm 60.
Ông đã học đạp xe ở tuổi 67, khoảnh khắc được ghi lại sống động trong nhật ký như sau: “Yevgeny Ivanovich đã cố gắng ngăn cản tôi và rất xấu hổ khi thấy tôi đạp xe mà không ái ngại gì (thời đó, đạp xe không được coi là phù hợp với giới thượng lưu). Nếu có bất cứ điều gì, tôi chỉ muốn nói rằng tôi không quan tâm tới ý nghĩ của người ta và việc đạp xe đơn giản khuấy động trong tôi những niềm vui hết sức con trẻ.”
4. Đặt mục tiêu rõ ràng
“Để đạt được điều gì đó vĩ đại, chúng ta phải dồn tất cả sức mạnh của mình vào một mục tiêu này,” Tolstoy từng viết. Tuy nhiên, mục tiêu của những con người vĩ đại không phải lúc nào cũng mang tầm vóc y chang, mà vẫn tồn tại những điều hết sức trần tục, giả dụ như dậy sớm hơn, hút thuốc ít hơn và.. ghé thăm nhà thổ ít hơn.
Năm 18 tuổi, nhà văn viết trong nhật ký của mình: “Có một mục tiêu trong cuộc sống, một mục tiêu cho bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời; một mục tiêu cho năm, tháng, tuần, ngày tiếp theo hoặc thậm chí giờ tiếp theo hay tới từng phút. Điều quan trọng, hãy tập hy sinh những mục tiêu nhỏ cho những mục tiêu lớn hơn.”
Trên thực tế, Tolstoy thời trẻ không ngại vi phạm quy tắc đã đề ra mỗi khi có cơ hội. “Đừng bao giờ bỏ lỡ lạc thú và đừng bao giờ tìm kiếm nó,” ông từng viết. Tuy chệch khỏi đường ray liên miên vì thiếu kỷ luật, đến cuối cùng, Tolstoy gần như đã đạt được tất thảy những gì ông đề ra, thậm chí cả việc hút thuốc (phải thừa nhận là hơi khổ sở).
5. Sống là không ngừng hoàn thiện mình
“Bất chấp tất cả những gì tôi đã đạt được kể từ khi tôi bắt đầu rèn giũa chính mình, tôi vẫn chưa thực sự hài lòng. Càng tiến bộ bao nhiêu, càng nhận thấy mình thiếu sót bấy nhiêu”, đó là lời tự thú trong cuốn nhật ký đầu tiên của Tolstoy. Lúc ngồi viết những dòng này, ông mới 18 tuổi.
Hơn 70 năm sau, nhà văn vẫn nắn nót từng dòng ghi chú: “Tôi đã 82 tuổi nhưng tôi vẫn còn rất nhiều việc phải làm với bản thân mình.” Ở tuổi 73, nhà văn bắt đầu tự học tiếng Hà Lan, biến nó trở thành ngôn ngữ thứ mười lăm trong “bộ sưu tập” của mình. Ông tìm đọc lại các tác phẩm kinh điển, chẳng hạn như Odyssey & Illiad, bằng ngôn ngữ gốc. Khát khao học hỏi của ông là vô biên. Ông thảo lược rất nhiều dự định…
Ngày 31 tháng Bảy năm 2025,
Độc giả không thể đoán ra hung thủ…
Kỷ lục Guinness xướng tên Agatha Christie là một trong những nhà văn bán chạy nhất mọi thời đại, và nhân vật biểu tượng nhất của bà, thám tử Hercules Poirot, về độ nổi tiếng có lẽ chỉ đứng sau Sherlock Holmes.
Thế nhưng ít ai biết, nghiệp viết lách đến với Agatha một cách hết sức tình cờ, từ một lời thách đố của chị gái bà để viết một câu chuyện trinh thám.
Dành phần lớn thời gian với những người bạn tưởng tượng, tuổi thơ độc đáo của Agatha Clarissa Miller đã nuôi dưỡng một trí tưởng tượng khác thường. Trái với mong muốn của mẹ mình, bà tự học đọc và gần như không trải qua bất cứ hình thức giáo dục hợp thức nào cho tới mười lăm tuổi, khi bà được gửi tới Paris.
Agatha Christie luôn nói rằng bà không hề có tham vọng làm nhà văn mặc dù bà trình diện văn đàn ở tuổi mười một, với một bức thư được in trên tờ báo địa phương của London. Nằm liệt giường vì cúm, mẹ bà gợi ý bà thử viết ra những câu chuyện mà bà thích kể.
Tới những năm cuối của tuổi thiếu niên, Agatha đã xuất bản hàng loạt các bài thơ trên tờ The Poetry Review và đã viết một vài truyện ngắn. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1916, chị gái bà, Madge, thách Agatha viết một câu chuyện trinh thám mà độc giả không thể đoán ra hung thủ cho đến cuối truyện. Agatha chấp nhận thử thách và viết cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của mình, The Mysterious Affair at Styles (Vụ án bí ẩn tại Styles), được xuất bản vào năm 1920. Cuốn sách này đã giới thiệu nhân vật thám tử nổi tiếng Hercule Poirot và đánh dấu sự khởi đầu cho sự nghiệp lẫy lừng của bà sau này.
“Độc giả không thể đoán ra hung thủ cho đến cuối truyện” gần như là mẫu số chung cho tất cả các tác phẩm của Agatha Christie. Hai minh chứng hoàn hảo là Vụ ám sát ông Roger Ackroyd và Mười người da đen nhỏ (Và rồi chẳng còn ai)
Với mỗi cuốn sách, Agatha dành phần lớn thời gian để đi sâu vào xây dựng cốt truyện và các manh mối trong đầu hoặc trong sổ ghi chép trước khi bà thực sự viết. Con rể của bà, Anthony Hicks, từng nói: “Bạn không bao giờ thấy bà ấy viết”, bà ấy không bao giờ “nhốt mình trong phòng, như các nhà văn khác vẫn làm.”
Như cháu trai Mathew Prichard lý giải, “tiếp đó bà ấy thường thuật lại câu chuyện cho một cái máy được gọi là Dictaphone và rồi một thư ký có nhiệm vụ gõ sang bản đánh máy, và bà tôi sẽ biên tập thủ công lại. Tôi nghĩ là, trước chiến tranh, trước khi Dictaphone được phát minh ra, khả năng cao là bà thường viết những câu chuyện bằng tay và rồi ai đó sẽ đánh máy lại chúng. Bà ấy không máy móc lắm, bà viết rất tự nhiên và viết cực nhanh. Tôi nghĩ… bà chỉ mất vài tháng để viết xong một cuốn và thêm một tháng để chỉnh sửa trước khi gửi bản thảo tới các nhà xuất bản.
Khi toàn bộ quy trình viết sách đã xong xuôi, thi thoảng bà thường đọc những câu chuyện cho chúng tôi nghe sau bữa tối, mỗi lần một hoặc hai chương gì đấy. Tôi nghĩ chúng tôi bị coi như chuột bạch ở giai đoạn ấy; để đo lường xem phản ứng của công chúng sẽ ra sao. Tất nhiên, ngoại trừ gia đình tôi ra, thường sẽ có thêm vài vị khách khác ở đó và phản ứng của họ rất khác biệt. Chỉ có mẹ tôi luôn biết kẻ sát nhân là ai, tất cả còn lại thi thoảng cũng đoán trúng, còn lại thì trật lất. Ông tôi thường gật gù suốt buổi đọc chuyện nhưng chúng tôi lại rất chăm chú. Đó là một dịp để gia đình quây quần và rồi vài tháng sau, chúng tôi sẽ thấy những câu chuyện đó được bày bán khắp các hiệu sách.”
Sau khi ly hôn với người chồng đầu tiên, Agatha Christie mất tích, một sự kiện không kém kịch tính với những câu chuyện bà viết ra là bao. Năm 1930, bà kết hôn với nhà khảo cổ học Sir Max Mallowan, và sống hạnh phúc cho tới cuối đời. Ngoài truyện trinh thám, bà cũng viết tiểu thuyết lãng mạn dưới bút danh Mary Westmacott. Bà qua đời năm 1976, ở tuổi 86.
Tiểu thuyết Bố già được phát hành vào năm 1969, và báo chí cũng như độc giả đều phát sốt vì nó tới nỗi đặt ra nhiều nghi vấn về việc Mario Puzo có quan hệ mật thiết với mafia hay không.
Về điều này, trong một lần phỏng vấn với Associated Press năm 1996, ông trả lời: “Tôi sẽ ở đâu trong Mafia? Tôi đã chết đói trước khi viết nên Bố già. Nếu tôi ở trong mafia, tôi đã kiếm đủ tiền để không phải viết lách.”
Doanh thu bán sách và bản quyền làm phim giúp Mario Puzo trả hết nợ nần, thậm chí có thể sống khá thong dong. Nhưng vì đã quá quen với việc bị phá sản nên ông mất một thời gian để “thích nghi” với vận may bất ngờ của mình.
Con trai Tony của nhà văn kể lại: “Một lần, ông ấy đến thư viện và phát hiện cuốn sách yêu thích đã bị người khác rút ra trước. Chợt nhớ ra bây giờ mình đã có tiền, ông ấy đi thẳng tới hiệu sách và vác về nhà cả một lô.”
Pho tiểu thuyết đồ sộ “Đi tìm thời gian đã mất” ( “À la recherche du temps perdu”) chắc chắn là một trong những tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ XX. Người ta nói rằng Marcel Proust luôn viết trên giường, trong một căn phòng gần như cách âm hoàn toàn. Có lẽ trong những điều kiện này mà kiệt tác của ông đã ra đời, một tác phẩm có lịch sử xuất bản lâu dài, phức tạp và không mấy may mắn.
Vào mùa hè năm 1912, Proust đã chuẩn bị một bản đánh máy của tập đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết của mình. Đầu tiên, ông gửi bản thảo cho Fasquelle (người là nhà xuất bản của các nhà văn Pháp khác như Zola và Rostand), nhưng đánh giá của biên tập viên tiêu cực đến mức ông ta tuyên bố rằng mình không biết cuốn tiểu thuyết nói về điều gì.
Để có được một “bài trình bày nghệ thuật hơn”, Proust đã nghĩ đến việc đề xuất cuốn sách với tờ Nouvelle Revue Française, được thành lập bởi một nhóm trí thức như André Gide và chủ biên Gaston Gallimard. Gide, người được giao nhiệm vụ đọc thử, đã từ chối ngay khi nhìn thấy, có lẽ vì thất vọng trước tiếng xấu về tính cách hợm hĩnh của Proust.
Tuy nhiên, Proust vẫn không bỏ cuộc và gửi bản thảo đến một nhà xuất bản khác tên là Ollendorf. Trong trường hợp này, ông cũng nhận được một đánh giá tiêu cực, và một câu trong bài nhận xét này đã trở nên vô cùng nổi tiếng:
“Tôi có thể rất ngu ngốc, nhưng tôi không hiểu nổi tại sao người đàn ông này lại có thể dành ra ba mươi trang chỉ để mô tả cảnh anh ta trằn trọc trên giường trước khi ngủ.”
Sau những thất bại này, vào tháng 2 năm 1913, Proust tìm đến nhà xuất bản trẻ Bernard Grasset, đề nghị tự chi trả chi phí xuất bản và quảng bá tác phẩm của mình. Cuối cùng, Grasset đã đồng ý mà không cần đọc một trang bản thảo nào của cuốn tiểu thuyết.
Ngày 1 tháng Tám năm 2025,
Tolstoy không thể “chịu nổi” kịch của Chekhov
Nhiều người đương thời cảm thấy các vở kịch của Chekhov có cái gì đấy kỳ quặc. Mà bản thân nhà văn cũng không phủ nhận sự khác thường của chúng: ”Tôi sẽ viết một cái gì đấy kỳ quặc”, – ông viết cho Suvorin, ám chỉ vở “Hải âu”. Về sau Tolstoy nhận xét về vở kịch này như sau: “Hải âu” của Chekhov thật vớ vẩn, không ra gì… “Hải âu” rất dở… Hay nhất là đoạn độc thoại của nhà văn, đó là những nét tự truyện, nhưng trong vở kịch nó nửa quê nửa tỉnh”.
Tolstoy coi Chekhov là một ”nghệ sĩ vô song”, thậm chí gọi ông là “Pushkin trong văn xuôi”, thừa nhận rằng Chekhov đã tạo ra “bút pháp mới”. Nhưng ngay cả khi hiểu rằng Chekhov là một cái gì đấy hoàn toàn khác so với Turgenev, Dostoyevsky hoặc chính mình, Tolstoy vẫn không thể thừa nhận nghệ thuật kịch của Chekhov.
Một lần, Chekhov đến thăm Tolstoy bị ốm ở Gasper. Trước khi chia tay, Tolstoy bảo Chekhov hôn ông, sau đó ghé sát tai nhà văn và nói: “Nhưng dù sao tôi cũng không thể chịu được những vở kịch của anh. Shakespeare viết rất kém, anh còn kém hơn!”
Ngày 5 tháng Tám năm 2025,
Chuyện một ông triết gia
Theo triết gia Arthur Schopenhauer, hãm hại người khác chỉ là một hình thức khác của việc tự làm tổn hại mình. Đây chính là nền tảng của mọi luân lý… Khi người này hãm hại người kia, việc đó cũng tương tự như khi một con rắn tự cắn đuôi của mình mà không biết rằng những chiếc răng chứa nọc độc của nó đang cắm ngập vào chính thân xác nó. Như vậy, luân lý cơ bản mà Schopenhauer rao giảng chính là lòng trắc ẩn.
Hiểu một cách đúng đắn, điều đó có nghĩa là tha nhân không hề ở bên ngoài bản thân ta. Tôi quan tâm đến những chuyện xảy ra với anh bởi vì, theo một cách nào đó, anh là một phần của cái mà cả anh lẫn tôi đều thuộc về: Thế giới như là Ý chí.
Đó chính là lập trường đạo đức chính thống của Schopenhauer. Dù vậy, có một nghi vấn là: chính bản thân ông liệu đã quan tâm đến người khác đến mức độ như ông nói hay chưa?
Người ta kể rằng, có một lần, có một bà già tán gẫu ngoài cửa nhà ông khiến ông tức giận đến mức đẩy bà ta ngã từ bậc cửa xuống. Bà ta bị thương và toà án đã yêu cầu Schopenhauer phải trả tiền cấp dưỡng cho bà ta suốt quãng đời còn lại của bà ta.
Vài năm sau, khi bà ta qua đời, Schopenhauer không mảy may thương xót chút nào: thay vì thế ông còn viết nguệch ngoạc một câu bỡn cợt vần vè trong giấy chứng tử của bà ta: “obit anus, abit omus” (một câu tiếng La tinh, có nghĩa là: “bà già chết, gánh nặng hết”).
Ngày 7 tháng Tám năm 2025,
Thần hứng
Đọc sách báo, thi thoảng ta gặp những câu như: “Nhà văn viết cuốn ấy trong cơn sốt”.
“Cơn sốt” đây không phải là bị cảm hoặc làm cữ mà nhiệt độ trong mình tăng lên 39, 40 độ đâu. “Trong cơn sốt” nghĩa là trong khi hứng tới, dịch đúng chữ “fièvre” trong từ ngữ “fièvre de là création” của Pháp.
Khi hứng tới, quả thật là máu chạy nhanh, dồn cả lên đầu, gân thái dương nổi lên, trán hơi nóng như bắt đầu sốt nhẹ vậy. Lúc đó ta suy nghĩ rất mẫn tiệp, ý thao thao bất tuyệt mà lời cứ theo ý tuôn ra, ta hăng hái viết một hơi hàng chục trang một cách dễ dàng, trơn tru, không mảy may thấy mệt.
Công dụng của hứng quan trọng như vậy nên nhiều nhà văn ráng tìm nó, dùng để cách để gợi lên “yên sĩ phi lí thuần”. Họ hoặc ra biển, lên núi để ngắm cảnh; hoặc chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trên bãi cỏ như người khùng (kỳ cục! hình như cơ thể vận động thì dễ suy nghĩ); hoặc ngắm ảnh mỹ nhân treo trên tường, hoặc nhìn sọ người đặt trước mặt; từ nàng tiên nâu – thuốc p-hiện – đến nàng tiên xanh – rượu mạnh – từ tiếng đàn tiếng ca của các cô Hồng, cô Tuyết đến vị đắng vị ngọt của cà phê, trà tàu, có rất nhiều thứ đã được văn nhân, thi sĩ dùng để mời hứng tới! Mời được đã khó, giữ được còn khó hơn. Người ta kể chuyện muốn cho hứng khỏi mất, Balzac phải nhịn ăn, nhịn ngủ, uống toàn cà phê đậm, cởi cả giày, vớ, gác chân lên một tấm đá hoa lạnh và cắm cổ viết, viết luôn hai mươi bốn giờ.
Hứng giúp ta nhiều thật, song ta đừng nên tưởng rằng hứng rất cần thiết, thiếu nó thì không viết được. Người Pháp nói: “Cứ ăn đi rồi sẽ thấy ngon miệng”. Tôi cũng có thể nói: “Cứ viết đi rồi hứng sẽ tới”. Thi sĩ Baudelaire bảo “công việc hàng ngày giúp cho hứng” là nghĩa vậy.
Flaubert bất chấp hứng, khi cây bút không chịu “đi” ông bắt nó “đi”, y như một nông phu bắt con trâu phải tiến. Ông cấm Maupassant nói: “Lúc này, tôi không viết được gì cả. Đầu tôi trống rỗng” và ông bảo: “Ngày nào cũng đúng giờ ngồi vào bàn viết, thế là hứng”.
Không những vậy, ông còn diệt hứng:
Ta phải đề phòng cái sự phấn khích mà người ta gọi là hứng, trong đó thường có nhiều cảm xúc của thần kinh hơn là sức của bắp thịt. Chẳng hạn trong lúc nầy đây, tôi thấy cao hứng lắm, trán tôi nóng như lửa, câu của tôi tuôn ra (…) Đáng lẽ có một ý thì tôi có đến sáu, và đoạn nào cần phải diễn một cách bình dị nhất thì tôi tìm ngay được một hình ảnh. Tôi chắc chắn là có thể viết tới trưa mà không thấy mệt. Nhưng tôi biết sự giả dối và những lời dại dột của óc tưởng tượng. Cái gì cũng phải làm trong sự lạnh lùng, một cách chầm chậm.
Thực vậy, hứng nhiều khi gạt ta. Ta sôi nổi theo nó, chẳng suy nghĩ gì hết, tưởng ý nào cũng hay, lời nào cũng đẹp, chép cả lên giấy; đến lúc bình tĩnh đọc lại mới thấy phải xoá bỏ đi già nửa. Cho nên khi nào ngòi bút đi dễ dàng quá thì… nên coi chừng: phải thấy khó khăn, mà thắng được khó khăn mới là nghệ thuật.
(Nghề viết văn, Nguyễn Hiến Lê)
Ngày 8 tháng Tám năm 2025,
Bốn cấp độ của việc đọc
Mục tiêu mà độc giả tìm kiếm khi đọc sách – dù là đọc để giải trí, lấy thông tin, hay để hiểu rõ – quyết định cách đọc của họ. Hiệu quả của việc đọc được xác định thông qua sự nỗ lực nhiều hay ít, và những kỹ năng đọc của độc giả. Quy luật chung là càng nỗ lực nhiều, hiệu quả càng cao. Việc đọc sách, giống như tự khám phá, chính là học mà không có thầy giáo. Chúng ta chỉ có thể thành công nếu ta biết cách thực hiện như thế nào.
Có bốn cấp độ đọc. Ở đây chúng tôi dùng từ “cấp độ” thay cho “loại” vì loại thì khác hẳn nhau, trong khi cấp độ lại có cấp độ cao, cấp độ thấp. Do đó, các cấp độ của việc đọc mang tính tích luỹ. Cấp độ đầu tiên không bị cấp độ thứ hai lấn át. Tương tự, cấp độ thứ hai không bị cấp độ thứ ba che mất, và cấp độ thứ ba thì không bị cấp độ bốn lấn lướt. Cấp độ bốn cũng là cấp độ cao nhất trong quá trình đọc, bao hàm tất cả các cấp khác. Nói cách khác, cấp này vượt quá tầm kiểm soát của các cấp dưới.”
Cấp độ đọc đầu tiên được chúng tôi gọi là đọc sơ cấp, hay đọc sơ đẳng, đọc cơ bản, đọc khởi đầu. Cách gọi nào cũng nói lên một điều rằng khi độc giả đã nắm vững cấp độ này, tức là họ đã từ chỗ không biết chữ trở thành biết chữ, ít nhất là ở giai đoạn đầu tiên. Khi thành thạo cấp độ này, người ta học được các điều cơ bản nhất trong Nghệ thuật đọc sách (The art of reading), được đào tạo cơ bản về đọc, và học được các kỹ năng đọc đầu tiên. Cấp độ đọc này thường được dạy cho học sinh tiểu học.
Khi bắt đầu học đọc, người ta học cách nhận biết từng từ riêng rẽ trên trang sách. Ví dụ, các em học sinh lớp một nhìn thấy một tập hợp các dấu hiệu màu đen trên nền giấy trắng, các dấu hiệu đó có nghĩa là “Con mèo ngồi trên chiếc mũ.” Nhưng vì mới học đọc nên các em không thật sự quan tâm liệu mèo có ngồi trên mũ thật không, hay điều này ám chỉ gì về mèo, mũ và thế giới xung quanh. Các em chỉ để ý đến ngôn ngữ mà tác giả đang dùng.
Ở cấp độ một, câu hỏi đặt ra cho người đọc là “Câu đó ý nghĩa nói gì?”. Đây có thể xem là một câu hỏi phức tạp và hóc búa. Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến ý nghĩa đơn giản nhất của nó. Trong cấp độ đọc này, có một số vấn đề mất nhiều công sức để xử lý. Ví dụ, khi ta muốn đọc một tài liệu nào đó nhưng nó lại được viết bằng tiếng nước ngoài mà ta không thạo lắm. Lúc này, nỗ lực đầu tiên của chúng ta là phải xác định các từ được dùng. Chỉ sau khi xác định được từng từ, “chúng ta mới có thể tìm cách để hiểu chúng và cố gắng hết sức để hiểu ý nghĩa của chúng. Thậm chí, khi đọc các tài liệu được viết bằng ngôn ngữ của mình, nhiều độc giả vẫn gặp không ít khó khăn ở cấp độ đọc này. Hầu hết các khó khăn đó mang tính máy móc. Một trong số các nguyên nhân là do cách họ được dạy học đọc như thế nào lúc ban đầu gây nên. Vượt qua các trở ngại này, người ta thường đọc nhanh hơn. Vì thế mà phần lớn các khoá dạy đọc nhanh tập trung vào cấp độ này.
Cấp độ đọc thứ hai được chúng tôi gọi là đọc kiểm soát. Đặc trưng của cấp độ này là sự nhấn mạnh đặc biệt đến thời gian. Khi đọc ở cấp độ này, học sinh được phân bổ một lượng thời gian nhất định để hoàn tất một lượng bài đọc được giao. Nói cách khác, mục đích của cấp độ này là cố gắng hiểu càng nhiều trong một khoảng thời gian ấn định trước – thường là một khoảng thời gian tương đối ngắn, thậm chí là quá “quá ngắn để hiểu được mọi thứ được đề cập trong sách.
“Có một tên gọi khác cho cấp độ đọc này là đọc lướt qua. Nhưng đây không phải là đọc lướt qua một cuốn sách một cách tình cờ hay ngẫu nhiên. Đọc kiểm soát là nghệ thuật đọc lướt “một cách có hệ thống. Khi đọc ở cấp độ này, mục đích của bạn là xem xét bề mặt cuốn sách, và tiếp thu tất cả những gì mà bề nổi của cuốn sách dạy bạn.
Ở cấp độ này, câu hỏi điển hình là “Cuốn sách muốn nói lên điều gì?” hoặc “Kết cấu cuốn sách như thế nào?”, hay “Cuốn sách gồm những phần nào?”.
Khi đọc kiểm soát một cuốn sách, dù thời gian cho phép ít đến đâu, bạn cũng phải trả lời được câu hỏi “Sách này thuộc loại gì: tiểu thuyết, lịch sử hay khoa học?”. Điều chúng tôi muốn lưu tâm là đa số mọi người, ngay cả những người đọc khá tốt, cũng không nhận thức được giá trị của việc đọc kiểm soát. Họ bắt đầu đọc trang đầu tiên, và đọc kỹ cho đến hết mà không đọc phần mục lục. Như vậy, họ vừa phải tiếp thu kiến thức bề nổi của cuốn sách, vừa phải cố gắng hiểu cuốn sách muốn nói gì. Điều này làm cho vấn đề càng khó khăn hơn.
Cấp độ đọc thứ ba chúng tôi gọi là đọc phân tích. Đây là một hoạt động phức tạp hơn, những cũng hệ thống hơn hai cấp độ trước. Tùy thuộc vào mực độ khó của bài đọc mà có nhiều hay ít đòi hỏi khắt khe đối với người đọc.
Đọc phân tích là đọc kỹ lưỡng, đọc toàn bộ hay đọc hiệu quả. Nếu đọc kiểm soát là hình thức đọc tốt nhất, và hoàn chỉnh nhất có thể đạt được trong một thời gian cho trước, thì đọc phân tích là hình thức đọc tốt nhất và hoàn chỉnh nhất có thể đạt được trong một thời gian không xác định. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là đọc phân tích luôn luôn tích cực. Trong cấp độ này, độc giả giành lấy một cuốn sách, và nghiền ngẫm nó cho đến khi nó trở thành của riêng họ. Triết gia Francis Bacon (1561-1626) từng nhận xét rằng: “Một số sách chỉ dùng để nếm. Một số khác để nuốt. Và rất ít cuốn sách dùng để nhai và tiêu hoá.” “Đọc một cuốn sách theo kiểu phân tích có nghĩa là nhai và tiêu hoá nó.
Đọc phân tích không thật sự cần thiết nếu mục đích đọc của bạn chỉ để lấy thông tin hay giải trí. Đọc phân tích trước tiên và trên hết là đọc để hiểu. Nếu bạn không có ít nhất một kỹ năng nào đó của cấp độ đọc phân tích, bạn gần như không thể dựa vào sự trợ giúp của một cuốn sách để đi từ chỗ hiểu ít đến hiểu nhiều.
Cấp độ bốn, cũng là cấp độ cao nhất của việc đọc, được gọi là đọc đồng chủ đề. Đây là hình thức đọc phức tạp nhất và có hệ thống nhất trong tất cả các cấp độ. Yêu cầu đối với người đọc rất cao ngay cả khi bản thân những tài liệu họ đọc khá dễ hiểu.
Người ta còn gọi cấp độ này là đọc so sánh. Khi đọc đồng chủ đề, độc giả đọc nhiều sách chứ không chỉ một cuốn và tìm mối liên quan giữa các cuốn sách đó cũng như mối liên quan đến chủ đề mà chúng cùng đề cập. Nhưng chỉ so sánh về chữ nghĩa thôi là chưa đủ. Đọc đồng chủ đề yêu cầu nhiều hơn thế. Thông qua những cuốn sách, độc giả đọc đồng chủ đề có thể xây dựng một lập luận để phân tích một chủ đề mà có thể không nằm trong bất kỳ cuốn sách nào họ đọc. Vì thế, đọc đồng chủ đề không phải là một nghệ thuật dễ dàng, các quy tắc của nó cũng không được nhiều người biết đến nhưng đó lại là hình thức đọc tích cực nhất, đòi hỏi nỗ lực cao nhất. Lợi ích của hình thức đọc này lớn đến mức có thể bù đắp những khó khăn khi học cách thực hiện nó.
(Đọc sách như một nghệ thuật, Mortimer J. Adler)
Đại chúng
Mỗi tác phẩm văn học hay nghệ thuật, dù xuất phát từ nhu cầu nội tại của tác giả hay theo “đơn đặt hàng”, đều cần có công chúng. Trong một số trường hợp nhất định, có những tác giả (hoặc tác phẩm) chỉ có một công chúng hạn hẹp, thậm chí chỉ được ái mộ trong phạm vi một thiểu số chọn lọc, nhưng dù sao cũng không thể thiếu người đồng cảm. Như Bá Nha xưa chí ít cũng có một Tử Kỳ. Ngược lại, có những tác giả (hoặc tác phẩm) chinh phục cả một công chúng rộng rãi – thường gọi là đại chúng.
Lâu nay, người ta thường lấy tính đại chúng làm một tiêu chuẩn quan trọng, thậm chí có khi là chủ yếu, để đánh giá một tác phẩm văn học hay nghệ thuật. Dĩ nhiên, việc các ông bà nhà thuộc Kiều từ đầu đến cuối, có thể đọc lẩy vanh vách bất kỳ đoạn nào để ứng với từng hoàn cảnh thích hợp, là một bảo chứng cho sự vĩ đại của thi hào dân tộc Nguyễn Du.
Nhưng sẽ là một sai lầm đáng buồn nếu đề cao cái tiêu chí đại chúng lên thành thước đo tuyệt đối. Để xét cái đẹp theo quan điểm mỹ học nghiêm chỉnh, tính đại chúng, trong nhiều trường hợp, không hề đồng nghĩa với giá trị, nhất là ở những nước nền dân trí chưa cao. Lấy một ví dụ: Nếu bằng vào sự hâm mộ của đám đông để chấm điểm thì Đặng Thái Sơn chắc chắn thua xa một ca sĩ “sến” kiểu Tuấn Vũ chẳng hạn.
Không ai lạ gì, trong cái mớ đồ sộ những sách gọi là “best sellers”, hiếm khi có được một cuốn hay thực sự. Nhìn vào thị trường sách dịch hiện nay của ta, thật ngao ngán khi thấy hững tác phẩm lớn như Vụ án và Hoá thân (F. Kafka), Chàng Gatxby vĩ đại (S. Fitzgerald), Alexis Zorba (N. Kazantzaki), Dịch hạch (A. Camus)… chìm lịm không được nhắc tới trong khi người ta cuồng lên với những Tình sử Angelique… hay cao cấp hơn chút nữa, Tiếng chim hót trong bụi mận gai, hoặc giá trị “dởm” khác còn tệ hơn nữa.
Một thiên tài kiểu James Joyce, nếu xét theo tiêu chuẩn đại chúng ắt phải xếp vào loại bét bởi lẽ, tổng lại, từ xưa tới nay, trên toàn thế giới, không chắc ông có nổi một công chúng độc giả lên tới mức đại lượng năm chữ số. Có lần tôi hỏi một giáo sư người Pháp:
“Ở nước ông, số người đọc Marcel Proust liệu có đạt tỷ lệ 1 / 10.000?”.
Ngẫm nghĩ một lát, ông trả lời:
“Nghiêm chỉnh thì không tới.”
Hình như Hoelderlin ở cả hai nước Đức cũng vậy. Còn ở ta, có bao nhiêu người đọc nghiêm chỉnh Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát?
Tôi nhớ cách đây hơn chục năm, nhà hát kịch Trung ương của ta có dựng vở Những nhà vật lý, một tác phẩm xuất sắc của F. Durenmatt. Dàn dựng sạch sẽ, diễn viên tốt, vậy mà vở diễn không đậu được đến một tuần, vì quá vắng khách xem. Cùng một số phận ế ẩm như vậy là nhạc giao hưởng. Hình như những cái tên Bach, Beethoven, Tchaikovski… chẳng nói gì với đông đảo công chúng. Có lẽ vì thế nên suốt ba, bốn năm qua không có lấy một cuộc hoà nhạc giao hưởng nào được tổ chức.
Đã đến lúc nên nói với nhau rằng tính đại chúng, cho dù nhiều khi có thể là một phẩm chất, song không thể dựng thành một tiêu chí cưỡng bách, thậm chí trong một số trường hợp còn hạn chế sự phát triển của các nhân cách nghệ thuật khác nhau. Trong thế giới nghệ thuật, có những loại hình và những nhân cách, nếu “đại chúng hoá”, sẽ bị lụi tàn hay chí ít cũng còi cọc đi. Làm sao có thể “đại chúng hoá” nhạc giao hưởng hay vũ ba-lê? Và chẳng lẽ lại có thể bắt những Picasso, Miró, Braque, Kandinski… phải “đại chúng hoá”?
Bởi thế, thay vì “đại chúng hoá”, điều thiết thực hơn cần làm là phấn đấu nâng cao cái nền chung của dân trí lên đủ mức để hấp thụ được những giá trị đích thực ấy.
(Chỉ tại con chích choè, Dương Tường)
Có nên đọc nhiều sách không?
Đọc nhiều và đọc nhiều sách, nghĩa có khác nhau. Người đọc nhiều sách tất nhiên là đọc nhiều, nhưng người đọc nhiều chưa hẳn là đọc nhiều sách. Bạn chỉ có độ vài chục cuốn sách, nhưng ngày nào cũng đọc vài giờ thì bạn cũng là đọc nhiều.
Về điều ấy, các văn nhân không đồng ý với nhau. Goethe cho rằng: “Một cuốn sách dở tới đâu cũng có một chỗ hay”. Pline và Sénèque, trái lại, đều khuyên chỉ nên đọc những tác phẩm rất có giá trị. Một ngạn ngữ cổ của phương Tây còn nói: “Tôi sợ người nào chỉ có một cuốn sách”.
Theo tôi, đọc nhiều hay ít sách, tuỳ mục đích, trình độ của ta.
Nếu bạn chỉ đọc để tiêu khiển thì đọc nhiều sách bao nhiêu cũng được.
Nếu đọc để kiếm tài liệu thì càng nhiều sách càng tốt. Dale Carnegie không có thì giờ, phải mướn nhiều thư ký đọc hết các sách vở báo chí trong các thư viện để kiếm tài liệu giúp ông viết những cuốn Đắc nhân tâm và Quẳng gánh lo đi và vui sống.
Như vậy là tuỳ mục đích. Nếu bạn đọc để luyện văn thì lại còn tuỳ trình độ của bạn nữa.
Bạn đã thấu được nghệ thuật viết văn rồi ư? Bạn có thể theo lời khuyên của Goethe, đọc càng nhiều càng hay vì mỗi tác giả dù ít tài đến đâu cũng có được một đoạn, một câu hoặc một ý đáng cho ta bắt chước. Phải có công đãi cát mới lượm được vàng. Có khi cả những chỗ dở của họ cũng có thể làm bài học cho ta được. Lẽ đó tựa lẽ trong câu: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên; trạch kì thiên giả nhi tòng chỉ, kì bất thiện giả nhi cải chỉ” (“Ba người đi, tất có người làm thầy ta vậy, lựa người thiện mà theo, (coi gương) người bất thiện mà sửa mình.”) của Khổng Tử. Bạn đã có đủ óc suy xét, tất không còn sợ những lỗi của họ ảnh hưởng tới văn của mình.
Nhưng nếu bạn mới tập viết văn, óc thẩm mĩ chưa được vững vàng, chưa phân biệt nổi hay cùng dở thì bạn chỉ nên lựa những tác giả bất hủ, những tác phẩm có chân giá trị.
(Luyện văn, Nguyễn Hiến Lê)
Ngày 13 tháng Tám năm 2025,
Raymond Carver – một Chekhov của nước Mỹ hậu hiện đại
Raymond Carver (1939 – 1988) chỉ sống đến tuổi 49 và để lại không hơn bốn tập truyện ngắn và một số bài thơ, song chừng nấy đã đủ để ông được tôn vinh như một bậc thầy thực sự của văn học Mỹ hiện đại. Điều gì đã khiến ông thành công như vậy? Có lẽ đó là cái biệt tài nói được nhiều nhất bằng ít lời nhất. Không trữ tình, không “hoa-lá-cành”, không phẫn nộ cũng chẳng tỏ vẻ thương cảm, chỉ bằng vài dòng, mươi mười lăm từ, ông đã có thể tạo nên một thế giới của tuyệt vọng và hiu hắt.
Đọc Carver, tôi không khỏi liên tưởng tới Chekhov, một Chekhov – dĩ nhiên ở tầm khiêm tốn hơn – của nước Mỹ ngày nay. Một nước Mỹ hậu công nghiệp, một nước Mỹ ngập ngụa trong tàn bạo, nhàm chán, trong sự tầm thường đến ê chề, một nước Mỹ đánh mất sự ngây thơ của mình, đồng thời mất luôn cả khả năng đón nhận hạnh phúc. Truyện ngắn của Carver tựa như những mẫu giáo khoa về phân huỷ. Làm thế nào để đánh hỏng đời mình và đời người khác, làm thế nào để nảy sinh hằn thù, điên loạn và tội ác? Carver đã tạo một thế giới thiếu vắng tình yêu, thiếu vắng đến độ dã man. Chúng tôi nói gì khi bàn về tình yêu là đầu đề một kiệt tác ngắn của ông. Thật là lạ, từ lâu lắm rồi, người ta đã quên hẳn không còn biết nói gì, nói thế nào về tình yêu. Trái tim bị xâm thực bởi quá nhiều tham vọng nhỏ nhoi, đã trở nên khô héo, cằn cỗi, không còn biết đến nhịp đập yêu thương.
Hầu như chẳng có gì xảy ra trong những truyện kể của Carver. Nhưng bên dưới cái “chẳng-có-gì” ấy là sự nghèo nàn tinh thần, sự bất lực không tìm ra lối thoát khỏi vũng lầy nhàn cư bệnh hoạn – đơn giản là bất hạnh. Nhân vật của Carver là những người làm công ăn lương, những thư ký, kế toán, những cô cậu “tạch-tạch-sè”, trẻ hoặc trung niên, có khi thất nghiệp, có khi rượu chè, xì ke, ma tuý, và gần như có thể hoán đổi cho nhau bởi tất cả đều bị bào mòn bởi những nhí nhách vặt vãnh của đời sống, ngột trong cái thông phàm thường nhật. Và những nhân vật ấy giống như những người mắc nạn đắm tàu, giạt vào bãi biển, nằm chềnh ềnh ở đó, không còn sức để cử động, cũng chẳng biết ứng xử ra sao, ngơ ngác, bẽ bàng, cam chịu. Này đây một gã nhiếp ảnh mất cả hai tay, hoặc một cặp vợ chồng cắn xé nhau, kia một ông bố đầy mặc cảm không cách nào nói chuyện được với con trai mình như “giữa cánh đàn ông với nhau”, rồi một anh chồng phản bội vợ hay một chị vợ phản bội chồng… Khá nhiều truyện ngắn của Carver giống như những tấm ảnh chụp nhanh. Như thể ông bấm máy tức thì mỗi khi gặp một tình huống mới lạ. Nói mới lạ là với độc giả thôi, chứ đâu có mới lạ với ông, người đã từng lưu lạc khắp nước Mỹ, đã chia sẻ cuộc sống mù xám và tẻ nhạt của các thị trấn Mỹ. Thời thơ ấu ở bang Oregon cùng với cha mẹ xuất thân làm nghề đốn củi và đánh cá ở bờ biển Bắc Thái Bình Dương. Những năm lăn lộn kiếm sống bằng hàng chục nghề tạm bợ (lái xe hàng, gác đêm, phục vụ trạm xăng, trực khách sạn…) đã đặt ông vào một vị trí thuận lợi để quan sát cuộc diễu hành của những con người mãn kiếp mắc kẹt trong buồn chán, sau này sẽ thành nhân vật của ông.
Carver không phải là nhà văn bẩm sinh. Ông đến với nghiệp văn gần như ngẫu nhiên, kiểu như để xả bớt những cảm xúc dồn nén trước những bất hạnh ẩn giấu mà ông bất chợt thấy. Cuộc sống lưu lạc, những va đập của số phận đã cho phép ông cúi xuống thân phận những con người bất túc mà đôi khi ứng xử bất lực của họ chỉ phản ánh một nỗi đau quá tải. Carver không bao giờ làm văn. Ông kiệm chữ đến mức tối da – câu ngắn, thường là một mệnh đề, lạnh lùng, khô khốc, có vẻ nghèo nàn, nghèo nàn như cái thực tại mà ông muốn biểu đạt. “Trong những truyện ngắn của Carver”, nhà phê bình văn học Mỹ Denis Donaghue viết, “thậm chí cất tiếng cũng là nguy hiểm. Trò chuyện tức là hoàn tất điều ác hại mà người ta đã lặng lẽ gây cho nhau. Phát biểu một câu hoặc thậm chí thốt ra một tên người, cũng không an toàn… Đó là thứ hư cấu do Carver viết nên và tôi chưa từng thấy cái gì có sức mạnh hơn thế”.
Trong tác phẩm của Carver, dường như những gì không nói ra mới là thiết yếu. Tình huống được cô đọng, hối thúc rồi bỏ lửng. Chẳng hạn như trong Cơ khí dân dã mà, đôi vợ chồng ly hôn giành nhau đứa con nhỏ như hai bà mẹ đến cầu vua Salomon phán xử trong tích xưa. Mỗi bên nắm lấy một tay đứa bé, dồn hêt sức kéo về phía mình. Điều khác với chuyện xưa là không bên nào chịu buông ra. Câu kết phập xuống như một nhát dao: “Và vấn đề được định đoạt theo cách ấy”. Khả năng thích ứng với cái xấu, cái ác bắt đầu từ đó. Carver tin chắc thế. “Một con người có thể tuân theo tất cả mọi luật lệ, rồi đùng một cái, anh ta bất cần”. Và thế là tất cả lộn nhào.
(Chỉ tại con chích choè, Dương Tường)
Tôi chưa bao giờ học quá hai bài tiếng Anh trong đời, bởi dù tôi từng viết luận ở trường, tôi không nhớ mình từng được hướng dẫn cách ghép câu. Hai bài học đó được dạy cho tôi quá muộn màng nên tôi e rằng mình không thể hy vọng nhiều vào việc học hỏi từ chúng.
Bài học đầu tiên chỉ mới diễn ra cách đây vài năm. Tôi đã dành vài tuần ở London và thuê một cô gái trẻ làm thư ký thời vụ. Cô ấy nhút nhát, khá xinh xẻo, và đang chìm đắm trong mối tình dan díu với một người đàn ông đã có vợ. Tôi đã viết một cuốn sách tên là Cakes and Ale (Bánh ngọt và rượu bia), và khi bản thảo được gửi đến vào một sáng thứ Bảy, tôi hỏi cô ấy liệu cô có vui lòng mang nó về nhà và sửa chữa trong suốt cuối tuần không. Tôi chỉ toan nhờ cô ấy ghi lại những lỗi chính tả mà người đánh máy có thể đã sơ suất và những lỗi do chữ viết tay không phải lúc nào cũng dễ đọc. Nhưng cô ấy là một người trẻ tận tâm và cô ấy hiểu chuyện hơn tôi tưởng. Khi cô trả lại bản thảo vào sáng thứ Hai, nó kèm theo bốn tờ giấy nháp để sửa lỗi. Phải thú nhận rằng thoạt nhìn tôi hơi bực mình; nhưng rồi tôi nghĩ thật ngớ ngẩn nếu mình không tận dụng, nếu có thể, những công sức mà cô ấy đã bỏ ra, nên tôi đã ngồi xuống xem xét chúng. Tôi đoán cô gái trẻ từng theo một khóa thư ký tại trường cao đẳng và cô đã đọc tiểu thuyết của tôi một cách bài bản như cách các thầy dạy của cô từng đọc các bài luận của cô. Những nhận xét đầy ắp bốn trang giấy trắng tinh thật nghiêm khắc và sắc sảo. Tôi không thể không đoán biết vị giáo sư tiếng Anh tại trường cao đẳng thư ký không hề nói giảm nói tránh. Ông ấy đã gạch một dòng rõ ràng, không thể nghi ngờ gì về điều đó; và ông ấy không cho phép có hai ý kiến về bất cứ điều gì. Học trò thông minh của ông ấy sẽ không mắc mớ gì đến giới từ đặt cuối câu. Một dấu chấm than thể hiện sự không hài lòng của cô ấy với một cụm từ thông tục. Cô cho rằng không nên dùng cùng một từ hai lần trên một trang giấy, và cô luôn thủ sẵn một từ đồng nghĩa để thay thế. Nếu tôi tự cho phép mình được thoải mái viết một câu dài mười dòng, cô ấy sẽ bình: “Rõ ràng hơn đi. Tốt hơn là nên chia thành hai hoặc nhiều dấu chấm.” Khi tôi tận dụng khoảng lặng dễ chịu được biểu thị bằng dấu chấm phẩy, cô nhận xét: “Dấu chấm.”; và nếu tôi mạo muội dùng dấu hai chấm, cô ấy sẽ đánh giá một cách ngoắt ngoa: “Lỗi thời.” Nhưng lời nhận xét gay gắt nhất của cô ấy là về câu nói đùa mà tôi cho là khá hay ho: “Anh có chắc chắn về kiến thức của mình không?”. Tóm lại, tôi buộc phải kết luận rằng vị giáo sư ở trường đại học của cô ấy hẳn sẽ không cho tôi điểm quá cao.
Bài học thứ hai tôi nhận được đến từ một vị giáo sư, vừa thông minh vừa cuốn hút, người tình cờ ở cùng tôi khi tôi đang chỉnh sửa bản thảo cho một cuốn sách khác. Ông lịch sự đề nghị để ông đọc bản thảo đó. Tôi hơi lưỡng lự, vì biết ông đánh giá dựa trên một tiêu chuẩn xuất sắc khó đạt tới; và dù tôi nhận ra ông am hiểu sâu rộng về văn học thời Elizabeth, sự ngưỡng mộ thái quá của ông dành cho Esther Waters khiến tôi nghi ngờ khả năng thẩm định của ông đối với các tác phẩm đương thời. Chẳng ai coi trọng Esther Waters đến thế nếu thực sự am hiểu về tiểu thuyết Pháp thế kỷ mười chín. Nhưng tôi khao khát làm cho cuốn sách của mình tốt nhất có thể, nên tôi hy vọng sẽ học hỏi được từ những lời phê bình của ông. Thực tế, những nhận xét của ông khá nhẹ nhàng. Chúng khiến tôi đặc biệt chú ý, vì tôi đoán đây cũng là cách ông xử lý các bài luận của sinh viên. Tôi nghĩ vị giáo sư này có năng khiếu tự nhiên về ngôn ngữ, điều mà ông đã liên tục rèn giũa thông qua công việc; gu thẩm mỹ của ông với tôi dường như hoàn hảo. Tôi rất ấn tượng với cách ông nhấn mạnh vào sức mạnh của từng từ riêng lẻ. Ông ưa chuộng những từ mạnh mẽ hơn là những từ nghe êm tai. Chẳng hạn, tôi viết rằng một bức tượng sẽ được đặt [place] ở một quảng trường nào đó, và ông gợi ý tôi nên viết: bức tượng sẽ đứng [stand]. Tôi đã không làm thế vì tai tôi khó chịu với sự lặp vần. Tôi cũng nhận thấy ông có cảm giác rằng từ ngữ không chỉ nên được dùng để cân bằng câu văn mà còn để cân bằng ý tưởng. Điều này rất đúng, vì một ý tưởng có thể mất đi uy lực nếu được diễn đạt quá đột ngột; nhưng đó là vấn đề về sự khéo léo, bởi nó dễ dẫn đến sự rườm rà. Ở đây, hiểu biết về đối thoại sân khấu có thể giúp ích. Đôi khi một diễn viên sẽ nói với tác giả: “Liệu anh có thể thêm một hoặc hai từ vào đoạn thoại này không? Câu thoại của tôi mất hết ý nghĩa nếu tôi chẳng còn gì để nói.” Khi lắng nghe những nhận xét của vị giáo sư, tôi không khỏi nghĩ rằng mình sẽ viết tốt hơn biết bao nếu thời trẻ tôi nhận được những lời khuyên nhủ thông minh, cởi mở và tử tế như thế.
(The Summing Up, Somerset Maugham)
Ngày 15 tháng Tám năm 2025,
Tài năng
Vào thời điểm này tôi sống giữa một nhóm bạn trẻ, những người dường như được trời phú cho những tài năng vượt xa tôi. Họ viết lách, vẽ tranh, soạn tác nhạc một cách thanh thoát khiến tôi không khỏi ghen tị. Họ có mắt thẩm mỹ và khả năng cảm thụ nghệ thuật mà tôi nghĩ mình chẳng bao giờ sánh được. Nhưng rồi, một số người trong họ qua đời mà không thực hiện được kỳ vọng tôi từng đặt vào, số còn lại sống tiếp mà chẳng để lại dấu ấn gì đặc biệt. Giờ đây, tôi hiểu rằng tất cả những gì họ có chỉ là sự sáng tạo bộc phát của tuổi trẻ. Viết văn, làm thơ, gảy vài phím dương cầm hay phác thảo vài bức hoạ – đó chỉ là bản năng của nhiều người trẻ, giống như thú tiêu khiển, là sức sống tràn trề của thời xuân sắc, chẳng mang ý nghĩa gì hơn một đứa trẻ xây lâu đài cát trên bãi biển. Có lẽ chính sự ngây ngô của tôi đã khiến tôi ngưỡng mộ quá khích tài năng của bạn bè. Nếu tôi bớt ngô nghê hơn hẳn tôi đã nhận ra rằng những ý tưởng của họ mà tôi cho là độc đáo thực ra chỉ là của vay mượn từ người khác, rằng những bài thơ và bản nhạc của họ dựa nhiều vào trí nhớ tốt hơn là óc tưởng tượng sống động. Điều tôi muốn nói là khả năng sáng tạo ấy rất phổ biến, chẳng có gì đáng kể để kết luận. Tuổi trẻ chính là nguồn cảm hứng. Một bi kịch của nghệ thuật là nhiều người bị sự sáng tạo nhất thời này đánh lừa rồi dành cả đời để chạy theo việc sáng tác. Khi lớn lên, nguồn sáng tạo ấy cạn kiệt, họ phải đối mặt với những năm tháng dài dặc, và do không còn phù hợp với những nghề nghiệp bình thường hơn, họ phải vắt kiệt bộ óc mệt mỏi để tạo ra thứ mà nó không còn sản sinh nổi nữa. Nếu may mắn họ có thể kiếm sống bằng những công việc liên quan đến nghệ thuật, như làm báo hay dạy học, dù trong lòng không tránh khỏi đôi chút cay đắng.
Dĩ nhiên, chính từ những người có khả năng sáng tạo bẩm sinh này mà nghệ sĩ ra đời. Không có nó, họ chẳng thể có tài năng; nhưng đó chỉ là một phần của tài năng. Mỗi chúng ta sống trong thế giới riêng của tâm trí mình, từ những trải nghiệm và sự giao tiếp với người khác, chúng ta xây dựng một thế giới bên ngoài theo cách mình cần. Vì chúng ta đều là sản phẩm của cùng một quá trình tiến hóa, trong một môi trường tương đối giống nhau, nên những thế giới ta tạo ra cũng na ná nhau. Để đơn giản, ta gọi đó là một thế giới chung. Điều đặc biệt của nghệ sĩ là họ khác biệt ở một điểm nào đó, nên thế giới họ tạo ra cũng khác theo. Chính sự khác biệt ấy là phần quan trọng nhất trong hành trang của họ. Khi thế giới riêng mà họ vẽ ra hấp dẫn được một nhóm người – vì sự mới lạ, vì sức hút riêng, hay vì nó chạm đến những suy nghĩ của họ (chẳng ai giống hệt ai, chỉ tương đối thôi, và không phải ai cũng nhìn thế giới chung theo cùng một cách) – tài năng của họ được công nhận. Nếu là nhà văn, họ đáp ứng một nhu cầu nào đó trong lòng độc giả, giúp độc giả sống một đời sống tinh thần thỏa mãn hơn so với đời sống thực tại. Nhưng cũng có những người không thấy sức hút từ sự khác biệt ấy. Họ không kiên nhẫn với thế giới mà nghệ sĩ tạo ra, thậm chí có thể thấy khó chịu là khác. Khi đó, nghệ sĩ chẳng có gì để nói với họ, và họ sẽ phủ nhận tài năng của anh ta.
Tôi không nghĩ thiên tài là thứ hoàn toàn khác với tài năng. Tôi cũng không chắc nó có phụ thuộc vào sự vượt trội trong năng khiếu bẩm sinh hay không. Chẳng hạn, tôi không thấy Cervantes có tài viết lách xuất chúng, nhưng ai dám nói ông không phải thiên tài? Trong văn học Anh, khó tìm nhà thơ nào sở hữu thiên phú hơn Herrick, nhưng chẳng ai coi ông hơn một tài năng duyên dáng. Với tôi, thiên tài là sự kết hợp giữa năng khiếu sáng tạo bẩm sinh và một cá tính độc đáo giúp người sở hữu chúng nhìn thế giới một cách cá nhân ở mức cao nhất, nhưng vẫn đủ phổ quát để chạm đến tất cả mọi người, chứ không riêng một nhóm nào. Thế giới riêng của họ cũng là thế giới của mọi người, nhưng rộng lớn hơn, sâu sắc hơn. Thông điệp của họ lan tỏa khắp nơi, và dù người ta không thể nói chính xác nó mang ý nghĩa gì, họ cảm nhận được tầm quan trọng của nó. Họ hết sức bình thường. Nhờ một sự may mắn của tự nhiên, họ nhìn cuộc sống với sự sôi nổi mãnh liệt, như thể ở cao trào của một bản nhạc, nhìn thấy sự đa dạng vô tận của nó theo cách mà nhân loại nhìn chung vẫn thấy – lành mạnh và trọn vẹn. Như Matthew Arnold từng nói, họ nhìn cuộc đời vững vàng và nhìn nó toàn diện. Nhưng thiên tài chỉ xuất hiện một, hai lần trong một thế kỷ. Chẳng có gì hiếm hơn sự bình thường. Gọi ai đó là thiên tài chỉ vì họ viết vài vở kịch thông minh hay vẽ vài bức tranh đẹp là điều ngớ ngẩn. Có tài năng là tốt, nhưng ít ai có được. Với tài năng, nghệ sĩ chỉ đạt đến hạng hai, nhưng điều đó cũng chẳng sao, vì hạng hai đã có những tác phẩm giá trị như tiểu thuyết Le Rouge et le Noir, những bài thơ trong The Shropshire Lad, hay tranh của Watteau – không cớ gì phải xấu hổ. Tài năng không chạm được đỉnh cao nhất, nhưng nó vẫn dẫn bạn đến những khung cảnh tuyệt diệu, một thung lũng yên ả, một dòng suối róc rách, hay một hang động thơ mộng trên hành trình dẫn tới đỉnh cao. Bản tính con người đôi khi ngại ngần trước những cái nhìn bao quát nhất về nhân loại. Họ có thể lùi bước trước sự vĩ đại của Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoy để tìm sự khoan khoái trong Candide của Voltaire. Sống mãi với trần nhà Sistine của Michelangelo là điều khó khăn, nhưng ai cũng có thể yêu thích một bức tranh về Nhà thờ Salisbury của Constable.
(The Summing Up, Somerset Maugham)
Ngày 19 tháng Tám năm 2025,
Một ngày nọ, nhiều năm trước, khi chúng tôi (Maugham và Shaw) đang ăn trưa cùng nhau, Bernard Shaw nói với tôi rằng các vở kịch của ông thành công hơn nhiều ở Đức so với ở Anh. Ông cho rằng điều này là bởi sự ngu dốt của công chúng Anh và bởi trí thông minh của người Đức. Ông đã sai. Ở Anh, ông khăng khăng rằng mọi từ ông viết ra đều phải được nói ra. Tôi đã xem các vở kịch của ông ở Đức; ở đó, các đạo diễn đã thẳng tay cắt bỏ những lời lẽ không cần thiết cho hành động kịch tính, và nhờ đó đã mang đến cho công chúng một buổi tiêu khiển thực sự thú vị.
Ngày 21 tháng Tám năm 2025,
Dickens đoan chắc George Eliot là nữ giới
Để tránh khỏi định kiến của thời đại Victoria đối với các nhà văn nữ, Mary Ann Evans đã chọn bút danh nam George Eliot để ký tên, và bút danh này sau đó trở thành một trong những cái tên được kính trọng nhất trong lịch sử văn học.
Cơ hội lớn đầu tiên đến với bà ở tuổi 37, vào năm 1857, khi truyện ngắn “Những bất hạnh của Mục sư Amos Barton” – phần đầu tiên trong tập Cảnh đời linh mục – được đăng tải trên Tạp chí Blackwood, rồi xuất bản dưới dạng sách vào đầu năm 1858. Eliot đã khéo léo gửi bản in đến những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thời bấy giờ: Dickens, Thackeray, Faraday, Ruskin, Tennyson và Carlyle ngay trong tuần đầu năm 1858.
Tác phẩm nhận được sự tán dương nồng nhiệt — toàn bộ 1.500 bản in bán hết sạch, và các nhà phê bình sớm khen ngợi tác giả “sâu sắc trong hiểu biết về trái tim con người”. Điều này làm dấy lên những đồn đoán về danh tính tác giả. Có tin đồn cho rằng tác phẩm là của Joseph Liggins, người đã cố phủ nhận nhưng bất thành, rồi cuối cùng đành chấp nhận danh tiếng bị gán nhầm.
Nhưng lời chứng sống động nhất về tài năng của Eliot đến từ một lá thư của chính Charles Dickens, gửi đến nhà xuất bản của bà trước khi danh tính thật của bà được tiết lộ. Dù gửi thư với lời chào “Thưa Ngài”, Dickens, người mà Eliot từng gặp năm 1852 và thấy “thất vọng, không có chút nhân từ trên gương mặt và có lẽ cũng chẳng có trong lòng”, đã nhấn mạnh rằng bất chấp mọi tin đồn, trực giác ông mách bảo rằng rằng tác giả là một phụ nữ.
Dưới đây là nguyên văn lá thư:
London, ngày 18 tháng 1 năm 1858
Thưa Ngài,
Tôi thực sự xúc động sâu sắc trước hai câu chuyện đầu tiên trong cuốn sách mà quý ngài, qua nhà xuất bản Blackwood, đã tử tế gửi đến tôi. Tôi hy vọng ngài sẽ thứ lỗi khi tôi viết thư này để bày tỏ sự ngưỡng mộ trước tài năng xuất chúng của chúng. Sự chân thật và tinh tế tuyệt vời, cả trong nét hài hước lẫn nỗi buồn của những câu chuyện ấy, là điều tôi chưa từng bắt gặp ở đâu; chúng để lại trong tôi một ấn tượng mà tôi khó lòng diễn tả, ngay cả khi tôi đủ trơ trẽn để thử diễn tả chúng.
Khi viết vài lời cảm ơn này đến người sáng tạo ra những bất hạnh của Mục sư Amos Barton và câu chuyện tình buồn của ông Gilfil, tôi cho rằng mình phải dùng cái tên mà nhà văn xuất sắc ấy đã chọn. Tôi không thể nghĩ ra cái tên nào hay hơn; nhưng nếu được tự do lựa chọn, tôi sẽ gọi nhà văn ấy là một phụ nữ. Tôi nhận thấy những nét chạm rất nữ tính trong những câu chuyện cảm động này, đến nỗi lời khẳng định trên trang bìa cũng không đủ để thuyết phục tôi, ngay cả bây giờ cũng thế. Nếu chúng không được viết bởi một phụ nữ, tôi tin rằng chưa từng có người đàn ông nào, từ trước tới nay, có tài hóa thân tinh thần thành một phụ nữ đến vậy.
Ngài đừng nghĩ rằng tôi có ý định hèn mọn muốn dò xét bí mật của ngài. Tôi đề cập điều này vì nó rất thú vị với tôi – không phải chỉ vì tò mò. Nếu một ngày nào đó ngài thấy tiện và muốn cho tôi gặp mặt người đàn ông hay phụ nữ đã viết nên những áng văn tuyệt diệu ấy, đó sẽ là một dịp đáng nhớ đối với tôi. Nếu không, tôi sẽ luôn trân trọng con người vô hình ấy với lòng yêu mến và niềm kính trọng, và sẽ đón nhận mọi tác phẩm tương lai từ cùng nguồn cảm hứng ấy với niềm tin tuyệt đối rằng chúng sẽ khiến tôi sáng suốt hơn và tốt đẹp hơn.
Người bầy tôi trung thành của Ngài,
Charles Dickens
Ngày 22 tháng Tám năm 2025,
Tôi đã viết sách như thế nào?
(Sir Arthur Conan Doyle)
Khi tôi được hỏi phương pháp làm việc của tôi là gì, tôi phải tự hỏi liệu hình thức công việc nào đang được nhắc đến ở đây. Tôi đã thử sức ở nhiều lĩnh vực. Ít có thể loại nào mà tôi chưa từng động đến. Tôi đã viết khoảng hai mươi đến ba mươi tác phẩm hư cấu, lịch sử hai trận chiến, vài cuốn sách về khoa học tâm linh, ba cuốn sách du lịch, một cuốn văn học, vài vở kịch, hai cuốn sách về nghiên cứu tội phạm, hai cuốn sách chính trị nhỏ, ba tập thơ, một cuốn sách thiếu nhi, và một cuốn tự truyện. Dù thế nào chăng nữa, tôi không nghĩ có nhiều người từng có phạm vi hoạt động rộng tới vậy.
Trong truyện ngắn, tôi luôn cảm thấy rằng miễn là bạn tạo ra được hiệu ứng kịch tính, thì độ chính xác của chi tiết không quá quan trọng. Tôi chưa bao giờ cố gắng đạt được sự chính xác đó và thành ra mắc phải vài sai lầm nghiêm trọng. Nhưng điều đó có quan trọng gì nếu tôi có thể giữ chân độc giả? Tôi cho rằng mình có thể tự đặt ra các điều kiện riêng, và tôi đã làm như vậy. Tôi cho phép mình phóng túng trong một số câu chuyện về Sherlock Holmes. Ví dụ, tôi được cho hay rằng trong “Cuộc phiêu lưu của Silver Blaze”, phân nửa nhân vật đáng lẽ đã bị tống vào tù, còn nửa kia thì bị cấm cửa vĩnh viễn khỏi các trường đua. Tôi không mảy may bận lòng vì đây rõ ràng là một câu chuyện giả tưởng.
Tuy nhiên, điều này khác đi khi lịch sử được đưa vào. Ngay cả trong một truyện ngắn, người ta cũng nên tỏ ra chính xác về mặt này. Chẳng hạn, trong các câu chuyện về Brigadier Gerald, ngay cả đồng phục cũng chính xác. Hai mươi cuốn sách về lý lịch quân đội thời Napoleon là nền tảng cho những câu chuyện đó.
Sự chính xác này càng quan trọng hơn đối với một tiểu thuyết lịch sử dài. Nó sẽ chỉ là một cuốn sách phiêu lưu cho trẻ con nếu không phải là một bức tranh chân xác về thời đại đó. Phương pháp của tôi trước khi viết một cuốn sách như Sir Nigel hoặc The Refugees là đọc mọi thứ tôi có thể tìm được về thời đại đó và chép vào sổ tay tất cả những nét điển hình. Sau đó, tôi sẽ lập chỉ mục chéo cho tài liệu này bằng cách chia nó theo các tuýp nhân vật khác nhau. Chẳng hạn, dưới mục “Xạ thủ”, tôi sẽ ghi lại tất cả kiến thức về cung thuật, cũng như những lời thề mà một xạ thủ có thể sử dụng, nơi anh ta có thể đã từng đến, những cuộc chiến, vân vân, để tạo bầu không khí trong lời nói của anh ta… Tất cả những điều này dường như bị lãng phí đối với những lời phê bình thoáng qua ngày nay, nhưng dù sao thì đó cũng chính là muối giữ cho cuốn sách khỏi bị mục nát. Sir Walter Scott vượt trội chính ở điểm này. Gần đây tôi đọc lại tác phẩm của ông, và so với chúng ta thì cũng như mặt tiền của Bảo tàng Anh so với mặt tiền của một cung điện tranh vẽ bằng thạch cao.
Về giờ làm việc của tôi, khi tôi say mê một cuốn sách, tôi sẵn sàng làm việc cả ngày, và đi dạo hoặc nghỉ trưa một hai tiếng vào buổi chiều. Khi tôi già đi, tôi phần nào mất đi khả năng làm việc liên tục, nhưng tôi nhớ rằng tôi từng viết 10.000 từ của The Refugees trong vòng 24 giờ. Đó là phần mà Grand Monarch đứng giữa hai tình nhân, và nó chứa đựng một nỗ lực bền bỉ nhất mà tôi từng thực hiện. Tôi từng hai lần viết các cuốn sách nhỏ 40.000 từ trong vòng một tuần, nhưng trong mỗi trường hợp, tôi được thúc đẩy bởi một sự căm phẫn cháy bỏng, thứ động lực tốt nhất.
Kể từ khi tôi không còn phải viết để kiếm sống, tôi chưa bao giờ nghĩ đến tiền trong công việc của mình. Khi hoàn thành công việc, tiền bạc là điều đáng hoan nghênh, và chính tác giả nên nhận được nó. Nhưng tôi chưa bao giờ ký một hợp đồng chỉ vì nó được trả hậu, và trên thực tế, tôi rất hiếm khi nhận hợp đồng, mà thích đợi cho đến khi có một ý tưởng kích thích tôi, và không cho người đại diện hoặc biên tập viên của mình biết chỉ khi tôi đã tiến xa với công việc. Tôi chắc chắn đây là cách làm việc tốt nhất và cũng là cách hạnh phúc nhất đối với một tác giả.
Tiểu thuyết bợm nghịch
Tiểu thuyết bợm nghịch (picaresque novel) là một trong những mô thức tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất của văn học châu Âu như một sự khiêu khích với thể loại tiểu thuyết hiệp sĩ lãng mạn thuần tuý. Trong đó, Don Quixote của đại văn hào Miguel de Cervantes thường xuyên được nhắc đến nhất như một ví dụ tiêu biểu của kiểu tiểu thuyết này.
“Picaresque” là một từ lóng bắt nguồn từ “pícaro”, được sử dụng lần đầu vào những năm 1600 tại Tây Ban Nha và trong tiếng Anh mang nghĩa là kẻ lưu manh, phóng túng, bợm nghịch, vô lại. Nhân vật chính của các tiểu thuyết bợm nghịch thường xuất hiện từ tầng lớp hạ lưu hoặc đôi khi từ giới quý tộc sa sút. Kết cấu của tiểu thuyết không phức tạp, đặc trưng bởi tính châm biếm, mỉa mai, khám phá các khía cạnh đạo đức và xã hội thông qua góc nhìn của một kẻ ngoài lề.
Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu của thể loại này:
Don Quixote xứ Mancha – Miguel de Cervantes
Kiệt tác này xoay quanh Alonso Quixano, một tiểu quý tộc sa sút trung niên mê muội dòng sách kiếm hiệp, tự xưng là hiệp sĩ Don Quixote và lên đường chu du cùng người giám mã Sancho Panza để làm “sống lại thời kỳ vẻ vang của hiệp sĩ đạo.” Hai thầy trò trải qua hàng loạt cuộc phiêu lưu vừa bi vừa hài, từ chiến đấu với cối xay gió đến đối đầu với những pháp sư tưởng tượng. Qua đó, Cervantes châm biếm các lý tưởng hiệp sĩ lỗi thời, đồng thời phản ánh xã hội Tây Ban Nha thế kỷ 17 với sự phân hóa giai cấp và những mâu thuẫn đạo đức sâu sắc.
Candide (Chàng ngây thơ) – Voltaire
Một tiểu thuyết châm biếm kinh điển của Voltaire, kể về hành trình lưu lạc của Candide, một chàng trai ngây thơ tin vào triết lý “mọi thứ đều sẽ trở nên tốt đẹp hơn” của người thầy triết gia Pangloss. Qua các cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ và bi hài trên khắp thế giới, Candide trải qua chiến tranh, thiên tai, nếm trải sự tàn nhẫn của con người, từ đó phơi bày sự phi lý của chủ nghĩa lạc quan tuyệt đối.
Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn – Mark Twain
Hành trình lang thang trên sông Mississippi của cậu bé Huckleberry Finn và người nô lệ da đen bỏ trốn tên Jim, mang đậm tinh thần trào phúng của Mark Twain qua những cuộc gặp gỡ bất ngờ và cái nhìn châm biếm về xã hội Mỹ thế kỷ 19, đặc biệt là vấn nạn nô lệ.
Joseph Andrews & Tom Jones – Henry Fielding
Joseph Andrews được xem là một trong những tác phẩm đầu tiên định hình thể loại picaresque ở Anh. Câu chuyện xoay quanh Joseph Andrews, một chàng trai trẻ, lương thiện nhưng ngây thơ, làm người hầu cho một gia đình quý tộc. Sau khi bị sa thải và gặp nhiều biến cố, Joseph bắt đầu hành trình phiêu lưu qua vùng nông thôn Anh, đối mặt với đủ loại nhân vật từ kẻ lừa đảo, quý tộc giả dạng đến người dân thường. Tác phẩm kết hợp hài hước, châm biếm và những tình huống bất ngờ để phê phán đạo đức giả, bất công xã hội và sự phân biệt giai cấp thời kỳ đó.
Còn Tom Jones, một kiệt tác khác của Fielding, kể về đứa trẻ mồ côi Tom Jones được nuôi dưỡng trong một gia đình quý tộc. Với bản tính tốt bụng nhưng bốc đồng và yêu đời, Tom trải qua hàng loạt cuộc phiêu lưu khắp nước Anh, từ những mối tình lãng mạn, những vụ đánh nhau, đến các âm mưu và hiểu lầm. Tác phẩm khắc họa xã hội thế kỷ 18 với sự phong phú về nhân vật và tình tiết, đồng thời châm biếm thói đạo đức giả, tham nhũng và định kiến giai cấp.
Chuyện vặt ông Pickwick – Charles Dickens
Chuyện vặt ông Pickwick là một tiểu thuyết mang nhiều đặc điểm của thể loại picaresque dù không hoàn toàn thuần túy. Tác phẩm kể về hành trình của ông Samuel Pickwick, một quý ông tốt bụng nhưng ngây thơ, cùng các thành viên Câu lạc bộ Pickwick, khi họ chu du khắp nước Anh. Những chuyến đi của họ đầy ắp các tình huống hài hước, phiêu lưu bất ngờ, và những cuộc gặp gỡ với đủ loại nhân vật từ mọi tầng lớp xã hội. Qua lăng kính châm biếm, Dickens khắc họa sinh động bức tranh xã hội Anh thế kỷ 19, từ sự ngớ ngẩn của giới thượng lưu đến đời sống khổ cực của tầng lớp lao động. Tác phẩm nổi bật trong gia tài của Dickens với sự dí dỏm đặc trưng, hình tượng nhân vật đáng nhớ và cái nhìn sâu sắc về bản chất con người.
Những linh hồn c-hết – Nikolai Gogol
Những linh hồn chết kể về Chichikov, một gã mưu mô đi khắp nước Nga để mua “những linh hồn c-hết”, tức danh sách các nông nô đã c-hết nhưng vẫn còn trên giấy tờ, nhằm thực hiện một âm mưu kiếm chác gian giảo. Qua các cuộc phiêu lưu, Chichikov gặp gỡ nhiều nhân vật thuộc đủ tầng lớp, từ đám địa chủ giàu có đến dân nghèo cùng đinh, qua đó phơi bày sự tham lam, đạo đức giả và sự suy đồi của xã hội Nga thời bấy giờ.
Mikhain Prisvin
(Pautovsky)
Đã mấy lần tôi nghe thấy những người vừa đọc xong tác phẩm của Prishvin cùng thốt lên một lời như sau: “Đây quả là một thứ phù phép thực sự”.
Câu chuyện tiếp theo với họ cho tôi thấy rằng qua lời nói đó họ đã muốn nói đến cái chất say người khó giải thích nhưng lại rất hiển hiện, chỉ có trong văn xuôi Prishvin.
Cái chất say người ấy là ở đâu? Bí mật của những cuốn sách ấy là ở đâu? Những chữ như “phù phép”, “huyền diệu” thường được dùng để nói tới các truyện cổ tích. Nhưng Prishvin đâu phải là người viết truyện hoang đường. Ông là con người của đất, của “Đất Mẹ hiền từ”, ông là người chứng kiến và tham dự vào tất cả những gì xảy ra chung quanh ông trên thế giới này.
Bí mật của sức hấp dẫn trong văn xuôi Prishvin, bí mật của sự phù phép của ông là ở cái nhìn tinh tường của ông.
Đó là cái nhìn tinh tường cho phép phát hiện ra những điều đáng kể, thú vị trong từng chi tiết nhỏ, dưới lớp vỏ đôi khi đã quá ư nhàm tẻ của các hiện tượng để nhìn thấy nội dung sâu xa của cuộc sống trần thế. Đến cả chiếc lá dương bình thường nhất cũng sống một cuộc sống lý tính riêng.
Ngày 8 tháng Chín năm 2025,
J. R. R. Tolkien – Một cái kết viên mãn
Ở tuổi 16, J. R. R. Tolkien gặp Edith Mary Bratt, cô gái lớn hơn ông ba tuổi, tại ngôi nhà trọ ở số 37 đường Duchess của bà Faulkner. Họ nhanh chóng trở thành tình nhân.
Vì nghèo, Tolkien tích từng xu cho những buổi hẹn hò. Ông thường đưa Edith tới các quán trà ở Birmingham, thảo luận sôi nổi về ngôn ngữ, âm nhạc; tinh nghịch ném những viên đường nhỏ xuống vành mũ của những quý bà. Theo Humphrey Carpenter, nhà viết tiểu sử, tác giả cuốn sách J .R. R. Tolkien: A Biography:
“Với hai con người có tính cách và địa vị như nhau, chuyện tình cảm chắc chắn sẽ nảy nở. Cả hai đều là những đứa trẻ mồ côi cần được yêu thương và họ nhận ra rằng mình có thể dành tình cảm đó cho nhau. Vào mùa hè năm 1909, họ quyết định hẹn hò.”
Tuy nhiên, khi nhận thấy Tolkien xao nhãng học hành, Cha Morgan, người giám hộ của ông bấy giờ, đã cấm ông gặp gỡ, trò chuyện hay kể cả liên lạc với Edith cho tới khi 21 tuổi. Vâng lời cha, tới đúng sinh nhật thứ 21 của mình, Tolkien viết một lá thư tới Edith ngỏ lời cầu hôn, nhưng bà hồi âm rằng bà đã đính hôn với một người khác.
Rồi Thế chiến nổ ra. Hàng đoàn sinh viên lên đường nhập ngũ. Không giống nhiều người cùng thời, Tolkien kiên quyết không xung phong tòng quân ngay lập tức mà ở lại Oxford để hoàn thành nốt chương trình học, sau tốt nghiệp với tấm bằng hạng nhất. Sau đó ông được phong hàm Thiếu uý trong binh đoàn Súng hoả mai Lancashire.
Theo tiểu sử đề cập, trước khi ra mặt trận, Edith đã tới tiễn ông; họ đứng lặng bên đoàn tàu hoả, và Edith tháo nhẫn đính hôn rồi nói rằng bà sẽ cưới Tolkien. Tolkien lên đường và được giải ngũ về nước năm 1916; trong suốt những ngày nằm viện, Edith không rời ông nửa bước, điều này khiến Cha Morgan cảm động, thừa nhận rằng Tolkien đã đúng khi theo đuổi Edith. Sau đó không lâu, họ về chung một nhà.
Những năm sau này, Tolkien tỏ ra phẫn nộ khi nhiều người tìm kiếm trong tác phẩm của mình nét tương đồng với Thế chiến thứ hai:
“Người ta phải thực sự kinh qua một cuộc chiến mới thấy được hết toàn vẹn sự bạo ngược của nó; nhưng khi những tháng năm đó đã lùi xa, dường như họ lại quên rằng những người trẻ tuổi cũng từng bị cuốn vào cuộc chiến năm 1914, một cuộc chiến cũng ghê tởm không kém cuộc chiến năm 1939 và những năm về sau.”
Sau khi giải ngũ, Tolkien vào làm giảng viên tại Đại học Leeds vào năm 1920 và vài năm sau trở thành Giáo sư tại Đại học Oxford.
Bận bịu cả ngày trên giảng đường, ông dành buổi đêm để tiếp tục phát triển thần thoại và ngôn ngữ của mình. Rất nhiều các tác phẩm của ông như Mr. Bliss, Roverandom,… thực chất là những câu chuyện ông kể cho các con nghe trước giờ đi ngủ.
Một ngày nọ, khi Tolkien đang chấm bài thì thấy một thí sinh nộp tờ giấy trắng. Một cách tình cờ, ông viết “Trong một cái hố trên mặt đất có một người Hobbit sống.”
Vốn tò mò, Tolkien quyết định cần tìm hiểu xem Hobbit là gì, nó sống trong cái hố nào, tại sao nó sống trong cái hố,… Từ cuộc điều tra sơ bộ này, ông nảy sinh ra một câu chuyện để kể cho các con, và thậm chí còn được duyệt đem xuất bản. Năm 1936, bản đánh máy chưa hoàn chỉnh của nó đã tới tay Susan Dagnall, biên tập viên tại Allen & Unwin.
Cô yêu cầu Tolkien hoàn thành nó và trình bày toàn bộ câu chuyện cho Chủ tịch Unwin nghe. Ông này đem về cho cậu con trai 10 tuổi Rayner đọc, và dưới đây là bài phê bình của cậu:
“Bilbo Baggins là một người Hobbit sống trong hang Hobbit của mình và không bao giờ thực hiện các cuộc phiêu lưu, cuối cùng, phù thủy Gandalf và những người lùn đã thuyết phục được anh ta đi. Anh đã có một khoảng thời gian rất thú vị khi chiến đấu với yêu tinh và chiến binh. Cuối cùng họ đã có được đến ngọn núi cô đơn; Smaug, con rồng canh giữ nó đã bị giết và sau một trận chiến kinh hoàng với lũ yêu tinh, anh ta trở về nhà – giàu có! Cuốn sách này, với sự trợ giúp của bản đồ, không cần bất kỳ hình ảnh minh họa nào, rất hay và sẽ thu hút tất cả mọi người trẻ em từ 5 đến 9 tuổi.”
Cuốn sách sau đó được xuất bản dưới tên The Hobbit (Anh chàng Hobbit) vào năm 1937 và được xem là sách thiếu nhi, mặc dù Tolkien nói rằng cuốn sách này ban đầu không hướng tới đối tượng này. The Hobbit ngay lập tức đạt được thành công vang dội, và Unwin hỏi liệu Tolkien còn ý tưởng nào khác không.
Thuận theo chiều gió, Tolkien về nhà, chau chuốt lại tất cả bản nháp rồi đem gửi cho Unwin. Nhưng cuốn sách thứ hai này, Silmarillion, phỏng theo ý kiến phần đông độc giả, sẽ không đem lại thành công thương mại. Unwin đã lựa lời với Tolkien, nhưng hỏi lại liệu Giáo sư có sẵn lòng viết phần tiếp theo cho The Hobbit hay không.
Tolkien thất vọng ra về, nhưng đồng ý tham gia thử thách cho “The New Hobbit”.
Ông đã miệt mài 16 năm trời cho một thiên tiểu thuyết trường kỳ, và lúc này thì cậu nhóc Rayner 10 tuổi năm nào đã trưởng thành và nối nghiệp cha. Nhờ sự tác động của anh lên cha mình, Unwin đã quyết định chịu khoản lỗ 1.000 bảng Anh để xuất bản một cuốn sách với tựa đề The Lord of the Rings (Chúa tể của những chiếc nhẫn), chia nó làm ba hồi trong thời kỳ 1954-55. Cả tác giả và nhà xuất bản đều không kỳ vọng nhiều vào thành công của nó.
Chúa tể của những chiếc nhẫn nhanh chóng được công chúng chú ý. Nó nhận về nhiều phản hồi hỗn hợp, từ “ngây ngất” cho tới “đáng nguyền rủa” và cả lưng chừng khoảng giữa. Đài BBC chia nó làm 12 tập phát sóng radio trên Kênh Ba, được xem là kênh “trí tuệ”. Doanh số sách tăng vọt khiến Tolkien hối tiếc vì đã không nghỉ hưu sớm hơn.
Ngoài ra, những năm 1960 tại Mỹ là thời kỳ có nhiều thay đổi và hỗn loạn. Mỹ vẫn đang tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam, sự lên ngôi của phong trào “hippie”, làn sóng phản văn hoá cuộn trào; công chúng quay lưng lại với các chuẩn mực truyền thống để tìm kiếm những điều mới mẻ, những thứ phản chiếu rõ nét qua sự phổ biến của ma tuý, tình dục bừa bãi, sự thống trị của rock-n-roll. Những người như vậy dần tụ hợp lại dưới cái tên “Cộng đồng thay thế”. Tới những năm 70, Chúa tể của những chiếc nhẫn được xem là Kinh Thánh của cộng đồng này.
Sự thành công của cuốn sách đã tạo ra những cảm xúc lẫn lộn trong tác giả. Một mặt, Tolkien rất vui sướng vì bỗng dưng giàu sụ. Mặt khác, ông tiếc nuối vì một số người không sử dụng tác phẩm đúng định hướng ban đầu (một số người quả thực đã nảy ra ý tưởng đọc Chúa tể những chiếc nhẫn và dùng LSD đồng thời).
Ngoài ra, Tolkien chịu phiền hà không ít bởi những người hâm mộ dừng lại trố mắt trước nhà mình và đặc biệt là những người gọi vào 3 giờ sáng chỉ để hỏi liệu Frodo có thành công hay không, hay Balrogs có cánh phải không. Vậy nên ông phải dọn nhà, đổi số điện thoại, và cuối cùng cùng vợ chuyển tới Bournemouth, tận hưởng chút an lạc tuổi già tại vùng biển được cho là “kém hấp dẫn” đó.
Năm 1971, Edith yêu dấu qua đời, và Ronald Tolkien đoàn tụ với bà hai năm sau đó. Ông và vợ được chôn cất cùng nhau trong một lăng mộ duy nhất ở khu Công giáo của nghĩa trang Wolvercote ở ngoại ô phía bắc Oxford. Trên bia mộ có viết:
Edith Mary Tolkien, Lúthien, 1889–1971
John Ronald Reuel Tolkien, Beren, 1892–1973
Bạn còn nhớ cuốn The Silmarillion bị nhà xuất bản từ chối của ông chứ? Sau khi Tolkien mất, con trai ông, Christopher đã đem xuất bản cuốn sách này dưới tựa đề Beren and Lúthien. Câu chuyện diễn ra trong Thời đại đầu tiên của Trung địa, khoảng 6.500 năm trước các sự kiện của Anh chàng Hobbit và Chúa tể của những chiếc nhẫn.
Trong truyện, Lúthien là một tiên nữ thuộc tộc Tiên đem lòng yêu chàng trai người phàm Beren. Tolkien dựa vào nguồn cảm hứng từ chuyện tình yêu của ông dành cho người vợ Edith của mình để viết nên cuốn sách này: “Cha chưa bao giờ gọi mẹ là Edith Luthien – nhưng bà ấy là nguồn gốc cho câu chuyện mà theo thời gian đã trở thành phần chính của Silmarillion.”
Ngày 10 tháng Chín năm 2025,
Vladimir Nabokov – Nhà phê bình xéo xắt
“Ở tuổi 14 hay 15 gì đấy, tôi đã đọc hoặc đọc lại tất cả tác phẩm của Tolstoy bằng tiếng Nga, tất cả của Shakespeare bằng tiếng Anh, và tất cả của Flaubert bằng tiếng Pháp.”
Đó là lời bộc bạch của Vladimir Nabokov, tác giả trứ danh của thiên tiểu thuyết gây tranh cãi Lolita. Nhưng Nabokov chưa bao giờ chỉ là một nhà văn. Ngoài sự nghiệp văn chương, ông còn là học giả, dịch giả, giảng viên, nhà sưu tầm bướm, một kiện tướng tài năng – nói tóm lại – là một người đàn ông có học thức theo nghĩa trọn vẹn nhất của từ này.
Tuy nhiên, trái với sự du dương trong lời văn của mình, Nabokov tỏ ra khá ngoa ngoắt dưới cương vị một phê bình gia. Ông bình phẩm một cách thẳng thắn đến mức không khoan nhượng, thậm chí là cay nghiệt về các nhà văn khác, dù là bậc tiền nhân thì ông cũng chẳng mấy nể nang, như các bạn sẽ được thấy dưới đây:
Jane Austen. Tuyệt vời.
Honoré Balzac. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn.
Henri Bergson. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.
Jorge Luis Borges. Yêu thích. Thật tự do khi được hít thở trong những mê cung tuyệt diệu của ông! Sự sáng suốt trong tư duy, sự tinh khiết trong thơ ca. Một người có tài năng vô hạn.
Rupert Brooke. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, nhưng không còn nữa.
Robert Browning. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa.
Albert Camus. Không ưa ông ta. Hạng hai, phù phiếm, tự cao. Một kẻ vô danh, hoàn toàn không có ý nghĩa với tôi. Kinh khủng.
Lewis Carroll. Luôn yêu thích ông. Nhà văn truyện thiếu nhi vĩ đại nhất mọi thời đại.
Miguel de Cervantes.
Don Quixote. Một cuốn sách cổ lỗ tàn nhẫn và thô thiển.
Anton Chekhov. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Tài năng, nhưng không phải thiên tài. Mến ông ấy sâu sắc, nhưng không thể lý giải cảm giác đó.
G. K. Chesterton. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.
Arthur Conan Doyle. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi, nhưng không còn nữa. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.
Joseph Conrad. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Chắc chắn thua kém Hemingway và Wells. Hoàn toàn non nớt về mặt tinh thần và cảm xúc. Lãng mạn theo nghĩa rộng. Hơi giả tạo.
Fyodor Dostoevsky. Không thích ông ta. Một kẻ giật gân rẻ tiền, vụng về và thô thiển. Một nhà tiên tri, một nhà báo ba hoa và một diễn viên hài cẩu thả. Một số cảnh của ông cực kỳ hài hước. Không ai xem trọng thứ báo chí phản động của ông.
The Brothers Karamazov. Không thích chút nào.
Crime and Punishment. Không thích chút nào. Trò hề kinh khủng.
Theodore Dreiser. Không thích ông ta. Một kẻ tầm thường kinh khủng.
T. S. Eliot. Chưa hẳn là hạng nhất.
Ralph Waldo Emerson. Thơ của ông rất tuyệt.
William Faulkner. Không thích ông ta. Nhà văn của những câu chuyện quê mùa. Coi chúng là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Một kẻ vô danh, hoàn toàn không có ý nghĩa với tôi.
Gustave Flaubert. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi.
E. M. Forster. Chỉ đọc một tiểu thuyết của ông ta (có lẽ là A Passage to India?) và không thích.
Sigmund Freud. Một nhân vật đáng cười. Ghét ông ta. Sự lừa dối đáng khinh. Phân tích giấc mơ theo kiểu Freud là thứ nhảm nhí, gian lận và quỷ quyệt.
John Galsworthy. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.
Nikolai Gogol. Không ai xem trọng thứ thần bí giáo điều của ông. Ở ngưỡng thấp nhất, như trong các tác phẩm Ukraine, ông là một nhà văn vô dụng; ở mức cao nhất, ông là vô song và không thể bắt chước.
Maxim Gorky. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.
Nathaniel Hawthorne. Một nhà văn tuyệt vời.
Ernest Hemingway. Nhà văn của những cuốn sách dành cho thiếu niên. Chắc chắn nhỉnh hơn Conrad. Ít nhất còn có giọng điệu riêng. Về mặt tinh thần và cảm xúc, hoàn toàn non nớt. Ghét các tác phẩm của ông về mấy quả chuông, tinh hoàn và đám bò tót.
The Killers. Tuyệt vời, rất nghệ thuật. Đáng ngưỡng mộ.
The Old Man and the Sea. Tuyệt diệu.
A. E. Housman. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.
Ilf và Petrov. Hai nhà văn cực kỳ tài năng. Văn xuôi tuyệt đối hạng nhất.
Henry James. Không ưa ông ta lắm, nhưng đôi khi cách dùng từ của ông gây ra một cảm giác râm ran như điện giật. Chắc chắn không phải một thiên tài.
James Joyce. Tuyệt vời. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa. Hãy cứ so sánh tôi với Joyce, nhưng tiếng Anh của tôi chỉ là trò trẻ con so với ông ấy. Một thiên tài.
Ulysses. Một tác phẩm thần thánh. Kiệt tác vĩ đại nhất của văn xuôi thế kỷ 20. Vượt xa phần còn lại của các tác phẩm của Joyce.
A Portrait of the Artist as a Young Man. Không bao giờ thích nổi. Một tác phẩm yếu kém và dài dòng.
Finnegans Wake. Một thất bại thảm hại và một nỗi chán ghét kinh khủng.
Franz Kafka.
The Metamorphosis. Kiệt tác lớn thứ hai của văn xuôi thế kỷ 20.
John Keats. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa.
Rudyard Kipling. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.
D. H. Lawrence. Hạng hai, phù phiếm, tự cao. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn. Tệ hại.
Thomas Mann. Không thích ông ta. Hạng hai, phù phiếm, tự cao.
Death in Venice. Ngớ ngẩn. Xem nó là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Sự tầm thường. Tầm thường, nhưng dù sao cũng có vẻ hợp lý.
Guy de Maupassant. Chắc chắn không phải một thiên tài.
W. Somerset Maugham. Tầm thường. Chủ nghĩa hiện thực giả tạo bằng những lời lẽ sáo mòn. Chắc chắn không phải thiên tài.
Herman Melville. Yêu mến ông. Muốn được quay cảnh ông ăn sáng và cho mèo ăn cá mòi.
Karl Marx. Ghê tởm.
John Milton. Một thiên tài.
Boris Pasternak. Một nhà thơ xuất sắc, nhưng là một tiểu thuyết gia kém cỏi.
Doctor Zhivago. Viết rất tệ. Xem nó là kiệt tác là một ảo tưởng ngớ ngẩn. Sùng Bolshevik, sai lệch về lịch sử. Một tác phẩm đáng buồn, vụng về, tầm thường, kịch tính hoá, với những tình huống sáo mòn và những sự trùng hợp nhàm chán.
Plato. Không đặc biệt yêu thích ông ta.
Edgar Allan Poe. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, nhưng không còn nữa. Muốn được quay phim đám cưới của ông.
Ezra Pound. Chắc chắn là hạng hai. Đích thực là một kẻ mạo danh.
Marcel Proust. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa.
In Search of Lost Time. Nửa đầu pho tiểu thuyết là kiệt tác lớn thứ tư của văn xuôi thế kỷ 20.
Alexander Pushkin. Yêu thích từ 20 đến 40 tuổi, và sau đó nữa. Một thiên tài.
Romain Rolland. Một kẻ tầm thường kinh khủng.
J. D. Salinger. Chắc chắn là một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất trong những năm gần đây. “A Perfect Day for Bananafish” là một câu chuyện tuyệt vời.
Jean-Paul Sartre. Còn tệ hơn Camus.
William Shakespeare. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi. Một thiên tài.
Laurence Sterne. Yêu mến ông.
Rabindranath Tagore. Một kẻ tầm thường khủng khiếp.
Aleksey Tolstoy. Một nhà văn có chút tài năng với hai hoặc ba câu chuyện hoặc tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đáng nhớ.
Leo Tolstoy. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Đọc toàn bộ tác phẩm từ 14 đến 15 tuổi. Một thiên tài.
Anna Karenina. Nghệ thuật văn xuôi vô song. Kiệt tác tối cao của văn học thế kỷ 19.
The Death of Ivan Ilyich. Gần như đứng ngay sau Anna Karenina.
Resurrection. Căm ghét.
The Kreutzer Sonata. Căm ghét.
War and Peace. Hơi lan man. Một tiểu thuyết lịch sử được viết cho độc giả phổ thông, đặc biệt là giới trẻ. Nghệ thuật không thỏa đáng. Những thông điệp cồng kềnh, những đoạn giáo điều xen kẽ, những sự trùng hợp giả tạo.
Ivan Turgenev. Tài năng, nhưng không phải thiên tài.
John Updike. Chắc chắn là một trong những nghệ sĩ xuất sắc nhất trong những năm gần đây. Thích rất nhiều câu chuyện của ông đến mức khó chọn ra một cái.
Jules Verne.
Around the World in Eighty Days. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, nhưng không còn nữa.
H. G. Wells. Yêu thích từ 10 đến 15 tuổi, và sau đó nữa. Một nghệ sĩ vĩ đại, nhà văn yêu thích của tôi khi còn nhỏ. Có thể bỏ qua những suy ngẫm xã hội học của ông, nhưng những câu chuyện lãng mạn và giả tưởng thì tuyệt vời. Một nghệ sĩ lớn hơn nhiều so với Conrad. Một nhà văn mà tôi vô cùng ngưỡng mộ.
The Passionate Friends. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra.
Ann Veronica. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra.
The Time Machine. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra. Đặc biệt xuất sắc.
The Country of the Blind. Hay hơn bất cứ thứ gì mà các nhà văn cùng thời của Wells tạo ra. Đặc biệt xuất sắc.
The Invisible Man. Đặc biệt xuất sắc.
The War of the Worlds. Đặc biệt xuất sắc.
The First Men on the Moon. Đặc biệt xuất sắc.
Oscar Wilde. Nhà đạo đức hạng bét. Yêu thích từ 8 đến 14 tuổi. Về cơ bản là một nhà văn cho giới trẻ. Lãng mạn theo nghĩa rộng.
Thư Chekhov gửi Grigorovitch
Chekhov bắt đầu cộng tác với các tạp chí khôi hài vào quãng 19, 20 tuổi, khi đang theo học năm nhất tại trường y. Ông viết những truyện ngắn mang hơi hướm tiếu lâm, trào lộng, giễu nhại lề thói xã hội đương thời, hoặc, “những truyện vặt vãnh” như ông thường dè bỉu. Tiền công của ông được tính bằng xu, và một truyện tầm tầm đem về độ chục rúp.
Sau khoảng hai, ba năm lang thang gõ cửa hết toà soạn này đến toà soạn khác, bị quỵt thù lao, hay nhuận bút bị gán cho một vé xem kịch hết hạn, v.v. Chekhov được Leykin, bấy giờ là chủ bút của một tạp chí nơi ông thường xuyên góp chữ, cho phép viết những truyện dài hơn và nghiêm túc hơn. Trong khoảng 1880 – 1885, ông đã viết 300 truyện.
Tuy vậy, Chekhov chưa bao giờ xem trọng tài năng của mình. Có lẽ tài năng đó đã bị uổng phí rồi lụi tàn vào sự lãng quên, nếu không nhờ một lá thư từ nhà văn lão thành V. S. Grigorovitch. Trong thư, Grigorovitch dành lời khen cho truyện ngắn “Người thợ săn” của Chekhov, đồng thời vạch ra một vài chi tiết mà cây bút trẻ nên cải thiện. Ông xem trọng tài năng và con người nghệ sĩ ở Chekhov, và khuyên chàng trai trẻ nên viết những tác phẩm nghiêm túc hơn.
Lá thư đã đánh động Chekhov với sức mạnh của “một tia sét”, và tác giả trẻ 26 tuổi đã hồi âm như sau:
Mátxcơva, ngày 28 tháng 3 năm 1886
[Lược một đoạn giáo đầu trong đó Chekhov cảm tạ sự chiếu cố của Grigorovitch]
Nếu tôi có một tài năng đáng được trân trọng, tôi xin thú nhận trước sự chân thành thuần khiết của trái tim ngài rằng cho đến nay tôi chưa từng trân trọng nó. Tôi cảm được là mình có tài, nhưng tôi vẫn quen cho rằng nó thật tầm thường. Những tác nhân bên ngoài đủ để khiến một người đâm ra bất công với chính mình, hoài nghi và nhạy cảm một cách bệnh hoạn. Và giờ đây, khi nhìn lại, tôi nhận ra mình luôn chịu quá nhiều tác nhân như thế. Tất cả bạn bè và người thân của tôi đều luôn giữ thái độ kẻ cả với công việc viết lách của tôi, không ngừng khuyên nhủ một cách thiện chí rằng tôi đừng từ bỏ công việc thực sự để bám đuổi cái trò viết lách làng nhàng. Tôi có hàng trăm người bạn ở Mátxcơva, trong đó có cả chục nhà văn, nhưng tôi không thể nhớ nổi một người nào từng đọc tác phẩm của tôi hay coi tôi là một nghệ sĩ. Ở Mátxcơva có một cái gọi là Vòng Tròn Văn Học: những tài năng và kẻ tầm thường đủ mọi lứa tuổi, sắc tộc tụ họp mỗi tuần một lần trong căn phòng riêng của một nhà hàng để luyện miệng lưỡi. Nếu tôi đến đó và đọc cho họ nghe dù chỉ một đoạn trong thư của ngài, họ sẽ cười vào mặt tôi. Suốt năm năm trời vất vưởng từ tòa soạn báo này đến tòa soạn báo khác, tôi đã kịp thấm nhuần cái nhận định chung về sự tầm thường trong văn chương của mình. Chẳng mấy chốc, tôi đâm coi thường công việc của tôi, và thế là mọi thứ cứ ngày càng tệ hơn. Đó là lý do trước tiên. Thứ nữa tôi còn là một bác sĩ, ngập đầu trong công việc y khoa, đến nỗi câu tục ngữ về việc đuổi theo hai con thỏ đã khiến tôi mất ngủ nhiều hơn bất kỳ ai.
Tôi viết những dòng này để mong ngài thứ tha đôi chút cho lầm lỗi nghiêm trọng của mình. Cho đến nay, thái độ của tôi với công việc văn chương vẫn luôn hời hợt, bất cẩn, tùy tiện. Tôi không nhớ nổi một câu chuyện nào mà tôi dành quá hai mươi tư giờ để viết, và “Người Thợ Săn”, tác phẩm ngài yêu thích, tôi đã viết trong nhà tắm! Tôi viết truyện như cách các phóng viên đưa tin về những vụ cháy: một cách máy móc, phân nửa là vô thức, chẳng màng đến độc giả hay chính bản thân mình… Tôi viết và cố hết sức để không phí hoài vào truyện những phân đoạn và hình ảnh thân thương với tôi, những thứ – Chúa biết vì sao – tôi luôn trân quý và cẩn thận giữ gìn.
Cú hích đầu tiên khiến tôi tự phê bình đến từ một lá thư rất tử tế và, như tôi tin, chân thành của Suvorin. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc viết một thứ gì đó tử tế, nhưng tôi vẫn không tin mình có thể là một nhà văn giỏi. Và rồi, thật bất ngờ và không thể tưởng tượng nổi, lá thư của ngài đến. Xin rộng lượng với phép so sánh này: nó tác động lên tôi như pháp lệnh của quan tổng trấn, buộc tôi phải rời khỏi thành phố trong vòng hai mươi tư giờ – nói cách khác, tôi đột nhiên cảm thấy một nhu cầu cấp bách phải vội vã, phải khẩn trương thoát khỏi nơi tôi đã mắc kẹt…
Tôi đồng ý với ngài về mọi điều. Khi nhìn thấy “Phù Thủy” được đem in, tôi nhận ra sự cay độc ở những điểm mà ngài đã chỉ ra. Chúng sẽ không ở đó nếu tôi dành ba hay bốn ngày để viết câu chuyện đó, thay vì chỉ một ngày.
Tôi sẽ chấm dứt việc viết trong vội vã, nhưng chưa thể làm ngay lúc này… Thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn mà tôi đã sa vào là điều bất khả. Tôi không ngại việc đói khát, như tôi đã từng trải qua, nhưng vấn đề không chỉ nằm ở bản thân tôi… Tôi dành cho văn chương thời gian rảnh rỗi của mình, hai hoặc ba giờ mỗi ngày và một chút vào ban đêm, tức là khoảng thời gian chỉ đủ cho những thứ ngắn ngủi. Vào mùa hè, khi tôi có nhiều thời gian hơn và ít tốn kém hơn, tôi sẽ bắt tay vào viết một tác phẩm nghiêm túc.
Tôi không thể đặt tên thật lên cuốn sách vì đã quá muộn: bìa sách đã được thiết kế và sách đã in ra. [Ý nói đến tập truyện ngắn “Những câu chuyện đa sắc”]. Nhiều bạn bè ở Petersburg, thậm chí trước cả ngài, đã khuyên tôi đừng làm hỏng cuốn sách bằng một bút danh, nhưng tôi không nghe, có lẽ vì sự kiêu ngạo. Tôi rất không thích cuốn sách của mình. Nó là một mớ hổ lốn, một tập hợp lộn xộn của những thứ vụn vặt tôi viết từ thời sinh viên, bị kiểm duyệt và các biên tập viên của những tờ báo khôi hài cắt xén. Tôi chắc rằng nhiều người sẽ thất vọng khi đọc nó. Nếu tôi biết mình có độc giả và ngài đang dõi theo tôi, tôi đã không xuất bản cuốn sách này.
Mọi hy vọng của tôi đặt vào tương lai. Tôi mới hai mươi sáu tuổi. Có lẽ tôi sẽ làm được điều gì đó, dù thời gian trôi qua rất nhanh.
Xin tha thứ cho lá thư dài dòng này và đừng trách một người, lần đầu tiên trong đời, dám tự thưởng cho mình niềm vui được viết thư cho Grigorovitch.
Nếu có thể, xin gửi cho tôi một bức ảnh của ngài. Tôi tràn ngập trong lòng tốt của ngài đến mức cảm thấy như muốn viết cả một ram giấy cho ngài. Cầu Chúa ban cho ngài sức khỏe và hạnh phúc, và xin hãy tin vào sự chân thành của người kính trọng và biết ơn sâu sắc của ngài.
A. CHEKHOV
“Nói lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi hạnh phúc nhất thật là ảo tưởng, ảo tưởng của những ai đã hết thời son trẻ. Nhưng thanh niên thì biết rằng họ bất hạnh vì tâm hồn họ đã thấm nhiễm biết bao lý tưởng không thực tế rồi khi va chạm với thực tế, mình mẩy họ mới tím bầm đầy thương tích. Dường như họ là nạn nhân của một âm mưu, bởi vì sách vở mà họ đọc được lý tưởng hoá do nhu cầu tuyển chọn, và những câu chuyện của cha anh nhìn lại quá khứ đã bị lãng quên, qua một lớp sương mù màu hồng, đã chuẩn bị cho họ bước vào cuộc đời không thực tế. Họ phải tự mình khám phá rằng tất cả những điều họ đã học, tất cả những điều người ta kể cho họ nghe đều là dối trá và dối trá; và mỗi sự phát hiện chẳng khác gì lại thêm một mũi đinh nữa ghim vào thân thể trên cây thập tự cuộc đời. Có điều lạ lùng là mỗi một người đã trải qua sự vỡ mộng cay đắng đó, bằng một thứ nội lực còn mạnh mẽ hơn, chính anh ta lại đến lượt mình góp phần vào đó mà không hề hay biết.”
(Kiếp người, W. S. Maugham, Hoàng Tuý & Nguyễn Xuân Phương dịch)
Khi Stendhal qua đời, chỉ có hai tờ báo Paris quan tâm đưa tin về sự việc, và chỉ có ba người, tính cả Prosper Mérimée, đến dự tang lễ của ông. Tưởng chừng ông sẽ hoàn toàn bị lãng quên; và quả thực, ông hẳn đã bị lãng quên nếu không nhờ sự tận tuỵ của hai người bạn đã thuyết phục được một nhà xuất bản lớn chịu phát hành một số ấn bản các tác phẩm chính của ông. Tuy nhiên, công chúng đại thể vẫn tỏ ra thờ ơ với chúng.
Về phía mình, Stendhal chưa bao giờ nghĩ rằng các tác phẩm của mình sẽ sống sót, nhưng ông quả đã chuẩn bị chờ đến năm 1880, hoặc thậm chí đến năm 1900, để giành được sự công nhận xứng đáng. Nhiều tác giả đã tự an ủi mình bằng cách tin rằng hậu thế sẽ công nhận công lao của họ, nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Trong trường hợp của Stendhal, ông đã gặp may mắn. Một giáo sư vô danh tại École Normale đã nhiệt tình ca ngợi những tác phẩm của ông, và tình cờ thay, trong số các sinh viên có một chàng thanh niên trẻ sau này sẽ trở nên nổi danh.
Những sinh viên tìm đọc Stendhal, và họ tìm thấy điều gì đó phù hợp với bầu không khí dư luận thịnh hành đương thời ở giới trẻ. Họ trở thành những người hâm mộ cuồng nhiệt. Người tài giỏi nhất trong những chàng trai trẻ này là Hippotyle Taine, và nhiều năm sau, khi đã trở thành một nhà văn nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng, ông đã viết một bài luận dài, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh đến thủ pháp phân tích tâm lý của Stendhal. Tác phẩm này mở đường cho một loạt những bài viết về Stendhal, và bây giờ người ta thường đồng tình rằng ông là một trong ba tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mà nước Pháp từng sản sinh ra vào thế kỷ XIX. [Trong trường hợp bạn muốn biết hai tác giả còn lại là ai: Flaubert và Balzac.]
Ngày 8 tháng Mười năm 2025,
Cảm ơn bạn đã yêu cầu! Dưới đây là bản dịch sang tiếng Việt của toàn bộ bài tiểu luận “How Should One Read a Book?” của Virginia Woolf mà bạn đã cung cấp. Tôi cố gắng dịch sát nghĩa, giữ được giọng văn trữ tình, sâu sắc và phong cách độc đáo của Woolf, đồng thời đảm bảo ngôn ngữ tự nhiên, dễ hiểu cho người đọc tiếng Việt. Vì bài viết khá dài, tôi sẽ dịch theo từng đoạn để bạn dễ theo dõi, đồng thời giữ cấu trúc giống nguyên bản để phản ánh đúng tinh thần của tác phẩm.
Làm thế nào để đọc một cuốn sách?
(Virginia Woolf)
Vào thời điểm muộn màng này trong lịch sử thế giới, sách xuất hiện ở hầu hết mọi căn phòng trong ngôi nhà – trong phòng trẻ, phòng khách, phòng ăn, thậm chí cả nhà bếp. Nhưng ở một số ngôi nhà, sách đã trở thành một quân đoàn đông đảo đến mức chúng cần được chừa riêng một không gian – một thư phòng, một thư viện, hay một phòng làm việc. Hãy tưởng tượng rằng chúng ta đang ở trong một căn phòng như thế; một căn phòng ngập nắng, với những khung cửa sổ mở ra khu vườn, nơi ta có thể nghe tiếng cây cối xào xạc, tiếng người làm vườn trò chuyện, tiếng lừa kêu, những bà cụ tán chuyện bên giếng nước – và tất cả những hoạt động thường nhật của cuộc sống diễn ra theo cách ngẫu nhiên, ngắt quãng, như chúng đã diễn ra qua hàng trăm năm. Cũng ngẫu nhiên và bền bỉ như thế, sách đã tụ họp trên những kệ sách. Tiểu thuyết, thơ ca, chính sử, hồi ký, từ điển, bản đồ, danh bạ; sách in chữ đen cổ xưa và sách mới tinh; sách bằng tiếng Pháp, tiếng Hy Lạp, tiếng Latin; đủ mọi hình dạng, kích cỡ và giá trị, được mua để nghiên cứu, để giải trí trên một chuyến tàu, được mua bởi những con người khác nhau, với tính khí khác nhau, nghiêm túc hay phù phiếm, người hành động và người viết lách.
Giờ đây, khi bước vào một căn phòng như thế này, ta có thể tự hỏi: Làm thế nào để tôi đọc những cuốn sách này? Cách đúng đắn để bắt đầu là gì? Chúng quá nhiều và quá đa dạng. Khẩu vị của tôi thì thất thường, tùy hứng. Tôi phải làm gì để thu được niềm vui lớn nhất từ chúng? Và liệu đó có phải là niềm vui, hay lợi ích, hay điều gì khác mà tôi nên tìm kiếm? Tôi sẽ trình bày trước bạn một vài suy nghĩ nảy ra trong tôi khi đối diện với một dịp như thế này. Nhưng bạn sẽ nhận ra dấu chấm hỏi ở cuối tiêu đề của tôi. Ta có thể suy nghĩ về việc đọc bao nhiêu tùy thích, nhưng không ai sẽ đặt ra luật lệ cho nó. Ở đây, trong căn phòng này, nếu không phải ở bất kỳ nơi nào khác, ta được hít thở bầu không khí của tự do. Ở đây, người bình dân và người học thức, đàn ông và phụ nữ đều như nhau. Vì dù việc đọc dường như đơn giản – chỉ cần biết bảng chữ cái – nó thực sự khó khăn đến mức khó mà tin rằng có ai đó thực sự hiểu rõ về nó. Paris là thủ đô của Pháp; Vua John đã ký bản Magna Charta; đó là những sự thật; những thứ đó có thể được dạy. Nhưng làm sao để dạy ai đó đọc “Thiên đường đã mất” để thấy rằng đó là một bài thơ vĩ đại, hay “Tess của nhà D’Urbervilles” để nhận ra đó là một tiểu thuyết xuất sắc? Làm sao để chúng ta tự học nghệ thuật đọc sách? Không cố gắng đặt ra luật lệ cho một chủ đề chưa được hệ thống hóa, tôi sẽ đưa ra một vài gợi ý, hy vọng sẽ giúp bạn thấy cách không nên đọc, hoặc khơi gợi bạn nghĩ ra những phương pháp tốt hơn của riêng mình.
Ngay khi bắt đầu tự hỏi làm thế nào để đọc một cuốn sách, ta đối diện với thực tế rằng sách rất khác nhau; trên kệ sách kia có thơ, tiểu thuyết, tiểu sử; mỗi loại khác biệt như một con hổ khác với một con rùa, một con rùa lại khác một con voi. Thái độ của chúng ta phải luôn thay đổi, điều đó rõ ràng. Từ những cuốn sách khác nhau, ta phải đòi hỏi những phẩm chất khác nhau. Dù nghe có vẻ đơn giản, người ta luôn hành xử như thể mọi cuốn sách đều thuộc cùng một loài – như thể chỉ có rùa hoặc chỉ có hổ. Họ nổi giận khi một tiểu thuyết gia để Nữ hoàng Victoria lên ngôi sớm hơn sáu tháng so với lịch sử; họ sẽ hào hứng khen ngợi một nhà thơ vì dạy họ rằng hoa violet có bốn cánh và hoa cúc hầu như luôn có mười cánh. Bạn sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và cảm xúc – thứ đáng giữ lại cho những mục đích cao cả hơn – nếu bạn cố gắng xác định trước khi đọc những phẩm chất bạn mong đợi từ một tiểu thuyết gia, một nhà thơ, hay một nhà viết tiểu sử. Con rùa thì trơn láng và bóng nhẫy; con hổ có bộ lông vàng dày. Sách cũng vậy: một cuốn có “lông”, cuốn khác thì “trọc”.
Đúng vậy; nhưng dù sao thì vấn đề không đơn giản trong một thư viện như ở sở thú. Sách có rất nhiều điểm chung; chúng luôn vượt ra khỏi ranh giới của mình; chúng luôn sinh ra những loài mới từ những sự kết hợp bất ngờ giữa chúng. Thật khó để biết cách tiếp cận chúng, mỗi cuốn thuộc về loài nào. Nhưng nếu ta nhớ, khi bước tới giá sách, rằng mỗi cuốn sách này được viết bởi một cây bút, có ý thức hay vô thức, cố gắng vẽ nên một thiết kế, tránh cái này, chấp nhận cái kia, mạo hiểm với điều khác; nếu ta cố gắng theo dõi nhà văn trong cuộc thử nghiệm của anh ta từ từ đầu tiên đến từ cuối cùng, mà không áp đặt thiết kế của ta lên anh ta, thì ta sẽ có cơ hội tốt để nắm được đầu đúng của sợi dây.
Để đọc một cuốn sách hay, ta nên đọc nó như thể ta đang viết nó. Đừng bắt đầu bằng cách ngồi trên ghế của quan tòa, mà hãy đứng trong vành móng ngựa cùng kẻ tội phạm. Hãy là đồng sự của anh ta, hãy trở thành đồng phạm của anh ta. Thậm chí, nếu bạn chỉ muốn đọc sách, hãy bắt đầu bằng cách viết chúng. Vì điều này chắc chắn đúng – không ai có thể viết một câu chuyện nhỏ nhất, cố gắng miêu tả sự kiện đơn giản nhất – đơn cử như gặp một người ăn xin trên phố – mà không gặp những khó khăn mà ngay cả những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất cũng phải đối mặt. Để chúng ta có thể nhận ra, dù ngắn gọn và thô sơ, những phân loại chính của các tiểu thuyết gia, hãy tưởng tượng cách mà Defoe, Jane Austen, và Thomas Hardy sẽ miêu tả cùng một sự kiện – cuộc gặp gỡ với một người ăn xin trên phố. Defoe là bậc thầy về kể chuyện. Nỗ lực chính của ông sẽ là đưa câu chuyện của người ăn xin vào một trật tự và sự đơn giản hoàn hảo. Chuyện này xảy ra trước, chuyện kia tiếp theo, chuyện khác nữa tiếp theo sau. Ông sẽ không đưa vào bất cứ điều gì, dù hấp dẫn, làm mệt mỏi người đọc một cách không cần thiết, hoặc làm xao lãng sự chú ý khỏi điều ông muốn người đọc biết. Ông cũng sẽ khiến chúng ta tin, bởi ông là bậc thầy không phải vì chất lãng mạn hay hài kịch, mà là bậc thầy kể chuyện, rằng mọi thứ xảy ra đều là sự thật. Vì thế, ông sẽ cực kỳ chính xác. Chuyện này xảy ra, như ông kể trong những trang đầu của “Robinson Crusoe,” vào ngày mùng một tháng Chín. Tinh tế và khéo léo hơn, ông sẽ thôi miên ta vào trạng thái tin tưởng bằng cách vô tình thả rơi một chi tiết nhỏ không cần thiết – ví dụ, “cha tôi gọi tôi vào phòng ông, nơi ông đang nằm vì bệnh gút.” Bệnh gút của cha ông không cần thiết cho câu chuyện, nhưng cần thiết cho sự thật của câu chuyện, vì đó là cách mà bất kỳ ai nói sự thật sẽ thêm vào một chi tiết nhỏ không liên quan mà không suy nghĩ. Hơn nữa, ông sẽ chọn một loại câu văn trôi chảy nhưng không quá nhồi nhét, chính xác nhưng không quá sắc sảo. Mục tiêu của ông là trình bày sự vật như nó vốn có mà không bị bóp méo bởi góc nhìn của ông. Ông sẽ đối mặt với chủ thể, thẳng thắn, vuông vức, không một khoảnh khắc nào ngó nghiêng để chỉ ra rằng điều này bi thảm, hay điều kia đẹp đẽ; và mục tiêu của ông được thực hiện hoàn hảo.
Nhưng chúng ta đừng nhầm lẫn mục tiêu của ông với mục tiêu của Jane Austen. Nếu gặp một người ăn xin, chắc chắn bà ấy sẽ quan tâm đến câu chuyện của người đó. Nhưng bà sẽ ngay lập tức nhận ra rằng, vì mục đích nghệ thuật của mình, toàn bộ sự kiện phải được chuyển hóa. Đường phố, không khí tự do và những cuộc phiêu lưu chẳng có ý nghĩa gì với bà, về mặt nghệ thuật. Tính cách con người mới là điều bà quan tâm. Bà sẽ lập tức biến người ăn xin thành một người đàn ông trung niên thuộc tầng lớp trung lưu, ngồi thoải mái bên lò sưởi. Thay vì lao vào câu chuyện một cách mạnh mẽ và chân thực, bà sẽ viết vài đoạn giới thiệu chính xác và được nêm nếm khéo léo, tóm tắt hoàn cảnh và phác thảo tính cách của người đàn ông mà bà muốn giới thiệu.
(…) Trước tiên, một người đọc sáng suốt sẽ cho nhà văn mọi cơ hội để chứng minh bản thân.
Giờ hãy để Thomas Hardy chọn cùng chủ đề – một người ăn xin gặp trên phố – và ngay lập tức hai thay đổi lớn sẽ hiện rõ. Con phố sẽ biến thành một cánh đồng hoang rộng lớn và ảm đạm; người đàn ông hay phụ nữ sẽ mang dáng vẻ to lớn và mờ mờ của một bức tượng. Hơn nữa, mối quan hệ của con người này không phải với những người khác, mà với cánh đồng hoang, với con người như nhà lập pháp, với những thế lực chi phối số phận của con người. Một lần nữa, góc nhìn của chúng ta sẽ hoàn toàn thay đổi. Tất cả những phẩm chất đáng ngưỡng mộ trong “Robinson Crusoe,” đáng ngưỡng mộ trong “Emma,” sẽ bị bỏ qua hoặc vắng bóng. Lời kể trực tiếp, thẳng thắn của Defoe biến mất. Không có sự rõ ràng, chính xác rực rỡ của Jane Austen. Thật vậy, nếu ta chuyển từ một trong hai nhà văn vĩ đại này sang Hardy, ta sẽ kêu lên rằng ông ấy “kịch tính” hoặc “phi thực” so với họ. Nhưng ta nên nhớ rằng tâm hồn con người có ít nhất hai mặt: mặt sáng và mặt tối. Trong đám đông, mặt sáng của tâm trí được bộc lộ; trong cô độc, mặt tối hiện ra. Cả hai mặt đều thực, đều quan trọng như nhau. Nhưng một tiểu thuyết gia sẽ luôn có xu hướng bộc lộ một mặt hơn mặt kia; và Hardy, một tiểu thuyết gia của mặt tối, sẽ sắp xếp sao cho không có ánh sáng rõ ràng, ổn định nào chiếu lên khuôn mặt nhân vật của ông, để họ không bị quan sát kỹ lưỡng trong phòng khách, để họ tiếp xúc với đồng hoang, cừu, bầu trời và các vì sao, và trong sự cô độc, họ trực tiếp nằm dưới sự chi phối của các vị thần. Nếu các nhân vật của Jane Austen chân thực là thế trong phòng khách, họ không hề tồn tại khi ở trên đỉnh Stonehenge. Yếu đuối và vụng về trong phòng khách, các nhân vật của Hardy lại to lớn và mạnh mẽ ngoài trời. Để đạt được mục đích của mình, Hardy không thẳng thắn, vuông vức như Defoe, cũng không khéo léo, sắc sảo như Jane Austen. Ông cồng kềnh, lắt léo, ẩn dụ. Nơi Jane Austen mô tả phong thái, ông mô tả thiên nhiên. Nơi bà tỏ ra thực tế, ông lại lãng mạn và thơ mộng. Vì cả hai đều là những nghệ sĩ vĩ đại, mỗi người đều cẩn thận tuân theo quy luật của góc nhìn riêng, và sẽ không khiến ta rối trí (như nhiều nhà văn tầm thường khác) bằng cách đưa hai loại thực tại khác nhau vào cùng một cuốn sách.
Tuy nhiên, thật khó để không mong họ bớt nghiêm ngặt hơn. Người ta thường phàn nàn rằng Jane Austen quá khô khan, Thomas Hardy quá kịch tính. Và ta phải nhắc nhở mình rằng cần tiếp cận mỗi nhà văn một cách khác nhau để nhận được tất cả những gì họ có thể cho ta. Ta phải nhớ rằng một trong những phẩm chất của sự vĩ đại là khả năng đưa trời và đất và bản chất con người hòa hợp với tầm nhìn của họ. Chính nhờ sự thành thạo này, sự độc đáo không khoan nhượng này, mà các nhà văn vĩ đại thường yêu cầu ta nỗ lực phi thường để đọc họ một cách đúng đắn. Họ uốn cong và bẻ gãy ta. Chuyển từ Jane Austen sang Hardy, từ Peacock sang Trollope, từ Scott sang Meredith, từ Richardson sang Kipling, là bị kéo giật và biến dạng, bị ném từ bên này sang bên kia. Hơn nữa, mỗi người sinh ra đã có một thiên hướng tự nhiên theo một hướng nhất định. Theo bản năng họ chấp nhận góc nhìn của Hardy hơn là của Jane Austen, và khi đọc thuận theo tự nhiên, không chống lại nó, họ dễ dàng và nhanh chóng được đưa đến trung tâm thiên tài của tác giả. Nhưng rồi Jane Austen lại trở nên xa lạ với họ. Họ khó lòng lê bước qua sa mạc của các tiểu thuyết của bà.
Đôi khi sự đối kháng tự nhiên này quá lớn để vượt qua, nhưng thử nghiệm luôn đáng giá. Vì những cuốn sách khó khăn và khó tiếp cận này, với tất cả sự khắc nghiệt ban đầu, thường mang lại những trái ngọt nhất vào sau chót, và trí óc con người kỳ diệu đến mức, trong khi một số lĩnh vực văn học khiến ta chán ghét ở một thời điểm, chúng lại trở nên hấp dẫn và cần thiết ở thời điểm khác.
Vậy, nếu điều này đúng – rằng sách thuộc những loại rất khác nhau, và để đọc chúng đúng cách, ta phải uốn cong trí tưởng tượng của mình, lúc này theo cách này, lúc khác theo cách khác – thì rõ ràng việc đọc là một trong những công việc gian nan và mệt mỏi nhất. Thường thì các trang sách trôi qua trước mắt ta, và ta dường như, vì sự hứng thú mãnh liệt, đang sống chứ không chỉ cầm cuốn sách trên tay. Nhưng cuốn sách càng hấp dẫn, ta càng dễ rơi vào nguy cơ đọc quá mức. Những triệu chứng thì quen thuộc. Đột nhiên cuốn sách trở nên nhạt nhẽo như nước ao và nặng như chì. Ta ngáp và duỗi người, không tài nào tập trung nổi. Những đoạn cao trào của Shakespeare và Milton trở nên không thể chịu nổi. Và ta tự hỏi – liệu Keats là kẻ ngốc hay chính ta là kẻ ngốc? – một câu hỏi đau đớn, một câu hỏi mà lẽ ra không cần đặt ra nếu ta nhận ra vai trò quan trọng của nghệ thuật không đọc trong nghệ thuật đọc. Biết cách đọc sách mà không thực sự đọc chúng, lướt qua và tản bộ, trì hoãn việc phán xét, đủnh đỉnh và đi dạo qua những con hẻm và ngõ nhỏ của văn chương là cách tốt nhất để tái tạo sức sáng tạo của chính mình. Tất cả các tiểu sử và hồi ký, tất cả những cuốn sách lai tạp đầy rẫy sự thật, đều giúp khôi phục khả năng đọc những cuốn sách thực sự – tức là những tác phẩm của trí tưởng tượng thuần túy. Chúng cũng mang lại kiến thức và nâng cao trí tuệ, điều này đúng và quan trọng, nhưng nếu ta đang xem xét cách đọc sách để tìm niềm vui, chứ không phải để chuẩn bị lương hưu cho người góa bụa, thì phẩm chất khác này của chúng còn quý giá và quan trọng hơn. Nhưng ở đây, ta cần biết mình đang tìm kiếm điều gì. Ta tìm kiếm sự nghỉ ngơi, niềm vui, sự kỳ lạ, và một chút kích thích cho sức sáng tạo đã mỏi mệt của mình. Ta rời khỏi toà tháp trơ trụi và góc cạnh của mình, tản bộ trên phố, nhìn qua những khung cửa sổ đang mở.
Những khung cửa sổ của các ngôi nhà đang mở; rèm được vén lên. Ta có thể thấy cả gia đình mà họ không hề biết mình đang bị quan sát. Ta thấy họ ngồi quanh bàn ăn, chuyện trò, đọc sách, bày trò chơi. Đôi khi họ dường như đang cãi nhau – nhưng về chuyện gì nhỉ? Hoặc họ đang cười -nhưng cười vì lẽ gì? Ở tầng hầm, người đầu bếp đang đọc to một tờ báo, trong khi cô hầu gái nướng một mẩu bánh mì; bà hầu bếp bước vào và họ bắt đầu nói chuyện cùng mộ – nhưng họ nói gì? Ở tầng trên, một cô gái đang sửa soạn đi dự tiệc. Nhưng cô ấy đi đâu? Có một bà lão ngồi bên cửa sổ phòng ngủ, tay cầm một món đồ len và một con vẹt xanh biếc trong lồng bên cạnh. Và bà ấy đang nghĩ gì? Tất cả cuộc sống này bằng cách nào đó đã tụ lại; có một lý do cho nó; một sự mạch lạc trong đó, nếu ta có thể nắm bắt được. Nhà viết tiểu sử trả lời những câu hỏi vô số mà ta đặt ra khi đứng ngoài vỉa hè, nhìn qua khung cửa sổ đang mở. Thật vậy, không có gì thú vị hơn việc len lỏi giữa những kho tàng sự thật rộng lớn này, để tạo nên cuộc đời của những người đàn ông và phụ nữ, để dựng lên những tâm trí và gia đình phức tạp từ sự phong phú và hỗn độn của những vật liệu nằm rải rác. Một chiếc đê may, một hộp sọ, một chiếc kéo, một tập sonnet, được trao cho ta, và ta phải sáng tạo, kết hợp, đặt những thứ không ăn khớp này lại với nhau. Có một phẩm chất trong sự thật, một cảm xúc đến từ việc biết rằng những người đàn ông và phụ nữ thực sự đã làm và chịu đựng những điều này, mà chỉ những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất mới có thể vượt qua. Thuyền trưởng Scott, chết đói và chết cóng trong tuyết, tác động đến ta sâu sắc như bất kỳ câu chuyện phiêu lưu nào của Conrad hay Defoe; nhưng nó tác động đến ta theo cách khác. Tiểu sử khác với tiểu thuyết. Yêu cầu một nhà viết tiểu sử mang lại niềm vui giống như một tiểu thuyết gia là lạm dụng và đọc sai họ. Ngay khi ông ấy nói “John Jones sinh vào lúc năm giờ ba mươi sáng ngày 13 tháng Tám năm 1862,” ông ấy đã cam kết, đã tập trung ống kính vào sự thật, và nếu ông ấy bắt đầu thêm thắt lãng mạn, góc nhìn trở nên mờ nhòe, ta trở nên nghi ngờ, và niềm tin vào sự chính trực của ông ấy với tư cách là một nhà văn bị phá hủy. Cũng vậy, sự thật phá hủy hư cấu. Nếu Thackeray, ví dụ, trích dẫn một bài báo thực tế về trận Waterloo trong “Hội chợ phù hoa,” toàn bộ cấu trúc câu chuyện của ông sẽ sụp đổ, như một viên đá phá vỡ một bong bóng.
Nhưng không thể phủ nhận rằng những cuốn sách lai tạp này, những kho tàng sự thật, đóng vai trò lớn trong việc nghỉ ngơi cho trí óc và khôi phục niềm hứng khởi của trí tưởng tượng. Việc xây dựng một cuộc đời từ những hộp sọ, đê may, kéo, và sonnet kích thích sự quan tâm của ta đến sáng tạo và khơi dậy mong muốn thấy công việc được thực hiện một cách đẹp đẽ và mạnh mẽ bởi một Flaubert hay Tolstoi. Hơn nữa, dù sự thật có thú vị đến đâu, chúng là một hình thức hư cấu thấp hơn, và dần dần ta trở nên thiếu kiên nhẫn với sự yếu kém và rời rạc của chúng, với những thỏa hiệp và né tránh, với những câu văn cẩu thả mà chúng tự tạo ra, và ta khao khát làm mới mình với sự mãnh liệt và chân thật hơn của hư cấu.
Cần phải có một nguồn năng lượng tưởng tượng dồi dào để chinh phục những đỉnh cao của thơ ca. Ở đây không có những lời giới thiệu dần dần, không có sự tương đồng với thế giới quen thuộc của đời sống hàng ngày mà tiểu thuyết gia dùng để lôi kéo ta vào thế giới tưởng tượng của họ. Tất cả đều mãnh liệt, đối lập, không liên quan. Nhưng nhiều nguyên nhân khác nhau, như những cuốn sách dở, sự lo lắng của việc sống hiệu quả, những cú sốc mạnh mẽ nhưng ngắt quãng từ vẻ đẹp, và những xung động không thể tính toán của tâm trí và cơ thể ta, thường đặt ta vào trạng thái mà thơ ca trở thành một nhu cầu. Hình ảnh một bông hoa nghệ trong vườn đột nhiên gợi lên tất cả những ngày xuân từng có. Khi đó, ta khao khát cái chung, không phải cái riêng; cái toàn thể, không phải chi tiết; để lật lên mặt tối của tâm trí; để tiếp xúc với sự tĩnh lặng, cô độc, và tất cả mọi người chứ không phải Richard này hay Anne kia. Ẩn dụ khi đó trở nên biểu cảm hơn những câu nói thẳng.
Vì thế, để đọc thơ đúng cách, ta phải ở trong một trạng thái tâm trí táo bạo, cực đoan, hào phóng, nơi nhiều chỗ dựa và tiện nghi của văn học bị bỏ lại. Sức mạnh giả tưởng của nó, khả năng đại diện của nó, bị gạt bỏ để ủng hộ những cực đoan và xa hoa của nó. Sự đại diện thường rất xa vời so với điều được đại diện, đến mức ta phải dùng toàn bộ năng lượng trí tuệ để nắm bắt mối quan hệ giữa, ví dụ, tiếng hót của một con chim sơn ca và hình ảnh cùng ý tưởng mà tiếng hót đó gợi lên trong tâm trí. Đọc thơ thường giống như một trạng thái ngây ngất, nơi vần điệu, nhịp điệu và âm thanh khuấy động tâm trí như rượu và điệu nhảy khuấy động cơ thể, và ta đọc tiếp, hiểu bằng các giác quan, không phải bằng trí tuệ, trong một trạng thái say sưa. Tuy nhiên, tất cả sự ngây ngất và mãnh liệt của niềm vui này phụ thuộc vào sự chính xác và chân thật của hình ảnh, vào việc nó là bản sao của thực tại bên trong. Dù một số hình ảnh của Shakespeare có vẻ xa vời, một số của Keats có vẻ viển vông, tại khoảnh khắc đọc, chúng dường như là đỉnh cao và kết tinh của tư tưởng; là biểu đạt cuối cùng của nó. Nhưng việc phân tích vấn đề này một cách lạnh lùng là vô ích. Bất kỳ ai từng đọc một bài thơ với niềm vui sẽ nhớ đến sự thuyết phục bất ngờ, sự gợi nhắc đột ngột (vì đôi khi dường như ta sắp nói, hoặc đã nói trong một kiếp trước, điều mà Shakespeare đang nói), kèm theo việc đọc thơ, mang lại sự phấn khích và mãnh liệt cho nó. Nhưng việc đọc như thế, dù có ý thức hay không, đòi hỏi sự căng thẳng và tỉnh táo cao độ của các năng lực, của lý trí không kém gì trí tưởng tượng. Ta luôn kiểm chứng những tuyên bố của nhà thơ, thực hiện một so sánh nhanh chóng, trong khả năng của mình, giữa vẻ đẹp mà nhà thơ tạo ra bên ngoài và vẻ đẹp mà ta nhận thức được bên trong. Vì ngay cả người khiêm tốn nhất trong chúng ta cũng được ban tặng khả năng so sánh. Người đơn giản nhất (miễn là họ yêu thích việc đọc) đã có sẵn trong mình thứ mà họ khiến những gì được trao – bởi nhà thơ hay tiểu thuyết gia – tương ứng.
Với lời nói đó, con mèo đã ra khỏi túi. Vì sự thừa nhận rằng ta có thể so sánh, phân biệt, đưa ta đến một điểm khác. Đọc không chỉ là đồng cảm và hiểu biết; nó còn là phê phán và đánh giá. Cho đến nay, nỗ lực của chúng ta là đọc sách như cách một nhà văn viết chúng. Ta đã cố gắng hiểu, trân trọng, diễn giải, đồng cảm. Nhưng giờ đây, khi cuốn sách đã xong, người đọc phải rời khỏi vành móng ngựa và bước lên ghế quan tòa. Họ phải ngừng làm bạn; họ phải trở thành thẩm phán. Và đây không chỉ là một cách nói. Tâm trí dường như (“dường như”, vì mọi thứ diễn ra trong tâm trí đều mơ hồ) trải qua hai quá trình khi đọc. Một quá trình có thể gọi là đọc thực sự; quá trình kia là sau khi đọc. Trong quá trình đọc thực sự, khi ta cầm cuốn sách trên tay, có vô số sự phân tâm và gián đoạn. Những ấn tượng mới luôn hoàn thiện hoặc xóa bỏ những cái cũ. Phán xét của ta bị treo lơ lửng, vì ta không biết điều gì sẽ đến tiếp theo. Ngạc nhiên, ngưỡng mộ, chán nản, hứng thú, nối tiếp nhau nhanh chóng đến mức khi cuối cùng đến cuối sách, ta thường ở trong trạng thái hoàn toàn bối rối. Nó tốt hay dở? Đây là loại sách gì? Nó tốt đến mức nào? Sự ma sát của việc đọc và cảm xúc của việc đọc tạo ra quá nhiều bụi để ta tìm được câu trả lời rõ ràng cho những câu hỏi này. Nếu được hỏi ý kiến, ta không thể đưa ra. Một số phần của cuốn sách dường như chìm đi, những phần khác lại nổi bật quá mức. Khi đó, có lẽ tốt hơn là chuyển sang một hoạt động khác – đi bộ, trò chuyện, đào đất, nghe nhạc. Cuốn sách mà ta đã dành bao thời gian và suy nghĩ biến mất hoàn toàn khỏi tầm nhìn. Nhưng đột nhiên, khi ta đang nhặt một con ốc sên từ một bông hồng, buộc dây giày, làm một việc gì đó xa xôi và khác biệt, cả cuốn sách nổi lên trên bề mặt tâm trí, hoàn chỉnh. Một quá trình nào đó dường như đã hoàn tất mà ta không nhận ra. Những chi tiết khác nhau tích lũy trong khi đọc tự sắp xếp vào vị trí của chúng. Cuốn sách mang một hình dạng xác định; nó trở thành một lâu đài, một chuồng bò, một tàn tích kiểu Gothic, tùy trường hợp. Giờ đây ta có thể nghĩ về cuốn sách như một tổng thể, và cuốn sách như một tổng thể khác biệt, mang lại một cảm xúc khác, so với cuốn sách được tiếp nhận từng phần riêng lẻ. Tính đối xứng và cân đối của nó, sự hỗn loạn và méo mó của nó có thể gây ra niềm vui lớn hoặc sự chán ghét lớn, ngoài niềm vui từ từng chi tiết khi được nhận ra riêng lẻ. Giữ hình dạng hoàn chỉnh này trong tâm trí, giờ đây cần phải đưa ra một ý kiến về giá trị của cuốn sách, vì dù có thể nhận được niềm vui và hứng thú lớn nhất từ quá trình đầu tiên, việc đọc thực sự, dù điều này vô cùng quan trọng, nó không sâu sắc hay bền vững bằng niềm vui mà ta nhận được khi quá trình thứ hai – sau khi đọc – hoàn tất, và ta giữ cuốn sách rõ ràng, chắc chắn, và (trong khả năng của mình) hoàn chỉnh trong tâm trí.
Nhưng, ta có thể hỏi, làm sao để quyết định những câu hỏi này – nó tốt hay dở? Tốt đến mức nào, dở đến mức nào? Không thể trông chờ nhiều sự giúp đỡ từ bên ngoài. Các nhà phê bình thì nhiều; các bài phê bình thì tràn lan; nhưng tâm trí con người quá khác biệt để có sự tương ứng chặt chẽ trong các chi tiết, và không gì tai hại hơn việc ép chân mình vào giày của người khác. Khi muốn quyết định một trường hợp cụ thể, ta có thể tự giúp mình tốt nhất, không phải bằng cách đọc phê bình, mà bằng cách nhận ra ấn tượng của mình một cách sắc nét nhất có thể và đối chiếu điều này với những phán xét mà ta đã dần hình thành trong quá khứ. Chúng treo trong tủ quần áo của tâm trí ta – những hình dạng của các cuốn sách ta đã đọc, như cách ta treo chúng lên và cất đi khi đã xong. Nếu ta vừa đọc “Clarissa Harlowe,” ví dụ, hãy xem nó hiện lên thế nào so với hình dạng của “Anna Karenina.” Ngay lập tức, đường nét của hai cuốn sách được cắt ra đối lập nhau như một ngôi nhà với ống khói lởm chởm và mái nghiêng được cắt ra trên nền một vầng trăng mùa thu. Ngay lập tức, những phẩm chất của Richardson – sự dài dòng, sự vòng vo – được đối chiếu với sự ngắn gọn và trực tiếp của Tolstoi. Và lý do của sự khác biệt này trong cách tiếp cận của họ là gì? Và cảm xúc của ta ở những cao trào khác nhau của hai cuốn sách so sánh thế nào? Và ta phải quy kết điều gì cho thế kỷ mười tám, điều gì cho nước Nga và người dịch? Nhưng những câu hỏi nảy ra là vô số. Chúng phân nhánh vô tận, và nhiều câu dường như không liên quan. Tuy nhiên, chính bằng cách đặt ra chúng và theo đuổi câu trả lời xa nhất có thể mà ta đạt được tiêu chuẩn giá trị của mình, và cuối cùng quyết định rằng cuốn sách ta vừa đọc thuộc loại này hay loại kia, có giá trị ở mức độ này hay mức độ kia. Và chính lúc này, khi ta đã bám sát ấn tượng của mình, độc lập hình thành phán xét của mình, ta có thể tận dụng tốt nhất các phán xét của những nhà phê bình vĩ đại – Dryden, Johnson, và những người khác. Chính khi ta có thể bảo vệ ý kiến của mình tốt nhất, ta mới nhận được nhiều nhất từ họ.
Vậy thì, để tóm tắt những điểm khác nhau mà chúng ta đã đạt đến trong bài tiểu luận này – liệu ta có tìm được câu trả lời nào cho câu hỏi, làm thế nào để đọc một cuốn sách? Rõ ràng, không có câu trả lời nào phù hợp cho tất cả mọi người; nhưng có lẽ là một vài gợi ý. Trước tiên, một người đọc tốt sẽ cho nhà văn mọi cơ hội để chứng minh mình; sự hỗ trợ từ toàn bộ trí tưởng tượng của mình; sẽ theo dõi chặt chẽ, diễn giải thông minh nhất có thể. Tiếp theo, họ sẽ đánh giá với sự nghiêm khắc tối đa. Mọi cuốn sách, họ sẽ nhớ, có quyền được đánh giá theo chuẩn mực cao nhất của loại sách đó. Họ sẽ mạo hiểm, rộng rãi trong lựa chọn, trung thực với bản năng của mình, nhưng sẵn sàng xem xét bản năng của người khác. Đây là một phác thảo có thể được lấp đầy, theo sở thích và khi rảnh rỗi, nhưng đọc theo cách này là trở thành một người đọc mà các nhà văn tôn trọng. Chính nhờ những người đọc như thế mà các kiệt tác được giúp đỡ để ra đời.
Nếu các nhà đạo đức hỏi chúng ta làm sao để biện minh cho tình yêu đọc sách, ta có thể dùng một lời biện minh như thế này. Nhưng nếu ta thành thật, ta biết rằng không cần lời biện minh nào. Đúng là ta chẳng nhận được gì ngoài niềm vui từ việc đọc; đúng là người khôn ngoan nhất trong chúng ta cũng không thể nói niềm vui đó là gì. Nhưng niềm vui đó – bí ẩn, vô danh, vô dụng như nó vốn có – là đủ. Niềm vui đó kỳ diệu, phức tạp, nuôi dưỡng tâm trí của bất kỳ ai tận hưởng nó, và có tác động rộng lớn đến mức sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu, vào ngày phán xét khi các bí mật được tiết lộ và điều mơ hồ trở nên rõ ràng, ta phát hiện ra rằng lý do chúng ta đã tiến hóa từ lợn thành con người, rời khỏi hang động, bỏ cung tên, ngồi quanh đống lửa, trò chuyện, uống rượu, vui chơi, bố thí cho người nghèo, giúp đỡ người bệnh, xây vỉa hè và nhà cửa, dựng lên một nơi trú ẩn và xã hội trên mảnh đất hoang của thế giới, chẳng gì ngoài điều này: chúng ta đã yêu việc đọc.
Ngày 9 tháng Mười 2025,
Dostoyevsky mới hai bảy tuổi khi ông bị đày khổ sai ở Siberia. Bốn năm sau ông được trả tự do, nhưng vẫn bị ép ở lại để tòng quân với quân hàm hạng bét. Ông nghiêm túc phục vụ quân đội nhưng rất đau khổ vì biết rằng mình không thể nào hoà hợp với nghề binh đao – thiên hướng của ông vốn là cầm bút.
Ở tuổi ba mươi bốn, chịu hết nổi, ông đã vi phạm mọi quy tắc ứng xử để viết thư cho vị tướng đứng đầu đơn vị mình. Dưới đây là một trích đoạn của lá thư:
“Bốn năm trời đau khổ, kinh hoàng. Tôi sống với lũ trộm cắp, với những con người vô cảm, với những nguyên tắc méo mó; suốt bốn năm trời, tôi chẳng thấy và chẳng thể thấy được điều gì vui vẻ, ngoài cái hiện thực đen tối, ghê tởm nhất. Tôi chẳng có một ai kề cạnh để giãi bày dù chỉ một lời chân thành; tôi trải qua đói khát, rét mướt, bệnh tật, công việc nặng nhọc và sự hiềm oán của lũ bạn trộm cắp… Nhưng… không có nỗi đau nào lớn hơn khi tôi nhận ra… rằng mình đã bị cắt đứt khỏi xã hội, bị lưu đày, và không không thể tỏ ra hữu dụng với năng lượng, khát khao cùng khả năng của mình.”
“Binh đao không phải là lĩnh vực của tôi… Ước nguyện duy nhất của tôi là được xuất ngũ và gia nhập công chức… Nhưng tôi không coi quân dịch là mục tiêu chính của cuộc đời mình… Tôi luôn coi nghề viết văn là một nghề cao quý và hữu ích nhất. Tôi tin rằng chỉ trên con đường đó, tôi mới thực sự có ích, biết đâu đấy, ít nhất tôi cũng sẽ thu hút được dư luận, và ít nhất cũng có thể tự lo liệu được phần nào cho cuộc sống, bởi tôi chẳng có gì, ngoại trừ một ít năng khiếu văn chương, xem chừng rất nhỏ bé.”
“Tôi sẽ không giấu ông rằng ngoài mong muốn chân thành muốn đổi số phận của mình lấy một số phận khác, phù hợp hơn với thiên hướng của tôi, thì một hoàn cảnh nhất định, có lẽ hạnh phúc đời tôi phụ thuộc toàn bộ vào đó (một hoàn cảnh hoàn toàn cá nhân), đã khiến tôi trở nên táo báo đến vậy.”
“Tôi biết rằng khi viết bức thư này, tôi đã đi quá giới hạn của mình. Một tên lính trơn dám viết thư cho một sĩ quan phụ tá! Nhưng ngài rất độ lượng và tôi phó thác số phận mình ở lòng từ bi của ngài.”
Vị tướng đã động lòng trước hoàn cảnh của Dostoyevsky, và vào ngày lễ tình nhân năm 1854, Dostoyevsky được trả tự do để bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình.
Phần còn lại, như các nhà viết tiểu sử thường nói, là lịch sử.
THAM VỌNG: Bất kỳ người đàn ông nào khiến thiên hạ phải bàn tán về mình. “Tôi không tham vọng!” có nghĩa là ích kỷ hoặc bất tài.
CHÂU MỸ: Một ví dụ điển hình về sự bất công: Columbus đã khám phá ra châu Mỹ, và nó được lấy tên theo Americus Vespuce. Nếu không khám phá ra châu Mỹ, chúng ta đã không có bệnh giang mai và rệp rễ nho. Tuy vậy, cứ tung hô nó đi, nhất là khi bạn chưa từng đến đó. Cứ tiếp tục càm ràm về quyền tự chủ đi.
KIẾN TRÚC SƯ: Bọn họ đều là đám ngốc. Họ luôn quên cầu thang trong nhà.
QUÂN ĐỘI: Thành trì của xã hội.
NGHỆ THUẬT: Nó dẫn đến nhà thương. Có ích gì đâu chứ, vì chúng ta đang thay thế nó bằng những thợ máy sản xuất tốt hơn và nhanh hơn.
NGHỆ SĨ: Rặt những trò hề. Khoe khoang về lòng bác ái. Ngạc nhiên vì mình ăn mặc giống người khác. Kiếm được cả núi tiền nhưng lại phung phí. Thường được mời ăn tối trong thị trấn. Nữ nghệ sĩ chỉ có thể là gái điếm. Những gì họ làm không thể coi là công việc.
TÓC VÀNG: Nóng bỏng hơn tóc nâu.
ĐỘC THÂN: Toàn là những kẻ ích kỷ và truỵ lạc. Đám này nên bị đánh thuế. Họ đang chuẩn bị cho một tuổi già buồn thảm.
NHÀ PHÊ BÌNH: Luôn luôn xuất chúng. Được cho là thông tường tất cả, đọc tất cả, chứng kiến tất cả. Khi bạn không thích ông ta, hãy gọi ông ta là Aristarchus, hay hoạn quan.
DARWIN: Người nói rằng chúng ta có tổ tiên là loài vượn.
BẰNG CẤP: Dấu hiệu của khoa học. Không chứng minh được gì.
LY HÔN: Nếu Napoleon không ly hôn, ông ta vẫn sẽ ngồi trên ngai vàng.
DOMINO: Càng say chơi càng hay.
NƯỚC: Nước Paris gây đau bụng. Nước biển giúp bơi lội dễ dàng. Nước hoa Cologne có mùi thơm.
VIẾT: Chữ viết đẹp dẫn đến mọi thứ.
ÍCH KỶ: Phàn nàn về sự ích kỷ của người khác và không để ý đến sự ích kỷ của chính mình.
THỪA CÂN: Dấu hiệu của sự giàu có và lười biếng.
NƯỚC NGOÀI: Say mê mọi thứ đến từ nước ngoài, minh chứng cho tinh thần tự do. Phỉ báng mọi thứ không phải của Pháp, minh chứng cho lòng yêu nước.
Hermann Heese bàn về việc đọc
Mọi người đôi lúc đều đọc một cách ngây thơ. Kiểu người đọc này tiêu thụ một cuốn sách như cách người ta tiêu thụ thức ăn, anh ta ăn uống cho đến khi thỏa mãn, anh ta chỉ đơn thuần là người tiếp nhận, dù đó là một cậu bé với cuốn sách về người da đỏ, một cô hầu gái với tiểu thuyết về các nữ bá tước, hay một sinh viên với tác phẩm của Schopenhauer.
Mối quan hệ của kiểu người đọc này với cuốn sách không phải là mối quan hệ giữa người với người, mà đúng hơn là mối quan hệ giữa con ngựa với người quản lý, hoặc có lẽ là giữa con ngựa với phu đánh xe: cuốn sách dẫn dắt, người đọc đi theo. Nội dung được tiếp nhận một cách khách quan, được chấp nhận như là thực tại. Nhưng nội dung chỉ là một yếu tố cần cân nhắc mà thôi!
Cũng có những người đọc rất có học thức, rất tinh tế, đặc biệt là với văn học nghệ thuật, nhưng họ hoàn toàn thuộc về nhóm những người đọc ngây thơ… Đối với những tâm hồn đơn giản, thứ quan trọng là chất liệu, bối cảnh và hành động; còn đối với những người đọc có văn hóa này, thứ quan trọng lại là nghệ thuật, ngôn ngữ, sự trau chuốt và trí tuệ của nhà văn. (…) Kiểu người đọc này mặc định rằng một cuốn sách chỉ đơn giản là để đọc một cách trung thực và chăm chú, và được đánh giá theo nội dung hoặc hình thức của nó. Giống như một ổ bánh mì tồn tại để được ăn, và một cái giường tồn tại để nằm ngủ.
Nếu người ta thuận theo bản chất tự nhiên chứ không phải theo giáo dục, họ sẽ trở thành một đứa trẻ lần nữa và bắt đầu chơi đùa với mọi vật; chiếc bánh mì trở thành ngọn núi để đào đường hầm, và cái giường trở thành hang động, khu vườn, hoặc cánh đồng tuyết. Một phần của sự ngây thơ như trẻ nhỏ này, cái thiên tài trong trò chơi này, được thể hiện ở kiểu người đọc thứ hai. Người đọc này không trân trọng cả nội dung lẫn hình thức của cuốn sách như là giá trị quan trọng nhất. Anh ta hiểu rõ, theo cách mà trẻ con hiểu, rằng mỗi đối tượng có thể mang mười hoặc một trăm ý nghĩa đối với tâm trí. Chẳng hạn, anh ta có thể quan sát một nhà thơ hay một triết gia đang vật lộn để thuyết phục bản thân mình và người đọc này về cách giải thích và đánh giá sự vật của họ, và anh ta có thể mỉm cười vì anh ta nhìn thấy trong cái vẻ lựa chọn và tự do rõ ràng của nhà thơ chỉ là sự cưỡng bách và tính bị động.
Kiểu người đọc này đã đạt đến một trình độ cao đến mức anh ta hiểu được điều mà hầu hết các giáo sư văn học và nhà phê bình văn học hoàn toàn không biết: đó là không hề có thứ gọi là sự lựa chọn tự do về chất liệu hay hình thức. (…) Chiếu theo quan điểm này, cái gọi là giá trị thẩm mỹ gần như biến mất, và chính những sai sót, rủi ro và sự thiếu chắc chắn của nhà văn lại có thể mang đến sức hấp dẫn và giá trị lớn lao nhất. Vì người đọc này đi theo nhà thơ không phải theo cách con ngựa tuân lệnh người đánh xe, mà theo cách thợ săn lần theo con mồi, và một cái nhìn thoáng qua bất chợt vào điều nằm ngoài sự tự do bề ngoài của nhà thơ, vào sự cưỡng bách và tính bị động của họ, có thể làm anh ta mê hoặc hơn tất cả sự tao nhã của kỹ thuật điêu luyện và văn phong trau chuốt.
Kiểu người đọc thứ ba và cuối cùng… bề ngoài dường như là sự đối lập hoàn toàn với điều mà người ta thường gọi là người đọc “giỏi”. Anh ta hoàn toàn là một cá nhân, là chính mình đến mức đối diện với các tác phẩm bằng sự tự do tuyệt đối. Anh ta không muốn tự giáo dục hay tự tiêu khiển, anh ta sử dụng một cuốn sách chính xác như bất kỳ đối tượng nào khác trên đời; đối với anh ta, đó đơn giản chỉ là một điểm khởi đầu và một sự kích thích. Về cơ bản, việc anh ta đọc gì cũng không tạo ra khác biệt. Anh ta không cần đọc một triết gia để học hỏi từ họ, để tiếp thu giáo huấn, hoặc để công kích hay phê bình họ. Anh ta không đọc một nhà thơ để chấp nhận cách giải thích thế giới của người đó; anh ta tự mình giải thích thế giới. Nếu muốn, bạn có thể xem anh ta hoàn toàn là một đứa trẻ. Anh ta chơi đùa với mọi thứ – và từ một góc độ nào đó, không có gì mang lại nhiều kết quả và đáng giá hơn việc chơi đùa với mọi thứ. Nếu người đọc này tìm thấy một câu văn đẹp, một chân lý, một lời thông tuệ trong sách, anh ta sẽ bắt đầu bằng việc thử nghiệm lật ngược nó. Kiểu người đọc này đã biết từ lâu rằng, đối với mỗi chân lý thì điều ngược lại cũng là sự thật. Anh ta đã biết từ lâu rằng, mỗi quan điểm trí tuệ đều là một cực, và luôn tồn tại một đối cực có giá trị tương đương.
Anh ta là một đứa trẻ ở chỗ anh ta đề cao lối tư duy liên tưởng, nhưng anh ta cũng am hiểu cả lối tư duy khác nữa. Người đọc này có khả năng, hay đúng hơn là mỗi người trong chúng ta đều có khả năng, ở thời điểm đạt đến trạng thái này, để đọc bất cứ thứ gì mình thích, dù là tiểu thuyết hay sách ngữ pháp, lịch trình tàu hoả, hay bản in thử từ nhà in. Vào khoảnh khắc mà trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng của chúng ta đạt đến đỉnh cao, chúng ta thực sự không còn đọc những gì được in trên giấy nữa, mà đang thả mình trong một dòng chảy của những xúc cảm và cảm hứng tuôn ra từ thứ chúng ta đang đọc. Chúng có thể tuôn ra từ chính văn bản, hoặc có thể đơn thuần bắt nguồn từ kiểu chữ.
Một quảng cáo trên báo cũng có thể trở thành một khải thị; những ý nghĩ phấn khởi nhất, xác quyết nhất có thể nảy sinh từ một từ ngữ hoàn toàn không liên quan, nếu ta lật ngược nó lại, chơi đùa với các chữ cái như với một trò chơi xếp hình.
Ở giai đoạn này, người ta có thể đọc “Cô bé quàng khăn đỏ” như một vũ trụ học hay một triết lý, hoặc như một bài thơ tình yêu hoa lệ. Hoặc người ta có thể đọc nhãn “Colorado maduro” trên hộp xì gà, chơi đùa với các từ, chữ cái, và âm thanh, và qua đó thực hiện một chuyến du hành qua hàng trăm vương quốc của tri thức, ký ức và suy tưởng.
Kiểu người đọc thứ ba này đại diện cho sự tự do tuyệt đối và khả năng kiến tạo ý nghĩa vô hạn, nơi văn bản chỉ là chất xúc tác. Mối quan hệ giữa người đọc và văn bản lúc này không còn là giữa chủ thể và đối tượng, mà là một sự giao thoa, trong đó, trí tuệ và kinh nghiệm của người đọc làm lu mờ hoàn toàn tính cố định của văn bản, biến mọi thứ được in ấn thành nguyên liệu để sáng tạo.
Người đọc ở giai đoạn cuối cùng đó không còn là người đọc nữa. Người nào cứ mãi ở trạng thái này sẽ sớm không đọc bất cứ thứ gì nữa, bởi vì họa tiết trên một tấm thảm hay cách sắp xếp những viên đá trên một bức tường sẽ có giá trị hoàn toàn tương đương với trang sách đẹp nhất đầy những con chữ được xếp đặt tốt nhất. Cuốn sách duy nhất dành cho anh ta sẽ là một trang có đầy đủ các chữ cái trong bảng chữ cái.
Cứ cho là như vậy: người đọc ở giai đoạn cuối cùng thực sự không còn là người đọc nữa, anh ta chẳng màng gì đến Goethe, anh ta không đọc Shakespeare. Người đọc ở giai đoạn cuối cùng đơn giản là không còn đọc nữa. Tại sao cần sách? Chẳng phải anh ta đã có cả thế giới ngay trong chính bản thân mình rồi sao?
Bất cứ ai cứ mãi ở lại giai đoạn này sẽ không đọc gì nữa, nhưng không một ai ở lại đây vĩnh viễn. Tuy nhiên, người nào chưa từng làm quen với giai đoạn này là một người đọc kém cỏi, một người đọc chưa trưởng thành. Anh ta không biết rằng tất cả thi ca và tất cả triết lý trên đời cũng nằm ngay trong chính bản thân anh ta, rằng thi sĩ vĩ đại nhất cũng chẳng rút ra từ nguồn nào khác ngoài nguồn mà mỗi người chúng ta đều có trong bản thể mình.
Bạn hãy thử một lần trong đời, hãy ở lại một giờ, một ngày tại giai đoạn thứ ba, giai đoạn không-còn-đọc-nữa. Sau đó (thật dễ dàng để giật lùi), bạn sẽ trở thành một người đọc tốt hơn biết bao, một người lắng nghe và phiên giải tốt hơn biết bao đối với mọi thứ được viết ra.
Hãy đứng một lần ở giai đoạn mà hòn đá bên đường có ý nghĩa với bạn cũng nhiều như Goethe và Tolstoy, sau đó bạn sẽ thu hoạch được từ Goethe, Tolstoy, và tất cả các thi sĩ, vô vàn giá trị hơn, nhiều nhựa sống và mật ngọt hơn, nhiều sự khẳng định cuộc sống và chính bản thân bạn hơn bao giờ hết. Bởi vì các tác phẩm của Goethe không phải là Goethe, và các tập sách của Dostoevsky không phải là Dostoevsky; chúng chỉ là một nỗ lực, một nỗ lực còn đáng ngờ và không bao giờ thành công trọn vẹn, để gợi lên thế giới đa thanh, đa diện mà người nghệ sĩ là trung tâm.
(…) Giấc mơ là cánh cửa mở ra để bạn nhìn thấu vào nội dung tâm hồn mình, và nội dung này chính là thế giới, không hơn không kém, chính là cả thế giới từ khi bạn sinh ra cho đến hôm nay, từ Homer đến Heinrich Mann, từ Nhật Bản đến Gibraltar, từ sao Sirius đến Trái Đất, từ Cô Bé Quàng Khăn Đỏ đến Bergson. Và theo mức độ mà nỗ lực ghi chép giấc mơ của bạn liên quan đến cái thế giới bao hàm giấc mơ đó, thì tác phẩm của một tác giả cũng liên quan đến điều mà người đó đã cố gắng nói.
Nếu chưa từng nhận ra điều này, dù chỉ một lần, với tất cả sự đầy đủ vô hạn và ý nghĩa vô tận của nó, bạn sẽ đứng trước mọi nhà thơ và nhà tư tưởng trong tình trạng bị hạn chế; bạn lấy cái nhỏ nhoi làm toàn bộ, bạn tin vào những cách giải thích chỉ vừa chạm đến bề mặt.
Giai đoạn thứ ba – nơi bạn là chính mình nhất – sẽ chấm dứt việc đọc của bạn, sẽ hòa tan thi ca, hòa tan nghệ thuật, hòa tan lịch sử thế giới. Tuy nhiên, trừ phi bạn cảm nhận được bằng trực giác giai đoạn này, nếu không, bạn sẽ không bao giờ đọc bất kỳ cuốn sách nào, bất kỳ khoa học hay nghệ thuật nào, ngoài vai trò của một học sinh đọc sách ngữ pháp của mình.
Ngày 10 tháng Mười năm 2025,
Sách khuyến đọc bởi Gabriel García Márquez
1. Núi thần, Thomas Mann
Thành công vang dội của Núi thần của Thomas Mann… đòi hỏi sự can thiệp của thầy hiệu trưởng để ngăn chúng tôi thức trắng đêm, cốt để ngóng chờ nụ hôn giữa Hans Castorp và Clavdia Chauchat. Hay sự căng thẳng hiếm có khi tất cả chúng tôi ngồi bật dậy trên giường để không bỏ sót một lời nào trong những cuộc đấu khẩu triết học hỗn loạn giữa Naptha và người bạn Settembrini. Buổi đọc đêm đó kéo dài hơn một tiếng đồng hồ và được chào đón bằng một tràng pháo tay rầm rộ trong ký túc xá.
2. Người đàn ông mang mặt nạ sắt, Alexandre Dumas
3. Ulysses, James Joyce
Một ngày nọ, Jorge Álvaro Espinosa, một sinh viên luật đã dạy tôi thông thạo Kinh Thánh và bắt tôi phải học thuộc lòng cả tên đầy đủ của các bạn Job, đã đặt một cuốn sách dày cộp, đồ sộ lên bàn trước mặt tôi và tuyên bố với giọng uy quyền như một đức giám mục:
“Đây là cuốn Kinh Thánh thứ hai.”
Đó dĩ nhiên là tác phẩm Ulysses của James Joyce, mà tôi đã đọc từng đoạn một, lúc thì nhiệt tình, lúc thì chán nản, cho đến khi tôi hoàn toàn mất hết kiên nhẫn. Đó là một sự liều lĩnh quá sớm. Nhiều năm sau, khi đã trở thành một người trưởng thành điềm đạm, tôi tự đặt ra nhiệm vụ đọc lại nó một cách nghiêm túc, và cuốn sách không chỉ giúp tôi khám phá ra một thế giới chân thực mà tôi chưa từng ngờ tới bên trong mình, mà còn cung cấp cho tôi sự hỗ trợ kỹ thuật vô giá trong việc giải phóng ngôn ngữ, cũng như cách xử lý thời gian và cấu trúc trong các tác phẩm của mình.
4. Âm thanh và cuồng nộ, William Faulkner
Tôi nhận ra rằng cuộc phiêu lưu đọc Ulysses năm hai mươi tuổi, và sau này là Âm thanh và cuồng nộ, là những hành động táo bạo quá sớm và không có tương lai. Vì vậy, tôi quyết định đọc lại chúng với một cái nhìn ít định kiến hơn. Quả thật, phần lớn những gì từng có vẻ uyên bác một cách khô khan hoặc khó hiểu trong tác phẩm của Joyce và Faulkner đã hiện ra trước mắt tôi lúc bấy giờ với một vẻ đẹp và sự giản dị đáng kinh ngạc.
5. Khi tôi nằm chết, William Faulkner
6. Cọ hoang, William Faulkner
7. Bi kịch của chàng Oedipus, Sophocles
8. Nhà có bảy đầu hồi, Nathaniel Hawthorne
9. Túp lều bác Tom, Harriet Beecher Stowe
10. Moby Dick – Cá voi trắng, Herman Melville
11. Sons and Lovers, D.H. Lawrence
12. Nghìn lẻ một đêm
13. Hoá thân, Franz Kafka
Tôi không bao giờ có thể ngủ với sự thanh thản như trước nữa. [Cuốn sách này] đã định một lối đi mới cho cuộc đời tôi ngay từ câu đầu tiên, một câu mà ngày nay là một trong những thủ pháp vĩ đại của văn học thế giới: “Khi Gregor Samsa thức dậy một buổi sáng sau những giấc mơ không yên, anh thấy mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ trên giường.”
14. Aleph, Jorge Luis Borges
15. Tuyển tập truyện ngắn của Ernest Hemingway
16. Point Counter Point, Aldous Huxley
17. Của chuột và người, John Steinbeck
18. Chùm nho thịnh nộ, John Steinbeck
19. Tobacco Road, Erskine Caldwell
20. Tuyển tập truyện ngắn của Katherine Mansfield
21. Manhattan Transfer, John Dos Passos
22. Portrait of Jennie, Robert Nathan
23. Orlando, Virginia Woolf
24. Bà Dalloway, Virginia Woolf
Đó là lần đầu tiên tôi nghe tên của Virginia Woolf, người mà anh ấy [Gustavo Ibarra] gọi là Bà già Woolf, giống như Ông già Faulkner. Sự kinh ngạc của tôi đã truyền cảm hứng cho anh ấy đến mức phát cuồng. Anh ấy túm lấy chồng sách yêu thích đã khoe với tôi rồi đặt tất cả vào tay tôi.
Anh ấy nói: “Đừng có ngốc,” (hoặc: “Đừng có dở chứng,”) “cầm hết đi, và khi cậu đọc xong, dù cậu ở đâu, chúng tôi cũng sẽ đến lấy lại.”
Đối với tôi, đó là một kho báu không thể tưởng tượng nổi, tôi không dám mạo hiểm vì lúc đó tôi còn không có nổi một cái góc tồi tàn để cất giữ chúng. Cuối cùng, anh ấy đành chịu thua và đưa cho tôi bản dịch tiếng Tây Ban Nha của tác phẩm Bà Dalloway của Virginia Woolf, kèm theo một lời tiên đoán không thể chối cãi rằng tôi sẽ học thuộc lòng cuốn sách này.
Tôi đi về [nhà] với dáng vẻ của một người vừa khám phá ra cả thế giới.
Ngày 14 tháng Mười năm 2025,
Hóa ra, ngay cả “mẹ đẻ” của những chuyện tình làng quê lãng mạn cũng từng phải đối mặt với lời mời gọi “làm giàu không khó” một cách cực kỳ… lố bịch.
Số là, sau khi cuốn Mansfield Park của bà thất bại thương mại thảm hại vào năm 1815, suýt nữa vét sạch lợi nhuận từ cuốn Emma bán chạy trước đó, bà Austen đang ở thế bí tài chính. Đúng lúc đó, một quý ngài tên là Mr. Clarke – thư ký riêng của Hoàng tử Leopold – đã đánh hơi thấy “tài năng” (và sự kẹt tiền) của bà.
Mr. Clarke, với tư cách là người của Hoàng gia, gửi thư cho Jane Austen với một ý tưởng “kinh doanh” tuyệt vời: “Cô nên viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử để ca ngợi, minh họa về Hoàng tộc Coburg!”
Nói thẳng ra là: “Cô Jane ơi, hãy bỏ mấy chuyện thơ thẩn chốn làng quê đi. Viết đại một cuốn quảng cáo PR hào nhoáng cho Hoàng tử là đảm bảo tiền về ào ào!” (Nghe y hệt mấy lời mời làm clickbait câu view thời nay).
Thật may, Jane Austen không phải dạng vừa. Trong bức thư đáp từ vào tháng 4 năm 1816, bà đã từ chối một cách đỉnh cao và cực kỳ hóm hỉnh, xứng đáng được in lên tờ tiền (mà sau này bà đã thực sự được in lên!).
Nội dung lá thư như sau:
“Kính gửi Ngài,
Tôi vô cùng vinh dự khi nhận được lời cảm tạ từ Hoàng tử và hết sức biết ơn Ngài đã ưu ái đề cập đến tác phẩm của tôi.
Ngài thật tử tế khi gợi ý về thể loại sáng tác có thể mang lại danh tiếng cho tôi vào thời điểm hiện tại. Tôi hoàn toàn nhận thức rõ rằng một cuốn tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, dựa trên câu chuyện về Hoàng tộc Saxe-Coburg, sẽ có thể mang lại lợi nhuận hoặc sự phổ biến cao hơn rất nhiều so với những “bức tranh về đời sống gia đình nơi thôn quê” mà tôi vẫn thường viết.
Tuy nhiên, tôi xin thú thật rằng, tôi không thể viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn như thế, cũng như tôi không thể viết một trường ca anh hùng vậy.
Tôi không thể nghiêm túc ngồi xuống để chấp bút một câu chuyện lãng mạn nghiêm túc, trừ khi động cơ duy nhất là để cứu lấy mạng sống của tôi. Và nếu việc đó bắt buộc tôi phải giữ vẻ nghiêm trang, không bao giờ được thư giãn mà bật cười nhạo chính mình hay người khác, thì tôi chắc chắn rằng tôi sẽ bị treo cổ trước khi hoàn thành chương đầu tiên.
Không, tôi phải giữ vững phong cách của riêng mình và tiếp tục theo con đường của riêng tôi. Dù có thể tôi sẽ không bao giờ thành công nữa với phong cách ấy, tôi tin chắc rằng tôi sẽ hoàn toàn thất bại với bất kỳ lối viết nào khác.
Tôi xin gửi lời chào kính trọng, Ngài thân mến,
Người bạn vô cùng biết ơn và chân thành của Ngài,
J. Austen.”
Và Jane Austen đã làm đúng như vậy. Ngay sau bức thư đó, bà bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết cuối cùng của mình, ban đầu tên là The Elliots, sau này được xuất bản sau khi bà mất với tựa đề quen thuộc: Persuasion (Thuyết phục).
Chuyện kể rằng, sau này, Jane Austen được vinh danh là người phụ nữ thứ ba xuất hiện trên tờ tiền giấy của Ngân hàng Anh. Bà không cần “bán mình” để nổi tiếng, cô chỉ cần trung thành với chất hài hước và phong cách riêng của mình.
Đúng như nhà văn Bill Watterson (tác giả Calvin và Hobbes) từng nói: “Bán mình đi, tức là bạn đang mua hệ thống giá trị, luật lệ, và phần thưởng của người khác.” Rõ ràng, Jane Austen đã quyết định không mua. Bà tự tạo ra cả một ngân hàng văn học cho riêng mình.
Ngày 17 tháng Mười năm 2025,
Vào mùa thu năm 1938, cô sinh viên năm hai Frances Turnbull đã gửi một truyện ngắn mới sáng tác của mình tới F. Scott Fitzgerald, người bạn của gia đình. Và lá thư phản hồi của tác giả Đại gia Gatsby xứng đáng được đem ra nói ở đây.
Lá thư như sau:
Frances thân mến,
Chú đã đọc kỹ truyện ngắn của cháu và, Frances à, chú e rằng cái giá để làm nghề viết chuyên nghiệp cao hơn nhiều so với những gì cháu sẵn lòng trả lúc này.
Cháu phải bán cả trái tim mình, bán những phản ứng mãnh liệt nhất của cháu, chứ không phải những chuyện vặt vãnh chỉ khẽ lướt qua tâm hồn, những trải nghiệm cỏn con có thể kể vu vơ bên bàn ăn tối. Điều này đặc biệt đúng khi cháu mới bắt đầu viết, khi cháu chưa phát triển được các mánh lới để thu hút người đọc trên trang giấy, khi cháu chưa có chút kỹ thuật nào – thứ cần thời gian mới học được. Nói tóm lại, khi cháu chỉ có cảm xúc của mình để bán.
Đây là kinh nghiệm của tất cả những nhà văn. Dickens đã phải đưa vào Oliver Twist sự căm phẫn nồng nhiệt của một đứa trẻ bị ngược đãi và bỏ đói – những ám ảnh đeo đẳng suốt thời thơ ấu của ông. Những truyện ngắn đầu tay của Ernest Hemingway, trong tập In Our Time, đã lặn sâu xuống tận cùng những gì ông từng cảm thấy và trải qua. Trong This Side of Paradise, chú đã viết về một mối tình vẫn còn rỉ máu tươi rói như vết thương trên da của một người mắc bệnh máu khó đông.
Người viết nghiệp dư, thấy cách người chuyên nghiệp – sau khi đã học hết những gì cần học về viết lách – có thể lấy một chuyện nhỏ nhặt, chẳng hạn như những phản ứng hời hợt nhất của ba cô gái vô danh, và biến nó thành một tác phẩm dí dỏm và duyên dáng, thì nghĩ rằng mình cũng có thể làm được điều tương tự. Nhưng người nghiệp dư chỉ có thể hiện thực hóa khả năng truyền tải cảm xúc của mình đến người khác bằng một phương cách liều lĩnh và triệt để như việc xé toạc câu chuyện tình bi kịch đầu tiên ra khỏi tim và bày nó lên trang giấy cho người đời xem.
Dù sao đi nữa, đó là cái giá của tấm vé vào cửa. Cháu có sẵn lòng trả nó không, hay liệu nó có phù hợp hoặc mâu thuẫn với quan niệm của cháu về cái gọi là điều ‘tử tế’ hay không, đó là điều cháu phải tự quyết lấy. Nhưng văn chương, ngay cả văn chương giải trí bông lơn, cũng sẽ không chấp nhận thứ gì ít hơn thế từ người mới vào nghề. Đây là một trong những nghề nghiệp đòi hỏi sự ‘toàn tâm toàn ý’. Cháu sẽ chẳng hứng thú gì với một người lính chỉ hơi hơi dũng cảm thôi, đúng không?
Chiếu theo điều này, chú thấy việc phân tích tại sao truyện ngắn này của cháu không bán được là không đáng. Nhưng chú quý mến cháu quá, nên chú không thể cứ vờ vịt mà động viên cháu mãi được, như cách người ta thường làm ở tuổi chú.
Nếu cháu thực sự quyết định kể những câu chuyện của mình, sẽ không có ai hứng thú bằng chú đâu.
Người bạn cũ của cháu, F. Scott Fitzgerald
T.B. Chú phải nói rằng lối viết của cháu trôi chảy, dễ chịu, và một số trang rất ấn tượng và duyên dáng. Cháu có tài năng – điều này cũng giống như việc một người lính có đủ điều kiện thể chất để vào trường West Point vậy.
Chậc chậc, giá như hồi tôi mới bắt đầu viết cũng gặp được một mentor tận tâm như thế này. Chỉ biết ước…
Lời khuyên viết lách của John Steinbeck
Hãy gạt đi ý nghĩ rằng bạn phải hoàn thành được nó. Hãy quên đi con số 400 trang và tập trung viết một trang mỗi ngày, điều đó sẽ hữu ích. Rồi đến khi nó thực sự hoàn thành, bạn sẽ luôn cảm thấy bất ngờ.
Hãy viết một cách tự do và nhanh nhất có thể, trút toàn bộ mọi thứ lên giấy. Đừng bao giờ sửa chữa hay viết lại cho đến khi toàn bộ tác phẩm được hoàn thành. Việc chỉnh sửa ngay trong lúc viết thường được xem là một cái cớ để khỏi phải viết tiếp. Nó cũng cản trở dòng chảy và nhịp điệu, vốn chỉ có thể đến từ một loại liên kết vô thức với chất liệu (câu chuyện) của bạn.
Hãy quên đi độc giả đại chúng. Thứ nhất, độc giả vô danh, không mặt mũi sẽ dọa bạn sợ chết khiếp; thứ hai, không giống như sân khấu, độc giả đó không hề tồn tại trong viết lách. Trong viết, độc giả của bạn chỉ là một người đọc duy nhất. Tôi thấy rằng đôi khi, việc chọn ra một người – một người thật mà bạn biết, hoặc một người bạn tưởng tượng – và viết cho người đó sẽ giúp ích rất nhiều.
Nếu một phân cảnh hay một đoạn nào đó làm bạn bế tắc, nhưng bạn vẫn nghĩ rằng mình muốn nó – hãy tạm gạt sang bên và tiếp tục. Khi bạn đã hoàn thành toàn bộ tác phẩm, bạn có thể quay lại. Lúc đó, bạn có thể nhận ra lý do nó gây rắc rối là vì nó vốn dĩ không thuộc về đó.
Hãy cẩn thận với một phân đoạn mà bạn đâm ra quá thích thú, yêu quý nó hơn cả phần còn lại. Thông thường, đó sẽ là phân đoạn bị lệch lạc so với tổng thể.
Nếu bạn đang viết lời thoại – hãy đọc to thành tiếng khi bạn viết. Chỉ khi đó, lời thoại mới mang âm hưởng của một cuộc trò chuyện thực sự.
Tiểu thuyết bị loại khỏi danh sách “đọc sách nghiêm túc.” Thế nên, quý ông nào đang rắp tâm tự trau dồi tri thức, định dành chín mươi phút, ba lần mỗi tuần, để nghiền ngẫm trọn bộ tác phẩm của Charles Dickens, xin hãy mau chóng đổi kế hoạch. Lý do không phải vì tiểu thuyết thiếu nghiêm túc – bởi lẽ, một phần vĩ đại của văn chương thế giới lại chính là văn xuôi hư cấu – mà vì: tiểu thuyết dở thì tuyệt đối không nên đọc, còn tiểu thuyết hay thì lại chẳng hề đòi hỏi sự vận dụng trí óc đáng kể nào từ độc giả.
Chỉ những đoạn dở trong tiểu thuyết của Meredith mới gây khó khăn. Một cuốn tiểu thuyết hay sẽ cuốn bạn đi như chiếc thuyền con xuôi dòng, và bạn sẽ đến đích, có thể thở dốc, nhưng tuyệt nhiên không hề kiệt sức. Những tiểu thuyết xuất sắc nhất là những cuốn ít gây căng thẳng nhất.
Mà gượm đã, trong công cuộc trau dồi trí tuệ, một yếu tố quan trọng bậc nhất lại chính là cảm giác căng thẳng, cảm giác khó nhọc, cảm giác về một công việc mà một phần tâm trí bạn khao khát chinh phục, còn một phần khác lại muốn lẩn tránh. Cảm giác ấy, bạn sẽ chẳng thể nào tìm thấy khi đối diện với một cuốn tiểu thuyết. Bạn không cần phải nghiến răng nghiến lợi để đọc Anna Karenina. Vì lẽ đó, dù bạn nên đọc tiểu thuyết, thì cũng đừng nên đọc chúng trong chín mươi phút quý báu ấy.
Thơ ca giàu trí tưởng tượng lại tạo ra sự căng thẳng tinh thần lớn hơn nhiều so với tiểu thuyết. Có lẽ, nó tạo ra sự căng thẳng dữ dội nhất trong mọi loại hình văn chương. Thơ ca là hình thức văn chương cao quý nhất, mang lại khoái cảm tối thượng và truyền thụ thứ trí tuệ siêu việt. Tóm lại, chẳng có gì sánh được. Tôi nói điều này với một nỗi buồn thấm thía khi ý thức được rằng đa phần nhân loại không hề đọc thơ.
Tôi tin rằng, nếu phải lựa chọn giữa việc đọc Thiên đường đã mất (Paradise Lost) và việc mặc bao bố quỳ gối đi vòng quanh quảng trường Trafalgar vào giữa trưa, thì nhiều người lương thiện sẽ chọn vế sau để chịu đựng sự chế giễu của công chúng. Dẫu vậy, tôi sẽ không bao giờ ngừng khuyên nhủ bạn bè và kẻ thù của mình rằng: hãy đọc thơ trước bất cứ thứ gì khác.
Nếu thơ ca là một “quyển sách đóng kín” với bạn, hãy bắt đầu bằng cách đọc tiểu luận trứ danh của Hazlitt về bản chất của “thơ ca nói chung.” Đây là tác phẩm xuất sắc nhất thuộc thể loại này trong văn chương Anh, và bất cứ ai đã đọc nó thì không thể nào hiểu lầm rằng thơ là một hình thức tra tấn thời trung cổ, là một con voi điên, hay một khẩu súng tự cướp cò giết người ở khoảng cách bốn mươi bước. Quả thực, khó mà hình dung được trạng thái tinh thần của người nào mà sau khi đọc tiểu luận của Hazlitt lại không thấy khao khát đọc ngay một vài vần thơ trước bữa ăn kế tiếp. Nếu tiểu luận đó có thể truyền cảm hứng cho bạn, tôi xin đề xuất rằng bạn hãy khởi đầu với thơ ca thuần tự sự.
Có một cuốn tiểu thuyết Anh còn tinh tế hơn vô vàn so với bất cứ tác phẩm nào của George Eliot, của chị em nhà Brontë, hay thậm chí là Jane Austen, được viết bởi một phụ nữ mà có lẽ bạn chưa từng đọc. Tác phẩm ấy mang tên Aurora Leigh, tác giả là E.B. Browning. Nó tình cờ được viết bằng thơ và chứa đựng một lượng đáng kể những vần thơ thực sự tuyệt diệu.
Hãy quyết tâm đọc hết cuốn sách đó, dù có phải “hy sinh” vì nó. Hãy quên đi việc nó là thơ hay. Đọc nó đơn thuần chỉ vì câu chuyện và những ý tưởng xã hội trong đó. Và khi hoàn thành, hãy tự hỏi bản thân một cách thành thật rằng bạn còn ghét thơ nữa không. Tôi đã biết không ít người nhờ Aurora Leigh mà chứng minh được rằng, việc họ từng cho rằng mình ghét thơ hoàn toàn là sai lầm.
Dĩ nhiên, nếu sau khi đọc Hazlitt, và sau cuộc thử nghiệm đã được soi sáng bởi Hazlitt, mà bạn vẫn quả quyết rằng có một cái gì đó bên trong bạn chống cự thơ ca, thì bạn phải chấp nhận hài lòng với lịch sử hoặc triết học. Tôi sẽ tiếc nuối, nhưng không đến nỗi sầu não không nguôi. Sự suy vong và sự sụp đổ của Đế chế La Mã (The Decline and Fall) không thể đặt chung mâm với Thiên đường đã mất, nhưng nó là một thứ tuyệt vời đáng giá; còn Những nguyên lý đầu tiên (First Principles) của Herbert Spencer thì đơn giản là cười nhạo mọi tuyên bố của thơ ca và từ chối được thừa nhận là bất cứ thứ gì khác ngoài sản phẩm hùng vĩ nhất của trí tuệ con người.
Tôi không cho rằng cả hai tác phẩm này đều phù hợp với một tay mơ trong việc rèn luyện trí não. Nhưng tôi không thấy có lý do gì khiến một người đàn ông có trí tuệ trung bình lại không thể đủ sức tấn công những kiệt tác tối thượng của lịch sử hoặc triết học sau một năm đọc ròng rã. Cái thuận tiện bậc nhất của các kiệt tác chính là chúng minh triết một cách đáng kinh ngạc.
Tôi không gợi ý một tác phẩm cụ thể nào để bắt đầu. Trong khuôn khổ hạn hẹp này, nỗ lực đó sẽ là công cốc. Nhưng tôi có hai gợi ý chung mang tầm quan thiết nhất định.
Thứ nhất là hãy xác định hướng đi và phạm vi nỗ lực của bạn. Hãy chọn một giai đoạn giới hạn, một chủ đề giới hạn, hoặc một tác giả duy nhất. Hãy tự nhủ: “Tôi sẽ tìm hiểu tường tận về Cách mạng Pháp, hay về sự trỗi dậy của đường sắt, hoặc toàn bộ tác phẩm của John Keats.” Và trong một khoảng thời gian đã được định trước, hãy tự giới hạn mình với sự lựa chọn đó. Có vô vàn khoái cảm đến từ việc trở thành một chuyên gia (dù là nghiệp dư).
Gợi ý thứ hai là: hãy suy nghĩ song song với việc đọc. Tôi biết có những người cứ đọc và đọc, nhưng những gì họ thu được cũng chỉ ngang việc cắt bánh mì và bơ mà thôi. Họ tìm đến việc đọc như những người khác tìm đến rượu. Họ phóng qua các vùng đất văn chương bằng xe hơi, mục tiêu duy nhất là sự dịch chuyển. Họ sẽ khoe khoang mình đã đọc bao nhiêu cuốn sách trong một năm.
Trừ khi bạn dành ít nhất bốn mươi lăm phút để suy ngẫm cẩn thận, mệt nhọc (ban đầu sẽ là một sự phiền toái khủng khiếp) về những gì bạn đang đọc, nếu không, chín mươi phút mỗi đêm của bạn sẽ bị lãng phí. Điều này có nghĩa là bạn phải đọc chậm.
Đừng bận tâm.
Hãy quên đi đích đến; chỉ nghĩ đến khung cảnh xung quanh mà thôi. Và sau một thời gian, có lẽ khi bạn ít ngờ tới nhất, bạn sẽ đột nhiên thấy mình đang ở trong một thị trấn xinh đẹp trên đỉnh đồi.
Trong căn phòng rẻ nhất của dãy nhà tập thể trung tâm cơ khí Hà Nội, Thành Nam, một sinh viên quá hạn trường X., đang ngồi bất động và nghiến răng ken két. Vì chửi đổng nãy giờ nên miệng cậu khô ran, đầu óc bí bách. Dù bụng réo inh ỏi từ sáng nhưng cậu quyết không đứng dậy, nghiền ngẫm mãi về những nhận xét của hội đồng chấm thi. Suốt hai tuần nay cậu mất ăn mất ngủ để chuẩn bị đồ án tốt nghiệp, cất công sửa soạn hơn tám mươi trang, rồi chữa đi, chữa lại, thế mà bài làm vẫn bị chê tơi tả. Một giáo sư tóc mai bạc trắng ghi bên lề độc một dòng “ngán ngẩm quá!” rồi chấm bài cậu không đạt. Đã là lần thứ hai! Cậu không khỏi không nhớ đến những bạn học cấp ba của mình, kể cả những đứa bất tài nhất, đều đã phe phẩy bằng tốt nghiệp trên tay và may mắn được gia đình sắp xếp cho một chức vụ ổn định… Nghĩ tới đây, lòng cậu chợt tê tái se lại…
Bên ngoài màn mưa trắng xoá khiến dãy cao ốc phía xa mờ nhạt như những đỉnh núi mù sương; trời lạnh căn cắt khiến các đốt tay tím bầm; gian phòng ọp ẹp tuồng như bê trễ theo chủ nhân, ba bịch ni-lông đen nằm chỏng chơ trong góc, bên cạnh là cái xô đựng cát của con mèo đã đi lạc hơn sáu tháng nay; trần nhà thâm thấp mà dưới ánh đèn điện lờ mờ càng trở nên thấp hơn, quang cảnh hỗn độn toát lên mùi tạm bợ, túng thiếu. Vì hết tiền, bốn hôm rồi Nam chưa gọi người tới dọn nhà, còn tự dọn lấy thì cậu không có thời gian, do đó đống rác rưởi cùng những vật dụng linh tinh cứ chây ì ra, choán một vách tường, quần áo bẩn lẫn quần áo sạch tống chung vào một ngăn tủ he hé như một cái bụng căng phồng…
Ở gian bên cạnh, cách một vách tường mỏng, P. bạn cùng phòng của Nam đang chơi điện tử. Cậu ta là sinh viên kiến trúc, hiện đang đi dạy gia sư kiếm thêm. Vì trời mưa nên cậu nằm nhà cả ngày. Chốc chốc cậu lại hú hét loạn xạ, không mảy may lưu ý đến tâm trạng bực bội của Nam.
“Mẹ cái trường khốn nạn!” Nam rủa. “Con mẹ nhà nó nữa… Mẹ kiếp, ngu ngu ngu ngu ngu! Đúng là ngu mới đâm đầu vào đây! Khổ hơn chó!”
P. gõ gõ vào liếp cửa sổ ngăn cách hai gian phòng và ngây thơ hỏi Nam làm sao thế.
“Câm mẹ mày đi!”
“Nóng thế anh bạn!”
Trong tâm trạng tức tối, sinh viên quá hạn đi đi lại lại trong phòng, bất giác đá quả bóng nhựa khiến nó đập vào tường rồi lăn lông lốc. Cậu nhìn quanh quất, thấy trong lòng tràn lên một khao khát man dại, đó là được xổ tung hết đống này lên. Bây giờ mà có một bao cát để mà đấm, mà đá, thì hả hê biết mấy! Tiếng trẻ con nô đùa ở căn nhà bên vọng sang; mỗi cuối tuần, chúng theo mẹ đến thăm bà ngoại. Đám ranh con vô tư cười cợt thoả thích, tranh cãi với nhau những chuyện nhỏ nhặt, ngọng nghịu đánh vần từng từ ngữ tiếng Anh. Phải gắng lắm Nam mới không hét lên: “Tất cả các người câm đi! Tuần nào cũng kéo đàn kéo đống đến!” Cậu nằm vật xuống giường, miệng há, nhìn trân trân lên trần nhà, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay…
Hơn mười hai giờ trưa, cậu sực tỉnh vì tiếng mở then cửa, một người con gái bước vào. Đó là Giang, bạn gái của Nam, sinh viên năm cuối trường nhân văn. Cô nhẹ nhàng thu lại chiếc ô màu xanh xanh sũng nước, dựng cạnh cửa và cúi xuống tháo quai giày; trên tay cô lắc lư một bịch nước dùng láng mỡ – đó là bữa trưa. Vừa bước vào trong, trông cảnh nhà cửa nhớp nhúa, cô kêu lên:
“Anh để cái phòng như này mà được à?”
Nam tuồng như không nghe thấy câu nói kia mà chỉ hỏi:
“Em mua cái gì đấy?”
“Anh dọn bàn đi.”
Nam uể oải bửa các chân trống của chiếc bàn gấp, ngáp ngắn ngáp dài. Cặp đôi ngồi đối diện nhau, lặng lẽ ăn. Răng Giang cầm cập vì dính mưa, cô run rẩy so vai, thân hình gầy gò của cô càng trở nên gầy gò hơn; đôi khi cô dùng một tay vén tóc, trông gương mặt cô nhợt nhạt, mệt mỏi và ủ rũ.
Ăn xong, họ chung nhau một tờ giấy chùi mép; thấy người yêu đã nguôi, cô lựa lời hỏi khẽ:
“Thế nào rồi anh?”
“Chẳng thế nào cả!” Nam đáp xẵng.
“Thôi nào, đừng có bực dọc thế.”
“Trượt rồi!”
“Sao mà trượt?”
“Trượt là trượt! Mẹ kiếp! Chúng nó cho bảo vệ online. Thế mới khổ! Bây giờ biết lấy đâu ra tiền. Đi làm được bao nhiêu nuôi cái trường khốn nạn ấy hết. Đớp sâu thật!”
Trong lúc Nam ca cẩm thì Giang đã tới cạnh bàn học và khom lưng nhìn vào màn hình máy tính.
“Người ta bảo anh làm lạc đề này!”
“Em đâu cần phải nhắc lại những cái ấy!”
“Anh tự ái quá đáng đấy! Nếu anh không thích thì thôi… nhưng đằng nào cũng phải làm lại. Mình phải biết mình sai ở đâu để còn sửa chứ.”
“Em… em không hiểu! Em cứ thử vào cái trường của anh đi rồi biết. Trường gì mà đồ án xét tốt nghiệp lại theo hình thức bài tập nhóm và xếp nhóm ngẫu nhiên. Nhóm được ba thằng thì một thằng cũng đi làm rồi như anh đây, nhưng đếch bao giờ vào họp, việc giao cũng không làm, hỏi đến thì bảo ‘Anh bận! Anh bận!’ Tiên sư nó chứ, đếch ai mà chả bận. Có mỗi anh với thằng kia hùng hục làm, mà thằng đấy nó ngu nhưng cứ cãi chem chẻm, lộn hết cả ruột!”
“Thôi, cái đấy mình tạm thời bỏ qua đi,” Giang xoa dịu người yêu. “Bây giờ phải nghĩ cách để xoay sở… Để em xem nào, tiền học lại là bao nhiêu ấy nhỉ?”
Nam nhẩm tính một lát rồi trả lời, giọng chán nản:
“Gần ba mươi triệu.”
“Anh đang có bao nhiêu?”
“Năm triệu,” Nam đáp sau một thoáng chần chừ.
“Anh gọi về nhà chưa?”
“Chẳng còn một cắc mà xin! Ông già ở quê đang nợ đầm nợ đìa, hôm trước còn gọi lên bảo gửi tiền về.”
Cả hai cùng im lặng một lát.
“Anh này?”
“Gì nữa?”
“Anh có vay không thì em cho… Em còn…”
“Vớ vẩn!”
Đoạn Nam bỏ ra ngoài hiên hút thuốc. Ngồi gập người bên thành giường, Giang bình tĩnh suy xét tình hình…
Suốt một năm qua, cô đã chứng kiến tất thảy những thay đổi lớn bé trong cuộc sống của Nam, đồng thời cả cuộc sống của chính mình, vì họ luôn kề cạnh nhau. Nam bẳn gắt, khó chiều, dễ tự ái; hiển nhiên anh có tài, anh thừa nghị lực cho những việc mình thích nhưng không có lấy mảy may chút nhẫn nại nào với những việc mình không ưa. Anh ghét thói đặt điều nhưng về phần mình, anh phán xét không kiêng nể ai và luôn đặt bản thân cao hơn những người khác. Bạn bè của Giang không thích Nam; họ thấy anh khó gần, ngạo mạn, hơn nữa anh nói tục quá nhiều, và dù không nói ra nhưng tất thảy đồng thuận rằng mối tình này sẽ chỉ lả lướt chứ chẳng dẫn đến đâu; còn Giang, cô tự khích lệ mình rằng ẩn sau vẻ ngoài tự mãn, vênh vang kia là một trái tim nóng hổi đang đập, tràn đầy hoài bão lớn lao, một tâm hồn cao thượng! Cô tin tưởng vào triển vọng của Nam còn hơn anh tin chính mình, thế nên giờ đây ngồi giữa căn phòng ảm đạm, hẩm hiu này, cô thấy trong lòng xót xa khôn tả. Cô thương người yêu quá, anh ăn uống bữa đực bữa cái mấy tuần nay, người gầy tọp cả đi, mắt thì thâm quầng vì thiếu ngủ. Cần nhanh chóng chấm dứt thảm trạng này và trở lại nếp sống thường nhật. “Phải làm sao đây, làm sao đây,” cô vừa cắn móng tay vừa nghĩ ngợi rất lung, như thể chính cô mới là người đang lâm vào thế bí, chứ không phải Nam.
Anh đã trở vào, mặt khó đăm đăm ngồi xuống đệm, vẻ ngán ngẩm, âu sầu. Chừng năm phút sau, thanh cửa lách kêu lên một tiếng rít chói tai; P. bước ra, sửa soạn đi ăn trưa.
“Ô! Chào bạn nhé!” cậu ta hí hửng nói với Giang. “Ngoài trời mưa lắm không bạn?”
“To lắm, bạn lấy ô của tôi mà che,” cô khẽ đáp.
Cậu ta liếc nhanh Nam rồi ngần ngừ đáp:
“Thôi… tôi chạy ù ra đầu ngõ ấy mà.”
Khi cậu bạn kia đi rồi, chỉ còn hai người với nhau, Giang bèn nhích sang phía Nam, lay lay bắp tay anh và rụt rè nói:
“Hay là vay thằng P. hả anh?”
“Nó thì đào đâu ra tiền.”
“Nó chẳng vừa khoe mới lĩnh tiền học bổng tuần trước còn gì! Anh quên mất à?”
Nam chợt thấy hổ thẹn vì ban nãy đã nặng lời với anh bạn cùng phòng.
“Ừ nhỉ? Anh quên mất,” anh lúng túng trả lời. “Thôi được rồi, để anh xem.”
“Ừ, lát anh vào hỏi luôn nhé, còn thiếu bao nhiêu em bù cho.”
Một lối thoát dẫu chật hẹp đến thế cũng giúp họ khuây khoả, như những giải pháp nửa vời đôi khi vẫn khiến ta an tâm. Bên ngoài trời mưa liên miên, màn trời xám xịt buồn tẻ, và có lẽ sẽ còn mưa cả ngày dài. Hôm ấy là cuối tuần, ngày mai phải trở lại văn phòng rồi, nên họ mong chờ chiều về trời sẽ ngớt dần và có thể ra ngoài lượn lờ phố xá, ăn một bữa xả xui…
Thế nhưng đến hơn chín giờ tối mưa mới tạnh, Nam tiễn Giang ra tới bãi đỗ xe. “Anh gắng lên nhé,” cô an ủi và xoa má anh, “dăm ba chuyện này nhằm nhò gì!”.
Rồi cô đi, tấm áo trùm màu xanh đen ướt sũng chìm lẫn vào màn mưa, mất hút…
Nam nặng nhọc leo ba tầng gác trở lại buồng, nhìn quanh, thở dài. Gian trong tối đèn, P. từ trưa không thấy quay trở lại. Vụ đàm phán chắc phải hoãn đến mai. Đám trẻ con nhà bên đã rời đi vào giữa chiều; bây giờ chỉ còn lại bà lão hàng xóm, cửa đóng then cài sau bữa ăn nhẹ đạm bạc buổi tối, bà tụng mõ cầu kinh một hồi rồi tắt đèn đi ngủ.
Cảnh thinh lặng giúp Nam bình tâm trở lại, cậu nghiêm cẩn dò xét cuộc đời mình. Dù lòng tự ái bị tổn thương, cậu không còn lựa chọn nào khác ngoài thi hành phương án Giang đã đề xuất. Tiền nong, dẫu khốn khó, sẽ có cách để chu toàn. Mọi chuyện rồi sẽ ổn, trước nay cậu vẫn tự nhủ mình thế. “Hồi năm nhất,” cậu nghĩ, “thi trượt mất một môn, mình tưởng đâu bầu trời sụp đổ, thế mà việc vẫn ngon ơ. Rồi cái lần bị công an tịch thu bằng, nhục nhã uất ức vô kể, sáu tháng trời trên Hà Nội phải bắt ba chuyến xe buýt đi học, không dám than thở với ai, vậy mà giờ đây chuyện chỉ thoảng qua như một cơn gió. Lần này cũng sẽ vậy thôi!”
Trong suy nghĩ của cậu, không có lấy mảy may một chút tâm tư về Giang, rằng từ việc cậu thi trượt cho đến việc cậu mất xe máy, suốt bấy tới nay, vẫn một mình cô gái chăm lo vun vén cho cái tình yêu nhỏ mọn, vô định này…
Sau đó, suốt ba tháng ròng, Nam gần như không rời bàn làm việc. Trên văn phòng công việc tẻ nhạt, người ta dành phân nửa thời gian để làm việc riêng, tối về cậu ăn uống qua loa rồi tranh thủ sửa soạn đồ án. Vì không quen nợ nần nên giờ vác nợ vào người, tính mẫn cảm trong cậu gia tăng dữ dội; cậu cảm tưởng mọi lời hỏi thăm của P. đều là: “Này, bao giờ trả tiền tao đấy?”, còn khi nó hỏi cậu sắp lĩnh lương chưa thì cậu tức tối như thể sắp bị tước đoạt. Công ty chạy sự kiện liên miên, mệt bã người, hơn nữa còn hay thức muộn nên Chủ Nhật thường trôi qua chóng vánh, vô vị, phí hoài. Đến giữa trưa thì Giang ghé qua, nàng vẫn xắn tay xăng xái bếp núc; nàng thôi ăn diện, thôi làm đỏm, thôi nhõng nhẽo và thôi ương ngạnh.
Tình yêu trong nàng đủ lớn để san bằng thiệt thòi. Có hề gì, nếu đánh đổi một vài buổi hẹn hò để vun vén cho sự nghiệp? Nam đang làm việc để lo cho tương lai của anh, mà tương lai của anh chính là tương lai hai đứa chứ đâu? Những cuối tuần sau đó, noi gương người tình, Giang cũng tranh thủ nhận thêm vài công việc phụ. Ở nhà chán, họ rủ nhau ra quán cà phê, mỗi người một việc, chụp choẹt một vài tấm hình, gọi là workdate. Họ cảm thấy tự hào ở chính mình cũng như ở đối phương vì sự phát triển song hành này. Họ có những dự thảo sáng sủa cho mai đây, họ lấp đầy cảm giác trống rỗng bằng các kỳ vọng, họ nảy ra những ý tưởng kỳ khôi, hân hoan vì chúng, nhưng không ai nhận ra chúng chỉ như than hồng trong lò, loé sáng, vương lại tàn lửa rồi tắt ngấm. Tuổi thanh xuân của họ cứ thế trôi qua, mòn mỏi, đầu tắt mặt tối, lúc nào cũng vội vã, cũng tất bật, điên cuồng như con chuột chạy trong con quay… Về đêm, họ ôm lấy nhau, tự nhủ rằng mọi khốn khó rồi sẽ qua, rằng mọi tủi nhục, thiếu thốn, chênh vênh, ở cái độ tuổi này, đều là cần thiết và xứng đáng cả!
Sáng hôm ấy khi Thịnh đến văn phòng của Ban Chỉ huy Quân sự, cửa để ngỏ, bên trong có hai người: ông chỉ huy trưởng tuổi trạc năm mươi, mặc sơ mi cộc tay cổ cồn, dáng dấp bệ vệ, mặt đỏ gay, ngồi lút sâu trong chiếc ghế bành ở giữa phòng; người ngồi cạnh cửa ra vào thì trẻ hơn, trông giống sinh viên hơn là viên chức, chừng hai mươi lăm tuổi, đang cắm cúi ghi chép gì đó.
Thịnh tiến thẳng tới bàn ông chỉ huy trưởng. Ông ta nhướng mày, dùng tay nâng gọng kính, mắt trố ra, hỏi khách bằng giọng kẻ cả rằng khách đến đây có chuyện gì. Thịnh dè dặt xưng tên, đế thêm rằng ông Hồng phó chủ tịch là chỗ quen biết, vừa chỉ anh qua đây xin giấy tạm hoãn. Nghe thế những nếp nhăn trên gương mặt phừng phực của ông chỉ huy giãn ra, và ông ta hạ giọng:
“Thế ra chỗ thằng kia.”
Thịnh gật gù quay đầu cùng lúc người trẻ tuổi ngẩng mặt lên. Đôi bên đơ ra vài giây. Hoá ra là bạn cũ!
Thịnh biết Tuấn từ những ngày cấp ba. Tuấn hơn anh bốn tuổi, bố làm cai còn mẹ cặp bồ bên nước ngoài rồi không về nữa. Đôi bên không thân thiết gì nhưng vì gần nhà nên họ chung nhau những thói tật của thời niên thiếu, và khi gặp nhau ngoài đường, họ vẫn gật đầu chào nhau chiếu lệ. Dù là người thờ ơ với ngoại hình, Thịnh ngày trẻ nhiều lần vẫn tấm tắc, hoặc ghen tỵ cũng nên, cái dáng dấp dong dỏng thon gọn của Tuấn. Nhưng bây giờ nhìn cái chóp mũi to, cái cà vạt đỏ chấm bi đen rộng bản quê mùa, cặp lông mày thưa mọc lộn xộn, cái vai rộng, cái cổ ngắn và gù, anh thấy bạn thô kệch quá. Ánh mắt cương nghị cũng không còn nữa, mà bây giờ trông tinh ranh, thậm chí phảng phất nét phỉnh lịnh. Tuấn đang so vai, bàn tay thô kệch đen đúa lật giở từng tập hồ sơ trắng muốt và vừa chấm ngón tay lên miệng, vừa hỏi hú hoạ vài lời.
“Học trường nào?”
“Bách Khoa ạ.”
“Ngành gì thế?”
“Em nói ra chắc anh cũng chẳng biết.”
“Nhưng cứ nói đi chứ!”
“Thôi được rồi, khoa công nghệ sinh học… Đấy, em bảo mà, anh biết làm sao được.”
Ông chỉ huy trưởng bước lại gần, căn dặn Tuấn vài lời gì đó rồi nhanh chóng lảng đi.
“Chuyện gì thế?” Thịnh hỏi.
“Ra xin dấu ở trạm xá.”
Đôi bạn men theo bìa rừng, chuyện trò bâng quơ và chẳng mấy đã đến trước cổng bệnh xá. Thịnh ngồi đợi ở hàng ghế đá dưới cây bằng lăng. Vài phút sau, Tuấn trở ra và tới ngồi cạnh. Họ im lặng hút thuốc.
Hôm ấy trời oi nồng, nóng bức, từ trên cao thấy màn trời xam xám vẩn đục, ngán ngẩm trông xuống một thửa ruộng cằn cỗi trải dài, cỏ dại mọc tua tủa khắp gò đê, có thể nghe rõ tiếng đưa liềm lạo xạo đều đều. Mùi khen khét từ xa đưa tới, có tiếng nổ lách tách của đống rơm gần đó. Cảnh buồn tênh, ngái ngủ, và có cảm tưởng mặt đất đang bốc hơi, còn thời gian dài mãi ra như cánh đồng trước mặt họ.
“Thế là cũng bốn, năm năm rồi đấy!” Tuấn vươn vai nói sau một cú ngáp dài. “Mới ngày nào còn ngồi quán điện tử với nhau. Mày còn chơi game không?”
“Em bỏ rồi anh ạ.”
“Ừ, cũng phải bỏ thôi! Tao thì đến tối vẫn chơi nhưng cũng ít rồi. Nhưng ngày xưa tụ tập vui thật nhỉ?”
“Ừ, vui thật! Bây giờ có muốn cũng không được nữa.”
Thịnh bỗng nhớ lại một thời ngây dại từng trốn gia đình ra quán điện tử thâu đêm suốt sáng. Những hồi ức tuổi thơ lẩn vẩn trong tâm trí anh cũng mờ nhạt như dải mây nhờ nhờ màu váng sữa kia, anh thấy lòng nhẹ nhõm và vẻ mặt anh lúc ấy nom hiền hoà, gần như lơ đãng. Chuyện trò duy có Tuấn là người gợi chuyện, và bằng giọng ề à, anh ta kể rằng năm năm trước, sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh ta không học đại học mà tòng ngũ ngay, nhờ tư chất tốt nên được cấp trên chú ý, ra quân được cất nhắc vào uỷ ban làm việc. Thịnh biết ông chủ tịch xã là họ hàng của anh ta, nhưng vì tế nhị nên anh chỉ lẳng lặng gật đầu.
“Nhưng ban nãy mày bảo mày học ngành gì ấy nhỉ? Sinh học gì gì ấy? Học cái đấy xong ra làm cái gì?”
“Viện nghiên cứu, đại loại thế,” Thịnh đáp sau một thoáng nghĩ ngợi.
“Thế rồi sao, cứ ở trên Hà Nội thôi à?”
“Vâng, có lẽ thế. Về quê không có việc anh ạ.”
“Học mấy năm?”
“Lấy bằng kỹ sư thì năm năm anh ạ.”
“Cũng tốn phết ấy nhể?”
“Tất nhiên, nhưng cái gì cần chi thì vẫn phải chi thôi.”
Im lặng một lát.
“Chỗ anh em với nhau tao nói thật,” Tuấn cất giọng lè nhè, vẻ bí hiểm như sắp tiết lộ một bí mật, “đừng học đại học em ạ! Sau rồi cũng ra làm thuê thôi. Tao chẳng bịp mày làm gì, bạn bè tao cũng đổ xô đi học đại học tuốt. Toàn học mấy trường làng nhàng, lấy xong bằng thì vẫn về quê xin việc như công nhân bình thường. Đến lúc đấy thì những người không học đại học đã có hai, ba năm kinh nghiệm rồi, hoặc đi nước ngoài thì có khi đã huề vốn và tích cóp được một khoản kha khá. Nghĩ mà xem, bốn năm trời xong ra vẫn đi làm thuê có phải phí không? Tốn bao nhiêu tiền rồi vẫn phải ngửa tay xin việc… Đúng là chỉ để cho oai!”
Thịnh ậm ừ giây lát rồi trả lời, giọng khô khốc:
“Có lẽ thế, nhưng mọi chuyện luôn bắt đầu từ đâu đó. Dân nhà quê không người chống lưng thì học tập là con đường ngắn nhất rồi.”
“Tốt nhất là cứ đi nghĩa vụ! Trông mày dáng dấp thế này có khi học xong người ta vẫn bốc đi đấy. Vào đấy rồi quân đội họ rèn cho, bao ăn bao ở, ra quân cầm về hai chục triệu, lúc đấy thích làm gì thì làm. Như anh đây, trước cũng lông ba lông bông, mà nói thật nhé, giờ nhớ lại anh còn chẳng biết mình đã làm những gì… Nhưng bây giờ thì tỉnh ngộ rồi! Ở quê thế mà lại nhàn, trưa về ăn cơm với gia đình, đánh một giấc rồi chiều lại đến cơ quan, tối thích thì cà phê cà pháo, còn không thì thể thao. Bọn trẻ như mày thì ở quê là kêu chán, chỉ thích đâm đầu lên thành phố hít bụi mịn thôi, mà cám dỗ lắm em ạ, thằng nào không vững là đổ ngay.”
“Nhưng học thì vẫn phải học chứ anh,” Thịnh nói, câu chữ nghe như rít qua kẽ răng, “nói như anh thì ai nấy đều đi lính rồi về quê làm ruộng hết à? Mà đất thì nhà nước cũng trưng thu hết rồi còn đâu, về quê giờ chỉ có chết đói.”
“Thế mà tao đã chết đâu.”
“Nhưng anh… thôi, kệ đi!”
Đôi bạn cùng đoán biết được câu nói kia qua ánh mắt nhau.
“Còn về chuyện cám dỗ,” Thịnh nói tiếp bằng giọng rắn rỏi, “thì ở đâu cũng như nhau mà thôi. Từ thưở khai thiên lập địa người ta đã biết cách để sa đoạ. Đúng là trên thành phố dễ lung lạc hơn, nhưng anh thấy dân mình có những người cả đời không ra khỏi luỹ tre làng mà sau rốt vẫn ngồi tù mọt gông đấy thôi! Chẳng nói đâu xa, ngay thằng Tiến con nhà ông Hài, cái thằng đen nhẻm ngày xưa vẫn theo chân anh em mình, ngoan ngoãn hiền lành là thế, đến năm lớp sáu vẫn còn khóc tu tu vì không được mẹ cho đi chợ cùng, nhưng nhoáng cái nó ở tù đã ba năm rồi đấy!”
“Dào!” Tuấn thở dài. “Cái lũ ấy thì nói làm gì. Cứ thằng nào không chơi với tao là hỏng hết! Thử tính mà xem…”
“Ôi, chẳng phải ở ông!” Thịnh bỗng ngắt lời bạn, mặt đỏ bừng. “Nếu nó đã muốn hỏng thì có vào chùa vẫn hỏng. Quân ngũ của anh cũng chỉ giải quyết được một phần. Cái chính là ở tư duy, ở ý chí của con người. Chúng ta là những kẻ may mắn vì được trời phú cho một thân thể lành lặn và một khối óc biết suy nghĩ; chúng ta biết suy tính thiệt hơn, cân nhắc trước mỗi quyết định, và có lẽ hơn cả là chúng ta biết chùn. Có nhiều người không sa đoạ chỉ vì nỗi sợ trong họ quá lớn, phần khác vì không đủ điều kiện để sa đoạ, chỉ có thiểu số những người thực sự đứng đắn biết mình cần tránh né những gì và giữ bản thân luôn trong chừng mực cho phép.”
“Không sai.”
“Còn chuyện đại học thì chẳng có gì là vô ích đâu! Cái quan trọng là ở đây,” anh chỉ tay vào trán, “là tư duy và tự do mà giáo dục đem lại. Anh lôi những trường hợp học đại học xong về vẫn nai lưng đi xin việc, trong lúc anh chức nghiệp ổn định, đủng đỉnh vắt chân rung đùi ở văn phòng, nhưng anh quên mất đó chỉ là lớp cặn. Những tấm gương thành đạt, những học giả, những chủ doanh nghiệp, từng làm mọi cách để được tới giảng đường thì anh đâu có nhắc tới.”
Tuấn đuối lý và đâm hoảng trước thái độ xốc nổi của bạn, bèn lảng mặt nhìn chỗ khác, huýt sáo mồm. Còn những phản biện trong đầu Thịnh cứ sôi lên sùng sục, có cảm tưởng nếu không được thoát ra khởi vòm miệng, khỏi lỗ mũi, lỗ tai thì nó sẽ bật tung cái chỏm đầu anh mất, và vừa hổ thẹn vì đã thổ lộ quá trớn, vừa giận dỗi vì mếch lòng, anh chủ động đứng dậy đi trước, thở rất mạnh.
Vài phút sau, giấy tờ trao tay, Thịnh chào anh bạn viên chức một cách qua quýt và về thẳng.
Chà, sảng khoái làm sao! Bước ra ngoài như thể về với thế giới thực. Một cánh đồng trơ trọi trải dài, hay một sa mạc mêng mang cũng không thể tẻ nhạt hơn cái cục đá ngồi cạnh anh ban nãy. Nghe một gã ít học rao giảng sự đời, anh cảm tưởng như bị tra tấn. Giờ đây còn lại một mình, khí trời thoáng đãng giúp anh suy nghĩ thấu suốt hơn, anh cuộn tròn tờ giấy trên tay như một cái ống nhòm, và anh nghĩ:
“Chậc, thằng cha ấy đụt thật! Thế mà cũng gọi là tương lai của nước nhà. Cái nếp nghĩ của nó cũng chẳng hơn gì cha ông nó. Nhưng nó nói cũng có ý đúng. Không thể phủ nhận. Có không ít người học đại học ra rồi vẫn phải cày cục xin việc, rằng bốn năm giảng đường chỉ là sự trì hoãn cuộc chiến với đời, chứ chẳng phải khâu chuẩn bị hay gì sất.”
Nhưng Thịnh còn trẻ, giàu nhiệt huyết, và tự cho mình là người có thiên tư, anh tự tin nghĩ rằng những trường hợp bất trắc ấy sẽ trừ anh ra. Là người dễ kích động nhưng cũng dễ nguôi khuây, anh sẵn lòng miễn thứ cho sự thiển cận của Tuấn, nhưng anh vừa khoái trá vừa cay đắng nghĩ rằng tuổi đời chẳng khiến con người ta thêm sáng suốt được bao. Suy cho cùng, Tuấn chỉ là một anh viên chức tốt số, may mắn được người nhà cất nhắc vô một chức vụ nhàn tản, ở đó, cuộc đời gã sẽ trôi qua nhàn tản y thế, và cái thân hình phổng phao của gà dần dà sẽ trở thành một con ngỗng căng dù, no nê vì những bữa rượu và mãn nguyện với cái chức nghiệp hèn mọn của gã. Gã hẳn sẽ hạnh phúc lắm bởi gã đâu có nghĩ tới ai ngoài bản thân mình. Gã không bao giờ phải dừng lại để ngẫm nghĩ xem mình sẽ đi đâu, làm gì, vì con thuyền đời gã đã được cấp sẵn một hải trình. Dẫu sau này gã có leo lên tới chức chủ tịch thì anh vẫn nhìn gã không hơn một thằng cha hãnh tiến. Một con người dù tầm thường nhất cũng chưa bao giờ làm ta hết ngạc nhiên, cái anh Tuấn ngày nào còn áo quần xộc xệch, bản mặt cù lần, thân hình quá khổ đè lên chiếc xe cà tàng, thế mà giờ đã sơ mi cà vạt tươm tất, đầy đủ lệ bộ, từ gương mặt cho đến thần thái đều tỏ rõ ta đây là người quan trọng, là cán bộ đàng hoàng đấy nhé!
Uỷ ban nằm trên một con dốc nơi xưa kia là mỏm đồi, con đường trải dài xuống đường cái, hai bên những con trâu, cái nghé mình mẩy bê bết bùn lầy, đóng vảy như sáp, đám ruồi nhặng vo ve quanh cái đuôi phất phơ như nhành lau của chúng. Chúng chậm rãi nhai cỏ, liếc đôi mắt đen nhánh nhìn khách qua đường, trông mới nhàn hạ và vô tư làm sao…
“Phải rồi,” Thịnh nghĩ, “ý chí tự do là thứ tách biệt con người văn minh với đám súc vật. Thế mà nhiều người sống chẳng hơn đám súc vật là bao! Con trâu nó ngủ, nó gặm cỏ, nó nhúng mình trong bùn, trông nó thong dong, vì chỉ cần cái bụng nó no, cái thân nó ấm, là nó mãn nguyện, thở phì phò! Đến tối người ta nhốt nó vào chuồng, ban ngày thả ra, ngày nào nó cũng làm ngần ấy thứ việc. Còn con người, con người đâu chỉ sống vì tiền, vì danh vọng, hay vì những bữa ăn ngon… mà phải phát triển, phải đi lên, phải trau dồi! Ấy mà suy cho cùng, nhiều con người được cho là học thức, tiến bộ, quan trọng, cũng đâu khác một tốp thợ thủ công, với những đầu việc được giao sẵn, những thao tác lặp đi lặp lại, những vấn đề cũng lặp đi lặp lại y thế, như thể một chu trình tuần hoàn; họ thông thuộc công vụ tới mức bàn tay và trí não thoăn thoắt vào việc như một con nhện giăng tơ, nhưng nghĩ mà xem, trước khi giăng tơ, con nhện có nghĩ rằng nó phải giăng tơ ra sao không, hay việc ngày nào cũng giăng tơ có khiến đời sống nó ý vị hơn, có khiến nó trở thành một con nhện tốt hơn, hay nó chỉ miệt mài giăng tơ bởi vì số phận đã đặt định rằng nó phải giăng tơ, cho tới ngày chết? Những anh cạo giấy kia, ngày ngày lết tới văn phòng chỉ để đóng dấu, loạt xoạt những giấy má hố sơ, đón tiếp bà con nông dân với cái điệu bộ phách lối, hách dịch, như thể chúng đang ban phát một ân huệ, trong khi tất thảy cùng ăn lương nhà nước, chúng no kễnh bụng, chúng nuôi vợ con chúng bằng tiền của dân, nhưng chúng khinh thường dân, chúng chẳng lễ độ hơn trước những bà già hèn mọn và ra vẻ trịch thượng trước đám sinh viên loắt choắt như mình.”
Giá như có thể tống hết đống suy nghĩ này vào tai gã kia. Và giả sử được đá nó mấy phát, thì vui biết mấy! Ôi, chán chết! Ở cái xó xỉnh này, cái tỉnh nhỏ đìu hiu này, chưa kể là những phố thị chật chội những tưởng chứa chấp toàn những con người trí thức, thì còn biết bao kẻ như gã, là đồng đội của gã, một đội quân toàn những thành phần nông cạn, thích ăn no, ngủ kỹ, thích cuộc đời êm ấm, ngay ngắn như tấm khăn trải bàn, bên trên là những món ăn của mâm cỗ cuộc đời, mà mâm nào cũng giống mâm nào, nhưng chẳng mấy ai phàn nàn, còn giả sử thiếu đi một món dù là nhỏ nhặt nhất, rằng mâm cỗ bàn họ không được đủ đầy như chúng bạn, thì họ kêu toáng lên!
Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa, và đến cảnh mấy bà già ngồi tán chuyện cũng khiến anh ngao ngán. Nơi đây cuộc sống bí bách và buồn tẻ, nó giam hãm những tâm hồn trẻ trung như anh, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập mọi thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của họ là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không; còn lại, họ sống một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá… Nhảy từ thị trấn lên thành phố đã tám năm nhưng không có lấy một cái trường học cho tử tế, – thì cũng có một cái trường đại học đấy! nhưng toàn thu nhận những đứa đầu trâu mặt ngựa, lũ du đãng, đốn mạt, học hành làng nhàng cốt trốn quân dịch; nhìn mà xem, cả thành phố rộng gần ba mươi ngàn héc-ta mà không có lấy một cái thư viện, không rạp chiếu bóng, chỉ lổn nhộn toàn những quán bida, những quán hát tay vịn; những miếu, đền xây cất bề thề nhưng quanh năm cửa đóng then cài; phá cả công viên thiếu nhi đi để xây vườn hoa nhưng không thấy hoa đâu, chỉ trơ ra một cái cối xay gió cũ rích mà lớp sơn đã bạc phếch vì dãi dầu sương gió; còn bệnh viện thì chỉ nhận người quen, các ông bà già quặt quẹo đứng xếp hàng từ năm giờ sáng, lương y hồn khô như ngói, quát tháo bệnh nhân…
Kể cũng lạ, thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội tìm về đây lập nghiệp. Cuộc sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, con người hiển nhiên luôn trong trạng thái chuyển động; ấy thế không những họ không xê dịch mà còn chây ì, biếng nhác từ những ngày thanh niên. Có những cô giáo, thầy giáo trẻ măng về đây thực tập, nhưng hoàn toàn không phải những vị trí giả miệt mài cống hiến đâu, mà chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận và ngại sống xa nhà. Và họ sẽ ở đó có lẽ đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng khổ nỗi chỉ thuộc mỗi một câu, thành thử phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…
Lão Gia chuyên làm nghề đánh kích. Sáng bảnh mắt thấy lão ngồi ngất ngư trên chiếc xe cà tàng, mình mẩy bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cặp môi xám ngoét bặm điếu thuốc cháy dở, vợt kích vắt vẻo trên vai. Ấy là lão vừa đi kiếm ăn về.
Lão có hai con trai nhưng đều nghiện ngập rồi chết cả. Dân làng kháo rằng đáng ra lão đã làm cán bộ, rằng cuộc đời lão có thể đã khấm khá hơn, nhưng ròng rã ba mươi năm, vợ chồng lão vẫn chật vật trong một căn nhà ọp ẹp, mái lợp ngói xi măng, để cãi vã, nhục mạ, đánh đập nhau.
Bà Lợi vợ lão là một người đàn bà tuềnh toàng, xương xẩu, ngực lép kẹp, có cặp lông mày rậm và đôi mắt ti hí hơi xếch lên như người Tàu. Bà bắt nạt chồng khi lão không say còn khi say thì bị bắt nạt lại. Có lần lão cầm dao đuổi khiến bà này phải trốn qua nhà hàng xóm. Buổi chiều người ta kéo đến dàn hoà giúp thì thấy lão đang ú ớ, thân hình tọp tẹp phất phơ giữa trần như một cây sậy. Người ta kịp thời chặt phăng đoạn dây thừng, cứu sống lão.
Sau vụ ấy, hai vợ chồng ăn ở có vẻ hoà thuận hơn. Rồi bà Lợi qua đời, và chưa đầy năm, lão Gia cũng thắt cổ quyên sinh.
Họ cho rằng lão đánh vợ là thế chứ vẫn yêu vợ, và không sống nổi nếu thiếu vắng bà này.
Nhưng đây mới là những gì đã thực sự xảy ra.
Bấy giờ là những năm 1970, lão Gia là con thứ trong gia đình, theo chân anh cả lên đường tòng ngũ. Hai anh em được cất nhắc vào hai sư đoàn khác nhau. Anh trai lão bên đội cận vệ, còn lão xung vô sư đoàn bộ binh. Sau đó không lâu, người anh thiệt mạng vì bệnh sốt rét trên đường hành quân, còn người em thì vẫn bạc đà trên vai, chung nhau một điếu thuốc, góp tiền ăn thịt chó cùng đám bạn đồng ngũ, và đêm đến thường hay nhớ nhà.
Năm 1972, sư đoàn bộ binh của Gia đóng doanh trại ở Quảng Trị trong ít tháng. Đó là chốn làng bản, có những mái nhà lợp ngói, những khoảng sân đầy cứt gà sáp và những bà già đôn hậu xởi lởi. Chủ nhà nơi Gia tới trú nhờ là một bà goá trạc bảy mươi tuổi, gầy sọp, lưng còng như bướu lạc đà, khuôn miệng móm mém lúc nào cũng đỏ chót nhờ chăm chỉ nhai trầu. Bà lão có một người con trai, anh này hơn Gia ba tuổi, ở trong sư đoàn tăng thiết giáp, còn cô con gái thì ở nhà với mẹ. Cô ta chừng mười bảy, mười tám tuổi, mắt trái bị lác, người dong dỏng cao, đường nét có phần thô kệch. Nhà nghèo, hai mẹ con họ sống lần hồi bằng nghề tách chít.
Lão Gia bấy giờ mới có hăm hai, dáng dấp trông cũng không đến nỗi cù lần. Một buổi đứng canh lão nhìn thấy hai mẹ con nhà kia đang ngồi bện cán ở sân giếng. Có lúc ánh mắt lão và cô gái đụng nhau, lúc ấy lão liền ngoảnh mặt đi chỗ khác và huýt sáo mồm.
Những lần sau cứ thế. Rồi họ gửi gắm tình ý đến nhau qua ánh mắt, và lâu dần, Gia thấy cũng thinh thích cô nàng, và tình yêu trong lão nảy nở, nó miễn thứ cho khuyết tật của cô kia. Về phía mình, cô ta yêu lão đắm đuối, yêu say mê, vụng dại. Hiển nhiên là họ đã làm chuyện ấy, và những chung đụng chỉ càng khiến đôi bên gắn bó, quyến luyến hơn, và trước khi binh đoàn rời đi, Gia hứa sẽ trở về rồi hỏi cô Ba làm vợ, giả lão còn sống sót.
Bản tính chất phát, trên đường hành quân, lúc nào lão cũng phấp phỏng một niềm lo âu, sợ rằng ý trung nhân của mình sẽ thay lòng đổi dạ mà đi lấy người khác. Rồi chiến tranh kết thúc, lão may mắn toàn thây và lập tức tìm về căn nhà năm xưa, thì biết được bà chủ nhà đã đi đời, một tháng sau ngày nhận giấy báo tử của cậu con trai. Chàng gặp nàng ở sân giếng, gương mặt uể oải vì buồn lo, rồi thả phịch chiếc ba lô trên tay, chàng ôm chầm lấy người yêu dấu.
Sau ấy là những ngày tuyệt vời. Đôi tình nhân trẻ xăng xái thu vén nhà cửa: dọn dẹp căn buồng của bà lão, thay lại tấm ván lát tường, xây một cái chuồng gà mới… Nhìn họ vui vầy bên bữa ăn đạm bạc, có cảm tưởng họ đã sống với nhau cả cuộc đời, như thể số mệnh sinh họ ra là để dành cho nhau.
Thế rồi nhằm định đoạt cái niềm hạnh phúc thiêng liêng ấy, lão Gia ngỏ ý dẫn cô Ba về ra mắt gia đình.
“Thầy u anh cùng là dân nhà quê chân đất mắt toét, ông bà ắt sẽ thích em,” lão vỗ về người tình. “Trước nay ông bà chưa bắt ép anh điều gì, mọi thứ đều theo nguyện vọng của anh. Thôi thì mình cứ về ăn bữa cơm cùng gia đình anh rồi để anh tính tiếp nhé.”
Người con gái trung hậu thuận lòng.
Hôm ấy, trời mưa phùn. Từng hạt mưa xiên xiên như những mũi kim châm vào da mặt, khi cặp đôi ngồi đợi ở bến phà. Con sông đục ngầu, sau đợt lũ nước dâng cao. Cô Ba ngồi ở thanh lát giữa thuyền, tay giữ quai nón, vẻ thấp thỏm: đó là lần đầu tiên cô rời xa làng mạc. Hôm ấy cô ăn diện rất tươm, một chiếc áo sơ mi dài tay xẻ vạt màu hồng có cổ, khuy bằng gỗ, một chiếc quần thụng đen, êm như nhung, chấm mắt cá chân – tất cả đều toát lên vẻ đoan trang, đúng mực. Viên hạ sĩ lấy làm đắc chí lắm. Chàng ngồi gần ông lái phà, chuyện trò và đốt thuốc với ông ta, rồi chán thì chàng mon men lại gần phía cô Ba, vì lo âu, đang bứt bứt những bím tóc đen dày ngang ngực.
“Đừng lo, em ạ,” chàng nói. “Thầy u anh đều chân lấm tay bùn cả, ông bà dễ tính không ai bằng.”
Ông bà già ngóng con trai, đứng đợi sẵn ở bến phà. Từ xa đã thấy chỏm đầu hói bóng loáng của ông bố, Gia huých tay cô Ba, vẫy vẫy tay ra hiệu. Khi chiếc xuồng gần chạm bờ, Gia ton tót nhảy phắt lên, rồi lão đỡ tay người yêu, đoạn quay ra ôm hôn bố mẹ. Mắt ai cũng rân rấn lệ.
“Khoẻ chứ hả, đồng chí?” ông bố nói to như lệnh vỡ.
“Ba lần khoẻ!” Gia cười nói và làm điệu bộ nghiêm chào.
Cả bốn người bật cười. Và vì mưa đã nặng hạt hơn, họ rảo bước đi nhanh, tay khum đầu, tạm gác lại chuyện trò.
Nhà cấp bốn nằm tít sâu trong ngõ, con đường ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, uốn quanh như mình rắn. Làng mạc hiện dần ra, những mái ngói đo đỏ bám rêu, những con trâu trong chuồng thở phì phò, không khí ẩm ướt lẫn mùi cỏ mục bốc lên ngai ngái. Cảnh yên bình, chậm rãi, hoàn toàn nhàn hạ.
Vừa vào tới phòng riêng, cô Ba liền xăng xái xuống bếp nấu một bữa ngon, để lấy lòng ông bà già. Gia bỏ ra ngoài hiên ngồi uống nước chè với bố, và sau một hồi đắn đo, lão hỏi:
“Này thầy, thế ý thầy như nào?”
“Trông mặt mũi cũng xinh xắn,” ông lão, tính nết vốn xuề xoà, đáp lời con, “nhưng cứ xem đã. Mà mày hỏi mẹ mày ấy, hỏi tao làm cái gì!”
Gia hài lòng. Vậy là một cửa ải đã cho không.
Tới bữa ăn, họ ngồi quây tròn quanh mâm, trên chiếc chiếu cói mà bà mẹ Gia chỉ lôi ra dùng khi có dịp. Cô Ba ngồi sát cạnh nồi cơm, Gia ngồi cạnh cô, sau đó đến hai ông bà già. Họ ăn uống nhỏ nhẻ, rất chừng mực, cảm giác tù túng và ngột ngạt.
Gia cảm thấy cần phải đẩy tí chuyện cho xôm.
“Thầy u nói gì đi cho em nó vui!” lão khích.
Lão thầy cô Ba cười gượng, và nhìn vào mẹ, lão nói tiếp:
“U này, u kể chuyện con mất tích ngày bé đi!”
Đó là một câu chuyện dở khóc dở cười mà từ lâu gia đình lão vẫn đem đãi khách khứa. Năm tám tuổi, lão Gia trốn trong gầm giường cả ngày, còn thầy u lão hớt hải tìm kiếm, lạy lục khắp nơi. Hôm sau, thấy đứa bé chui ra từ cái xó kia, vợ chồng phát hoảng và nhất mực tin rằng con mình bị ma giấu.
Nghe bà lão kể xong, cả nhà cùng cười vang. Cô Ba bớt dè dặt và bắt đầu đưa chuyện. Bữa ăn kéo dài, chuyện trò liên miên. Hai bố con, chuếnh choáng vì hơi men, nắm tay nhau, bắt đầu hát nghêu ngao, người lắc lư bên này bên kia.
Đến lúc dọn bữa, Gia bê giúp người yêu chồng bát đĩa ra ngoài sân giếng, rồi trở vào trong, lão hí hửng kéo bà mẹ lại gần, hỏi:
“Thế nào hở u?”
“Thì,” bà lão đáp sau một thoáng ngập ngừng, “trông cũng xinh xắn, nết na, thật thà…”
Gia mừng thầm và gương mặt lão giãn ra.
“Thế u đã ưng chưa?” lão khoái trá hỏi.
“Tao thì tao ưng rồi,” bà lão đáp, rồi bà che miệng như thể tiết lộ một điều bí mật, “Nhưng mà… có phải con bé này nó bị… tật ở mắt đúng không?”
Vì đã lường trước, Gia nói ngay:
“Phải, nhưng mà bị nhẹ thôi. Nhìn kỹ thì mới thấy.”
“Mày nhầm,” bà già đánh nhẹ vào tay con. “Nó lác nặng thế kia mà mày bảo nhẹ. Nãy nó đơm cơm cho tao mà tao còn tưởng nó nhìn bố mày.”
“U làm sao ấy… Mắt người ta cha sinh mẹ đẻ nó thế, biết tránh đường nào. Nó cũng như khoèo tay khoèo chân, nhìn nhiều là thành quen! Thế cái lão Tuất mắt cũng lác lòi ra mà vẫn được công tác dưới uỷ ban đấy còn gì!”
“Tao thì tao chẳng lo cái đấy! Nhỡ sau này con cháu đẻ ra nó cũng bị thế thì sao…”
Gia giật thót mình như vừa bước hụt. Lão nhìn mẹ trân trân, mồm hơi há ra. Trước nay, đối với lão, chuyện cô Ba bị lác cũng bình thường như bố lão có cái mũi hơi to, mẹ lão có bàn chân hơi dẹt vậy. Quả thực lão chưa bao giờ nghĩ tới việc những đứa con của mình sau này, giả dụ họ đến với nhau, cũng phải chịu những khiếm khuyết hình thể như mẹ chúng. Lão có vì thế mà yêu chúng ít đi không?
“Chuyện hi hữu thôi,” lão an ủi mẹ già, và cũng là an ủi bản thân, rồi hắng giọng: “Để bọn con nói chuyện thêm.”
Vì ý tứ, đêm hôm ấy lão Gia ngủ một mình, để người yêu nằm với bà mẹ già. Lão nghĩ bụng thế mà lại hay. Có khi mẹ lão nói chuyện nhiều với cô Ba đâm ra quý mến.
Về phần mình, cô Ba, vốn tốt nết, việc gì cũng xung phong. Sớm trời cô thức giấc từ năm giờ sáng, quét sân, gánh nước, thái bèo cho lợn ăn. Cô xắn tay dọn dẹp cả căn bếp ám khói bốn vách tường. Cô đỡ lấy ấm nước từ tay bà mẹ và nhẹ nhàng nói:
“Thôi bác, bác cứ để con làm.”
Bà già nhà quê được đỡ đần thì cảm động lắm. Ánh mắt bà nhìn cô hiền hậu hơn, tựa chừng thương cảm. Thế nhưng trước bữa ăn tối, khi lão Gia kéo bà ra để hỏi lại về quyết định của bà, thì bà vẫn mắm môi nói:
“Con bé tốt thật, khổ nỗi… mắt nó lác quá con ạ! Không được đâu! Anh trai mày mất rồi, giờ còn mày nối dõi. Mày sắp là chủ gia đình, mà con mày sinh ra mang tật thì tao đến là chết không yên! Thôi, con ạ, hai đứa tự nói chuyện với nhau nhé! Mày cho em nó về nhà đi. Tiền nong đi đường tao cho, nhưng cưới thì tao không cho cưới đâu!”
Cô Ba đón Gia ở cạnh bậc thềm, gương mặt cô thấp thỏm, nhẫn nhịn chờ đón tin dữ. Trước ánh mắt ngơ ngác của người tình, lão phải cố lắm để khỏi bật khóc, và lão dằn từng tiếng:
“Không được rồi, em ạ! Thầy u anh không ưng, ông bà… biết nói thế nào nhỉ… Ông bà sợ con cái mình sau này sinh ra sẽ mang tật. Em hiểu cho anh nhé. Đừng nghĩ xấu về anh. Thôi, giờ em sửa soạn đồ đi, rồi sáng mai anh tiễn em ra bến…”
Cô Ba không đáp, bấu ngón tay vào nhau, mặt cúi gằm. Tối hôm ấy, họ trút tất thảy vào nhau.
Sáu giờ sáng hôm sau, lúc bước xuống bến, trước mặt ông lái phà đang vắt chân hút thuốc, thì cặp đôi không còn ý tứ gì nữa mà ôm chầm lấy nhau, nước mắt hoà làm một, khóc như mưa như gió. Họ than thở, họ trách phận đời bạc bẽo, họ nguyền rủa duyên số, họ báng bổ cả ông trời… Nhưng rồi vẫn phải chia ly.
Và không gặp lại nhau cho tới ngày chết.
***
Nửa năm sau khi bà Lợi qua đời, có một người phụ nữ trạc ba nhăm tuổi, người xương xương, tìm tới nhà gặp lão Gia.
Lão tiếp đón khách bằng cung cách rề rà, uể oải, vẻ lờ đờ. Người lạ chăm chú nhìn lão, khuôn mặt bất động chỉ có đôi mắt trong veo thi thoảng lại hấp háy. Cô ta ở lại ba mươi phút, uống hết một chén chè, tự xưng là dân miền trong mới đến vùng này và tranh thủ đi thăm láng giềng.
Nhiều hôm sau cô ta trở lại, vào một giờ như thường lệ. Lão Gia lấy làm lạ nhưng vẫn rót chè mời cô, không nói năng, im lặng ngồi hút thuốc, đôi lần còn bỏ đi làm việc riêng.
Thế rồi một buổi chiều, cô ta nói quê cô ta ở thôn Đoài, gần thành Quảng Trị, sát doanh trại 008, thì lão thấy tò mò nên hỏi:
“Ô thế à? Năm 72 tôi đóng quân ở mạn đấy… Thế cô có biết nhà bà Xuyến không? Bà Xuyến nhà ngay cổng doanh trại ấy!”
“Vâng, cháu biết,” cô gái bình tĩnh đáp.
“Thế… thế cô có biết bà Ba con gái bà lão không?” lão Gia nói lập bập.
“Vâng, cháu biết ạ.”
Lão nuốt nước bọt.
“Ừ… chuyện thế này… tôi cũng là chỗ quen thân với bà ấy… lâu lắm rồi…” lão nói nhát gừng, “nhưng… giờ bà ấy lấy chồng đâu rồi?”
Cô gái im lặng vài giây rồi mới đáp:
“Bà mất rồi.”
Lão giật bắn mình, tim tưởng như hẫng một nhịp.
“Làm sao mà mất!?”
“Bà bị chó dại cắn, không đủ tiền chạy chữa nên mất.”
“Thế cô là họ hàng bà đấy hay thế nào?”
Cô gái khựng lại một lát, nhìn trân trân lão già, môi run run:
“Cháu là con của bà, bác ạ… Mẹ cháu đã theo bác về đây năm bảy sáu…”
Trong lúc cô gái nói, lão Gia chỉ nhìn vào đôi mắt của cô, đôi mắt màu nâu sẫm, mà khi cô nhấn giọng thì dường như trở nên sẫm hơn. Lão quờ quạng khắp mình tìm bao thuốc, tay run lẩy bẩy, và quẹt lửa bảy lần mới châm nổi. Nhưng lão không hút, để mặc điếu thuốc tự cháy hết.
Trong chuồng mấy con lợn ủn ỉn đòi ăn, xa xa, trên bờ tường, một con gà trống với cái mào nhăn nheo đỏ thẫm căng mỏ cất tiếng gáy. Lão Gia nhìn trân trân vào con gà, hai tay buông thõng, miệng há hốc. Rồi lão đờ đẫn đứng dậy, phải men theo bờ tường cho khỏi ngã, và lão đặt mình xuống bậc thềm thâm thấp ngoài mái hiên, nhìn thơ thẩn ra vườn nhà.
Cô gái mặt đỏ bừng bước ra sân, cúi đầu chào lão rồi ra về.
Lão nhìn theo cô tới khi cô khuất dạng sau cây si lớn ở đình làng. Nhưng hình ảnh về đôi mắt của cô vẫn chờn vờn trong tâm trí lão, như thể cô vẫn ngồi kia, đăm đăm nhìn lão đầy oán trách.
“Đôi mắt đẹp quá,” lão cay đắng nghĩ. “Ôi! Giá như ngày ấy vì nhau thêm chút nữa! Ba ơi là Ba! Hỏng cả rồi, đời anh thế là đi tong cả rồi!”
Sáng hôm sau, cổng mở toang hoang, chó sủa nhặng, dân xóm kéo qua nhà lão. Một bà già ngất tại chỗ, vì cái xác thõng thượt giữa trần như một bao cát, môi tím ngắt.
Trên bàn uống nước ở góc phòng, người ta tìm thấy một tờ giấy nhàu nát, đặt dưới một chiếc cốc cho khỏi bay, viết bằng nét chữ vụng về, trong đó vỏn vẹn một dòng: “BỐ XIN LỖI CON!”
Người ta tin chắc lão bị điên, vì hai thằng nghịch tử nhà lão đều đã xanh mồ cả! Quái lạ!
Anh Kha, trợ lý huấn luyện viên của tuyển bóng đá trẻ Đà Nẵng, bước ở thềm nhà ra, hơi ngái ngủ, đứng yên một lát, loá mắt vì ánh bình minh rực rỡ. Trận mưa âm ỉ kéo dài ba ngày khiến Kha không gặp mặt được các học trò. “Mấy ngày tới chắc sẽ quang quẻ hơn,” anh nghĩ, vươn vai một hồi và trở vào trong phòng.
Phòng của Kha rộng nhưng rất bí, vì anh hút thuốc liên miệng và quây rèm quanh năm. Ánh sáng bên ngoài gần như không lọt vào. Đồ đạc trong phòng chỉ gồm một chiếc giường gỗ gầm thấp kê sát vách tường và một bàn máy tính là nơi Kha ngồi làm việc. Trên tường treo đầy những huy chương, cờ lưu niệm, và một khung bằng khen viền vàng trạm trổ hoa văn tao nhã nổi bật giữa phòng, như thể vớt vát lại chút danh thế đã tiêu ma vì một tai nạn xảy ra vào ba năm trước.
***
Tài năng bóng đá của Kha được phát hiện từ rất sớm. Năm ba tuổi, món đồ chơi bố Kha mua tặng anh là một quả bóng da nho nhỏ với những đốm trắng đan xen kẽ như một bàn cờ vua. Thằng bé lăn lộn, ôm khư khư lấy quả bóng, đè bụng lên quả bóng rồi ngã chúi mặt xuống đất, khóc oe oe, còn bố nó thì cứ cười hể hả như đang xem tuồng.
Tới năm lớp bảy thì Kha đã nổi tiếng như một tài năng nhí khắp cả vùng. Mỗi lần đá giải ở làng, người ta kéo đến xem rất đông. Nhìn những đường rê bóng uyển chuyển, đôi chân thoăn thoắt của thằng bé, ai ai cũng tấm tắc. Rồi tiếng lành vang tới tai ban huấn luyện trên tỉnh.
Một buổi chiều tháng Mười lộng gió, người tuyển trạch viên, một thầy giáo thể dục phốp pháp, trạc ba nhăm tuổi nhưng đã hói một chỏm đầu, tìm tới nhà Kha để bàn chuyện công việc. Trà chưa kịp nguội, đôi bên đã thống nhất mức tài trợ 100%, mỗi cuối tuần được về nhà trừ những dịp du đấu.
Và thế là Kha lên tỉnh.
Thời gian thấm thoắt thoi đưa, tài năng nhí ngày nào đã trở thành một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp. Anh không hút thuốc, rượu thì chê nhưng bia thì bao nhiêu cũng hết, nhưng anh tập luyện rất nhiều, rất chăm chỉ. Chân tay anh cứng cáp màu đồng thau, trên bắp chuối chắc nịch rằn rịt những thớ gân màu xanh lơ, vóc dáng thâm thấp, gương mặt cương nghị như nhà binh, nhưng phong cách chơi bóng của anh thì vẫn uyển chuyển, lắt léo như ngày nào. Những tay nhà báo, phóng viên kéo đến, sửa soạn cả một loạt bài về anh. Họ đặt ảnh anh ngay trên tấm áp phích đại diện, với dòng chữ in hoa bên dưới đề:
“TƯƠNG LAI CỦA BÓNG ĐÁ NƯỚC NHÀ.”
Loạt bài này một mặt tâng bốc lòng tự phụ của cầu thủ trẻ, một mặt đem lại cho Kha những khoản tiền kếch xù từ những nhãn hàng, những hợp đồng quảng bá. Ở quê, ông già anh, giờ tóc đã hoa râm, ngày ngày quét tước căn nhà vườn ba tầng cùng khoảnh sân lát gạch đỏ dài như một sân bóng quần. Ông già sống độc thân, sống cầm cự vì đứa con trai độc nhất, đến chết vẫn không thôi tự hào.
Còn Kha, sự nghiệp trên câu lạc bộ của anh đang bay cao như một bụng diều căng gió. Ban huấn luyện công nhận anh, đồng đội ngưỡng mộ anh, và sau khi vị thủ môn kỳ cựu tuyên bố về vườn, chiếc băng đỏ được anh gắn bên tay như một sứ mệnh. Thế rồi một sự việc tai quái ập đến.
Ở loạt đấu trước thềm chung kết của Giải Quốc gia năm 2004, khi còn năm phút bù giờ và tỷ số vẫn ở vạch xuất phát, Kha, tiền đạo cánh phải, bất ngờ nhận được một đường tạt biên từ hậu vệ chính. Quả bóng lượn thành một đường vòng cung trên cao rồi được Kha đỡ lấy bằng mu bàn chân phải. Một cú đánh vai giả khiến hậu vệ theo kèm chững lại, và anh vượt qua, dốc bóng điên cuồng. Phía sau anh, hơn bốn hậu vệ, trung vệ đối thủ rượt theo, thủ môn so vai xuống tấn vào sẵn thế, còn đồng đội anh hét lớn:
“Sút đi! Không có người!”
Kha ngước lên nhìn khung thành, rê bóng nhẹ sang phải và toan lấy chân trái làm trụ. Bàn thắng ấn định đã ở trong tầm tay. Tiếng reo hò xung quanh như lặng đi. Đúng lúc ấy, một trung vệ đối phương, gương mặt rắn đanh, ánh mắt đùng đằng sát khí, bất ngờ rạp người xuống thềm cỏ và lao vào Kha theo phương ngang.
Sau đó, là cả một sự thinh lặng kéo dài. Khán đài im bặt, người ta khum tay che mặt, cúi gằm, nhiều người chắp hai tay vào nhau, miệng lẩm bẩm như cầu nguyện. Phía dưới, nằm giữa lằn ranh trắng nhờ, người tiền đạo ôm lấy bên đầu gối trái, nước mắt hoà lẫn mồ hôi và rú lên như một con sói hoang.
Trọng tài vội vã chạy lại. Một chiếc thẻ đỏ được giơ cao. Tiếng hò la, chửi rủa trộn lẫn tiếng thở dài não nuột, trong lúc người ta đặt Kha nằm lên cáng rồi chuyển đi…
***
Kha mặc chiếc áo khoác vải bóng có đính huy hiệu của câu lạc bộ trên ngực trái, kéo khoá cao ngang cằm rồi ra khỏi nhà. Tự dưng anh nổi hứng đi bộ ra sân cỏ.
Sân bóng nằm cạnh nhà văn hoá, bốn bề chăng lưới trông như một chiếc vợt cá khổng lồ. Nắng phủ kín mặt cỏ. Từ xa, Kha thấy vài ba đứa trẻ con, người ngợm bê bết, tuổi chừng cấp hai, đang mải miết đuổi theo trái bóng. Một thằng cao lớn hơn cả bọn, da đen nhẻm, đôi chân trần khẳng khiu vừa ghi bàn và giơ hai tay ăn mừng. Nó vén vạt áo lau mồ hôi trên mặt.
Có một hàng ghế gỗ đã bị đám mọt đục khoét phân nửa, chắc là bê từ nhà văn hoá sang, dựng chỏng chê dưới một tán cây bàng, ngay sau khung thành. Kha ngồi xuống, chân vắt chữ ngũ và chăm chú quan sát.
Mấy đứa trẻ con dường như không để ý thấy sự hiện diện của anh. Chúng vô tư nô đùa, chúng vừa chạy vừa giữ cạp quần, rồi chúng thi triển những kỹ thuật màu mè, vụng về, bắt chước. Kha cười thầm vì sự ngây ngô của chúng. Bây giờ đây, dưới ánh nắng vàng miền quê quen thuộc, trước mặt vạt cỏ bạc màu, đồng lúa xa xa cũng bạc màu y thế, thì anh thấy dâng lên trong lòng một niềm ghen tỵ khắc khoải, cay đắng. Anh sẵn sàng đánh đổi hết phần đời còn lại để có thể trở lại làm một thằng bé loắt choắt thuở nào, chân không mang giày, trên người độc một chiếc quần cũn cợn, tới gia nhập đám trẻ kia. Anh sẽ đảo quả bóng từ chân này qua chân kia nhanh nhẹn và thành thục như một nghệ nhân xoay những viên bi trên tay, đám đông sẽ reo hò, nhiều người trèo hẳn lên cành cây để xem cho rõ. Và trong tất cả những âm thanh hỗn độn, giọng sang sảng của ông bố anh vang vang:
“Con tôi đấy! Con tôi đấy ông bà ạ!”
… Một người đàn bà phục phịch đứng từ bậc thềm gọi với ra. Con bà ta là một trong đám nhóc kia. Chúng nó mặc lại áo, mặt đứa nào cũng ửng đỏ như trái cà chua. Thằng cao nhất vén tấm lưới lên, giữ nguyên cho mấy đứa kia lọt qua. Chúng cười nói, vỗ vai nhau, khích bác nhau, rồi lại tìm sự công nhận trình độ bản thân ở nhau. Chúng lướt qua người lạ như một khung thành bỏ trống.
Thế rồi một thằng bé reo lên:
“Thầy Kha!”
Kha lường trước được điều này, chỉ mỉm cười và gọi thằng bé lại gần.
“Chơi từ sáng tới giờ hả?” anh ân cần hỏi nó.
“Vâng, thầy ạ,” nó khựng lại một chút rồi mới đáp. “Thầy… thầy có nước không… con khát quá!”
“Đây này, cầm lấy,” anh đưa cả chiếc bi đông nhôm cho nó. “Cứ cầm đi, hôm nào đi tập thì trả thầy.”
“Vâng,” thằng bé uống một hơi dài, thở hổn hển rồi nói, “thế là ngày kia tập hả thầy?”
“Ừ,” Kha đáp, mắt không nhìn nó. “Tuần sau đấu giải rồi, giữ chân giữ tay con nhé!”
“Vâng. Con chào thầy!”
Kha gật đầu và khua khua tay.
Bọn trẻ tản đi. Tiếng chuyện trò lanh lảnh rồi bặt dần. Còn lại một mình, anh thở một hơi nhẹ và chờ cho bọn nó đi hết, anh đứng dậy, nán lại nhìn bao quát sân cỏ một lần cuối.
Sân cỏ tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm. Kia kìa, cái bờ giậu gắn đầy mảnh chai vẫn im lìm, nham hiểm. Kha nhớ tới cái lần hồi bé anh đứng từ sân cỏ và chờ đợi cậu bạn mà anh đã quên mất tên, chờ cậu ta ném chai nước từ cửa sổ nhà bếp sang. Thật đẹp đẽ xiết bao cái thời vụng dại vô tư ấy.
Thiên hạ đã từng yêu quý anh vì tài năng. Giờ đây, họ nhìn anh bằng ánh mắt cảm thông, ngậm ngùi như thể nhìn một người quen cũ. Họ biết sự nghiệp cầu thủ của anh đã chấm dứt hẳn, bất chấp những nỗ lực phục hồi, những gắng gượng giành lại hào quang năm xưa.
Nhưng cuộc sống không ngừng lại chỉ vì một bi kịch xảy ra, người ta vẫn phải kiếm sống dẫu mới hai bảy tuổi, có bốn chiếc nẹp vít ở đầu gối, cùng một ông bố mới chết vì ung thư phổi. Nhờ quen thân, người ta sắp xếp cho anh một vị trí trong trung tâm huấn luyện. Và từ ấy trở đi, dường như người thầy giáo chỉ còn sống vào quá khứ.
Sáu giờ sáng hai hôm sau, sân cỏ hôm trước đầy ních những trẻ, đầu tóc húi cua, tất màu đỏ, vàng với sọc trắng kéo dài tới gần đầu gối. Những phụ huynh đến sau dựng chân trống xe, ngồi vắt vẻo sau khung thành, vì hàng ghế gỗ đã đông kín. Bất chợt, giám đốc trung tâm, một ông già quắc thước trạc năm mươi tuổi, tới thông báo giải tán buổi tập. Gương mặt ông ta ái ngại, đầy lo âu, môi mấp máy, mắt lèm nhèm như muốn khóc. Theo yêu cầu của ông, đám trẻ được xua đi hết. Chúng ngơ ngác nhìn từ bên ngoài vào, cố gắng nghe ngóng người lớn nói chuyện.
Ông giám đốc nhìn quanh một lượt, húng hắng vài hơi rồi nói:
“Thầy Kha đi rồi các cô các bác ạ!”
Một màn không khí tê dại bủa vây. Người ta lặng đi, ánh mắt thẫn thờ, bàng hoàng trước tin dữ kia. Rồi người ta ùa đến nhà thầy giáo, nơi có hai anh công an mặc cảnh phục đứng sẵn trước cổng, dây chắn treo ngang cổng và lắc đầu đầy ai oán.
Tới chiều hôm ấy, đám phóng viên kéo tới. Người ta thu thập, người ta lần lại những phóng sự, những tin bài được triển khai ngay. Người ta viết rằng trên thi thể nạn nhân vẫn còn nguyên bộ đồng phục màu vàng năm nào, cùng chiếc băng đội trưởng lăn lóc giữa sàn.
Ngoài cổng, có một cậu bé ôm chiếc bi đông vừa bật khóc.