• Ivan Bunin: Tôi viết như thế nào?

    Đọc thử

    Ivan Bunin, nhà văn Nga đầu tiên nhận giải Nobel

    Tôi viết thế nào nhỉ? Hồi trẻ, tôi rất đãng trí. Tôi luôn muốn viết, nhưng đồng thời cũng muốn sống, nên việc viết lách không phải lúc nào cũng diễn ra như tôi mong đợi. Hồi trẻ, tôi gần như lúc nào cũng viết quá vội vàng, bừa bãi. Ngày ấy tôi cũng vậy thôi, trong khi mọi người viết về tôi như thể tôi có một cách viết tuyệt vời trong từng câu chữ vậy.

    …Sáng tạo câu chữ! Nhưng tôi chưa bao giờ làm vậy cả. Mà “sáng tạo” là gì cơ chứ? Suy cho cùng, đối với một nhà văn, hình thức gắn bó mật thiết với nội dung và bắt nguồn từ đó.

    Sau này, công việc của tôi diễn tiến suôn sẻ hơn, bình thản hơn. Tôi đã quen làm việc trong sự yên bình – thành thử, tôi thường lui về nơi cô độc, về miền quê, hoặc như sau này tôi đã làm, là về Ý, về Capri. Nhưng tôi luôn viết một cách say mê. Tôi ngồi xuống viết, và điều đó có nghĩa là tôi sẽ ngồi đó rất lâu, cho đến khi tâm trí hoàn toàn tự do. Và, tiện đây, tôi không bao giờ viết, và chưa bao giờ viết, vào ban đêm. Nói chung, tôi không làm việc khi tôi lo lắng…

    Cảm hứng viết đến với tôi như thế nào? Thông thường, nó đến hoàn toàn bất ngờ. Cảm hứng viết luôn xuất phát từ một cảm giác phấn khích, một xúc cảm buồn vui, thường gắn liền với một bức tranh nào đó đang bày ra trước mắt, với hình ảnh một con người cụ thể, với một tình cảm con người… Đó chính là khoảnh khắc phát khởi. Đôi khi tôi giấu kín sự khởi phát này trong lòng rất lâu, đôi khi tôi ngồi xuống viết ngay lập tức, nếu điều đó diễn ra ở làng quê, trong im lặng, trong cô đơn, trong một lối mòn công việc. Nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là, khi cầm bút lên, tôi đã biết trước mọi thứ nói chung mà mình sẽ viết. Điều này hiếm khi xảy ra. Tôi thường bắt đầu công việc của mình không chỉ khi chưa có một cốt truyện rõ ràng trong đầu, mà còn chưa hiểu rõ mục đích cuối cùng của nó. Chỉ có ý nghĩa chung nhất mới hiện ra trong tôi khi tôi bắt đầu. Không phải một ý tưởng có sẵn, mà chỉ có ý nghĩa bao quát nhất của tác phẩm mới chiếm hữu tôi vào khoảnh khắc khởi phát này – có thể nói là chỉ có âm điệu của nó. Và tôi thường không biết mình sẽ kết thúc thế nào: đôi khi ta hoàn thành một tác phẩm hoàn toàn khác so với trù tính ban đầu, hoặc thậm chí khác so với khi ta đang làm việc. Nhưng, tôi xin nhắc lại, điều quan trọng nhất là âm điệu tổng thể của toàn bộ tác phẩm phải được xác định ngay từ đầu…

    Đúng vậy, câu đầu tiên rất quan trọng. Trên hết, nó quyết định nhịp điệu của tác phẩm, âm thanh tổng thể của tác phẩm. Và còn một điều nữa. Nếu bạn không thể phát âm đúng âm đầu, chắc chắn bạn sẽ bị nhầm lẫn và gạt nó sang một bên, hoặc đơn giản là vứt nó đi vì nó vô giá trị…

    …Tôi chưa bao giờ viết dưới ảnh hưởng của bất cứ tác nhân nào bên ngoài, mà luôn viết “từ bên trong”. Một điều gì đó phải nảy nở bên trong tôi, và nếu điều đó không tồn tại, tôi không thể viết. Tôi chưa bao giờ có thể, và không thể, cách điệu hóa. Tôi không thể và sẽ không viết “theo tinh thần” của bất cứ điều gì. Tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình bất kỳ nhiệm vụ bên ngoài nào trong văn chương… Khi làm thơ, tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình nhiệm vụ cố tình phá vỡ câu thơ, đưa “sự đổi mới” vào đó. Nhân tiện, tôi không phân biệt thơ với văn xuôi. Cả hai đều có cùng nhịp điệu… vấn đề chỉ là thay đổi tiết tấu của nó.

    “Từ bên ngoài” cũng không ảnh hưởng đến tôi theo cách nào khác. Tôi chưa bao giờ được truyền cảm hứng viết lách từ văn chương của người khác. Nhưng dĩ nhiên, tác phẩm hay luôn khơi dậy khát khao viết lách. Về điểm này, tôi hoàn toàn trái ngược với một nhà văn từng nói rằng khi không muốn viết, ông ta sẽ lấy Kruglov hay Zlatovratsky từ kệ sách ra. “Tồi quá, thà tự viết còn hơn!” Tôi nhắc lại – bí mật của cảm giác ban đầu thôi thúc một nhà văn sáng tác rất khó nắm bắt. Cảm giác này đã đến với tôi trên cánh đồng, trên đường phố, trên biển, ở nhà, khi đáp lại ánh sáng này hay ánh sáng kia, hay khuôn mặt một người mà tôi gặp, đôi khi trong lúc đọc. Nhưng bằng cách nào? Chỉ một từ, thường là từ bình thường nhất, một cái tên nào đó, đã khơi dậy cảm giác mà từ đó ý chí viết lách được khơi nguồn. Và rồi, bằng cách nào đó, ta ngay lập tức nghe thấy tiếng gọi mà từ đó toàn bộ tác phẩm được sinh ra…


  • Flannery O’Connor bàn về truyện ngắn

    Đọc thử

    Dưới đây là bản dịch chương 5 – Writing Short Stories trong tiểu luận Mysteries and Manners của O’Connor.

    Cách viết một truyện ngắn

    Tôi từng nghe người ta nói rằng truyện ngắn là một trong những hình thức văn học khó nhất, và tôi luôn cố gắng tìm hiểu tại sao mọi người lại cảm thấy như vậy về một thể loại mà tôi cho là một trong những cách biểu đạt tự nhiên và cơ bản nhất của con người. Xét cho cùng, bạn bắt đầu nghe và kể chuyện từ khi còn nhỏ, và dường như chẳng có gì quá phức tạp trong việc này. Tôi đồ rằng hầu hết các bạn đã kể chuyện suốt đời mình, vậy mà giờ đây các bạn lại đến ngồi đây – để tìm hiểu cách làm điều đó.

    Rồi tuần trước, sau khi tôi thảo ra những suy nghĩ bình thản này để nói vào ngày hôm nay, tôi đã choáng váng khi các bạn gửi tới bảy bản thảo truyện nhờ tôi đọc. Sau trải nghiệm này, tôi thấy mình sẵn sàng thừa nhận rằng nếu truyện ngắn không phải là một trong những hình thức văn học khó nhất, thì ít nhất nó cũng khó khăn hơn đối với một số người.

    Tôi vẫn ngờ rằng hầu hết mọi người sinh ra với một năng khiếu kể chuyện nào đó, nhưng năng khiếu này bị cùn mòn theo thời gian. Tất nhiên, khả năng tạo ra sự sống bằng ngôn từ về cơ bản là một món quà. Nếu bạn có nó ngay từ đầu, bạn có thể phát triển nó; còn nếu bạn không có, tốt nhất là quên nó đi. Nhưng tôi nhận thấy rằng những người không có năng khiếu này thường là những người quyết tâm viết truyện nhất. Tôi cam chắc họ là những người viết sách và bài tạp chí về cách viết truyện ngắn. Tôi có một người bạn đang học một khóa học qua thư về chủ đề này, và cô ấy đã chia sẻ với tôi một vài tiêu đề chương – chẳng hạn như “Công thức viết truyện cho nhà văn,” “Cách tạo dựng nhân vật,” “Xây dựng cốt truyện nào!” Hình thức tham nhũng này tốn của cô ấy hai mươi bảy đô la.

    Tôi cảm thấy rằng việc thảo luận về viết truyện theo các khía cạnh cốt truyện, nhân vật và chủ đề giống như cố gắng tả nét biểu cảm trên một khuôn mặt bằng cách chỉ ra vị trí của mắt, mũi và miệng. Tôi từng nghe sinh viên nói, “Em rất giỏi về cốt truyện, nhưng em không biết xử lý các nhân vật ra sao,” hoặc “Em có chủ đề này nhưng không xây nổi cốt truyện cho nó,” và có lần tôi nghe một bạn nói, “Em đã có câu chuyện nhưng em thiếu kỹ thuật.” Kỹ thuật là từ mà tất cả họ đều viện ra. Tôi từng nói chuyện với một câu lạc bộ nhà văn, và trong phần hỏi đáp, một người tốt bụng đã nói, “Cô có thể mách tôi kỹ thuật để viết một truyện ngắn theo kiểu khung-lồng-khung được không?” Tôi phải thừa nhận rằng mình quá khù khờ đến mức không biết đó là cái gì, nhưng cô ấy quả quyết với tôi rằng có một thứ như vậy vì cô ấy đã tham gia một cuộc thi viết một truyện như thế với giải thưởng là năm mươi đô la.

    Nhưng gạt sang bên những người không có tài năng, vẫn có những người có tài nhưng loay hoay vì họ không thực sự biết truyện là gì. Tôi cho rằng những điều hiển nhiên là khó định nghĩa nhất. Ai cũng nghĩ mình biết truyện là gì. Nhưng nếu bạn yêu cầu một sinh viên mới bắt đầu viết truyện, bạn có thể nhận được gần như bất cứ thứ gì – một thiên hồi ký, một sự kiện, một quan điểm, một giai thoại, bất cứ thứ gì trên đời trừ một câu chuyện. Một câu chuyện là một hành động kịch tính hoàn chỉnh – và trong những truyện hay, nhân vật được lột tả thông qua hành động, và hành động được kiểm soát thông qua nhân vật, và kết quả của điều này là ý nghĩa khởi phát từ toàn bộ trải nghiệm được phô bày. Tôi muốn nói rằng một câu chuyện là một sự kiện kịch tính liên quan đến một con người vì họ là con người, và là một con người cụ thể – tức là, vì họ chia sẻ điều kiện chung của con người và trong một tình huống con người cụ thể nào đó. Một câu chuyện luôn liên quan mật thiết đến tính bí ẩn của nhân cách. Tôi đã cho một bà cụ ở vùng quê gần nhà mượn vài truyện, và khi bà trả lại, bà nói, “Ừ, mấy câu chuyện đó cốt chỉ cho thấy một số người sẽ làm gì,” và tôi tự nhủ rằng đúng là thế; khi bạn viết truyện, bạn phải chấp nhận bắt đầu từ chính điểm đó – cho thấy một số người cụ thể sẽ làm gì, rằng họ sẽ làm gì bất chấp mọi sự.

    Đây là một mức độ rất khiêm tốn để bắt đầu, và hầu hết những người nghĩ rằng mình muốn viết truyện không sẵn lòng bắt đầu từ đó. Họ muốn viết về các đề tài, không phải con người; hoặc về các vấn đề trừu tượng, không phải là tình huống cụ thể. Họ có một ý tưởng, một cảm xúc, một cái tôi tràn đầy, hoặc họ muốn trở thành Nhà Văn, hoặc họ muốn truyền đạt sự thông thái của mình cho thế giới theo cách đủ đơn giản để thế giới có thể tiếp thu. Bất luận ra sao, họ không có một câu chuyện và họ cũng không sẵn lòng viết nếu có; và khi không có một câu chuyện, họ bắt đầu tìm kiếm một lý thuyết, một công thức, hoặc một kỹ thuật.

    Tuy nhiên, không có điều nào trong số này nói rằng khi bạn viết một truyện, bạn phải quên đi hoặc từ bỏ bất kỳ lập trường đạo đức nào mà bạn nắm giữ. Niềm tin của bạn sẽ là ánh sáng chỉ đường dẫn lối cho bạn, nhưng chúng không phải là thứ bạn nhìn thấy và cũng không phải là thứ có thể thay thế cho việc nhìn. Đối với nhà văn tiểu thuyết, mọi thứ đều có điểm kiểm nghiệm qua đôi mắt, và đôi mắt là quan năng cuối cùng liên quan đến toàn bộ nhân cách và cả thế giới mà nó có thể chứa đựng. Nó liên quan đến sự phán đoán. Sự phán đoán bắt đầu từ hành động nhìn, và khi nó không bắt đầu từ đó, hoặc khi nó bị tách rời khỏi tầm nhìn, thì một sự rối loạn sẽ nảy mầm trong tâm trí và lan sang câu chuyện.

    Tiểu thuyết hoạt động qua các giác quan, và tôi nghĩ một lý do khiến mọi người thấy khó viết truyện là vì họ quên mất cần bao nhiêu thời gian và kiên nhẫn để thuyết phục qua các giác quan. Không có độc giả nào thực sự trải nghiệm, thực sự cảm nhận được câu chuyện sẽ tin bất cứ điều gì nếu tiểu thuyết gia chỉ nói suông. Đặc tính rõ ràng nhất của tiểu thuyết là nó đối mặt với thực tại qua những gì có thể thấy, nghe, ngửi, nếm và chạm vào. Đây là điều không thể chỉ nhẩm trong đầu; nó phải được lĩnh hội bằng thói quen. Nó phải trở thành cách bạn thường xuyên nhìn nhận mọi thứ. Nhà tiểu thuyết phải nhận ra rằng anh ta không thể tạo ra lòng trắc ẩn bằng lòng trắc ẩn, cảm xúc bằng cảm xúc, hay suy nghĩ bằng suy nghĩ. Anh ta phải cung cấp tất thảy những thứ này bằng một cơ thể; anh ta phải tạo ra một thế giới có trọng lượng và độ giãn rộng.

    Hình tượng về Flannery O’Connor gắn liền với con công – loài vật yêu thích của bà. Nguồn ảnh: Joe McTyre

    Tôi nhận thấy rằng các truyện của những nhà văn mới bắt đầu thường tràn ngập cảm xúc, nhưng cảm xúc đó thường rất mông lung. Đối thoại thường diễn ra mà không có sự hỗ trợ của bất kỳ nhân vật nào bạn thực sự có thể nhìn thấy, và những suy nghĩ không được kiểm soát tràn ra từ mọi ngóc ngách của câu chuyện. Lý do thường là vì sinh viên chỉ quan tâm đến suy nghĩ và cảm xúc của mình, chứ không phải hành động kịch tính, và họ quá lười biếng hoặc kiêu kỳ để hạ mình xuống mức cụ thể nơi hư cấu hoạt động. Họ nghĩ rằng sự phán đoán tồn tại ở một nơi và cảm giác giác quan ở một nơi khác. Nhưng đối với nhà văn hư cấu, sự phán đoán khởi phát từ những chi tiết anh ta nhìn thấy và cách anh ta nhìn chúng.

    Những nhà văn hư cấu không quan tâm đến các chi tiết cụ thể này phạm phải điều mà Henry James gọi là “sự cụ thể yếu ớt.” Đôi mắt sẽ lướt qua từ ngữ của họ trong khi sự chú ý thì ngủ quên. Ford Madox Ford đã dạy rằng bạn không thể để một người xuất hiện đủ lâu để bán một tờ báo trong truyện mà không đặt anh ta vào đó với đủ chi tiết để khiến độc giả nhìn thấy anh ta.

    Tôi có một người bạn đang học diễn xuất ở New York từ một bà giáo người Nga được cho là xuất sắc trong việc dạy diễn viên. Bạn tôi viết thư kể rằng tháng đầu tiên họ không nói một câu thoại nào, họ chỉ học cách nhìn. Học cách nhìn là cơ sở để học tất cả các nghệ thuật trừ âm nhạc. Tôi biết khá nhiều nhà văn hư cấu vẽ tranh, không phải vì họ giỏi vẽ, mà vì nó giúp ích cho việc viết của họ. Nó buộc họ phải nhìn mọi thứ. Viết hư cấu rất hiếm khi là việc nói ra điều gì; nó là việc phô bày điều đó.

    Tuy nhiên, nói rằng tiểu thuyết tiến triển bằng việc sử dụng chi tiết không có nghĩa là việc chất đống chi tiết một cách máy móc, vô tư. Chi tiết phải được kiểm soát bởi một mục đích tổng thể, và mọi chi tiết phải nhằm phục vụ mục đích đó. Nghệ thuật là sự chọn lọc. Những gì có ở đó là thiết yếu và tạo ra chuyển động. Tất cả những điều ấy đòi hỏi thời gian. Một truyện ngắn hay không nên có ít ý nghĩa hơn một tiểu thuyết, cũng không nên có hành động kém hoàn chỉnh hơn. Không có gì thiết yếu đối với trải nghiệm chính yếu có thể bị bỏ qua trong một truyện ngắn. Tất cả hành động phải được giải thích thỏa đáng về mặt động cơ, và phải có một phần đầu, một phần giữa, và một phần kết, mặc dù không nhất thiết phải theo trình tự đó. Tôi nghĩ nhiều người quyết định muốn viết truyện ngắn vì chúng ngắn, và họ nghĩ chúng ngắn ở mọi khía cạnh. Họ nghĩ rằng một truyện ngắn là một hành động không hoàn chỉnh trong đó rất ít điều được thể hiện và rất nhiều điều được ngụ ý, và họ nghĩ bạn ngụ ý điều gì đó bằng cách bỏ nó ra. Rất khó để khiến một sinh viên từ bỏ ý niệm này, vì họ nghĩ rằng khi bỏ một thứ gì đó ra, đó là sự tinh tế; và khi bạn nói với họ rằng họ phải đặt một thứ gì đó vào trước khi có bất cứ thứ gì, họ nghĩ bạn là một kẻ dốt nát thiếu nhạy cảm.

    Có lẽ câu hỏi trung tâm cần xem xét trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về truyện ngắn là chúng ta muốn nói gì khi nói “ngắn”. Ngắn không có nghĩa là hời hợt. Một truyện ngắn nên có chiều sâu và mang lại cho chúng ta một trải nghiệm về ý nghĩa. Tôi có một bà cô nghĩ rằng không có gì xảy ra trong một câu chuyện trừ khi có ai đó kết hôn hoặc bị bắn vào cuối truyện. Tôi đã viết một câu chuyện về một gã lang thang cưới cô con gái ngốc nghếch của một bà già để chiếm đoạt chiếc ô tô của bà ta. Sau đám cưới, hắn đưa cô con gái đi hưởng tuần trăng mật bằng chiếc ô tô và bỏ rơi cô ta tại một quán ăn rồi lái xe đi một mình. Đó là một câu chuyện hoàn chỉnh. Không còn gì liên quan đến bí ẩn của nhân cách gã đó có thể được thể hiện qua sự kịch hóa cụ thể đó. Nhưng tôi chưa bao giờ thuyết phục được bà cô rằng đó là một câu chuyện hoàn chỉnh. Bà ấy muốn biết chuyện gì xảy ra với cô con gái ngốc nghếch sau đó.

    Cách đây không lâu, câu chuyện đó được chuyển thể thành một vở kịch truyền hình, và người chuyển thể, biết việc của mình, đã để gã lang thang đổi ý, quay lại đón cô con gái ngốc nghếch, và cả hai cùng lái xe đi, cười điên dại. Bà cô tôi tin rằng cuối cùng câu chuyện đã hoàn chỉnh, nhưng tôi có những cảm nhận khác về nó – những cảm nhận không thích hợp để nói ra công khai. Khi bạn viết một câu chuyện, bạn chỉ cần viết một câu chuyện, nhưng sẽ luôn có những người từ chối đọc câu chuyện bạn đã viết.

    Và điều này tự nhiên dẫn đến câu hỏi đáng sợ về việc bạn viết truyện hư cấu cho loại độc giả nào. Có lẽ mỗi chúng ta nghĩ rằng mình có một giải pháp cá nhân cho vấn đề này. Về phần mình, tôi có một quan điểm rất cao về nghệ thuật tiểu thuyết và một quan điểm rất thấp về cái gọi là “độc giả trung bình”. Tôi tự nhủ rằng mình không thể thoát khỏi họ, rằng đây là nhân cách tôi phải giữ cho tỉnh táo, nhưng đồng thời, tôi cũng phải cung cấp cho độc giả thông minh trải nghiệm sâu sắc hơn mà họ tìm kiếm trong tiểu thuyết. Thực ra, cả hai loại độc giả này chỉ là những khía cạnh của nhân cách của chính nhà văn, và xét cho cùng, độc giả duy nhất mà nhà văn có thể đoán biết gì đó chính là bản thân họ. Tất cả chúng ta đều viết ở mức độ hiểu biết của riêng mình, nhưng đặc tính của tiểu thuyết là bề mặt chữ nghĩa của nó có thể mang lại sự giải trí ở mức vật chất rõ ràng cho một loại độc giả, trong khi cùng bề mặt đó có thể mang lại ý nghĩa cho người được trang bị để trải nghiệm nó ở đó.

    Ý nghĩa là thứ giữ cho truyện ngắn không bị ngắn. Tôi thích nói về ý nghĩa trong một câu chuyện hơn là chủ đề của một câu chuyện. Mọi người nói về chủ đề của một câu chuyện như thể chủ đề là sợi dây buộc một bao thức ăn cho gà. Họ nghĩ rằng nếu bạn có thể tìm ra chủ đề, giống như cách bạn chọn đúng sợi dây trong bao thức ăn cho gà, bạn có thể xé toạc câu chuyện và nuôi gà. Nhưng ý nghĩa trong hư cấu không hoạt động theo cách ấy.

    Khi bạn có thể nêu ra chủ đề của một câu chuyện, khi bạn có thể tách rời nó ra khỏi câu chuyện, thì bạn có thể đoan chắn rằng câu chuyện đó không hay lắm. Ý nghĩa của một câu chuyện phải được thể hiện trong đó, phải được cụ thể hóa trong đó. Một câu chuyện là một cách để nói điều gì đó không thể nói theo cách khác, và cần mọi từ trong câu chuyện để nói lên ý nghĩa đó. Bạn kể một câu chuyện vì một tuyên bố là không đủ. Khi bất kỳ ai hỏi một câu chuyện nói về điều gì, điều duy nhất đúng đắn là bảo họ đọc câu chuyện. Ý nghĩa của hư cấu không phải là ý nghĩa trừu tượng mà là ý nghĩa được trải nghiệm, và mục đích của việc đưa ra các tuyên bố về ý nghĩa của một câu chuyện chỉ là để giúp bạn trải nghiệm ý nghĩa đó trọn vẹn hơn.

    Hư cấu là một nghệ thuật đòi hỏi sự chú ý nghiêm ngặt nhất đến thực tại – dù nhà văn đang viết một câu chuyện hiện thực hay một câu chuyện giả tưởng. Ý tôi là chúng ta luôn bắt đầu với những gì đang tồn tại hoặc với những gì có tính chất chân thực nổi bật. Ngay cả khi viết một câu chuyện giả tưởng, thực tại là nền tảng thích hợp của nó. Một điều là giả tưởng vì nó quá thực, quá thực đến mức trở thành giả tưởng. Graham Greene từng nói rằng ông không thể viết, “Tôi đứng trên một cái hố không đáy,” vì điều đó là vô lý, hoặc “Chạy xuống cầu thang, tôi nhảy vào một chiếc taxi,” vì điều đó cũng vô lý nốt. Nhưng Elizabeth Bowen có thể viết về một nhân vật của mình rằng “cô ấy giật tóc mình như thể nghe thấy điều gì trong đó,” vì điều ấy hoàn toàn có thể xảy ra. Tôi thậm chí còn đi xa hơn khi nói rằng người viết giả tưởng phải chú ý nghiêm ngặt hơn đến chi tiết cụ thể so với người viết theo lối hiện thực – vì câu chuyện càng căng thẳng về tính xác tín, các yếu tố trong đó càng phải thuyết phục.

    Một ví dụ điển hình là câu chuyện Hoá thân của Franz Kafka. Đây là câu chuyện về một người đàn ông thức dậy một buổi sáng và phát hiện mình đã biến thành một con gián, trong khi vẫn giữ bản chất con người. Phần còn lại của câu chuyện kể về cuộc sống, cảm xúc và cái chết chung cục của anh ta như một con côn trùng với bản chất con người, và tình huống này được độc giả chấp nhận vì chi tiết cụ thể của câu chuyện hoàn toàn thuyết phục. Sự thật là câu chuyện này mô tả bản chất kép của con người một cách thực tế đến mức gần như không thể chịu nổi. Sự thật không bị bóp méo ở đây, mà đúng hơn, một sự bóp méo nhất định được sử dụng để tiếp cận sự thật. Nếu chúng ta thừa nhận, như chúng ta phải thừa nhận, rằng vẻ bề ngoài không giống với thực tại, thì chúng ta phải cho nghệ sĩ tự do thực hiện một số sắp xếp lại tự nhiên nếu những điều này dẫn đến chiều sâu lớn hơn của tầm nhìn. Bản thân nghệ sĩ luôn phải nhớ rằng thứ anh ta đang sắp xếp lại là tự nhiên, và anh ta phải biết nó và có thể mô tả nó chính xác để có quyền sắp xếp lại nó.

    Vấn đề đặc biệt của nhà văn truyện ngắn là làm thế nào để hành động anh ta mô tả tiết lộ càng nhiều bí ẩn của sự tồn tại càng tốt. Anh ta chỉ có một không gian ngắn để làm điều đó và không thể làm điều đó bằng cách nói suông. Anh ta phải làm điều đó bằng cách phô bày, không phải bằng cách nói, và bằng cách cho thấy cái cụ thể – vì vậy vấn đề thực sự của anh ta là làm thế nào để cái cụ thể làm việc gấp đôi cho anh ta. Trong truyện hư cấu hay, một số chi tiết sẽ có xu hướng tích lũy ý nghĩa từ chính hành động của câu chuyện, và khi điều này xảy ra, chúng trở thành biểu tượng theo cách chúng hoạt động. Tôi từng viết một câu chuyện có tên “Những người nhà quê tốt bụng,” trong đó một nữ tiến sĩ bị một gã bán Kinh Thánh ăn cắp cái chân gỗ sau khi cô ta cố gắng quyến rũ hắn. Bây giờ tôi thừa nhận rằng, khi được diễn giải theo cách này, tình huống chỉ là một trò đùa vặt vãnh. Độc giả trung bình hài lòng khi thấy chân gỗ của bất kỳ ai bị ăn cắp. Nhưng không ngừng hấp dẫn độc giả đó và không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về ý định cao cả, câu chuyện này vẫn xoay sở để hoạt động ở một cấp độ trải nghiệm khác, bằng cách để cái chân gỗ tích lũy ý nghĩa. Ngay từ đầu câu chuyện, chúng ta được biết rằng nữ tiến sĩ không chỉ tàn tật về thể chất mà còn về tinh thần. Cô ta không tin vào bất cứ điều gì ngoài niềm tin của mình vào sự hư vô, và chúng ta nhận ra rằng có một phần gỗ trong tâm hồn cô ta tương ứng với cái chân gỗ của cô ta. Tất nhiên, điều ấy không bao giờ được nói ra. Nhà văn tiểu thuyết nói càng ít càng tốt. Độc giả tự kết nối từ những gì được bày ra trước mắt họ. Họ có thể không biết rằng mình đã kết nối, nhưng mối liên kết vẫn có ở đó và có tác động đến họ. Khi câu chuyện tiếp diễn, cái chân gỗ tiếp tục tích lũy ý nghĩa. Độc giả biết được cô gái cảm thấy thế nào về cái chân của mình, mẹ cô cảm thấy thế nào về nó, và người phụ nữ nhà quê ở đó cảm thấy thế nào về nó; và cuối cùng, khi gã bán Kinh Thánh xuất hiện, cái chân gỗ đã tích lũy quá nhiều ý nghĩa đến mức, như người ta nói, nó “nặng trĩu”. Và khi gã bán Kinh Thánh ăn cắp nó, độc giả nhận ra rằng hắn đã lấy đi một phần bản ngã của cô gái và lần đầu tiên tiết lộ cho cô ta thấy sự tật nguyền sâu sắc hơn của mình.

    Nếu bạn muốn nói rằng cái chân gỗ là một biểu tượng, bạn có thể nói như vậy. Nhưng trước hết nó là một cái chân gỗ, và với tư cách là một cái chân gỗ, nó hoàn toàn cần thiết cho câu chuyện. Nó có vị trí ở cấp độ chữ nghĩa của câu chuyện, nhưng nó cũng hoạt động ở chiều sâu cũng như trên bề mặt. Nó mở rộng câu chuyện theo mọi hướng, và đây về cơ bản là cách một câu chuyện thoát khỏi việc bị ngắn.

    Bây giờ có thể nói một chút về cách điều này xảy ra. Tôi không muốn bạn nghĩ rằng trong câu chuyện đó, tôi đã ngồi xuống và nói, “Bây giờ tôi sẽ viết một câu chuyện về một nữ tiến sĩ với một cái chân gỗ, dùng cái chân gỗ làm biểu tượng cho một loại tật nguyền khác.” Tôi nghi ngờ liệu có nhiều nhà văn biết mình sẽ làm gì khi bắt đầu. Khi tôi bắt đầu viết câu chuyện đó, tôi không biết sẽ có một nữ tiến sĩ với cái chân gỗ trong đó. Tôi chỉ thấy bản thân vào một buổi sáng đang viết về hai người phụ nữ mà tôi quen biết, và trước khi nhận ra, tôi đã cho một người trong số họ một cô con gái với cái chân gỗ. Khi câu chuyện tiến triển, tôi đưa vào gã bán Kinh Thánh, nhưng tôi chưa biết sẽ làm gì với hắn. Tôi không biết hắn sẽ ăn cắp cái chân gỗ cho đến mươi hoặc mười hai dòng trước khi điều đó xảy ra, nhưng khi tôi phát hiện ra đó là điều sẽ xảy ra, tôi biết điều ấy là không tránh khỏi. Đây là một câu chuyện gây sốc cho độc giả, và tôi nghĩ một lý do là vì nó đã gây sốc cho chính nhà văn. Dù câu chuyện này hình thành theo cách dường như vô thức như vậy, nó là một câu chuyện hầu như không cần chỉnh sửa. Nó là một câu chuyện được kiểm soát trong suốt quá trình viết, và có thể đặt câu hỏi rằng sự kiểm soát như vậy đến từ đâu, vì nó không hoàn toàn có ý thức.

    Tôi nghĩ câu trả lời cho điều này là điều mà Maritain gọi là “thói quen của nghệ thuật.” Sự thật là viết tiểu thuyết là một việc mà toàn bộ nhân cách tham gia – cả tâm trí ý thức lẫn vô thức. Nghệ thuật là thói quen của nghệ sĩ; và các thói quen phải được bám rễ sâu trong toàn bộ nhân cách. Chúng phải được trau dồi như bất kỳ thói quen nào khác, qua một thời gian dài, bằng trải nghiệm; và việc dạy bất kỳ loại hình viết nào phần lớn là giúp sinh viên xây dựng thói quen của nghệ thuật. Tôi nghĩ đây không chỉ là một kỷ luật, mặc dù đúng là như vậy; tôi nghĩ đó là một cách nhìn vào thế giới được tạo ra và sử dụng các giác quan để tìm ra càng nhiều ý nghĩa càng tốt trong mọi thứ.

    Giờ thì tôi không ngây ngô đến mức cho rằng hầu hết mọi người đến các hội thảo nhà văn để nghe về loại tầm nhìn cần thiết để viết những câu chuyện sẽ trở thành một phần vĩnh cửu của văn học. Ngay cả khi bạn muốn nghe điều này, mối quan tâm lớn nhất của bạn là những vấn đề thực tế ngay lập tức. Bạn muốn biết làm thế nào để thật sự viết một câu chuyện hay, và hơn nữa, làm thế nào để biết khi nào bạn đã làm được điều đó; và vì vậy bạn muốn biết hình thức của một truyện ngắn là gì, như thể hình thức là thứ tồn tại bên ngoài mỗi câu chuyện và có thể được áp dụng hoặc áp đặt lên chất liệu. Tất nhiên, càng viết nhiều, bạn sẽ càng nhận ra rằng hình thức là hữu cơ, rằng nó là thứ phái sinh từ chất liệu, rằng hình thức của mỗi câu chuyện là độc nhất. Một câu chuyện hay không thể bị thu gọn, nó chỉ có thể được mở rộng. Một câu chuyện hay khi bạn tiếp tục thấy ngày càng nhiều trong đó, và khi nó tiếp tục thoát khỏi bạn. Trong hư cấu, hai cộng hai luôn nhiều hơn bốn.

    Cách duy nhất, tôi nghĩ, để học viết truyện ngắn là viết chúng, và sau đó cố gắng khám phá xem bạn đã làm được gì. Thời điểm để xét về kỹ thuật là khi bạn thực sự có câu chuyện trong tay. Giáo viên có thể giúp sinh viên bằng cách xem xét công việc cá nhân của họ và cố gắng giúp họ quyết định liệu họ đã viết một câu chuyện hoàn chỉnh hay chưa, một câu chuyện mà hành động rọi chiếu đầy đủ ý nghĩa. Có lẽ điều hữu ích nhất tôi có thể làm là kể cho bạn về một số quan sát chung mà tôi đã thực hiện về bảy câu chuyện của các bạn mà tôi đã đọc. Tất cả các quan sát này sẽ không hoàn toàn phù hợp với bất kỳ câu chuyện nào, nhưng chúng là những điểm mà bất kỳ ai quan tâm đến việc viết đều nên cân nhắc.

    Điều đầu tiên mà bất kỳ nhà văn chuyên nghiệp nào nhận thức được khi đọc bất cứ thứ gì, dĩ nhiên, là cách sử dụng ngôn từ. Cách sử dụng ngôn từ trong các câu chuyện này là như thế, ngoại trừ một trường hợp, rất khó để phân biệt câu chuyện này với câu chuyện khác. Mặc dù tôi nhớ đã bắt gặp một vài câu sáo rỗng, tôi không thể nhớ nổi một hình ảnh hay một ẩn dụ nào từ bảy câu chuyện đó. Tôi không có ý nói rằng không có hình ảnh trong chúng; tôi chỉ muốn nói rằng không có hình ảnh nào đủ ấn tượng để bạn mang theo.

    Liên quan đến điều này, tôi đã có một quan sát khác khiến tôi khá bàng hoàng. Ngoại trừ một câu chuyện, hầu như không có sự ứng dụng ngôn ngữ địa phương. Đây là một Hội thảo Nhà văn miền Nam. Tất cả các địa chỉ trong những câu chuyện này đều ở Georgia hoặc Tennessee, vậy mà không có cảm giác đặc trưng nào về cuộc sống miền Nam trong chúng. Một vài địa danh được nhắc đến, Savannah hoặc Atlanta hoặc Jacksonville, nhưng chúng có thể dễ dàng được đổi thành Pittsburgh hoặc Passaic mà không cần thay đổi gì khác trong câu chuyện. Các nhân vật nói chuyện như thể họ chưa bao giờ nghe bất kỳ loại ngôn ngữ nào ngoài những gì phát ra từ một chiếc vô tuyến. Điều này cho thấy có điều gì đó rất lệch lạc.

    Có hai phẩm chất tạo nên hư cấu. Một là cảm giác bí ẩn và hai là cảm giác về phong thái. Bạn có được phong thái từ kết cấu của sự tồn tại xung quanh bạn. Lợi thế lớn của việc là một nhà văn miền Nam là chúng ta không phải đi đâu xa để tìm phong thái; dù tốt hay xấu thì chúng ta vẫn dồi dào về mặt này. Chúng ta sống ở miền Nam trong một xã hội giàu mâu thuẫn, giàu châm biếm, giàu tương phản, và đặc biệt giàu có trong cách nói chuyện. Vậy mà đây là sáu [có lẽ Flannery viết nhầm, đúng ra phải là bảy] câu chuyện của người miền Nam mà hầu như không sử dụng những món quà của vùng này. Tất nhiên, lý do cho việc này có thể là bạn đã thấy những món quà này bị lạm dụng quá thường xuyên đến mức bạn trở nên tự ý thức khi sử dụng chúng. Nhưng không có gì tệ hơn việc một nhà văn không tận dụng những món quà của vùng, mà đắm mình trong chúng. Mọi thứ trở nên quá miền Nam đến mức gây khó chịu, quá địa phương đến mức không thể hiểu nổi, quá chân thực đến mức không truyền tải được gì. Cái chung bị chôn vùi trong cái riêng thay vì được thể hiện qua nó. Tuy nhiên, khi cuộc sống thực sự xung quanh chúng ta bị hoàn toàn bỏ qua, khi các cách thức nói chuyện của chúng ta bị bỏ qua hoàn toàn, thì có điều gì đó không ổn. Nhà văn nên tự hỏi liệu mình có đang vươn tới một loại cuộc sống xa lạ với mình hay không.

    Một ngôn ngữ đặc trưng phản ánh một xã hội, và khi bạn bỏ qua ngôn ngữ đó, bạn rất có thể đang bỏ qua toàn bộ kết cấu xã hội có thể tạo nên một nhân vật đầy ý nghĩa. Bạn không thể tách nhân vật ra khỏi xã hội của họ và nói được nhiều về họ như những cá nhân. Bạn không thể nói bất cứ điều gì ý nghĩa về bí ẩn của một nhân cách trừ khi bạn đặt nhân cách đó trong một bối cảnh xã hội đáng tin cậy và có ý nghĩa. Và cách tốt nhất để làm điều này là thông qua chính ngôn ngữ của nhân vật. Khi bà lão trong một câu chuyện của Andrew Lytle nói một cách khinh miệt rằng bà có một con la già hơn Birmingham, chúng ta cảm nhận được trong một câu đó cả một xã hội và lịch sử của nó. Phần lớn công việc của nhà văn miền Nam đã được thực hiện trước khi họ bắt đầu, vì lịch sử của chúng ta nằm trong cách nói chuyện của chúng ta. Trong một câu chuyện của Eudora Welty, một nhân vật nói, “Nơi tôi đến, chúng tôi dùng cáo làm chó và cú làm gà, nhưng chúng tôi hát đúng lời.” Bây giờ, trong một câu đó có cả một cuốn sách; và khi người dân ở khu vực của bạn có thể nói như vậy, và bạn bỏ qua điều đó, bạn chỉ đang không tận dụng những gì thuộc về mình. Âm thanh của cách nói chuyện của chúng ta quá rõ ràng để có thể bị vứt bỏ mà không bị trừng phạt, và nếu nhà văn cố gắng loại bỏ nó, họ có thể phá hủy phần lớn sức mạnh sáng tạo của mình.

    Một điều khác tôi nhận thấy về các câu chuyện này là hầu hết chúng không đi sâu vào bên trong một nhân vật, không tiết lộ nhiều về nhân vật. Tôi không có ý nói rằng chúng không đi vào tâm trí của nhân vật, mà chỉ là chúng không cho thấy nhân vật có một nhân cách. Điều này lại liên quan một phần đến ngôn ngữ. Những nhân vật này không có cách nói đặc trưng để thể hiện bản thân; và đôi khi họ không có đặc điểm thực sự nổi bật. Bạn cảm thấy cuối cùng rằng không có nhân cách nào được tiết lộ vì không có nhân cách nào ở đó cả. Trong hầu hết các câu chuyện hay, chính nhân cách của nhân vật tạo ra hành động của câu chuyện. Trong hầu hết các câu chuyện này, tôi cảm thấy rằng nhà văn đã nghĩ ra một hành động nào đó và sau đó tìm một nhân vật để thực hiện nó. Bạn thường sẽ thành công hơn nếu bắt đầu theo cách ngược lại. Nếu bạn bắt đầu với một nhân cách thực sự, một nhân vật thực sự, thì điều gì đó chắc chắn sẽ xảy ra; và bạn không cần phải biết điều gì trước khi bắt đầu. Thực tế, có thể tốt hơn nếu bạn không biết điều gì trước khi bắt đầu. Bạn có thể khám phá điều gì đó từ câu chuyện của mình. Nếu bạn không làm được, có lẽ không ai khác sẽ làm được.


  • 18 quy tắc viết văn của Chekhov

    Đọc thử

    Nghe tiêu đề thì có vẻ nghiêm trọng đấy…


    Anton Chekhov (1860 – 1944), cây bút truyện ngắn vĩ đại của văn học Nga. Nguồn ảnh: Fine Art Images

    Quy tắc dành cho các cây bút mới vào nghề

    (Quà tặng kỷ niệm – Thay vì hộp thư)

    Mỗi đứa trẻ vừa chào đời cần được tắm rửa cẩn thận, để nó nghỉ ngơi sau những ấn tượng đầu tiên, rồi quất roi thật mạnh kèm theo lời dặn: “Không được viết! Không được viết! Không được làm nhà văn!” Nếu, bất chấp sự trừng phạt này, đứa trẻ vẫn bộc lộ khuynh hướng viết lách, hãy thử đối xử mềm mỏng. Nếu ngay cả sự dịu dàng cũng vô tác dụng thì hãy buông xuôi và nói rằng “hỏng rồi”. Cơn ngứa viết lách là không thể chữa khỏi.

    Con đường của người viết từ đầu chí cuối đầy rẫy chông gai, đinh sắt và cây tầm ma, vì vậy một người tỉnh táo phải tìm mọi cách tránh xa việc viết lách. Nhưng nếu số phận nghiệt ngã, bất chấp mọi cảnh báo, vẫn đẩy ai đó vào con đường làm nhà văn, thì con người bất hạnh đó cần tuân thủ các quy tắc sau:

    1) Nên nhớ rằng viết lách ngẫu hứng hoặc viết theo dịp tốt hơn viết liên tục. Một người soát vé xe làm thơ sẽ sống dễ chịu hơn một nhà thơ không làm soát vé.

    2) Cũng cần khắc ghi rằng thất bại trong văn chương hơn hẳn thành công cả nghìn lần. Thất bại chỉ bị trừng phạt bằng sự thất vọng và sự thẳng thắn đáng buồn từ hộp thư, còn thành công kéo theo việc mệt mỏi chạy theo nhuận bút, nhận thù lao bằng phiếu giảm giá năm 1899, “hệ lụy” và những lần thử sức mới.

    3) Viết như một “nghệ thuật vì nghệ thuật” có lợi hơn sáng tác vì tiền bạc tầm thường. Nhà văn không mua được nhà, không đi toa hạng nhất, không chơi cò quay, không ăn súp cá tầm. Thức ăn của họ là mật ong và châu chấu do Savrasenkov chế biến, chỗ ở là phòng trọ có sẵn đồ đạc, phương tiện di chuyển là đi bộ.

    4) Danh tiếng là miếng vá sáng chói trên tấm áo rách của người nghệ sĩ, còn sự nổi tiếng văn chương chỉ có ở những nơi mà khi nghe từ “nhà văn” người ta không phải tra “Từ điển 30.000 từ nước ngoài.”

    5) Ai cũng có thể thử viết, bất kể địa vị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn hay tình trạng gia đình. Ngay cả người điên, người yêu sân khấu hay kẻ mất hết quyền lợi cũng không bị cấm viết. Tuy nhiên, tốt nhất những ai leo lên ngọn núi Parnassus nên là người trưởng thành, biết rằng từ “đi” và “bánh mì” trong tiếng Nga được viết với chữ “ять” (hàm ý cần nắm rõ ngữ pháp cơ bản.)

    6) Tốt hơn hết họ không nên là sĩ quan trẻ tuổi hay học sinh trung học.

    7) Giả định rằng người viết, ngoài khả năng trí tuệ thông thường, cần có kinh nghiệm sống. Những người nhận nhuận bút cao nhất là những người đã kinh qua lửa, nước và ống đồng, còn thấp nhất là những tâm hồn trong trẻo, chưa bị vấy bẩn. Nhóm đầu gồm: người kết hôn lần ba, người tự vẫn bất thành, người tay trắng trong cờ bạc, người đấu súng tay đôi, người trốn nợ, v.v. Nhóm sau là: người không nợ nần, chàng rể tương lai, người không uống rượu, nữ sinh, v.v.

    8) Trở thành nhà văn rất dễ. Không có kẻ dị dạng nào không tìm được bạn đời, cũng không có thứ nhảm nhí nào không tìm được độc giả phù hợp. Vì vậy, đừng ngần ngại… Đặt giấy trước mặt, cầm bút lên, khơi dậy ý nghĩ bị giam cầm và viết. Viết về bất cứ thứ gì: mận khô, thời tiết, nước kvass của Govorov, Đại dương, kim đồng hồ, tuyết năm ngoái… Viết xong, cầm bản thảo, cảm nhận sự run rẩy thiêng liêng trong huyết quản, rồi đến tòa soạn. Cởi giày cao su ở tiền sảnh, hỏi: “Ông biên tập có đây không?”, rồi bước vào thánh đường, tràn trề hy vọng, trao tác phẩm của mình… Sau đó, nằm dài trên ghế sofa ở nhà một tuần, nhổ nước bọt lên trần nhà và mơ mộng. Một tuần sau, quay lại tòa soạn và nhận lại bản thảo. Tiếp theo là hành trình gõ cửa các tòa soạn khác… Khi tất cả tòa soạn đều từ chối, hãy tự xuất bản tác phẩm. Sẽ có độc giả.

    9) Nhưng trở thành nhà văn được in và được đọc thì rất khó. Để làm được, bạn phải tuyệt đối biết chữ và có tài năng dù chỉ nhỏ như hạt đậu lăng. Nếu không có tài lớn, tài nhỏ cũng được quý trọng.

    10) Hãy trung thực. Đừng ăn cắp của người khác rồi nhận là của mình, đừng in cùng một tác phẩm ở hai nơi, đừng giả mạo người khác, đừng gọi tác phẩm ngoại quốc là sáng tác gốc, v.v. Nói chung, hãy nhớ mười điều răn.

    11) Trong thế giới xuất bản có những phép lịch sự. Cũng như trong đời sống, không nên giẫm lên vết chai yêu thích của người khác, hỉ mũi vào khăn tay của họ, hay thọc tay vào đĩa của người khác, v.v.

    12) Nếu muốn viết, hãy làm như sau. Trước tiên chọn chủ đề. Bạn có toàn quyền tự do. Bạn có thể tùy ý, thậm chí độc đoán. Nhưng để không khám phá lại châu Mỹ hay tái phát minh thuốc súng, hãy tránh những chủ đề đã bị khai thác từ lâu.

    13) Chọn xong chủ đề, cầm cây bút không gỉ sét, viết rõ ràng, không nguệch ngoạc, trên một mặt giấy, để mặt kia trống. Điều này không chỉ vì lợi ích của các nhà sản xuất giấy, mà còn vì những lý do cao cả hơn.

    14) Khi thả hồn theo trí tưởng tượng, hãy kìm tay lại. Đừng để nó chạy theo số lượng dòng. Bạn càng viết ngắn và ít, bạn càng được in nhiều và thường xuyên hơn. Sự ngắn gọn không làm hỏng việc.

    15) Viết xong, ký tên. Nếu không muốn nổi tiếng và sợ bị đánh, hãy dùng bút danh. Nhưng nhớ rằng, dù ẩn danh thế nào, tên thật và địa chỉ của bạn phải được tòa soạn biết. Điều này cần thiết phòng khi biên tập viên muốn chúc mừng bạn năm mới.

    16) Nhận nhuận bút ngay sau khi được in. Tránh xin tạm ứng. Tạm ứng là ăn trước tương lai.

    17) Nhận nhuận bút rồi, làm gì tùy bạn: mua tàu hơi nước, tháo khô đầm lầy, chụp ảnh, đặt chuông Phần Lan, tăng gấp ba vòng váy của vợ… nói chung, bất cứ thứ gì. Tòa soạn trả nhuận bút là trao cả quyền tự do hành động. Tuy nhiên, nếu tác giả muốn gửi biên tập viên bảng chi tiêu nhuận bút, tòa soạn sẽ không phản đối.

    18) Cuối cùng, hãy đọc lại những dòng đầu tiên của “Quy tắc” này.


  • Maupassant trong mắt Tolstoy

    Đọc thử

    Lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh “The Works of Guy de Maupassant”.


    Các trước tác của Maupassant

    (Lev Tolstoy)

    Hình như là vào năm 1881, Turgenev, trong một lần ghé thăm, đã rút từ túi xách ra một tập truyện Pháp có tựa đề Maison Tellier và đưa cho tôi.

    “Đọc thử xem sao,” ông nói, vẻ thản nhiên, hệt như năm ngoái ông từng đưa tôi một số báo Russian Wealth, trong có một bài viết của Garshin, một tác giả mới vào nghề. Rõ rành, tương tự trường hợp của Garshin, giờ đây ông e mình sẽ tác động tới tôi theo hướng này hay hướng khác, và ông muốn biết ý kiến không thiên lệch của tôi.

    “Anh ta là một nhà văn trẻ người Pháp,” ông nói; “cứ đọc qua đi, – không tồi đâu; anh ta biết cậu và kính trọng cậu vô ngần,” ông nói thêm, như để khích lệ tôi. “Con người anh ta làm tôi nhớ đến Druzhinin. Anh ta là một cậu con trai mẫu mực, một người bạn tuyệt vời, un homme d’un commerce sur, như Druzhinin vậy, và, thêm nữa, anh ta gắn bó với cánh thợ thuyền, anh ta dẫn dắt và đỡ đần họ. Ngay cả thái độ của anh ta với phụ nữ cũng làm tôi nhớ đến Druzhinin.”

    Và Turgenev kể tôi nghe một điều đáng kinh ngạc và khó tin về Maupassant trong khía cạnh này.

    Thời gian này, cái năm 1881 ấy, đối với tôi là quãng thời gian sôi nổi nhất của sự tái cơ cấu toàn bộ thế giới quan trong tôi, và trong công cuộc tái cấu trúc này, hoạt động được gọi là nghệ thuật mà dạo trước tôi từng cống hiến toàn tâm toàn ý, đã không chỉ mất đi tính quan thiết mà tôi gán cho nó, mà thậm chí còn trở nên đáng ngán rõ rệt bởi vị trí sai lệch mà nó chiếm lĩnh trong cuộc đời tôi và trong quan niệm của những người thuộc tầng lớp thượng lưu nói chung.

    Vì lý do này mà vào quãng thời gian đó tôi không hề có chút hứng thú nào với những tác phẩm như cái mà Turgenev đã gợi ý. Nhưng, để chiều lòng ông, tôi đã đọc cuốn sách.

    Ngay từ câu chuyện đầu tiên, Maison Tellier, tôi không thể không nhận thấy, mặc dù cốt truyện có phần khiếm nhã và tầm thường, rằng tác giả này sở hữu cái gọi là tài năng.

    Tác giả được phú cho một thiên tư đặc biệt, gọi là tài năng, có nghĩa là năng lực điều hướng, tuỳ theo ý thích của anh ta, sức tập trung mãnh liệt, dai dẳng, vào một hoặc nhiều đối tượng, qua đó người sở hữu nhìn thấy ở những đối tượng mà anh ta chú mục tới, điều gì đó mới lạ, điều mà những người khác không thấy. Hiển nhiên Maupassant sở hữu năng lực nhìn thấy trong những chủ thể điều gì đó mà người khác không thấy. Nhưng, chiếu theo tập sách nhỏ mà tôi đã đọc, anh ta hoàn toàn thiếu hụt tiêu chí quan trọng nhất, bên cạnh tài năng, để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

    Trong ba tiêu chí:

    1. một mối quan hệ đúng đắn, tức là, một mối quan hệ đạo đức của nhà văn với chủ đề,

    2. sự rõ ràng trong cách trình bày, hoặc vẻ đẹp của hình thức, cũng tương tự nhau, và

    3. sự chân thành, tức là, cảm xúc yêu hay ghét thành thật với thứ mà nghệ sĩ mô tả

    Maupassant chỉ sở hữu hai cái cuối, và hoàn toàn thiếu cái đầu tiên. Tức là, anh ta không có mối quan hệ đạo đức đúng đắn với những chủ đề được diễn tả. Từ những gì tôi đã đọc, tôi bị thuyết phục rằng Mauppasant có tài, tài ở đây là cái năng lực tập trung mà theo đó những vấn đề và hiện tượng của cuộc sống hé lộ cho nhà văn những phẩm chất mà người khác không nhìn ra; đồng thời anh ta sở hữu một hình thức tao nhã, tức là anh ta diễn tả những gì mình muốn nói một cách rõ ràng, đơn giản, và đẹp, và anh ta cũng đáp ứng cái tiêu chí giúp cấu thành một tác phẩm nghệ thuật đích thực, mà thiếu nó thì không gây nổi ấn tượng gì, — sự chân thành, — anh ta không vờ vĩnh yêu hay ghét, mà thực sự yêu và ghét cái anh ta mô tả. Nhưng thật không may, bởi thiếu sót điều kiện đầu tiên, gần như là điều kiện quan trọng nhất của một tác phẩm nghệ thuật đích thực, về mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cái mà anh ta miêu tả, hay về sự hiểu biết về khác biệt giữa tốt và xấu, anh ta đã yêu và mô tả những gì không đáng để yêu và mô tả, và lại không yêu và không mô tả những cái đáng ra anh ta phải yêu và mô tả. Thế là anh nhà văn trong tuyển truyện này tỏ ra ưa chuộng và miệt mài mô tả cách đàn bà quyến rũ đàn ông và cách đàn ông cám dỗ đàn bà, và thậm chí còn mô tả vài chi tiết tục tĩu khó hiểu, được phô bày trong La Femme de Paul, và anh ta khắc hoạ người dân lao động nông thôn, không chỉ với sự thờ ơ, mà thậm chí với sự khinh miệt, coi họ không khác gì loài cầm thú.

    Sự thiếu phân định phải trái đặc biệt nổi cộm trong câu chuyện Une Partie de Campagne, ở đó, dưới một dạng thức giễu cợt thông minh và dí dỏm nhất , anh ta tỉ mỉ thuật lại cách hai người đàn ông với cánh tay để trần, đang chèo thuyền, cùng lúc cám dỗ hai người đàn bà; một gã quyến rũ bà mẹ già, và gã còn lại dụ dỗ một thiếu nữ trẻ, con gái của bà kia.

    Sự cảm thông của tác giả trong suốt thiên truyện rõ ràng thiên về phía hai gã bất lương, theo đó nhà văn phớt lờ, hoặc, tệ hơn, không nhìn thấy những gì mà bà mẹ bị cám dỗ, cô gái, người cha, và chàng trai trẻ, hiển nhiên là vị hôn phu của cô con gái, đã phải hứng chịu, và do đó chúng ta không chỉ nhận được một mô tả thái quá về một tội ác tày đình dưới dạng thức một trò đùa vui nhộn, mà tự bản thân sự kiện cũng bị mô tả sai lệch, vì chỉ có một khía cạnh vô cùng tầm thường của chủ đề được mô tả: khoái cảm mà những kẻ vô lại nhận được.

    Trong cùng tập sách đó có một truyện ngắn, Histoire d’une Fille de Ferme, mà Turgenev đặc biệt khuyến nghị với tôi, và truyện này càng làm tôi khó chịu hơn, một phần cũng vì thái độ không đúng đắn của tác giả đối với chủ đề này. Tác giả dường như chỉ nhìn tất cả những người lao động mà anh ta mô tả như những con vật, những kẻ không vượt lên trên được tình mẫu tử và thú nhục dục, nên cách miêu tả này để lại cho chúng ta một ấn tượng nửa vời, giả tạo.

    Sự thiếu hiểu biết về cuộc sống và lợi ích của giai cấp công nhân, và việc khắc hoạ những người thuộc tầng lớp đó dưới hình thái nửa người nửa thú, chỉ bị thúc đẩy bởi nhục dục, ác tâm, và lòng tham, là một trong những thiếu sót chính và nổi cộm nhất của phần lớn các tác giả Pháp đương đại, trong đó có Maupassant, không riêng câu chuyện này mà còn ở tất cả các câu chuyện khác, trong đó anh ta bàn phớt về nhân dân và luôn khắc hoạ họ như những con vật thô kệch, ngu đần, chỉ đáng đem ra mà chế nhạo. Tất nhiên, các tác giả Pháp hẳn phải hiểu rõ tình cảnh của nhân dân nước họ hơn tôi; nhưng, dù tôi là người Nga chăng nữa, và chưa từng sống với nhân dân Pháp, tôi vẫn quả quyết rằng các tác giả Pháp đã mô tả sai về quần chúng nước nhà, và nhân dân Pháp không thể giống những gì họ được mô tả. Nếu có một nước Pháp như chúng ta đã biết, nước Pháp với những con người thật sự vĩ đại với những đóng góp to lớn cho khoa học, nghệ thuật, chính sách dân sự và sự trau dồi đạo đức của nhân quần, thì những người dân lao động đã gánh trên vai cả nước Pháp lẫn những nhân vật vĩ đại của nó không thể là loài súc vật, mà phải là những con người có phẩm giá tinh thần cao thượng; và vì vậy, tôi không tin vào các tiểu thuyết như La Terre và các câu chuyện của Maupassant, cũng như tôi sẽ không tin nếu người ta mách tôi về sự tồn tại của một ngôi nhà khang trang mà không cần nền móng. Rất có thể những phẩm hạnh cao quý của nhân dân không hề giống những phẩm hạnh được mô tả trong La petit Fadette và La Mare au Diable, nhưng những phẩm chất này có tồn tại, tôi cam đoan thế, và nhà văn mô tả quần chúng, như Maupassant đã làm, bằng cách kể lể một cách chân thành về “hông” và “khe vú” của những hầu gái người Breton, nhưng lại tỏ ra khinh miệt và giễu cợt cuộc sống của dân lao động, đã phạm một sai lầm lớn về mặt nghệ thuật, bởi vì anh ta chỉ mô tả chủ thể từ một khía cạnh vật chất ít thú vị nhất, mà hoàn toàn bỏ qua khía cạnh còn lại, khía cạnh tinh thần quan yếu nhất, cái cấu thành bản chất của chủ thể.

    Nói chung, khi đọc xong cuốn sách mà Turgenev đưa cho, tôi hoàn toàn dửng dưng với nhà văn trẻ này.

    Vào thời điểm đó, tôi cực lực chán ghét những câu chuyện Une Partie de Campagne, La Femme de PaulL’Histoire d’une Fille de Ferme đến nỗi tôi không để ý đến câu chuyện tuyệt đẹp Le Papa de Simon và thiên truyện xuất sắc Sur l’Eau trong đoạn mô tả buổi đêm.

    “Thời đại của chúng ta, khi có quá nhiều người muốn viết, thì cũng có rất nhiều người có tài năng nhưng không biết vận dụng vào việc gì, hoặc liều lĩnh áp dụng vào những điều sai trái và không nên được mô tả chút nào,” tôi nghĩ. Thế là tôi nói với Turgenev. Và tôi quên tiệt Maupassant.

    Tác phẩm tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Une Vie, do ai đó khuyên tôi đọc. Cuốn sách này ngay lập tức khiến tôi thay đổi suy nghĩ về Maupassant, và sau đó tôi hứng thú đọc mọi thứ được viết dưới tên anh ta. Une Vie là một tiểu thuyết trác tuyệt, không chỉ là tiểu thuyết hay nhất của Maupassant, mà còn gần như là tiểu thuyết Pháp hay nhất kể từ Les Misérables của Hugo. Ngoài sức mạnh đáng kể của tài năng, tức là sức tập trung đặc biệt mãnh liệt dành cho chủ đề, nhờ đó nhà văn nhìn thấy những nét hoàn toàn mới trong cuộc sống mà anh ta mô tả, tiểu thuyết này còn kết hợp, gần như ở mức độ ngang bằng, cả ba điều kiện của một tác phẩm nghệ thuật đích thực:

    1. mối quan hệ đúng đắn, tức là mối quan hệ đạo đức, của tác giả với chủ đề,
    2. vẻ đẹp của hình thức,
    3. sự chân thành, tức là tình yêu dành cho những gì tác giả mô tả.

    Ở đây, ý nghĩa của cuộc sống không còn được tác giả nhìn nhận qua những trải nghiệm của các nhân vật phóng đãng nữa, mà nội dung, như tựa đề đã tiết lộ, là mô tả về cuộc đời của một người phụ nữ ngây thơ, ngọt ngào, đón chờ mọi điều tốt đẹp, nhưng bị hủy hoại bởi chính sự thô bỉ, bởi bản năng thú vật, mà trong các câu chuyện trước đó tác giả coi là hiện tượng trung tâm của cuộc sống, chi phối mọi thứ, và ở đây sự đồng cảm của tác giả hoàn toàn hướng thiện.

    Hình thức, vốn đã đẹp ngay từ những câu chuyện đầu tiên, giờ được nâng lên một tầm mức hoàn hảo, mà theo tôi, chưa một người viết viết văn xuôi Pháp nào từng đạt đến. Và, bên cạnh đó, điều quan trọng nhất, ở đây tác giả thực sự yêu thương, và yêu thương mãnh liệt, gia đình tốt đẹp mà anh ta mô tả, và thực sự khinh miệt gã đàn ông thô bỉ đã phá hủy hạnh phúc và sự bình yên của gia đình đáng mến này, và đặc biệt là của nhân vật nữ chính.

    Chính vì lẽ đó mà mọi sự kiện và nhân vật trong tiểu thuyết này đều quá sống động và đáng nhớ: người mẹ sa ngã, ốm o, tốt bụng; người cha cao thượng, cả nể, đáng mến; và cô con gái, thậm chí còn đáng mến hơn bởi đức giản dị, sự thuần phác và tâm thế háo hức cho mọi điều tốt đẹp; mối quan hệ giữa họ, chuyến đi đầu tiên của họ, những gia bộc, láng giềng của họ, vị hôn phu so đo, thô bỉ, keo kiệt, nhỏ nhen, vô phép, người như thường lệ đã lừa dối cô gái ngây thơ bằng cách lý tưởng hóa một cách đớn hèn những tình cảm thô thiển nhất; cuộc hôn nhân; đảo Corse với những mô tả quyến rũ về thiên nhiên; rồi cuộc sống điền viên; màn lừa dối trắng trợn của gã chồng; việc gã nắm quyền kiểm soát điền trang; những mâu thuẫn của gã với ông nhạc; sự nhượng bộ của những người tốt; chiến thắng của sự trơ tráo; mối quan hệ với hàng xóm – tất cả đều là cuộc sống thực, với tất cả sự phức tạp và muôn màu muôn vẻ của nó. Nhưng không chỉ được mô tả một cách sống động và xuất sắc, tất cả còn được bao phủ bởi một giọng điệu chân thành, cảm thông, khiến người đọc bất giác bị ảnh hưởng. Người ta cảm nhận được rằng nhà văn yêu thương người phụ nữ này, rằng anh ta yêu cô không phải vì hình thức bên ngoài, mà là vì tâm hồn của cô, vì những gì tốt đẹp trong cô, và rằng anh ta đồng cảm với cô và đau khổ vì cô, và cảm giác này bất giác lan truyền sang người đọc. Những câu hỏi về lý do tại sao, vì mục đích gì mà cô gái ngây thơ này bị hủy hoại, và tại sao mọi chuyện phải như vậy, tự nhiên nảy sinh trong tâm hồn độc giả, và khiến họ khựng lại và suy ngẫm về ý nghĩa và giá trị của cuộc sống con người.

    Dù có một vài khuyết điểm xuất hiện rải rác trong tiểu thuyết, như việc miêu tả chi li về làn da của thiếu nữ, hay những chi tiết không cần thiết và khó tin về việc người vợ bị ruồng rẫy, theo lời khuyên của vị linh mục, lại trở thành mẹ một lần nữa, những chi tiết tàn phá hết vẻ quyến rũ trong ngần của nữ nhân vật chính; hay câu chuyện trả thù của gã chồng bị xúc phạm, cường điệu hoá và không tự nhiên – bất chấp những khuyết điểm này, cuốn tiểu thuyết không chỉ đẹp trong mắt tôi, mà qua đó tôi không còn coi tác giả như một người kể chuyện tài năng và bỡn cợt, không biết và không muốn biết điều gì tốt, điều gì xấu, như tôi từng đánh giá anh ta qua cuốn sách đầu tiên, mà là một con người nghiêm túc, đào sâu vào cuộc sống con người và bắt đầu hiểu ra những điều trong đó.

    Tiểu thuyết tiếp theo của Maupassant mà tôi đọc là Bel-Ami.

    Bel-Ami là một cuốn sách rất bẩn thỉu. Tác giả dường như phóng túng trong việc mô tả những gì lôi cuốn anh ta, và đôi khi dường như đánh mất quan điểm căn bản, phê phán đối với nhân vật chính và chuyển sang đứng về phía y; nhưng nhìn chung, Bel-Ami, giống như Une Vie, được đặt nền tảng trên một tư tưởng và cảm xúc nghiêm túc.

    Trong Une Vie, tư tưởng cốt lõi là nỗi bàng hoàng trước sự tàn nhẫn vô nghĩa về cuộc đời đau khổ của một người phụ nữ đẹp, người bị hủy hoại bởi sự vô luân của một gã đàn ông; ở tiểu thuyết sau thì không chỉ là sự bàng hoàng nữa, mà còn là sự phẫn nộ của tác giả khi nhìn thấy sự thịnh vượng và thành công của một con thú thô tục, người nhờ chính sự thô bỉ của mình mà gây dựng cơ đồ và thủ đắc địa vị cao trong xã hội, cùng với sự phẫn nộ trước sự tha hóa của môi trường mà nhân vật chính công thành danh toại. Ở cuốn trước, tác giả dường như thắc mắc: “Tại sao, vì mục đích gì, sinh vật đáng yêu này bị hủy hoại? Tại sao chuyện đó lại xảy ra?” Ở cuốn sau, anh ta cơ hồ trả lời những câu hỏi đó: “Mọi thứ thuần khiết và tốt đẹp đã và đang bị hủy hoại trong xã hội chúng ta, bởi vì xã hội này thật khủng khiếp, đồi bại và vô nghĩa.”

    Đoạn cuối của tiểu thuyết, tả đám cưới trong một nhà thờ thời thượng của gã bất lương chiến thắng, người được thưởng Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh, với một cô gái trẻ trong trắng, con gái của người mẹ một thời chính chuyên, người mà hắn từng cám dỗ, đám cưới được giám mục ban phước và được tất cả những người tham dự công nhận đó là điều tốt đẹp và chính đáng, thể hiện ý tưởng này một cách mạnh mẽ bất thường. Trong tiểu thuyết này, dù bị cản trở bởi những chi tiết tục tĩu mà tác giả dường như thích thú, chúng ta vẫn thấy được mối quan hệ nghiêm túc của tác giả với cuộc sống.

    Hãy đọc cuộc trò chuyện của nhà thơ già với Duroy, khi họ rời khỏi nhà Walters sau bữa tối, tôi nghĩ vậy. Nhà thơ già hé lộ cuộc sống trước người đối thoại trẻ tuổi và cho anh ta thấy cuộc sống như nó vốn có, với người bạn đồng hành vĩnh cửu và không thể tránh khỏi – cái chết.

    “Cái chết đã nắm lấy tôi, la gueuse,” ông ta nói về cái chết. “Nó đã làm răng tôi lung lay, bứt trụi tóc tôi, làm gân cốt tôi tàn tạ, và sắp sửa nuốt chửng tôi. Tôi đã nằm trong tay nó, – nó chỉ đùa giỡn với tôi, như mèo vờn chuột ấy, biết tỏng không đời nào tôi thoát khỏi nó. Vinh quang, giàu có – tất cả phỏng có ích gì, khi không thể dùng chúng để mua được tình yêu của một người phụ nữ, thứ duy nhất khiến cuộc đời này đáng sống. Và cái chết sẽ tước đoạt điều đó. Nó sẽ cướp đoạt điều này trước tiên, rồi đến sức lực, nhiệt huyết, và chính cuộc sống. Và ai mà chẳng thế. Có vậy thôi.”

    Đó là ý nghĩa của những lời nhận xét của nhà thơ già. Nhưng Duroy, người tình may mắn của tất cả những người phụ nữ mà y thích, tràn đầy nhục cảm và thôi thúc bản năng đến mức y nghe mà không nghe, hiểu mà không hiểu lời của nhà thơ già. Y có nghe và hiểu, nhưng bản năng trong y tuôn trào dữ dội đến mức cái sự thật không thể chối cãi, rằng y rồi cũng phải đối mặt với cùng một kết cục, không khiến y mảy may sợ hãi.

    Chính sự mâu thuẫn nội tại này, bên cạnh ý nghĩa châm biếm, tạo nên ý nghĩa chính của Bel-Ami. Tư tưởng tương tự cũng loáng thoáng trong những phân đoạn đẹp về cái chết của nhà báo bị lao phổi. Tác giả tự đặt câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống và cách giải quyết mâu thuẫn giữa tình yêu cuộc sống và nhận thức về cái chết không thể tránh khỏi, – nhưng anh ta không trả lời những câu hỏi này. Anh ta dường như đang tìm kiếm và chờ đợi, chưa đưa ra quyết định theo bất kỳ hướng nào. Do đó, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống trong tiểu thuyết này vẫn đúng đắn.

    Nhưng trong các tiểu thuyết tiếp theo, mối quan hệ đạo đức với cuộc sống bắt đầu trở nên rối rắm, việc đánh giá các hiện tượng của cuộc sống bắt đầu dao động, mờ nhạt, và trong các tiểu thuyết cuối thì hoàn toàn bị bóp méo.

    Trong Mont-Oriol, Maupassant dường như kết hợp các động cơ của hai tiểu thuyết trước, và lặp lại chính mình về mặt nội dung. Dù có những mô tả đẹp đẽ, đầy hài hước ý nhị về một khu nghỉ dưỡng thời thượng và hoạt động của các bác sĩ ở đó, chúng ta vẫn thấy ở đây một người đàn ông, tên Paul, vừa hèn mạt vừa vô cảm như người chồng trong Une Vie, và một người phụ nữ đáng yêu, bị lừa dối, bị hủy hoại, yếu đuối, cô đơn, luôn luôn cô đơn, và vẫn cùng một sự chiến thắng lãnh đạm của sự tầm thường và sự ti tiện như trong Bel-Ami.

    Tư tưởng vẫn như cũ, nhưng mối liên hệ của tác giả với những gì anh ta mô tả giờ đây yếu hơn nhiều, đặc biệt yếu so với tiểu thuyết đầu tiên. Việc phán đoán nội tâm của tác giả về điều gì tốt, điều gì xấu bắt đầu trở nên rối rắm. Dù tác giả có chủ định tinh thần là khách quan, không thiên vị, nhưng gã bất lương Paul rõ ràng nhận được sự đồng cảm tuyệt đối của tác giả. Vì lý do này, câu chuyện về tình yêu của Paul, những nỗ lực mồi chài của hắn, và thành công của hắn gây ra một ấn tượng sai lệch. Người đọc không biết liệu tác giả muốn gì – liệu anh ta muốn phơi bày sự trống rỗng và thấp hèn của Paul, người thờ ơ quay lưng lại với người phụ nữ và xúc phạm cô chỉ vì vóc dáng cô bị tàn phá do mang thai đứa con của hắn, hay ngược lại, anh ta muốn cho thấy sống như Paul là điều dễ chịu và tuyệt vời.

    Trong các tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur, mối quan hệ đạo đức của tác giả với các nhân vật càng trở nên rối rắm hơn, và trong tiểu thuyết cuối cùng thì hoàn toàn biến mất. Trên tất cả các tiểu thuyết này đã in dấu sự thờ ơ, vội vã, giả tạo, và trên hết, lại là sự thiếu vắng mối quan hệ đạo đức đúng đắn với cuộc sống, điều đã thấy trong những tác phẩm đầu tiên của anh ta. Điều này bắt đầu từ khi danh tiếng của Maupassant như một tác giả thời thượng được thiết lập, và anh ta phải đối mặt với cám dỗ khủng khiếp mà mọi tác giả nổi tiếng, đặc biệt là một người hấp dẫn như Maupassant, phải đối mặt. Một mặt, đó là thành công của những tiểu thuyết đầu tay, sự lăng xê của báo giới, và sự tung hô của xã hội, đặc biệt là của phụ nữ; mặt khác, đó là phần thưởng ngày càng tăng, nhưng, không theo kịp những nhu cầu ngày càng lớn; thứ nữa, đó là sự thúc ép từ các nhà xuất bản, những người cạnh tranh nhau, nịnh hót, nài gặng, và không còn đánh giá chất lượng các tác phẩm mà tác giả cung cấp, mà chỉ hân hoan chấp nhận mọi thứ xuất hiện dưới cái tên đã tạo dựng được danh tiếng với công chúng. Rõ ràng tất cả những cám dỗ này quá lớn đến mức khiến tác giả say mê: anh ta chịu khuất phục chúng, và dù tiếp tục trau chuốt các tiểu thuyết về mặt hình thức, thậm chí còn tốt hơn trước, và vẫn yêu những gì mình mô tả, anh ta không còn yêu những gì mình mô tả vì nó tốt và phải đạo, tức là vì nó được mọi người yêu mến, và ghét những gì mình mô tả không phải vì nó xấu và bị mọi người khinh bỉ, mà chỉ vì một sự tình cờ nó khiến anh ta thích thứ này, còn thứ khác thì không.

    Trong tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, bắt đầu từ Bel-Ami, đều mang vết tích của sự vội vã và trên hết, của sự giả tạo. Từ đó trở đi, Maupassant không còn làm những thứ anh ta từng làm trong hai tiểu thuyết đầu tiên của mình – anh ta không còn lấy những yêu cầu đạo đức nhất định đặt nền tảng cho tiểu thuyết và dựa trên đó để mô tả hoạt động của các nhân vật, mà anh ta viết tiểu thuyết như mọi tiểu thuyết gia làng nhàng khác, tức là bịa ra những nhân vật và tình huống thú vị nhất, cảm động nhất hoặc hợp thời nhất, rồi từ đó xây dựng tiểu thuyết, trang điểm nó bằng tất cả những quan sát mà anh ta tình cờ có được và phù hợp với bộ khung của tiểu thuyết, mà không màng đến việc những sự kiện được mô tả liên quan thế nào đến các yêu cầu đạo đức. Đó là Pierre et Jean, Fort comme la Mort, và Notre Coeur.

    Dù chúng ta quen đọc trong các tiểu thuyết Pháp về các gia đình sống ba người ra sao, và luôn có một gã nhân tình mà ai cũng biết trừ ông chồng, nhưng vẫn khó hiểu làm sao mà tất cả các ông chồng luôn là những kẻ ngu ngốc, mọc sừng, và lố bịch, còn tất cả những người tình, sau rốt kết hôn và trở thành những ông chồng, thì lại không lố bịch và cũng chẳng bị cắm sừng, mà được xem là những bậc trượng phu. Và càng khó hiểu hơn làm sao tất cả phụ nữ đều phóng đãng về mặt đạo đức còn tất cả các bà mẹ thì đều thánh thiện.

    Chính trên những tình huống gượng ép, vô lý, và trên hết, vô cùng phi đạo đức này mà Pierre et JeanFort comme la Mort được cấu tứ nên, thành thử những đau khổ của các nhân vật trong những cảnh huống này không gây ở ta nhiều mối xúc động. Người mẹ của Pierre và Jean, người đã sống cả đời để lừa dối chồng mình, ít khơi gợi được sự đồng cảm khi phải thú nhận tội lỗi với con trai, và còn ít hơn nữa khi bà ta tự biện bạch, khẳng định rằng bà ta không thể không nắm bắt cơ hội hạnh phúc xảy đến với mình. Chúng ta càng ít thông cảm hơn với người đàn ông trong Fort comme la Mort, người suốt đời lừa dối bạn mình, dụ dỗ vợ bạn, và giờ lại than thở vì, khi đã già, không thể làm hỏng nốt cô con gái của tình nhân. Nhưng tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, thậm chí không có bất kỳ vấn đề nội tại nào, ngoài việc mô tả đủ mọi sắc thái của đam mê thể xác. Những gì được mô tả là một kẻ phóng đãng, nhàn cư, chán chường, không biết mình muốn gì, lúc thì gặp một người phụ nữ cũng phóng đãng, tinh thần suy đồi, không có cả sự biện minh của bản năng, lúc thì chia tay cô ta và quen một cô gái hầu phòng, rồi lại quay về với người đầu tiên và dường như chung chạ cả hai. Dù trong Pierre et JeanFort comme la Mort có những phân đoạn cảm động, tiểu thuyết cuối cùng này chỉ gây ra cảm giác ghê tởm.

    Câu hỏi trong tiểu thuyết đầu tiên của Maupassant, Une Vie, được đặt ra thế này: Đây là một con người đứng đắn, thông minh, dễ mến, sẵn sàng cho mọi điều tốt đẹp, nhưng vì lý do nào đó, con người này phải hy sinh trước tiên cho một gã chồng thô lậu, nhỏ nhen, ngu ngốc, và rồi cho một người con trai cũng y thế, và chết đi vô nghĩa, không để lại gì cho thế gian. Điều này cốt để làm gì? Tác giả đặt câu hỏi như vậy, và dường như không đưa ra câu trả lời. Nhưng cả tiểu thuyết của anh ta, tất cả những xúc cảm đồng điệu với cô ấy và sự ghê tởm với những gì đã hủy hoại cô, chính là câu trả lời cho câu hỏi của anh ta. (…) Trong tiểu thuyết tiếp theo, Bel-Ami, câu hỏi không còn là tại sao người đáng kính lại chịu đau khổ, mà là tại sao kẻ không xứng đáng lại được hưởng giàu sang và vinh hiển. Và giàu sang, vinh hiển này là gì, và chúng được thủ đắc như thế nào? Và cũng như trước, câu hỏi này chứa đựng một câu trả lời, đó là sự phủ nhận mọi thứ được đám đông tôn sùng. Nội dung của tiểu thuyết thứ hai này vẫn nghiêm túc, nhưng mối liên hệ đạo đức của tác giả với chủ đề được mô tả đã suy yếu đáng kể, và trong khi ở tiểu thuyết đầu tiên chỉ thi thoảng mới xuất hiện vài vết nhơ của sự thô tục làm hỏng tiểu thuyết, thì ở Bel-Ami, những vết nhơ này loang rộng, và nhiều chương được viết trong sự tục tĩu thuần túy mà tác giả dường như cảm thấy thích thú.

    Trong tiểu thuyết tiếp theo, Mont-Oriol, những câu hỏi tại sao và vì mục đích gì mà người phụ nữ đáng yêu phải chịu đau khổ và gã đàn ông man rợ lại thành công và vui vẻ không còn được đặt ra nữa, mà dường như được giả định rằng mọi chuyện phải như vậy, và những yêu cầu đạo đức hầu như tắt bặt; thay vào đó ở đây xuất hiện những mô tả tục tĩu, thô lậu, không cần thiết và không được khơi gợi bởi bất kỳ yêu cầu nghệ thuật nào. Một ví dụ nổi bật về sự xúc phạm nghệ thuật này, do mối quan hệ sai lầm của tác giả với chủ đề, là mô tả chi tiết về vẻ ngoài của nữ chính trong bồn tắm, được phô bày trong cuốn tiểu thuyết. Mô tả này hoàn toàn vô ích, và hoàn toàn không tương quan đến ý nghĩa bên ngoài hay bên trong của tiểu thuyết: những bong bóng bám vào cơ thể hồng hào.

    “Thế thì sao?” người đọc hỏi.

    “Chỉ vậy thôi,” nhà văn trả lời. “Tôi tả thế, vì tôi thích thế.”

    Trong hai tiểu thuyết tiếp theo, Pierre et JeanFort comme la Mort, ta không còn thấy bất kỳ yêu cầu đạo đức nào. Cả hai tiểu thuyết đều được xây dựng trên sự phóng đãng, lừa dối, và xảo trá, những thứ đã đẩy các nhân vật đến những tình huống bi kịch.

    Trong tiểu thuyết cuối cùng, Notre Coeur, tình trạng của các nhân vật là kỳ quái, man rợ và vô đạo nhất, và những nhân vật này không còn đấu tranh với bất cứ điều gì, mà chỉ tìm kiếm lạc thú, của dục vọng, của bản năng, của tình dục, và tác giả dường như hoàn toàn đồng cảm với những nỗ lực của họ. Kết luận duy nhất có thể rút ra từ tiểu thuyết cuối này là hạnh phúc lớn nhất trong đời là giao hợp thể xác, và vì thế, chúng ta phải tận dụng niềm hạnh phúc này một cách khoan khoái nhất.

    Còn đáng kinh ngạc hơn trong mối quan hệ phi đạo đức với cuộc sống là điều được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết giả tưởng Yvette. Nội dung của tác phẩm cực kỳ vô đạo này như sau: một cô gái quyến rũ, với tâm hồn thơ ngây, nhưng bị tha hóa bởi những kiểu cách mà cô học được từ môi trường suy đồi của mẹ mình, đã khiến một gã phóng đãng say mê. Hắn yêu cô, nhưng tưởng rằng cô gái chủ tâm nói những lời lẽ gợi tình ngu ngốc mà cô thu lượm trong môi trường của mẹ mình, và lặp lại như một con vẹt, không hiểu gì, nên hắn đồ rằng cô nàng hẳn đã sa đoạ, và bất nhã đề nghị một mối lang chạ. Đề nghị này khiến cô thất đảm và bị xúc phạm (cô yêu hắn), mở mắt cho cô về vị trí của mình và của mẹ, khiến cô đau khổ sâu sắc. Tình huống cảm động – sự xung đột giữa vẻ đẹp của tâm hồn ngây thơ với sự đồi truỵ vô luân của thế giới – được mô tả một cách tuyệt bích, và đáng lẽ nên dừng lại ở đây, nhưng tác giả, không vì bất kỳ nhu cầu ngoại tại hay nội tại nào, tiếp tục câu chuyện và cho người đàn ông này lẻn đến chỗ cô gái vào ban đêm và quyến rũ cô. Trong phần đầu của tiểu thuyết, tác giả rõ ràng đứng về phía cô gái, nhưng ở phần sau thì anh ta đột nhiên chuyển sang ủng hộ gã phóng đãng. Ấn tượng này phá hủy ấn tượng kia, và cả tiểu thuyết tan rã, vỡ vụn, như một ổ bánh chưa được nhào kỹ.

    Trong tất cả các tiểu thuyết sau Bel-Ami (tôi không nói đến các truyện ngắn, vốn là công lao và danh tiếng chính yếu của anh ta, – về điều này chúng tôi sẽ nói sau), Maupassant rõ ràng đã đầu hàng cái tư tưởng, không chỉ tồn tại trong giới của anh ta ở Paris, mà giờ đây tồn tại ở khắp nơi trong giới nghệ sĩ, rằng một tác phẩm nghệ thuật không chỉ không cần có ý niệm rõ ràng về điều gì tốt, điều gì xấu, mà ngược lại, nghệ sĩ phải tuyệt đối gạt sang bên mọi hoài nghi đạo đức – rằng đó là một phần công lao của người nghệ sĩ. Theo đó, một nghệ sĩ có thể và phải mô tả những gì có thật, những gì tồn tại, hoặc những gì đẹp, tức là những gì làm hài lòng anh ta, hoặc thậm chí những gì có thể hữu ích như tư liệu cho “khoa học,” nhưng việc bận tâm về điều gì là đạo đức hay phi đạo đức, là phải hay trái thì không phải chuyện của nghệ sĩ.

    Tôi nhớ một họa sĩ nổi tiếng từng cho tôi xem bức tranh của ông về một đám rước tôn giáo. Mọi thứ được vẽ rất tinh xảo, nhưng tôi không thấy bất kỳ mối tương quan nào giữa nghệ sĩ với chủ đề của mình.

    “Thế ông cho rằng những nghi lễ này là tốt, và nên được thực hiện, có hay không?” tôi hỏi họa sĩ.

    Họa sĩ trả lời tôi, với chút giọng điệu ban ơn cho sự ngây thơ của tôi, rằng ông ta không biết và cảm thấy không cần phải biết: việc của ông là khắc hoạ cuộc sống.

    “Nhưng ít nhất ông cũng yêu thích điều này chứ?”

    “Chuyện này cũng khó nói.”

    “Thế ông có khinh miệt những nghi lễ này không?”

    “Không yêu mà cũng không ghét,” người nghệ sĩ thời thượng, có học thức trả lời với nụ cười thương hại cho sự ngu độn của tôi, người đã thể hiện cuộc sống mà không hiểu ý nghĩa của nó và không yêu hay ghét các hiện tượng của nó.

    Đáng tiếc là Maupassant cũng nghĩ như vậy.

    Trong phần giới thiệu cho Pierre et Jean, anh ta nói rằng công chúng bảo nhà văn: “Hãy an ủi tôi, hãy làm tôi vui, làm tôi buồn, làm tôi cảm động, làm tôi mơ màng, làm tôi cười, làm tôi rẩy, làm tôi khóc, làm tôi suy nghĩ. Chỉ riêng vài đầu óc ưu việt yêu cầu nghệ sĩ: hãy làm cho tôi cái gì đẹp, trong hình thức nào phù hợp với bạn nhất, tuỳ theo tạng của bạn.”

    Chính để đáp ứng yêu cầu của những đầu óc ưu việt này mà Maupassant đã viết các tiểu thuyết của mình, ngô nghê tưởng rằng cái được coi là đẹp trong giới của anh ta cũng là cái đẹp mà nghệ thuật nên phụng sự.

    Trong cùng giới mà Maupassant sinh hoạt, phụ nữ, một người phụ nữ trẻ, đẹp, thường là khỏa thân, và việc giao hợp với cô ta, được coi là cái đẹp mà nghệ thuật phải phục tùng. Quan điểm này không chỉ được hậu thuẫn bởi các đồng nghiệp “nghệ thuật” của Maupassant, như họa sĩ, điêu khắc gia, tiểu thuyết gia và thi sĩ, mà còn bởi các triết gia, những người thầy của thế hệ trẻ.

    (…)

    Vậy là, trong giới mà Maupassant đã sinh trưởng và được giáo dục, việc khắc hoạ vẻ đẹp phái nữ và tình yêu đã được cân nhắc rất nghiêm túc, như một điều được xác quyết từ lâu bởi những người thông minh và uyên bác nhất, là vấn đề thực sự của nghệ thuật đỉnh cao – le grand art.

    Chính tư tưởng này, khủng khiếp vì sự vô vị của nó, mà Maupassant đã phải gánh chịu khi trở thành một nhà văn thời thượng. Và, như dự đoán, trong các tiểu thuyết, lý tưởng sai lệch này đã dẫn Maupassant đến một loạt những sai lầm và các tác phẩm ngày càng yếu kém hơn.

    Điều này cho thấy sự khác biệt căn bản giữa các yêu cầu cho tiểu thuyết và truyện ngắn. Tiểu thuyết, ngay cả về mặt vấn đề bề mặt, đặt ra nhiệm vụ là mô tả toàn bộ cuộc đời của một con người hoặc nhiều cuộc đời, và vì thế tiểu thuyết gia phải có một khái niệm rõ ràng và vững chắc về điều gì tốt, điều gì xấu trong cuộc sống, và Maupassant thì thiếu sót điều này; trái lại, theo lý tưởng mà anh ta noi theo, người ta còn cho rằng điều đó là không cần thiết. Nếu anh ta là một nhà văn bất tài như một vài tiểu thuyết gia viết dâm thư , anh ta sẽ bình thản mà mô tả cái xấu như cái tốt, và các tiểu thuyết của anh ta sẽ đủ đầy và thú vị đối với những người chung quan điểm với tác giả. Nhưng Maupassant có tài năng, tức là anh ta nhìn thấy mọi thứ trong hình dạng thực của chúng, và vì thế anh ta vô tình phơi bày sự thật: anh ta vô tình nhìn thấy cái xấu trong những gì anh ta muốn coi là tốt. Vì lý do này, sự đồng cảm của anh ta liên tục dao động trong tất cả các tiểu thuyết của mình, ngoại trừ tiểu thuyết đầu tiên: lúc thì anh ta mô tả cái xấu như cái tốt, lúc thì nhận ra cái xấu là xấu và cái tốt là tốt, và lúc thì cứ nhảy từ cái này sang cái kia. Nhưng điều này phá hủy chính bản chất của mọi ấn tượng nghệ thuật, charpente, nền tảng mà trên đó anh ta đứng vững. Những người không nhạy cảm lắm với nghệ thuật thường tưởng rằng một tác phẩm nghệ thuật cấu thành một thể thống nhất, vì có cùng những nhân vật hành động xuyên suốt, vì mọi thứ được xây dựng trên cùng một cốt truyện, hoặc vì mô tả cuộc đời của cùng một người. Điều này không đúng. Nó chỉ gây cảm tưởng như vậy với kẻ quan sát hời hợt thôi: chất keo kết dính mọi tác phẩm nghệ thuật thành một thể thống nhất và tạo ra ảo giác về sự phản ánh cuộc sống không phải là sự thống nhất của các nhân vật và tình huống, mà là sự thống nhất trong mối quan hệ đạo đức cốt lõi của tác giả với chủ đề của mình. Thực tế, khi chúng ta đọc hoặc chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn mới, câu hỏi căn bản luôn nảy sinh trong lòng chúng ta là: “Này, anh là người như thế nào? Anh khác gì với tất cả những người mà tôi biết, và anh có thể nói gì mới mẻ với tôi về cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc sống của mình?” Dù nghệ sĩ mô tả gì – thánh nhân, kẻ cướp, vua chúa, tôi đòi – chúng ta chỉ đang tìm kiếm và nhìn ngắm tâm hồn của người nghệ sĩ. Nếu đó là một nghệ sĩ quen thuộc, câu hỏi không còn là “anh là ai?” mà là, “Này, anh có thể nói gì mới mẻ với tôi? Anh sẽ rọi sáng cuộc đời tôi từ góc độ mới nào?” Và vì thế, một tác giả không có quan điểm rõ ràng, độc đáo về thế giới, và càng tệ hơn, người không coi điều này là cần thiết, thì không thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật. Anh ta có thể viết hay, và viết nhiều, nhưng sẽ không có tác phẩm nghệ thuật nào cả. Đó chính là trường hợp của Maupassant trong các tiểu thuyết của anh ta. Trong hai tiểu thuyết đầu tiên, đặc biệt là Une Vie, ta thấy một mối liên hệ rõ ràng, dứt khoát, độc đáo với cuộc sống, và vì thế ta có một tác phẩm nghệ thuật; nhưng ngay khi anh ta, khuất phục trước tư tưởng thời thượng, quyết định rằng không cần bất kỳ mối liên hệ nào của tác giả với cuộc sống, và bắt đầu viết chỉ để faire quelque chose de beau [tạo ra thứ gì đó đẹp], các tiểu thuyết của anh ta không còn là những tác phẩm nghệ thuật nữa. Trong Une VieBel-Ami, tác giả biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét, và người đọc đồng thuận với anh ta và tin tưởng anh ta, tin vào những nhân vật và sự kiện được mô tả. Nhưng trong Notre CoeurYvette, tác giả không biết ai nên được yêu và ai nên bị ghét; người đọc cũng không biết. Và vì người đọc không biết, họ không tin vào các sự kiện được mô tả và không đoái hoài đến chúng. Vì thế, ngoại trừ hai tiểu thuyết đầu tiên, hoặc nói đúng ra, chỉ một tiểu thuyết đầu tiên, tất cả các tiểu thuyết của Maupassant, với tư cách là tiểu thuyết, đều yếu kém; và nếu Maupassant chỉ để lại cho chúng ta các tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ là một minh chứng điển hình cho việc một tài năng xuất chúng có thể tàn lụi ra sao do môi trường sai lầm mà trong đó nó phát triển, và do những tư tưởng nghệ thuật sai lầm được thiết lập bởi những người không yêu nghệ thuật và vì thế không hiểu nó. Nhưng may mắn thay, Maupassant đã viết những truyện ngắn, trong đó anh ta không khuất phục trước tư tưởng lệch lạc mà anh ta đã chấp nhận, và viết, không phải quelque chose de beau [thứ gì đó đẹp], mà là những gì chạm đến và khơi gợi xúc cảm đạo đức của anh ta. Chính trong những truyện ngắn này, không phải tất cả, mà là trong những truyện hay nhất, chúng ta chứng kiến sự trưởng thành về mặt đạo đức của nhà văn.

    Thật sự mà nói, chính ở đây, ở phẩm chất đáng chú ý của mọi tài năng đích thực, miễn là nó đừng tự làm phương hại mình dưới ảnh hưởng của một tư tưởng sai lầm, rằng nó dạy cho người sở hữu nó, dẫn dắt anh ta trên con đường phát triển đạo đức, sẽ khiến anh ta yêu những gì đáng được yêu, và ghét những gì đáng bị ghét. Một nghệ sĩ là nghệ sĩ chính vì anh ta nhìn thấy các đối tượng, không phải như anh ta muốn thấy, mà như bản chất đích thực của chúng. Người mang trong mình tài năng – con người – có thể mắc sai lầm, nhưng tài năng, một khi được nới lỏng, như Maupassant đã làm trong các truyện ngắn của mình, sẽ phô bày và bộc lộ chủ đề, khiến nhà văn yêu nó, nếu nó đáng được yêu, và ghét nó, nếu nó đáng bị ghét. (…) Hiếm có nhà văn chân thành nghĩ rằng tất cả những điều tốt đẹp, toàn bộ ý nghĩa của cuộc sống nằm ở phụ nữ, ở tình yêu, và mô tả phụ nữ và tình yêu của cô ấy từ mọi góc độ với sức đam mê như vậy, và hiếm có nhà văn nào, với sự minh xác như vậy, từng chỉ ra tất cả những mặt khủng khiếp của cùng một hiện tượng, mà với anh ta dường như là cao cả nhất, mang lại điều tốt đẹp lớn lao nhất cho con người. Càng hiểu sâu hơn về hiện tượng này, nó càng trở nên chân xác; những tấm màn che đậy rơi xuống, và tất cả những gì còn lại là những hậu quả khủng khiếp của nó và thực tại còn khủng khiếp hơn.

    Hãy đọc Idiot Son, A Night with the Daughter (L’Ermite), The Sailor and His Sister (Le Port), Field of Olives, La Petit Roque, Miss Harriet, Monsieur Parent, L’Armoire, The Marriage trong Sur l’Eau, và biểu trưng tối hậu của mọi thứ, Un Cas de Divorce.

    (…)

    Sự trưởng thành đạo đức mãnh liệt của Maupassant, trong suốt văn nghiệp của anh ta, được đánh dấu bằng những dấu tích không thể xóa nhòa trong những truyện ngắn tuyệt vời này và trong cuốn sách hay nhất của anh ta, Sur l’Eau.

    Và không chỉ trong việc lật tẩy, sự lật tẩy bất tự giác và vì thế càng mạnh mẽ hơn của đam mê nhục dục, mà chúng ta thấy được sự trưởng thành đạo đức của tác giả; chúng ta cũng thấy điều đó trong tất cả những yêu cầu ngày càng cao hơn mà anh ta đặt ra cho cuộc sống.

    Không riêng trong đam mê thể xác mà anh ta thấy được mâu thuẫn nội tại giữa các ước vọng của con người bản năng và con người lý trí, – anh ta thấy điều đó trong toàn bộ cấu trúc của thế giới.

    Anh ta thấy rằng thế giới, thế giới vật chất, như nó đang tồn tại, không chỉ không phải là thế giới tốt nhất, mà ngược lại, có thể hoàn toàn khác – ý tưởng này được thể hiện một cách ấn tượng trong Horla – và không đáp ứng được các đòi hỏi của lý trí và tình cảm; anh ta thấy rằng có một thế giới khác, hoặc ít nhất là những ước vọng cho một thế giới như vậy, trong tâm hồn con người.

    Anh ta bị dày vò, không chỉ bởi sự phi lý của thế giới vật chất và sự thiếu vắng vẻ đẹp trong đó, mà còn bởi sự thiếu vắng tình yêu, bởi sự chia rẽ của nó. Tôi không biết tiếng kêu tuyệt vọng nào của một con người lầm lạc, ngộ ra sự cô đơn của mình, lại đau lòng hơn lời cầu cứu trong câu chuyện tuyệt vời Solitude.

    Hiện tượng khiến Maupassant đau khổ hơn bất kỳ điều gì khác, và anh ta thường xuyên trở lại, là trạng thái cô đơn khốn khổ, trạng thái cô đơn tinh thần của con người, rào cản ngáng giữa người này và người khác, cái rào cản mà, như anh ta nói, thể xác càng gần gũi bao nhiêu thì tinh thần càng đau đớn bấy nhiêu.

    Điều gì khiến anh ta đau khổ? Và anh ta muốn gì? Điều gì đạp tan rào cản này, chấm dứt nỗi cô đơn này? Tình yêu, không phải tình yêu với phụ nữ, thứ mà anh ta đã chán ngấy, mà là thứ tình yêu tinh thần, thuần khiết, thiêng liêng. Và đó là điều mà Maupassant đã tìm kiếm; hướng tới vị cứu tinh của cuộc đời, thứ đã được hé lộ rõ ràng từ lâu cho mọi người, anh ta đau đớn kéo lê những xiềng xích mà anh ta cảm thấy đang trói buộc mình.

    Anh ta chưa thể gọi tên điều mình đang tìm kiếm, anh ta không muốn chỉ gọi tên nó bằng miệng, vì sợ làm ô uế nơi thánh địa của mình. Nhưng khát vọng chưa được đặt tên của anh ta, được thể hiện qua nỗi kinh hoàng trước cảnh cô đơn, chân thành đến mức lan toả sang chúng ta và cuốn hút chúng ta mạnh mẽ hơn nhiều, rất nhiều các bài giảng về tình yêu, những bài giảng chỉ được thốt ra bằng lời.

    Bi kịch cuộc đời Maupassant nằm ở chỗ, sống trong một môi trường khủng khiếp vì sự quái dị và phi đạo đức của nó, anh ta bằng sức mạnh của tài năng, bằng tia sáng đặc biệt bên trong, đã vượt ra khỏi thế giới quan của tầng lớp mình, đã đạt gần đến sự giải phóng, đã hít thở bầu không khí tự do, nhưng, sau khi tiêu hao chút sức tàn trong cuộc đấu tranh này, đã gục ngã mà vẫn không được tự do, vì anh ta không đủ sức để thực hiện nỗ lực sau chót này.

    Bi kịch của sự sụp đổ này nằm ở cùng một điều mà nó vẫn tiếp tục xảy đến với phần lớn những người được gọi là con người của thời đại chúng ta.

    Con người nói chung chưa bao giờ sống mà không có lời giải thích về ý nghĩa cuộc sống mà họ đang sống. Ở mọi nơi và mọi thời, đã xuất hiện những con người cấp tiến, giàu thiên tư, những nhà tiên tri, như cách họ được gọi, những người đã diễn giải ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc sống cho con người, và vào mọi thời đại, những người bình thường, những người không đủ sức tự làm sáng tỏ ý nghĩa này, đã noi theo lời giải thích về cuộc sống mà các nhà tiên tri của họ đã hé lộ.

    Ý nghĩa này đã được Kitô giáo giải thích một cách đơn giản, rõ ràng, không thể ngờ vực và chan chứa vui mừng cách đây một nghìn tám trăm năm, như được chứng minh bởi cuộc sống của tất cả những người đã chấp nhận ý nghĩa này và đi theo chỉ dẫn cuộc sống phát sinh từ ý nghĩa đó.

    Nhưng đã xuất hiện những người diễn giải ý nghĩa này theo cách mà nó thành ra vô nghĩa. Và con người rơi vào thế lưỡng nan – liệu có nên công nhận Kitô giáo, như cách nó được diễn giải bởi Công giáo, Lourdes, Giáo hoàng, giáo điều về sự thụ thai vô nhiễm, v.v., hay sống tiếp, được dẫn dắt bởi những chỉ huấn của Renan và những người tương tự, tức là sống mà không có bất kỳ chỉ dẫn và sự hiểu biết nào về cuộc sống, đầu hàng những dục vọng của họ khi chúng còn sôi sục, và theo những thói quen, khi đam mê đã lắng xuống.

    Và con người, những người bình thường, chọn cái này hoặc cái kia, đôi khi cả hai, đầu tiên là phóng đãng, rồi tìm đến Công giáo. Và con người tiếp tục sống như vậy qua nhiều thế hệ, bao bọc bản thân bằng những lý lẽ khác nhau, những lý lẽ không nhằm tìm ra sự thật, mà cốt để che giấu nó. Và những người bình thường, đặc biệt là những người ù lì, thì lại cảm thấy dễ chịu.

    Nhưng cũng có những người khác – rất ít và cách biệt nhau – và Maupassant là một trong số họ, những người với đôi mắt của mình nhìn thấy mọi thứ như đúng bản chất của chúng, thấy được ý nghĩa của chúng, thấy cả những mâu thuẫn của cuộc sống, những mâu thuẫn bị che mắt khỏi người đời, và hình dung một cách sống động những mâu thuẫn này sẽ dẫn họ đến đâu, và dự kiến những giải pháp. Họ tìm kiếm chúng ở mọi nơi, ngoại trừ nơi chúng có thể được tìm thấy, trong Kitô giáo, bởi vì Kitô giáo đối với họ dường như đã lỗi thời, ngu ngốc và đáng ghê tởm bởi sự quái dị của nó. Cố gắng trong vô ích để tự mình tìm ra những giải pháp này, họ đi đến kết luận rằng không có giải pháp nào cả, rằng đặc tính của cuộc sống nằm ở việc mang trong mình những mâu thuẫn còn bỏ ngỏ này. Khi đã đạt được giải pháp như vậy, những người này, nếu bản chất họ yếu đuối, thiếu nhiệt tâm, sẽ thoả hiệp với một cuộc sống quẩn quanh như vậy, thậm chí tự hào về tình trạng của mình, coi sự thiếu hiểu biết của mình là một công trạng, một dấu hiệu của văn hoá; nhưng nếu bản chất họ mạnh mẽ, trung thực, và tài năng, như Maupassant, họ không thể chịu đựng nổi và theo cách này hay cách khác cố thoát ra khỏi cuộc sống vô vị ấy.

    Giống như những người khát nước trong sa mạc tìm kiếm nước ở mọi nơi, ngoại trừ ở gần những người đứng giữa một dòng suối, sẽ làm ô uế nó và đưa lại bùn sình hôi thối thay vì nước sạch, trong khi nước vẫn tiếp tục chảy ra xa hơn, bên dưới lớp bùn. Maupassant đã ở trong tình trạng đó; anh ta không thể tin, – thậm chí không bao giờ nghĩ rằng chân lý mà anh ta hoài công kiếm tìm đã được phát lộ từ lâu và đang ở rất gần anh ta; anh ta cũng không thể tin rằng một người có thể sống trong một mâu thuẫn mà anh ta cảm thấy mình đang sống.

    Cuộc sống, theo những lý thuyết mà anh ta được nuôi dưỡng, những tư tưởng bao quanh anh ta, và được xác minh bởi tất cả những đam mê tuổi trẻ và bản chất mạnh mẽ về tinh thần lẫn thể chất của anh ta, nằm ở sự hưởng thụ, chủ yếu là phụ nữ và tình yêu với cô nàng, và trong sự hưởng thụ kép ấy – trong việc thể hiện tình yêu và khơi gợi tình yêu này ở người khác. Tất cả điều đó sẽ rất tốt, nhưng khi soi kỹ vào những sự hưởng thụ này, chúng ta thấy giữa chúng xuất hiện những hiện tượng hoàn toàn xa lạ và thù địch với tình yêu và vẻ đẹp kia: người phụ nữ vì lý do nào đó trở nên xấu xí, khi mang thai trông đến phát hoảng, sinh đẻ trong sự dơ bẩn, rồi thêm những đứa con khác, những đứa con không mong muốn, rồi những sự lừa dối, tàn nhẫn, rồi những khổ đau tinh thần, rồi đơn giản là tuổi già, và sau cùng là cái chết.

    Vậy, vẻ đẹp này có thực sự là vẻ đẹp không? Và rốt cuộc, tất cả để làm gì? Sẽ thật tuyệt nếu có thể chặn đứng cuộc sống. Nhưng nó vẫn tiếp diễn. “Cuộc sống tiếp diễn” nghĩa là sao? Cuộc sống tiếp diễn, nghĩa là – tóc bạc và rụng dần, răng thì móm, xuất hiện nếp nhăn, và miệng có mùi. Ngay cả trước khi mọi sự kết thúc, tất cả trở nên kinh hoàng và gờm tởm: ta nhận ra lớp phấn son bôi trét, mùi mồ hôi, sự hôi hám, sự khả ố. Thứ mà tôi hằng phụng sự đâu rồi? Cái đẹp ở đâu? Mà nó lại là tất cả. Nếu không có nó – thì không có gì cả. Cuộc sống cũng không.

    Nhưng chưa hết, không chỉ không có cuộc sống trong những thứ dường như chứa đựng cuộc sống, mà chính ta cũng bắt đầu xa rời nó, trở nên tàn tạ, yếu ớt, mục ruỗng, trong khi những người khác, ngay trước mắt ta, tước đoạt từ ta những niềm vui mà toàn bộ điều tốt đẹp của cuộc sống nằm trong đó. Hơn thế nữa: bắt đầu le lói khả năng của một cuộc sống khác, một điều gì đó khác biệt, một mối liên hệ khác của con người với toàn bộ thế giới, thanh trừ tất cả những sự dối trá kia, điều gì đó không thể bị băng hoại bởi bất cứ thứ gì, tỏ chân lý và đẹp đẽ trường tồn. Nhưng điều đó không thể có – nó chỉ là một cái nhìn tréo ngoe về một ốc đảo, khi chúng ta biết rằng nó không có thật và mọi thứ chỉ độc là cát.

    Maupassant đã sống đến khoảnh khắc bi kịch của cuộc đời khi bắt đầu cuộc tranh đấu giữa sự dối trá của cuộc sống xung quanh anh ta và sự thật mà anh ta bắt đầu nhìn thấy. Anh ta đã có những dấu hiệu của sự thai nghén tinh thần.

    Chính những đau đớn của sự thai nghén này được thể hiện trong những tác phẩm hay nhất của anh ta, đặc biệt là trong các truyện ngắn.

    Nếu số mệnh của anh ta không phải là chết trong cơn sinh nở, mà là được thoát thai, anh ta sẽ mang lại những tác phẩm vĩ đại, giàu ý nghĩa giáo dục, nhưng ngay cả những gì anh ta trao cho chúng ta trong quá trình thoát thai của mình cũng đã là nhiều. Hãy biết ơn người đàn ông mạnh mẽ, trung thực này vì những gì anh ta đã đem đến cho chúng ta.


  • Làng (truyện vừa)

    Đọc thử

    Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn.

    1.

    Ở một làng nhỏ của huyện X., trong một ngôi nhà hai tầng sơn trắng với những ô cửa lợp gỗ im lìm, có một giáo viên hồi hưu – một goá phụ đang yên hưởng tuổi già nhàn tản và phong lưu của mình. Thời trẻ có lẽ bà từng rất đẹp, còn bây giờ tuổi ngoài lục tuần, qua dáng vẻ đạo mạo cùng những lời chào hỏi của láng giềng có thể đoán biết rằng bà rất được thiên hạ vì nể; không ai không biết bà và đều gọi bà một cách thành kính là: bà giáo.

    Bà giáo có hai người con trai. Người con cả tên Tuấn – không thể hy vọng gì ở anh chàng này – anh ta từng phục vụ tại ngũ ba năm và dăm tháng trong ngành hoả xa, nhưng tỏ ra cực lực chán ghét công vụ, sau rốt về quê làm thợ đóng gạch. Người em trai tên Tú thì khấm khá hơn, công tác trong ngạch cảnh sát giao thông, thuộc hạng người hách dịch và máu kiếm chác; còn Sương vợ anh ta bán thuốc ở quầy dược phẩm, là một cô gái gầy nhẳng, mắt xếch, cũng thuộc nòi gia giáo và có của, sống cách X. độ một quãng sông. Bộ dạng của cô ta phản chiếu tính nết của cô ta. Cô ta là người căn cơ, tháo vát, bẻm mép và khá ma lanh, và nhìn chung rất tự hào về những điều này.

    Từ lâu trong nhà bà giáo đã kiên tâm duy trì một đời sống quy củ, mực thước, do đó bà ghét cay ghét đắng những thứ phương hại đến thanh danh gia đình. Bà coi anh con cả là một nỗi thất vọng, nhưng bà yêu mến con dâu, một người ăn học đàng hoàng, và nhất là anh con thứ, chiến sĩ công an, bộ mặt của gia đình. Vừa được lo lót cho một chức nghiệp, anh này đã bộc lộ năng khiếu phi thường trong việc bòn rút dân đen, biết ăn cánh với đám sĩ quan nhận của đút lót, và thạo chia chác không kém cạnh phường lái buôn. Trong công vụ, anh ta đóng rất tròn vai một gã bù nhìn, biết nhắm mắt làm thinh trước thói nhũng lạm, hơn nữa lại nghiêm cẩn thừa hành các chỉ thị mà cấp trên giao phó, thành thử bước đường công danh của anh ta khá xuôi chèo mát mái. Bà giáo hùn tiền đưa anh ta về công tác tại huyện nhà. Cố nhiên anh ta kiếm bẫm, nhưng phạt tiền đồng hương không khoan nhượng, do đó họ khinh miệt gọi anh ta là “con chó vàng”; tuy vậy bà mẹ lúc nào cũng lấy làm hãnh diện và được dịp khoe mẽ bà lại tấm tắc nói:

    “Con trai tôi đấy! Con trai tôi đấy!”

    Chứng kiến con trai tấn tới trên đường hoạn lộ, bà giáo hởi lòng hởi dạ lắm. Khi chàng công an đóng lon đại uý thì bà rục rịch lo chuyện xây nhà xây cửa cho hai vợ chồng. Bà không phải nghĩ nhiều vì hồi còn mồ ma ông nhà đã cắt sẵn cho cậu thứ khoanh đất hai trăm mét vuông. Nhưng thửa đất nằm cuối một con dốc, chìm lút trong đám cỏ dại um tùm, muốn xây sân phải phá tường, san vườn, nói chung đủ điều cách rách. Vợ chồng Tú chạy đôn chạy đáo mấy tháng trời, rồi hai tuần trước ngày đào móng bỗng xảy ra một chuyện rầy rà nho nhỏ.

    Sương vốn từ lâu đã nhăm nhe miếng đất sát sườn nhà mẹ chồng, cô ta thấy thửa đất đó đắc địa, thâm tâm không tránh khỏi cắc cớ rằng tại sao bà giáo mến chuộng chồng mình là thế, vậy mà lại di cho con trai một thửa đất tối như hũ nút thế này. Tối hôm ấy hai vợ chồng cùng nằm nhà, Sương gối đầu lên tay chồng, ngón tay mân mê thái dương của Tú, hỏi:

    “Miếng đất bỏ trống trước nhà là của u hay của ông Tuấn thế anh?”

    “Của ông Tuấn,” Tú lè nhè đáp lời vợ.

    “U cắt cho ông đấy à?”

    “Không, là thầy cắt. Trong di chúc thầy chia đất chia cát cả rồi. Mình là mảnh phía sau, còn mảnh phía trước thầy để riêng cho ông đấy, dành sau này cưới vợ thì ở. Cứ nói thế chứ biết bao giờ mới xây được nhà.”

    Sương, vẻ phật ý, thôi không vân vê thái dương chồng nữa.

    “Này, sao vậy?”

    “À, cái mảnh đất đẹp quá chứ lị!” cô vợ làm giọng nũng nịu, mắt lúng liếng. “Thế ông ấy không nhường mình được à? Thế à… Tiếc quá nhỉ! Hay thử hỏi mua xem sao? Biết đâu ông ấy lại bán.”

    Tú lầm lầm không đáp, vân vê cằm ra chiều nghĩ ngợi. Anh ta thừa nhận đó là thửa đất đẹp, tuy kích thước nhỏ hơn nhưng về mặt địa thế thì hoàn hảo, mặt tiền đón gió phía Nam lại hướng ra đường lớn, hứa hẹn một chuyện làm ăn béo bở. Mấy ngày liền anh ta dò la thám thính, hết bàn bạc với mẹ lại thương lượng với anh, và một tuần sau trở lại đứng trước mặt vợ, mặt đỏ như gấc, hậm hực nói:

    “Không được. Lão nhất quyết không nhường, gạ bán cũng không. Trả bảy chục nghìn cho một mét vuông cũng không bán. Mà bây giờ ngoài kia chúng nó trả có năm chục thôi.”

    “Thế u có nói đỡ không?” cô vợ nối lời.

    “Không ăn thua!”

    “Thế đấy, anh em nhà anh buồn cười thật!” cô vợ sưng sỉa đáp. “Dâng đến mồm còn không biết đường ăn, mà cái ngữ ông Tuấn thì… Thôi, chả thèm nói nữa! Rõ là phí phạm! Phí phạm!”

    Không sờn lòng, hai vợ chồng cùng bà giáo thử thuyết phục một lần chót, nhưng người anh cả vẫn dằn từng tiếng: “Không là không!”

    Như một sợi dây căng quá hoá đứt, hai anh em dần đâm mặt lưng mày vực với nhau. Bà giáo rẻ rúng con cả, em dâu dè bỉu anh chồng, em ruột hầm hè anh trai. Vợ giống tính chồng, ngày ngày Tú và Sương chằm chặp trông ra bãi đất bỏ không, cảm tưởng mình mới xứng đáng là chủ nhân của nó và, đau đớn như thể nó bị tước đoạt khỏi mình. Riêng Tuấn tính không chấp nhặt nên chẳng chốc đã quên khuấy đi: anh ta còn bận bịu những công chuyện riêng.

    Nửa năm sau vợ chồng Tú dọn ra nhà mới. Đó là một căn nhà vườn sơn trắng xây theo phong cách làm đỏm của đám trọc phú, có khoảng hiên rộng nhô ra ở mỗi tầng, sân cũng rộng, lát gạch đỏ, bày biện nhiều thứ cây cảnh đựng trong các chậu đất nung. Hai cột trụ án ngữ trước cửa ra vào trông oai vệ như hai gã lính gác khổng lồ, lạc quẻ với bờ giậu thấp tè cùng khung cổng mạ nhôm màu bạc cũng thấp y chang. Dân làng khi tạt ngang hiên nhà thường nán lại để chiêm ngưỡng thứ kiến trúc cầu kỳ khác lạ ấy, nhưng toán thợ nề lại bình phẩm về nó theo một khía cạnh ít chuyên môn hơn nhiều.

    “Đấy, nhà của cán bộ đấy!” họ vừa huých sườn nhau vừa nói giọng cay nghiệt. “Oai như cóc, nhưng tiền công thì mặc cả từng hào! Thằng kia, lễ tân gia nó có mời mày không?”

    “Em á? Em sao mà được mời, hì hì,” một gã thợ phụ vữa trẻ tuổi ngơ ngác nói.

    “Thì tao từng xây nhà cả cho thầy u nó mà nó cũng có mời đâu.”

    2.

    Lưng dài vai rộng, với giọng nói sang sảng và tiếng cười hồn hậu dễ lan, Tuấn rất được lòng ông quản đốc vốn là chú ruột của mình. Và cả toán thợ đối đãi với anh cũng có phần nể nả, vì anh là, như người ta nói, một bàn tay vàng. Người anh như đúc từ thép, sức vóc khó ai bì kịp, trong công việc tỏ ra hết sức mẫn cán, có thể đội nắng dầm mưa mà đúc cả nghìn viên gạch. Anh không tiêu hoang, không nợ nần và không dính vào một thói sa đoạ nào (kể cả món chọi gà mà các cậu thanh niên ở X. rất khoái).

    Tuy đường nét có hơi thô kệch, diện mạo Tuấn vẫn vào dạng ưa nhìn mà ở quê họ gọi là điển trai. Anh cao ngót mét chín, da ngăm, vai rộng, đậm người, lông mày đen, rậm. Ở thần thái, cử chỉ, dáng dấp của anh một cái gì ngang tàng, một ma lực hấp dẫn những người đàn bà, như đường thu hút kiến. Tuấn biết điều đó, và bản thân càng ra sức tận dụng những ưu thế của mình. Gần như đi đến đâu anh reo rắc những chuyện tình ái lăng nhăng đến đấy, nhưng kỳ lạ là dư luận trong làng vẫn coi anh như một đám bở. Họ quý mến anh vì cái sức vóc khoẻ mạnh, bản tính hay lam hay làm; vì anh xuất thân gia giáo, tác phong đường hoàng, gặp người làng ai cũng niềm nở đón chào. Nhưng hơn cả, anh chinh phục họ hoàn toàn vì hoạ hoằn mới thấy anh chối ai điều gì, từ gieo mạ, gặt lúa, đắp đê, xây cống, anh hăng hái làm tất tật; riêng tài nghệ gói bánh chưng của anh thì xuất sắc, anh gói không cần khuôn mà bánh vẫn vuông chằn chặn, như một vết tích sót lại của thời quân ngũ. Nói chung, anh rất năng nổ trong công tác giúp đỡ bà con láng giềng. Do đó, họ sẵn lòng xuê xoa cái thói bồ bịch bừa bãi của anh, và về điều này quan điểm của họ giống như câu nói quen thuộc mà ai cũng thuộc nằm lòng: “Trăng đến rằm trăng tròn.”

    Những chuyện lang chạ của Tuấn sớm muộn đều đến tai bà giáo. Thực tâm bà sẵn lòng thể tất cho bản tính phong tình của con trai đấy thôi, nhưng bà bất mãn kinh khủng với cái hướng đi mà anh vạch ra cho cuộc đời mình. Bà có cảm tưởng rằng vì anh từ giã binh nghiệp để làm một công viện chân tay thấp hèn, anh đã thẳng tay bôi tro trát chấu lên mặt bà và cả cái gia đình học thức này. Một ngày, bà thổ lộ nỗi lòng trên với ông Sô, viên quản đốc, người từ khi về làng nhận việc rất năng lui tới nhà bà chị già. Thoạt đầu bà than thở chỉ cho có chuyện, nhưng được hưởng ứng nhiệt tình quá nên bà cũng lây cái cung cách xuề xoà của ông em, và dần dần bà bộp chộp tuôn ra mọi nỗi trăn trở trong lòng.

    Ông quản đốc im lặng lắng nghe, từng nếp nhăn hằn rõ trên vầng trán mai mái lấm tấm mồ hôi, mũ cối úp vào đầu gối, tay vân vê khoảng giữa cặp lông mày chổi xể.

    “Cô giáo này (ông ta biết chị mình thích được gọi như thế),” viên quản đốc nói giọng khàn đặc của hạng người mua thuốc lá theo dây, “khả năng phải cưới vợ cho nó đi thôi. Như thế mới tu tâm dưỡng tính được.”

    “Ừ, tôi cũng đã tính đến nước đó,” bà Xoan ậm ừ đáp. “Nhưng chú bảo cưới ai?”

    Hẳn quản đốc đã thì thầm một điều gì rất tếu vì thấy cả hai người cùng cười khùng khục. Đoạn bà giáo thừa dịp thăm dò, hỏi:

    “Thế dạo này trên xưởng nó tòm tem con nào?”

    “À,” ông em lúng búng đáp, “cái đấy thì tôi cũng chẳng biết. Tôi hơi đâu mà ngồi thám thính mấy chuyện trai gái cho chị được. Tôi khuyên là khuyên chị thế, còn quyết định thế nào là ở phần chị.”

    “Thế mà chú nói cứ như đinh đóng cột!”

    Sau khi quản đốc cáo lui, bà Xoan khởi sự suy tính. Bấy nay mấy mụ mối đã xun xoe mách nước cho bà, nhưng thực tình bà chẳng ưng bụng cô nào. Bà những muốn một nàng dâu nhu mì, căn cơ, biết kính trên nhường dưới, biết lo toan vun vén cho nhà chồng, và đặc biệt phải có học thức, không thì cũng phải mồm mép tí chút để bù lại. Cánh cổng xoay trên bản lề đánh két một tiếng cắt ngang dòng suy tưởng miên man của bà.

    Tuấn dựng thuổng vào tường, lảo đảo từ ngoài hiên bước lại phòng ăn, áo cộc vén cao sát nách, mặt đỏ nhừ như quả cà chua, mái tóc rễ tre loà xoà chấm mi. Bà Xoan ngừng nhai, liếc nhìn bộ dạng bầy hầy của con trai và chẹp miệng bất mãn. Thoạt đầu hai mẹ con ăn trong thinh lặng, rồi bà giáo sực nhớ ra cao kiến của ông quản đốc; bà bèn buông đũa, nhìn con trai chòng chọc như thể đang lựa lời.

    “Xem kìa, ngày nào cũng bia với bọt. Lại say rồi phải không?” cuối cùng bà nói.

    “Tôi có uống bằng tiền của u đâu mà lo,” Tuấn lạnh lùng đáp.

    “Cốt là ấm vào cái thân cậu,” bà giáo thở dài nói. “Cậu tự nhìn lại mình đi, xem còn ra thể thống gì nữa không? Em trai thì…”

    “Thằng Tú cũng chỉ được cái mẽ ngoài.”

    “Thế mà giờ nó lên làm cán bộ, làm tôi nở mày nở mặt, rồi nhà cửa nó cũng xây xong,” bà giáo rít giọng. “Thầy cậu cứ chiều cậu quen thói, giờ vạ vật ra không làm nên trò trống gì.”

    “Trời đánh tránh miếng ăn!” Tuấn đập phắt đôi đũa xuống bàn và quát lớn. Anh không lạ gì cái thói mào đầu lan man của mẹ, nên anh đế thêm:

    “Có việc gì u cứ nói thẳng cho.”

    “Thôi,” bà Xoan đổi giọng thân tình sau một thoáng lựa lời, và quyết định đổi luôn cách xưng hô. “Chuyện thế này, u tính cưới vợ cho mày. Thế nào, có thích cưới vợ không?”

    “Tôi vừa gặp chú Hùng trên đường, chú cũng lảm nhảm y chang u,” Tuấn nói chớt nhả. “Cưới cũng được thôi, thú thực tôi cũng đang muốn thưa chuyện với u đây.”

    “Thế mày nhắm ai?”

    “Khỏi phải giấu u, tôi nhắm con bé Thương.”

    “Thương con nhà bà Tuất?”

    Tuấn gật đầu. Bà Xoan đứng phắt dậy, mắt trố tròn, hai bàn tay bấu lấy thành bàn cho khỏi ngã.

    “Sao mày vẫn qua lại với cái ngữ ấy?” bà quát to. “Mày không biết thiên hạ họ đồn gì hay sao? Hay mày giả đui giả điếc?”

    “Toàn chuyện ba láp,” Tuấn khoát tay bác lại.

    “Ôi trời, mày dại như vích ấy! Chưa kể nhà nó nghèo, nghèo kiết, nghèo nhất cái đất Thao Sơn. Không… không thể được… ai cũng được trừ cái ngữ ấy ra. Thôi thôi, mày chơi bời tán tỉnh nó ra sao thì ra, nhất quyết không được cưới nó làm vợ. Cái này tao cấm tiệt đấy!”

    Tuấn trả lời sau một thoáng im lặng, giọng khô khốc:

    “Thế nếu không cưới không được thì sao?”

    Một bầu không khí ngột ngạt ngự trị gian phòng. Bà giáo giương mắt trân trân nhìn con trai, ngờ ngợ ngộ ra vấn đề, cảm giác ngực như bị đè nặng bởi một tảng đá; quá xúc động, bà hổn hển mãi mới thốt lên nổi:

    “Mày làm nó có chửa rồi?”

    Anh con trai chỉ nhún vai và đứng dậy rời đi.

    3.

    Thao Sơn cách X. mười hai cây về hướng Bắc, cứ men theo đường ray, lấy ống khói của nhà máy nhiệt điện làm đích là sẽ tới. Vùng phụ cận khu xí nghiệp rất giàu, nhưng Thao Sơn là vùng giáp ranh, dân cư phần lớn là cánh thợ nề, thợ sơn, thợ ốp gạch. Đó là một làng nghèo, nghèo nhất cả huyện, và nhà Thương thuộc hạng cùng đinh trong cái xó ấy. Cô lớn lên mà không biết mặt cha, vốn là một hạ sĩ quèn người gốc Hà Tây, dạo xảy ra chiến tranh biên giới từng tới đồn trú vùng này – cô là hệ luỵ của một cuộc chung chạ dân quân mà giữa thời buổi loạn lạc diễn ra nhan nhản.

    Sau khi bà mẹ qua đời, Thương bấy giờ sáu tuổi được cưu mang bởi người bá ruột, một goá phụ khắc khổ, ốm o. Bà dạy con bé chăm lợn, cho nó đi học trường làng tử tế như ai. Bà nuôi hai miệng ăn bằng đồng trợ cấp liệt sĩ còm cõi của ông chồng quá cố, rồi một năm sau bà cũng nối gót ông. Bốn anh chị em nhà Thương họp lại, cãi vã, đùn đẩy, sau rốt bà chị cả miễn cưỡng đón em út về ở cùng vợ chồng mình. Bà này tính tình thờ ơ nên thả rông cho nó thích làm gì thì làm, và chưa đầy năm bà ép nó thôi học để tự kiếm ăn. Thương bắt đầu đi làm như ai, tức là đi gom sắt vụn. Ngày ngày con bé còi cọc thất thểu trong chiếc áo vá chằng vá đụp, kéo lệt sệt cái bao bố rách mướp, sục sạo khắp các ngõ, hẻm, bãi thải, công xưởng để nhặt nhạnh sắt vụn, vỏ chai, rác rến, và hoạ may là những con búp bê mất tay cụt đầu – điều này làm nó vui hơn cả. Thời gian rảnh, nó ngồi trông đứa cháu trai lên ba của vợ chồng chị.

    Vài năm qua đi. Mười hai tuổi, trong vỏn vẹn vài tháng Thương đã ra dáng đàn bà, với bộ ngực ngồn ngộn, đùi vế chắc lẳn, thịt da mơn mởn như quả đào chín, và điệu bộ ngô nghê chỉ càng tăng thêm dáng vẻ gợi tình. Ông anh rể trong một dịp say quắc cần câu, hai mắt bơi trong đầu, mới nhìn nhầm em gái thành vợ mình (sau này ông ta thanh minh thế), quên hết cả luân thường đạo lý mà vồ tới hôn lấy hôn để. Một tháng sau mọi chuyện vỡ lở, trong nhà đánh cãi chửi nhau om sòm, và cuối cùng bà chị, vì ghen tuông, bèn tống khứ đứa em gái côi cút (hiển nhiên bà đã tha thứ cho chồng và bà chỉ có thể ruồng bỏ những thứ bà có thể ruồng bỏ) lên một chuyến xe thùng, gửi thẳng xuống Hà Nội làm con ở. Cuộc sống ở thủ đô chẳng khoan nhượng với cô gái khốn khổ hơn được bao; Thương được một lão bán thịt chó nhận làm ô-sin, rồi lại bị chính lão gạ gẫm và xâm hại dẫn tới mang bầu. Bước lầm lỡ đầu tiên không dễ gì gột rửa, và cái tiếng xấu đeo đẳng cô gái về tận huyện nhỏ. Thời gian đầu, không còn biết nhét em gái vào đâu, bà chị đành dẫn Thương tới phụ việc ở xưởng may cùng mình. Cô gái trẻ cũng thêu thùa, cũng vá vít áo quần, bấm đai lưng như ai; chưa đầy tháng thì chính quyền đương nhiệm khởi động rà soát lao động dưới tuổi, cuối cùng bà chị tống quách cô em ra xưởng gạch.

    Lúc đầu mới gặp Tuấn, Thương đã phát hoảng khi trông thấy thân hình lực lưỡng của anh, có phải ra cầm cuốc đưa xẻng thì cô cũng nhích ra xa hai tầm tay với, trong đầu chỉ nơm nớp lo sợ hễ anh ta bắt chuyện thì không biết phải tiếp lời thế nào. Còn Tuấn ban đầu không có gì quan tâm đặc biệt đến cô, nhưng dần dà bắt đầu tươi cười mỗi khi hai người chạm mặt, rồi sau độ một tháng thì chú ý đến cô hơn, và cuối cùng, đến mắt cũng không rời. Về phần mình, Thương biết tỏng anh ta chỉ ve vãn nhằm thò tay vào quần mình, và ra sức cự nự mọi nỗ lực mồi chài của anh ta. Nhưng một lần, khi cô đang loay hoay mở nắp một chiếc bi đông, anh ta bỗng giật phắt lấy, tu nước ừng ực rồi dúi trả vào tay cô, vẻ thản nhiên như không, nhoẻn miệng cười đầy tình ý. Chẳng hiểu sao lúc ấy cô bỗng đớ ra như phỗng rồi bật cười, khoe hàm răng trắng đều và đôi mắt sáng rực như trăng đêm rằm. Từ đó trở đi, Tuấn không để cô yên nữa. Trên xưởng anh ta làm đỡ hết phần cô, hễ ngơi tay lại cà rà sát cạnh như hình với bóng. Nhiều lần anh ta trực sẵn ở đường ray, mũ cối áp đùi, huýt sáo vẩn vơ như một gã chăn bò; trông thấy cô, anh ta đâm ra xun xoe tựa cún trông thấy chủ, còn cô gái khốn khổ không biết ứng đối thế nào, không biết từ khước ra sao, chỉ lặng lặng rảo bước thật nhanh. Anh ta lẽo đẽo theo sau, hễ cô ngoặt là anh ta ngoặt theo, quanh đâu quẩn đấy, thi thoảng lại dấn lên ngang hàng để buông lời tình tứ.

    Sau một tháng thì cả xưởng gạch đã biết hết về chiến dịch tán tỉnh của anh chàng trai lơ; bao nhiêu bông đùa, bao nhiêu trêu chọc cứ thế chĩa thẳng vào Thương. Vốn không lạ gì bản tính phóng đãng của Tuấn, họ chẳng ngại bỡn cợt cô gái ngay trước mặt anh – một sự khinh suất đến thế! Một lần cả toán thợ đang ngồi ăn trưa, một tên học việc trẻ tuổi tính tình cũng khá bông lơn, chọc ghẹo cô gái khốn khổ tới mức mặt cô đỏ lựng, tưởng phát khóc vì ấm ức. Tức thì Tuấn bật dậy trên đôi chân vững chãi như gắn lò xo, lia phắt chiếc đĩa nhắm thẳng mặt gã kia. Gã nhanh nhẹn né được, chiếc đĩa đập vào tường vỡ tan tành. Tất cả im phăng phắc.

    “Thằng chó, nếu mày còn nói năng luyên thuyên,” Tuấn gầm lên, “mỗi lần tao sẽ vặn của mày một cái răng, riêng cái cuối tao sẽ đấm cho nó phập sâu vào cuống họng! Mày rõ chưa? Địt mẹ nhà mày nữa!”

    Toán thợ xúm xít đẩy Tuấn ra ngoài, anh ta chửi đổng một hồi rồi cắp mũ bỏ đi. Ngay khi anh bước ngang ngưỡng cửa, lão thợ cả trước nay chỉ biết chuyện mình cũng phải lẩm bẩm:

    “Dại thế chứ lại! Chọc ai không chọc lại chọc đúng tổ ong bầu!”

    Cả chiều hôm ấy Tuấn lặn mất tăm; ông quản đốc vừa đi công tác về chứng kiến xưởng gạch đình trệ, chưa rõ đầu đuôi cơ sự nên hết sức gắt gỏng. Ông cho gọi lão thợ cả, lão cung cúc chạy tới và thật thà thuật lại toàn bộ câu chuyện. Quản đốc đang nằm vắt vẻo trên võng, mũ bê rê trùm kín mặt, nghe xong sự tình bỗng ngồi phắt dậy, khoái chí vỗ đùi cười ha hả. Đoạn ông ho húng hắng vài hơi, cho gọi tên học việc kia đến và trách mắng một thôi một hồi cái hành vi dại dột của gã. Ông đe doạ sẽ tống cổ gã, nhưng trông vẻ khúm núm của gã rồi ông cũng nguôi.

    “Thế mày còn không xin lỗi nó à?” cuối cùng ông nói giọng kẻ cả. “Chắc nó nằm ở nhà đấy, đi mà giải quyết với nhau.”

    Lời khuyến nghị tức tốc được thi hành. Sáng hôm sau Tuấn trở lại, mặt hầm hầm không thèm bắt chuyện với ai – mọi chuyện thế là ngã ngũ, chẳng ma nào dại mà chơi với lửa nữa. Suốt một thời gian cả xưởng kiên quyết tránh mắc mớ tới cặp đôi kia, rằng dù muốn hay không muốn, Thương vẫn luôn nằm dưới sự bảo trợ của Tuấn, mà Tuấn lại được lão quản đốc chống lưng. Còn Thương sau sự việc thì như cá mắc câu, đâm cảm mến vị cứu tinh của mình, lòng dạ liêu xiêu, cũng bắt đầu cười đùa ngả ngớn, rồi hẹn hò, rồi ưng thuận trao thân.

    Một tháng rưỡi qua. Cặp đôi vẫn qua lại thường xuyên. Một buổi chiều Thương không đi làm, Tuấn vừa tan ca ở xưởng gạch về, chiếc khăn màu đỏ ướt rượt vắt thõng trên vai, đủng đỉnh bước một xuống dưới chân đồi; đi trước anh có hai người thợ khác, vai cũng vắt khăn và đội mũ cụ hồ vành rộng màu xanh da lính. Bước tới khúc quanh, bỗng một người trong bọn khựng lại, bá vai Tuấn, tay trỏ xuống gốc cây sung toả rợp phía dưới chân đồi. Anh nheo mắt và nhận ra người yêu đang đứng khép nép trông về phía mình, thoáng chột dạ. Xuống tới nơi, hai người thợ biết ý bèn lảng đi thẳng. Còn lại một mình, Thương tiến gần Tuấn, giương đôi mắt đỏ hoe dáo dác ngó quanh. Cô bận bộ đồ lanh mặc ở nhà, vẻ luộm thuộm, tóc xổ tung, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Mặc Tuấn cực lực gặng hỏi, cô vẫn lần khần, đầu cúi gằm.

    “Em… em có thai rồi!” cuối cùng cô nói.

    Tuấn sững sờ như vừa ăn một đòn sau gáy.

    “Kìa anh nói gì đi, em sợ quá! Em không ngủ với ai ngoài anh cả, cái này em thề! Nếu anh không nhận thì… anh cho em tiền… rồi em sẽ tự xử lý…”

    Tức thì Tuấn nhìn chằm chặp vào mắt người tình như muốn đọc từng ý nghĩ, mặt trơ như đá.

    “Xử lý cái gì?” anh ta gầm lên, mặt đỏ như lửa.

    “Em sẽ.. bỏ…”

    “Câm ngay! Con tao sống hay chết là quyền của tao!”

    “Có phải lỗi tại em đâu mà,” người đàn bà rên lên một tiếng đầy ai oán, quỳ sụp xuống vạt cỏ, vùi mặt vào tay tấm tức khóc…

    4.

    Vác bụng chửa về làm dâu, Thương bị cả gia đình nhà chồng khinh ra mặt. Mẹ chồng, em chồng và đặc biệt là người em dâu không những không thích chạm mặt cô, mà nếu không thật cần thiết thì họ cũng chẳng buồn đếm xỉa tới cô nữa. Những ngày ở cữ trôi qua đơn điệu, chán chường. Buổi sáng, nhân viên bưu điện đến cùng giờ Tuấn vác thuổng đi làm; bà Xoan đeo cặp kính lão, nghển cổ đọc từng cột báo chi chít trước hiên nhà, sau đó bà rảo bộ ra chùa, mình bận bộ đồ lam màu xanh xám, đầu đội nón lá, gặp hàng xóm thì vươn cổ như rắn ngóc đầu khỏi vựa lúa non, trưng ra nụ cười hoà nhã niềm nở. Nhưng trước mặt các bạn cao niên, bà than thở luôn mồm về nàng dâu mới về còn đần độn, cung cách đặc sệt con nhà bần nông. Ban đầu các bà bạn vì tế nhị cũng hùa theo chê trách, nhưng lâu dần hoá nhàm, họ đành ngán ngẩm chịu đựng màn than van vô tận của cô giáo già.

    “Không bằng một góc con dâu nhà người ta!” bà giáo ca cẩm. “Rồi sắp tới đẻ đái lại khổ cái thân già này thôi!”

    Thế rồi Thương hạ sinh một đứa con trai ngay trước Tết âm, bà giáo lại vui như mở cờ trong bụng. Bà đích thân xuống uỷ ban cùng Tuấn làm giấy khai sinh, và đặt cho thằng cháu đích tôn một cái tên rất kêu: Gia Bảo; bản thân bà cũng cật lực coi sóc cháu nhỏ. Bất chấp sự bao bọc chặt chẽ của cả gia đình, thằng bé vẫn còi cọc, da vàng như nghệ và trông chẳng lanh lợi tẹo nào. Thấy cháu quặt quẹo bà giáo lấy làm buồn phiền lắm… Riêng Thương càng vì thế mà yêu con hơn, yêu đến phát cuồng. Quả thực kiếm khắp làng cũng không thấy ai yêu con như cô ta. Cô cáu bẳn khi mẹ chồng giành cu cậu ra khỏi mình, cô lườm nguýt khi họ hàng tới thăm nắn nắn ngấn tay ngấn chân của thằng bé, còn ai đòi thơm má nó thì cô đến là thất đảm… Tóm lại, cô luôn ghen bóng ghen gió dù chính cô cũng không rõ nguyên cớ tại sao.

    Bây giờ thì trong nhà bắt đầu diễn ra một trận sống mái giữa mẹ chồng và nàng dâu về cách chăm bẵm con mọn. Những cuộc cãi cọ phần nhiều khởi nguồn từ bà mẹ chồng. Vốn rảnh rang nên bà cật lực bới bèo ra bọ và thường thường bà lên giọng hạch sách vào giờ ăn tối. Khi thì bà nhận xét rằng bát đĩa rửa chưa sạch, khi thì bữa ăn không đủ chất, khi thì trách móc con trai chống cùi tay lên đùi lúc ăn, khi thì bà than thở cháu trai quặt quẹo, nàng dâu ít sữa, chăm chút không mát tay. Và bà quy tội cho cô về tất tật những chuyện này. Thanh danh bị uế tạp đã đành, trật tự cố hữu cũng bị đảo lộn vì chị chàng đến là đuểnh đoảng, do đó bà đâm tức bực, và tự giao cho mình nhiệm vụ phải càng riết róng canh chừng, xét nét cô ta từng li từng tí… Vốn quen nói ngoa nên đôi khi bà mạt sát con dâu bằng những lời lẽ không được xứng danh nhà giáo cho lắm. Thoạt đầu Thương ấm ức và đem chuyện phàn nàn với chồng, nhưng lần nào anh cũng đấu dịu theo hướng chủ hoà, đến nỗi dần dà cô hiểu rằng anh sẽ chẳng thể giúp được gì cô, cho nên cô thôi không mách nữa, mà chỉ lẳng lặng nghiền ngẫm cảnh ngộ bi đát của mình. Và càng thấm thía cảnh ngộ của mình bao nhiêu, cô càng căm ghét mẹ chồng bấy nhiêu. Cô bắt đầu mong bà chết đi, nhưng phần vì sợ phải tội, phần vì nhận thấy viễn cảnh khó lòng xảy ra, cô càng não nề hơn và kết luận rằng thảm trạng của mình là vô phương cứu chữa. Cô coi mình là một kẻ tối bất hạnh, cô oán giận, giấu giếm niềm oán giận đó, và lòng hiềm oán ngấm ngầm này của cô càng đơm thêm sự đay nghiến của bà mẹ chồng.

    Tuy cảm biết được mối hiềm khích giữa mẹ chồng nàng dâu và bị lương tâm thôi thúc phải đứng về phía vợ, những lời đàm tiếu về quá khứ bất hảo của Thương đã phần nào ảnh hưởng đến Tuấn. Giữa cảnh vợ bìu con díu, anh bỗng đánh bạn với ma men và thường mò về trong tình trạng say bí tỉ. Khi tỉnh táo anh ra sức bao bọc vợ bao nhiêu, thì nốc rượu vào anh càng thẳng tay đánh đập vợ bấy nhiêu. Có cảm tưởng anh ta cho rằng vì mình là chồng, là người cưu mang cô nàng khốn khổ, hơn nữa còn phải ăn lại đồ thừa của kẻ khác, do đó vợ phải chịu ơn anh và anh có đặc quyền được đối xử với cô ra sao thì ra; những lúc ấy mặt anh đỏ phực, mắt trợn ngược, cúc ngực mở phanh, xắn tay áo đến tận khuỷu, anh vớ được cái gì dùng cái nấy, khi thì cán chổi, khi thì cần câu, không kiếm được gì thì dùng tay vả đôm đốp. Vừa đánh anh vừa rủa: “Con đĩ, con đĩ, mày ngủ với bao nhiêu thằng rồi!”, và liên tục doạ dẫm sẽ quăng vợ xuống giếng. Dạo đầu Thương gắng gượng chịu đựng những trận đòn tới tấp vô nguyên cớ ấy, nhưng lâu dần cô bắt đầu phản kháng, cũng đổi cách xưng hô và quay lại nhục mạ chồng, và xét về tính khí cùng mức độ sát thương của lời nói thì hai bên cũng một chín một mười, không ai chịu thua kém ai. Rồi cũng chính hai con người trái nết ấy, chỉ một lát sau, lại sà vào vòng tay nhau và ân ái cuồng nhiệt tới khi mệt lả. Vai kề vai, chồng ra sức dỗ dành và thề thốt sẽ không tái phạm, vợ cũng nhắm mắt đưa chân, nhưng hễ có cơ hội là họ lại đánh đập, chửi bới, không nề hà mà quẳng vào nhau những tính từ miệt thị nhất.

    Chuyện cứ dằng dai như thế suốt ba tháng trời. Một buổi trưa, Thương trở về sau khi đem cặp lồng lên xưởng gạch cho chồng. Mệt phờ vì phải cuốc bộ, cô vừa bước vào gian khách thì bắt gặp bà Xoan đang lén cho thằng cu bú sữa từ một túi trữ (bà xin từ hàng xóm, nhà này cũng vừa có sản phụ mới sinh). Lúc ấy cô cảm thấy máu trong người như sôi lên, giận đến mức quên hết cả nhún nhường lễ độ; cô hùng hổ tiến tới, dậm chân thình thịch, buông xõng một câu đầy xấc xược:

    “Sao u phải đi xin sữa?”

    Bà già cố tình làm thinh, rung rung đùi, bàn tay vẫn thong thả đưa lên đưa xuống bịch sữa. Trông thằng bé mút chòm chọp cái của vay mượn ấy, Thương điên tiết giật phắt ra, khiến sữa vung vẩy khắp sàn, dây cả lên mình mẹ chồng; rồi cô khựng lại như để lấy hơi và rống lên như loài thú dữ:

    “Sao phải thế? Hả?”

    Tiếng khóc oang oang của thằng bé vang dội khắp nhà. Bà giáo cơ hồ thất kinh vì những lời lẽ hết sức táo tợn của nàng dâu: trước nay cô ả vẫn luôn phục tòng mọi ý chí của bà. Môi bà tím ngắt, hai mắt trợn ngược lên, bà rống lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Tiên sư con này láo toét!”

    “Bà đưa cháu đây!” Thương nói như ra lệnh, giành lấy thằng cu từ tay mẹ chồng rồi chạy biến lên lầu…

    Chập tối Tuấn trở về. Từ trên gác Thương cũng nghe rõ mồn một cái giọng ngoa ngoắt của mẹ chồng đang mách chuyện với anh con trai. Rồi cô nghe tiếng bước chân như tiếng búa nện của chồng khi anh leo cầu thang, càng ngày càng gần, và im bặt. Anh đứng chắn ngang ngưỡng cửa, cô ngồi ngoan ngoãn cạnh mép giường, vẻ rúm ró, cam chịu tựa hồ con chó sắp bị chủ đánh phạt. Tuấn nhìn quanh quất khắp phòng, thấy con trai đang nằm trong nôi, rồi anh mắm môi, trừng trừng nhìn vợ, trông gương mặt đỏ dừ của anh cũng đoán biết được anh đang trải qua một sự tranh đấu nội tâm dữ dội thế nào.

    “Hay ho nhỉ?” anh buông độc một câu rồi bỏ ra sân thượng, châm thuốc.

    Lát sau anh trở vào, nét mặt cơ hồ đã dịu vợi đi. Những nếp nhăn trên trán chùng xuống. Anh đằng hắng vài hơi rồi bắt đầu bài giảng muôn thưở của mình về phép tắc, về phận làm dâu, về thói kính trên nhường dưới… Cứ theo anh nói, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy, bất kể chuyện gì cũng thế thôi, rằng mẹ chồng nàng dâu khục khặc với nhau là chuyện thường tình, rằng những lúc cần thiết thì anh đây vẫn có thể phân bua phải trái ra trò, và thi thoảng anh còn gằn giọng tỏ ý rằng vợ hãy biết điều vì anh mà nóng máu lên thì không xong đâu. Còn đối với Thương, tất cả những lời lẽ sáo rỗng ấy chỉ quy về một câu hỏi duy nhất: bao giờ thì kết thúc những điều này? Nhưng Tuấn dường như không đoán được ý nguyện của cô, anh vẫn nói sa sả và bởi vợ cứ im ỉm như thóc, anh bực quá mới vả cô một cái. Rồi một cái, một cái nữa. Lời qua tiếng lại, như thể tăng xông, Tuấn nhảy bổ lên giường, một tay quặp chặt cổ tay vợ, tay còn lại vả vợ chan chát như khua chèo. Thương dùng dằng giẫy ra, nhưng dưới cái thân hình hộ pháp kia, cô chỉ còn biết khum tay che mặt, cam tâm hứng chịu trận đòn trút xuống như mưa.

    “Sau tao nói thì phải trả lời, nhớ chửa?” lát sau Tuấn nói với vợ khi đã thoả thuê.

    “Mày cứ đánh tiếp đi, đánh mạnh vào!” Thương ngồi rúm ró bên thành giường, vừa lau máu trên môi vừa trâng tráo khích bác. “Mày chỉ được có thế!”

    “Mày nói lại xem nào!”

    “Thằng khốn nạn! Mày cứ hứa, hứa mãi, rồi xem mày làm được cái gì! Mày chỉ biết đánh tao thôi!”

    Nói tới đây Thương lăn đùng ra khóc rũ rượi. Tuấn toan vào thế, không hay để ý đứa bé bị tiếng động làm cho tỉnh giấc, nãy giờ nó la khóc vô cùng dữ dội. Khó tin nổi một cái cuống họng nhỏ nhắn có thể phát ra âm thanh chói tai đến thế. Thương chạy vội về phía chiếc nôi và ôm chặt thằng bé vào mình, nhảy phắt về sát góc tường. Vừa dỗ con vừa khóc, cô ném ánh nhìn căm phẫn vào chồng, giữa làn nước mắt, giọng cô gằn lên cơ hồ đe doạ:

    “Tao biết mày cưới tao chỉ vì thương hại! Mẹ con mày cứ đánh chửi tao thế nào cũng được, nhưng con tao phải để tao nuôi! Bố tổ, con giun xéo lắm cũng quằn, tao chẳng dám hứa trước đâu. Nếu mày thực sự quý trọng con mày thì đừng dồn tao đến mức đường cùng, lúc ấy tao sẽ chẳng ngập ngừng đắn đo mà nhảy xuống giếng cùng với thằng bé này! Lúc đấy mày đi mà vớt xác hai mẹ con tao!”

    Tuấn rùng mình. Anh ta nhìn đôi mắt sòng sọc tia máu của vợ, sửng sốt vì bị đe doạ bởi chính lời đe doạ mà mình vẫn hay dùng. Vẻ mặt anh có vẻ hằn học của người vừa chơi khăm người khác nhưng bị kẻ đó chơi lại một vố đau hơn. Anh ta dường như bực mình vì đã tỏ ra bối rối, hơi sượng sùng vì chịu lép vế trước lời hăm doạ kia, nhưng đồng thời không thể không tin tất cả có thể trở thành sự thực: Thương tất nhiên là thuộc loại người đến con mình cũng không tiếc nữa huống hồ tiếc cái thân mình.

    “Sang năm mình dọn ra riêng,” anh ta cả quyết nói sau một hồi thinh lặng. Thương chẳng nói chẳng rằng, anh ta dằn giọng nhắc lại:

    “Nghe gì không? Sang năm mình dọn ra riêng! Sớm muộn gì cũng phải thế, nói thật tao cũng chẳng chịu nổi cái tính chấp nhặt của bà già.”

    “Có thật không?” đến đây người vợ ngước mắt nói với vẻ ngờ vực.

    Một quãng lặng trong đó đôi bên dò xét nhau.

    “Thật không?”

    “Thật!”

    “Mày hứa đi!”

    Tuấn chần chừ vài giây, vẻ miễn cưỡng, rồi nói:

    “Tao hứa!”

    Lúc ấy, người đàn bà cảm tưởng mình có thể ăn thêm chục cái tát nữa cũng không xi nhê, rằng dù thế nào thì cô vẫn vui như thường. Giữa đêm khuya thanh vắng, đứa bé vẫn kêu oe oé, còn mẹ nó thì vừa khóc nức nở vừa cười man dại trong sự sửng sốt của đức lang quân. Mười hai giờ, đoàn tàu chở than xình xịch kéo qua. Trong căn buồng nhỏ, vợ chồng lại vần nhau đến mệt lử rồi lăn ra ngủ như chết, như chưa từng có cuộc cãi vã nào…

    5.

    Ba tháng nữa qua. Như thể có một phép màu, đứa bé dần dần khoẻ mạnh hơn, thân mình trở nên bụ bẫm, bắp tay bắp chân tròn trặn, má núng nính. Sự phổng phao của nó tạm thời lắng đọng những xung khắc trong nhà và gây ảnh hưởng rõ rệt tới từng thành viên. Bà Xoan đon đả như thể hồi xuân, Thương vẫn củ mỉ cù mì và tận lực nâng niu con nhỏ, còn Tuấn từ sau vụ kia thôi không dám động thủ với vợ nữa. Nói không ngoa vợ chồng ăn ở với nhau còn hoà thuận là khác. Họ cùng kiên nhẫn dõi theo sự phát triển của cậu quý tử. Thằng bé bắt đầu tập lẫy, rồi ê a những tiếng đầu tiên, tỏ ra là một cu cậu hết sức hoạt bát, hiếu động. Đường nét của nó giống Tuấn như tạc, và tuy ai bế nó cũng theo, nhưng riêng bố thì bám chằng chằng.

    “Không sao dứt nổi cái ông cụ này,” Tuấn làm bộ ngúng nguẩy, uốn dài giọng như hát. “Thôi ông lớn nhanh cho tôi nhờ, ông tướng ạ!”

    Anh ta quả thực đã tu chí làm ăn, bắt đầu biết chắt chiu, dè xẻn. Chủ quán bia tiếc hùi hụi vì sự tiết chế bất ngờ của một khách hàng thân thiết. Trong sáu tháng, anh ta để riêng được năm trăm viên gạch ba banh, cùng năm chục tấm lợp bờ lô chất đống đằng sau vườn nhà, dưới cây mít na mà anh tự tay đốn sát gốc. Vườn tược quang quẻ, có đôi chim chào mào không biết từ đâu ngày nào cũng tới đậu trên bờ giậu và cất tiếng hót lảnh lói. Nghe tiếng người chúng bay vút đi, Tuấn bồng con nhìn theo chúng, rồi xốc nách nhấc bổng thằng bé lên cao như Rafiki bế Simba trước mặt toàn thể muông thú.

    “Cái ông kễnh này!” anh ta thích chí reo lên. “Tôi xây nhà cho ông đây, sau này lớn rồi xây lại cho tôi nhé! Sao nào, ông có nhất trí với tôi không?”

    Đứa bé bật cười khanh khách, giơ đôi bàn tay mũm mĩm quặp chặt hai tai bố. Tuấn liếc mắt nhìn Thương đang đứng phía sau, cả hai phì cười. Sau khi xoay vòng con trai thêm vài lượt nữa, anh trả nó về tay vợ; cô ta khạng nạng địu con bước vào nhà. Còn lại một mình, anh đứng trầm mặc rất lâu trước đống gạch ba banh, châm thuốc hết điếu này đến điếu khác. Như viên kỹ sư lập đồ án một công trình, anh ta trù tính, phác thảo, sắp đặt đời sống tương lai của mình, và chu đáo đến mức định đắp một cái bể nhỏ cho thằng con trai vày nước.

    Ông quản đốc tạt ngang hiên nhà, chú cháu nghếch đầu chào nhau.

    “Tôi bảo có sai đâu, hở cô giáo, cứ cưới vợ vào là khác hẳn!” ông ta thầm nhủ, rất hài lòng vì sự ứng nghiệm này.

    6.

    Tin tức về tai nạn của Tuấn đến giữa đêm. Anh bỏ mạng giữa xa lộ, toàn thây biến dạng không rõ hình người, óc văng ra ngoài bờ ruộng. Một lão hàng xóm goá vợ tên Gia bấy giờ đang đánh kích trộm ngoài đầm, quen thói hóng hớt bèn tót lại chỗ đám đông. Người ta tưởng lão là thân quyến người bị nạn, vì lão bỗng rú lên kinh hoàng trước đống bầy nhầy, rồi lão nôn thốc nôn tháo, chống tay vào cột mốc cho khỏi ngã… Hoàn hồn rồi lão phi hết tốc lực về làng báo tin. Đêm ấy cả xóm thức trắng vì tiếng thét bi thảm đến xé lòng của người vợ trẻ…

    Tuấn chết vào mùa đông, rồi xuân đi đưa hạ tới, và mùa thu vội qua, một mùa đông giá rét nữa ập về. Khi bất kỳ ai đi ngang hiên nhà, họ lại nhớ về người quá cố; và hễ họ bắt gặp bất cứ ai trong gia đình bà giáo trên đường đi chợ buổi sáng hoặc đi tập thể dục buổi chiều, điều này cũng lại đánh động cho họ nhớ về vụ tử nạn kinh hoàng kia.

    Dường như một màn tối đã giăng xuống căn nhà. Cảnh nhà ảm đạm hơn, bắt đầu có những vết tróc trên trần, mưa trút xối xả xuống các máng sắt hoen gỉ; con chó già đâm đầu vào tàu hoả gãy làm đôi, như thể tự hoá kiếp khỏi tình cảnh tù túng, rồi cả xóm nhặt phần thây lành về giết thịt; gà toé bậy đầy khoảng hiên nhỏ, cỏ dại chen nhau mọc trên các lối… Và Thương dường như cũng ám vào mình cái vẻ ủ dột. Cô đau ốm triền miên, thân hình choắt cheo, mặt dài vêu ra, da dẻ xám ngoét cả lại. Ma chay, giỗ giếc, con mọn, sự lãnh đạm vô ưu của nhà chồng, ánh nhìn thương cảm của hàng xóm – tất cả chuyện này làm cô kiệt lực và dồn cô đến nước tuyệt vọng.

    “Chồng mất thì còn con,” bà Xoan cao giọng của người từng trải. “Chao ôi! Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, cái số kiếp tôi hẩm hiu như chén cơm nguội! Lại còn thằng bé, tí tuổi đầu đã mồ côi cha!”

    Bà cũng buồn, khóc ông ổng trước mặt khách viếng, nhưng lại đẫy đà hơn, da trắng lốp, và chẳng vì con trai mất mà bà ăn ít đi hay ngủ bớt ngon đi. Bà vẫn nhẩn nha đọc báo vào buổi sáng, đi bách bộ vào buổi chiều, thi thoảng dự lễ hầu đồng, trên đường về tán chuyện cùng bạn cao niên. Vợ chồng Tú báo tin sắp có con đầu lòng, bà túc trực bên đấy luôn. Họ toan tính một chuyện gì đấy, về đất đai, và Tú gần như ngày nào cũng tất bật bôn hành, mày râu nhẵn nhụi, gặp người quen dưới uỷ ban thì vồn vã chìa tay ra bắt, với nụ cười bí ẩn gắn chặt trên môi.

    Một chiều tháng sáu, Sương ngồi một mình bên bàn tiếp khách, im lặng trông ra khoảng sân. Bên ngoài trời nóng nực, đến con chó cái cũng hoá uể oải, nằm sõng soài trong chuồng, thi thoảng lại cất tiếng rên rỉ yếu ớt, giả dụ có khách vào nhà hay trộm tới khuân hết đồ đạc đi thì nó cũng thây mặc, chẳng buồn đứng dậy mà tiếp nữa. Sương vẫn ngồi im trông ra khoảng sân ngập nắng, đầu ong ong. Cô thấp thỏm chờ đợi như bứt rứt điều gì…

    Bỗng nghe tiếng then cổng rít lên. Cô ta chạy nhào ra hiên; qua bờ giậu, cô thấy bà Xoan tay cắp nón bước vào nhà. “Sao lâu thế nhỉ?” cô ta tự hỏi lúc trở vào trong, nôn nóng dậm chân bần bật xuống sàn như ngồi máy may. Tú xuống uỷ ban từ sáng và hẹn trưa sẽ trở về, nhưng đã ba giờ chiều rồi vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Cô ta sốt ruột ngóng đợi, dỏng tai nghe ngóng từng tiếng rịn ga, tâm can chộn rộn vì niềm hiếu kỳ thiêu đốt.

    Cuối cùng có tiếng đế giày đánh cộp ngoài thềm. Tú bước vào nhà, tay ve vẩy một tập hồ sơ màu đỏ mỏng tang; bắt gặp cái nhìn rào đón của vợ, gã nhoẻn miệng cười ranh mãnh.

    “Xong rồi!” gã nói với vẻ hài lòng của người vừa lập chiến công.

    Cô vợ cập rập kéo chồng ngồi xuống.

    “Cứ từ từ,” gã giơ tay trước mặt chặn lại, cùng lúc mắc nón kepi lên cây treo đồ, đoạn ngồi xuống cạnh vợ, nới lỏng cà vạt, chân nọ vắt chân kia, ngả lưng vào tấm nệm đầy khoan khoái.

    “Mang xin cốc nước! Nước đá nhé!”

    Người vợ chạy vù vào bếp, trở lại ngay, trao ly nước cho chồng bằng cả hai tay. Tú nốc cạn như thằng chết khát, “khà!” một tiếng rất to, đoạn hắng giọng.

    “Đúng là số hên!” gã cất lời. “Tự dưng gặp được thằng Xuân, cái thằng đợt Tết vào thăm nhà mình ấy. Lai rai một hồi mới té ra ông chú nó làm chủ tịch. Ông già nó vừa mất, nó cũng đi làm hồ sơ giống mình. Vậy mà đếch nói sớm! Anh mới nhờ nó nói đỡ vài câu. Thế là xong! Giấy tờ đây,” anh ta quăng tập hồ sơ xuống mặt bàn, “giấy chuyển nhượng, giấy cam kết, rồi hồ sơ đủ cả.”

    “Thế là xong chửa anh?” Sương ngơ ngác lật giở tập hồ sơ một hồi rồi hỏi, hoàn toàn mù tịt.

    “Xong thế nào nhanh thế!” gã phẩy tay đáp. “Bây giờ con bé kia nó phải ký vào đây, đồng ý sang tên cho bà già. Còn phần đất của thằng con thì để nguyên đấy, mình được quyền khai thác trên cơ sở giám hộ. Tất nhiên cũng phải bưng bít chút đỉnh, nhưng… người ta nói thế nào ấy nhỉ… à… phải rồi… muốn ăn cá cả phải thả câu dài. Vậy đấy…”

    “Trời ạ!” Sương nói, lúc lắc đầu. “Chắc gì nó đã chịu ký mệ! Bây giờ phải làm gì đó!”

    “Dĩ nhiên là phải làm gì đó! Nghĩ đi!”

    Hai vợ chồng nhìn nhau chằm chặp tựa hồ đang trao đổi ý nghĩ qua ánh mắt.

    “A!” Sương kêu lên. “Thế mà không nghĩ ra”

    “Thế nào?”

    “Con bé kia nó có biết chữ đâu!”

    Tú im lặng, vẻ khó hiểu. Sương vồn vã lý giải:

    “Thế này, giờ anh lựa lời bảo nó ký vào đây, bịa ra một cái lý do gì đấy. Anh bảo nó chuyển hết đất đai của bà cụ, rồi bà chết không về mình thì về ai. Mà từ dạo ông Tuấn mất bên đấy em thấy cũng chí choé tối ngày, bà cũng muốn tống cổ nó đi từ lâu rồi. Chẳng qua bà sợ thiên hạ dị nghị đấy thôi!”

    “Tài thật!” Tú thầm nhủ, và gã ra vẻ suy tính dù trong lòng rất hài lòng với mưu chước mà vợ gã vừa bày ra, đoạn gã nói:

    “Được đấy! Vậy phen này phải nhờ bà già một thể rồi.”

    “Thế anh thưa chuyện với u luôn đi!”

    “Hừm,” Tú nhíu mày nói, “từ từ xem nào… mới tính thế…”

    “Từ từ cái gì! Bà cũng đến tuổi lẩm cẩm rồi, chỉ muốn cốt cho xong chuyện thôi.”

    Đoạn Tú đứng dậy, bước ra hiên, dóng mắt về phía nhà bà Xoan.

    “U có nhà không?” anh ta hỏi vợ.

    “Có đấy!” cô ta hăm hở tiếp lời. “Em vừa thấy bà xong, chắc đang ngồi phòng khách. Anh sang mau đi!”

    Và cũng hơi lần chần, gã vòi thêm một cốc nước nữa, tu ực như nuốt luôn nỗi cấn cái trong lòng, rồi gã cắp theo tập hồ sơ bước sang, đầu vẫn bận rộn với những suy tính. Đằng sau, vợ gã mắm môi nhìn theo.

    7.

    Tháng bảy. Mưa rả rích ngày đêm, đàn ruồi vo ve bên ô cửa sổ, bên dưới bậu cửa xác ruồi chết như ngả rạ. Từ vườn đưa lại cái mùi tanh nồng đặc trưng của nấm mốc ứ đọng sau nhiều ngày oi bức. Bà Xoan ngồi bên bàn pha chè, một tay chống cằm, một tay nắm quai cốc nước chè nghi ngút khói. Bà ngồi im như tượng, những nếp nhăn trên trán hằn sâu cho thấy bà đang suy nghĩ rất hung. Trên lầu, Thương lăng xăng chạy đi chạy lại nô giỡn cùng đứa con nhỏ. Thằng bé nằm trong võng, còn cô đứng cạnh khung cửa, chụm tay che mặt.

    “Ú…oàaaaa! ú… oàaaaa!”

    Rồi chạy vụt đến hôn hít điên cuồng. Cũng như mọi khi, trông thấy mẹ, thằng bé hé cái miệng chưa mọc răng bật cười khanh khách, vẫy vẫy hai bàn tay mũm mĩm như hai nắm cơm tròn trĩnh.

    “Ôi, sao mà kháu thế không biết,” Thương nhìn con hồi lâu, vừa nói vừa kéo vạt áo chặm nước mắt. Rồi cô bồng thằng bé lên, ngả đầu nó vào vai, thầm thì như nói với chính mình. “Tội nghiệp con tôi! Cục vàng của mẹ! Bố thương Bảo đến thế… Mẹ cũng thương Bảo lắm, nhưng không bằng bố được! Thế Bảo có thương mẹ không?”

    Thằng bé im re, chỉ nhoẻn miệng cười khoe vành lợi nhợt nhạt, nhưng cô hiểu hết, hiểu rằng nếu nó nói được, nó sẽ bảo cô rằng nó có thương. Cô yêu nó quá! Cô đã trút tất cả sức mạnh của mối tình mãnh liệt nhưng đầy sóng gió với ông chồng quá cố vào đứa con độc nhất này. Và ở nó cô thấy niềm hy vọng, như ánh sáng le lói phía cuối đường hầm. Cô thích thú tưởng tượng mai này nó sẽ trở thành một ông lớn nào đó, nó sẽ lớn phổng phao như Thánh Gióng, tay chân cứng cáp, đỏ da thắm thịt, sự trưởng thành của nó sẽ giúp cô khuây khoả, sẽ là niềm an ủi tinh thần mà qua đó cô có thể đạp bằng mọi gian nan, sóng gió…

    Bỗng cô nghe tiếng văng vẳng vọng lên từ dưới lầu. Tiếng gọi lặp lại rõ ràng hơn. Cô đặt con vào võng và đứng thẳng, rồi không kìm được lại cúi xuống hôn chụt một cái. Cô đóng cửa thật khẽ rồi bước xuống cầu thang. Cô thấy mẹ chồng đang ngồi sau bàn pha chè; vẫn một tay chống cằm, một tay nắm chặt quai cốc. Bà bảo cô ngồi xuống đi và cô ngồi xuống, hơi lừng khừng vì cuộc nói chuyện bất thường này. Cô im lặng ngắm nhìn bà; bà mặc một chiếc áo thụng màu đen bằng vải lanh rất tươm, bận chiếc quần lửng bằng lụa màu đen y chang, in hằn một vết nhàu nhĩ do khuỷu tay bà chống lên nãy giờ. Bà để mặc con dâu suy đoán rồi tự tay rót một tách trà, đẩy về phía cô, vẻ mặt nghiêm cẩn như đang làm kế toán.

    “Có việc gì thế mẹ?” Thương rụt rè hỏi.

    Vẫn lặng thinh.

    “Mày còn trẻ, mới có mười tám đôi mươi,” cuối cùng bà giáo mở lời. “Thôi thì sống chết có số, việc xảy ra cũng xảy ra rồi.

    Thương không hiểu gì, mặt vẫn ngẩn ngơ, bàn tay vần vò mép áo, mím chặt môi. Bà già tiếp:

    “Tao thú thực suốt từ hôm ấy tới giờ tao ăn không ngon, ngủ không yên,” bà khựng lại, đánh mắt dò la phản ứng của con dâu, “tao biết mày còn thủ tiết chứ chưa vội cải giá ngay. Đó là điều đáng quý… Phải, đáng quý… Nhưng mày còn trẻ, trẻ lắm, ở vậy rồi phí tuổi xuân ra… Mà… tao biết mày sống với tao cũng chẳng dễ chịu gì, tao cũng chẳng muốn chì chiết mày, nhưng khổ cái tính tao nó thế! Giờ mày có đi bước nữa tao cũng chẳng oán trách. Đời ai nấy sống, tao bây giờ không còn quyền hạn gì với mày cả. Mày hãy coi như giữa chúng ta không còn ràng buộc… Thế nào, tao nói thế mày có hiểu không?”

    “Thế nào?” bà Xoan nôn nóng thúc chuyện.

    “Dạ… vậy còn thằng Bảo?” Thương nói nhát gừng.

    “À đấy, còn thằng bé,” bà đáp, hơi bối rối. “Cái đấy thì mày cứ yên tâm. Tao còn sống ngày nào thì còn nuôi nó ngày đấy. Thi thoảng mẹ con có thể vào thăm nhau…”

    “Sao con lại phải thăm nó?”

    “Thì là thế…”

    “Thế tức là?”

    “Ừ.”

    “Không thể được!” Thương buột miệng nói to, và trước ánh nhìn điềm nhiên của mẹ chồng cô càng cáu tiết hơn, “không, dứt khoát không! Không thể…”

    “Có gì mà không được?” bà Xoan ngắt lời.

    “Thằng bé là con của con,” Thương nói giọng nghèn nghẹt do ảnh hưởng từ cơn xúc động.

    “Thì nó cũng là cháu tao!”

    “Con có thể nuôi được nó,” Thương cập rập nói không ra hơi. “Nó vẫn còn nhỏ, không thể để nó sống xa mẹ nó được. Còn bản thân con, xin thú thực với mẹ, nếu không có thằng bé thì con đến chết mất!”

    “Mẹ nào mà chả thương con,” bà Xoan nói giọng ôn tồn, “dứt ruột đẻ ra đâu ai muốn cảnh chia lìa.”

    “Dạ.”

    “Thế nhưng mày phải nhìn lại mình: mày nghề ngỗng không có, học hành không đâu ra đâu, tiền kiếm còn chả đủ nuôi thân nói gì nuôi con nhỏ. Suốt từ lúc thằng Tuấn mất đến giờ toàn là tao nuôi nó cả chứ đâu, chứ dăm ba đồng còm của mày thì bõ bèn gì! Sao, thế chẳng nhẽ mày muốn con mày khổ? Đời mày đã thế rồi thì mày phải biết nghĩ cho đời con mày chứ!”

    Bà giáo nói một tràng, không ngắt nghỉ rồi đằng hắng, có vẻ cảm thấy lý lẽ mình đưa ra hết sức thuyết phục, đoạn nhấp một ngụm chè, chốt hạ:

    “Thôi thế nhé, nội trong tuần này cứ suy nghĩ rồi báo lại cho tao.”

    Câu nói ấy phập xuống như một nhát dao.

    Ngoài trời mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn không thôi vần vũ trên bầu trời xam xám, buồn buồn.

    8.

    Đã một năm trôi qua từ khi bà chị ruột ngán ngẩm đón Thương về quê ngoại. Cô vẫn đi rao sắt vụn, nhưng suốt ngày người ta thấy cô vứt chiếc xe cào cào chỏng chơ bên khóm cỏ gà rồi bơ thờ rảo bước dọc theo đường ray, hết đứng lại ngồi, đôi mắt vô hồn như nhìn vào chỗ trống. Cảnh nhà cũng không yên ả. Thoạt đầu hai chị em cãi cọ liên miên vì Thương nằng nặc đòi đón con về cùng mình. Bà chị cực lực phản đối do phát hoảng với cái ý nghĩ phải đèo bòng thêm một miệng ăn, nhưng rồi đốm lửa tàn nơi đáy tim bà nhóm dậy, bà đích thân tìm đến nhà bà Xoan đề nghị thi thoảng cho cháu trai về quê ngoại dăm ba ngày. Bà Xoan bán tính bán nghi nhưng rồi vẫn bằng lòng, với điều kiện bà phải đi theo kèm cặp. Họ xếp cho bà căn phòng sát vách gian khách, thường ngày làm phòng ngủ của anh con trai đang theo đại học trên thành phố. Bà canh chừng hai mẹ con Thương không ngơi nghỉ, mắt thao láo như loài cú vọ, có cảm tưởng một con ruồi bay ngang cũng phải sợ mà bay vòng đường khác. Còn thằng Bảo không uổng công bà nội dung dưỡng, dần dà nó quấn quýt bà bằng cái nhiệt tình hồn nhiên của tụi trẻ con, và điều này khiến Thương đau khổ khôn tả, giá có thể móc tim rồi liệng ra vườn thì cô đã làm rồi. Thời gian ở cạnh con sao mà chóng vánh, hai ngày trôi nhanh như hai canh đồng hồ. Như mọi khi, đến lúc tiễn hai bà cháu ra về, cô khóc thổn thức, bịn rịn không muốn rời con. Trông thấy mẹ khóc, thằng bé sợ sệt víu lấy áo bà. Nó còn nhỏ quá, nó chưa hiểu được tấn thảm kịch vừa ập xuống gia đình nhỏ của nó, cũng như chưa hiểu được vũng lầy ngập ngụa mà mẹ nó vừa sa vào, còn bà già chỉ lẩm rầm rằng con mẹ nó bị dấm dớ đấy thôi.

    Một tối thứ bảy, Thương nói với chị:

    “Em nhớ con quá, chị ạ! Tuần nào gặp nó em cũng khóc. Nhưng thương con quá nên em mới khóc đấy thôi! Em mất mẹ, mất chồng, bây giờ thì mất cả con. Chị nghe em không thế? Thế đấy, em khổ quá… Sao chị biết mà chị không bênh em?”

    “Thôi em ạ,” bà chị đã quá quen với cái tính mau nước mắt của cô em, nên bà kiên nhẫn nói lại những điều mà bà thường nói, “âu cũng bởi cái số. Bây giờ mày đưa thằng bé về đây tao với mày cầy cục cũng không kham nổi. Quay đi quay lại nhà nội họ vẫn có quyền. Tạm thời mình cứ gửi con ở đấy, sau này nó lớn nó tự khắc biết theo ai.”

    “Ôi, chị nói thế! Nó còn nhỏ, có biết cái gì đâu! Nó sẽ quên em mất!”

    “Lại nói lằng nhằng rồi,” bà chị lầm bầm, vỗ nhẹ vào lưng em gái đang run rẩy từng hồi. “Thôi nguôi nào, mai hai mẹ con mày gặp nhau rồi mà…”

    Trời đêm vắng lặng, nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo trên chạn bát, đám muỗi vo ve như than oán điều gì… Thi thoảng con chó ngoài chuồng cất tiếng kêu tru tréo lạc điệu giữa cảnh thanh vắng, rồi tắt ngấm như bị màn đêm nuốt chửng…

    “Chết chửa,” bà chị hỏi, như sực nhớ ra một dự định, “thế cái miếng đất kia thì sao? Giờ tao mới nghĩ ra! Miếng đất ấy thế nào rồi?”

    “Em không biết,” Thương đáp, lắc lắc đầu. “Ôi, mệt óc lắm! Suốt từ hôm anh Tuấn mất đến giờ nhà bên đấy chỉ toàn đất với cát. Đến bữa một trăm ngày họ cũng nói, nói suốt, thậm chí còn đánh cãi chửi nhau!”

    “Sao lại không biết? Mày phải biết rõ hơn ai hết chứ, đấy là đất của chồng mày mà!”

    “Đầu tiên,” Thương cất giọng ề à như vừa nói vừa nghĩ, “sau đám tang, mẹ với vợ chồng Tú cứ bàn tính gì đấy. Họ không tiết lộ gì cho em. Em bận trông cháu nên cũng chẳng mấy đoái hoài. Về sau em mới hiểu ra, con bé Sương nó đòi xây một cái quầy thuốc. Hai vợ chồng nó dành ra được hơn trăm triệu, nhưng cần bà nội cho thêm ít vốn. Ban đầu bà cụ cũng gật gù, nhưng một hôm bà cụ đang ngồi trên bàn ăn nó nhắc lại vụ ấy, bà cụ bỗng tối sầm mặt bảo: ‘Tiền thì tao cho ngay cũng được, nhưng phải xây trên đất nhà chúng mày, còn đất này là đất của thằng Bảo, sau này nó lớn thì nó hưởng.’ Thế là con bé ấy nó lườm, lườm ghê lắm, mắt sắc như dao găm ấy, rồi nó chẳng thèm ăn, mặt sưng mày sỉa suốt bữa cơm. Nó cũng chả ở lại phụ em rửa bát, chồng nó đứng dậy là nó cũng cắp đít về luôn.”

    “Ôi!” bà chị thốt lên. “Láo ghê chưa!”

    “Thế rồi vài hôm sau nó lại tươi phơi phới,” Thương nói tiếp. “Nó với chồng xuống xin lỗi bà cụ, rồi bà nguôi. Đấy là một tuần trước ngày bà cụ đuổi em đi. Rồi nguyên năm ngày bà với thằng Tú đánh xe xuống uỷ ban hoài. Cuối cùng bà bảo em là đất cát bà sang hết cho thằng Bảo rồi, em không cần phải lo nữa. Thế rồi bà bảo em ký vào một cái tờ gì ấy, hình như là giấy chuyển nhượng đất. Thì em cũng giả vờ đọc, nhưng em nào có biết chữ, chẳng hiểu nó nói mô tê gì. Bà sốt ruột nên ký nhoằng luôn hộ em. Em hỏi bà: ‘Thế còn đống gạch ba banh thì sao mẹ?’ Bà mới đáp: ‘Tạm thời cứ để đấy, con ạ! Rồi đâu sẽ có đó!’”

    Bà chị kiên nhẫn lắng nghe em gái kể từ đầu chí cuối, rồi bà thở dài tức tưởi, rên lên:

    “Ôi thôi em ơi! Thế là chúng nó phỗng mất rồi! Đất đấy là đất của mẹ con mày, đáng ra mày phải hỏi tao trước rồi hẵng ký. Mày bị chúng nó ăn hớt rồi em ơi!”

    “Thế là sao?” Thương lập bập nói.

    “Là bị cướp đất rồi! Cướp đất rồi! Sao lại dại thế hở trời? Mày nhớ kỹ lại xem nào, có thật là mày ký rồi hay không?”

    Thương trơ ra như đá rồi run rẩy gật đầu. Bà chị bất lực thở hắt một hơi rồi lao bổ về phòng. Ông chồng ngơ ngác một hồi rồi cũng hiểu ra sự thể, vừa nghe vợ kể lể vừa lật lại trong trí tất tật những kinh nghiệm đất đai. Trước ánh nhìn nôn nóng của vợ, ông ậm ừ bảo rằng nếu thế thì khả năng mất toi rồi, khó gỡ gạc cho nổi. Vẫn còn gượng gạo với em dâu sau vụ bê bối, từ bận Thương dọn về đây ông cực lực tránh ngó ngàng đến cô, và về chuyện này ông cũng lựa chọn thái độ tương tự, tức là làm ngơ, coi đó chẳng phải chuyện của mình. Rồi ông kêu ông đi làm cả ngày mệt rồi nên hãy để yên cho ông ngủ, ngả lưng chưa ấm chỗ thì đã ngáy tít thò lò.

    Bà chị trở lại với em gái. Bà sốt sắng hỏi em một lô một tràng, nhưng, như mọi con sông đều dẫn về một biển: Vô vọng! Thương quả thực đã ký.

    “Trời ơi, mày tồ quá!” bà chị buột miệng một câu, nhìn em gái đầy cay đắng như thể chính bà mới là người bị cướp đất, chứ chẳng phải cô kia…

    Đêm ấy Thương nằm mãi, nằm mãi mà không ngủ được. Sự phát giác này đã nhen lại đốm lửa căm tức âm ỉ trong lòng cô. Cô uất nghẹn vì bị lừa gạt quá ư trắng trợn, dằn vặt vì bản tính ngô nghê ở mình. Và cũng đêm ấy, trong trí óc ngây dại của người goá phụ bỗng loé lên một ý tưởng ngông cuồng, – về điều này ta hãy cùng xem rồi cô có phải hối hận hay không.

    9.

    Một ngày, như thường lệ, bà Xoan và ông quản đốc ngồi tán chuyện với nhau. Họ đang ngồi sau bàn pha chè, ông em trai vừa khen ngợi hành động cao thượng của chị giáo già, khi đã “giải thoát” cho cô con dâu khốn khổ! Lắng nghe những lời phỉnh nịnh ấy khiến bà giáo khoan khoái, bà vừa cắn hạt bí vừa để ý đứa cháu lê la ngoài sân, nó đang vờn đám chuồn chuồn.

    “Thế từ hôm ấy đến giờ cái Thương nó có tạt qua thăm con không?” ông quản đốc khẽ hỏi.

    “Qua suốt,” bà Xoan đáp gọn lỏn.

    “Ái dà! Con bé ấy thế mà tốt!”

    “À đấy,” bà kêu lên. “Nay chủ nhật thể nào nó chả qua. Cũng nguôi rồi, nguôi rồi, nhưng lần nào gặp cũng nước mắt ngắn dài.”

    Ông quản đốc vẫn làm bộ xuýt xoa, và sau một thoáng im lặng, ông hỏi thêm, vẻ đắn đo:

    “Vậy còn đống gạch kia, bỏ không cũng ngót năm rồi, hay chị bán rẻ cho em?”

    “Gớm! Chú mày chỉ được cái tinh tướng!”

    “Dẫu sao cũng từ một lò!”

    “Ừ, ừ, biết thế, còn để xem giấy tờ thế nào đã,” bà già đáp cho xong chuyện, đoạn nhấp một ngụm chè, rồi mỗi bên theo đuổi những suy nghĩ riêng. Bà chị nghĩ về thửa đất, về giấy tờ chuyển nhượng, còn đầu óc ông em vẫn quanh quẩn không dứt miếng mồi bở ăn.

    Bỗng ngoài sân vang lên một tiếng thét chói tai. Hai chị em sửng sốt nhìn nhau và bổ nhào ra thềm. Chỉ kịp thấy một vệt đen lướt ngang khung cổng, như một bóng ma!

    “Thôi chết rồi, thằng Bảo, thằng Bảo!” bà Xoan cuống quýt kêu lên.

    Ông quản đốc liền hét to:

    “Bắt cóc! Bắt cóc!”

    Hai chị em vừa nháo nhào đuổi theo kẻ gian vừa la làng la nước, do đó chỉ lát sau, dân làng đã lũ lượt đổ ra, tụ thành một đám đông hỗn độn, già có trẻ có, mấy con cẩu hiếu kỳ cũng đồng loạt tru tréo réo gọi bầy đàn. Nhiều thanh niên trai tráng tưởng có trộm chó, đang dở công chuyện cũng đâm bổ ra đường, tay thủ sẵn dao, mắt đảo láo liên như mắt kẻ nghiện.

    “Đâu, đâu, thằng nào?” đám đông túm tụm hỏi nhau.

    “Ở đằng này!” có tiếng trẻ con vọng xuống từ đường ray.

    Đám đông dáo dác nhìn về phía tiếng nói, rồi như một dòng lũ, họ hùng hổ lao ra khúc đường mòn quanh co, hành quân về phía mỏm đồi. Tiếng dậm đồng thanh nghe ầm ã như tiếng sấm dội, sỏi đạp lạo xạo dưới chân, bụi mịn cuộn tròn tứ phía. Mùi chua loét xông lên từ những thân thể còm cõi, cái mùi đặc trưng của công việc đồng áng.

    Cuối cùng họ đến trước một mô đất trồng keo, hai bên bờ là hai ao nước đục ngàu màu cà phê sữa. Ở đó, họ khựng lại và thấy giữa một vách núi cheo leo chếch ra mặt hồ, Thương đang ghì chặt con trai ngang mình, nước mắt giàn giụa, thở hổn hển, ánh mắt đùng đằng sát khí. Thằng bé giãy giụa đòi ra, có vẻ nó chưa nhận ra mẹ mình, và nhìn thấy bà nội lúc này vừa hớt hải rẽ lối đám đông tiến lên, nó liền khóc ré lên, giọng lạc đi vì sợ hãi.

    “Ngoan nào,” Thương ghì chặt hơn và cúi xuống nói với con, “mẹ đây mà! Mẹ thân yêu của con đây, mẹ đến đón con đây!”

    Người ta đùn đẩy, người ta chen lấn; những kẻ đến sau sốt sắng hỏi kẻ đến trước, vồn vã cập nhật tình hình. Một tên nào nhanh trí đã lập tức đánh điện cho viên cảnh sát. Thằng bé càng khóc tợn hơn, mẹ nó cập rập ra sức dỗ dành… Chỉ lát sau, tiếng ống bô nổ bành bạch từ xa vọng lại. Đó là Tú, đang dở phiên gác nhưng được đánh tiếng đã lập tức phóng về ngay. Anh ta dựng chiếc bồ câu trắng giữa đường và, như con thuyền rẽ làn nước, đám đông ráo riết nhường lối cho anh ta lên. Với vẻ đĩnh đạc đường hoàng, với bộ cảnh phục nghiêm chỉnh cùng một dàn sao ánh bạc trên nền cấp hiệu, anh ta lập tức tuýt còi inh ỏi xua đuổi đám đông, rồi gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Mấy ông bà này xê ra, xê ra hết!”

    Đám đông sợ hãi dạt sang bên, tiếng xì xào tắt bặt. Họ cùng chờ đợi ở anh ta một động thái. Bấy giờ viên cảnh sát mới quắc mắt về phía Thương.

    “Còn con kia, mày làm gì thế?” anh ta gầm lên. “Mày chán sống rồi à?”

    “Mày thử lại đây,” Thương trừng mắt, giọng như rít qua kẽ răng, “tao sẽ ôm con tao nhảy xuống!”

    “Mày dám…”

    “Mày câm đi, tao làm thật đấy!”

    Bà Xoan thổn thức níu áo con trai, anh ta bực tức giật lại ba bước. Tiếng xì xào rộn lên. Ai nấy cũng thấp thỏm vì sợ. Rồi đến lượt bà giáo hớt hải bước lên, nhưng tức thì Thương lùi sát về mép vực, làm những viên sỏi sàn sạt dưới chân rơi bì bõm xuống nước.

    “Cả bà nữa,” cô quát, “bà cút đi!”

    Cứ thế, hễ ai mon men lại gần đều bị tiếng thét điên dại của cô làm cho chùn lại, và đám đông nhốn nháo bày mưu tính kế: phải như này, phải như kia! Lão Gia, người ngợm bê bết như vừa ngoi lên từ một vũng bùn, cũng lật đật tới nhập bọn. Lão cáu kỉnh cố nhoi lên, nhưng vướng phải mấy mụ sồ sề, bèn chửi đổng:

    “Mẹ kiếp! Đồ ngu! Xích ra nào, đàn bà biết cái gì?”

    “Ông ngu thì có!” một giọng nói chua như giấm dội lại.

    “Mày bảo ai ngu? Con kia, mày đứng lại đấy!”

    Lão đập phắt chiếc vợt kích vào đầu mụ kia. Mụ ta thét lên, thế là đánh cãi chửi nhau inh ỏi. Người ta ùa vào can ngăn, và ông quản đốc, lợi dụng phút lộn xộn để tiến lên, nhưng tiếng chưa thoát khỏi vành môi thì Thương đã chặn họng:

    “Chú xa tôi ra, không phải việc của chú! Chú cũng cùng một giuộc với bọn nó thôi!”; và thấy ông quản đốc vẫn còn chần chừ, cô hét vang:

    “Chú điếc à, xa tôi ra!”

    Ông quản đốc sượng sùng đảo mắt nhìn quanh rồi cũng đành lui về cạnh chỗ hai mẹ con Tú. Đôi bên cáu bẳn liếc nhau. Vài phút trôi qua, sau rốt dân làng chọn mặt gửi vàng cho ông xã trưởng. Ông này là một lão già quắc thước tuổi ngoài lục tuần, ăn bận nghiêm chỉnh như các cán bộ hương thôn, mái đầu bạc phơ sau nhiều năm miệt mài cạo giấy ở uỷ ban xã, chùm râu muối tiêu che mất cổ. Lão đặt tay trên môi ra hiệu đám đông im lặng, rồi dấn lên một mình một hàng, mặt đối mặt với cô gái trẻ. Đúng như họ trù tính, Thương chỉ giương mắt dò xét lão già đạo mạo chứ không xua đuổi. Lão nhanh chóng biến mô đất trồng keo thành bục thuyết giảng; bằng giọng cha chú tâm tình, lão ôn tồn lý giải cho cô gái trẻ hiểu rõ tính nghiêm trọng của vấn đề. Trong thần thái, cử chỉ, dáng điệu của lão toát ra một sức thuyết phục kinh hồn; lão nói vanh vách như đọc thuộc lòng, không vồn vã, vấp váp, và lão gọi Thương là “cháu”, chắc mẩm tính chất thân mật của cách xưng hô có thể khiến cô gái nhà quê mủi lòng.

    “Kìa cháu gái, sao cháu lại làm thế?” lão cố tình rên dài giọng tựa hồ rất xúc động. “Con cái là lộc trời ban… Ôi, khổ thân cháu gái tôi, làm sao mà đến nông nỗi này! Cháu trông kìa, thằng bé tái mét cả rồi, việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần của nó. Cháu hẵng khoan, hãy bình tâm lại, hãy suy xét tình hình. Mọi chuyện đều có cách giải quyết của nó. Nào, nào, hãy thả thằng bé xuống, rồi nói ta nghe cháu muốn gì? Đừng nghĩ quẩn, trẻ con không đáng chung tội với người lớn.”

    “Lũ phong kiến các người,” Thương dường không để ý đến lời của lão, ném một tia nhìn hằn học vào mẹ con bà Xoan, “lũ đốn mạt các người! Các người cướp con của tôi, cướp đất của chồng tôi. Ôi, đến nước này thì tôi sẽ nói hết! Các người ăn hối lộ, các người coi tôi như con trâu kéo cày, vậy mà các người vẫn ra vẻ cao đạo liêm khiết! Còn chồng tôi khi sống thì các người rẻ rúng, khinh miệt, đến chết vẫn bị chính máu mủ bòn đãi! Gái này thà chết còn hơn!”

    “Ấy đừng, đừng!” lão già đâm hoảng khi thấy cô gái bốc lên.

    “Có thật bác hiểu cho tôi không?” cô giương mắt hỏi lão, giọng nghẹn lại vì bao uất ức bị đè nén bấy lâu.

    “Tất nhiên là bác hiểu! Tạm thời hãy thả thằng bé xuống đã.”

    “Phải đấy, phải đấy, thả thằng bé xuống đi cô!” đám đông đồng thanh hưởng ứng.

    Thương thở hổn hển vì xúc động. Cô chợt thõng vai, và thằng bé thừa lúc sơ hở nhanh nhảu tuột phắt xuống. Kìa! nó chạy như bay về phía bà nội. Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp nhoáng. Thương hoảng hốt nhìn theo những bước chạy của nó, toàn thân sững sờ như hoá đá. “Thôi chết rồi,” ý nghĩ này cắt ngang đầu cô.

    “Lại đây con!” cô hét lên và chạy bổ theo thằng bé.

    Nhưng cô không bao giờ bắt kịp nó. Nhanh như cắt, lão xã trưởng túm lấy nó, bà giáo dang tay chực sẵn, thốc cháu lẹ làng như xách một cái bị và lập tức lỉnh về phía sau. Tất cả nín bặt…

    Chưa bao giờ một người đàn bà có thể thảm hại tới thế. Sự can đảm tan ra như khói, Thương co rúm lại như một con rùa rụt cổ. Cơn giận bỗng xẹp đi, cô cảm thấy chỉ muốn khóc. Cô cảm thấy trơ trọi trước đám dân làng, như thể cô đang độc thủ chống chọi cả một toán quân đông hơn mình gấp bội, người ta cầm giáo, cầm mác còn cô chỉ có tay không. Cô cắn chặt môi để khỏi khóc, nhưng hai dòng lệ cứ xối xả tuôn ra như thác đổ. Dân làng nhìn cô đầy ái ngại, không ai biết làm gì, quyết định gì với cô nàng xốc nổi này…

    Rồi cô lê đôi chân trần về phía con trai. Nhưng cô càng tiến thì đám đông càng lùi, và đầu gối cô run bần bật, cô ngã chúi nhủi như đứt gánh. Người ta dè chừng như đang đối mặt một con thú dữ. Cô gào rú tức tưởi, cô đập đầu xuống đất, cô tự vò đầu bứt tóc, cô bấu víu những hòn đá lởm chởm, rồi cô ngửa mặt nhìn thẳng lên trời như để ông xanh soi rõ từng giọt nước mắt của cô. Mệt lả, kiệt lực, cô đau đớn với tay về đứa con trai. Thằng bé, mặt cắt không còn hột máu, trốn lẩn sau lưng bà, khóc nấc lên. “Nó sợ hãi, nó không nhận ra mình!” cô tự nhủ. “Phải, nó sợ quá đấy thôi!”

    “Con yêu của mẹ,” cô thều thào cất giọng. “Ra đây với mẹ nào con!”

    “Mẹ, con điên!” bà giáo đứng sau hàng người rủa lại.

    Tuyệt vọng, rền rĩ, người đàn bà khốn khổ lại lết tới cạnh Tú. Cô quỳ xuống hôn đôi giày phết xi bóng loáng của người em chồng. Những giọt nước mắt lã chã rơi, một giọt rơi xuống mũi giày, một giọt rơi xuống nền đất. Gã giận điên lên, đẩy cô ra và lùi về sau, còn cô vẫn quỳ dưới đất, vội quặp chặt chân gã bằng đôi cánh tay bê bết. Bị chửi rủa, bị xô ngã sõng soài, nhưng cô quyết không buông, cô gồng sức kéo gã lại, và gã suýt ngã sụp xuống cạnh cô.

    “Chú Tú, chú bảo mẹ chú đi!” cô rên lên thảm thiết. “Chú là người có ăn có học, đúng thế, đúng, chú biết lẽ phải. Nào, chú bảo mẹ chú đi, hãy trả con cho tôi! Chú hãy vì tình nghĩa với anh Tuấn mà thương lấy tôi, rồi suốt đời tôi không quên ơn chú!”

    Và con người có ăn có học ấy vả người đàn bà một phát như trời giáng trong sự ngỡ ngàng đến choáng váng của bàn dân thiên hạ. Để mặc chị dâu ngã dấm dúi, gã trừng mắt nhìn quanh, phủi phủi giày, cảm thấy có lẽ cũng cần thanh minh với hương hồn người anh trai quá cố, miệng lầm bầm:

    “Cứ phải thế này mới chừa! Loại thân lừa ưa nặng!”

    “Cậu làm thế phải tội chết, cậu Tú ạ!” ông xã trưởng bám tay gã nói giọng dè dặt.

    Gã giương cặp mắt ráo hoảnh nhìn ông ta không đáp, rồi lập tức quay về phía dân làng.

    “Còn mấy bà này, cứ nhoi nhoi lên đây làm gì, giải tán mau!” gã nạt nộ quát. “Ô hay, điếc à, giải tán!”

    Gã lại tuýt còi và nhanh chóng xua đám dân quê như lùa những con gà vào chuồng. Và chính gã cũng vội vã chở mẹ mình cùng đứa cháu đi. Dân làng ngơ ngác nhìn theo gã, thở dài thườn thượt, rồi chia năm xẻ bảy, đám đông vãn dần, ai nấy đều lắc đầu ngán ngẩm, chèm chẹp miệng, và lại liên tục rủa gã là con chó vàng…

    Sau năm phút, chỉ còn mấy đứa lau chau nãy giờ đứng trên tháp canh ráng nán lại, rồi xuôi lối mòn chúng thoăn thoắt chạy, như lũ trẻ báo tin vặt, tự cảm thấy mình quan trọng và đáng được săn đón vì sự việc vừa chứng kiến; hễ gặp ai ngược chiều chúng đều túm lại, vừa kể lể sự tình vừa thở hồng hộc, mắt sáng long lanh vì phấn khích. Và chúng họp thành một cánh, đứng tụm vào nhau, đồng loạt chỉ trỏ vào cái bóng đen đen đằng xa đang thất thểu dọc theo đường ray, nhập nhoạng dưới ráng chiều tà…


  • Truyện ngắn là gì?

    Đọc thử

    Dịch từ nguyên bản The Short Story (1958) của Willam Somerset Maugham. Tiểu luận được được đăng tải trên tạp chí Văn Plus, tại đây.

    1.

    Nhiều năm về trước, một biên tập viên đang trong quá trình biên soạn một cuốn đại bách khoa toàn thư đã viết thư hỏi tôi rằng liệu tôi có muốn đóng góp bài viết về lĩnh vực truyện ngắn hay không. Tôi rất lấy làm hãnh diện vì lời thăm hỏi, nhưng đã từ chối. Bản thân là một cây bút truyện ngắn, tôi không nghĩ mình có thể viết một bài như thế với sự công tâm cần thiết. Mỗi nhà văn viết theo cách mà họ cho là phù hợp nhất; bằng không họ sẽ viết khác đi. Có vô vàn cách viết, và mỗi nhà văn sử dụng cách phù hợp với phong cách riêng của mình. Với tôi thì bài viết về chủ đề này sẽ thấu đáo hơn nếu được viết bởi một văn nhân chưa từng viết truyện. Sẽ không có gì ngăn trở ông ta sắm vai một thẩm phán công minh. Chẳng hạn, hãy lấy những truyện của Henry James làm ví dụ. Ông đã viết rất nhiều, và truyện của ông được những độc giả trí thức vô cùng ngưỡng mộ, những người mà ý kiến của họ ta buộc phải tôn trọng. Tôi đồ rằng bất cứ ai quen biết Henry James bằng xương bằng thịt đều không thể đọc những truyện của ông một cách khách quan. Ông gieo âm giọng của mình vào từng câu văn, và bạn chấp nhận lối viết quanh co trong rất nhiều tác phẩm của ông, sự miên man và phong cách ứng xử của ông, vì chúng là một phần không thể thiếu của sức quyến rũ, lòng nhân từ và sự khoa trương hóm hỉnh của người đàn ông mà bạn nhớ đến. Nhưng dẫu vậy, tôi thấy những câu chuyện của ông rất không thoả đáng. Tôi không tin chúng. Tôi không tin bất cứ ai có thể hình dung ra nỗi đau đớn của một đứa trẻ mắc bệnh bạch hầu lại quan điểm rằng mẹ của đứa bé sẽ để nó chết còn hơn để nó lớn lên và được đọc những cuốn sách của cha mình. Đó là những gì đã xảy ra trong một câu chuyện có tên Tác giả của Beltraffio. Tôi không nghĩ Henry James từng biết cách hành xử của người bình thường. Các nhân vật của ông khuyết thiếu ruột gan lẫn cơ quan sinh dục. Ông đã viết một số câu chuyện về những người có học thức, và người ta kể rằng khi ai đó phản bác rằng những người có học thức không hề như thế, ông vặc lại, “Thế thì càng tệ cho họ.” Dường như ông không tự cho mình là một người theo chủ nghĩa hiện thực. Mặc dù tôi không rõ đó có phải sự thật hay không, nhưng tôi cho rằng ông coi Bà Bovary là một nỗi kinh hoàng. Có lần Mattise cho một thiếu nữ xem tranh của James vẽ một phụ nữ khoả thân, và cô thiếu nữ thốt lên, “Nhưng một phụ nữ đâu có thế này”: ông trả lời, “Đó không phải một phụ nữ, thưa bà, đó là một bức tranh.” Tương tự, tôi nghĩ, nếu ai đó mạo muội nói rằng một câu chuyện của James không giống đời thực, ông sẽ trả lời, “Đó không phải cuộc sống, đó là một câu chuyện.”

    Henry đã làm rõ quan điểm của mình về vấn đề này trong một lời tựa ông viết cho tập truyện ngắn có tên Bài học của bậc thầy. Đây là một tác phẩm khó nhằn và, dẫu đã đọc nó ba lần, tôi vẫn không chắc mình đã hiểu nó. Tôi nghĩ ý chính là, khi đối mặt với “sự phù phiếm và nỗi bất hạnh ngự trị của cuộc sống”, một tác giả tự nhiên sẽ tìm kiếm “một số ví dụ hay về sự phản ứng, sự từ khước hoặc sự thoát ly”; và vì không thể tìm thấy các hình mẫu trong đời thực để minh họa ý định của mình, ông buộc phải thai nghén chúng từ ý thức nội tại. Đối với tôi, thách thức ở đây là tác giả phải gán cho các tạo vật của trí tưởng tượng một vài đặc tính chung của giống người, và chúng không tương hợp với những đặc tính mà ông đã gán cho chúng, thành thử chúng thiếu sức thuyết phục. Nhưng đây chỉ là cảm nhận của riêng tôi, và tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình.

    Một lần, khi Desmond MacCarthy nghỉ lại cùng tôi trên Riviera, chúng tôi đã đàm luận về những câu chuyện của Henry James. Ký ức ngày nay ngắn ngủi và tôi có thể gợi nhắc người đọc rằng Desmond MacCarthy không chỉ là một bạn đồng hành duyên dáng mà còn là một nhà phê bình uyên thâm. Ông đọc rộng và từng trải, cái ưu thế mà không phải nhà phê bình nào cũng có. Những phán đoán của ông trong phạm vi hạn chế của chúng (ông có phần thờ ơ với nghệ thuật tạo hình và âm nhạc), là xác đáng, vì sự uyên bác nơi ông hoà quyện với sự am hiểu sâu sắc về cuộc sống. Vào dịp đặc biệt này, chúng tôi đang ngồi trong phòng khách sau bữa tối và giữa buổi trò chuyện, tôi buột miệng nhận xét rằng mặc dù được trau chuốt kỹ lưỡng, nhiều câu chuyện của Henry James lại tầm thường một cách đáng ngạc nhiên. Desmond, người vô cùng ngưỡng mộ James, đã phản đối kịch liệt; vì vậy, để trêu chọc ông, tôi lập tức bịa ra một câu chuyện mà tôi cho là điển hình của Henry James. Theo như tôi nhớ, câu chuyện diễn ra như sau:

    Đại tá và bà Blimp sống trong một ngôi nhà khang trang ở Quảng trường Lowndes. Họ đã trải qua một phần mùa đông ở Riviera, nơi họ kết bạn với một số người Mỹ giàu có tên là – tôi ngập ngừng tìm một cái tên – Bremerton Fisher. Gia đình Fisher đã tiếp đãi họ rất xa hoa, đưa họ đi tham quan La Mortola, Aix và Avignon, và luôn khăng khăng giành mọi hoá đơn về phía mình. Khi gia đình Blimp rời đi để quay về Anh, họ đã nài nỉ những gia chủ hào phóng báo tin cho mình ngay khi đến London; và sáng hôm đó, bà Blimp đọc được trên tờ Morning Post rằng ông bà Bremerton Fisher vừa đến Khách sạn Brown. Rõ ràng là gia đình Blimp phải làm gì đó để đáp lại lòng hiếu khách nồng hậu mà họ từng nhận được.

    Trong lúc họ đang quyết định nên làm gì, một người bạn ghé qua uống trà. Đây là một người Mỹ xa xứ tên Howard, người từ lâu đã ấp ủ một tình yêu thuần khiết với bà Blimp. Dĩ nhiên bà chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đáp lại tình cảm của ông, thực ra vốn chưa bao giờ quá gấp gáp; nhưng đó là một mối quan hệ tốt đẹp. Howard là kiểu người Mỹ mà, sau khi sống ở Anh trong hai mươi năm, đã trở nên Anh hơn cả người Anh. Ông quen biết mọi nhân vật quan trọng và, như câu nói, từng đi đây đi đó. Bà Blimp kể cho ông nghe tình hình. Ngài Đại tá đề xuất rằng họ nên tổ chức tiệc tối cho những người lạ này. Bà Blimp bán tính bán nghi. Bà biết rằng những người bạn mà ta từng thân thiết khi ở nước ngoài có thể rất khác khi ta gặp lại họ ở London. Nếu họ giới thiệu nhà Fishers với những người bạn đáng mến của họ, và tất thảy bạn bè của họ đều đáng mến, thì bạn bè của họ sẽ thấy nhàm tẻ phát khiếp và gia đình Fisher tội nghiệp sẽ hoàn toàn “lạc lõng”. Howard đồng thuận với bà. Kinh nghiệm cay đắng bảo ông rằng một bữa tiệc như vậy hầu như luôn là một thất bại thảm hại.

    “Sao không mời họ ăn tối riêng?” Đại tá nói.

    Bà Blimp phản đối rằng điều này nghe như thể họ lấy làm xấu hổ về nhà Fisher hoặc không có bạn bè đáng mến. Rồi ông gợi ý nên đưa gia đình Fisher đi xem kịch và sau đó ăn tối tại Savoy. Điều này xem chừng chưa đủ.

    “Chúng ta phải làm gì đó”, Đại tá nói.

    “Dĩ nhiên chúng ta phải làm gì đó”, bà Blimp đáp.

    Bà mong ông đừng can thiệp. Ông có tất cả những phẩm chất tuyệt vời mà bạn có thể mong đợi ở một đại tá vệ binh, không phải tự nhiên mà ông có được huân chương Công trạng Xuất sắc, nhưng ông thật vô vọng khi bàn đến các vấn đề xã giao. Bà Blimp cảm thấy rằng đây là vấn đề mà bà và Howard phải tự quyết lấy; thế nên sáng hôm sau, khi chưa thu xếp được gì, bà gọi điện cho Howard Jarvis và bảo ông ghé qua uống rượu lúc sáu giờ tối, khi Đại tá đang chơi bài bridge ở câu lạc bộ.

    Howard đến, và từ đó trở đi tối nào cũng đến. Tuần lại tuần, bà Blimp và ông cân nhắc mọi khía cạnh. Họ thảo luận, xem xét vấn đề từ mọi góc độ với sự tinh tế vô biên. Ai ngờ được rằng chính Đại tá lại là người đưa ra giải pháp? Ông tình cờ có mặt tại một trong những buổi hẹn giữa bà Blimp và Howard, giữa lúc họ, gần như tuyệt vọng, đang thảo luận tình huống nan giải này.

    “Sao không để lại danh thiếp nhỉ?” ông nói.

    “Hoàn hảo”, Howard kêu lên.

    Bà Blimp thở phào kinh ngạc. Bà ném một tia nhìn tự đắc về phía Howard. Bà biết Howard cho rằng Đại tá là một gã kiêu ngạo ngu ngốc, hoàn toàn không xứng với bà. Cái nhìn của bà nói rằng, “Đấy, đấy mới là người Anh thứ thiệt. Ông ấy có thể không thông minh lắm, có thể hơi tẻ nhạt, nhưng đến lúc khủng hoảng, ta có thể tin tưởng ông ấy sẽ làm điều đúng đắn.”

    Bà Blimp không phải là người hay do dự khi con đường trước mắt đã rõ ràng. Bà gọi quản gia và bảo ông này chuẩn bị xe ngựa ngay lập tức. Để tỏ lòng tôn kính gia đình Fisher, bà bận chiếc váy đẹp nhất và đội chiếc mũ mới. Với hộp danh thiếp trên tay, bà lái xe đến Khách sạn Brown – chỉ để biết rằng gia đình Fisher đã rời đi Liverpool ngay sáng hôm đó cho kịp chuyến tàu Cunarder trở về New York.

    Desmond lắng nghe câu chuyện giễu nhại của tôi với vẻ khá chua chát; rồi ông cười khúc khích. “Nhưng điều mà anh quên mất, Willie tội nghiệp của tôi,” ông nói, “là Henry James sẽ mang đến cho câu chuyện sự uy nghiêm cổ điển của Nhà thờ St. Paul, nỗi kinh hoàng u ám của St. Pancras và – và sự lộng lẫy bụi bặm của Woburn.”

    Nghe vậy, cả hai chúng tôi cùng phá ra cười, tôi rót cho ông một ly whisky pha soda nữa, và sau đó, rất hài lòng với chính mình, chúng tôi chia tay nhau để về phòng ngủ.

    2.

    Hơn hai mươi năm trước, tôi đã viết cho độc giả Mỹ một lời tựa dài cho một hợp tuyển truyện ngắn của thế kỷ mười chín do đích thân tôi chọn lọc. Khoảng mười năm sau, tôi sử dụng phần lớn những gì đã nói trong một bài giảng về truyện ngắn trước các thành viên của Hội Văn học Hoàng gia. Tuyển tập của tôi chưa từng được xuất bản ở Anh và đã ngừng in từ lâu ở Mỹ; và tuy bài giảng của tôi được in trong tập niên giám của Hội, nó chỉ dành riêng cho các thành viên. Gần đây, khi đọc lại hai bài viết này, tôi nhận thấy mình đã thay đổi quan điểm ở một số chỗ và một vài tiên đoán của tôi đã không được thực tế chứng minh. Trong những trang sau, dù buộc phải nhắc lại rất nhiều điều đã nói, gần như nguyên văn, vì tôi không biết cách diễn đạt những gì tôi phải nói hay hơn những gì tôi đã nói trước đó, tôi sẽ trình bày những suy ngẫm của tôi, như chúng vốn có, về một thể loại văn học mà bản thân tôi từng miệt mài thực hành.

    Con người bẩm sinh đã thích kể chuyện, và tôi cho rằng truyện ngắn ra đời từ thuở xa xưa, vào đêm tối khi người thợ săn, để giải khuây cho bè bạn sau bữa chè chén no nê, bèn ngồi bên đống lửa trong hang động mà thuật lại một sự kiện kỳ lạ nào đó mà anh ta từng nghe. Đến nay, ở các thành phố phương Đông, bạn vẫn có thể bắt gặp người kể chuyện ngồi giữa chợ, vây quanh bởi những thính giả hiếu kỳ, kể lại những câu chuyện mà y kế tục từ một quá khứ xa xưa. Nhưng tôi cho rằng phải đến thế kỷ mười chín thì truyện ngắn mới thịnh hành và chiếm lĩnh một phần quan yếu trong sáng tác văn chương. Dĩ nhiên trước đó truyện ngắn đã được viết và đọc rộng rãi: những câu chuyện tôn giáo về nguồn gốc Hy Lạp, những câu chuyện mang tính giáo huấn thời Trung Cổ, và những câu chuyện bất hủ trong Nghìn lẻ một đêm. Xuyên suốt thời kỳ Phục Hưng, ở Ý và Tây Ban Nha, ở Pháp và Anh Quốc, truyện ngắn rất được ưa chuộng. Mười ngày của Boccaccio và Những thiên truyện mẫu mực của Cervantes là những chứng tích bất tử của thể loại này. Nhưng trào lưu ấy đã thoái trào với sự trỗi dậy của tiểu thuyết. Những người bán sách không còn trả tiền hậu hĩnh cho một tập truyện ngắn nữa, và các tác giả bắt đầu xem thường một thể loại hư cấu không đem lại cho họ cả tiền tài lẫn danh vọng. Khi thỉnh thoảng nghĩ ra một chủ đề mà họ có thể xử lý thoả đáng nhưng không cần quá dài, họ bắt tay viết một truyện ngắn, rồi không biết phải làm gì với nó; và vì vậy, không muốn uổng công, đôi khi các nhà văn phải thừa nhận rằng họ đã chèn nó một cách hết sức vụng về vào giữa tiểu thuyết của mình.

    Nhưng vào đầu thế kỷ XIX, một hình thức xuất bản mới đã được giới thiệu đến độc giả và nhanh chóng trở nên cực kỳ phổ biến. Đó là ấn phẩm thường niên. Dường như nó bắt nguồn từ Đức. Đây là một tuyển tập các tác phẩm văn xuôi và thơ, và ở quê hương của nó, nó đã cung cấp cho độc giả những món ăn tinh thần đáng kể, vì chúng ta được biết rằng Người hầu gái xứ Orleans của Schiller và Hermann và Dorothea của Goethe đã xuất hiện lần đầu trên các ấn phẩm dạng này. Nhưng khi thành công của chúng khiến các nhà xuất bản Anh bắt chước, họ chủ yếu dựa vào truyện ngắn để thu hút đủ lượng độc giả nhằm giúp việc kinh doanh sinh lời.

    Giờ là lúc thích hợp để nói với độc giả đôi điều về sáng tác văn học mà như tôi được biết, các nhà phê bình, những người rõ ràng có nhiệm vụ chỉ đường dẫn lối cho độc giả, đã tảng lờ việc khai trí cho anh ta. Nhà văn có trong mình sự thôi thúc sáng tạo, nhưng bên cạnh đó y cũng khao khát đưa tác phẩm của mình đến tay bạn đọc và khao khát (một khao khát vô hại mà độc giả không quan tâm) kiếm được miếng ăn. Nhìn chung, y có thể định hướng năng lực sáng tạo của mình vào những nguồn cho phép thoả mãn những mục tiêu khiêm tốn này. Với nguy cơ gây sốc cho những độc giả nghĩ rằng cảm hứng của nhà văn không nên chịu ảnh hưởng của những cân nhắc thực tế, tôi phải nói thêm rằng về bản chất, các nhà văn bị thôi thúc viết những thứ mà thị trường cần. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì họ không chỉ là nhà văn, họ còn là độc giả, và với tư cách một công dân, họ chịu sự chi phối của bầu không khí dư luận đang thịnh hành. Khi các vở kịch thơ có thể mang lại danh tiếng cho tác giả, nếu không phải là tiền bạc, sẽ rất khó để tìm được một chàng trai trẻ có năng khiếu văn chương mà không sở hữu một vở bi kịch năm màn trong số các tác phẩm của mình. Tôi cho rằng hiện nay ít chàng trai trẻ nào có ý định viết một vở như vậy. Ngày nay, họ viết kịch bằng văn xuôi, tiểu thuyết và truyện ngắn. Đúng là trong những năm gần đây, một số vở kịch thơ đã được dựng thành công, nhưng đối với tôi, đã từng chứng kiến những gì mà tôi có dịp chứng kiến, thì khán giả coi thơ ca như một thứ họ phải chịu đựng thay vì thứ làm họ thích thú; và phần lớn các diễn viên đều cảm thấy tương tự, họ làm mọi cách để xoa dịu sự khó chịu ở mình bằng cách đọc thơ như thể nó thực sự là văn xuôi.

    Tiềm năng xuất bản, các nhu cầu cấp thiết của giới biên tập viên, tức là ý niệm của họ về mong muốn của độc giả, có ảnh hưởng to lớn đến loại tác phẩm được sản xuất tại một thời điểm cụ thể. Vì vậy, khi các tạp chí nở rộ dọn chỗ cho những câu chuyện dài, những câu chuyện như thế sẽ được viết ra; mặt khác, khi các tờ báo cho xuất bản truyện, nhưng chỉ có thể dành ra một không gian nhỏ, những câu chuyện có thể lấp đầy không gian đó sẽ được cung ứng. Không có gì đáng xấu hổ ở đây cả. Một tác giả tài năng có thể viết một câu chuyện mười lăm ngàn từ dễ dàng như viết một câu chuyện mười ngàn từ. Nhưng y chọn một câu chuyện khác hoặc xử lý nó theo một phương cách khác. Guy de Maupassant đã viết một trong những thiên truyện nổi tiếng nhất của mình, Món gia tài, hai lần, lần đầu dài vài trăm từ cho một tờ báo và lần sau dài vài ngàn từ cho một tạp chí. Cả hai đều được in trong tuyển tập tác phẩm của ông, và tôi nghĩ không ai có thể đọc hai phiên bản này mà không thừa nhận rằng không có gì thiếu hụt ở phiên bản đầu cũng như không có gì thừa thãi ở phiên bản sau. Ở đây tôi muốn làm rõ: bản chất của phương tiện mà nhà văn sử dụng để tiếp cận độc giả là một trong những quy ước mà họ phải chấp nhận, và nhìn chung họ thấy mình có thể làm điều này mà không đi ngược lại với khuynh hướng riêng.

    Giờ đây, vào đầu thế kỷ mười chín, các niên giám và keepsakes [kỷ yếu] đã tạo cơ hội cho các nhà văn giới thiệu bản thân với công chúng qua truyện ngắn, và do đó truyện ngắn, với mục đích không đơn thuần chỉ nhằm kích thích sự hứng thú của độc giả trong quá trình đọc một tiểu thuyết dài, bắt đầu được viết nhiều hơn bao giờ hết. Nhiều lời bài xích khắc nghiệt đã được buông ra về các tập niên giám và sách dành cho quý bà, và có những lời chỉ trích thậm tệ hơn nữa về các tạp chí kế nhiệm vốn được công chúng ưa chuộng; nhưng khó có thể phủ nhận rằng sự phong nhiêu của truyện ngắn trong thế kỷ mười chín đến từ cơ hội mà các ẩn phẩm thường kỳ này đem lại. Ở Mỹ, truyện ngắn đã tạo ra một trường phái các nhà văn xuất sắc và đa dạng đến mức một vài người, vốn lạ lẫm với lịch sử văn học, tuyên bố rằng người Mỹ đã phát minh ra truyện ngắn. Tất nhiên không phải vậy; nhưng dù sao cũng thích đáng khi thừa nhận rằng không có đất nước nào ở châu Âu mà truyện ngắn được vun trồng một cách cần mẫn như ở Hoa Kỳ; và các phương pháp, kỹ thuật và tiềm năng của nó cũng chưa từng được nghiên cứu tỉ mỉ như nơi đây.

    Trong quá trình đọc tuyển tập các truyện ngắn được viết vào thế kỷ mười chín, tôi đã lĩnh hội được rất nhiều về thể loại này. Bây giờ, tôi cần cảnh báo độc giả rằng tác giả, như tôi đã đề cập trước đó, khi bàn đến một nghệ thuật mà y theo đuổi, thường có thành kiến. Hoàn toàn dễ hiểu khi một nhà văn quan niệm cách làm của mình là tốt nhất. Y viết như y có thể và phải viết, vì y là một kiểu người nhất định; y có năng khiếu và tính khí riêng, vì vậy y nhìn nhận mọi thứ theo cách riêng của y, và thể hiện góc nhìn ấy theo hình thức mà bản chất của y áp đặt. Nhà văn cần có một sức mạnh tinh thần đặc biệt để đồng cảm với những tác phẩm trái ngược với khuynh hướng tự nhiên ở mình. Người ta nên cẩn trọng khi đọc những lời phê bình của một tiểu thuyết gia về tiểu thuyết của người khác. Ông ta dễ cho rằng điều ông ta đang hướng tới là xuất sắc và khó thấy giá trị ở những phẩm chất mà ông ta thiếu sót. Một trong những cuốn sách hay nhất tôi từng đọc về tiểu thuyết đến từ một nhà văn đáng ngưỡng mộ, người cả đời chưa từng xây dựng nổi một cốt truyện hợp lý. Tôi không ngạc nhiên khi thấy ông ấy không mấy coi trọng các tiểu thuyết gia, những người có tài năng tuyệt vời là có thể thổi hồn vào những sự kiện mà họ thuật lại một cách chân xác đến nghẹt thở. Tôi không trách cứ ông về điều này. Khoan dung là một phẩm chất tuyệt vời ở con người; nếu nó phổ biến hơn, thế giới ngày nay hẳn dễ sống hơn nhiều; nhưng tôi không chắc liệu nó có hữu ích như vậy ở một nhà văn hay không. Bởi vì về lâu về dài, một nhà văn có thể cho bạn điều gì? Chính là bản thân ông ta. Thật tốt nếu ông ta có tầm nhìn bao quát, bởi vì cuộc sống trong toàn bộ phạm vi của nó là lĩnh vực của ông ta; nhưng ông ta chỉ có thể nhìn thấy nó qua đôi mắt của chính mình, nắm bắt nó bằng trí óc, trái tim và ruột gan của mình: dĩ nhiên kiến thức của ông ta hạn hẹp, nhưng nó rất rõ ràng, bởi vì ông ta là chính ông ta chứ không phải ai khác. Thái độ của ông ta rất quán triệt và đặc trưng. Nếu ông ta thực sự cảm thấy bất kỳ quan điểm nào khác cũng đáng giá như quan điểm của mình, ông ta sẽ khó lòng giữ vững lập trường của bản thân và không thể trình bày nó một cách thuyết phục. Thật đáng khen nếu một người nhận ra rằng một đồng xu có hai mặt; nhưng nhà văn, đối với nghệ thuật mà ông ta đang thực hành (và quan điểm sống của ông ta tất nhiên bao hàm trong nghệ thuật của ông ta) chỉ có thể đạt được thông qua nỗ lực suy luận; và trong thâm tâm, ông ta không cảm thấy rằng mình chiếm sáu cái và bên kia chiếm nửa tá còn lại, mà tất tật cả tá đều của ông ta và bên kia không có gì cả. Sự phi lý này sẽ thật đáng tiếc nếu số lượng nhà văn khan hiếm, hoặc nếu tầm ảnh hưởng của một người quá lớn đến mức buộc những người còn lại phải tuân theo; nhưng chúng ta có hàng ngàn người. Mỗi nhà văn trong chúng ta đều có thông điệp muốn truyền tải, rất hạn chế, và từ tất cả những thông điệp này độc giả có thể thoải mái lựa chọn thông điệp phù hợp với họ, tuỳ theo khuynh hướng của bản thân họ.

    Tôi nói điều này nhằm dọn đường trước. Tôi thích nhất những câu chuyện mà tôi có thể tự viết. Đó là kiểu câu chuyện mà nhiều người đã viết tốt, nhưng không ai viết điêu luyện hơn Maupassant; do đó, để trình bày chính xác bản chất của nó, tôi không thể làm gì khác ngoài thảo luận về một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, Chiếc dây chuyền. Bạn sẽ nhận ra một điều rằng nó là câu chuyện bạn có thể kể bên bàn ăn tối hoặc trong khoang hút thuốc của một con tàu mà vẫn khiến thính giả phải chăm chú dõi theo. Truyện đề cập đến một sự việc kỳ lạ nhưng không phải không thể xảy ra. Bối cảnh được phô bày trước mắt bạn một cách ngắn gọn, đúng như đặc tính của phương tiện, nhưng vẫn rõ ràng; và những người liên quan, lối sống của họ cùng sự lao dốc của họ, được trình bày với lượng chi tiết vừa đủ để làm rõ hoàn cảnh của vấn đề. Bạn được cho biết mọi chi tiết bạn cần biết về họ. Trong trường hợp độc giả không nhớ câu chuyện, tôi xin tóm tắt lại. Mathilde là vợ một của một viên chức nghèo tại Bộ giáo dục. Vị Bộ trưởng mời họ đến một bữa tiệc tối, và vì không có trang sức riêng, cô bèn mượn một chiếc vòng cổ kim cương từ một cô bạn giàu có. Cô đánh mất chiếc vòng. Nó phải bị đánh tráo, và với ba mươi bốn nghìn franc, một khoản tiền khổng lồ đối với họ, với lãi suất cắt cổ, viên thư ký và vợ anh ta đã mua được một chiếc vòng cổ giống hệt chiếc đã mất. Đèo bòng một mớ nợ nần, hai vợ chồng phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, và cuối cùng khi trả xong nợ, sau mười bốn năm trời, Mathilde kể cho cô bạn giàu có kia về câu chuyện đã xảy ra. “Nhưng, chị yêu quý của em ơi,” cô bạn nói, “chiếc vòng cổ đó là đồ giả. Cùng lắm là năm trăm franc.”

    Một nhà phê bình nghiêm khắc có thể phản đối rằng xét từ lập trường của riêng nó, Chiếc dây chuyền không phải một câu chuyện hoàn hảo, vì loại truyện này cần có phần đầu, phần thân và phần kết; và đến hồi kết thì mọi thứ cần kể đều đã được kể, bạn không nên muốn hay cần hỏi gì thêm. Ô chữ của bạn đã được lấp đầy. Tuy nhiên trong câu chuyện này Mauppasant hài lòng với một cái kết đầy tính châm biếm và hiệu quả. Người đọc sành sỏi khó tránh khỏi việc tự hỏi, điều gì sẽ xảy đến tiếp theo? Đúng là một cặp đôi bất hạnh đã bỏ lỡ tuổi trẻ của họ và phần lớn những gì khiến cuộc sống trở nên êm đềm trong nhiều năm trời đằng đẵng để ky cóp từng đồng trả nợ cho chiếc dây chuyền thất lạc; nhưng khi sai lầm được phát lộ và chiếc dây chuyền họ đã mua được hoàn trả, họ sẽ thấy mình nắm trong tay một gia tài nho nhỏ. Trong sự khô cằn về tinh thần mà sự hy sinh của họ đã dẫn đến, đó có thể là một sự đền bù đáng kể. Chưa kể, nếu người phụ nữ khốn khổ kia đủ sáng suốt để giãi bày với cô bạn về sự mất mát – và không có lý do chính đáng nào được đưa ra nhằm lý giải tại sao cô ta không nên làm vậy – thì đã chẳng có câu chuyện nào. Thật đáng ngợi ca tài năng của Maupassant khi ít độc giả nào còn đủ bình tĩnh để nhận ra những điểm bất hợp lý này. Một nhà văn như Maupassant không sao chép cuộc sống; ông khéo léo sắp xếp nó để gây hứng thú, kích thích và bất ngờ. Ông không hướng câu chuyện trở thành một dịch bản của đời sống, mà là một sự kịch tính hoá đời sống. Ông sẵn lòng hi sinh tính hợp lý nhằm tạo hiệu quả cho câu chuyện, và thử thách ở đây là liệu ông có trót lọt hay không; nếu ông đã định hình những sự kiện mà ông mô tả và những người liên quan trong câu chuyện theo cách đó. Nếu bạn ý thức được sự khiên cưỡng mà ông áp đặt lên chúng, thì ông đã thất bại. Nhưng đôi khi việc ông thất bại không phải là lý lẽ phản bác phương pháp này. Có những thời kỳ mà, độc giả yêu cầu sự tuân thủ chặt chẽ với những sự kiện của cuộc sống đúng như họ biết – đó là lúc chủ nghĩa hiện thực đang thịnh hành; có những thời kỳ khác, họ đòi hỏi những điều mới lạ, khác thường, kỳ khôi; và sau đó, miễn là bị cuốn hút, độc giả sẵn lòng tạm gác lại sự hoài nghi. Tính hợp lý không phải là một thực thể bất di bất dịch; nó biến chuyển theo xu thế của thời đại: đó là điều nhà văn có thể khiến độc giả đón nhận. Trên thực tế, trong mọi tác phẩm hư cấu, một số điều bất hợp lý vẫn được cho qua mà không cần thắc mắc vì chúng là điều bình thường và thường là cần thiết để tác giả có thể tiếp tục câu chuyện của mình một cách nhanh chóng.

    Không ai nhấn mạnh những chuẩn mực của loại truyện mà tôi đang thảo luận chính xác hơn Edgar Allan Poe. Nếu không vì độ dài, tôi đã trích dẫn toàn bộ bài phê bình của ông về tác phẩm Truyện kể hai lần của Hawthorne: nó đã nói mọi thứ cần nói về vấn đề này. Tôi xin giới thiệu một trích đoạn ngắn:

    “Một nghệ sĩ tài ba cấu tứ lên một câu chuyện. Nếu khôn ngoan, y không uốn nắn suy nghĩ của mình cho phù hợp với các sự kiện; mà sau khi đã hình dung, với sự cân nhắc kỹ lưỡng, một hiệu ứng độc đáo hoặc duy nhất cần đạt được, y sẽ bịa ra những sự kiện đó – sau đó y tạo ra những hiệu ứng có thể bổ trợ tốt nhất cho việc thiết lập hiệu ứng chung đã được hình dung trước đó. Nếu ngay câu đầu tiên của y đã không hướng đến việc tạo ra hiệu ứng này, thì y đã thất bại ngay từ bước sơ khởi. Trong toàn bộ tác phẩm, không nên có một từ nào được viết ra mà khuynh hướng, dù trực tiếp hay gián tiếp, không nhắm tới thiết kế đã định sẵn. Và bằng những phương tiện như vậy, với sự cẩn trọng và kỹ năng, cuối cùng một bức hoạ được vẽ ra, để lại trong tâm trí người chiêm ngưỡng nó, với một nghệ thuật tương tự, một cảm giác thoả nguyện trọn vẹn nhất. Ý tưởng của câu chuyện được trình bày một cách trọn vẹn, vì không bị xáo trộn ….”

    3.

    Không khó thể nêu định nghĩa của Poe về một truyện ngắn hay: đó là một tác phẩm hư cấu, giải quyết một xung đột duy nhất, về mặt vật chất hoặc tinh thần, có thể đọc liền mạch; nó phải độc đáo, phải lấp lánh, phải gây phấn khích hoặc ấn tượng; và nó phải có sự thống nhất về hiệu ứng hoặc ấn tượng. Nó phải di chuyển theo một đường thẳng đều từ đầu chí cuối. Để viết một câu chuyện theo các nguyên tắc ông đặt ra không hề dễ như vài người nghĩ. Nó đòi hỏi trí thông minh, có lẽ không ở cấp độ quá cao, nhưng là một loại thông minh đặc biệt; nó yêu cầu một ý niệm về hình thức và không ít khả năng sáng tạo. Không ai ở Anh viết những câu chuyện theo kiểu này cừ hơn Rudyard Kipling. Trong số các nhà văn viết truyện ngắn người Anh, chỉ có ông là đủ sức đương đầu với các bậc thầy ở Pháp và Nga. Hiện tại ông bị xem thường quá mức. Điều này rất bình thường. Khi một tác giả nổi tiếng qua đời, cáo phó được đăng tải trên các tờ báo và mọi người từng giao thiệp với ông, thậm chí không hơn gì việc từng uống một tách trà cùng ông, đều viết cho tờ Times để thuật lại sự việc. Trong vòng hai tuần ông không còn là tin sốt dẻo nữa, và lặng lẽ chìm vào lãng quên. Thế rồi, nếu may mắn, sau một thời gian nhất định, có thể ít, có thể nhiều, thường phụ thuộc vào những hoàn cảnh không mấy liên quan đến văn học, ông sẽ được nhớ tới và được công chúng thưởng thức trở lại. Ví dụ điển hình nhất cho điều này, tất nhiên, là Anthony Trollope. Sau một thế hệ bị lãng quên, cùng sự biến cách trong đời sống nước Anh, các tiểu thuyết của ông đã thu hút rất nhiều độc giả nhờ sức quyến rũ mang phong vị hoài cổ.

    Mặc dù Rudyard Kipling đã chiếm được cảm tình của công chúng ngay từ những buổi đầu tiên và duy trì được nó, nhưng giới học giả luôn có phần hạ cố trong việc đánh giá ông. Một số đặc điểm trong phong cách của ông gây khó chịu cho các độc giả có gu thẩm mỹ cầu kỳ. Ông bị xem là người theo chủ nghĩa đế quốc, điều này làm khó chịu nhiều người nhạy cảm và giờ đây trở thành một ngọn nguồn của sự sỉ nhục. Ông là người kể chuyện tuyệt vời, đa dạng và độc đáo. Ông có óc sáng tạo phong phú và có tài kể lại sự việc theo cách thức gây ngạc nhiên và giàu kịch tính ở cấp độ cao nhất. Như mọi nhà văn khác, ông có những khiếm khuyết ở mình, mà tôi nghĩ là do môi trường và cách nuôi dạy, do những nét tính cách của thời đại ông sống. Ông có ảnh hưởng to lớn đến những đồng nghiệp, nhưng có lẽ còn lớn hơn đối với những người đương thời, những người bằng cách này hay cách khác đã sống kiểu cuộc đời mà ông mô tả. Khi đi du lịch ở phương Đông, thật đáng kinh ngạc khi du khách thường bắt gặp những người đã bắt chước các nhân vật mà ông sáng tạo ra. Người ta nói rằng các nhân vật của Balzac chân thực với thế hệ sau ông hơn là với thế hệ mà ông được cho là đã miêu tả. Tôi rút từ kinh nghiệm của bản thân rằng hai mươi năm sau khi Kipling viết những tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình, có những người đàn ông rải rác khắp các vùng xa xôi của Đế chế Anh, những người sẽ không bao giờ chính xác như họ vẫn là nếu không có ông. Ông không chỉ tạo ra các nhân vật; ông còn định hình nên con người. Họ là những người đàn ông dũng cảm, tử tế, hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ được giao, trong khả năng của họ và theo quan điểm của họ: thật không may, vì những lý do mà tôi không cần phải luận đến, di sản họ để lại là lòng căm thù. Rudyard Kipling thường bị cho là người đã khiến dân chúng Anh nhận thức được Đế chế của họ, nhưng đó là một thành tựu chính trị mà tôi không cần luận bàn; điều quan trọng đối với mục đích hiện tại của tôi là trong khám phá của ông về cái được gọi là câu chuyện kỳ lạ, ông đã khai phá ra một mảnh đất mới lạ và màu mỡ cho các nhà văn. Đây là câu chuyện đặt bối cảnh ở một đất nước mà phần lớn độc giả còn lạ lẫm. Nó đề cập đến những phản ứng của người da trắng khi họ lưu trú tại một vùng đất xa lạ và ảnh hưởng của việc tiếp xúc với những người khác chủng tộc và màu da đối với họ. Các nhà văn hậu bối đã đề cập đến chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, nhưng Rudyard Kipling là người đầu tiên khai đường mở lối qua vùng đất được tìm thấy này, và không ai từng khoác lên nó một vẻ quyến rũ lãng mạn hơn, không ai từng tái hiện nó một cách sống động và đa sắc như vậy. Sẽ đến lúc cuộc chiếm đóng Ấn Độ của người Anh trở thành lịch sử cổ xưa và khi sự mất mát của những vùng thuộc địa lớn lao đó sẽ không khơi dậy sự nuối tiếc và cảm giác cay đắng nào hơn những gì đã được khơi dậy bởi sự mất mát, từ hàng thế kỷ trước, của Normandy và Aquitaine. Khi đó, người ta sẽ nhận ra rằng Rudyard Kipling, trong những câu chuyện về người Ấn Độ của mình, trong Chuyện rừng xanh, trong Kim, đã viết những tác phẩm sẽ được vinh danh trong nền văn học Anh vĩ đại của chúng ta.

    Ngay cả những điều tốt đẹp cũng làm người ta chán ngán. Họ khao khát sự thay đổi. Hãy lấy một ví dụ từ một loại hình nghệ thuật khác: kiến trúc nhà ở trong kỷ nguyên Georgian đã đạt tới một sự hoàn hảo hiếm có; những ngôi nhà được xây cất thời đó vừa đẹp mắt vừa tiện nghi. Phòng ốc rộng rãi, thoáng đãng và kích thước cân đối. Bạn hẳn nghĩ người ta sẽ hài lòng với những ngôi nhà như vậy cho tới mãn đời. Nhưng không. Đến thời kỳ lãng mạn; người ta muốn sự cổ kính, những sự khác thường, kỳ khôi; và những kiến trúc sư, lòng đầy bất mãn, buộc phải chiều lòng họ. Sáng tác một câu chuyện như Poe đã viết là một việc khó nhằn và, như chúng ta được biết, kể cả Poe cũng không tránh khỏi lặp lại chính mình. Có vô số thủ thuật trong các câu chuyện thuộc loại này và khi các tạp chí thường kỳ ra đời và lập tức trở nên phổ biến, nhu cầu cho những câu chuyện này là rất lớn, các tác giả đã không chậm trễ để học hỏi những kỹ xảo trong nghề. Nhằm tạo hiệu quả cho những câu chuyện, họ gò chúng vào một thiết kế thông dụng và chẳng chốc đã xa rời thực tế đến nỗi độc giả phải gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Người đọc chán ngán những câu chuyện được viết theo một khuôn mẫu mà họ đã biết quá rõ. Họ phản đối rằng trong đời thực mọi sự không xảy ra một cách chỉn chu như vậy; đời thực là một chuỗi những sợi chỉ đứt đoạn và những đầu mối rời rạc; việc sắp xếp chúng một cách khuôn sáo chỉ càng làm sai lệch thêm. Họ đòi hỏi một chủ nghĩa hiện thực vượt trội hơn. Giờ thì, sao chép cuộc sống chưa bao giờ là việc của nghệ sĩ cả. Sir Kenneth Clark đã làm sáng tỏ điểm này trong cuốn sách Trần trụi của mình. Ông đã cho chúng ta thấy rằng những điêu khắc gia vĩ đại của Hy Lạp cổ đại không hề bận tâm đến việc mô tả hình mẫu của họ với sự chân xác tuyệt đối, mà sử dụng chúng như một công cụ nhằm đạt tới lý tưởng về cái đẹp. Nếu bạn nhìn vào các tác phẩm hội hoạ và điêu khắc trong quá khứ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy các nghệ sĩ vĩ đại ít quan tâm đến việc tái hiện chính xác những gì phô bày trước mắt họ ra sao. Người ta thường cho rằng những biến cải mà các nhà điêu khắc áp đặt lên chất liệu của họ, được minh hoạ rõ nét nhất trong trường phái Lập Thể, là một phát minh của thời đại chúng ta. Nhưng không phải vậy. Họ chỉ nghĩ vậy vì họ đã quá quen với những biến cải của quá khứ đến mức chấp nhận chúng như những biểu hiện theo nghĩa đen của sự thật. Ngay từ buổi bình minh của hội hoạ phương Tây, các nghệ sĩ đã hy sinh tính chân thực để đạt được hiệu ứng mong muốn. Tiểu thuyết cũng vậy. Khỏi phải nói đâu xa, hãy lấy Poe làm ví dụ; thật khó tin khi ông lại cho rằng con người nói năng theo cách ông bắt các nhân vật của mình nói: nếu ông nhét vào miệng họ những lời thoại mà chúng ta thấy dường như không chân thực, thì hẳn là vì ông nghĩ rằng nó phù hợp với câu chuyện mà ông đang kể và giúp ông đạt được mục đích mà ông ấp ủ. Các nghệ sĩ chỉ noi theo chủ nghĩa tự nhiên khi họ nhận ra rằng họ đã xa rời thực tế đến mức cần quay đầu lại, và rồi họ cam tâm sao chép nó một cách chính xác nhất có thể, không phải như một mục đích tự thân, mà có lẽ như một thứ kỷ luật bổ ích.

    Vào thế kỷ mười chín, chủ nghĩa tự nhiên trong truyện ngắn trở nên thịnh hành trong bối cảnh chủ nghĩa lãng mạn vốn đã hoá nhàm. Lần lượt, các nhà văn ra công tái hiện cuộc sống với sự chính xác không suy suyển. “Tôi chưa bao giờ luồn cúi cả,” Frank Norris nói. “Tôi không bao giờ ngả mũ trước trào lưu hay ngửa tay xin từng cắc lẻ. Lạy Chúa! Tôi kể cho họ Sự Thật. Họ thích hay không cũng mặc. Điều đó can hệ gì tới tôi? Tôi nói với họ Sự Thật, từ trước tới nay đó vẫn là Sự Thật.” (Đây là những lời lẽ quyết đoán, nhưng thật khó để nói sự thật là gì; nó không nhất thiết phải trái ngược với lời nói dối.) Các nhà văn thuộc trường phái này nhìn cuộc sống với con mắt ít thiên vị hơn so với thế hệ trước; họ ít ngọt ngào và lạc quan hơn, bạo lực hơn và thẳng thắn hơn; lời thoại của họ tự nhiên hơn, và họ chọn nhân vật từ một thế giới mà kể từ thời Defoe, các nhà văn hư cấu đã phần nào lãng quên; nhưng họ không có sự cách tân nào về mặt kỹ thuật. Về cốt lõi của truyện ngắn, họ vẫn bằng lòng với những khuôn mẫu cũ. Những hiệu ứng họ theo đuổi vẫn là những hiệu ứng mà Edgar Allan Poe đã theo đuổi; họ sử dụng công thức mà ông đã đặt ra. Giá trị của chúng chứng minh giá trị của nó; tính giả tạo của chúng phô bày sự yếu kém của nó.

    4

    Nhưng có một đất nước mà công thức này không phát huy tác dụng. Ở Nga, trong vài thế hệ, họ đã viết những câu chuyện theo một trật tự hoàn toàn khác; và khi thực tế buộc phải đánh động đến cả độc giả và tác giả rằng thể loại truyện được ưa chuộng từ lâu nay đã trở nên máy móc một cách chán chường, người ta mới phát hiện ra rằng ở đất nước đó có một nhóm các nhà văn đã biến truyện ngắn thành một thứ gì đó mới mẻ. Thật kỳ lạ khi mất nhiều thời gian đến vậy để thể loại truyện này cập bến Tây phương. Đúng là các câu chuyện của Turgenev đã được đọc trong bản dịch Pháp ngữ. Ông được anh em nhà Goncourt, Flaubert và giới trí thức đón nhận nhờ dáng vẻ uy nghiêm, gia sản dồi dào và gốc gác quý tộc của ông; và các tác phẩm của ông được đánh giá cao với sự ngưỡng mộ dè dặt, như cách người Pháp vẫn luôn nhìn nhận các sáng tác của các tác giả ngoại quốc. Thái độ của họ giống như thái độ của Tiến sĩ Johnson trước lời rao giảng của một phụ nữ: “Nó không được thực hiện tốt, nhưng dù thế bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nó được thực hiện.” Phải đến khi Melchior de Vogué xuất bản cuốn sách Le Roman Russe [Tiểu thuyết Nga] vào năm 1886 thì văn học Nga mới có tác động đến thế giới văn học Paris. Theo thời gian, khoảng năm 1905, tôi cho là vậy, một vài truyện ngắn của Chekhov đã được dịch sang tiếng Pháp và nhìn chung được đón nhận rất nồng nhiệt. Ông vẫn vô danh ở Anh. Khi ông mất, vào năm 1904, người Nga coi ông là nhà văn hàng đầu của thế hệ: Encyclopædia Britannica trong ấn bản thứ mười một, xuất bản năm 1911, không nói gì thêm về ông ngoài câu, “Nhưng A. Chekhov đã thể hiện uy lực đáng kể trong các truyện ngắn của mình.” Lời khen ngợi lạnh lùng. Mãi đến khi bà Garnett cho xuất bản trong mười ba tập nhỏ một tuyển tập từ kho trước tác đồ sộ của Chekhov thì độc giả Anh mới quan tâm đến ông. Kể từ đó, uy tín của các nhà văn Nga nói chung và của Chekhov nói riêng đã trở nên rất lớn. Điều này đã thay đổi đáng kể phong cách sáng tác và phương pháp đánh giá truyện ngắn. Những độc giả có óc phê bình vẫn thờ ơ với câu chuyện về mặt kỹ thuật “được thực hiện tốt”, và những nhà văn sáng tác ra nó nhằm phục vụ đại đa số công chúng thì lại không được xem trọng.

    Cuộc đời của Chekhov đã được David Magarshack viết lại [Chekhov: A Life]. Đó là một bản tường thuật về những thành tựu giành được bất chấp khó khăn khủng khiếp – nghèo đói, trách nhiệm nặng nề, môi trường làm việc nhũng nhiễu và sức khoẻ tồi tệ. Chính từ cuốn sách thú vị và được ghi chép tỉ mỉ này mà tôi đã nắm được những sự kiện sau. Chekhov sinh năm 1860. Ông nội của ông là một nông nô đã dành dụm đủ tiền để chuộc tự do cho chính mình và ba người con trai. Một trong số họ, tên là Pavel, sau đó đã mở một tiệm tạp hoá tại Taganrog trên Biển Azov, kết hôn, có năm người con trai và một người con gái. Anton Chekhov là con trai thứ ba. Pavel vô học, ngu dốt, phù phiếm, ích kỷ, tàn bạo và cực kỳ mộ đạo. Nhiều năm sau, Chekhov đã viết về cha mình, “Tôi nhớ cha tôi bắt đầu dạy tôi khi tôi năm tuổi, hay nói một cách đơn giản, là đánh tôi khi tôi mới năm tuổi. Ông ấy đánh tôi, bạt tai tôi, nện vào đầu tôi, và câu đầu tiên tôi hỏi sau khi thức dậy vào buổi sáng là, hôm nay con có bị đánh nữa không? Tôi bị cấm chơi đùa hoặc nô giỡn. Tôi phải tham dự các buổi lễ nhà thờ vào buổi sáng và buổi tối, hôn tay các linh mục và cha xứ, đọc thánh ca ở nhà thờ…. Khi tôi tám tuổi, tôi phải trông coi quầy hàng, tôi làm việc như một thằng nhóc chạy vặt bình thường, và điều này ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôi, vì tôi bị đánh đập hầu như mỗi ngày. Sau đó, khi tôi được gửi đến một trường trung học, tôi học đến bữa tối, nhưng từ bữa tối đến đêm tôi phải ngồi trong cửa hàng.”

    Khi Anton Chekhov mười sáu tuổi, cha ông, què quặt vì nợ nần và sợ bị bắt, đã trốn đến Moscow, nơi hai người con trai cả của ông, Alexander và Nicholas, đang theo học đại học. Anton ở lại Taganrog để học nốt và tự nuôi sống bản thân bằng công việc dạy kèm cho những cậu bé chậm phát triển. Sau ba năm, tốt nghiệp và được cấp học bổng hai mươi lăm rúp một tháng, ông đoàn tụ với bố mẹ ở Moscow. Quyết định trở thành bác sĩ, ông nộp đơn xin vào trường Y. Khi đó ông là một chàng trai trẻ cao lớn, nhỉnh hơn mét tám, tóc nâu nhạt, mắt nâu với khuôn miệng đầy đặn, rắn rỏi. Ông chứng kiến gia đình mình sống trong một tầng hầm ở một khu ổ chuột mà phần lớn là nhà thổ. Anton đưa hai người bạn học và các bạn hữu của mình tới trọ cùng gia đình. Họ trả bốn mươi rúp mỗi tháng, một người thuê trọ thứ ba trả hai mươi rúp nữa và cộng với hai lăm rúp của Chekhov, gộp lại được tám mươi năm rúp để nuôi chín miệng ăn và trả tiền nhà. Họ nhanh chóng dọn đến một căn hộ lớn hơn trên cùng một con phố tồi tàn. Hai cậu sinh viên ở chung một phòng, người thứ ba ở một phòng nhỏ riêng, Anton ở phòng thứ ba với các em trai, mẹ và chị gái ông ở phòng thứ tư, và phòng thứ năm, dùng làm phòng ăn và phòng khách, đồng thời là phòng ngủ của hai người anh cả Alexander và Nicholas. Pavel, cha của họ, cuối cùng đã kiếm được một chân tại một nhà kho, lĩnh ba mươi rúp mỗi tháng, và ông phải sống ở đó, vì vậy trong một thời gian, họ đã thoát khỏi người đàn ông ngu ngốc, chuyên quyền đã đày đoạ cuộc sống của họ bấy lâu.

    Chúng ta nghe kể rằng Anton có tài ứng tác những câu chuyện hài hước khiến bạn bè ông cười ngặt nghẽo. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của gia đình, ông nghĩ mình có thể thử viết chúng. Ông đã viết một câu chuyện và gửi đến một tuần báo của Petersburg có tên là The Dragon Fly. Một buổi chiều tháng Giêng, trên đường trở về từ trường y, ông mua một bản in và thấy câu chuyện của mình đã được phê duyệt. Ông sẽ được trả năm cô-pếch một dòng. Tôi xin nhắc lại với độc giả rằng một rúp trị giá hai si-linh và một trăm cô-pếch được một rúp, vì vậy khoản thù lao được đưa ra vào khoảng một xu một dòng. Từ đó, Chekhov gửi truyện cho tờ The Dragon Fly hầu như mỗi tuần, nhưng chỉ một số ít được chấp nhận; tuy ông cũng gửi chúng cho các tờ báo Moscow, nhưng họ không đủ khả năng thanh toán; nhuận bút được gán cho một đôi giày, và nhiều khi đám cộng tác viên, nhằm đòi lấy thù lao ít ỏi của họ, phải đợi ở văn phòng cho đến khi những đứa trẻ đem về những đồng cô-pếch mà chúng thu được từ việc rao báo trên phố. Một biên tập viên ở Petersburg tên là Leykin đã trao cho Chekhov cơ hội đầu tiên của mình. Ông này điều hành một tạp chí tên là Fragments, và ông giao cho Chekhov nhiệm vụ viết một truyện ngắn mỗi tuần dài một trăm dòng với giá tám cô-pếch một dòng. Đó là một tờ báo khôi hài, và khi Chekhov thỉnh thoảng gửi đi một câu chuyện nghiêm túc, Leykin phàn nàn rằng đây không phải là điều mà độc giả mong muốn. Mặc dù những câu chuyện ông viết được nhiều người yêu thích và đem lại cho ông một chút danh tiếng, nhưng những hạn chế áp đặt lên ông, cả về độ dài lẫn nội dung, khiến ông bất mãn, vì vậy, để làm ông nguôi, Leykin, người có vẻ là một quý ông tinh tế và đàng hoàng, đã nhận lời đề nghị từ Petersburg Gazette để viết một truyện ngắn hàng tuần, dài hơn và theo một thể loại khác, với cùng mức giá tám cô-pếch một dòng. Từ năm 1880 đến năm 1885, Chekhov đã viết ba trăm truyện!

    Chúng là potboilers [những câu chuyện nhảm nhí]. Từ điển Oxford cho chúng ta biết rằng đây là một danh từ ám chỉ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật được làm ra đơn thuần vì mục đích thương mại. Đây là một thuật ngữ có thể bị loại khỏi từ điển của các nhà phê bình văn học. Tôi phải nói rằng một tác giả trẻ tuổi phát hiện ra mình có một thôi thúc sáng tạo để viết (và cách anh ta sở hữu nó là một bí ẩn khó hiểu như nguồn gốc của tình dục) có thể nghĩ rằng nó sẽ đem lại cho anh ta danh tiếng, nhưng chắc chắn rất hiếm khi nghĩ rằng nó sẽ đem lại tiền bạc; và về điều này, anh ta đã đúng, vì trong những ngày đầu của anh ta, điều đó hầu như bất khả thi. Nhưng khi anh ta quyết định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp với mục đích kiếm sống, anh ta không thể thờ ơ với số tiền mà tài năng của mình sẽ đem lại. Động cơ viết của anh ta không phải điều mà độc giả quan tâm.

    Trong khi Chekhov miệt mài viết những thiên truyện này, ông học tập ở trường y để lấy bằng tốt nghiệp. Ông chỉ có thể viết vào ban đêm sau một ngày làm việc vất vả tại bệnh viện. Điều kiện viết lách của ông rất khó khăn. Những khách thuê trọ đã bị đuổi đi và gia đình Chekhov chuyển đến một căn hộ nhỏ hơn, nhưng “Ở phòng bên cạnh,” ông viết cho Leykin, “đứa con của một người họ hàng của tôi [anh trai Alexander] đang khóc, ở phòng bên cạnh, bố tôi đang đọc to một câu chuyện Leskor cho mẹ nghe, ai đó đã lên dây cót cho hộp nhạc của chúng tôi và tôi có thể nghe thấy tiếng Helen xinh đẹp… Giường ngủ của tôi đầy rẫy những họ hàng ghé thăm, những người cứ vài phút lại đến cạnh tôi và bắt đầu lảm nhảm về y học… Đứa trẻ đang rống lên! Tôi vừa quyết định sẽ không bao giờ sinh con. Tôi đoán người Pháp có rất ít con vì họ là một dân tộc văn chương…” Một năm sau, trong một lá thư gửi cho người em trai Ivan, ông viết, “Anh kiếm được nhiều tiền hơn bất cứ sĩ quan trung uý nào của em, nhưng anh không có tiền, không có thức ăn tử tế, không có phòng làm việc riêng… Ngay lúc này đây anh đang rỗng túi, và anh háo hức chờ đợi đến ngày đầu tháng để nhận được sáu mươi rúp từ Petersburg, số tiền mà anh sẽ tiêu ngay lập tức.”

    Năm 1884, Chekhov bị thổ huyết. Gia đình có người mắc bệnh lao, và ông không thể không biết điều này tiên báo điều gì, nhưng lo sợ rằng nghi ngờ của mình sẽ được xác nhận nên ông không thăm khám bác sĩ chuyên khoa. Để xoa dịu nỗi lo lắng của mẹ mình, ông nói với bà rằng chứng thổ huyết chỉ là do vỡ mạch máu trong họng và không có gì nghiêm trọng. Vài tháng sau, ông dành dụm đủ tiền để lên Petersburg lần đầu tiên. Ông chưa bao giờ coi trọng những câu chuyện của mình; chúng được viết vì tiền và ông nói rằng không truyện nào tốn quá một ngày để viết. Khi đến Petersburg ông kinh ngạc phát hiện ra rằng mình đã nổi tiếng. Tuy những câu chuyện của ông có vẻ tầm thường, những người trí thức ở Petersburg, khi đó là trung tâm văn hoá của Nga, thấy ở đó sự tươi mới, sống động và một quan điểm độc đáo. Họ rất coi trọng ông. Ông được xem là một trong những nhà văn tài năng nhất thời bấy giờ. Các biên tập viên mời mọc ông đóng góp cho các tạp chí của họ với mức nhuận tốt hơn bất kỳ con số nào ông từng nhận được trước đây. Một trong những nhà văn lỗi lạc của Nga đã thúc giục ông từ bỏ thể loại truyện mà ông đã viết và bắt đầu viết những câu chuyện thực sự thú vị.

    Chekhov rất ấn tượng, nhưng ông chưa bao giờ có ý định trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Ông nói rằng “Y học là vợ hợp pháp của tôi còn văn học chỉ là tình nhân,” và khi ông trở lại Moscow, ông có ý định hành nghề bác sĩ. Phải thừa nhận rằng ông đã không làm gì đáng kể để tạo dựng một phòng khám phát đạt. Ông kết bạn với rất nhiều người và họ giới thiệu khách hàng cho ông, nhưng bệnh nhân hiếm khi trả tiền cho những lần thăm khám. Ông hóm hỉnh và quyến rũ, với tiếng cười vang dội, dễ lan, là một bảo vật trong các nhóm du mục mà ông năng lui tới. Ông thích đi dự tiệc và tổ chức tiệc. Ông uống rượu thoải mái, nhưng, ngoại trừ những dịp đám cưới hay lễ lạt, hiếm khi thấy ông say. Phụ nữ thấy ông hấp dẫn, và ông đã có một vài mối tình. Nhưng chúng đều vặt vãnh. Theo thời gian, ông thường xuyên đến thăm Petersburg và đi du lịch khắp nước Nga. Mỗi mùa xuân, mặc những bệnh nhân của mình tự lo liệu, ông đưa cả gia đình về nông thôn và ở lại đó cho đến mùa thu. Ngay khi biết ông là bác sĩ, dân làng lại kéo đến khám bệnh và tất nhiên không trả cho ông đồng nào. Để kiếm tiền, ông buộc phải viết truyện. Những câu chuyện đó ngày càng thành công và ông được trả công hậu hĩnh, nhưng ông vẫn thấy khó cáng đáng nổi. Trong một lá thư gửi cho Leykin, ông viết, “Ông hỏi tôi đang làm gì với tiền bạc của mình. Tôi không sống xa hoa, tôi không đi lại hay ăn bận như một gã bảnh bao, tôi không nợ nần, và tôi thậm chí chẳng phải bao một cô bồ (tôi được yêu miễn phí), nhưng dù sao thì tôi cũng chỉ còn lại bốn mươi rúp trong số ba trăm rúp tôi nhận được từ ông và Suvorin trước lễ Phục sinh, chưa kể tôi sẽ phải chi bốn mươi rúp vào ngày mai. Chỉ có Chúa mới biết tiền của tôi đã đi đâu”. Ông dọn tới một căn hộ mới, cuối cùng cũng có một căn phòng riêng, nhưng ông vẫn xin xỏ Leykin tạm ứng trước để trả tiền thuê nhà. Năm 1886, ông lại bị thổ huyết. Ông biết mình nên đến Crimea, nơi mà vào thời điểm đó những người mắc bệnh lao thường đến để hưởng khí hậu ấm áp hơn, giống như bên Tây Âu họ đến Riviera của Pháp và Bồ Đào Nha – và chết như ruồi; nhưng ông gần như rỗng túi. Năm 1889, anh trai Nicholas của ông, một hoạ sĩ khá tài năng, đã qua đời vì bệnh lao. Đó là một cú sốc và một lời cảnh tỉnh. Đến năm 1892, sức khoẻ của chính ông đã suy sụp tới mức ông sợ hãi viễn cảnh phải trải qua một mùa đông nữa ở Moscow. Bằng số tiền vay được, ông mua một điền trang nhỏ gần một ngôi làng tên là Melikhovo cách Moscow năm mươi dặm và như thường lệ, ông đưa cả gia đình theo cùng, ông bố trái nết, bà mẹ, em gái và em trai Michael. Ông đem theo một xe thuốc và bệnh nhân lại đổ xô đến khám ông. Ông đã đối xử với họ tốt nhất có thể và không bao giờ tính phí họ một cô-pếch nào.

    Chekhov dành năm năm ở Melikhovo và nhìn chung đó là những năm tháng hạnh phúc. Ông đã viết một số thiên truyện hay nhất của mình ở đây và được trả thù lao hậu hĩnh, bốn mươi cô-pếch một dòng, gần bằng một si-linh. Ông quan tâm đến các vấn đề địa phương, cho xây một con đường mới và trường học cho nông dân bằng tiền túi của mình. Anh trai ông, Alexander, một gã bợm rượu cố hữu, đã dọn đến cùng vợ và các con; bạn bè ghé thăm đôi khi nán lại nhiều ngày, và mặc dù ông phàn nàn rằng họ cản trở công việc của ông, nhưng thiếu họ thì ông không sống nổi. Tuy đau ốm triền miên, ông vẫn vui vẻ, thân thiện, hóm hỉnh và hoạt bát. Thi thoảng ông lại lên Moscow chơi. Một trong những dịp như vậy, vào năm 1897, ông bị xuất huyết nghiêm trọng đến mức được đưa vào phòng khám, và trong một vài ngày ông đã mấp mô bên lề cửa tử. Ông luôn từ chối tin rằng mình bị lao, nhưng giờ đây các bác sĩ bảo ông rằng phần trên của phổi bị hư hoại và nếu muốn sống tiếp, ông phải thay đổi lề thói sinh hoạt. Ông về Melikhovo, nhưng hiểu rõ mình không thể trụ lại đó thêm một mùa đông nữa. Ông nhận ra mình phải từ bỏ nghề y. Ông ra nước ngoài, đến Biarritz và Nice, rồi cuối cùng định cư tại Yalta ở Crimea. Các bác sĩ khuyên ông nên lưu lại đó lâu dài và nhờ khoản ứng trước từ Suvorin, người bạn và biên tập viên của ông, ông xây cho mình một ngôi nhà. Như thường lệ, tài chính của ông vẫn lao đao.

    Việc phải từ bỏ nghề y là một đòn giáng mạnh vào Chekhov. Tôi không rõ ông là kiểu bác sĩ thế nào. Sau khi được cấp phép hành nghề, ông chưa bao giờ phục vụ lâm sàng tại bệnh viện quá ba tháng và tôi đoán chừng cách ông đối xử với bệnh nhân có phần thô lỗ và qua loa. Nhưng ông có lý lẽ và sự cảm thông, và nếu ông để mọi chuyện thuận theo tự nhiên, có lẽ ông đã giúp ích cho bệnh nhân của mình không kém gì một người có kiến thức sâu rộng hơn. Những trải nghiệm phong phú mà ông có được từ đó đã giúp ích cho ông rất nhiều. Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn. Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.

    Mặc dù buồn chán ở Yalta, sức khoẻ của Chekhov đã cải thiện trong một thời gian. Tôi chưa có dịp đề cập đến việc Chekhov, ngoài số lượng truyện dài của mình, vào thời kỳ này đã viết hai hoặc ba vở kịch không mấy thành công. Nhờ chúng, ông biết đến một nữ diễn viên trẻ tên là Olga Knipper. Ông đã yêu nàng và vào năm 1901, bất chấp gia đình phản đối, họ đã kết hôn. Người ta thu xếp để nàng tiếp tục diễn xuất và do vậy họ chỉ ở bên nhau khi Chekhov lên Moscow để gặp nàng hoặc chính nàng, để nghỉ ngơi, như giới sân khấu thường nói, tìm xuống Yalta. Những lá thư ông gửi cho nàng được lưu giữ lại. Chúng dịu dàng và cảm động. Sức khoẻ của ông lại lao dốc và ông đã trở nên rất kiệt quệ. Ông ho rất nhiều và không ngủ nổi. Đau khổ hơn nữa là Olga Knipper bị sảy thai. Chính nàng đã thúc giục Chekhov viết một vở hài kịch nhẹ nhàng, đó là điều mà công chúng mong muốn, và tôi cho rằng ông đã bắt tay vào viết vở kịch đó chủ yếu để làm đẹp lòng nàng. Vở kịch được gọi là Vườn anh đào và ông hứa với Olga sẽ dành riêng một đoạn hay cho nàng. “Tôi viết bốn dòng một ngày,” ông thư cho một người bạn, “và ngay cả điều này cũng khiến tôi đau đớn khôn tả.” Ông hoàn thiện vở kịch và nó được công chiếu ở Moscow vào đầu năm 1904. Vào tháng 6 năm sau, theo lời khuyên từ bác sĩ, ông đến khu nghỉ dưỡng của Đức ở Badenweiler. Một người đàn ông trẻ người Nga đã viết một bài tường thuật về cuộc gặp gỡ với Chekhov vào buổi tối trước ngày ông rời đi. Tôi trích dẫn những dòng sau từ A Life của Magarshack:

    “Trên một chiếc ghế sofa, được đỡ bởi những tấm nệm, có một người đàn ông rất gầy và có vẻ nhỏ bé, với bờ vai hẹp và khuôn mặt nhợt nhạt không chút sinh khí, mặc áo khoác ngoài hoặc áo choàng và phủ một tấm thảm lên chân – Chekhov đã trở nên tiều tuỵ đến mức không thể nhận ra. Tôi không bao giờ nghĩ một người có thể thay đổi nhiều đến thế.

    “Ông ấy giơ bàn tay yếu ớt, trắng bệch như sáp, bàn tay mà tôi không dám trông vào, và nhìn tôi bằng đôi mắt dịu dàng nhưng thiếu vắng nụ cười…

    “‘Tôi sẽ rời đi vào ngày mai,’ ông ấy nói. ‘Tôi sẽ đi xa để chết.’ “Ông ấy dùng một từ khác, một từ tàn nhẫn hơn ‘chết’, mà tôi không muốn nhắc lại bây giờ.”

    “‘Tôi sẽ đi xa để chết,’ ông cố tình lặp lại. ‘Hãy vĩnh biệt bạn bè của anh thay tôi …. Nói với họ rằng tôi nhớ họ và tôi rất quý một số người trong số họ. Chúc họ thành công và hạnh phúc thay tôi. Chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.’”

    Ban đầu ở Badenweiler, Chekhov cảm thấy bệnh tình thuyên giảm đến mức ông bắt đầu thảo kế hoạch đến Ý. Một buổi tối, khi ông lên giường đi ngủ, vì Olga đã dành cả ngày túc trực cạnh ông, ông khăng khăng rằng nàng nên đi dạo quanh công viên. Khi nàng trở lại, ông lại bảo nàng xuống ăn tối, nhưng nàng nói với ông rằng tiếng chuông báo chưa reo. Để giết thời giờ, ông bắt đầu kể cho nàng nghe một câu chuyện về một khu nghỉ mát đông đúc gồm những du khách sành điệu, những ông chủ nhà băng béo phì, những gã người Mỹ và người Anh tráng kiện. “Một buổi tối, tất cả du khách trở về khách sạn và phát hiện tên đầu bếp đã bỏ trốn và không có bữa tối nào đang đón chờ họ cả. Chekhov tiếp tục mô tả sự việc trên đã ảnh hưởng ra sao tới từng du khách quen được nuông chiều này.” Ông đã kể một câu chuyện rất vui nhộn về điều đó và Olga Knipper cười phá lên. Nàng trở lại với ông sau bữa tối. Chekhov đang nghỉ ngơi trong an tĩnh. Nhưng đột nhiên tình hình trở nên tồi tệ và các bác sĩ liền kéo đến. Họ đã làm mọi cách có thể, nhưng vô ích. Chekhov đã chết. Những lời trăng trối của ông là bằng tiếng Đức, Ich Sterbe. Ông bốn mươi bốn tuổi.

    Alexander Kuprin đã viết trong hồi ký của mình về Chekhov như sau, “Tôi nghĩ rằng ông ấy không mở lòng hay trao trọn trái tim mình cho bất kỳ ai. Nhưng ông ấy đối xử tử tế với mọi người, trong tình bạn giữ một sự lãnh đạm chừng mực – và đồng thời với sự quan tâm lớn lao, có lẽ là vô thức.” Điều này sáng tỏ một cách lạ lùng. Nó tiết lộ cho chúng ta nhiều hơn về Chekhov so với bất kỳ sự kiện nào trong bản tường thuật ngắn gọn về cuộc đời ông mà tôi có dịp kể lại.

    5.

    Những câu chuyện đầu tiên của Chekhov phần lớn là truyện khôi hài. Ông viết chúng rất dễ dàng; như ông nói thì viết như chim hót, và không mấy coi trọng chúng. Chỉ đến sau chuyến ghé thăm đầu tiên đến Petersburg, khi ông phát hiện ra mình được coi là một tác giả tài năng đầy triển vọng, ông mới bắt đầu coi trọng bản thân. Sau đó, ông tự đặt ra mục tiêu để thông thạo nghề của mình. Một ngày nọ, một người bạn thấy ông đang sao chép một câu chuyện của Tolstoy và khi được hỏi ông đang làm gì, ông trả lời, “Tôi đang viết lại nó”. Người bạn kia đã rất sốc khi thấy ông lại thản nhiên làm vậy với tác phẩm của bậc thầy, sau đó Chekhov lý giải rằng ông làm vậy như một bài tập; ông đã hình thành ý tưởng (theo tôi biết thì là một ý tưởng hay) rằng bằng cách viết lại như vậy, ông có thể học hỏi phương pháp của các nhà văn mà ông ngưỡng mộ và qua đó phát triển một phong cách riêng của mình. Rõ ràng công sức bỏ ra không hề lãng phí. Ông đã học được cách sáng tác những câu chuyện của mình với kỹ năng hoàn hảo: Ví dụ, Dân quê được viết tao nhã như Bà Bovary của Flaubert. Chekhov đã kỷ luật bản thân để viết đơn giản, rõ ràng và khúc chiết, và chúng ta được biết rằng ông đã đạt tới một phong cách tuyệt bích. Điều này, chúng ta, những người đọc ông qua bản dịch, buộc phải tin tưởng, vì ngay cả trong dịch bản chính xác nhất thì hương vị, cảm xúc, sự du dương trong lời văn của tác giả cũng bị mất đi.

    Chekhov rất quan tâm đến kỹ thuật viết truyện ngắn và ông có một số bí quyết thú vị khác thường để bàn về nó. Ông tuyên bố rằng một câu chuyện không được chứa bất kỳ điều gì thừa thãi. “Mọi thứ không liên quan đến câu chuyện phải bị loại bỏ không thương tiếc,” ông viết. “Nếu trong chương đầu tiên anh nói rằng có một khẩu súng treo trên tường, thì trong chương thứ hai hoặc thứ ba, nó phải được bóp cò.” Điều này có vẻ khá xác đáng, và tuyên bố của ông rằng các mô tả thiên nhiên nên ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm cũng xác đáng. Bản thân ông có thể chỉ bằng một hay hai từ để đem đến cho người đọc ấn tượng sống động về một đêm hè khi những chú chim hoạ mi hót líu lo hoặc về sự rực rỡ lạnh lẽo của những thảo nguyên vô tận dưới lớp tuyết mùa đông. Đó là một món quà vô giá. Tôi nghi ngờ việc ông lên án các phép nhân hoá. “Biển cười,” ông viết trong một lá thư, “tất nhiên là anh phải phải say mê nó. Nhưng nó thô thiển và rẻ tiền… Biển không cười hay khóc, nó gầm rú, loé sáng, lấp lánh. Hãy xem Tolstoy làm thế nào: ‘Mặt trời mọc rồi lặn, chim hót.’ Không ai cười hay nức nở cả. Và đó là điều quan trọng nhất – sự giản dị”. Điều này đúng, nhưng, suy cho cùng, chúng ta đã nhân cách hoá thiên nhiên từ thuở khai thiên lập địa và nó đến với chúng ta một cách tự nhiên đến nỗi chúng ta chỉ có thể tránh né nó bằng nỗ lực. Bản thân Chekhov không phải lúc nào cũng làm như vậy; và trong truyện Cuộc đấu súng của mình, ông kể với chúng ta rằng “một ngôi sao ló ra và rụt rè chớp một bên mắt”. Tôi không thấy điều này có gì đáng bắt bẻ; thực tế là tôi thích phép nhân hoá đó. Đối với người anh trai Alexander, cũng là một nhà văn viết truyện ngắn, nhưng bất tài, ông này nói rằng một tác giả không bao giờ được mô tả những cảm xúc mà chính anh ta chưa trải qua. Đây là một tuyên bố khó nghe. Chắc chắn là không nhất thiết phải giết người để mô tả cho thuyết phục những cảm xúc mà kẻ giết người cảm thấy khi hắn ta phạm tội. Rốt cuộc, nhà văn có trí tưởng tượng và nếu y là một nhà văn giỏi, y có khả năng đồng cảm để nhập tâm vào nhân vật của mình. Nhưng nguyên tắc quán triệt nhất mà Chekhov đưa ra là một tác giả phải cắt bỏ phần đầu và phần cuối của câu chuyện. Đó là điều mà chính ông đã làm, nghiêm ngặt tới mức bạn bè ông thường nói rằng các bản thảo của ông phải bị lấy đi trước khi ông có cơ hội cắt xén chúng, “nếu không, anh ta sẽ rút gọn những câu chuyện của mình thành thế này, rằng họ còn trẻ, đã yêu, đã kết hôn và không hạnh phúc.” Khi nghe được điều này, Chekhov trả lời, “Nhưng hãy xem này, thực tế mọi chuyện xảy ra đúng như vậy.”

    Chekhov coi Maupassant là hình mẫu. Nếu ông không tự mình nói với độc giả điều đó, tôi sẽ không bao giờ tin, vì đối với tôi mục đích và phương pháp của họ có vẻ hoàn toàn khác biệt. Nhìn chung, Maupassant tìm cách kịch tính hoá những câu chuyện của mình và để làm được điều này, như tôi đã nói trước đây, ông sẵn sàng hy sinh tính hợp lý nếu cần thiết. Tôi thiên về quan điểm rằng Chekhov cố tình tránh né lối kịch tính. Ông viết về những người bình thường sống cuộc sống bình thường. “Mọi người không đến Bắc Cực để ngã khỏi tảng băng trôi”, ông đã viết trong một lá thư. “Họ đến văn phòng, cãi nhau với vợ và ăn súp bắp cải”. Người ta có thể phản bác một cách đích đáng rằng mọi người đến Bắc Cực nếu không để rơi khỏi tảng băng trôi thì cũng để trải qua những cuộc phiêu lưu mạo hiểm, và không có lý do gì mà một tác giả lại không nên viết những câu chuyện hay ho về họ. Rõ ràng là không đủ thoả đáng khi chỉ viết về những người bình thường đến văn phòng làm việc và ăn súp bắp cải, và tôi không tin rằng Chekhov từng nghĩ như vậy: để tạo ra một câu chuyện, chắc chắn họ phải thụt két hoặc ăn hối lộ, phải đánh đập hoặc lừa dối vợ mình, và khi họ ăn súp bắp cải thì phải có ý nghĩa. Sau đó, nó trở thành một biểu tượng của một cuộc sống gia đình êm ấm hoặc nỗi thống khổ của một con người tuyệt vọng.

    Sự nghiệp y học của Chekhov, mặc dù gián đoạn, đã khiến ông tiếp xúc với đủ loại người, từ nông dân, công nhân nhà máy, chủ xưởng, thương gia đến giới quan chức, những người ít nhiều đã góp chút công sức hèn mọn trong việc tàn phá cuộc sống dân đen, những chủ đất đã rớt xuống mức bần cùng do cuộc giải phóng nông nô. Ông dường như không bao giờ tiếp xúc với tầng lớp quý tộc, và tôi chỉ biết một câu chuyện, một câu chuyện cay đắng có tên là Công chúa, trong đó ông đề cập đến tầng lớp này. Ông đã viết với sự thẳng thắn tàn nhẫn về sự vô trách nhiệm của những trang chủ đã phung phí gia sản của mình đến mức mục ruỗng; về số phận khốn khổ của những công nhân nhà máy sống lay lắt trong cảnh bần cùng, làm việc quần quật mười hai tiếng một ngày để ông chủ của họ có thể tậu thêm bất động sản; về sự thô bỉ và tham tàn của tầng lớp thương nhân; về sự bẩn thỉu, say xỉn, tàn bạo, ngu dốt, lười nhác của những nông dân được trả lương thấp, luôn đói khát, sống trong những túp lều hôi thối, đầy giun sán.

    Chekhov có thể trao cho những sự kiện mà ông mô tả một tính chân thực khác thường. Bạn chấp nhận những gì được kể với bạn như nghe từ một phóng viên đáng tin cậy. Nhưng tất nhiên Chekhov không đơn thuần là một phóng viên; ông quan sát, thu thập, phỏng đoán và kết hợp. Như Koteliansky đã nói, “Với sự khách quan tuyệt diệu của mình, vượt lên trên nỗi buồn và niềm vui cá nhân, Chekhov hiểu biết và nhìn thấu mọi thứ. Ông có thể tử tế và hào phóng mà không yêu thương; dịu dàng và cảm thông mà không ràng buộc, là một ân nhân không trông cậy ở lòng biết ơn.”

    Nhưng sự thờ ơ của Chekhov khiến nhiều nhà văn đồng nghiệp phẫn nộ và ông đã bị đả kích dữ dội. Ông bị buộc tội là dửng dưng với các sự kiện và hoàn cảnh xã hội của thời đại. Giới trí thức đòi hỏi ở một nhà văn Nga nghĩa vụ phải giải quyết chúng. Câu trả lời của Chekhov là công việc của nhà văn là tường thuật các sự kiện và để độc giả tự quyết định nên làm gì với chúng. Ông nhấn mạnh rằng nghệ sĩ không nên bị yêu cầu phải giải quyết các vấn đề mang tính chuyên môn hẹp. “Đối với những vấn đề đặc biệt,” ông nói, “chúng ta có các chuyên gia; công việc của họ là xét đoán công chúng, số phận của chủ nghĩa tư bản, tác hại của rượu chè…” Điều đó có vẻ thoả đáng. Nhưng vì đây là một quan điểm mà hiện nay dường như đang được thảo luận rộng rãi trong thế giới văn chương, tôi sẽ mạo muội trích dẫn một số nhận xét mà tôi đã đưa ra cách đây vài năm trong bài giảng mà tôi đã trình bày tại Liên hiệp Sách Quốc gia. Một ngày nọ, tôi đọc, như thói quen thường lệ, trang báo mà một trong những tuần san tiếng Anh hay nhất của chúng tôi dành để xem xét văn học đương thời. Nhân dịp này, người đánh giá bắt đầu bài viết của mình về một tác phẩm hư cấu mới xuất bản bằng những từ, “Ông Gì Gì Đó không đơn thuần là một người kể chuyện.” Từ “đơn thuần” tắc ứ trong cổ họng tôi và vào ngày hôm đó, giống như Paolo và Francesca trong một dịp khác, tôi không đọc thêm nữa. Bản thân nhà phê bình này là một tiểu thuyết gia nổi tiếng và mặc dù tôi chưa đủ may mắn để đọc bất kỳ tác phẩm nào của ông, tôi không nghi ngờ rằng chúng rất đáng ngưỡng mộ. Nhưng từ nhận xét này của ông, tôi chỉ có thể kết luận rằng theo ông, một tiểu thuyết gia không thể chỉ là một tiểu thuyết gia. Rõ ràng là, mặc dù có thể tồn tại vài mối quan ngại, ông chấp nhận quan niệm phổ biến trong giới nhà văn ngày nay, rằng trong tình trạng hỗn loạn của thế giới mà chúng ta đang sống, thật phù phiếm khi một tiểu thuyết gia chỉ viết nhằm mục đích giúp người đọc trải qua vài giờ dễ chịu. Như chúng ta đã biết, những tác phẩm như vậy bị khinh rẻ là thoát ly thực tế. Từ đó, giống như “potboiler”, là một từ có thể bị loại khỏi từ điển của nhà phê bình. Tất cả nghệ thuật đều thoát ly thực tế, các bản giao hưởng của Mozart cũng như các bức tranh phong cảnh của Constable; và chúng ta có đọc Shakespeare hay những áng thơ ca ngợi của Keats vì bất cứ điều gì khác không, ngoài niềm vui mà chúng đem lại cho ta? Tại sao ta phải đòi hỏi nhiều hơn từ tiểu thuyết gia so với thi sĩ, nhạc sĩ hay hoạ sĩ? Trên thực tế, không có thứ gì gọi là một câu chuyện “đơn thuần”. Khi viết một câu chuyện, tác giả, đôi khi không có ý định nào khác ngoài việc làm cho nó dễ đọc, tuỳ tiện đưa ra lời chỉ trích về cuộc sống. Trong tác phẩm Truyện kể núi đồi, Rudyard Kipling viết về những thường dân Ấn Độ, những sĩ quan chơi polo và về vợ của họ, ông đã viết với sự ngưỡng mộ ngây thơ của một nhà báo trẻ xuất thân khiêm tốn bị lóa mắt bởi những gì anh ta xem là quyến rũ. Thật đáng kinh ngạc khi không ai vào thời điểm đó thấy những câu chuyện này là lời cáo buộc lên án Quyền lực Tối cao. Giờ đây ta không thể đọc chúng mà không nhận ra sớm muộn gì người Anh cũng sẽ buộc phải từ bỏ ách thống trị của họ đối với Ấn Độ. Chekhov cũng vậy. Mặc dù ông cố gắng tỏ ra khách quan, chỉ muốn mô tả cuộc sống bằng sự thật, bạn không thể đọc những câu chuyện của ông mà không nhận ra rằng sự tàn bạo và sự ngu dốt mà ông đã viết, hay sự tham nhũng, cảnh khốn khổ cùng kiệt của người nghèo và sự vô tư của người giàu, chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng đẫm máu.

    Tôi cho rằng hầu hết mọi người đọc truyện hư cấu vì họ không có nhiều việc khác để làm. Họ đọc vì niềm vui, đó là điều nên làm, nhưng những người khác nhau tìm kiếm ở việc đọc những niềm vui khác nhau. Trước tiên là niềm vui được công nhận. Những độc giả đương thời đọc Biên niên sử Barchester của Trollope với sự mãn nguyện sâu sắc vì ông đã mô tả cuộc sống mà chính họ đã trải qua. Phần lớn độc giả của ông thuộc tầng lớp trung thượng lưu và họ cảm thấy thoải mái với tầng lớp trung thượng lưu mà ông đã tiếp xúc. Họ cảm thấy cùng một sự tự mãn khoan khoái khi ông Browning thân yêu nói với họ rằng “Chúa ngự trên thiên đường của Người – Với thế gian mọi sự đều đúng.” Thời gian đã mang lại sức hấp dẫn của thể tài cho những tiểu thuyết này. Chúng ta thấy chúng vui nhộn, và khá cảm động (thật tuyệt khi được sống trong một thế giới mà cuộc sống của những người khá giả lại dễ dàng đến vậy và cuối cùng mọi chuyện đều ổn!) và chúng có cùng một sức hấp dẫn như những bức tranh giai thoại vào giữa thế kỷ XIX, với những quý ông râu rậm trùm áo choàng và đội mũ chóp cao, và những thiếu nữ xinh đẹp đội mũ nồi và diện váy phồng. Những độc giả khác tìm kiếm trong tiểu thuyết sự kỳ lạ và mới mẻ. Câu chuyện kỳ lạ luôn có người hâm mộ. Hầu hết mọi người sống một cuộc đời buồn tẻ vô cùng, và việc đắm mình trong một thế giới đầy bất trắc và những chuyện phiêu lưu nguy hiểm là một lối thoát khỏi sự đơn điệu của cuộc sống. Tôi ngờ rằng những độc giả người Nga tìm thấy ở những câu chuyện của Chekhov một niềm vui rất khác so với những độc giả châu Âu. Họ thấu triệt hoàn cảnh của những người mà ông đã dày công mô tả. Những độc giả Anh tìm thấy trong những câu chuyện của ông một điều gì đó mới mẻ và kỳ lạ, thường là khủng khiếp và buồn bã, nhưng được trình bày với một sự thật ấn tượng, hấp dẫn và thậm chí lãng mạn.

    Chỉ những người rất ngây ngô mới có thể tin rằng một tác phẩm hư cấu có thể cung cấp cho chúng ta thông tin xác đáng về các chủ đề mà chúng ta cần nắm rõ để hiểu về cách đối nhân xử thế. Theo bản chất của năng khiếu sáng tạo, nhà văn không đủ năng lực để giải quyết những vấn đề như vậy; y không lý giải được tại sao, mà chỉ cảm nhận, tưởng tượng và sáng tạo. Y thiên vị. Các chủ đề mà nhà văn lựa chọn, các nhân vật mà y tạo ra và thái độ của y đối với họ bị chi phối bởi tính thiên vị nơi y. Những gì y viết là sự tái hiện tính cách của y và thể hiện bản năng, cảm xúc, trực giác và kinh nghiệm của y. Y nạp xúc xắc, đôi khi không rõ mình đang làm gì, nhưng đôi khi lại rất rõ; và sau đó y vận dụng kỹ năng mà y sở hữu để ngăn người đọc nhận ra y. Henry James nhấn mạnh rằng nhà văn hư cấu nên kịch tính hoá. Đó là một lối nói ẩn dụ, mặc dù xem chừng không được sáng suốt lắm, để nói rằng ông phải sắp xếp các sự kiện của mình sao cho thu hút được người đọc và giữ chân họ. Như mọi người đều biết, đây là điều Henry James đã luôn làm, nhưng tất nhiên đó không phải cách một tác phẩm có giá trị khoa học hoặc giàu thông tin được viết ra. Nếu độc giả quan tâm đến những vấn đề cấp thiết của thời đại, họ sẽ thu về nhiều hơn khi đọc, như Chekhov đã khuyên họ, không phải tiểu thuyết hay truyện ngắn, mà là những tác phẩm đặc thù đề cập đến chúng. Mục đích đúng đắn của nhà văn không phải là chỉ dẫn, mà là để làm hài lòng độc giả.

    Các tác giả sống một cuộc đời ẩn dật. Họ không được mời đến tiệc chiêu đãi với ngài Thị trưởng. Nền tự do của các thành phố lớn không được trao tay họ. Họ không có vinh dự đập vỡ một chai sâm-panh vào thân một con tàu viễn dương sắp xuất chinh lần đầu tiên. Không giống với các ngôi sao điện ảnh, đám đông không tụ tập để thấy các nhà văn bước ra khỏi khách sạn và nhảy lên một chiếc Roll-Royce. Họ không được mời đến các hội chợ lộ thiên để giúp đỡ những quý bà thượng lưu cùng đường ách vận, cũng không được mời đến trước đám đông reo hò để trao chiếc cúp bạc cho quán quân khuôn khổ đơn nam tại Wimbledon. Nhưng họ có sự đền bù. Từ thời tiền sử, những người đàn ông được ban tặng một món quà sáng tạo đã xuất hiện, những người từng tô điểm cho công việc kinh doanh ảm đạm của cuộc sống bằng các tác phẩm nghệ thuật. Như bất kỳ ai cũng có thể tự mình chứng kiến khi đến Crete, những chiếc cốc, bát, bình đã được trang trí bằng các hoạ tiết – không phải để làm chúng hữu ích hơn mà khiến chúng đẹp mắt hơn. Trong suốt nhiều thế kỷ, các nghệ sĩ đã tìm thấy sự thoả mãn tuyệt đối của họ khi tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Nếu tiểu thuyết gia có thể làm được điều đó, y đã làm tất cả những gì có thể được đòi hỏi một cách hợp lẽ. Thật là một sự lạm dụng khi coi tiểu thuyết như một bục giảng hoặc một diễn đàn.

    6.

    Tôi cho rằng sẽ thiếu công tâm nếu kết thúc bài luận rời rạc này mà không nhắc đến một tác giả tài năng, người đã viết những câu chuyện rất được ngưỡng mộ trong khoảng giữa hai cuộc thế chiến. Đó là Katherine Mansfield. Nếu kỹ thuật của các nhà văn viết truyện ngắn người Anh ngày nay có phần khác biệt so với kỹ thuật của các bậc thầy thuộc thế kỷ mười chín, tôi tin rằng ít nhiều chúng chịu ảnh hưởng của bà. Ở đây không có chỗ để thuật lại cuộc đời của Bà Mansfield, nhưng vì các tác phẩm của bà phần lớn đều mang tính cá nhân mạnh mẽ, tôi sẽ phải lướt qua một vài điểm. Bà sinh năm 1888 tại New Zealand. Từ sớm bà đã viết một loạt những mẩu truyện nhỏ ít nhiều hứa hẹn và bà quyết tâm trở thành một nhà văn. Cảm thấy cuộc sống của New Zealand tù túng và nhàm tẻ, bà thúc giục cha cho phép bà trở lại Anh Quốc, nơi bà từng đi học cùng các chị gái của mình trong hai năm. Gia đình đáng kính của bà đã phát hoảng khi phát hiện ra bà từng có một chuyến phiêu lưu chóng vánh với một chàng trai trẻ mà bà gặp ở một vũ hội, và dường như điều này đã thúc đẩy họ cho phép bà đi. Cha bà cho bà một khoản trợ cấp thường niên một trăm bảng, số tiền mà vào thời đó nếu biết tiết kiệm, một thiếu nữ có thể sống khá đủ đầy. Ở London bà nối lại quan hệ với một vài người bạn đồng hương. Một người là Arnold Trowell, người đã tạo dựng được tên tuổi như một nghệ sĩ xen-lô. Cô từng yêu anh điên cuồng ở New Zealand, nhưng ở London cô liền hướng trái tim mình về người em trai, vốn là một nhạc công vĩ cầm. Họ trở thành tình nhân. Chi phí ăn uống và nhà ở của một thiếu nữ chưa kết hôn tiêu tốn của cô hai mươi lăm si-linh mỗi tuần và do đó cô chỉ còn mười lăm si-linh để sắm sửa quần áo cùng giải trí tiêu khiển. Cô thấy phiền hà vì phải sống trong cảnh túng thiếu như vậy và, khi một giáo viên âm nhạc, George Bowden, hơn cô mười tuổi, tới hỏi cưới cô, cô đã gật đầu ưng thuận. Cô làm lễ cưới trong một tấm váy đen với một cô bạn là chứng nhân duy nhất. Đêm đó họ về một khách sạn. Cô từ chối trao cho chồng thứ mà anh tin rằng thuộc quyền lợi hôn nhân của mình, và rời bỏ anh ta ngay hôm sau. Sau đó, cô viết một câu chuyện dữ dằn về anh, tên là Ngày của ngài Reginald Peacock. Cô tìm tới tình nhân của mình, bấy giờ đang kéo đàn tại Liverpool, trong dàn nhạc của một đoàn hài kịch lưu động, và người ta nói rằng trong một thời gian ngắn, cô đã tham gia dàn hợp xướng. Cô có thai, nhưng không rõ cô biết chuyện này trước hay sau khi kết hôn một thời gian ngắn. Katherine đánh một bức điện tín về cho cha mẹ ở New Zealand để thông báo về cuộc hôn nhân sắp tới của mình và một bức khác để nói rằng cô đã bỏ chồng. Mẹ cô tìm đến tận Anh để chứng kiến tình hình, và bà hẳn đã rất sốc khi thấy con gái mình đang ở trong tình trạng mà thời Victoria họ gọi là “trong một hoàn cảnh thú vị”. Người ta thu xếp cho cô đến ở cữ tại Wörishofen ở Bavaria. Tại đó, cô đã đọc những câu chuyện của Chekhov, có lẽ qua bản dịch tiếng Đức, và viết những câu chuyện sau này sẽ được xuất bản trong cuốn sách Ở nhà trọ Đức. Do một tai nạn, cô phải nằm viện và đứa trẻ qua đời ngay sau khi sinh. Hồi phục xong, cô trở về Anh.

    Những câu chuyện đầu tiên của Mansfield được đăng tải trên tờ Orage’s New Age và đem lại cho cô một ít sự công nhận. Cô đã giao thiệp với một vài bạn văn của mình. Năm 1911 cô gặp Middleton Murry. Mặc dù vẫn là một sinh viên nhưng anh này đã thành lập một tạp chí có tên Rhythm và anh chấp nhận một câu chuyện mà cô đã viết theo yêu cầu của anh. Đó là Người đàn bà ở cửa hàng. Middleton Murry xuất thân từ tầng lớp hạ trung lưu, nhưng một sự kết hợp khéo léo giữa trí thông minh và tính chuyên cần đã giúp anh đi từ một trường nội trú tới trường Higher Grade, rồi từ đây, nhờ một học bổng, tới được Christ’s Hospital và cuối cùng, lại nhờ một học bổng, cập bến Oxford. Anh quyến rũ và và ưa nhìn. Thực sự thì anh rất đẹp, theo lời Francis Carco, một trí thức người Pháp từng quen biết anh trong một chuyến đi tới Paris, đám gái điếm ở Montmartre đã tranh giành nhau để được lên giường với anh mà không tính phí. Murry yêu Katherine. Điều này thúc đẩy anh thực hiện một bước tiến mà anh vẫn luôn trù trừ; đó là rời bỏ Oxford mà không tham dự kỳ thi đầu vào như mong đợi, và vì anh chẳng có năng khiếu gì đặc biệt ngoài việc thi cử, nên anh phải viết văn để kiếm sống. Oxford làm anh thất vọng và anh cảm thấy nó đã cho anh tất cả những gì anh có thể mong đợi. Fox, gia sư cũ của anh, đã giới thiệu anh với Spender, biên tập viên của tờ The Westminster Gazette, người đã đồng ý cho anh thử việc. Anh đang tìm một nơi ở tại London, và một ngày nọ, khi anh đang dùng bữa tối cùng Katherine, cô đề xuất cho anh thuê một phòng trong căn hộ mà cô đang ở với giá bảy hào sáu xu một tuần. Anh chuyển đến ở cùng. Vì cả hai đều bận bịu cả ngày, cô với những câu chuyện của mình, anh với công việc của tờ The Westminster Gazette, nên họ chỉ gặp nhau vào buổi tối. Sau đó, họ sẽ nói chuyện với nhau, chủ yếu theo kiểu những người trẻ tuổi vẫn thường làm, tôi đoán vậy, về bản thân họ cho tới hai giờ sáng. Vào một buổi tối, sau một khoảng lặng giữa cuộc trò chuyện, cô hỏi anh: “Sao anh không làm người yêu của em?” “Ồ, không,” anh đáp, “điều đó sẽ phá hỏng mọi chuyện. Em không nghĩ vậy sao?” “Chắc vậy,” cô trả lời. Một lúc sau, anh ngạc nhiên khi biết rằng câu trả lời của mình cho lời đề nghị của cô đã khiến cô vô cùng khó chịu. Tuy vậy, ngay sau đó, họ đã làm tình, và theo cuốn tự truyện của Murry, Giữa hai thế giới, họ dự tính sẽ kết hôn ngay khi cô được trả tự do. George Bowden, khả năng là vì oán giận, đã từ chối ly dị. Cặp đôi đến Paris hưởng tuần trăng mật, nhân tiện Murry muốn giới thiệu cô với anh bạn thân Francis Carco của mình. Trên đường về Anh họ sống thi thoảng ở London, thi thoảng ở miền quê. Chưa kịp an cư ở một chỗ nào thì Katherine đã chán ghét nó và họ lại chuyển đi. Trong hai năm họ đã chuyển nhà mười ba lần. Cuối cùng họ quyết định an trú trọn đời ở Paris. Vào khoảng này Murry đã nên danh trong báo giới, và đã có thể tiết kiệm một phần thu nhập của mình; giờ đây anh thu xếp với Spender và với Richmond, biên tập viên của tờ The Times Literary Supplement, để viết những bài viết về nền văn chương Pháp đương đại. Với khoản tiết kiệm của mình, với khoản thù lao mà anh kỳ vọng ở công việc này cùng với khoản trợ cấp của Katherine, họ không mảy may nghi ngờ liệu họ có đủ tiền trang trải hay không.

    Một lần ở Paris, cặp đôi tậu một căn hộ và mang theo từ Anh những đồ nội thất sưu tầm với một cái giá phải chăng. Họ gặp gỡ Francis Carco rất nhiều. Sự hiện diện của anh ta làm Katherine thích thú; anh ta năng nổ và hài hước; và dường như anh ta đã khiến cô cảm nhận được điều mà người Pháp gọi là un petit brin de cour [một chút ve vãn]. Nhưng những bài viết của Murry đồng thời bị từ chối bởi tờ The WestminsterThe Times Literary Supplement và tiền nong trở nên cạn kiệt. Carco không thể giúp họ: trái lại, suốt thời gian qua anh ta còn là một gánh nặng tài chính. Họ đã lâm vào đường cùng. Bỗng Murry nhận được một lá thư từ Spender nói rằng vị trí phê bình nghệ thuật ở The Westminster Gazette sắp bị bỏ trống và nếu anh chịu quay lại đây thì anh sẽ đảm nhận chức vụ này. Họ miễn cưỡng trở về Anh. Đó là tháng Ba năm 1914. Như thường lệ họ sống nay đây mai đó. Vào tháng Tám chiến tranh nổ ra và công việc phê bình nghệ thuật của Murry cũng chấm dứt. Họ dọn tới một chái nhà gianh ở Cholesbury, Buckinghamshire, để được gần D. H. Lawrance và vợ ông, những người mà họ đã đánh bạn. Nhưng nó không thành công. Katherine khao khát cuộc sống thị thành, Murry lại chán ghét nó. Cô bị chứng tê khớp hành hạ và không viết nổi. Họ rất cùng kiệt. Cô phàn nàn rằng Murry không muốn kiếm tiền và không chịu kiếm tiền. Anh chàng hầu như không có cơ hội làm điều đó. Họ tức bực nhau tới nỗi đến Giáng Sinh, cả hai ngầm hiểu rằng họ sắp chia tay. Katherine và Francis vẫn thư từ qua lại kể từ khi Murry và bà rời Paris. Có lẽ cô coi trọng những lá thư của Francis hơn anh ta dự tính, bởi dường như cô nghĩ rằng anh ta yêu mình. Liệu cô có yêu anh ta không thì không ai biết được. Anh ta quyến rũ và cô muốn rời xa Murry. Cô nghĩ rằng Francis Carco có thể đem đến cho cô niềm hạnh phúc mà Murry giờ đây không thể đem lại được nữa. Murry, người hiểu rõ Francis hơn cô, cả quyết rằng cô đang tự huyễn hoặc mình, nhưng không hề cố gắng khuyên giải. Em trai của Katherine, Leslie Heron Beauchamp, đến Anh để tòng ngũ và trao cô tiền để sang Pháp đoàn tụ với Francis Carco. Vào thứ Hai, ngày 15 tháng Hai, Murry tiễn cô đến London, và hai hoặc ba ngày sau đấy cô rời đi Paris.

    Carco đã bị gọi nhập ngũ và đóng quân tại một nơi gọi là Gray. Doanh trại nằm trong khu vực cấm phụ nữ, khiến Katharine gặp khó khăn khi đến đó. Carco đón cô tại nhà ga và đưa bà đến căn nhà nhỏ nơi anh ta trú ngụ. Cô ở lại với anh ta ba ngày rồi trở về Paris – trong cảm giác thất vọng cay đắng. Nguyên do thì chỉ có thể phỏng đoán. Đột nhiên Murry nhận được điện tín từ Katherine báo rằng cô sẽ trở về và sẽ có mặt tại Victoria vào 8 giờ sáng hôm sau. Khi đến nơi, cô bảo anh (phải thừa nhận là có phần thiếu tế nhị) rằng cô sẽ không quay lại với anh, và cô đến đây chỉ vì không còn nơi nào khác để đi. Họ lại tiếp tục chung sống trong trạng thái mà Murry gọi là “một kiểu đình chiến mệt mỏi”. Chuyến phiêu lưu của Katherine đã cung cấp chất liệu cho câu chuyện mang tên Je ne Parle pas Français. Trong đó, cô vẽ một bức chân dung cay nghiệt, nhưng hoàn toàn bất công, về Francis Carco và một bức chân dung ác độc về Murry. Cô đưa bản đánh máy cho anh đọc, và anh đã vô cùng đau khổ – điều mà chắc chắn cô muốn anh phải chịu đựng.

    Tôi có thể lướt nhanh quãng đời ngắn ngủi còn lại của Katherine một cách vắn tắt. Cuối cùng đến khoảng năm 1918, George Bowden ly dị bà, Katherine và Murry đã có thể kết hôn. Sức khoẻ của bà rất kém. Suốt những năm trước bà đau ốm triền miên và từng thực hiện ít nhất một ca phẫu thuật nghiêm trọng. Bây giờ bà phải chịu đựng chứng lao phổi. Sau khi được điều trị bởi vô số bác sĩ, Murry khuyên nhủ bà nên thăm khám một chuyên gia. Vị bác sĩ đến. Katherine nằm trên giường và Murry chờ ở dưới tầng để đón nhận kết quả của buổi thăm khám. Vị chuyên gia, lúc xuống lầu, nói với ông rằng bà chỉ còn một cơ hội duy nhất, đó là vào nhà an dưỡng ngay lập tức. Nếu không, bà sẽ khó lòng sống nổi hai hoặc ba năm – tối đa là bốn năm. Tôi xin trích dẫn từ tự truyện của Murry:

    “Tôi cảm ơn ông ấy (vị bác sĩ), tiễn ông ra ngoài rồi lên gặp Katherine.

    ‘Ông ấy nói em phải đến nhà an dưỡng,’ cô nói. ‘Em sẽ chết ở đấy mất.’ Rồi cô liếc nhìn tôi thật nhanh, đầy hoảng sợ. ‘Anh có muốn em đi không?’

    ‘Không,’ tôi buồn rầu đáp. ‘Có ích gì đâu?’

    ‘Anh tin rằng nó sẽ giết chết em?”

    ‘Phải, anh tin,’ tôi đáp.

    ‘Anh tin em sẽ khoẻ lên?’

    ‘Phải,’ tôi trả lời.”

    Thật kỳ lạ khi cả bác sĩ lẫn Murry không nghĩ đến việc đề nghị Katherine thử vào viện điều dưỡng một tháng để xem bà cảm thấy thế nào. Có một nhà an dưỡng tử tế ở Banchory tại Scotland; tôi cho rằng bà sẽ thấy cuộc sống ở đây đủ dễ chịu, và tôi không nghi ngờ rằng bà sẽ tìm được chất liệu cho một câu chuyện. Các bệnh nhân ở đó muôn hình vạn trạng. Có vài người đã trú lại đó nhiều năm trời vì họ chỉ có thể sống nếu sống ở đó. Những người khác điều trị xong rồi rời đi. Một vài người qua đời, và họ qua đời trong an yên và, tôi nghĩ, không luyến tiếc gì. Tôi nói những điều tôi biết, vì đó là chuyện đã xảy ra hồi tôi ở Banchory cùng thời gian Katherine có thể đã tới đây. Lẽ ra tôi đã gặp bà. Chắc chắn bà sẽ lập tức nuôi có mối ác cảm với tôi, nhưng điều đó không quan trọng.

    Kể từ đó, trong công cuộc phục hồi sức khoẻ đầy tuyệt vọng của mình, Katherine sống ở nước ngoài cùng một người bạn, Ida Baker, đi theo để chăm sóc bà. Ida Baker là một phụ nữ trạc tuổi bà, tận hiến cuộc đời mình để phục vụ. Katherine đối xử với cô còn kém cả một con chó, châm chọc cô, sỉ vả cô, ghét bỏ cô, đôi lúc có thể đã giết cô, nhưng đồng thời lợi dụng cô một cách vô liêm sỉ; và Ida Baker vẫn là kẻ bầy tôi trung thành, tận tuỵ. Katherine vô cùng ích kỷ, dễ bất chợt nổi cơn tam bành, cực kỳ đay nghiến, khắt khe, cay nghiệt, ích kỷ, ngạo mạn và hống hách. Điều này không khơi gợi một tính cách dễ chịu, nhưng thực tế bà vô cùng hấp dẫn. Clive Bell, người quen của bà, nói với tôi rằng bà rất quyến rũ. Bà có khiếu hài hước chua cay và khi muốn thì có thể rất thú vị. Công việc của Murry buộc ông phải ở lại London và thi thoảng ông mới có thể gặp Katherine. Họ đã thư từ rất nhiều. Sau khi Katherine mất, Murry đem công bố những bức thư bà gửi cho ông, nhưng tất nhiên, tôi cho rằng, không thêm những bức thư của ông vào, vì vậy bạn chỉ có thể dò đoán mối quan hệ giữa họ trong thời kỳ này ra sao. Phần lớn những bức thư của bà đều rất trìu mến, nhưng khi ông làm bà khó chịu, chúng hết sức cay nghiệt. Cha của Katherine dần dần tăng tiền trợ cấp cho con, và giờ đây lên tới hai trăm năm mươi bảng Anh một năm, nhưng bà vẫn thường xuyên túng thiếu. Có lần, bà viết thư nói với Murry rằng bà có một khoản chi bất ngờ; sau đó, bà thảo một bức thư phẫn nộ vì ông không chịu gửi tiền ngay lập tức, khiến bà phải nhục nhã ngửa tay xin ông. Ông đã thanh toán các hóa đơn y tế và chi phí bệnh tật cho bà. Ông nợ nần lút đầu. “Nếu tài chính eo hẹp,” bà hỏi ông, “sao ông còn sắm một chiếc gương?” Người đàn ông tội nghiệp vẫn phải cạo râu. Khi Murry được bổ nhiệm làm biên tập viên của tờ The Athenæeum với mức lương tám trăm bảng một năm, Katherine đã dứt khoát ra lệnh rằng ông phải gửi cho bà mười bảng mỗi tháng. Nếu ông chủ động đề nghị như vậy hẳn sẽ rất lịch sự. Có lẽ ông khá keo kiệt trong việc chi tiêu. Điều đáng bận tâm là khi Katherine gửi cho ông một bài viết để đánh máy, bà đã nói rõ với ông rằng bà sẽ phải trả tiền cho bài viết đó. Đó là một sự xúc phạm có chủ đích.

    Sự thật là ngay từ đầu họ đã không hợp nhau. Murry, dù chu đáo hơn, nhưng cũng ích kỷ như Katherine. Dường như ông không có khiếu hài hước, nhưng ông tốt bụng, điềm tĩnh, bao dung và vô cùng kiên nhẫn. Như chúng ta đều biết, ghen tuông có thể là nỗi thống khổ một khi tình yêu đã chết, và tuy Murry không còn yêu Katherine nữa, nhưng chắc hẳn việc bà rời bỏ ông để đến với một gã đàn ông khác là một đòn lăng nhục; và khi mà, sau trải nghiệm đáng thất vọng với Francis Carco, ông đã đón bà trở lại, đó là một sự hào phóng, thậm chí rộng lượng. Không có dấu hiệu cho thấy bà từng tỏ ra biết ơn ông. Bà mặc nhiên coi những gì ông làm cho mình là xứng đáng. Tuy Murry (theo cách nói hiện tại) khá “sướt mướt”, những lời phê bình của ông cho các câu chuyện của Katherine rất có giá trị đối với bà. Về sau, ông đã viết cuốn Cuộc đời của Swift, được mọi người đồng thuận là cuốn sách hay nhất từng viết về một nhân vật nham hiểm nhưng lại là một văn sĩ tài ba.

    Vị chuyên gia người Anh đã tiên lượng chính xác. Ông cho Katherine tối đa bốn năm để sống. Sau khi dành một thời gian ở Riviera tại Ý, rồi đến Pháp, và sau đó ở Thuỵ Sĩ, bà nhập Viện Gurdjieff tại Fontainebleau như một cơ hội cuối cùng. Bà qua đời tại đó vào đầu năm 1923, khi mới ba mươi tư tuổi.

    Phần lớn mọi người đồng tình rằng Katherine chịu ảnh hưởng to lớn từ Chekhov. Middleton Murry phủ nhận điều này. Ông tuyên bố bà vẫn có thể viết nhưng câu chuyện của mình y như thế ngay cả khi chưa từng đọc Chekhov bao giờ. Tôi nghĩ ông đã sai. Tất nhiên bà sẽ viết truyện, điều này ăn sâu vào máu của bà; nhưng tôi tin nếu thiếu Chekhov thì những câu chuyện đó sẽ rất khác. Những câu chuyện của Katherine Mansfield là tiếng lòng của một người phụ nữ cô đơn, nhạy cảm, ốm đau và thần kinh bấn loạn, chưa bao giờ cảm thấy hài lòng với châu Âu là nơi mà mình đã chọn để sống. Đó là nội dung của chúng. Hình thức của chúng chịu ơn Chekhov. Cấu trúc của truyện ngắn trong quá khứ rất đơn giản. Nó bao gồm A, bối cảnh, B, giới thiệu nhân vật, C, họ làm gì và điều gì xảy đến với họ, và D, kết cục. Đây là một cách kể chuyện nhàn nhã và tác giả có thể tuỳ ý co giãn độ dài của truyện; nhưng khi đó các tờ báo bắt đầu xuất bản những câu chuyện mà dung lượng của chúng bị giới hạn một cách nghiêm ngặt. Để thoả mãn yêu cầu này, tác giả phải áp dụng kỹ thuật phù hợp; y phải loại bỏ mọi thứ không cần thiết khỏi câu chuyện của mình. A, bối cảnh, nhằm đặt người đọc vào một trạng thái tinh thần thích hợp để thưởng thức câu chuyện hoặc tăng tính chân thực; nó có thể dễ dàng bị gạt bỏ, và ngày nay nhìn chung là vậy. Tuy vậy, chừa lại phần D, kết cục, cho độc giả tự tưởng tượng chẳng khác nào một canh bạc. Độc giả bị cuốn vào các tình huống được mô tả trong truyện, và nếu tác giả không nói cho họ kết cục ra sao thì họ có thể cảm thấy bị lừa gạt, nhưng khi kết cục đã rõ ràng, bỏ qua nó lại là điều sáng suốt và hiệu quả. Truyện ngắn Người đàn bà có con chó nhỏ của Chekhov là một minh chứng hoàn hảo. B và C là thiết yếu, thiếu chúng sẽ không có câu chuyện nào cả. Rõ ràng là một câu chuyện đưa người đọc ngay vào trung tâm sự việc sẽ đem lại sự kịch tính giúp thu hút và giữ chân người đọc. Chekhov đã viết hàng trăm truyện theo hướng này và với sự nổi tiếng ngày càng tăng, khi đã có thể viết những câu chuyện dài hơn trên tạp chí, ông vẫn sử dụng mô típ mà mình quen thuộc.

    Kiểu mẫu này rất phù hợp với bản chất tính khí cũng như năng lực của Katherine Mansfield. Bà sở hữu một tài năng khiêm tốn nhưng tinh tế. Tôi nghĩ rằng những người hâm mộ quá khích đã đưa ra những tuyên bố mà tác phẩm của bà khó lòng chứng minh nổi. Năng lực sáng tạo của bà rất hạn chế. Sáng tạo là một năng lực kỳ lạ. Nó là một đặc tính của tuổi trẻ và sẽ mai một dần theo tuổi tác. Điều đó hết sức tự nhiên, vì nó là sự đúc kết của kinh nghiệm, và năm tháng qua đi, những sự kiện trong cuộc sống không còn đem lại cảm giác mới mẻ, hứng khởi, kích thích như thời thanh xuân nữa, và do đó không còn khơi gợi tác giả thể hiện chúng. Vốn sống của Katherine khá hạn hẹp. Bà biết mình cần nó. Murry, với vẻ hơi bất bình, nói rằng “cô ấy muốn tiền bạc, xa hoa, những chuyến phiêu lưu, đời sống đô thị”; dĩ nhiên là bà ấy muốn, vì chỉ khi đó bà ấy mới có thể tìm được chất liệu cho những câu chuyện của mình. Nhà văn hư cấu, để nói lên sự thật đúng như cách họ nhìn nhận, phải dấn thân vào cuộc sống xô bồ. Nếu từ điển nói rằng một câu chuyện là một bản tường thuật về những sự kiện đã xảy ra hoặc có thể đã xảy ra, thì phải công nhận rằng Katherine Mansfield không có năng khiếu kể chuyện xuất chúng. Năng khiếu của bà nằm ở chỗ khác. Bà có thể nắm bắt một tình huống và phô bày tất cả sự mỉa mai, cay đắng, bi thương và bất hạnh ẩn chứa trong đó. Một ví dụ về điều này là câu chuyện mang tên Tâm lý học. Bà đã viết một vài truyện ngắn khách quan, chẳng hạn như Người con gái viên Đại tá hay Mấy bức tranh; chúng là những truyện hay, nhưng bất kỳ nhà văn có năng lực nào cũng có thể viết chúng; còn những truyện đặc trưng nhất của bà là những truyện thường được gọi là truyện về bầu không khí. Tôi đã hỏi nhiều bạn văn của mình về ý nghĩa của từ “bầu không khí” trong ngữ cảnh này; nhưng họ không thể, hoặc không muốn, đưa ra một lời giải đáp hoàn toàn thoả đáng. Từ điển Oxford cũng chẳng giúp ích. Nó đưa ra định nghĩa hiển nhiên, “theo nghĩa bóng, yếu tố tinh thần hoặc đạo đức xung quanh môi trường.” Trên thực tế, nó dường như hàm nghĩa là những chi tiết trang trí mà bạn dùng để tô điểm cho một câu chuyện, mỏng manh đến mức nếu không có chúng, câu chuyện sẽ không tồn tại. Katherine Mansfield đã làm được điều này bằng tài năng và sự duyên dáng nơi bà. Bà sở hữu một năng khiếu quan sát thực sự đáng nể và có thể mô tả những hiệu ứng của thiên nhiên, hương vị đồng nội, gió và mưa, biển và trời, cây cối, hoa lá với một cảm quan tinh tế hiếm thấy. Một trong những năng khiếu của bà là khả năng truyền tải nỗi đau lẩn khuất đằng sau những gì thoạt nhìn chỉ là một cuộc đàm thoại bình thường bên bàn uống trà; và hỡi ôi, đó chẳng phải điều dễ dàng. Bà viết theo một phong cách trò chuyện dễ chịu, và bạn có thể đọc ngay cả những câu chuyện nhỏ nhặt nhất của bà với niềm thích thú. Chúng không đọng lại trong trí nhớ của bạn, chẳng hạn, như Viên mỡ bò của Maupassant hay Phòng số 6 của Chekhov; có lẽ vì lưu giữ một sự kiện dễ hơn một cảm xúc. Bạn có thể nhớ việc ngã cầu thang và trẹo mắt cá, nhưng không phải cảm xúc khi yêu. Nhưng liệu việc câu chuyện đọng lại trong bạn có phải một phẩm chất của một câu chuyện hay hay không thì tôi không dám cho ý kiến.

    Khi sống ở New Zealand, chẳng điều gì làm Katherine Mansfield hài lòng, nhưng sau này, khi nước Anh không đáp ứng kỳ vọng của bà, khi sức khoẻ ngày càng suy yếu, bà lại hồi tưởng về những năm tháng đầu đời ở đó. Có những lúc bà ước mình chưa từng rời đi. Nhìn lại, cuộc đời khi đó bà đã sống gần như trọn vẹn, phong phú và tuyệt vời. Bà không thể không viết về nó. Câu chuyện đầu tiên bà viết có tên là Khúc dạo đầu. Bà viết nó khi bà cùng Murry đang dành ba tháng ở Bandol trên vùng Riviera của Pháp, và khi họ chung sống hạnh phúc hơn bao giờ hết hoặc không bao giờ hạnh phúc được nữa. Bà định đặt tên cho câu chuyện là Lô Hội và chính Murry đã gợi ý bà nên gọi nó là Khúc dạo đầu. Tôi cho rằng ông cảm thấy rằng nó không hẳn là một câu chuyện mà là bối cảnh cho một câu chuyện. Bà đã khởi sự nó, như ta đã biết, với ý đồ xây dựng một cuốn tiểu thuyết, và có lẽ vì lý do này mà nó có phần vô dạng. Sau đó, bà đã viết một loạt những câu chuyện khác có cùng bối cảnh: Một chuyến đi, Vịnh lưỡi liềmTiệc vườn. Một chuyến đi mô tả một đêm của một cô bé vốn được bà ngoại nuôi nấng, xuôi theo hải trình từ một cảng biển ở New Zealand đến một cảng biển khác. Không gì có thể dịu dàng hay quyến rũ hơn. Những câu chuyện khác là về cha, mẹ, anh trai, chị gái, anh em thúc bá và hàng xóm của cô bé. Chúng tươi mới, sống động và tự nhiên. Chúng ta biết rõ Katherine đã dành rất nhiều tâm huyết cho chúng, nhưng chúng sở hữu một bầu không khí tự phát đầy mê hoặc. Chúng không chứa đựng sự cay đắng, vỡ mộng, hay bi ai như rất nhiều câu chuyện khác của Katherine. Theo tôi, đó là những tác phẩm hay nhất bà từng viết.

    Tôi được biết rằng truyện của Katherine Mansfield không được đánh giá cao như hồi những năm 1920. Thật đáng tiếc nếu bà bị lãng quên. Tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Suy cho cùng, chính cá tính của tác giả đem lại cho tác phẩm sự hấp dẫn đặc biệt. Chẳng quan trọng nếu đó là một cá tính hơi kỳ quặc như Henry James, có phần thô tục, như Maupassant, hơi phô trương hào nhoáng như Kipling – miễn là tác giả có thể trình bày nó, một cách chân thực và độc đáo, tác phẩm của họ sẽ có sức sống. Đó chắc chắn là điều Katherine Mansfield đã làm được.


  • Mạt kiếp (truyện ngắn)

    Đọc thử

    Sáng hôm ấy khi Thịnh đến văn phòng của Ban Chỉ huy Quân sự, cửa để ngỏ, bên trong duy có hai người. Ông chỉ huy trưởng, tuổi trạc năm mươi, người mà chỉ trông dáng dấp bệ vệ cũng phần nào đoán biết được tầm quan trọng của ông ta ở cái phòng ban này, đang ngồi lút sâu trong chiếc ghế bành ở giữa phòng, đằng sau chiếc bàn gỗ dài, trông vững chãi như một bức tượng bán thân. Ông ta mặc sơ mi cộc tay cổ cồn màu trắng có hoạ tiết chấm bi màu đen, mặt mày đỏ gay, vẻ nghiêm cẩn. Ngồi cách ông ta không xa, ngay cửa ra vào, là một anh chàng trạc hai nhăm tuổi, mặc sơ mi trắng và quần âu màu tím than, thoạt trông mặt mũi thì giống lính tráng hơn là viên chức, có lẽ chuyên lo chạy việc và mấy chuyện điếu đóm. Cả hai người đều đang mải miết lật giở giấy má, cơ hồ chẳng mấy để tâm tới sự xuất hiện của vị khách trẻ tuổi.

    Thịnh tiến thẳng tới bàn ông chỉ huy trưởng. Anh vừa dợm mở lời thì ông ta đã nhướng mày, dùng tay nâng gọng kính, mắt trố ra, hỏi anh bằng giọng quan phương: “Cậu đến đây có chuyện gì?”. Thịnh dè dặt trình bày vấn đề, nhưng nhờ đã chuẩn bị trước, anh khéo léo đế thêm rằng ông Hồng phó chủ tịch, vốn là chỗ quen biết, vừa bày anh qua đây xin giấy tạm hoãn. Vừa nghe cái tên ấy, những nếp nhăn trên gương mặt phừng phực của ông chỉ huy tức thì giãn ra.

    “Thế ra chỗ thằng kia,” ông ta ôn tồn nói và liếc mắt ra hiệu.

    Thịnh vừa gật gù quay đầu vừa tấm tắc nghĩ thầm: “Đúng là có quan hệ thì đi đâu, làm gì cũng dễ!”. Đúng lúc đó thì anh chàng kia cũng ngẩng mặt lên. Đôi bên ngớ ra vài giây. Liền đó anh chàng kia cất giọng hoà nhã:

    “Ô, hoá ra chú đấy à?”

    Tuấn và Thịnh quen nhau từ những ngày cấp ba. Tuấn hơn Thịnh bốn tuổi, bố làm cai còn mẹ cặp bồ bên nước ngoài rồi không về nữa. Đôi bên không thân thiết gì cho cam, nhưng vì cùng làng nên họ ít nhiều chung nhau những thói tật của thời niên thiếu, và khi gặp nhau ngoài đường, họ vẫn gật đầu chào nhau chiếu lệ. Không hiểu sao nhưng mỗi lần nghĩ về Tuấn, Thịnh luôn nhớ lại cái vóc dáng dong dỏng, làn da đồng thau rắn rỏi, khoẻ khoắn, cùng gương mặt ram rám, cùng ánh mắt hiền hoà – dạo còn trẻ, anh chàng ấy nổi tiếng về nết nhu mì, nhẫn nại. Nhưng bây giờ ở giữa căn phòng nhỏ, Thịnh nhìn cái chóp mũi to, cái cà vạt đỏ chấm bi đen rộng bản quê mùa, cặp lông mày thưa mọc lộn xộn, cái vai rộng, cái cổ ngắn và gù, anh thấy bạn sao mà thô kệch, sao mà thay đổi nhiều và chóng quá. Có lẽ đây là cái họ hay gọi là “ra dáng”. Ánh mắt cương nghị đã không còn nữa, mà bây giờ trông tinh ranh, thậm chí phảng phất nét ma mãnh và, còn phỉnh nịnh là khác. Tuấn đang so vai, bàn tay thô kệch đen đúa lật giở từng tập hồ sơ trắng muốt và vừa chấm ngón tay lên miệng, vừa hỏi hú hoạ vài lời.

    “Anh tưởng chú tếch sang nước ngoài từ đời nào rồi,” Tuấn mở lời. “Dạo này làm ăn thế nào?”

    “Em vẫn đang học anh ạ,” Thịnh đáp, và mau miệng đế thêm: “Bách Khoa.”

    “Ngành gì thế?”

    “Em nói ra chắc anh cũng chẳng biết.”

    “Nhưng cứ nói đi chứ! Ô mày khinh anh mày à? Anh đây biết hết đấy nhé!”

    “Thôi được rồi, khoa công nghệ sinh học… Đấy, em bảo mà, anh biết làm sao được.”

    Cả hai cùng nhìn nhau và nghếch đầu cười như con trẻ. Ông chỉ huy trưởng bước lại gần, giắt nách một cuốn sổ bìa da và một cây bút bi, căn dặn Tuấn vài lời gì đó rồi tất tả rời đi – ông phải tham dự một phiên họp.

    “Chuyện gì thế?” Thịnh hỏi khi ông ta vừa đi khỏi.

    “Ra xin dấu ở trạm xá,” Tuấn đáp, đoạn đóng nắp chiếc bút bi rồi chặn nó ngay trên xấp giấy trắng. “Nào, đi!”

    “Anh xong việc rồi à?”

    “Việc thì bao giờ làm chả được.”

    Đôi bạn men theo bìa rừng, chuyện trò bâng quơ và chẳng mấy đã đến trước cổng bệnh xá. Đó là một dãy nhà ba tầng cũ kỹ với những phòng ban nối dài, trước ban công có giậu hoa giấy lổ đổ trắng hồng tưới mình dưới cái nắng ban trưa. Thịnh ngồi đợi ở hàng ghế đá dưới cây bằng lăng, bên cánh cổng thép mở toang. Tuấn sải những bước dài, vẻ khẩn trương. Hôm ấy trời oi nồng, nóng bức, từ trên cao thấy màn trời xam xám vẩn đục, bên dưới là những thửa ruộng cằn cỗi trải dài, cỏ dại mọc tua tủa khắp gò đê, có thể nghe rõ tiếng đưa liềm lạo xạo đều đều. Mùi khen khét từ xa đưa tới, có tiếng nổ lách tách của đống rơm gần đó. Cảnh buồn tênh, ngái ngủ, và có cảm tưởng mặt đất đang bốc hơi, còn thời gian thì như ngưng đọng lại.

    “Thế là cũng bốn, năm năm rồi đấy!” Tuấn trở ra sau năm phút, vừa ngồi xuống cạnh Thịnh vừa nói. “Mới ngày nào còn ngồi quán điện tử với nhau. Dạo này còn chơi không em?”

    “Em bỏ rồi anh ạ,” Thịnh đáp.

    “Ừ, học hành bận bịu thì cũng bỏ dần thôi! Chơi lắm hại người ra. Tao thì tối tối vẫn chơi nhưng cũng thưa rồi. Ha ha, nghĩ lại mới thấy ngày xưa tụ tập vui thật nhỉ?”

    “Ừ, vui thật anh ạ! Giờ chỉ biết ước thôi!”

    Thịnh bỗng nhớ lại một thời ngây dại từng trốn gia đình ra quán điện tử thâu đêm suốt sáng. Những hồi ức từ thưở thiếu niên, những trò chơi ngu lấy tiếng, những lần xốc nổi cái tuổi mới lớn, bất chợt ùa về trong tâm trí anh, và anh cảm thấy nhẹ nhõm, bồi hồi – nó tựa như cái cảm giác dịu ngọt khi ta chỉ nhớ mang máng về một giấc mơ tươi đẹp; và vẻ mặt Thịnh lúc ấy nom hiền hoà, gần như lơ đãng. Đôi bạn tiếp tục chuyện trò, người này bổ sung hồi ức của người kia. Rồi bằng giọng ề à, Tuấn thuật lại chuyện năm năm trước, sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh ta không học đại học mà tòng ngũ ngay, nhờ tư chất tốt nên được cấp trên chú ý, ra quân được cất nhắc vào uỷ ban làm việc. Thịnh biết ông chủ tịch xã là họ hàng của bạn, nhưng vì tế nhị nên anh chỉ lẳng lặng gật đầu.

    “Nhưng ban nãy mày bảo mày học ngành gì ấy nhỉ?” Tuấn châm một điếu thuốc và hỏi. “Sinh học gì gì ấy? Học cái đấy xong ra làm cái gì?”

    “Viện nghiên cứu, anh ạ, đại loại thế,” Thịnh đáp sau một thoáng nghĩ ngợi. “Em cũng chưa biết nữa, tạm thời vẫn đang mông lung lắm.”

    “Thế là chú cứ ở trên Hà Nội thôi à?”

    “Vâng, chắc phải thế. Anh bảo về quê lấy đâu ra việc.”

    “Ừ, nghe cũng gay go nhỉ? Chú học năm mấy rồi?”

    “Em học lên kỹ sư nên năm sau mới lấy bằng anh ạ.”

    “Cũng tốn phết ấy nhể?” Tuấn hỏi khẽ như thể đây là chuyện hết sức tế nhị.

    “Tốn chứ anh,” Thịnh đáp bằng giọng khẽ y chang, “nhưng cái gì cần chi thì vẫn phải chi thôi.”

    “Ờ, thế là ngon quá rồi.”

    “Dạ.”

    Cả hai cùng im lặng một lát.

    “Này, chỗ anh em với nhau thì tao kể, mày nghe nhưng chớ có để bụng nhé,” Tuấn nói. “Tao chẳng bịp mày làm gì, bạn bè tao cũng đổ xô đi học đại học tuốt. Toàn học mấy trường làng nhàng, lấy xong bằng thì vẫn về quê xin việc như công nhân bình thường. Đến lúc đấy thì những người không học đại học đã có hai, ba năm kinh nghiệm rồi, hoặc đi nước ngoài thì có khi đã huề vốn và tích cóp được một khoản kha khá, rồi sau này về nước, có ít vốn trong tay, đến đấy làm gì mà chẳng được. Có kinh tế thì làm gì cũng dễ em ạ! Đấy, anh nói thế mày nghĩ thử xem có đúng không?”

    Thịnh ậm ừ giây lát rồi trả lời, giọng khô khốc:

    “Có lẽ thế, nhưng dân nhà quê không người chống lưng thì học tập là con đường ngắn nhất rồi.”

    “Tốt nhất là cứ đi nghĩa vụ! Trông mày dáng dấp thế này có khi học xong người ta vẫn bốc đi đấy. Vào đấy rồi quân đội họ rèn cho, bao ăn bao ở, ra quân cầm về hai chục triệu, lúc đấy thích làm gì thì làm. Như anh đây, trước cũng lông ba lông bông, mà nói thật nhé, giờ nhớ lại anh còn chẳng biết mình đã làm những gì… Nhưng bây giờ thì tỉnh ngộ rồi! Ở quê thế mà lại nhàn, trưa về ăn cơm với gia đình, đánh một giấc rồi chiều lại đến cơ quan, tối thích thì cà phê cà pháo, còn không thì thể thao. Bọn trẻ như mày thì ở quê là kêu chán, chỉ thích đâm đầu lên thành phố hít bụi mịn thôi, mà mấy ông bà nhà quê thì cứ tấm tắc con tôi học trên Hà Nội, nào có biết được bao nhiêu đồng gửi lên thì mấy ông con đem đi nướng hết.”

    “Về quê giờ chỉ có chết đói.”

    “Mày cứ nói lằng nhằng. Chết là chết thế nào! Anh mày còn đang sống sờ sờ ra đây.”

    “Nhưng anh… thôi, kệ đi!”

    Đôi bạn cùng đoán biết được câu nói kia qua ánh mắt nhau. Bầu không khí nãy giờ thân mật, thoáng chốc trở nên gượng gạo, bí bách thế nào ấy. Chẳng còn gì để nói nữa, cả hai mỗi người nhìn về một hướng, theo đuổi những dòng suy nghĩ riêng biệt. Tuấn nghĩ gì? Anh ta chẳng nghĩ gì cả, anh ta đã tập được cái thói trò chuyện vô thưởng vô phạt như đọc thuộc lòng, chẳng cần ngẫm ngợi về chúng quá nhiều. Còn những phản biện trong đầu Thịnh cứ sôi lên sùng sục, có cảm tưởng nếu không được thoát ra khởi vòm miệng, khỏi lỗ mũi, lỗ tai thì nó sẽ bật tung cái chỏm đầu anh mất, và vừa hổ thẹn vì tỏ ra đuối lý, vừa giận dỗi vì mếch lòng, anh chủ động đứng dậy cáo lui, bịa ra một cái cớ mà tự anh cũng thấy là ngu si hết mức: đi mua cho mẹ ít đồ. Anh cố ghìm hơi thở của mình.

    Tuấn nài anh vào ngồi cùng mình trong văn phòng thêm một chốc, và vì cả nể, anh liền vào theo. Bấm điện thoại và trò chuyện bâng quơ được chừng ba mươi phút, tóm ngay lấy lúc ông chỉ huy trưởng trở về, Thịnh chào anh bạn viên chức một cách qua quýt rồi một mình về thẳng, bước nhanh như thể sợ có người theo chân mình.

    Bước ra ngoài, anh cảm tưởng như mình vừa bị dìm xuống nước và nay đã ngoi được lên. Một cánh đồng trơ trọi trải dài, hay một sa mạc mêng mang cũng không thể tẻ nhạt hơn cái cục đá ngồi cạnh anh ban nãy. Nghe một gã ít học rao giảng sự đời, anh cảm tưởng như bị tra tấn. Giờ đây còn lại một mình, anh thủng thẳng tản bước, khí trời thoáng đãng giúp anh tư duy rành mạch, suy nghĩ trong anh thấu suốt hơn; anh cuộn tròn tờ giấy trên tay như một cái ống nhòm, và anh nghĩ:

    “Chậc, thằng cha ấy đụt thật! Thế mà cũng gọi là tương lai của nước nhà. Đúng làm một cái đầu đúc khuôn. Nhưng nó nói cũng có ý đúng. Không thể phủ nhận. Có không ít người học đại học ra rồi vẫn phải cày cục xin việc, rằng bốn năm giảng đường chỉ là sự trì hoãn cuộc chiến với đời, chứ chẳng phải khâu chuẩn bị hay gì sất.”

    Nhưng Thịnh còn trẻ, bầu máu nóng luôn sôi sục, và cho mình là người có thiên tư, anh tự tin nghĩ rằng những trường hợp bất trắc ấy sẽ trừ anh ra. Là người dễ kích động nhưng cũng dễ nguôi khuây, anh sẵn lòng miễn thứ cho sự thiển cận của Tuấn, nhưng anh cũng vừa khoái trá vừa cay đắng nghĩ rằng tuổi đời chẳng khiến con người ta thêm sáng suốt được bao. Suy cho cùng, Tuấn chỉ là một anh viên chức tốt số, may mắn được người nhà cất nhắc vô một chức vụ nhàn tản, ở đó, cuộc đời y sẽ trôi qua nhàn tản y thế, và cái thân hình phổng phao của gà dần dà sẽ trở thành một con ngỗng căng dù, no nê vì những bữa rượu chè và mãn nguyện với cái chức nghiệp hèn mọn của gã. Y hẳn sẽ hạnh phúc lắm bởi y đâu nghĩ con người ta cần sống và chiêm nghiệm về cuộc sống. Y không bao giờ phải dừng lại để ngẫm nghĩ xem mình sẽ đi đâu, làm gì, vì con thuyền đời y đã được cấp sẵn cho một hải trình. Dẫu sau này y có leo lên tới chức chủ tịch thì anh vẫn nhìn y không hơn một thằng cha hãnh tiến. Một con người dù tầm thường nhất cũng chưa bao giờ làm ta hết ngạc nhiên, cái anh Tuấn ngày nào còn áo quần xộc xệch, bản mặt cù lần, thân hình quá khổ vắt vẻo trên chiếc xe cà tàng, thế mà giờ đã sơ mi cà vạt tươm tất, đầy đủ lệ bộ, chĩnh chện trên chiếc ghế bọc da, từ gương mặt cho đến thần thái đều tỏ rõ ta đây là người quan trọng, là cán bộ đàng hoàng đấy nhé!

    Uỷ ban nằm trên một con dốc nơi xưa kia là mỏm đồi, con đường trải dài xuống đường cái, hai bên những con trâu, cái nghé mình mẩy bê bết bùn lầy, đóng vảy như sáp, đám ruồi nhặng vo ve quanh cái đuôi phất phơ như nhành lau của chúng. Chúng chậm rãi nhai cỏ, liếc đôi mắt đen nhánh nhìn khách qua đường; nhìn chúng, có lẽ đôi khi người chỉ ước được sống một cách vô tư, nhàn hạ như thế… Phải rồi, Thịnh nghĩ, ý chí tự do là thứ tách biệt con người văn minh với đám súc vật. Và anh ủ ê với ý nghĩ rằng nhiều người sống chẳng hơn đám súc vật là bao… Con trâu nó ngủ, nó nhẩn nha nhai cỏ, nó nhúng mình trong bùn, trông nó thong dong, vì chỉ cần cái bụng nó no, cái thân nó ấm, là nó mãn nguyện, thở phì phò. Đến tối người ta nhốt nó vào chuồng, ban ngày thả ra, ngày nào nó cũng làm ngần ấy thứ việc. Còn con người, con người đâu chỉ sống vì tiền, vì danh vọng, hay vì những bữa ăn ngon… mà phải phát triển, phải đi lên, phải trau dồi. Ấy mà suy cho cùng, nhiều con người được cho là học thức, tiến bộ, quan trọng, cũng đâu khác nào một tốp thợ thủ công, với những đầu việc được giao sẵn, những thao tác lặp đi lặp lại, những vấn đề cũng lặp đi lặp lại y thế, những buổi họp quẩn quanh mãi một đề tài, như thể một chu trình tuần hoàn. Những người này, họ thông thuộc công vụ tới mức bàn tay và trí não thoăn thoắt vào việc như một con nhện giăng tơ, nhưng nghĩ mà xem, trước khi giăng tơ, con nhện có nghĩ rằng nó phải giăng tơ ra sao không, hay việc ngày nào cũng giăng tơ có khiến đời sống nó ý vị hơn, có khiến nó trở thành một con nhện tốt hơn, hay nó chỉ miệt mài giăng tơ bởi vì số phận đã đặt định rằng nó phải giăng tơ, cho tới ngày chết? Những anh cạo giấy như Tuấn, bạn anh, ngày ngày thắng bộ lết tới văn phòng chỉ để đóng dấu, loạt xoạt những giấy má hồ sơ, đón tiếp bà con nông dân với cái điệu bộ phách lối, hách dịch, như thể họ đang ban phát một ân huệ, – họ chẳng lễ độ hơn trước những bà già hèn mọn và ra vẻ trịch thượng trước đám sinh viên vô danh tiểu tốt như anh đây.

    Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa những rơm rạ sình lầy, mùi tanh tưởi nồng nặc, tiếng họp chợ, tiếng rao bán, tiếng còi xe rú rít cơ hồ làm anh kinh hoảng. Những bà già nhà quê túm tụm lại với nhau mà buôn chuyện, những ông bảo vệ ngồi vắt vẻo trước toà hội sở, vừa phì phèo điếu thuốc mắt vừa dán vào điện thoại. Tất cả toát lên một vẻ gì đó thật tầm thường, ngu độn, vô nghĩa. Trong anh trào dâng một nhu cầu bức thiết ngay lập tức được cuốn gói khỏi nơi đây, mãi mãi. Chắc chắn phải như thế. Anh có yêu gia đình mình không? Hẳn là có đấy, nhưng sống gần họ anh cũng chẳng chịu nổi. Ở cái xó xỉnh này, cái tỉnh nhỏ đìu hiu này, chưa kể là những phố thị chật chội những tưởng chứa chấp toàn những con người trí thức, thì còn biết bao kẻ như Tuấn, là đồng đội của y, một binh đoàn rặt những thành phần nông cạn, ù lì, thích ăn no ngủ kỹ, thích cuộc đời êm ấm, ngay ngắn như tấm khăn trải bàn, bên trên dọn bày những sơn hào hải vị của mâm cỗ cuộc đời, mà mâm nào cũng giống mâm nào, nhưng chẳng mấy ai phàn nàn, còn giả sử thiếu đi một món dù là nhỏ nhặt nhất, rằng mâm cỗ bàn họ không được đủ đầy như chúng bạn, thì họ liền kêu toáng lên.

    Ngày lại ngày, cuộc sống tỉnh lẻ trôi qua tù đọng và nhàm tẻ, nó giam hãm những khát vọng cao thượng, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập mọi thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của phần đông là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không, -ngay đến bố mẹ anh, những con người đứng đắn, đàng hoàng, còn không thoát ra khỏi nếp nghĩ đó; vậy thì những người dân đen ít học còn biết làm sao? Họ buộc phải bằng lòng với một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá. Kể cũng lạ, khi thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội mò về đây những mong làm nên cơ đồ. Những tưởng nhịp sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, ắt phải đào luyện cho con người cái ý chí mãnh liệt được chung lưng đấu cật với đời; ấy thế không những họ không xê dịch, không nuôi những tham vọng cao cả mà thành ra chây ì, biếng nhác từ thuở thanh niên. Ngó quanh một lượt chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận, ngại sống xa nhà, và về mặt trí tuệ thì đáng chú ý ở một điểm là không có gì đáng chú ý cả. Và không chừng họ sẽ ở đó cho đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, – ôi những tâm hồn muốn cất cánh bay cao, những vòm miệng trẻ trung muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng hiềm nỗi chỉ thuộc mỗi vài điệu, thành thử cứ phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…


  • Một buổi dạo chơi ở Hà Nội (truyện ngắn)

    Đọc thử

    Tôi là con một và cũng là con cưng. Bố tôi nguyên là một sĩ quan về hưu, hưởng lương ngót chục đồng hàng tháng. Còn mẹ tôi khi ấy vẫn đang giảng dạy ở trường phổ thông cách nhà ba cây số, và đó cũng là trường của tôi luôn.

    Gia đình tôi được coi là một gia đình kiểu mẫu ở thôn quê. Bố mẹ tôi là những người có học, nhưng ngoài đồng lương ra không kinh doanh gì thêm, nên tiền nong chỉ gọi là đủ trang trải và dư dật chút ít thì cũng để nuôi tôi học đại học. Năm ấy, tôi mười tám tuổi, trẻ trung và hồng hào, trong đầu đầy viễn tưởng và trong tim đầy ước mộng, vừa nhận giấy báo nhập học từ trường Kinh tế. Tôi hơi buồn vì không đỗ nguyện vọng đầu, còn bố mẹ tôi biết tin thì mở tiệc chiêu đãi ngay. Suốt bữa ăn, bố tôi, người đã bị buộc kiêng rượu hơn ba năm vì tiểu đường, cũng không nén nổi niềm tự hào mà nâng ly chúc mừng. Tối hôm ấy, khi mẹ vào phòng tôi chuẩn bị đồ đạc để vài hôm nữa tôi lên Hà Nội thì bà sụt sùi hoài, đến mức bố phải ngó vào và nói:

    “Cái bà này làm sao thế, hử? Nó đi học chứ có phải đi lính đâu mà bà cứ nhặng xị hết cả lên!”

    Mẹ tôi càng khóc to hơn…

    Đó là một buổi sáng tháng Mười trời trong xanh, không khí có mùi ngai ngái sau trận mưa đêm. Bố tôi trước đó đã tỏ ra rất ngậm ngùi vì không thể đưa tôi lên Hà Nội (ông là con trưởng nên phải ở lại để lo đám giỗ ông nội tôi), nhưng người đã kịp gửi gắm tôi cho bác Thôn là người anh em đồng hao. Anh Sơn con trai bác hôm ấy cũng lên Hà Nội nhập học.

    Tờ mờ sáng, bố chở tôi ra đường cái. Ông ngồi tạm ở một ghế đá, còn tôi bồn chồn không yên, chốc chốc lại nhổm dậy ngó ra xem hai người kia đã đến chưa. Để giết thì giờ, ông căn dặn tôi vài lời sáo mòn như bất cứ vị phụ huynh nào cũng sẽ nói với con trước lúc chia xa.

    Chừng mười lăm phút sau, một chiếc Toyota màu xám xỉn hiện ra, tấp vào dưới tấm biển quảng cáo của nhà hàng gần đó. Anh Sơn ngồi ở ghế sau, chỉ ngó ra chào tôi lấy lệ. Hàng ghế rộng nên lúc tôi chen vào, anh ngồi im chẳng xi nhê, mắt vẫn nhìn chằm chặp vào điện thoại. Trông bộ dạng anh khinh khỉnh nên tôi không muốn đánh chuyện. Trong lúc đó, tôi thấy bác Thôn đứng trao đổi với bố tôi vài lời gì đó mà tôi không nghe rõ, rồi bố tôi rút ví ra dúi vào tay bác vài đồng, nhưng bác nằng nặc dúi trả, lắc lắc đầu. Cái thói thường ấy mà, sau một hồi giằng co thì bác thuận tình, nhưng mặt vẫn ra vẻ bức bối, khiên cưỡng lắm…

    Chiếc xe chầm chậm lăn bánh rồi vút đi. Bên phải tôi là cánh đồng lúa trải dài như một dòng sông vàng, xa xa những bờ đê chắn nhấp nhổm như những cồn cát. Mọi thứ lùi về phía sau, lúc ấy tôi cảm tưởng như mình đang đoạn tuyệt một phần đời đã cũ. Tôi thấy bồi hồi, cái bồi hồi ở một chàng trai trẻ, trải nghiệm trước nay gói gọn trong sách vở nhà trường, đang chuẩn bị dấn bước vào đời sống thị thành mà bản thân còn chưa nắm rõ một điều tí ti. Ban đầu, bác Thôn hỏi tôi dăm ba câu lấy lệ, như việc tôi học ở đâu, trường kinh tế lấy bao nhiêu điểm, rồi tôi theo học khoa nào, vân vân. Như thể bù lại cho cậu con trai, bác tỏ ra là một người rất xởi lởi, tếu táo. Bác không thiếu những câu đùa vui và có vẻ cũng am hiểu chút ít về đường sá thủ đô – bác có một bà chị ruột lấy chồng trên này. Đó cũng là nơi chúng tôi sẽ tới trú nhờ tối nay.

    Quãng đường dài hơn 200 cây số. Sau khi dừng chân ở Hai Bà Trưng, ba người chúng tôi tạt vào một quán phở bò ngay cổng trường Bách Khoa. Nước lèo nhạt như nước ốc, vừa ăn tôi vừa nghĩ đến món canh rau ngót mẹ nấu ở nhà. Chắc lúc ấy bà cũng đang ăn trưa và thầm nghĩ tôi đang ăn gì. Đến một giờ chiều thì chia ngả, bác Thôn và Sơn ra xếp hàng ở Bách Khoa, còn tôi thì bác đặt một cuốc xe ôm đến trường Kinh tế. Ông tài xế chở tôi lòng vòng từ Trần Đại Nghĩa ra Bạch Mai rồi ngược lại, sau rốt đòi của tôi ba mươi nghìn. Ngay tối hôm ấy tôi vỡ lẽ mình bị lừa…

    ***

    Thú thực là khi đặt chân tới trước cổng trường ở Phố Vọng, tôi nhìn lên “toà nhà thế kỷ” và thấy choáng ngợp lắm. Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, như thể toà nhà bề thề kia chuẩn bị đổ xuống đến nơi. Một vườn hoa với những hàng cột chạy dài, những ghế gỗ uốn cong dựng san sát nhau. Chung quanh ồn ào, người ra người vào tấp nập, xe ô tô nối đuôi nhau thành hàng. Tôi kẹp bìa hồ sơ ở nách và bước vào sảnh G. Vì khoa tôi chọn là một khoa khá ít tên tuổi, bàn tiếp tân của câu lạc bộ chỉ chiếm một góc nhỏ so với các khoa khác, nổi tiếng và được săn đón hơn, như khoa Marketing, Quan hệ công chúng, Quản trị khách sạn… nên việc thăm thú diễn ra cũng nhanh. Thực ra là không có nhiều mà thăm thú. Tôi còn nhớ có một chị gái, dáng thâm thấp, tóc xoã ngang ngực, có hai chiếc răng khểnh hai bên, hồ hởi dắt tay tôi tới bên quầy. Tôi thấy vui thích lắm và cuối buổi còn chụp ảnh với chị một tấm.

    Sau khi buổi tham quan kết thúc, tôi bước ra ngoài và gọi điện cho bác Thôn. Hai bố con nhà họ vẫn đang trong hàng chờ, bên đó “đông như quân Nguyên.” Bác bảo tôi cứ đi loanh quanh một lát và chúng tôi thống nhất sẽ gặp lại vào năm giờ chiều. Bấy giờ là gần ba giờ. Tôi bước thơ thẩn dọc vườn hoa và đột nhiên tôi nhớ ra Hiếu, một người anh hơn tôi hai tuổi, cũng đang học trường này.

    “Sao bây giờ mình mới nhớ ra nhỉ?” tôi tự trách mình và vội vàng nhấc máy gọi cho anh.

    Tôi quen anh Hiếu từ năm lớp mười. Chúng tôi chơi bóng rổ cùng nhau. Mọi người thường gọi anh là “Trâu”, vì khi chơi bóng anh cứ khom lưng và lao hồng hộc. Một lần tôi thử gọi anh bằng biệt danh đó thì anh đấm tôi rách miệng, nhưng sau vụ ấy chúng tôi lại đâm ra thân thiết, kể cũng lạ! Nhưng tôi đã không gặp anh từ ngày anh rời trường, và dịp này xứng đáng là một cuộc hàn huyên nho nhỏ.

    “Chú đợi anh tý! Ở im đấy nhé đừng đi đâu!” anh Hiếu xăng xái nói với tôi qua điện thoại.

    Mười lăm phút sau thì anh ta tới. Anh trắng trẻo, người thâm thấp nhưng chắc nịch, đôi mắt ti hí hơi nheo lại vì đứng ngược nắng, chiếc cặp đeo chéo giắt lệch khiến tà áo sơ mi của anh xếch hẳn sang một bên. Chúng tôi bắt tay nhau, mắt cười miệng cười, rồi cùng quay đầu hướng về khu kí túc xá. Anh trách tôi:

    “Thế mà không nói sớm để tao ra bến xe đón!”

    “À đâu,” tôi nói, “nay em không bắt xe. Em đi nhờ một ông bác.”

    “Thế đi được những đâu rồi?”

    “Mới quanh trường thôi anh.”

    Sau vài giây im lặng, anh hỏi thêm:

    “Mày ngành gì ấy nhỉ?”

    “Kinh tế luật ạ.”

    Chúng tôi tạt vào căng tin mua hai chai nước. Anh dẫn tôi đi xem tất cả các khu, từ sân bóng đá, bóng rổ, cầu lông đến sân bóng chuyền, nơi tôi bắt gặp một người con gái rất cao, đôi chân rám nắng dài miên man. Cô đeo một miếng đệm ở đầu gối, đang lùi về sau mấy bước và vụt lên nhoài người đập bóng. Như thể quả bóng đã đập trúng đâu đó trong tôi. Bằng một giọng rè rè, anh Hiếu bắt đầu tiết lộ cho tôi về đời sống đại học, về những thú vui đang chờ đón được khám phá, về những thứ cũ người nhưng mới ta, chưa khi nào thôi cám dỗ đám loắt choắt mới đặt chân lên thị thành. Sau một hồi, anh than rằng cứ đi bộ như này thì chán chết, phải kiếm một cái gì đó chơi tạm mới được. Rồi anh rủ tôi đi chơi bi-da, và khi tôi toan từ chối vì mình chơi rất kém, thì anh xua tay nói:

    “Bây giờ thì thế thôi. Anh cũng mới chơi mà. Thôi, tập nhiều khắc quen, đời đại học chẳng lẽ cứ ru rú trong phòng trọ mãi. Phải đi đây đi đó chứ. Rồi sắp tới mày đi học, bạn bè nó rủ đi thì còn biết ti tí mà đánh với đấm. Con gái giờ nó cũng chơi đầy ra, mình con trai việc gì mà phải ngại.”

    Và chúng tôi quay đầu trở lại.

    Quán bida anh Hiếu dẫn tôi vào là một quán tồi tàn, hay như người ta thường gọi là “quán cỏ”. Một căn phòng trải thảm dạ nhem nhuốc, rách lỗ chỗ, hàng cơ đựng trong các tủ kính gắn tường, bên dưới tấm biển đề: “GẬY THUÊ 30K/GIỜ.” Anh Hiếu kiếm cho tôi một cây cơ ngọn mộc đã bôi lơ sẵn và chúng tôi bắt đầu chơi.

    Quả thực là tôi không biết chơi. Hồi cấp ba tôi từng bám gót vài cậu bạn và được chỉ dạy chút út về cách điều cái, nhưng theo thời gian mọi kiến thức lượm lặt được đã trôi tuột. Trái lại, anh Hiếu vẫn đinh ninh rằng tôi giấu nghề, khi thấy tôi may mắn ăn được vài điểm. Anh khen tôi ra ngọn đẹp đấy và dẹp bỏ vẻ mặt lơ đãng, anh nghiêm nghị đánh. Anh luôn ăn gần hết các bi trước tôi nhưng luôn chừa lại bi số tám, trầy trật mãi không ăn được, rồi tôi lần lượt xử các bi kia và chiến thắng. Những màn lội ngược dòng thường tâng bốc lòng tự mãn và thú chinh phục ở người con trai. Tôi hăng lên.

    Ở bàn bên, chốc chốc lại thấy vài cậu sinh viên bôi lơ đầy mặt và chui qua gầm bàn mỗi khi thua cuộc. Thấy thế, anh Hiếu gạ tôi chơi bài ăn tiền, mỗi điểm tính ăn ba nghìn đồng, cùng một vài luật khác mà tôi không nhớ rõ. Anh nói chắc nịch rằng phải bồi thêm tí tiền nó mới “say” được, còn đánh suông thì chẳng khác nào uống nước lã.

    Lúc ấy tôi nào có kiêng dè gì, không khác nào một chú ngựa non háu đá, nên tôi chấp nhận ngay. Vì thời gian có hạn, chúng tôi quyết định chỉ chơi chạm bảy. Tôi thắng hai ván đầu, cảm thấy tràn trề hưng phấn và các động tác dường như mượt mà hơn. Mỗi lúc quả bida rơi xuống lỗ, tôi thoả thích và hơi sững sờ, hình ảnh về cô gái đập bóng chuyền ban nãy thoáng qua trí óc tôi. Vài lần, tôi chọc gậy mạnh khiến viên bi bay ra khỏi thành bàn, rồi mỗi khi nhìn Hiếu lượn vòng về bàn để lật bảng tỷ số, tôi thấy cay cú khôn tả. Tôi đâm cáu bẳn và trách cứ thằng nhân viên đã xếp bi không khít. Thời gian trôi qua nhanh. Tôi vẫn mải miết chơi và đặt tiền cược lên rất cao. Lúc tỷ số đang sáu đều thì bác Thôn bất chợt gọi điện. Liền đó, anh Hiếu giơ tay ra hiệu dừng lại và cho biết tôi đã thua hơn năm trăm ngàn. Anh ta tháo găng và chờ đợi tôi trả tiền. Tôi cố tỏ ra dửng dưng dù trong lòng đang uất nghẹn, vừa cay cú vừa nơm nớp lo sợ. Vơ vội chiếc mũ lưỡi trai, tôi lúng túng xin lỗi anh ta vì tiền bạc đã gửi ở chỗ ông bác cả.

    Anh ta vỗ vai tôi một cách thân tình:

    “Thoải mái đi, hôm khác trả anh cũng được. Anh em mình thì lo gì!”

    Nói xong, Hiếu bước trước ra quầy lễ tân trả tiền. Tôi xin phép được chạy về trước và vừa đi vừa nguyền rủa cái tính sĩ diện ở mình.

    Tối hôm ấy mọi chuyện trôi qua bình thường. Nhà bà chị của bác Thôn nằm ở ngoại thành, khi chúng tôi tới nơi thì cơm nước đã bày biện xong cả, chỉ việc ngồi vào và đánh chén. Bà chủ trạc sáu mươi tuổi, người tròn lẳn, gương mặt phúc hậu, liên tục thúc mọi người ăn nhiều lên. Chúng tôi tống đầy bụng nào gà luộc, nào miến, nào thịt bò sốt vang, thêm cả một ít rượu vang mà ông chồng của bà bảo rằng nhấp ti tí thì không sao đâu. Tầm mười giờ tối, bác Thôn trải ba tấm thảm trên sàn nhà và dù hai bố con nhà bác đua nhau ngáy, tôi vừa nằm xuống đã ngủ thiếp đi.

    Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy muộn, đầu nhức như búa bổ, nhưng không dám than vãn vì sợ bị chê trách đã uống rượu. Hai bố con nhà Sơn vẫn ngáy o o. Tôi lẹ làng trở dậy, đánh răng qua quýt rồi xuống dưới lầu, nơi bà chủ nhà đang uống nước chè một mình. Bà múc cho tôi một bát thịt bò hầm hâm lại từ hôm qua và cắt cho tôi hai khoanh bánh mì, đoạn ngồi xuống trở lại và hỏi han tôi vài câu. Tôi mệt mỏi nên chỉ ậm ừ cho qua chuyện.

    Vừa lúc ấy, chiếc điện thoại trên bàn rung lên ba hồi. Tôi mở ra và thấy dòng thông báo:

    “Ê!

    Tiền bida hôm qua anh trả hộ mày ấy, có trả anh hôm nay được không? Tổng là 535k nhé, nhưng chuyển anh 500k là được rồi.

    Anh đang gấp lắm.”

    Hồi ấy tôi còn trẻ, còn mang cái cốt cách trượng phu rởm đời, rằng tiền bạc chi cho những thứ ích lợi cho bản thân thì tôi luôn lần khân, trễ nải, nhưng riêng tiền nợ nần thì tôi sẽ thanh toán bằng hết, không muốn dây dưa, sợ phương hại đến thanh danh của mình, và sợ nhất là người ta nghĩ tôi không có tiền. Tôi trả lời ngay:

    “Đợi chút, trưa em trả.”

    Vài phút sau, bên kia nhắn lại:

    “Ừ, thông cảm nhé, chuyển vào đây giúp anh.”

    Anh ta gửi kèm một mã QR ngân hàng. Tôi cảm thấy bực bội như thể anh ta đang cố gắng bòn rút tiền của tôi vậy.

    Giữa trưa, khi tôi nói với bác Thôn rằng tôi cần năm trăm ngàn thì bác bất ngờ lắm và xoay ra hỏi tôi đã làm gì mà cần từng ấy tiền.

    “Làm gì mà tận năm trăm,” bác nói. “Mày mua những gì mà tốn thế hả cháu?”

    “Cháu nợ tiền người ta,” tôi nói sau một hồi im lặng.

    Bác nhìn tôi chằm chặp, mặt đanh lại.

    “Nợ từ bao giờ?”

    “Hôm qua… lúc chờ bác, cháu có đi chơi bida với bạn. Cháu để thua mất. Bác cho cháu vay ít tiền rồi về nhà cháu trả bác.”

    “Mày cứ lằng nhằng. Có tờ năm trăm hôm qua bố mày đưa bác đây này…” bác nói giọng bực bội. “Những ngần ấy tiền, năm trăm chứ có phải ít đâu. Thôi, mày cầm lấy…”

    “Cháu cần tiền tài khoản, bác ạ.”

    “Thế thằng ấy nó không chịu lấy tiền mặt à?”

    “À không… nó ở mãi trong nội thành nên giờ chỉ còn cách chuyển khoản thôi bác ạ.”

    Bác Thôn không đáp mà lập tức bước ra ngoài. Vài phút sau, bác trở lại với cậu con trai. Anh Sơn nhìn tôi vẻ khinh thị, hai tay anh dùng dằng tỏ ý bất mãn.

    “Đây, con chuyển cho em nó năm trăm nghìn vào tài khoản rồi bố đưa tiền mặt cho.”

    “Mày đọc số tài khoản đi,” anh Sơn lạnh lùng nói.

    “Em có mã đây,” tôi nói và chìa mã QR ra trước mặt anh ta.

    Anh ta quét mã, chẳng cần biết tôi đã nhận được tiền chưa đã bỏ ra ngoài. Bác Thôn nhìn tôi, khẽ lắc đầu và đi ra theo.

    Còn lại một mình, tôi nhớ lại cuộc đi chơi hôm qua và thấy đọng lại chỉ toàn là những viên bi sọc trơn đủ màu, những cây cơ có phần ngọn như lớp xi bóng loáng, rồi những cơ tôi đi hỏng khiến viên bi bật ra khỏi thành bàn lăn xuống sàn gạch kêu lộc cộc. Gương mặt khoái trá và cái thở dài đầy khoan khoái của Hiếu khi anh ta thắng ván cuối bỗng rõ mồn một trước mắt tôi.

    Trên đường về, cả ba chúng tôi nói năng rất ít. Bầu không khí trong xe ngột ngạt kinh khủng. Rồi khi còn cách nhà khoảng ba mươi cây số, bác Thôn lựa lời nói khéo với tôi rằng chơi bời cá tiền như thế là không hay. Cái thú ấy chỉ dành cho bọn mạt hạng, bọn cầu bất cầu bơ và ăn chơi vô độ mà thôi, còn những người đàng hoàng, có ăn có học và biết quý trọng công sức lao động thì không ai làm thế cả.

    “Phải biết chừng mực, biết suy nghĩ,” bác nói. “Bố mẹ ở quê làm ăn tích cóp, con cái cũng phải biết mình và cố gắng. Dẹp mấy cái trò ấy đi con nhé! Bác nói là nói cả cháu và Sơn, hai thằng sắp tới phải biết bảo ban nhau (chúng tôi sắp thành bạn cùng phòng). Mới tí tuổi mà đã cá cược là không hay đâu.”

    Bác khẽ quay đầu để xem hai thằng chúng tôi có đang lắng nghe không. Im lặng một lát, bác nói tiếp, giọng đã hiền hoà hơn:

    “Hôm qua bố mày đưa bác năm trăm, bác cũng cầm gọi là cho bố mày vui. Rút kinh nghiệm nhé! Còn vụ này thì thôi, bác sẽ coi như chưa xảy ra gì cả.”

    Bấy giờ, Sơn, những tưởng vẫn ngủ gà ngủ gật suốt đường đi, bỗng ghé vào tai tôi và nói khẽ:

    “Dốt lắm con ạ!”

    Trước mặt, cao lộ trải ra bạt ngàn như một dải lụa màu xám tro. Bầu trời dần sa sầm lại và những hạt mưa quất tới tập vào ô cửa kính…

    Bố mẹ bày một bữa thịnh soạn đón tôi về. Nhìn bộ mặt hớn hở vì vui sướng của ông bà, tôi chỉ biết cúi gằm mặt, nhớ lại những lời quở trách ban chiều của bác Thôn, cái tia nhìn hằn học của Sơn khi hạ cố chuyển tiền cho tôi và tin nhắn “Anh nhận được rồi nhé!” của Hiếu. Tôi lặng thinh hối hận và tin rằng sẽ không bao giờ gặp lại ông thầy “đời đại học” của mình nữa.


  • Xuân hạ thu đông (tạp bút)

    Đọc thử

    Những dòng tạp bút này bắt đầu vào tháng Năm năm 2025. Tôi ghi lại những quan sát, suy nghĩ, hồi ức; những cuốn sách tôi đọc; và nhiều thứ vặt vãnh khác.

    Nhân tiện, tôi có lập một fanpage riêng để đăng tải những nội dung chủ yếu được rút ra từ đây. Ủng hộ tôi nhé!


    2025

    Mùa xuân vừa rồi tôi bỏ việc, rồi thất nghiệp, ốm đau, chuyển nhà, việc viết lách thì vô vọng, tiền nong khan hiếm… Chỉ còn nước tình yêu tan vỡ nữa là xong…


    Ngày 6 tháng Năm năm 2025,

    Tôi đã dọn ra căn trọ mới được hơn hai tháng. Hiện tại, tôi đang ở một mình, trên tầng bốn, trong một căn nhà năm tầng. Tầng trên phòng tôi là hai sân phơi ngăn cách nhau bởi một gian thờ. Bàn thờ phủ bụi như được moi từ dưới đất lên. Sàn cũng bụi. Chẳng ai lau dọn quét tước cả, mà gần như không ai ló mặt qua ban thờ làm gì. Nó cứ im lìm vậy thôi…

    Khi tôi đến xem căn trọ này lần đầu, độ giữa tháng Hai khi vừa Tết xong, nó thuộc về một ông bạn nào đó mà tôi không biết mặt, cũng chẳng nhớ tên. Tôi vẫn nhớ tôi cùng Hương leo bốn tầng gác lên, cửa phòng không khoá, chúng tôi mở vào và cảnh tượng hiện ra trước mặt thật khủng khiếp. Đồ đạc vỏn vẹn gồm một chiếc nệm gấp 3, tấm ga màu xám xỉn đã rách lua tua, vỏ gối màu vàng khè như màu răng ố; sàn nhà vương vãi nào khăn, nào quần áo bẩn, vài can nước lọc rỗng tuếch mất nắp lổn nhổn trên sàn gạch. Rất may là gã không hút thuốc…

    Chúng tôi lượn qua một vài nhà trọ khác, tìm thấy một căn trên tầng hai trông rất được, đồ đạc sẵn, có ban công trông xuống mái hiên, hơn nữa căn nhà này còn rất gần trọ của Hương. Giá cả có hơi mắc, nhưng tôi sẵn lòng chi. Tuy vậy sau cuối tôi đã không lấy căn này mà chọn cái ổ chuột trên tầng bốn kia. Gã thuê phòng đã vào Nam, để lại một ít đồ đạc. Căn phòng bỏ ngỏ từ trước Tết và nếu tôi có thể dọn vào ngay, tức là trước đầu tháng Ba độ mười ngày, tôi chỉ cần đóng thêm một khoản khá nhỏ.

    Lúc ấy tình hình ở nhà trọ cũ của tôi đã thành ra không sao chịu đựng nổi. Tôi không thích du di nên đã quyết định dọn vào sớm. Đồ đạc của tôi cũng chẳng có nhiều, nhưng vì chỉ có tôi và Hương nên khá nhọc nhằn: riêng đống sách đã bốn, năm thùng các tông – mỗi thùng có lẽ nặng đến nửa tạ. Hai chúng tôi bê từ tầng ba xuống tầng một ở trọ cũ, rồi gọi xe ba gác, tiếp tục bê từ tầng một lên tầng bốn ở trọ mới. Cầu thang hẹp và tối, hôm ấy tôi còn bị đau gót chân, nói chung tình cảnh hết sức khổ ải. Có vài chuyện lôi thôi với một cậu bạn chung trọ cũ, một người mà tôi rất quý mến nhưng giờ đã thôi trò chuyện, và có lẽ thôi cả làm bạn, nhưng tôi sẽ không nhắc tới cụ thể (khả năng nó sẽ xuất hiện trong một truyện ngắn nào đó trong tương lai với tên nhân vật được đổi đi.)

    Tôi vét hết sạch tiền lương trong tháng Giêng và vay mượn thêm chút mới đủ sắm sửa đồ đạc cho căn buồng mới. Chăn ga gối nệm mới, kệ quần áo mới, rồi những khoản lặt vặt, đâu đó mất một tuần trời. Cuối cùng thì đời sống cũng tạm gọi là đi vào nền nếp. Những bất tiện dần dần được tháo gỡ, hoặc đơn giản tôi đã quen với chúng.

    Hiện tại, tôi có một chiếc bàn viết đặt đối diện khung cửa sổ, một kệ sách nhỏ đặt bên tay phải, sát vách tường. Vì chưa mua kệ mới (nói thẳng là chưa có tiền), tôi bày la liệt sách truyện trên bàn và dưới sàn nhà. Trên giường thì tôi chỉ để cuốn nào đang đọc thôi.

    Hương thường qua vào cuối tuần, ban đầu chúng tôi nhất trí là thế. Nhưng thường xuyên có những ngoại lệ, ngoại lệ luôn luôn, khiến tôi nhiều phen hơi nhức đầu. Sang trọ mới, tôi viết khá đều tay và cho tới giờ thì vẫn chưa phát điên, như tôi từng lo sợ lúc chưa dọn ra ở riêng. Tôi chỉ hơi trầm uất, hơi ghen tỵ với những con người thong dong, nhàn hạ, những con người có công việc đơn giản mà nếu giải quyết xong là có thể yên tâm cho tới ngày hôm sau. Đôi khi tôi ghen tỵ cả với những người có quyết tâm sắt đá, có sự tập trung bền bỉ trong công việc, họ phi nhanh với tốc độ của một toa tàu, xình xịch lao về đích – họ sẽ sớm trở nên thành công. Còn tôi, tôi vẫn cứ quẩn quanh, chẳng biết mình đang làm gì, việc viết của tôi rồi sẽ đi tới đâu, phải chăng tôi là một gã bất tài, hay việc con người thực tế sẽ chiến thắng bản ngã nghệ sĩ trong tôi. Có lẽ nên bẻ gãy ngòi bút, xoá cái blog này đi và khoa môi múa mép làm một gã bán hàng.

    Đôi khi tôi ước giá như mình chưa từng động tới viết lách. Đối với tôi, nó là hiện tượng đẹp đẽ nhất trần gian, nhưng nó cũng dày vò tôi vô kể, có lẽ cho tới ngày tôi chết.

    Tôi yêu viết. Tôi yêu những câu chuyện buồn. Lớn rồi thì tôi biết yêu thêm phong cảnh, tôi cố gắng giữ con mắt quan sát của mình thật tinh tế, thấu suốt dù cuộc sống của tôi chẳng có mấy điều là tinh tế. Có lẽ tôi yêu luôn cả cái ngu si tầm thường của con người. Tự dưng câu nói của Chekhov lẻn vào óc tôi:

    “Các bạn à, các bạn sống thật là chán!”


    Ngày 7 tháng Năm năm 2025,

    Tôi thức dậy sớm, lúc sáu giờ hai tư, nhưng tôi đợi tới đúng ba mươi mới rời giường. Tôi pha một cốc cà phê và kéo rèm cửa sổ. Ngoài trời mát, lá xào xạc và những con chim tôi không biết tên bay lăng xăng trên đỉnh những tán cây.

    Tôi đã viết một truyện ngắn có tựa đề “Đừng viết chuyện tình nữa” – nhưng rồi nó vẫn là một câu chuyện tình. Đầu tôi đang hơi ong ong, có lẽ tôi không hợp với cà phê, lần sau nên đổi qua uống trà…

    … Nhoáng cái đã chiều rồi. Tôi mới nhận cuốn Tuyển tập Chekhov của Tao Đàn vào buổi trưa. Sách hay tuyệt. Lâu rồi tôi mới mua một cuốn bìa cứng. Dưới đây là một trích đoạn trong truyện ngắn Mùa xuân, trước đó đã được đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

    Vâng, tất cả đều rất thú vị vào quãng thời gian này, đặc biệt nếu bạn còn trẻ, yêu thiên nhiên, nếu như tính nết bạn không thất thường, bạn không bị mắc chứng loạn thần kinh, nếu như bạn không bị trói buộc vào công sở suốt từ sáng tới chiều. Thật chẳng may nếu bạn ốm o, sầu não ở chỗ làm việc, và nếu bạn đang giao du với nàng thơ.

    Vâng, mùa xuân là mùa không nên giao du với nàng thơ.

    Bạn thử nhìn mà xem, những người bình thường họ mới sảng khoái và vô tư làm sao…


    Ngày 8 tháng Năm năm 2025,

    Đã là ngày thứ ba tôi dậy sớm. Tối qua tôi ngủ hơi muộn, chừng hơn mười hai giờ, và sáng nay tôi thức dậy lúc sáu giờ bốn mươi. Tôi nằm thêm đến bảy giờ, rồi trở dậy, pha một cốc trà, ngồi vào bàn và vừa ngáp vừa nghĩ mình sẽ viết cái gì.

    Sau mười lăm phút lượn lờ khắp các tạp chí để xem họ đang viết cái gì, tôi tắt tab, một lần nữa thất vọng: tôi không thể viết như họ! Tôi không phải người lính, vậy nên tôi không thể viết về những cuộc chiến, những chặng hành quân, những vùng hẻo lánh… Thật đau khổ khi ta bị nham trong công sở từ sáng tới chiều, trải nghiệm nghèo nàn, cuộc sống ảm đạm, mà lại muốn viết những điều trác tuyệt! Không, không thể nào… Tôi chỉ biết về những con người bình thường, những chuyện bình thường, có khi tẻ nhạt. Người ta hẳn sẽ đọc truyện của tôi và bảo rằng: “Đồ chó con ấy toàn ói ra những thứ nhảm nhí!” hoặc: “Sao không dẹp chuyện viết lách vặt vãnh và chuyên tâm kiếm tiền đi, giời ạ!”

    Giời ạ!


    Ngày 9 tháng Năm năm 2025,

    Hôm nay tôi vẫn dậy sớm, chừng sáu giờ bốn mươi, nhưng không viết. Tôi đã làm gì nhỉ?

    Tôi dậy đánh răng, lướt Instagram trong vô thức, đem chậu quần áo lên sân thượng, rồi tôi ăn mặc thật tuềnh toàng, râu ria không cạo, xách túi đi làm.

    Công việc vẫn thế. Dạo này có đỡ chán hơn. Cầm trịch vài kênh truyền thông trong tay mà kênh nào kênh nấy flop hết thây… Chán… Đến cái blog tâm huyết này cũng không tránh khỏi số kiếp hẩm hiu. Xin lỗi mày. Tao toàn viết những thứ chẳng ai quan tâm, chẳng hợp với thị hiếu.

    Cả ngày dài tôi cầm điện thoại khá nhiều. Cứ chốc chốc lại có thông báo. Sau một ngày như thế, phản ứng tự nhiên là tôi thấy ghê tởm chính đôi tay của mình và tiếc nuối dã man khi đã để phí hoài thời gian.

    Tối nay tôi cũng không viết lách. Tôi chẳng biết viết gì, cũng chẳng muốn viết. Tối qua tôi phát hiện một chồng sách của mình bị thấm nước, quăn queo hết cả… Đến giờ tôi vẫn buồn.

    À, hôm nay có một điều vui nho nhỏ. Chị sếp bảo với tôi rằng kênh TikTok (6 người follow) của tôi có tiềm năng 🤪, chị bảo tôi có khả năng nói khá tốt và hãy phát huy nhé. Ờ… ờ… cuối tuần này tôi sẽ quay video trở lại, nhưng vẫn sẽ ít thôi… Tôi còn phải viết và đọc sách nữa mà, hơi đâu mà làm video phục vụ người khác. Có thể sau này, khi đã chán chê chẳng còn gì làm, tôi sẽ chuyển hẳn sang làm TikTok. Viễn cảnh ấy thật tươi đẹp, trong trường hợp TikTok không bị thoái trào và việc viết văn của tôi vẫn mù mịt, không có tương lai.


    Ngày 10 tháng Năm năm 2025,

    Bây giờ là tám giờ mười sáu phút sáng. Đêm qua trời mưa to, nhưng sáng ra đã tạnh và không khí tươi mát ngay khi ta bước ra mở cửa. Người ta đi chậm để né những vũng nước.

    Tối qua, tôi đọc truyện ngắn “Tình yêu” của Chekhov, có một đoạn rất hay thế này:

    Nàng cầm một cuốn sách, ngồi đối diện với tôi và bắt đầu mấp máy môi… Tôi nhìn cái trán hẹp của nàng, đôi môi mấp máy và nghĩ. “Nàng hai mươi tuổi… – Tôi nghĩ. – Nếu so nàng với một chàng trai trí thực tầm tuổi ấy thì sự khác biệt mới lớn làm sao! Ở chàng trai nào trí thức, nào chính kiến, nào trí tuệ.”

    Nhưng mà tôi bỏ qua cho sự khác biệt đó, cũng như bỏ qua cho vầng trán hẹp và cặp môi mấp máy… có lần, tôi còn nhớ, vào cái thời ve gái của mình, tôi chia tay với phụ nữ vì những vết bẩn trên tất, vì một lời nói ngu ngốc, vì hàm răng không sạch, còn bây giờ tôi tha thứ tất: cả những cái ngáp, sự lộn xộn với cái mở nút chai, cả tính luộm thuộm, những cuộc nói chuyện dài dòng về một việc nhỏ nhặt. Tôi bỏ qua tất cả một cách vô thức, không bắt lí trí phải phục tùng, như thể những khiếm khuyết của Sasha là khiếm khuyết của tôi. Có nhiều cái trước đây làm tôi khó chịu, bây giờ tôi lại thấy thông cảm, đôi khi thậm chí thấy khoái chí. Cái lí của sự tha thứ ấy tất cả nằm ở tình yêu của tôi với Sasha, còn cái lí của bản thân tình yêu nằm ở đâu – quả thật tôi cũng không biết.

    và một đoạn khác trong truyện ngắn “Tài năng”:

    Nghe họ nói có cảm tưởng như trong tay họ là cả tương lai, tiếng tăm và tiền bạc. Và không một ai trong số họ lại nghĩ được rằng thời gian trôi đi, cuộc đời ngày nối tiếp ngày đang tiến dần đến buổi hoàng hôn, họ đã ăn bao nhiêu cơm thiên hạ mà vẫn chưa làm được gì; rằng cả ba người – đều là vật hy sinh của một quy luật hà khắc, theo đó, trong hàng trăm kẻ bắt đầu sự nghiệp với nhiều hứa hẹn, chỉ một, hai người là ứng đối được với đời, tất cả đám còn lại rơi vào lỗi thời, chết dần, chết mòn sau khi đã diễn xong vai trò làm miếng thịt cho những khẩu đại bác… Họ đang vui vẻ, hạnh phúc và dũng cảm nhìn thẳng vào đôi mắt của tương lai.

    ***

    Thông thường thứ Bảy là ngày chay tịnh của tôi. Tôi sẽ gần như ngắt kết nối với mạng xã hội, hạn chế sờ vào điện thoại tối đa. Tuy nhiên, hôm nay tôi đã động khá nhiều…

    Tôi vừa từ thư viện về. Tôi dùng thẻ thư viện của Hương, đáng ra tôi đã phải xuống tiền sảnh để gia hạn thẻ nhưng vì hàng chờ quá dài, tôi tỏ ý ngần ngại và cô thủ thư đã châm trước cho tôi.

    “Bình thường là phải trình căn cước công dân các kiểu đấy nhé,” cô thủ thư cười nói.

    “Ôi giời, cô chẳng nhẵn mặt cháu rồi!”

    Tôi mượn Sông Đông êm đềm, tập một – gần 700 trang, Những linh hồn chết của Gogol – tôi nghĩ mình cần đọc lại cuốn này, và cuốn Nghệ nhân và Margarita của Bulgacov. Tôi nghĩ mình sẽ xử gọn 3 cuốn này trong 2 tuần.

    Ngoài trời âm u, màn trời xám xịt trông ảm đạm, nhưng gió mát như phe phẩy lòng người, khiến ta những muốn nhắm mắt lại và mường tượng mình đang ở trên một thảo nguyên rộng lớn lắm, những đàn bò thong dong gặm cỏ. Tôi còn tạt vào Nhã Nam, cơ sở Khương Đình. Hiệu sách vắng teo, khi tôi bước vào, có một người phụ nữ dong dỏng cao, ngực lép kẹp, mặc chiếc áo crop-top đen, đang đứng bên hai đứa trẻ, một lớn một nhỏ, có vẻ là hai anh em. Cô ta trông không giống mẹ của hai đứa bé, chị gái cũng không – có lẽ là một người dì.

    Tôi chọn Dưới bóng những cô gái đương hoa của Proust. Gáy sách đã bạc phếch qua thời gian. Tôi còn nhớ khi tôi tới cơ sở Nhã Nam này lần đầu vào ba năm trước, cuốn sách này nằm chỏng chơ trên kệ cao nhất, ở hàng VĂN HỌC KINH ĐIỂN. Sau đó, nhiều lần tôi tạt qua và đến bây giờ, nó vẫn im lìm như thế. Cuối cùng, tôi đã rút nó khỏi kệ, chà chà tay lên lớp bìa mạ bóng, đọc hú hoạ vài trang, rồi kẹp nó cạnh nách, tôi bước sang kệ bên cạnh.

    Tại đây, tôi khom người xuống và đập vào mắt tôi là cuốn Thư gửi nhà thơ trẻ của Rainer Maria Rilke. Cuốn sách rất rẻ, tôi đã định mua, nhưng đột nhiên tôi nghĩ mình nên ngồi xuống và thử đọc trước một vài dòng. Tôi lướt một lèo hơn 100 trang trong chừng 10 phút, và đây là thứ tôi cóp nhặt lại:

    Ông hỏi thơ ông có hay không. Ông hỏi tôi điều đó. Ông đã hỏi những người khác trước đó. Ông gửi chúng đến các tạp chí. Ông so sánh với những bài thơ khác, và ông lo lắng khi các chủ biên khước từ những cố gắng của ông. Bây giờ (vì ông cho phép tôi có lời khuyên) tôi mong ông hãy bỏ hết những chuyện ấy đi. Ông đương nhìn ra ngoài, và trên hết đó là điều ông không nên làm lúc này. Không ai có thể khuyên bảo và giúp đỡ ông cả, không ai. Chỉ có một cách mà thôi. Hãy đi vào bên trong mình. Hãy khám phá cái nguyên cớ bắt buộc ông phải viết; hãy kiểm tra xem nó có cắm rễ vào chốn sâu nhất trong trái tim ông không, hãy thú nhận với chính mình rằng liệu ông có chết hay không nếu không được viết? Trên hết, hãy tự hỏi vào giờ tịch mịch nhất trong đêm: tôi có phải viết không? Hãy đào sâu vào chính mình để có một lời đáp sâu. Nhược bằng nó là khẳng định, nhược bằng ông được đáp lại câu hỏi nghiêm túc này với “tôi phải” dứt khoát và giản dị, thì ông hãy xây dựng cuộc đời ông quanh sự tất yếu ấy; cuộc đời ông, đến tận giờ phút hững hờ và thấp hèn nhất của nó, phải trở thành dấu hiệu và chứng tích của thôi thúc ấy. Rồi hãy gần gũi tự nhiên hơn. Rồi hãy thử, như con người đầu tiên, nói về những gì ông thấy và sống và yêu và mất. Đừng làm thơ tình; ban đầu hãy tránh những hình thức đã quá quen thuộc và bình thường: ấy là những hình thức khó nhất, bởi cần một sức lực to lớn chín muồi để đưa ra được cái gì riêng nơi truyền thống tốt đẹp và phần nào rực rỡ đã xuất hiện vô vàn. Thành thử ông hãy tránh xa những mô típ chung mà về với những mô típ cuộc sống hằng ngày của ông mang lại; hãy miêu tả những nỗi buồn và ước muốn của ông, những ý nghĩa thoáng qua và lòng tin vào một cái đẹp nào đó – hãy miêu tả tất cả bằng lòng chân thành thắm thiết, thầm lặng, khiêm cung và hãy dùng những thứ quanh mình, những hình ảnh trong mơ và những đối tượng của ký ức để bộc lộ bản thân. Nếu cuộc sống hằng ngày của ông có vẻ nghèo nàn thì ông đừng trách nó; hãy tự trách mình, tự nhủ mình không đủ thi sĩ để gọi lên những phong nhiêu của nó; bởi đối với kẻ sáng tạo thì chẳng có cái gì là nghèo nàn và chẳng có chốn nào là nghèo nàn, xoàng xĩnh. Và ngay cả khi ông ở trong tù với những bức tưởng ngăn không cho bất kỳ âm thanh nào của thế giới lọt vào các giác quan – chẳng phải ông vẫn luôn còn đó tuôi thơ, thứ của cải vương giả quý báu, cái kho tàng kỷ niệm đấy ư? Ông hãy hướng sự tập trung vào đó. Hãy tìm cách vực dậy những cảm giác đã chìm của dĩ vãng xa xôi; nhân cách ông sẽ trở nên rắn rỏi hơn, nỗi cô đơn của ông sẽ mở rộng và trở thành một nơi trú ngụ dưới bóng tà huy, nơi những ồn ào của người khác lướt qua cách xa. Và khi từ sự hướng mình vào bên trong này, từ sự chìm vào thế giới của riêng mình này mà thơ đến, thì ông sẽ chẳng màng đến việc hỏi bất cứ ai đó có phải là thơ hay hay không nữa. Ông cũng sẽ không tìm cách khiến mấy tập san để ý đến các tác phẩm ấy: bởi ông sẽ thấy trong đó những tài sản tự nhiên thân yêu của mình, một mảnh và một giọng nói của cuộc đời mình. Một tác phẩm nghệ thuật hay khi nó được tạo ra từ sự tất yếu. Đánh giá nó nằm trong bản chất của nguồn gốc của nó: không có đánh giá nào khác. Bởi vậy, thưa ông, tôi không có lời khuyên nào khác hơn là: hãy đi vào chính mình và xem xét những tầng sâu nơi cuộc đời ông khởi nguồn; ở nguồn của nó ông sẽ tìm được lời đáp cho câu hỏi của ông có phải viết hay không. Nó như thế nào thì ông hãy nhận lấy nó như thế ấy, đừng suy diễn. Có thể nó sẽ nói ông được gọi làm nghệ sĩ. Vậy thì ông hãy nhận lấy số phận ấy và gánh vác nó, sức nặng và sự lớn lao của nó mà không bao giờ đòi hỏi cái phần thưởng có thể đến từ bên ngoài. Bởi chưng kẻ sáng tạo phải là một thế giới của riêng mình và tìm mọi thứ bên trong mình và trong cái tự nhiên ấy mà y đã gắn mình vào đó.

    Nhưng có thể sau cuộc sa vào chính mình và sự đơn độc của mình này ông sẽ phải từ bỏ ý định trở thành thi sĩ (như đã nói, chỉ cần cảm thấy có thể sống mà không viết là đủ để không nên viết nữa). Ngay cả thế đi chăng nữa sự soi chiếu mà tôi mong ở ông cũng sẽ chẳng vô ích. Dù thế nào cuộc đời ông cũng sẽ tìm được những nẻo đường riêng, từ đó mà đi tiếp, và tôi xin chúc, nhiều hơn tôi có thể nói, rằng những con đường ấy sẽ tốt lành, phong phú và thênh thang.

    Tôi biết nói gì hơn? Mọi thứ đáng nhấn mạnh đều đã nhấn mạnh rồi; sau cùng tôi chỉ muốn khuyên ông hãy lặng lẽ và nghiêm túc mà đi đến cùng sự phát triển của chính mình; không có cách nào quấy rầy nó hơn là nhìn ra ngoài và mong lời đáp từ bên ngoài cho những câu hỏi mà hoạ chăng chỉ những tình cảm trong thâm tâm ông vào giờ khắc lặng lẽ nhất mới có thể trả lời.


    Ngày 11 tháng Năm năm 2025,

    Lạnh. Lá cây rụng đường những vũng nước. Vườn hoa nhãn cạnh phòng trọ tôi nở rộ từng búp to màu xám trắng như những chùm pháo hoa. Còn gió lặng, nhưng se se mát và làm ta sảng khoái như vừa bước ra khỏi tiệm gội đầu.

    Tôi đã dậy từ lúc 6 giờ. Hôm nay là Chủ Nhật, một ngày rảnh rang. Thật may mắn nếu có một Chủ Nhật không chương trình, không dự định, hoàn toàn bỏ trống; ta có thể thoải mái nhẩn nha bao lâu tuỳ thích, đọc sách cả buổi sáng, viết một chút vào buổi trưa rồi lại đọc vào buổi chiều. Tôi cần đi cắt tóc hôm nay, đầu tóc bờm xờm như miếng giẻ lau rồi, rũ xuống ngang sống mũi, gây ngứa ngáy, tự tôi cũng mường tượng được bản thân trông nhếch nhác và cẩu thả mức nào.

    Ngày hôm qua, tôi đã đọc hai truyện vừa của Chekhov: Hoa nở muộnCuộc đấu súng. Truyện đầu hay hơn, nhưng cái kết khá vồ vập, như thể Chekhov bị giục phải viết cho xong cái kết. Truyện sau thì dài hơn 100 trang lận, tôi đã mất hơn 2 tiếng để ngốn cho xong: nó là tổng hợp của Cha và con, Anna Karenina, Giáo dục tình cảm trong cùng một tác phẩm. Tôi không hài lòng với cái kết của truyện này, nhưng tôi sẽ cần đọc lại để nhìn nhận nó một cách triệt để hơn, ở một bình diện trung thực hơn.

    Có lẽ tôi sẽ nghỉ viết truyện một thời gian. Để xem nếu không viết tôi có sống được không… Tạm thời tôi sẽ chỉ ghi lại những ấn tượng, những suy nghĩ, quan sát của tôi hằng ngày ở đây.

    ***

    Khi tôi và Hương bước ra đường thì trời lấm tấm mưa, gió lạnh thổi tới làm nổi da gà. Chúng tôi ra quán trà đá và nghĩ xem hôm nay nên ăn gì. Tôi không thích ăn bún chả nên tôi bảo Hương đừng vào quán bún chả cạnh quán trà đá, nhưng sau rốt cô vẫn vào. Tôi mua một bánh mì của thương hiệu không quen biết kèm một hộp sữa Vinamilk, thanh toán tiền (chủ quán bún chả đồng thời là chủ tiệm tạp hoá) và tiến vào ngồi xuống đối diện Hương.

    Chúng tôi ăn. Chiếc bánh mì mười nghìn có lẽ năm nghìn là tiền không khí: nó bé bé, tròn tròn ngang một chiếc bánh dày, bên trong nhân nước sốt sền sệt, vị hăng hăng mùi bò bít tết. Trong lúc chúng tôi ăn, bà chủ quán bất ngờ khen Hương:

    “Ô con bé này có cái nét rất xinh nhé!”

    Hương nhũn nhặn mỉm cười, tiếp đón lời khen như một chuyện gì bình thường lắm.

    “Trông rất tự nhiên,” bà chủ quán nói thêm.

    “Thế là lãi được mấy chục triệu rồi,” người chồng, một bác trung niên tầm ba nhăm tuổi, đang ngồi nướng thịt cạnh cửa ra vào, bỗng bình thêm vào. Và có vẻ bác ta sợ chúng ta chưa hiểu ý của bác (quả thật tôi không hiểu), bác tiếp:

    “Đỡ được mấy chục triệu đi sửa mặt. Giờ chúng nó sửa đầy ra, nâng cái mũi thôi ít cũng phải ba, bốn chục triệu.”

    “Độn cái cằm nữa thì…” Hương cười nói.

    “Nhưng mà hại lắm, biến chứng đầy ra. Nó cũng như răng giả ấy, sau này hỏng lại phải làm lại.”

    “Mà trên cả là trông nó không thật, nhỉ?” bà vợ, lúc này đã trở ra từ gian trong, xởi lởi nói.

    Tôi nhìn bà ta. Bà ta cao chừng gần mét bảy, mặc áo liền quần ở nhà, thân hình phục phịch, mặt mũi phương phi. Ban nãy khi tôi mua bánh mì, bà ta nhìn tôi và đùa rằng: “Trai đẹp mua gì đấy, chọn đi!” Những người bán hàng như này tôi đã gặp vô kể…

    Có vẻ nhìn thấy tôi và Hương đi cùng nhau, một cặp đôi, nên vợ chồng chủ quán bỗng nhớ ra câu chuyện về một cặp đôi khác, cũng hay đến quán. Người bạn trai bằng tuổi tôi, còn người bạn gái tôi không rõ. Tôi chỉ biết, theo lời bà chủ quán, rằng anh ta rất đẹp trai, còn cô người yêu thì cũng xinh gái. Tóm lại, họ là hai con búp bê được bán theo cặp, tức là, hết sức đẹp đôi. Họ thường xuyên đến quán ăn và có lẽ cũng đã thoải mái tận hưởng những lời khen ngợi có phần xu nịnh của bà chủ quán này.

    Thế rồi anh chàng kia phát hiện mình bị ung thư phổi, sau khi chia tay cô nàng được một tháng. Họ vẫn nhắn tin qua lại với nhau. Tôi đồ rằng họ vẫn làm tình với nhau là đằng khác. Câu chuyện này nghe thật mơ hồ và có vẻ gì không thật như những mô típ bi kịch trong tiểu thuyết vậy…

    Khi chúng tôi trở về, trời đã sáng hẳn, đường ngõ êm ru: họ còn chưa ngủ dậy hết.

    “Anh chàng kia chắc không còn sống được bao lâu nhỉ?” tôi nói với Hương. “Mà nghe cứ bịa bịa thế nào ấy, còn trẻ, tức là bằng tuổi mình bây giờ, lại không hút thuốc, mà bị ung thư phổi.”

    “Chẳng có gì lạ cả!” Hương nói, vẻ khinh khỉnh. “Anh có nhớ mấy đứa trẻ con đầu trọc lóc, cao tầm này này, mà bị ung thư hết thảy không… Di truyền, do gen cả đấy!”

    Tôi ậm ừ không đáp, Hương nói tiếp:

    “Người Việt Nam mình hầu như lúc phát hiện ung thư thì đã giai đoạn cuối cả rồi. Chỉ có những người giàu, những người thừa thời gian và tiền bạc để đi khám định kỳ sáu tháng, một năm một lần thì mới phát hiện sớm để điều trị. Mà… cũng chưa biết được… ung thư phát tác nhanh lắm, như ông em ấy…”

    Tôi nhớ lại câu chuyện về ông của Hương. Ông ngoại hay ông nội tôi không nhớ rõ, chỉ biết hai người mất cùng năm thì phải. Hình như ông đã sống một cuộc đời khoẻ mạnh, sức lực tràn trề, và từ khi phát hiện mình bị ung thư cho tới ngày ông mất chỉ cách nhau vỏn vẹn vài ba tháng. Lúc ấy, căn bệnh khả năng đã di căn hết thảy.

    “Bác của thằng T. ấy, anh từng kể với em rồi, cũng bên quân đội như bác anh, tức là vừa về hưu xong thì phát hiện bị viêm gan,” tôi nói với Hương sau một thoáng im lặng. “À không… suy gan thì phải…”

    “Suy gan thì chỉ còn nước chết thôi.”

    “Ừ, suy gan. Vậy thì phải thay gan. Phải bỏ ra ba, bốn tỷ gì đấy, và sống được thêm ba năm. Đấy là chưa tính tiền thuốc thang nhé.”

    Hương vẫn bước đi đều, nhón lên trước tôi vì đây không phải lần đầu tiên cô nghe chuyện này.

    “Biết đâu ba năm còn lại đấy là ba năm tuyệt nhất đời người!”

    “Anh toàn nói nhảm!”

    “Thật thế, nếu biết chỉ còn ba năm để sống thì sẽ chẳng còn sợ gì cả. Thử hết cái này cái kia. Nhưng phải có tiền.”

    “Vậy là làm được bao nhiêu nuôi bệnh viện hết!”

    Chúng tôi im lặng và bước tiếp. Đằng xa, tôi có thể thấy những đám mây đen đang ngùn ngụt kéo đến. Mây trôi nhanh, lá cây lao xao và tiếng chim chích choè rả rích bên vườn. Những con chuồn chuồn đã biến đâu mất, để trơ ra một khoảng không thinh lặng, nhàn nhạt và chậm rãi.

    Tự dưng tôi nghĩ tới câu chuyện người béo và người gầy đã đọc của Chekhov hôm qua, và bằng giọng trầm đục, hơi khàn, tôi bắt đầu kể cho Hương.

    “Em biết không,” tôi khoác vai cô và nói, “người béo luôn giàu hơn người gầy!”

    “Tại sao?” cô nói.

    “Người béo đã ngồi ở đâu thì sẽ ngồi rất lâu, cố thủ ở một vị trí luôn. Họ sẽ ngồi chắc đến mức tưởng chừng không lay chuyển nổi, không rời ra khỏi cái ghế họ đã ngồi vào. Còn người gầy thì… cứ chạy lăng xăng khắp nơi, chẳng kiên tâm với một thứ gì, nên nghèo thôi…”

    “Anh lấy cái triết lý đó ở đâu ra vậy?”

    “Chính anh cũng thấy nó ngớ ngẩn, nhưng em thử nghĩ xem, nó cũng phần nào đúng đấy.”

    “Thế tức là em giàu?”

    “Ừ, em giàu, còn anh nghèo!”

    Hương cười và phẩy tay coi như chuyện đùa. Tôi nói thêm:

    “Nhưng đừng mừng vội! Thưa ngài! Người béo sẽ tích luỹ được một đống gia sản kếch xù, rồi đẻ ra kẻ gầy, thế là kẻ gầy sẽ ăn chơi tiêu tán hết. Cái đó nhằm lấy lại thế cân bằng!”

    Nghe tới đây, Hương nhìn tôi một cách khinh khi và nhếch mép lên. Có vẻ cô đang thấy lý thuyết tôi đưa ra thật nực cười và nhảm nhí, cũng như chính các độc giả vậy, và thú thật, tôi cũng thấy nó nhảm nhí nữa là.

    “Chẳng phải tự nhiên mà người ta nói, ‘Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời’. Đời ông cha làm lụng quần quật, ky bóp từng li từng tí để đời con cháu chơi bời thả cửa. Sự giàu có ẩn chứa mầm mống suy diệt của chính nó. Chỉ có thiểu số thoát khỏi quy luật này, hãy gọi là những gia tộc thịnh vượng đời đời, họ duy trì được khối tài sản đáng nể qua nhiều thế hệ và an tâm tận hưởng niềm sung sướng của sự đủ đầy vật chất. Họ chẳng cần tìm cách gia tăng khối tài sản kia, chỉ cần duy trì thôi là đã mãn nguyện rồi.”

    “Cái này thì em công nhận.”

    “Ừ. Nhưng ở Việt Nam họ không gọi là gia tộc, mà gọi là dòng tộc… à không… dòng họ thôi! Như thằng Cường ấy, họ nội nhà nó là Nguyễn Quang. Thằng em nó, do chính nó đặt tên, là Nguyễn Quang Cường Thịnh. Cứ nhắc tới ông em là phải nhắc tới ông anh!”

    “Ôi trời! Anh nhắc lại câu chuyện này ít phải chục lần rồi,” Hương bĩu môi và nói trong lúc tra chìa khoá vào ổ. “Có gì khiến anh tự hào về nó thế? Về bạn Cường của anh?”

    “Có gì đâu,” tôi uể oải đáp, hơi thất vọng. “Chỉ là liên tưởng thôi, em biết đấy, chuyện này nối sang chuyện kia.”

    Chúng tôi im lặng leo bốn tầng gác, nhào vào trong phòng và đổ vật xuống đệm. Tôi vùi đầu vào mái tóc của Hương, khẽ dụi dụi mặt vào đó. Cả hai chúng tôi cùng thở dốc, và cô bảo:

    “Hít sâu vào. Hít sâu vào.”

    “Bây giờ em làm gì?” tôi hỏi, khi nhịp thở đã đều đặn trở lại.

    “Em xem phim!”

    “Em xem toàn tua thì có gì hay… Mà này, lại phim bác sĩ à? Park Shin-hye, cô này vẫn đóng phim thanh xuân vườn trường à?”

    “Ừ, giờ em xem thấy nó diễn cũng bình thường.”

    “Anh thì không xem được mấy dạng này nữa.”

    “Em cũng thế. Em toàn tua thôi!”

    “Thế em xem để làm gì?”

    “Em á? Giết thời gian, có thế thôi. Phim nào mà em thích thì em xem không sót một giây, nhưng mấy phim này thì chỉ xem lớt phớt. Đoạn nào thích thì xem, không thích thì tua.”

    Tôi thầm nghĩ việc này thật vô bổ. Thì giờ đang trôi qua, tuổi trẻ dần lùi về sau, thế mà chúng tôi vẫn cứ dán mắt vào điện thoại, vẫn áp lực vì không kiếm ra tiền, vẫn thất vọng vì bản thân không chịu cố gắng. Mỗi lần chúng tôi nói với nhau về tương lai, về những hoạch định, mắt cả hai đứa đều sáng lên: chúng tôi mơ một ngôi nhà nhỏ, một phòng đọc sách dành riêng cho tôi. Tôi thì mơ về một căn gác bên hồ, nơi tôi có thể ra đó mỗi sáng, cảm thấy mình sống giữa sông nước và điềm nhiên hút thuốc. Lúc ấy có khi tôi lại không viết lách nữa mà chỉ nhẩn nha giết thời giờ bằng những trò tiêu khiển vô bổ, vô hại.

    Tôi định bụng chỉ cho Hương một vài bộ phim lẻ, những phim kinh điển, nhưng tự dưng tôi chùn lại và không nói nữa. Khả năng cô nàng sẽ không thấm nổi cái gu phim của tôi. Đó là những bộ phim tẻ nhạt với phần đông mọi người.

    Chúng tôi hôn nhau ba cái, có lẽ, rồi tôi trở dậy, nhẹ nhàng tiến về phía bàn viết…

    “Anh không bật quạt cho em à?”

    “Trời mát mà.”

    “Thế anh mở cửa sổ ra cho thoáng.”

    “Ừ.”

    Tôi mở hé cửa sổ, đủ để thấy bên ngoài những cành nhãn đang la đà, đủ để nghe tiếng xe cộ ngoài đường cái vẳng lại, và trên cao tiếng chuông sáo nhà bên đưa nhịp dìu dặt, thong dong. Không thấy chim đâu nhưng tiếng hót của chúng thì rả rích liên hồi. Tôi thở dài thật khẽ và bắt đầu viết.


    Ngày 12 tháng Năm năm 2025,

    Hiện tại tôi đang đọc lại cuốn Những linh hồn chết của Gogol.

    Hôm nay tôi dậy muộn, người mỏi nhừ, đầu nhức và đau họng. Tôi không muốn viết gì vào lúc này, vậy mà hôm nay tôi rảnh đấy. Bây giờ tôi phải nghĩ xem mình sẽ làm gì cho hết thì giờ.

    ***

    Ngày nhỏ, tôi có một người bạn thân, tên là Tuấn Anh, nhưng tất cả mọi người đều gọi nó bằng biệt danh “Bờm” nên tôi cũng gọi theo. Tôi nhớ lần duy nhất tôi gọi nó bằng tên thật là vào năm lớp bốn, đó là một sự cố tình, nhưng ngay khi chữ “Tuấn Anh” bật ra khỏi miệng thì tôi thấy gượng gạo, lúng túng thế nào ấy. Thế là từ ấy trở đi tôi chỉ gọi nó đơn giản là Bờm.

    Bờm hơn tôi hai tuổi. Nhà nó với nhà ông bà tôi có thể xem là sát vách, chỉ cách nhau một giậu mùng tơi thôi. Hiển nhiên, số phận định trước chúng tôi sẽ thành bạn thân. Tôi chỉ nhớ lờ mờ ngày bé, Bờm có một hội bạn rất đông là những thằng chung lớp nó, thường tụ tập trước cánh cổng bằng thép sơn màu xám tro để rủ nó đi chơi. Ngay từ thời ấy, nó đã cao lớn nhất cả bọn, còn tôi thì lọt thỏm giữa cả đám ấy. Mặc dù kém tuổi, đôi khi nó cũng dẫn tôi theo cùng.

    Từ bấy đến giờ đã thấm thoắt gần hai thập kỷ. Bờm vừa mới đi nghĩa vụ về. Nó vẫn hiền lành, nhả nhớt và dường như chưa từ bỏ được cuộc đời ve gái. Có vẻ đối với nó gái gú vẫn chiếm một phần quan trọng của lạc thú cuộc đời. Tuy vậy, nó có một mối tình keo sơn với một cô sinh viên nông nghiệp, cô này bằng tuổi tôi, người mảnh khảnh, nước da tai tái và thường cụp mắt xuống như con rùa rụt cổ mỗi lần gặp tôi. Tất nhiên, đó chẳng phải do cô ta ngại tôi, chỉ là cái thói của cô ta nó thế. Tôi ngờ rằng với bất cứ ai không đủ thân quen, cô ta đều giữ một điệu bộ dè dặt, cả thẹn như vậy. Cô ta rặt gái quê.

    Cuộc tình nào trông bề ngoài đều rất êm thấm. Cuộc tình giữa Bờm và T. cũng vậy. Vẫn có cãi vã, bất đồng, giận dỗi, thường xuyên là đằng khác, nhưng hiển nhiên cô nàng không thể từ bỏ anh bạn thân của tôi. Cô ta đã yêu bằng sự cả tin ngu ngốc, dâng cả tấm lòng chất phác và dung dị của một thiếu nữ mới vào đời – tất cả những điều trên sẽ được định đoạt bằng một cái đám cưới. Hình như cô nàng sắp dọn về nhà Bờm ở hẳn. Mong là không có những chuyện trái khoáy khiến cô ta phải xách vali, bước lên xe khách về quê của mình.

    Còn về phần mình, Bờm khả năng sẽ cưới cô gái. Nó không hẳn yêu cô ta đến mức rồ dại, nó không thuộc tuýp si tình, trái lại, là một con người khá thực tiễn. Đến giờ nó vẫn công kích tôi về vụ tôi chọn ở lại Hà Nội sau khi tốt nghiệp mà không dọn về quê sinh sống. Hà Nội, theo nó, là bụi mịn, tắc đường, chèn ép, tranh đua, và hơn cả là xa gia đình. Cu cậu này sẽ sống một cuộc đời thong dong, hẳn thế, nhưng là một cuộc đời tầm thường và vô vị. Tuổi thanh niên sẽ lướt ngang đời cu cậu mà không để lại ấn tượng gì đáng kể, và, đáng buồn hơn hẳn, tính cách của cu cậu có thể thôi biến chuyển từ sau 30 tuổi.

    Theo tôi, bét cũng phải trụ lại Hà Nội được vài năm. Dốt đến mấy cũng phải trụ lại. Trừ phi được gia đình chống lưng, cắt đặt đâu vào đấy, thì ta có thể thoải mái đem pass hết đồ đạc trong căn trọ đi, dọn về quê đi làm gần nhà, ngày ăn ba bữa, nghỉ trưa không ngủ ở công ty mà về nhà ăn cơm cùng cha mẹ, đánh một giấc và chiều đi làm tiếp. Xăng đổ năm mươi nghìn đi cả tuần mới hết. Đến tối đi đá bóng, bida, uống cà phê, đọc lớt phớt vài cuốn sách, học tiếng, chơi game, v.v. Cuộc đời như thế thì còn gì để bàn… Lắm khi tôi cũng ước.

    Từ khi chuyển sang công việc mới, tôi gần như không có tiền, và vì không có tiền nên tôi gần như thờ ơ với tiền. Mỗi lần về quê đi chơi với nhau, Bờm luôn tỏ ý khó hiểu, nhăn mặt cau mày, thậm chí cười cợt vì tôi gần như một thằng khố rách áo ôm, không có nổi một cắc bạc trong người. Có lần tôi chơi thua bida và phải thanh toán tiền bàn, tôi mới phát hiện mình không đủ tiền trong tài khoản, nó cười sặc sụa vào mặt tôi. Nhưng tôi thì chẳng cảm thấy ngại, cũng chẳng giận nó, tôi chỉ thấy nó đần đần thế nào ấy. Nó đã thanh toán hộ tôi và sau khi về nhà thì tôi chuyển lại, nhưng tôi chán vụ đi bắn bida với nó luôn: nó luôn thích đánh theo lối ai thua trả hết, mà tôi, người chỉ bắn bida khi về quê và chỉ bắn với Bờm để chiều lòng nó (làm gì còn chỗ nào để chơi!), thì luôn là người thua. Một kiểu bắt nạt của mấy thằng lọc lõi, nhưng âu cũng là chuyện thường tình, phàm đã là thể thao thì cứ phải cược tí tiền vào nó mới căng! Còn nếu bạn tỏ ý muốn chơi cưa đôi, chia đều mỗi bên 50-50, thì bạn là thằng lom dom, thằng hèn, kiểu thế… Về quê bạn sẽ gặp rất nhiều thành phần kiểu ông bạn Bờm của tôi, nhưng ngoại trừ những nết xấu đó ra thì chung quy gã là một thằng trai khá được.

    Dạo gần đây tôi ăn cơm ở nhà, sáng hầu như tôi nhịn, từ công sở về tới phòng là tôi lập tức ngồi vào bàn viết, mà toàn viết những cái linh tinh, nhăng nhít gì đấy. Mỗi khi người ta hỏi tôi tại sao lại cứ lông bông như thế, không chịu chọn lấy một miếng nghề cho ổn định, thì tôi bắt đầu rao giảng về chủ nghĩa tự do, về lý tưởng, về tuổi trẻ sục sôi, về “vốn sống quan trọng hơn tiền bạc”, về theo đuổi đam mê, về việc con người ta phải làm một công việc gì đó giá trị và mang tính sáng tạo, về việc tự cho mình một năm rèn giũa viết lách – nhưng hiển nhiên chẳng ai thèm hiểu tôi đâu. Tôi thoáng thấy trong ánh mắt họ sự dè bỉu, khinh khi và tôi biết trong thâm tâm họ ngờ tôi là một thằng điên.

    Sau khi rời bỏ công việc hiện tại, tôi nghĩ mình có thể sống tốt, thậm chí dư dả, với những gì tôi thu hoạch được ở đây. Tôi đã gom được tất thảy những kỹ năng tôi cần cho công việc marketing của mình, công việc tôi chỉ đi làm từ thứ Ba đến thứ Sáu, tức tôi có 3 ngày cuối tuần rảnh rang để viết gì tuỳ thích, đi đâu thì đi hoặc đọc sách cả ngày nếu muốn. Trước giờ, tôi rất ngại nói trước ống kính. Nhưng khi người ta bảo tôi hãy livestream đi, tôi cũng thử, và tôi thấy nó thật bình thường – nhất là khi ta nghĩ chẳng có ma nào xem đâu. Khi ta biết không có ai xem, cũng như khi tôi viết những dòng này mà chẳng có ai đọc, cảm giác tự nhiên và khoan khoái lắm. Nếu giờ tôi viết vì tiền, người ta sẽ ép tôi viết theo mẫu này, văn phong kia, không được quá bao nhiêu từ, đừng miêu tả thiên nhiên quá nhiều, khi ấy tôi sẽ viết một cách lãnh đạm.

    Tuổi trẻ cứ chầm chậm lướt đi, mọi thứ bị bỏ lại đằng sau, ông bà tôi càng ngày càng già, tài chính ngày càng đi xuống, còn trong cuộc chiến lập nghiệp trên thủ đô như một màn thử lửa, trong số 100 kẻ ngoan cố trụ lại thì chỉ có 1, 2 người là thực sự ứng đối được với đời, thực sự thành đạt, còn lại tất cả thui lủi về quê cam phận con sâu cái kiến. Còn tiền bạc ư? Mỗi lần nghĩ tới những con người tầm thường, những kẻ ngu dốt, trí tuệ bậc trung, vẫn đang kiếm hàng mớ tiền mỗi ngày – tôi đều thấy được an ủi. Tới những hạng như thế còn kiếm được tiền thì có gì mà phải sợ hả tôi ơi…


    Ngày 13 tháng Năm năm 2025,

    Tôi còn nhớ một chiều tháng Tám vào cái năm đã xa khuất rồi, tôi đạp xe hơn chục cây số tới nhà của Phương Nam để thăm nàng. Nàng là cô con gái độc nhất của một bác thợ nề và một chị thợ may, gia tài vỏn vẹn của một miếng đất khuất sau luỹ tre cạnh đình làng, trên đó mọc lên một ngôi nhà một tầng trát vôi trắng tinh tươm, có một cửa sổ nhỏ với hàng chấn song sắt han gỉ là nơi tôi thường thấy mẹ nàng ngồi khâu vá. Nhiều khi, tôi bắt gặp nàng đang ngồi chống cằm ở khung cửa đó, nàng thấy tôi và nhoẻn miệng cười tươi tắn, hai bên má lúm của nàng co lại và đôi mắt trong veo như hồ nước mùa thu.

    Con đường xuôi xuống thị trấn trải dài như một dải băng, đồng mạ xanh mướt phủ kín hai bờ đê và những hàng cây bạch đàn rú rít khi tôi băng ngang qua cầu Mẫu Sáu. Dưới chân tôi, đám bèo trôi nổi, lắc lư giữa mặt nước đục ngàu màu đất sét, xa xa thấp thoáng bóng dáng một chiếc bè nhỏ, trên đó có hai nông dân đang vung tay thả lưới. Mái vòm cao ngất của chiếc cổng làng cùng cột mốc chỉ tên thị trấn hiện ra cho tôi biết mình sắp đến nơi, tôi hăng hái đạp nhanh thêm, nhanh nữa, lướt ngang những mái nhà lụp xụp được xây cất giống nhau như những anh em cùng một nhà, lướt ngang phố chợ ồn ào nhớp nhúa, lướt ngang nghĩa trang liệt sĩ, rồi ngang trường mầm non là nơi xưa kia tôi từng theo học, chiếc cầu trượt con voi bạc phếch, xây xước đã thôi được trọng dụng… Thu chưa đến nhưng đã ở trong lòng, vì bầu trời xanh ngắt điểm xuyết một vài ánh bạc của những chùm mây tản mác cô đơn, trên cao, tiếng diều sao đưa dìu dặt, đàn chuồn chuồn bay lượn lăng xăng vội vã như thúc giục con người đừng chậm trễ. Tôi đã bắt đầu mường tượng ra khuôn mặt của nàng, dáng nàng e ấp và giọng nói ngập ngừng của nàng khi đáp lời tôi, rồi tới những nụ hôn vụng dại, mùi hương ngai ngái của tóc nàng phập phồng dọc sống mũi…

    Tôi dừng xe ở khúc quanh, cạnh hàng bán chè và thấy Phương Nam đang đứng khép nép bên phía đối diện, váy đồng phục màu nâu dài quá đầu gối để lộ đôi cẳng chân thon thon, chiếc mũ vải rộng vành đội chếch sang bên, dây mũ chùng xuống dưới cằm nàng. Mắt nàng buồn, nàng ngó nghiêng, tay xoắn lọn tóc buông xoã ngang gò má. Tôi phấn chấn lao về phía nàng…

    “Lạnh không anh?” nàng hỏi tôi, cùng lúc vắt lên vai tôi chiếc khăn quàng len màu đen tuyền do nàng tự thêu lấy. Nàng nhón chân vì tôi cao hơn nàng cả cái đầu, ngay lúc ấy tôi tì tay vào lưng nàng rồi kéo lại sát cạnh.

    “Kìa, đang ở giữa đường đấy,” nàng nói giọng răn đe và toan bước đi…

    Nhà của nàng quả thật rất nhỏ và toả một mùi hương cũ kỹ. Đồ đạc trong nhà vỏn vẹn có một giường gỗ kê sát vách tường, một tấm gương con con viền đỏ thắm nằm chỏng chơ trên nóc chiếc TV lềnh kềnh, màn hình xám xịt như thể nó tự ý thức được sự cổ lỗ của nó. Nàng kéo tôi ngồi xuống cạnh giường và lật giở một cuốn tạp chí nhàu nát, nhiều trang đã bung chỉ và xộc xệch thò ra khỏi lề. Nàng bảo tôi nàng được dặn không nên để đàn ông ngồi chung giường với mình, nhưng với tôi thì nàng mặc kệ và tôi có thể thích làm gì nàng nếu muốn. Con người hẳn là một giống vật kỳ lạ, khi có được thứ hắn muốn rồi thì lại đâm ra chán ghét nó. Những đau đớn do dục vọng chất chứa trong tôi dường như biến mất và tôi chỉ thấy nàng lúc đó thật rạng ngời, thanh tân như một bông hoa huệ, nàng sáng bật lên khỏi cái nền u tối ảm đạm này…

    Trước khi ra về, nàng còn đặt vào tay tôi một xấp thư tay do nàng viết tặng tôi. Tôi ngắm nhìn những nét chữ thon thon như chính thân hình nàng, chỗ này nét thanh, chỗ kia nét đậm, bức thư này nàng viết nét thẳng, bức khác nàng lại đổi nét nghiêng – tất cả đều phảng phất bóng dáng của nàng. Nàng chào tạm biệt và hỏi tôi bao giờ sẽ gặp lại nhau. Tôi ôm nàng và hứa rằng hai tuần nữa sẽ từ thành phố trở về đây thăm nàng.

    ***

    Nàng và anh yêu nhau tha thiết như những người rất gần gũi, gắn bó với nhau, như vợ chồng, như những người bạn âu yếm. Họ cảm tưởng rằng chính số mệnh đã tạo họ ra cho nhau, và không thể hiểu rằng làm sao mà anh lại có vợ và nàng lại có chồng. Họ như hai con chim trời cùng đàn, một con trống, một con mái, bị bắt và đem nhốt vào hai cái lồng khác nhau. Họ tha thứ cho nhau tất cả những gì trong quá khứ mà họ cảm thấy ngượng ngùng, tha thứ tất cả những gì trong hiện tại và cảm thấy rằng mối tình này đã làm thay đổi hẳn cả hai người.


    Ngày 14 tháng Năm năm 2025,

    Video TikTok của tôi hôm nay được tận 20K mắt cơ đấy, từ 7 followers tăng thành gần 200 rồi. Chậc chậc… Đúng là vui thật, nhưng mà chính trong lúc vui tôi đã nghĩ tới chuyện niềm vui này rồi sẽ mai một. Tốt hơn hết là chỉ đăng những gì mình yêu thích, mình tâm đắc, tạm thời chưa lo nghĩ kiếm tiền vội. Bản thân tôi quan niệm thế này: bất cứ chuyện gì, đặc biệt là chuyện mà bạn là một tay mơ, chân ướt chân ráo bước vào, thì đừng vội mong trục lợi từ nó. Bạn cũng chẳng cần nghĩ tới chuyện cung cấp giá trị cho người xem vội – hãy làm hài lòng chính bạn trước. Làm hài lòng người khác là cái động lực không bền. Hãy coi kênh của bạn như một cuốn nhật ký. Bạn đâu viết nhật ký cho người khác đọc, phải chứ? Và kể cả không có ai đọc nó ngoài bạn, bạn cũng không lấy làm buồn phiền. Còn nếu họ biết, họ yêu mến những chia sẻ, suy tư của bạn, thì mừng cho bạn!

    Tôi ghét TikTok lắm! Công việc marketing của tôi ép tôi phải online cả ngày, mỗi chiều về nhìn vào thời lượng sử dụng điện thoại tôi chỉ muốn chặt phăng tay mình đi. Đôi khi tôi còn thấy bàn tay mình nhớp nhúa, ghê tởm chính mình, vì một ngày đã trôi qua rồi đấy, mọi thứ đang lùi dần về sau, nội dung thì đa phần sáo rỗng, giả dối, nghèo giá trị và thiếu đầu tư. Nếu có thể, tôi muốn cung cấp những nội dung thật chất lượng, những nội dung mà người ta phải gật gù, phải chững lại vài giây để suy ngẫm, phải lưu lại, và nội dung đó là từ đầu tôi mà moi ra: kiến thức của tôi, trải nghiệm của tôi, tất cả những gì tôi đã bỏ thời gian, công sức ra để đạt lấy… Kỳ lạ thật, những thứ vô bổ, tẻ nhạt, hợm hĩnh, giả dối, những thứ được làm ra cốt để giành giật sự chú ý từ bạn, thò tay vào túi của bạn, lấy đi những đồng tiền bạn khó nhọc kiếm ra… thì lại được hâm mộ, được hưởng ứng.

    Tự dưng tôi nhớ tới những nhà văn làm việc miệt mài trong thầm lặng, tới những khung cửa sổ mờ mờ ánh sáng leo lắt của ngọn nến bấc, của đèn dầu, về những con người vĩ đại đã kiên tâm theo đuổi sứ mệnh vĩ đại mà nghệ thuật đặt lên vai, ròng rã nhiều năm trời, trong tủi nhục, cô đơn, tự dằn vặt, tự nghi ngờ bản thân, không được ai biết đến, không có lấy một màn pháo tay… Họ cứ quần quật như thế, cho tới một ngày, một tác phẩm của họ, ở thời kỳ mà thiên tài trong họ bắt đầu chín muồi, tìm tới đúng tệp độc giả của nó cũng như được trình làng vào đúng thời điểm của nó, thì nó một bước đưa vĩ nhân trong căn gác xép kia lên tận mây xanh, như cơn gió đẩy cánh diều lên cao, cao mãi…


    Ngày 15 tháng Năm năm 2025,

    Nay mệt quá…

    Ồ, tôi đã bỏ viết mấy hôm nay và thấy mọi chuyện vẫn bình thường. Chỉ là tôi buồn chán hơn chút, trống rỗng hơn chút. Các bạn thử nghĩ mà xem, có tẻ nhạt không nếu ta ngày ngày vác xác tới công sở, chôn mình từ sáng tới chiều, bỏ lỡ cả bình minh lẫn hoàng hôn trong cảnh tắc đường, mà để làm gì cơ chứ? Thật may mắn nếu bạn yêu thích công việc mình làm, bạn được trao cơ hội để sáng tạo và phát triển, bạn không phải cầm điện thoại hay online quá nhiều. Tôi, cứ mỗi tối về, tôi chỉ muốn ngắt kết nối hoàn toàn với thế giới. Nhưng gần đây, chuyện đọc sách của tôi gặp vấn đề. Tôi không thể tập trung đọc trong trạng thái an tĩnh như trước nữa – tâm trí tôi luôn vận động, dòng suy nghĩ trong tôi rối ren, những con chữ lướt qua mắt tôi nhưng không đi vào đầu tôi…

    Tôi đang đọc Sông Đông êm đềm của Sholokhov. Quá dài, quá chán… Có lẽ nên gác lại và tìm một cuốn nào đó thú vị hơn.


    Ngày 16 tháng Năm năm 2025,

    Từ khi phát hiện ra TVE, tôi sẽ đọc kỳ hết tất cả tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt của Gogol, Tolstoy, Zola. Tôi sẽ đọc thêm cả Issac Babel.

    … Cuộc sống phồn hoa đã hấp dẫn anh, đã có lúc anh quấn chiếc khăn quàng đẹp, đội chiếc mũ bảnh bao. Dễ bị cám dỗ lắm đấy, người ta có thể hạ mình xuống để vẽ những bức tranh nho nhỏ theo thời thượng, những bức chân dung nho nhỏ đắt tiền. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ làm hư hỏng tài năng đi thôi chứ không sao giúp nó phát triển được. Anh phải kiên nhẫn. Phải suy nghĩ trước mỗi tác phẩm, bỏ những cái lòe loẹt đi. Mặc cho kẻ khác kiếm nhiều tiền. Cái gì là của anh, của riêng anh, anh sẽ không bao giờ mất.

    – BỨC CHÂN DUNG, Nikolai Gogol


    Ngày 17 tháng Năm năm 2025,

    Thứ Bảy là ngày chay tịnh: không mạng xã hội. Nãy đọc sách xong ngủ mơ, trong mơ thấy mình đang đọc.

    Hôm nay đọc Bức chân dung của Gogol, Em làm ơn im đi được không của Raymond Carver (chẳng hiểu mấy), tập truyện ngắn và tiểu thuyết Người con gái viên đại uý của Puskin.

    ***

    Tối qua tôi đọc sách rồi ngủ quên lúc nào không biết. Nửa đêm sực tỉnh, nhổm dậy tắt điều hoà, thấy đèn học vẫn đang bật.

    Buổi sáng ngày nghỉ đón tôi bằng một cơn đau đầu và khàn giọng khủng khiếp. Chẳng thiết ăn gì. Nhưng rồi cũng đưa Hương đi ăn bát cháo. Chúng tôi ăn hai quả trứng vịt lộn, hai bát cháo sườn hết vỏn vẹn bốn mươi nghìn.

    “Quán này rẻ thật, ăn suất bún chả đã ba nhăm nghìn,” Hương nói với tôi trên đường về.

    Sau khi tống tiễn được cô nàng đi, tôi ngồi vào bàn và bắt đầu chữa đề cho học sinh. Dạy thông hai ca chiếm trọn cả buổi sáng, rồi tôi tắm rửa qua loa, ra quán trà đá ngồi, đọc nốt truyện Em làm ơn im đi được không? của Raymond Carver. Chừng hai mươi phút sau thì Hương tới, áo nắng màu xám trùm kín người, chỉ lộ ra hai con mắt to tròn, hai đôi mắt mà mỗi lần cãi vã tôi đều thấy chúng to và tròn hơn. Vẫn là quả sầu riêng hôm qua trong bọc ni-lông treo ở dưới chân, những chiếc gai tua tủa xuyên qua lần túi mỏng.

    Chúng tôi ăn ở một quán mì cay trên đường Triều Khúc, cạnh đó là một quán cơm rang. Tôi đang bị nhiệt và vốn không ưa mì cay lắm, nên tôi tạt qua gọi một suất dưa bò. Anh chủ quán, người cao gầy, gương mặt hiền lành, nói nhỏ nhẹ với tôi:

    “Ừ, cứ sang đi, tý anh bảo người bê đồ qua.”

    Ngay khi bát mì cay cấp 1 của Hương đặt xuống, bốc khói nghi ngót và lủi sủi bọt, tôi đã thấy một con tôm màu cam cam và biết chắc mình chuẩn bị phải bóc nó.

    Bữa ăn trôi qua rất chậm rãi. Quán đông, gồm nhiều bàn chữ nhật với hai cặp ghế đặt đối diện, còn sát vách tường và đi sâu vào gian trong sẽ thấy những bàn dài hơn, có những tấm đệm lót để ngồi bệt như những quán ăn của Hàn Quốc. Ngồi đó gần điều hoà hẳn sẽ mát hơn, nhưng không hiểu sao tôi không thấy ngồi bệt nên đã chọn một góc gần sát cầu thang, chỉ ké được chút gió từ chiếc quạt trần quay lờ đà lờ đờ trên đầu. Bên ngoài trời nắng chang chang, chốc chốc cậu trông xe lại mở cửa bước vào, chắc để tránh nóng. Nhìn mặt tôi đoán cậu ta không quá hai mươi tuổi, người hơi gầy, lưng gù, nhưng phảng phất nét cương nghị và ra vẻ một người biết nhẫn nhịn lắm. Từ lúc bắt đầu tập quan sát mọi người, tôi nhận thấy mình hay dò đoán tính cách của một người qua vẻ ngoài của họ.

    Tôi bảo Hương lên nhà ngủ một chút rồi hẵng phóng xe về quê. Bấy giờ đang giữa trưa. Nhưng cô nàng không chịu, chở tôi tới trước cửa rồi đi ngay.

    Tôi lên phòng, đọc truyện từ trưa cho đến gần một rưỡi, ngủ quên mất, khi tỉnh dậy đã gần ba giờ. Sau khi tắt điều hoà, tôi mở hé cửa sổ: bầu trời âm u, màu xanh xám buồn buồn, hàng cây xào xạc và nghiêng ngả. Vì định trước sẽ viết vào buổi tối, tôi tiếp tục ngồi đọc sách. Đọc cái gì cũng chẳng nhớ nữa…

    Tới hơn bốn giờ thì tự dưng tôi nhớ đến mẹ. Hôm qua bà vừa nhắn tin cho tôi. Bà bảo sao Zalo của bà không hiện ảnh đại diện khi nhắn tin. Tôi gọi điện và hai mẹ con dông dài gần một tiếng trời.

    “Thôi thì cố gắng lên con nhé! Cố lên con! Hai mẹ con mình cùng cố!” bà nói với tôi. Lần nào trước khi tắt máy bà cũng nói vậy.

    “Mẹ không phải lo đâu, con lúc nào cũng cố gắng hết,” tôi nói. “Thôi, thế nhé…”

    Cũng chính vào lúc đó tôi nảy ra ý tưởng cho một truyện ngắn. Tôi đặt tựa đề là “Một cuộc dạo chơi”, kể về một chàng sinh viên vào ngày đầu lên Hà Nội tham quan ngôi trường mà anh ta sắp theo học, đã theo sự rủ rê của một đàn anh tới quán bida và bị vặt sạch tiền. Tôi đã viết xong bản thảo đầu tiên cho truyện ngắn đó, ngày mai sẽ trau chuốt lại.

    Viết đến đây thì tôi mệt lắm rồi. Truyện ngắn của tôi dài hơn 3.000 từ thôi mà giờ gõ tới đây, tôi đã thấy tay run run…


    Ngày 18 tháng Năm năm 2025,

    Ngày Chủ Nhật là ngày chay tịnh nốt. Như thể có một thế lực huyền bí, ngày nghỉ tôi luôn dậy sớm hơn ngày thường. Thật khoan khoái khi biết rằng cả ngày hôm nay sẽ thuộc về ta, ta có thể làm gì tuỳ thích, thích sắp xếp một ngày ra sao thì ra, không có chương trình xen giữa, không có nhiệm vụ cần hoàn thành, giả có thì cũng chỉ lặt vặt như chuyện nước nôi, giặt giũ.

    Tôi dậy từ tang tảng sáng. Phố xá im lìm còn chưa dứt khỏi giấc ngủ, bầu không khí ẩm ướt, màn trời hơi vẩn đục. Chim hót líu lo bên vườn nhà, tiếng chuông gió lanh canh nghe dìu dịu, êm ái, hạnh phúc. Lúc ấy, ta cảm tưởng cuộc đời thật mĩ mãn, ta mơ về một chốn thanh bình, ít nhũng loạn, nhiều cỏ cây, cho phép ta đắm chìm vào thiên nhiên, hít thở hương thơm ngào ngạt từ những dàn hoa leo chăng đầy ban công đã vuốt ve lòng tự hào của các bà nội trợ ít phiền não. Cuộc sống lặng lẽ trôi đi, thong thả như chiếc thuyền giấy ta đem thả xuống dòng nước những ngày trời mưa, nó chao đảo rồi dần lấy lại thế cân bằng, lao tuốt đi trong sự ngỡ ngàng, hân hoan của con mắt thơ trẻ.

    Mỗi sớm ban mai thức giấc, tôi đều vội vã ngồi vào bàn và đắn đo xem mình viết gì hôm nay. Căn phòng yên tĩnh như một nấm mồ, êm ru, phẳng lặng, nàng thơ ghé qua khung cửa sổ nhỏ, tới ngồi vắt vẻo trên những chấn song. Nàng hỏi tôi đợi nàng đã lâu chưa, và tôi nói tôi không bao giờ cố đợi nàng cả. Nhưng thật vui vì nàng đã đến, vẻ đẹp thanh tân của nàng hệt như giọt sương mai đọng lại trên tàu lá kia, trông nàng sảng khoái, vô tư, hoàn toàn không bận tâm đến những người như tôi, những người không may mắc cái tật viết văn. Từ một bàn viết đối diện cửa sổ, trông ra khoảnh vườn nhà bên um tùm sắc xanh, gió hây hây đưa đẩy những nhành cây, tôi không nắm bắt được suy nghĩ nào thật thấu suốt, một ý tưởng thật kỳ khôi cho các truyện ngắn của mình. Salinger từng nói rằng khi người ta không thể viết, họ có thể làm việc.

    Noi theo lời khuyên đó, tôi bắt tay vào sửa những bản nháp của mình. Vừa qua, anh Đức Anh Kostroma đã tình cờ ghé qua cái blog hẻo lánh này và đặt đăng một truyện ngắn của tôi với tựa đề “Cuộc tái ngộ”. Truyện đó tôi đã viết từ những ngày còn ở nhà cũ, nằm sấp trên giường mà viết, còn gối thì kê ngang bụng – một tư thế rất phù hợp nếu muốn đẩy nhanh tiến trình thoái hoá đốt sống cổ. Tôi đã cắt tỉa truyện ngắn ấy, loại bỏ một vài cụm từ, chi tiết thừa thãi. Nhưng có lẽ bạn đọc cũng nên biết câu chuyện nói về cái gì:

    Như tựa đề đã tiết lộ, truyện ngắn kể về cuộc tái ngộ giữa hai người bạn thời cấp ba: Quang và Minh. Minh thời đi học từng là cậu học sinh ngang tàng, lêu lổng, nhưng là người có bản lĩnh. Sau khi lăn lộn ở Sài Gòn bảy năm, cậu ta trở về quê hương như một con người thành đạt. Còn Quang, hiện đang làm uỷ viên ban chỉ huy quân sự, vừa đón đứa con đầu lòng, cam chịu đời sống viên chức quèn ở một tỉnh lỵ hẻo lánh. Bối cảnh của câu chuyện diễn ra phần lớn ở quán cà phê Trạm Hồi Ức, sau đó là một loạt những độc thoại nội tâm của Quang khi trên đường về nhà. Quang ghen tỵ với thành công của Minh, chắc chắn rồi, nhưng nỗi ghen tỵ đó chỉ là phần nổi, còn thứ thực sự dày vò con người ấy là niềm nuối tiếc: tiếc cho một cuộc đời mình đã bỏ lỡ. Các bạn có thể đọc truyện ngắn đó tại đây.

    Sau khi bị cơn đói viết lách vật ra rã rời, ta đổ ra mặt giấy những con chữ lộn xộn, những ý tưởng sơ khai cần được trải nghiệm và trí tưởng tượng bồi đắp thêm. Tất cả những gì ta thảo ra trong bản thảo đầu chỉ như một cái khung, và việc tốt nhất ta có thể làm là quên chúng đi. Tôi thường gọi là “ngâm rượu”. Tôi tìm sự quên lãng và nguôi khuây trong thú đọc sách, cố gắng tách rời bản thân khỏi những gì mình đã viết, nhưng tôi tin trong tiềm thức câu chuyện vẫn đang diễn tiến. Rồi ta đọc, nghe nhạc, xem phim, lướt mạng, đi ngồi cà phê, dạo quanh không mục đích, đi chợ, nấu ăn rồi ngủ.

    Gần đây, tôi đọc Puskin. Tôi đã đọc gần hết các truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của thi sĩ này. Truyện “Con đầm pích” và “Phát súng” của ông hay tuyệt. Ước tính tôi đang đọc 7-8 truyện cùng lúc: tôi đọc lại “Nàng Lika” của Bunin, “Chiếc áo khoác” của Gogol, “Tập truyện của ông Ivan Petrovich Benkin quá cố” của Puskin, “Phía Đông vườn địa đàng” của Steinbeck, “Chuyện vặt ông Pickwick” của Dickens, “Tuyển tập truyện ngắn Maupassant”. Sau khi đọc một truyện ngắn, tôi gần như quên khuấy mình vừa đọc gì, thứ đọng lại trong tôi chỉ là cảm giác lâng lâng, đôi khi là hụt hẫng, như vừa trải qua một giấc mơ. Tôi không kỳ vọng quá nhiều vào việc đọc của mình, không trông đợi nó sẽ khiến tôi trở nên giỏi giang, thành toàn, thanh tao, hay nhãn quan của tôi sẽ được khai mở, bút pháp trở nên tinh tế, v.v. Trước giờ tôi vẫn cho rằng không đọc thì tôi không viết được, nhưng thực ra không đọc tôi sẽ không sống nổi. Người ta viết từ trải nghiệm, người không có trải nghiệm phải đi vay mượn, mà ông chủ nợ hào phóng và lấy lãi ít nhất là sách.


    Ngày 19 tháng Năm năm 2025,

    Một ngày mới lại đến. Tôi đang ngồi gõ những dòng này vào giữa chiều. Đối với tôi mà nói, buổi chiều giống như phần thừa của buổi sáng vậy: tôi chẳng làm được gì ra hồn. Đầu óc tôi cứ luẩn quẩn, nghĩ ngợi không xuôi…


    Ngày 20 tháng Năm 2025,

    Phụ nữ cũng như giống mèo: gọi thì lảng còn làm ngơ thì lại sán đến.

    ***

    … Những người nổi danh vì tài, những nhà thơ lớn, những sử gia danh tiếng thường phải chịu sự ghen ghét của những kẻ lấy việc nhận xét các tác phẩm của người khác làm thú vui duy nhất trong khi bản thân họ không đẻ ra được một thứ gì.

    – Điều đó không lạ, Don Quixote nói, vì có nhiều nhà thần học lên bục giảng thì tồi nhưng lại rất giỏi phát hiện sai sót của những người giảng thay cho họ.

    ***

    Ngõ 193 Trung Kính chứa đựng trong nó cả một khu phố, như thể một cái phễu phình ra ở đầu. Quán xá nơi đây nhiều vô kể, từ các quán cà phê mang hơi hướng hoài niệm, mặt tiền ăn sát ngã ba, ngã tư, cho tới những hàng cháo dặm, tiệm spa, và cả những nhà dân cao tầng, ban công bị che khuất bởi giàn hoa giấy rực sắc vàng, đỏ. Nhìn cảnh ấy, người ta chỉ muốn bỏ quách công việc đang làm, ước mong thời giờ trôi qua nhanh để tự pha lấy một tách trà, ngồi vắt vẻo trên một chiếc ghế gỗ, hít thở sớm mai trong lành và đăm chiêu nhìn dòng người chờn vờn lướt qua. Mặc cho cả thế gian biến mất, ta vẫn thảnh thơi nhàn hạ.

    Trưa nay, vì đã chán ăn xôi, tôi đi vòng ra đường Mạc Thái Tổ, trong đầu tự nhủ sẽ tìm bằng được một quán cơm rang. Tia nắng xuyên qua tán cây thưa lá vương trên mặt đất những đốm lỗ chỗ như vết mực loang. Mùi thơm nức mũi của thịt bò hầm giữ chân tôi trước ngã ba, và tôi quay đầu, hoá ra là bún bò Huế. Tôi không thích món này, vậy nên tôi tiếp tục đi.

    Đây rồi, bên cạnh hàng tạp hoá tôi vẫn thường mua bánh bao ăn sáng, bỗng thấy có một tấm biển treo trên cột điện bên kìa đường, đề: “PHỞ BÒ”. Bên dưới là những dòng chữ cùng phông, nhưng nhỏ hơn, cho biết quán có bán cả cơm rang, mì xào. Hoá ra tôi đã lượn một vòng để rồi phát hiện kho báu nằm ngay dưới chân nhà mình. Tôi ngồi ở bàn trên vỉa hè, cạnh quầy bếp, gọi cho mình cơm rang dưa bò. Trong lúc đợi đồ, tôi dặn mình không được lướt điện thoại. Những giờ phút rảnh rang quý giá có thể bị phí hoài bằng hết nếu ta cứ chăm chắm vô cái màn hình dẹt. Quyết thế, tôi để điện thoại ra xa, tay chống cằm, nhìn sang bên đường, nơi người ta quây những bàn nhựa san sát nhau. Trong đám người ăn vận sang trọng và bình dân hỗn độn ấy, tôi đặc biệt chú ý tới hai người đàn ông trung niên, tới sau tôi một lúc, đang băng qua đường. Một người dáng phốp pháp, mày râu lưa thưa, vầng trán rộng bóng loáng như quét xi, da ngăm ngăm, áo polo đỏ hồng; người còn lại cao lênh khênh, chân tay dài ngoằng khiến ta cảm tưởng như hơi thừa thãi, không được lịch lãm như người kia… Vài phút sau, người phục vụ bê đồ ra, tôi, tay chống cằm, lẳng lặng ăn.

    Nhờ buổi trưa nhai kỹ nên đang bốn rưỡi chiều mà tôi vẫn chưa lả. Thường như mọi hôm thì từ ba giờ đổ đi tôi bắt đầu sập nguồn. Tuy nhiên mắt tôi cũng hơi mờ rồi. Việc trên công ty đã làm xong, sách thì thừa mứa ra chẳng muốn đọc nữa, viết lách không nổi, có lẽ nên đi dạo. Ở văn phòng nhiều khi tôi vẫn lẻn ra ngoài đi dạo một vòng quanh khu phố. Tôi thường bước chậm lại khi ngang qua trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân – đó quả thực là một ngôi trường! Sân dài, rộng, dường như bát ngát, cờ đỏ sao vàng phần phật như một rừng bươm bướm tắm mình trong nắng, và hình ảnh mạ đồng in hình Bác Hồ quàng khăn đỏ cho nữ học sinh in ở chính giữa tầng cao nhất như phát sáng, như ngời ngợi, vĩ đại hơn. Xa xa, ta thấy một mái nhà dành cho bồ câu, cao khoảng ba mét, nhưng không bao giờ thấy con nào chịu ở yên trong tổ mà chúng cứ sà xuống bờ tường, cần cổ gục gặc, nhìn thấy tôi chúng cũng chẳng hoảng sợ, vẫn nhởn nhơ, vô tình.


    Ngày 21 tháng Năm năm 2025,

    Những ngày gần đây tự động dậy sớm như một cỗ máy. Bước ra bàn, gạt thanh cửa sổ, trời không nắng nhưng đã sáng choang. Từ xa, làn gió nóng thổi về khiến tán cây rậm lá rung lên chao đảo theo từng nhịp, như thể hoà quyện với tiếng chuông gió và tiếng mõ ai đó cầu kinh buổi sáng. Dưới thềm sân nhà bên, chắc một bà già đang quét tước, nghe rõ mồn một tiếng loẹt quẹt của chiếc chổi rễ đưa thành đường vòng cung, tống khứ những vị khách không mời và thích làm phiền chủ nhà.

    Một bi thuốc lào buổi sáng đã trở thành lệ, làm thế nào để bỏ đây? Bước ra đường, thấy tiết trời quang quẻ, ấm nồng. Hạ còn chưa đến hẳn nhưng đã mong về thu. Một người con trai, dáng dấp cao ráo, ngồi vắt vẻo trên chiếc yên dài của con xe Wave màu xanh thẫm, trước một cánh cổng thép im lìm như cũng chưa muốn thức giấc.

    “Anh ơi!” cậu ta khẽ gọi tôi.

    Tôi quay lại.

    Cậu ta hỏi bây giờ là mấy giờ. Mặc dù tôi biết đang gần sáu giờ sáng, tôi vẫn rút điện thoại ra khỏi túi, nhìn lướt rồi đáp:

    “Sáu giờ kém…”

    “Anh cho em gọi nhờ một cuộc được không ạ?”

    “À… Máy mình hết tiền rồi… Nhưng…”

    “Thế thôi ạ,” cậu ngắt lời và lủi thủi quay đầu.

    Tôi đi tiếp, lòng hơi tiếc nuối vì không giúp đỡ được người lạ. Có lẽ đó là một sinh viên đi chơi về muộn và để quên chìa khoá. Trước mắt tôi, bên tay phải, một bờ tường đắp từ gạch ba banh cao chừng hai mét, có hàng kẽm gai han gỉ rào qua quýt phía trên; dưới chân tường, cánh hoa trăng trắng rụng ngập, lướp tướp, trông như hành tây xào.


    Ngày 22 tháng Năm năm 2025,

    Chủ trọ hồi năm nhất của tôi là một cặp vợ chồng chừng sáu mươi tuổi. Lão Hưng, ông chồng, là một người quắc thước, nguyên sĩ quan quân đội về hưu, tướng tá phốp pháp, tóc muối tiêu dính bết ở vầng trán loang loáng. Lão càm ràm nhiều vô kể và nói năng bằng giọng khàn khàn như người hút thuốc lâu năm, dù tôi không bao giờ thấy lão hút thuốc. Có lần lão khoe tôi con gái lão ăn học đàng hoàng và có xe riêng, thôi thì trăm bề đủ cả, lão tâng cô ả lên tận mây xanh. Còn bản thân lão luân chuyển giữa nhà lão và nhà trọ như thay áo trong tủ đồ; lão sống đuề huề, có cái bụng bia to của những người ăn sung mặc sướng, ít âu lo; những nếp nhăn hằn sau trên mặt lão như thể lão cố tình tạo ra chúng, và ánh mắt lão vẫn nhuốm vẻ ti tiện, hẹp hòi của một con người tâm địa tủn mủn.

    Lão sợ vợ. Bà vợ là người cầm chuôi. Nhiều lần tôi tìm tới lão Hưng để xin được dùng nhờ máy giặt, được đánh chìa khoá cửa cuốn riêng, lão ậm ừ và gương mặt hơi dịu đi ra vẻ sẵn sàng đồng ý rồi, nhưng lão luôn đem ra trao đổi với vợ. Bà vợ lão thì như loài rắn, hẹp hòi hơn chồng gấp bội và lõi sự đời tới độ có thể đẻ ra chục ông chồng như lão. Bà ta luôn nhìn tụi sinh viên chúng tôi bằng ánh mắt thăm dò, đa nghi, như thể chúng tôi luôn trực chờ kiếm chác hay tuồng khoắng đồ của nhà trọ đi. Hồi ấy tôi còn trẻ nên chưa hiểu được ánh mắt láo liên ấy của mụ già.

    Vì bếp từ mang từ quê lên bị hỏng, tôi buộc phải mượn bếp của anh Tân, người mà tôi nghe phong thanh là con chú con dì của lão Hưng. Anh ta trạc ba mươi tuổi, đã lấy vợ và có một con trai ở Thanh Hoá nhưng vẫn còn trai lơ lắm. Quãng đời ve gái của anh chàng vẫn chưa chấm dứt! Anh ta thường đáp lời tôi bằng chất giọng sền sệt địa phương, hơi ngắc ngứ. Anh ta cũng bị lão Hưng bắt nạt. Lần cuối gặp nhau, anh ta đã chửi thằng vào mặt ông chú của mình và hét lớn:

    “Tôi đếch cần cái loại họ hàng như nhà lão! Đéo phải đuổi, tôi tự về!”

    Tối hôm ấy, anh ta bắt xe về quê nhà. Anh ta để lại cho tôi một ít nồi niêu, xoong chảo, hai cái bát sứ, hai đôi đũa cùng một vài móc treo quần áo. Một tháng sau tôi cuốn gói, lão Hưng, trước khi hoàn lại tiền cọc, đã yêu cầu tôi để lại hết đống đồ lặt vặt kia vì theo lão, mọi đồ đạc của anh Tân đều là tiền lương của lão trả cho anh ta cả. Nếu anh ta không cần nữa, nó phải thuộc về lão.

    Đó là lần đầu tiên trong đầu tôi thực sự biết khinh bỉ một người.


    Ngày 23 tháng Năm năm 2025,

    Mưa dầm.

    Hôm nay Hương mua tặng em Thư một con gấu bông. Con lợn nhồi bông tai cụp. Mong sau này Thư sẽ thích đọc sách, thế thì anh Long không tiếc gì cho Thư cả.

    ***

    Hôm nay truyện ngắn Cuộc tái ngộ của tôi đã được đăng tải trên Văn Plus.

    ***

    Thời tiết hôm nay thật tuyệt vời. Không biết nên uống trà hay thắt cổ tự tử nữa?

    ***

    Có một hội chứng gọi là “tiếc thời gian”. Một người ý thức được về tính hữu hạn của thời gian, ra sức tận dụng thì giờ ít ỏi của bản thân trên cõi đời – nhưng đến mức cực đoan. Anh ta làm gì cũng phải “tiện”, hoạt động nào đối với anh ta cũng phải “có ích”. Anh ta cảm thấy rầy rà chỉ vì chuyện đánh răng, rửa ráy, nấu nướng, phơi phóng áo quần, riết rồi anh ta chẳng cảm biết nổi cuộc sống nữa. Anh ta tiếc rẻ thời gian cho việc ăn uống, tiếc rẻ cả những buổi hàn huyên tâm sự, anh ta ngó lơ những người thân cận. Anh ta ám ảnh với hai chữ “phí hoài”.

    Anh ta là tôi.


    Ngày 24 tháng Năm năm 2025,

    Tôi đã đọc lại Nàng Lika của Bunin lần thứ bốn rồi mà vẫn chưa thấy nó hay chỗ nào.

    ***

    Mãi không đến mùa hè, mong là nó không bao giờ đến.

    ***

    Về chiều mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Bầu trời vẩn đục màu xam xám nhờ nhờ, mây giăng kín, những toà công sở phía xa mờ ảo cũng có màu xám xám. Chiều thứ Bảy, theo lệ thường, cần đảo qua thư viện. Chúng tôi đi trong trạng thái nửa háo hức nửa ngái ngủ. Trên đường đi tôi nói nhiều, những lúc qua hầm chui tôi còn ngửa về sau và gào thật to. Chúng tôi cười, nói, hạnh phúc vì nhàn hạ, khoan khoái vì gió lùa. Mùa đông thì ngắn còn mùa hạ thì dài, thu chưa đến nhưng đã ở trong lòng, dù rất chóng qua.

    Thư viện đóng cửa để tổng vệ sinh. Đáng ra tôi đã bẳn gắt vì toi công lái xe hơn bảy cây số chỉ để thấy tấm biển báo không làm việc. Thế rồi để nguôi khuây, như chúng tôi đã thống nhất trước đó, sẽ ghé qua Tạ Quang Bửu ăn bánh cá. Cái món khoái khẩu này đeo đẵng tôi từ năm nhất tới giờ, ban đầu tôi cũng thinh thích đấy, nhưng giờ thì chán rồi. Quán nhỏ, ngồi trong nhà nhìn ra cảm giác tù túng, cảnh sắc tầm thường, thấy cả téc nước nhà đối diện, trên tầng hai. Tầng rất thấp, có lẽ không bằng bờ tường mấy trại táo tôi thường ăn trộm cũng bè bạn ngày bé. Tôi có thể nhảy từ đó xuống ngon ơ. Bấy giờ tự dưng tôi nghĩ tới câu chuyện một người đàn ông ôm con gái nhảy từ tầng bảy chung cư xuống trong vụ hoả hoạn. Anh ta bị gãy chân còn cô con gái ra sao thì tôi không biết, nhưng đại để họ đã thoát chết. Cần bao nhiêu nghị lực để làm điều đó nhỉ? Hay khi giờ khắc sinh tử cận kề, ta cứ thế mà phó mặc cho số mệnh thôi…

    Ăn xong thì đã chiều muộn. Trời lạnh hơn, gió không còn vuốt ve âu yếm nữa mà như dữ dội hơn, táp vào da thịt làm nổi da gà. Sách cũ Hà Thành nằm trong ngõ 55 phố Lê Thanh Nghị, ngõ chợ Bách Khoa. Một chị bán bánh giò với chiếc xe đạp cà tàng, những chiếc ghế nhựa thấp, cùng vài cặp đôi đang ngồi ăn. Chúng tôi lượn vài vòng quanh con đường chật hẹp bẩn thỉu ấy, những sạp rau dựng san sát hai bên đường như nấm.

    Cuối cùng cũng tìm ra. Chiếc biển hiệu đề “SÁCH CŨ HÀ THÀNH” bạc phếch, chữ mờ nhoè nhìn không ra. Đón tôi là một anh trung niên tầm ba nhăm, bốn mươi tuổi, người thâm thấp, mặc quần cộc lửng kaki màu be, áo ba lỗ màu xanh nước biển, cặp mắt ti hí, hiền hoà nhấp nháy sau mắt kính bàng bạc, với một nụ cười thường trực trên môi như được gắn sẵn trên đó, nhưng không có gì là giả tạo, mà hết sức chân thật, hoà nhã.

    “Em tìm sách gì?” anh ta hỏi tôi khi chúng tôi dựng xe ở mái hiên nho nhỏ ướt nhẹp.

    “Văn học ạ,” tôi nói, “văn học Nga.”

    “Thế theo anh,” anh ta nói rồi bước trước lên cầu thang dẫn đường.

    Ở tầng một, có một khu bếp dựng sát vách, ngay tay trái cửa ra vào. Không có bàn ăn bày biện, tủ lạnh tôi cũng không thấy. Đó là một khu bếp buồn tẻ, lạc lõng, phù hợp với đám sinh viên vốn dành sự quan tâm tối thiểu tới những thứ được đem bỏ vào bụng mình. Nhưng một bà nội trợ yêu chồng thương con, bếp núc là mặt trận nơi chị toả sáng, thì chị hẳn không hài lòng. Ở chân cầu thang, trong góc, có vài chồng sách không cũ không mới được buộc dây, ngoại trừ cái biển hiệu cũ mòn ra thì chúng là nhân chứng duy nhất nói lên rằng nơi đây bán sách.

    Phía trái trên tầng bốn là cả một thiên đường. Trong ánh sáng lờ mờ, những kệ sách cũ trông càng ảm đạm hơn, ít nhiều hứa hẹn những viên ngọc đang chờ được phát hiện. Kho văn học Nga nằm ở cuối kệ đối diện cửa ra vào. Hương xăng xái vào trước. Có một chiếc ghế nhựa thâm thấp, tôi nhường cho cô nàng. Có những cuốn sách cũ mèm đã làm mồi cho lũ mọt gặm nhấm và bị lũ chuột nghịch ngợm kéo tới quấy phá, nhưng tựu trung đó vẫn là một thế giới mới so với những gì ta đã bắt gặp vô số trong các hiệu sách tân thời. Tolstoy và Sholokhov vẫn ngự trị, hàng loạt các ấn bản từ năm 1960 của Sông Đông êm đềm cùng Chiến tranh và hoà bình, bìa cứng có bìa mềm có. Vài cuốn bọc da nom rất đẹp, nét mực rõ ràng, trang giấy ngả vàng nhuốm màu hoài niệm, có cảm tưởng tri thức trong đó đầy ắp và đã được đắp bồi qua nhiều thế kỷ qua tay hết chủ nhân này đến chủ nhân kia. Nhiều cuốn còn lưu giữ bút tích của người đọc trước và may mắn là chữ ký của tác giả. Những ấn bản như vậy thường được đặt giá rất cao. Có một cuốn với giá bìa là 2đ, giấy thủng lỗ chỗ và ố vàng, nhưng ta có thể miễn thứ cho những khiếm khuyết sơ đẳng về hình thức vì ta vốn ưu tiên tư tưởng vĩ đại nằm bên trong hơn.

    Có một cuốn tiểu sử về Turgenev, bìa da thuộc màu xanh đen nhàn nhạt, hình ảnh nhà văn nổi tiếng với ánh mắt lơ đãng và chòm râu bàng bạc được in dập nổi, sờ vào thấy gai gai tay. Cuốn sách thuật lại cuộc đời của Turgenev từ những ngày thơ ấu ở điền trang cùng cha mẹ, cho đến những năm tháng thiếu thời trên Đại học Tổng hợp, những thành tựu văn chương đầu tiên… Mẹ của nhà văn là một điền chủ ác nghiệt, độc đoán, chuyên quyền. Phòng của Turgenev ở gần chuồng ngựa, ông thấy và nghe những gia nhân bị phạt roi vì sự trái tính trái nết của bà mẹ mình, đã gây nên ở ông những công phẫn đầu đời, và sẽ còn đeo bám nhà văn suốt đời, một mối căm thù sâu xa và niềm cảm thương sâu sắc với số phận hẩm hiu, hèn mọn của người nông dân. “Tự truyện của tôi nằm trong chính tác phẩm của tôi,” ông nói.

    Truyện ngắn Sê-khốp của Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin xuất bản năm 2001, giá bìa 90.000 đồng, dày hơn 1.000 trang, chứa đựng hơn 30 truyện ngắn của nhà văn kiệt xuất người Nga, do hai dịch giả nổi tiếng Phan Hồng Giang và Cao Xuân Hạo tuyển chọn. Với một cuốn sách như vậy, chẳng lý gì phải hoãn cái niềm sung sướng được ngắm nó trên kệ sách nhà mình. Mặc dù tôi đã có hai tuyển tập Chekhov ở nhà, nhưng thêm một cũng chẳng sao. Cuốn sách đóng bìa cứng khổ 13 x 19 cm, bìa trước in hình Chekhov với dây đeo mắt kính trứ danh, màu hồng phớt đến là dịu. Trang giấy vàng vàng ở phần mép, nhưng mực in rất đậm, rõ nét. Một tuyển sách còn hơn tuổi đời của tôi nữa. Vì hình thức quá trang nhã, Hương nghĩ nên gọi là “chị sách” – nếu cuốn sách, ngoài hình hài đã được ban phát, còn được trao thêm một giới tính.

    Tuyển tập hai cuốn Lao động nhà văn của A. Xtâylin (nhờ phiên âm thế này nên tôi chưa tìm ra được tên gốc của tác giả) là kết quả của giáo trình giảng dạy mà tác giả, một giáo sư văn học, đã giảng nhiều năm cho sinh viên các trường đại học Moskva. Bộ sách nghiên cứu quá trình sáng tác của các nhà văn, kể lại công việc sáng tác của một số nhà văn đã diễn ra như thế nào, qua đó giúp các cây bút trẻ tăng cường mối quan tâm, lòng trân trọng đối với lao động của nhà văn. Một cuốn sách tuyệt bích, mặt giấy đã vàng mục như thành màu cam cam, vài trang đã bung chỉ, giá bìa 1đ6. Tôi đã mua bộ sách cũ rích ấy với giá hai trăm ngàn. Không hiểu sao tôi hay đọc nhầm Lao động nhà văn thành Lao động khổ sai, mà nghĩ kỹ thì cũng khác nhau là mấy đâu.

    Ngoài ra tôi còn mua tập thơ Épghênhi Ônhêghin của Puskin, bản dịch của Thái Bá Tân, do Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ phát hành, in năm 1984 (hơn cả tuổi mẹ tôi). Puskin đã viết thiên trường ca này ròng rã tám năm ròng. Đấy, tôi mới chỉ biết có thế.

    Và tôi cũng mua cả cuốn Tuyển tập Tolstoy nữa. Cuốn sách bìa da thuộc giống cuốn Turgenev bên trên, dày dặn hơn tuy không đẹp bằng. Trong đó có tất cả các truyện ngắn nổi tiếng của Tolstoy mà nếu giờ bỏ công ra sưu tầm thì đến phải mua hàng mấy cuốn: Sau đêm vũ hội, Cái chết của Ivan Ilyich, Đức cha Serghi, v.v.

    Dạo này tự dưng tôi nghĩ rằng hay là mình bỏ viết nhỉ? Tôi sẽ thôi không viết nữa mà vẫn có thể đam mê văn học ở chừng mực thưởng thức mà thôi. Mỗi ngày, tôi đều thức dậy sớm và cố gắng viết, nhưng con chữ cứ trôi tuột đi đâu, tôi thấy vốn từ vựng trong mình còn ít ỏi, cách hành văn thì gượng gạo, cứng nhắc, những lối so sánh vụng về, những lời thoại sáo mòn… Tôi còn biết ít về cuộc đời quá. Công sở nhốt tôi từ sáng tới chiều, màn hình máy tính như cái nhà giam trói chặt tầm nhìn của tôi…

    … Ở Hà Nội, nếu như muốn thưởng thức chút thanh bình yên ả, phải cố gắng dậy thật sớm. Đợi đến khi tiếng xe máy đầu tiên rú lên, thì biết đã đến lúc nên về nhà. Bây giờ là bảy rưỡi sáng, trong nhà chưa ai dậy, nghe rõ tiếng thở đều đều của người yêu dấu, mà chỉ lát nữa thôi tỉnh dậy sẽ đòi được đi chơi, thì cái khoảng tĩnh lặng, im ắng, cô độc này gây luyến tiếc như gặp lại một tình nhân cũ. Lúc này đây, cảm tưởng thế giới như chậm lại, không cả nghe nổi tiếng xe cộ ngoài đường cái vọng vào, qua hàng chấn song thấy cây cối vườn bên đung đưa rồi im lìm, chững lại. Con chim chích choè ẩn mình khẽ kêu lên…


    Ngày 25 tháng Năm năm 2025,

    Chủ Nhật là ngày nhàn rỗi được lấp đầy bởi những hoạch định. Sớm trời thức giấc từ năm giờ, dạo quanh khu phố một lượt, và, cố gắng nấn ná thật lâu, ta quay về nhà theo con đường dài nhất. Con đường vắng lặng như dài thêm ra, có mấy con chim chào mào đứng bất động san sát nhau trên dây điện, trông như những chấm đen trên một trang nhạc. Một chiếc lá lẻ loi rơi xuống trước khung cửa cuốn trăng trắng, và có lẽ sẽ nằm ở đó cả ngày nếu chủ nhà là một người lười nhác, một cậu sinh viên, hoặc một anh văn phòng thích coi quãng đường từ nhà tới công sở là một cuộc đua nước rút. Mua bánh mì dọc đường đi, nhai nhồm nhoàm trước màn hình máy tính, và sau khi no bụng thì bắt đầu làm hú hoạ, đợi tới giờ ăn trưa.

    Tại sao người già hay dậy sớm? Do không ngủ được, hay dậy sớm làm một ngày cảm giác dài ra? Người ta đi bộ với nhau thành từng cặp, từng nhóm ba, bốn người, vừa đi vừa cập nhật tình hình xung quanh khu phố. Thằng con trai nhà ai mới dậy thì, giọng như lệnh vỡ, nếu không thấy mặt thì đến tưởng bố nó đang nói chuyện. Những cuộc nói chuyện dông dài bắt đầu, cuộc trò chuyện giữa những người già cả, thảnh thơi, sống sung sướng và vô lo vô nghĩ – chẳng cần nghĩ làm gì cho hết thời giờ, không phải vắt óc sao cho cuộc đời ý vị hơn.

    Chúng tôi ăn sáng ở một quán đầu ngõ trông ra hồ Hoàng Cầu. Ăn không ngon. Bên cạnh là một quán cà phê, có một ông trung niên, áo quần tươm tất, vừa châm thuốc nhả khói liền hồi. Ngồi ở chiếc ghế đôn bên cạnh là một con chó poodle lông trắng phau như tuyết, và chẳng cần áo quần, trông nó cũng tươm tất không kém gì ông chủ. Trông cu cậu tròn xoe, ngúng nguẩy như một cục bông gòn, xinh xắn, ngoan ngoãn liếm thức ăn từ chiếc liễn mà chủ giơ sát mõm. Chiếc mõm đen đen bóng nhẫy như giày vừa mới quét xi. Tự dưng tôi thấy ghen tị quá…

    Nhà sách Mão ở Đinh Lễ nằm trên tầng 2 của một khu tập thể. Cầu thang xông lên mùi ẩm mốc đặc trưng ở những khu tập thể. Sách xếp sát vách cao chạm trần nhà. Bàn lễ tân cũng đầy sách, một anh thu ngân, chắc là con chủ nhà, ngồi vắt vẻo, gương mặt sáng sủa đẹp mã nhưng khinh khỉnh, giọng nói ồm ồm, hơi kẻ cả.

    Chừng mười lăm phút sau, cầm trên tay cuốn Sê-Khốp của Phan Hồng Giang, lỡ mồm hỏi:

    “Sách này bán không anh?”

    thì được nghe câu trả lời nhũn nhặn:

    “Sách không bán để làm gì em?”

    Tự cười mình vì sự ngu ngơ. Hương cũng cười, nhưng cô nàng hẳn đã quen với sự lơ đãng của tôi rồi. Bìa sách 32.000đ, thanh toán 25.000đ, đọc một lèo hết trong ngày. Dưới đây là những gì còn nhớ được:

    Chekhov có dòng máu mugich. Ông nội ông là một nông nô, nhờ ý chí quật cường và tài chắt bóp, đã chuộc lại được gia đình. Bố Chekhov mở một tiệm tạp hoá, là người biết trân trọng nghệ thuật, vậy nên mỗi đứa con của ông đều sớm bộc lộ những thiên hướng riêng: Anh cả, Nikolai, có tài viết lách; Chekhov, con thứ, tương tự; còn người em trai khác, quên mất tên, thì có tài vẽ tranh. Năm Chekhov 16 tuổi, bố ông do làm ăn thất bát, đã cùng gia đình dọn đi, một mình ông ở lại để theo học nốt.

    Chekhov bắt đầu viết những truyện ngắn làng nhàng, những mẩu tin vặt, truyện cười, v.v. cho các tờ báo lá cải. Ông ký bằng đủ bút danh: Anh của em anh ta, Người không lá lách… nhưng nổi tiếng nhất là bút danh Antonio Chekhonte… Đó là những ngày liên miên gõ cửa từ tạp chí này sang tạp chí khác. Được in đã khó, được in xong nhận nhuận bút còn khó hơn. Đôi khi, người ta trả ông những coupon hết hạn, những quần áo cũ,…

    Đó là thời kỳ Chekhov viết vì tiền, viết vội vã, cẩu thả, viết những bài mà do không thể lấy làm tự hào, nên buộc phải ký bằng đủ bút danh. Thi thoảng, nếu viết được một bài tử tế, nghiêm túc và tâm đắc, ông sẽ ký Antonio Chekhonte…

    ***

    Quốc tang nên phố đi bộ không quây rào. Mặt hồ Hoàn Kiếm màu xanh rêu sẫm. Hàm Cá Mập đang được tháo dời.

    ***

    Lâu lắm rồi mới có cảm giác thèm ăn. Trứng đúc thịt ngon tuyệt. Ngủ đến ba giờ chiều mới dậy, vừa phi xe ra khỏi ngõ thì hỏng, mất toi 150.000đ.

    ***

    Lâu lâu mới vận động tý chút mà thở khò khè quá. Đội bóng rổ cứ rơi rụng dần như lá mùa thu.

    ***

    Nhận được mail của một người bạn giấu tên. Tôi đoán đó là con gái, Hương đoán là con trai. Có lẽ con trai, linh cảm của phụ nữ bao giờ cũng chuẩn xác hơn đàn ông. Cảm ơn người bạn vô danh nhé! Tôi xin phép được trích dẫn nguyên văn, vì đối với tôi, nó đẹp đẽ và khích lệ tôi như một tấm bằng khen đóng khung trên tường vậy:

    Bạn viết rất hay. Mình đã đọc vài truyện ngắn và toàn bộ tản văn Xuân hạ thu đông mà bạn viết. Những mẩu chuyện rất nhỏ, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trong cuộc sống như qua ngòi bút của bạn lại nặng suy tư và giàu cảm xúc. Mình tin với bút lực và niềm say mê viết “chừng nào còn sống”, mình thành tâm hi vọng bạn sẽ trở thành một nhà văn lớn. Bạn xứng đáng với điều đó, miễn là đừng bao giờ bỏ viết nhé. Bạn không thể biết được những con chữ vô cùng riêng tư của mình có thể hàn gắn tâm hồn của ai đâu.

    Hạ sắp về rồi, nhưng lòng tôi thì chộn rộn sắc xuân.


    Ngày 26 tháng Năm năm 2025,

    Tôi luôn bị thu hút bởi phụ nữ. Từ cái thời niên thiếu vô lo tôi đã, như ruồi bị thu hút bởi ánh sáng, không cưỡng được mà sán tới đám con gái. Tôi biết thích, biết nhớ nhung từ những ngày lớp một. Bạn gái của tôi là một cô nàng nhỏ nhắn, da ngăm ngăm, mặt tròn, răng rất trắng. Bàn tay của cô bé mảnh khảnh, những ngón tay thuôn dài và móng tay của cô cũng dài y thế. Mỗi lần đan bàn tay thô ráp trẻ con của mình vào bàn tay ấy, những tưởng nó sẽ tan ra nếu tôi siết chặt thêm chút.

    Vài tuần sau niên học mới, một buổi sáng đẹp trời nơi cả lũ học sinh còn nháo nhác ngoài hiên đợi tiết thể dục đầu giờ, thì cô bé đó đến cùng mẹ. Mẹ cô cao, dáng dong dỏng, gương mặt hiền hậu, nhẹ nhàng nói với tôi:

    “Cháu phải gọi N. (đó là tên cô bé) bằng cô. Nhà hai đứa có họ.”

    Mối tình đầu của tôi đã kết thúc như vậy đấy.

    Hết cấp một, tôi đoạt giải tỉnh nên chuyển trường trên thành phố, còn N. tiếp tục học dưới quê. Những ngày đầu còn bỡ ngỡ, tôi như cánh chim lạc bầy, không đánh bạn nổi với ai. Bọn trẻ thành phố cao tồng ngồng, chúng nó đã mọc lông, hôi nách, còn tôi thì cao một mét ba nhăm, nặng ba nhăm cân, mày râu nhẵn thín, đến buổi khám y tế đầu niên học người ta tưởng tôi suy dinh dưỡng.

    Vì không hoà hợp nổi ở môi trường mới, tôi thường mò về trường cấp hai của các bạn cũ. Nhiều lần, tôi giả danh làm học sinh mới chuyển về lớp, tham dự tiết học như bình thường. Có hôm tôi còn mạnh dạn giơ tay, và, vì lòng tự kiêu được mơn trớn, tôi vô tình để lộ thiên hướng văn chương trong mình. Bà giáo quý tôi ra trò, khen ngợi tôi trước mặt bà tổ trưởng, rồi vài hôm sau bà mới biết tôi chỉ là một gã mật thám. Nhiều năm sau này tôi được biết bà giáo đó suýt nữa đã trở thành bác dâu của tôi. Bà từng có một mối tình keo sơn với bác cả tôi, làm trong quân đội, nhưng gia đình bà xuất thân gia giáo, có nhà ở mặt tiền trông ra đường lớn, còn nhà bác tôi nằm lọt thỏm giữa xóm quê tiêu điều, ruộng vườn mênh mang nhưng tiền nong thì khan hiếm.

    Những ngày tôi về qua trường, N. rất vui. Cô thường đứng khép nép bên cánh cổng thép xam xám chờ tôi. Ba bốn tháng liền tôi cứ đạp xe ròng rã như vậy. Chúng tôi trao đổi thư tay, nhờ một cô bạn hàng xóm của tôi chuyển giúp. Trong thư, tôi bắt đầu biết phàn nàn về sự lạc lõng, cô quạnh, tôi viết mùi mẫn, tưởng chừng mỗi câu chữ đều nhỏ thêm vài giọt đường.

    “N. của tôi ơi, cậu học hành thế nào? Cô giáo có hay mắng cậu không? Cậu nhớ tớ đấy chứ, còn tớ thì vẫn nhớ cậu nhiều. Hôm nay là thứ Hai mà tớ chỉ mong tới thứ Sáu thôi.”

    Cô chẳng bao giờ gửi thư lại cho tôi, mà chủ yếu nhờ cô bạn hàng xóm kia chuyển lời giúp. Nhưng niềm vui dẫu có đi đường vòng cũng khiến tâm hồn tôi chộn rộn, tôi vui, tôi trèo lên đường ray ném đá vào thân cây bạch đàn, rồi tôi nhảy chân sáo về nhà. Suốt ngày dài tôi cứ tưng tưởng như vậy.

    Thế rồi những chuyến ghé thăm cũng trở nên dè xẻn, cơn mưa ngâu nặng hạt giờ đã ngớt, rồi lặng hẳn. Nhiều tuần, nhiều tháng, tôi không trở lại trường thăm N. nữa. Cô có vẻ cũng đã quên tôi. Nhưng tin tức vẫn đến tai tôi thường xuyên. Một ngày, tôi nghe được tin có thằng nào làng dưới đang tán tỉnh N., và tụi bạn tôi vừa kể tôi nghe, vừa mong chờ ở tôi một động thái công phẫn. Chúng nó háo hức nhìn tôi như thể một ông chồng bị cắm sừng. Tôi chẳng màng, từ lâu tôi đã chẳng còn nghĩ đến cô bé kia nữa. Cuộc sống trên thị trấn của tôi bắt đầu đi vào nền nếp, tôi đã đánh bạn được, tụi thành phố còn quý tôi là đằng khác…

    “Thì kệ nó,” tôi nói và quay mặt đi.

    Tụi bạn tôi thở dài đầy thất vọng.

    Nhiều tháng sau, N. gửi tôi một bức thư, bức thư đầu tiên của cô:

    “Tớ vẫn đợi cậu đấy. Nếu cậu không thích tớ nữa thì cứ nói một câu, còn nếu cậu không nói, tớ tưởng hai đứa mình vẫn yêu nhau.”

    Thế đấy! Sau ba, bốn tháng ròng rã bặt vô âm tín, N. vẫn tưởng chúng tôi đang yêu nhau…

    Nhiều năm sau này tôi có gặp lại N.. Cô vẫn gầy, chân tay vẫn mảnh dẻ, nước da ngăm ngăm, nhưng nét hồn nhiên năm xưa đã biến mất. Cô lướt qua tôi như một người lạ trên phố. Tôi được biết cô ăn chơi đổ đốn. Cô không còn trinh bạch, cô ngủ với nhiều người, cô xăm mình, và người cô nhàu nhĩ như tờ giấy nháp.

    Thật kỳ lạ, mỗi lần nhìn cô như thế, tôi đều thấy đau đáu thế nào ấy. Cứ như thể tôi đã góp phần vào cái sự sa đoạ chướng mắt kia. Cô gái hồn nhiên, thơ dại năm xưa, giờ ở phương trời nào, tôi nào biết. Có lẽ cô lấy chồng rồi cũng nên.

    ***

    Bài này tôi đã viết khá lâu rồi, chừng ba, bốn năm về trước:

    Hôm nay là sinh nhật ông bạn thân của tôi. Tôi đã nghĩ tới việc đặt mua cho nó một cái áo hoặc thứ gì đó, đại loại thế nhưng rốt cục lại tặc lưỡi cho qua, tôi nghĩ dăm ba món quà cũng chẳng thấm tháp mấy so với việc tôi rủ nó nó đi và nó rủ tôi, tôi có mặt. Ngẫm lại thì, có nhiều người đã chúc mình những lời thề thốt líu lo như chim hót sau vườn nhà nhưng rồi cũng chẳng một lời mà đi, vậy thì những câu chúc ấy hay những món quà đao to búa lớn suy cho cùng cũng chẳng được gì.

    Nhưng được tặng quà vào dịp sinh nhân cũng là dịp vui, vì trên danh nghĩa có một người đang trưởng thành thì có nhiều thứ đã không còn làm ta vui vẻ được như trước, không còn nhiều dịp để ta nói cười, nên sinh nhật cũng coi như một khoảnh khắc hiếm hoi trong năm để mình có cái cớ được trải lòng mình ra mà đón nhận niềm vui ấy.

    Nhìn lại những gì đã qua, tôi đã bỏ lỡ hoặc đánh mất, dù vô tình hay cố ý nhiều mối quan hệ; nhưng tôi vẫn luôn vui vì tình cảm chúng tôi vẫn bền chặt sau bao thăng trầm. Tôi biết nó cũng vậy, và ai cũng vậy cả thôi. Chúng ta đều phải từ bỏ nhiều thứ, nhiều thứ cũng tự rời bỏ ta dù ta có muốn hay không. Chỉ là sau cùng, người ở lại mới là người đáng trân quý, họ mới là những người xứng đáng để ta thật lòng tin yêu và gửi gắm nỗi niềm.

    Tôi coi việc kết thân với nó là một may mắn trong đời, vì trên tất cả tôi thấy được sự đồng cảm nơi nó. Tôi học được nhiều điều từ nó, nó chắc chắn cũng học được nhiều điều từ tôi, và chúng tôi cùng nhau học được nhiều điều từ những sự việc xảy ra xung quanh cuộc sống của hai thằng. Dần dà rồi lớn, các chủ đề nói chuyện cũng thay đổi, các món ăn yêu thích cũng khác, quán quen xưa nay chẳng thèm lui tới; nhưng vẫn nói chuyện được với nhau, thế là vui rồi !

    Chúng tôi đều từng ngưỡng mộ gia đình người khác và phàn nàn về gia đình của chính mình với những khiếm khuyết của mỗi thành viên. Nhưng rồi chúng tôi cũng đồng thời nhận ra rằng chẳng có mái ấm nào là trọn vẹn cả, vẫn có xung đột cãi vã bất hòa suốt thôi, rồi chúng tôi thu mình lại, dành tâm sức cho gia đình của chính mình. Vun vén, trân quý, tận hưởng những phút giây ở bên người thân và gia đình của chính mình. Trên cả, tôi ngưỡng mộ bố của nó, một người đàn ông gì cũng giỏi; tôi ngưỡng mộ cách mà nó với mẹ ôm ấp nhau tình cảm dù có cãi vã lôi đình gì đi nữa; tôi ngưỡng mộ cách mà hai anh em nó trưởng thành và chung sống với nhau hòa thuận. Tôi chứng kiến nhiều sự việc trong gia đình nó và tôi rất vui vì mọi chuyện vẫn luôn diễn biến theo chiều hướng tích cực, dù đôi lúc có cãi vã bất đồng, nhưng gia đình nào mà chả thế, lo gì !

    Việc kể lể về tình bạn thế này thật sự khó, vì tôi cứ sợ rằng tôi đang khoa trương. Tôi nghĩ không nên thổ lộ nhiều về chuyện tình cảm của mình, tôi cũng không muốn kể nhiều về việc chúng tôi thân nhau như thế nào, vì trong tôi vẫn luôn sợ một ngày chúng tôi không còn thân như trước được nữa, nên tôi sống cho ngày hôm nay thôi.. Tôi mệt mỏi để kỳ vọng quá nhiều cho tương lai và ngoái đầu mỏi cổ dằn vặt cho quá khứ rồi, tôi nên trân quý những khoảnh khắc hiện tại, những con người hiện tại..

    P/s : Dù sao thì cũng chúc mày sang tuổi mới chín chắn, trưởng thành hơn và luôn hạnh phúc bên gia đình cùng tình yêu luôn mặn mà với hạt giống số 1 ( nếu mày đọc được ).

    Chà, đúng là thời mơ mộng trẻ trâu. Giờ thì đố tôi có thể viết mùi mẫn được như thế này.

    Tôi vẫn chưa tặng ông bạn tôi bất cứ một món quà gì vào sinh nhật cả. Tôi từng tặng nó một cuốn Tuyển tập Ếch Ộp thì phải, nhân dịp tôi lượn lờ ở Nhã Nam (cái cơ sở yêu dấu ở Phạm Ngọc Thạch, giờ đã trở thành một chi nhánh BIDV), còn nó tặng tôi một chiếc bịt mắt (tôi thường xuyên khó ngủ vì nhạy cảm với ánh sáng).

    Đã lâu rồi tôi chưa vào thăm nhà Cường. Nửa năm rồi cũng nên. Chưa chi tôi đã tưởng tượng được giọng nói của bác Hằng rên lên ỉ ôi rằng tôi gầy đi nhiều quá, rồi giọng nói trầm trầm, ân cần của bác Thuỷ lúc tôi hỏi han tôi công việc dạo này ra sao. Ôi, tôi nhớ những bữa cơm mà hai thằng chúng tôi phải nán lại ăn cho kỳ hết, cả đôi bàn tay thoăn thoắt của bác Thuỷ lúc bác gọt vỏ táo, bóc vỏ cam, miệng nhai nhóp nhép và chậm rãi nhằn hột. Đá trong ly kêu lanh canh, chiếc quạt trần trên đầu lượn vòng quanh một điệu ngái ngủ, đơn điệu, nhưng chẳng hề nhàm chán! Cuộc đời thật đẹp sao, nhất là khi ta có những người thân yêu ở cạnh và biết rằng họ thực sự để tâm tới chúng ta. Khi ấy, ta tự dưng thấy mình quan trọng, tự dưng thấy bớt lẻ loi, bớt thừa và vô ích trên thế gian này nữa.

    Cuộc đời hai đứa có vẻ như hai đường thẳng song song nhưng chung nhau những cột mốc và biển báo.

    ***

    Hôm trước Hương mua cho con lợn sứ màu hồng, xinh xẻo, có đội chiếc mũ màu vàng hình mặt ếch. Con lợn đất này nhằm đựng tiền nhuận viết lách, bèo bọt lắm, lõng tõng như cháo của trẻ con nhà nghèo. Vừa qua có truyện đăng báo, chắc được một triệu, một nửa cho Hương, một nửa cho con lợn. Không viết vì tiền thấy nhẹ cả đầu. Viết vì niềm vui là chính, nhưng vẫn bị thôi thúc phải gửi bài đăng báo. Biên tập viên chê văn dài, rườm rà, dàn trải, thiếu trọng tâm, v.v. thế mà cũng buồn mất mấy ngày, đòi bỏ viết, nhưng sáng hôm sau vẫn ngồi vào bàn gõ lung tung…


    Ngày 27 tháng Năm năm 2025,

    Tôi bắt đầu tin rằng việc tôi dậy sớm mỗi ngày là do chứng rối loạn giấc ngủ.

    Dù sao thì, mọi chuyện vẫn ổn. Vừa sáng ra đã thấy ông bạn Cường nhắn tin. Ông bạn bảo bác Hằng, mẹ ông bạn, đã gọi điện và khuyên răn ông bạn nên “làm những gì quan trọng.” Tô Đạt vừa thăng hàm trung uý! Ồ, chẳng phải, vốn dĩ sĩ quan chuyên nghiệp nếu tốt nghiệp loại Giỏi sẽ mặc định là hàm trung uý. Nhưng đây vẫn là một tin đáng lo ngại. Thế đấy, hai người bạn, một thằng nhà văn, một thằng kép hát, cùng đi làm văn phòng chống đói. Ít ra thằng Cường còn giỏi cái nghề thiết kế, còn tôi, tôi chẳng biết quách gì về marketing! Đến các tác phẩm của tôi tôi còn không truyền thông nổi nữa là…

    ***

    Bà chủ quán trà đá có lẽ chỉ dậy sớm hơn tôi một chút. Khi tôi ra đến nơi, bà đang lục tục bày biện gian hàng. Đó là một quán nhỏ, mái hiên căng bạt nhô ra như hàm răng vẩu, một bàn nhựa nho nhỏ gồm ba, bốn chiếc ghế cũng bằng nhựa, không lưng tựa xếp chồng lên nhau. Sát vách tường của gian trong là một bệ bếp với chiếc bếp gas lỗi thời, một mảng tường màu vàng nhàn nhạt ám khói đen thui: bà lão bán cả đồ ăn sáng. Bà còn trẻ, đeo vòng bạc ở chân mà mỗi khi bà lật đật bước đi thì nó rung lên leng keng thật tức cười, gương mặt bà thì hồn hậu, dễ mến, lập tức khiến người ta cảm tưởng rằng bà là người chất phác, rằng ta có thể chia sẻ thật lòng với bà nhiều thứ chuyện, rằng bà, trong cái dáng ềnh àng nằm trên võng, mắt ti hí, dẫu nghe câu được câu không, thì vẫn sẵn sàng lắng nghe.

    Một cuộc trò chuyện bâng quơ giữa hai con người, một già một trẻ nhưng chung nhau cái nếp dậy sớm, bắt đầu. Bà khen tôi dậy sớm, chắc chắc rồi, còn tôi, vì lòng tự phụ được vuốt ve nhưng vẫn ý thức được tính chừng mực, khua tay nói rằng tôi dậy sớm vì tôi không thể dậy muộn. Hẳn thế, nếu tôi có thể ngủ nướng và nếu tôi không bị ốm o vì thời giờ bị bỏ phí, sầu não vì công việc trì trệ, không mắc cái tật đam mê viết văn, hoặc có thể viết bất cứ lúc nào ở bất cứ đi chứ không phải tranh thủ lúc mọi người chưa dậy hết, lúc phố xá còn yên tĩnh và những con người ngoài kia còn đang lục tục sửa soạn đi làm hoặc cho con đi học… – nếu thế, dẫu trái đất có biến mất, tôi vẫn sẽ ngủ. Tôi có một người anh họ, người đã nướng cả tuổi trẻ của mình trên chiếc nệm êm, đến nỗi bá tôi, mẹ của anh, vì quá bất lực nên phải cầm chổi đánh anh dù rằng lúc ấy anh đã hai mươi nhăm tuổi và đã lấy vợ. Vừa đánh anh, bá vừa rủa:

    “Mày đúng là cái của nợ! Của nợ! Đàn ông đàn ang ngủ như gấu!”

    Chiếc chổi được quẳng đi, chỏng chơ giữa sàn nhà, và bá tôi thở dài nói:

    “Từ nay cứ gọi anh mày là Chúa Ngủ.”

    Nhưng hãy khoan phán xét anh tôi vội. Nếu tôi có thể khoá trái cửa phòng và giam mình viết lách từ sáng đến đêm, thì anh tôi, người công khai thờ phụng thần Hypnos, có thể ngủ hai ngày hai đêm không dậy, đến nỗi một lần bá tôi đã phải phá cửa vào vì tưởng anh nghĩ quẩn. Ồ, chẳng xi nhê, anh đang ngủ thẳng cẳng và khi bá bực bội bỏ ra ngoài, anh kéo tôi lại, hỏi:

    “Giờ là sáng hay chiều thế Long?”

    Còn vợ anh, một thiếu nữ tần tảo, chịu khó, yêu anh hết lòng và như mọi cô gái nhà quê khác, đã trao thân cho anh không chút nghi hoặc và được mẹ tôi tặng một chiếc xe Wave làm quà cưới, thì sống ở nhà bá tôi như một con ở. Trái ngược với chồng, chị phải dậy từ rất sớm, cơm nước chuẩn bị bữa sáng cho nhà chồng, mà trong bữa ăn, chốc chốc ông bố chồng sẽ vừa nhai rau ráu vừa lắc mặt ngán ngẩm:

    “Món này mặn quá!”

    “Không có dưa chuột cho bố à?”

    “Hôm qua rang cơm rồi mà nay vẫn ăn cơm là sao?”

    Có một lần, chị Phương gọi tôi ra và than phiền về ông chồng quý hoá của mình. Ba mươi tuổi rồi mà vẫn chơi game tối ngày, tiền tiết kiệm xây nhà không có, bố mẹ chồng một mặt chiều chuộng hai đứa cháu cưng, một mặt chì chiết cặp vợ chồng trẻ vô dụng. Chúng tôi đứng ở lan can tầng thượng, qua hàng chấn song có thể nhìn thấy cả một triền đê phía dưới, cỏ dại đua nhau mọc lổm nhổm, có cả một cây xoài sát bờ ao, cành lá la đà trĩu xuống mép nước, là nơi ngày bé tôi thường vặt trộm xoài thái đem về dầm muối.

    “Giờ chị chỉ muốn bỏ hết đi,” chị Phương tỏ bày. “Anh Quyết mày sang Nhật Bản một năm rồi mà gửi về được 2o triệu, sống lay sống lắt…”

    “Chị đi đâu?” tôi ngắt lời chị.

    “Chị cũng sang Nhật Bản, nhưng khác thành phố. Muốn thăm thì đi tàu cũng được. Nhưng giờ chị sống khổ quá, em ạ. Khổ hơn chó. Ba mẹ chồng thì khắc nghiệt, mẹ chị còm cõi ở quê với đứa em trai chị, nhà chị nghèo lắm, mà chị không có tiền cho mẹ…”

    Chị quê ở Bắc Giang, một tỉnh láng giềng của Hải Dương nhưng tôi không biết gì hơn ngoài việc được ông nội bảo rằng đồi vải ở đó rất to, nhưng chung quy không ngon bằng vải Thanh Hà quê mình. Chị Phương tôi đã sống mòn mỏi, sống trong tủi nhục, miếng ăn miếng uống cũng không đường hoàng mà nuốt cho xuôi, trông chị lúc nào cũng thấp thỏm lo âu, sợ người ta quở trách, phàn nàn về mình. Mỗi lần tôi lên chơi nhà bá, ngồi vào bàn ăn, chị đều thết đủ các món (chị có hẳn một cuốn cẩm nang nấu ăn đặt trên bàn trang điểm) và vừa ngắm tôi ăn, chị vừa hỏi bằng giọng hồ hởi:

    “Thế nào? Có ngon không? Có nhạt quá không? Món này chị mới tập nấu đấy!”

    Trong lúc nhà chồng nhai nhóp nhép, mắt chăm chắm nhìn lên chiếc TV gắn tường, chị Phương chật vật cho hai đứa con nghịch ngợm ăn. Hai đứa trẻ sống đủ đầy nhưng còm nhom, mặt quắt, mắt xếch như người Tàu, giống đằng nội. Chúng ngậm cơm trong miệng như ngậm bã mía, thành thử khi chúng ăn xong thì cả nhà đã bỏ lên gian khách rồi, ai làm việc nấy, và dưới nhà bếp vẫn vọng lên tiếng chị Phương quát tháo con. Những năm sau này mỗi độ lên chơi tôi đều ngỏ ý rửa bát giúp chị, nhưng trước mặt bố mẹ chồng thì chị luôn từ khước thẳng thừng, mắt không nhìn tôi, còn khi chỉ có hai chị em thì chị mừng quýnh như các bậc phụ huynh thở phào nhẹ nhõm sau khi chia tay con em ở cổng trường mẫu giáo.

    Bây giờ chị Phương sang Nhật Bản rồi. Còn chồng chị bặt vô âm tín, vì anh tôi đã trốn ra ngoài, trở thành cư dân bất hợp pháp. Gia đình bá tôi thuê cả thám tử tư nhưng vẫn vô dạng. Mọi người đoán rằng anh bị nhốt rồi, đợi vài ba tháng nữa là anh sẽ được gửi về, người gầy tọp và rất hom hem. Không biết chị Phương có đủ mạnh dạn để ly hôn không nữa… Đúng là sống đoạ thác đày, đúng là, như chị nói, khổ hơn chó.

    … Sáng nay tôi có cảm hứng nên viết bị lạc đề. Chỉ từ câu chuyện dậy sớm với bà chủ quán trà đá mà tôi sa lầy ra tận đẩu đâu….

    Bà chủ quán khen tôi cao ráo, sáng sủa, dậy sớm giúp người khoẻ hơn, tinh thần phấn chấn hơn. Bà hỏi tôi làm nghề gì và tôi đáp mình làm marketing. Rồi bà hỏi bồ tôi làm nghề gì và tôi lặp lại câu trả lời.

    “Thế bồ cậu có yêu cậu không?” bà nói lí nhí.

    “Người yêu cháu thì chẳng có gì phải bàn, bà ạ,” tôi thật thà nói, “phải cái là người yêu cháu hơi nhiễu.”

    “Ồ, nhiễu cũng được chứ sao cậu! Nó yêu thì nó mới quấy! Quan trọng là nó phải yêu mình!”

    Tôi mỉm cười.

    “Sao… Chả đúng à? Đàn bà yêu thì người ta mới quấn. Thế là mừng cậu ạ. Chứ yêu mà như không yêu còn chết nữa…”

    “Lạc lõng.”

    “Ừ, thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm…”

    ***

    Cuối tháng Năm. Trời se se như tiết thu. Một thằng bé múp míp, chắc vừa được nghỉ hè, mỡ bụng phình qua lần vải mỏng, da bánh mật, đạp xe vòng quanh khu phố. Trông nó mà tôi cứ cười mãi. Sáng gặp, trưa ăn cơm xong đi dạo cũng gặp.

    “Chào chú,” nó nói lí nhí lúc đạp xe ngang qua tôi.

    Vài phút sau, một bà già, chắc là bà nội của thằng nhóc, bảo nó rằng:

    “Thôi, về ngủ đi con! Tập chăm thế là khoẻ rồi!”

    Đấy, cu cậu này mới thực là vô tư và sảng khoái làm sao…

    ***

    Ngồi sửa lại bản thảo cả tối. Viết chán òm. Rõ là bất tài!

    Hôm nay nghĩ ra nhiều ý tưởng cho truyện ngắn quá, chắc mai bắt tay vào viết sẽ thấy khó quá rồi bỏ dở. Mơ mộng về một cốt truyện luôn sướng hơn là bắt tay vào viết nó ra.

    Tôi đang ấp ủ một tản văn về những ngày sinh viên. Mới viết được 2 chương, khoảng 3.000 từ.


    Ngày 28 tháng Năm năm 2025,

    Sáng trời nồm như tiết xuân. Dậy sớm từ năm giờ, nhưng không viết được.

    Hơn tám giờ, tắm rửa xong, nghe Free Bird. Suýt khóc.

    Đời đẹp quá…

    ***

    Gửi “Mình không muốn tiết lộ”,

    Mình đã đọc được lời nhắn của bạn về hai truyện ngắn Thất nghiệp Đẹp và buồn.

    Vì bạn góp ý quá đúng nên mình sẽ không bào chữa gì cả. Noi theo lời khuyên của bạn, mình sẽ tiết chế hơn những miêu tả rườm rà, hoa lá nhưng xa rời mạch truyện.

    Mình đã đọc lại cả hai truyện ngắn trên và thấy chúng quả thực dài dòng. Cần trau chuốt lại.

    Cảm ơn bạn vì đã lưu tâm và dành thời gian đọc những truyện ngắn của mình. Cũng cảm ơn bạn vì đã góp ý chân thành.

    Mình đã phản hồi trực tiếp qua hòm thư nhưng không tìm thấy địa chỉ. Dù sao, hãy giữ liên lạc với nhau nhé!

    ***

    Hỡi Vệ nữ, thánh mẫu thiên giới, xin kính chào! Nhưng Túng thiếu là mẹ của Tiết độ.

    ***

    Tất cả mọi người giục giã để biết sở thích của anh. Anh đỏ mặt nói: 

    – Thế thì, tôi ấy, tôi những muốn yêu vẫn một người, mãi mãi!

    Điều này được nói ra theo một cách khiến ai nấy lặng thinh giây lát, một số kinh ngạc vì sự ngây thơ ấy, số khác phát hiện trong đó, có lẽ, niềm khát khao thầm kín của tâm hồn mình.


    Ngày 29 tháng Năm năm 2025,

    Chuyện đời vặt vãnh

    Một anh công an. Trạc bốn mươi tuổi. Khoèo tay. Ngồi bệt ở xó đường ăn bim bim, như một gã lang thang. Từng bị tai nạn nghề nghiệp, chấn thương sọ. Ngờ nghệch đến lúc chết.

    ***

    Một cô em gái. Da ngăm, đùi chắc lẳn, xăm hình ở bắp chân. Giọng oang oang như đàn ông. Vừa lái xe máy vừa nghe điện thoại.

    “Phải xét nghiệm ADN ngay xem đấy có phải con ông ấy không?”

    ***

    Nhân viên văn phòng. Bình thường như bao người. Nhiệt tình, hào sảng, cười rất to trước những điều tầm thường. Có hai người tình, một cô yêu sáu năm, một cô yêu bốn năm. Vẫn đang yêu.

    ***

    Một bà lão. Chuyên mò cua bắt ốc. Sống cùng ông chồng là cán bộ về hưu. Con cái rất giàu, nhưng vẫn sống trong gian nhà đất ọp ẹp xây từ những năm 90. Quen miệng gọi bà nội tôi là “cô giáo”, chuyên gạ bà tôi mua ốc. Bị chồng đánh đập rất nhiều. Một lần, được con cái đón về sống chung, vài tuần sau đòi về. Thà bị đánh mỗi ngày còn hơn bị chia cắt khỏi cái xó của mình. Khổ quen rồi sướng không chịu được. Về phần mình, ông chồng, trạc bảy mươi, rãnh má rất sâu, quanh năm ăn diện tề chỉnh như hồi còn làm viên chức, cà vạt khổ to màu đỏ chấm bi đen, sơ mi cổ cồn trắng đóng thùng, áo vest dạ hai cúc xẻ vạt bằng dạ khoác ngoài; mùa đông thì diện áo len cổ tim không tay, khăn choàng nhỏ có riềm tua. Ông ta đi dạo rất nhiều, và không bao giờ đáp lại những lời chào của đám con nít. Dần dà tụi nhỏ không thèm chào ông ta nữa, còn khi lướt ngang bà vợ lão, thấy cái bướu to tướng trên lưng bà già, chúng cũng thấy thương thương.

    “Chẳng việc gì! Bà đấy giàu như quỷ, cứ thích khổ thế thôi!” bố mẹ chúng nói thế.

    ***

    Sinh viên nhưng đã đi làm. Cả ngày dài tới gửi mình ở phòng máy lạnh công sở. Tối về chơi game, rồi vì tiền lương không đủ ăn, nhận thêm job ngoài. Làm tất bật, vừa ăn vừa làm; ngồi ghế văn phòng cả ngày, ngồi trên yên xe qua cảnh tắc đường, vừa mở cửa phòng lại ngồi vào bàn làm việc tiếp. Công ty làm cả thứ Bảy. Chủ Nhật là ngày ngủ bù, tối hôm trước thức đến ba giờ sáng, ngủ đến trưa hôm sau. Đến chiều thì bạn gái qua. Cô này chỉ biết bấm điện thoại trong vô thức, lúc anh bạn trai cắm cúi làm việc. Tầm bốn giờ chiều cô kêu đói, họ chọn một quán gần gần để ăn. Ban đầu cô nhũng nhiễu, càm ràm nhiều vô kể, vì cả ngày cuối tuần đã để uổng phí. Nhưng cô yêu anh quá, nên sẵn sàng chịu đủ thiệt thòi. Có hề gì, nếu đánh đổi một vài buổi hẹn hò để vun vén cho sự nghiệp? Mà anh đang làm việc để lo cho tương lai của hai đứa chứ đâu? Những cuối tuần sau đó, cô cũng tranh thủ, mở lap ra làm job riêng, kiếm thêm chút tiền. Ở nhà chán, họ rủ nhau ra quán cà phê, chụp choẹt một vài tấm hình, gọi là workdate. Tuổi thanh xuân của họ cứ thế trôi qua, mòn mỏi, đầu tắt mặt tối, lúc nào cũng vội vã, cũng tất bật, điên cuồng như con chuột chạy trong con quay… Về đêm, họ ôm lấy nhau, tự nhủ rằng mọi khốn khó rồi sẽ qua, rằng mọi tủi nhục, thiếu thốn, chênh vênh, ở cái độ tuổi này, đều là cần thiết và xứng đáng cả!

    ***

    Trong cuốn sách này, du Camp đã viết: ‘Các tác giả được chia thành hai hạng: những người coi văn học là phương tiện, những người coi văn học là mục đích. Tôi thuộc về, và luôn thuộc về, hạng đầu tiên; tôi chưa bao giờ đòi hỏi ở văn học nhiều hơn quyền được yêu nó và vun đắp nó tốt nhất có thể.”

    Hạng người văn chương mà Maxime du Camp hài lòng được thuộc về luôn chiếm một phần đông đảo. Đây là những người đàn ông có khuynh hướng văn chương, tình yêu văn chương, và thường có tài năng, thị hiếu, văn hóa cùng sự khéo léo; nhưng không có năng khiếu sáng tạo. Khi còn trẻ, họ có khuynh hướng viết những câu thơ hoàn chỉnh hoặc một cuốn tiểu thuyết xoàng xoàng, nhưng sau một thời gian, họ ổn định với những gì họ thấy dễ dàng hơn với họ. Họ viết bài điểm sách hoặc trở thành biên tập viên cho các tạp chí văn học; viết lời tựa cho các tác phẩm của các nhà văn quá cố, tiểu sử của những người nổi tiếng, các bài luận về các chủ đề văn học; và cuối cùng, giống như du Camp, hồi ký của họ. Họ đảm nhiệm một vai trò hữu ích trong thế giới văn chương, và vì họ thường viết một cách tao nhã, nên các tác phẩm của họ thường dễ đọc. Không có lý do gì để coi thường họ như Flaubert đã coi thường du Camp.

    … Du Camp nghĩ rằng người bạn cũ của mình đã phạm sai lầm khi chôn mình ở Croisset; và vào một trong nhiều dịp đến thăm, ông đã thúc giục Flaubert định cư ở Paris, nơi ông có thể gặp gỡ mọi người, và bằng cách hòa nhập vào đời sống trí thức của thủ đô, bằng cách trao đổi ý tưởng với những bạn đồng nghiệp, mở rộng tầm mắt. Trên thực tế, có rất nhiều điều để nói về khái niệm này. Nhà văn tiểu thuyết phải sống giữa những nguyên liệu thô của mình. Y không thể chờ đợi kinh nghiệm đến với mình; y phải đi tìm nó. Flaubert đã sống một cuộc đời rất eo hẹp. Ông biết rất ít về thế giới. Những người phụ nữ duy nhất mà ông tiếp xúc thông thường là mẹ ông, Elisa Schlesinger và ‘Nàng thơ’. Nhưng ông là người bốc đồng và hống hách. Ông không thích bị làm phiền.

    Tuy nhiên, Du Camp không để yên, và trong một lá thư ông viết từ Paris đã đi xa đến mức nói với Flaubert rằng nếu ông tiếp tục sống cuộc đời hạn hẹp đó, ông sẽ sớm bị suy nhược não. Nhận xét đó khiến Flaubert tức giận và ông không bao giờ quên nó. Tất nhiên đó là một điều không may, vì ông luôn lo sợ rằng những cơn động kinh của mình sẽ dẫn đến điều gì đó tương tự. Trên thực tế, trong một trong những lá thư gửi Louise, ông nói rằng trong bốn năm nữa ông có thể trở thành một thằng ngốc.

    Flaubert hồi đáp du Camp bằng một lá thư giận dữ, trong đó ông nói với du Camp rằng cuộc sống mà ông đang sống chính xác là những gì phù hợp với ông, và rằng ông chỉ khinh thường những kẻ khốn khổ tạo nên đời sống văn học của Paris. Một sự xa lánh xảy ra, và mặc dù sau đó đôi bạn cũ đã nối lại quan hệ, họ không bao giờ như trước được nữa.

    Du Camp là một người đàn ông năng nổ, tràn đầy nhiệt huyết, và ông thực sự muốn tạo dựng sự nghiệp của mình trong thế giới văn học thời bấy giờ; nhưng khao khát này của ông khiến Flaubert ghê tởm: ‘ông ấy đã mất tích đối với chúng ta’, ông viết, và trong ba hoặc bốn năm tiếp theo, ông không bao giờ nhắc đến tên du Camp mà không khinh thường. Ông thấy những tác phẩm của bạn thật đáng khinh, phong cách thật đáng ghê tởm và việc du Camp vay mượn từ các tác giả khác thật đáng xấu hổ.

    Tuy nhiên, Flaubert vẫn vui mừng khi du Camp đăng trên tạp chí của ông bài thơ dài ba nghìn câu mà Bouilhet đã viết về chủ đề La Mã, và khi Madame Bovary hoàn thành, ông đã chấp nhận lời đề nghị của du Camp để đăng tiểu thuyết này trên tờ Revue de Paris .

    ***

    Tài sản quý giá nhất tôi từng đánh mất là trí nhớ.

    Tôi từng có một trí nhớ rất tốt, như thể trúng số độc đắc vậy. Tôi sẽ không tỏ ra khiêm tốn, vì tôi, từ năm lớp bốn, đã có thể thuộc lòng sáu mặt A4 sau một buổi trưa, và đọc không sai một chữ nào. Vì lẽ đó, tôi nhiều lần được giao đọc diễn văn, diễn từ, và trong những tiết kể chuyện trên lớp, tôi thường đứng lớp thay cô giáo.

    Tôi kể những chuyện cổ tích mà tôi được ông nội kể cho hoặc tôi đọc được trong sách. Ban đầu tôi đọc y nguyên. Về sau tôi tự biến tấu thêm vào rồi tạo ra những dị bản.

    Thế mà thời dậy thì của tôi đã trôi qua như kỳ sinh đẻ ở người phụ nữ, tức là, trí nhớ của tôi giảm sút rõ rệt. Tôi đã chơi điện tử quá nhiều, và rồi tôi thấy khả năng tập trung của bản thân cũng lao dốc không phanh.

    Ôi, giá như có thể lấy lại tài sản ấy! Bây giờ cái gì tôi cũng phải ghi ra, phải note lại…

    ***

    Mercy Mercy Me.

    ***

    Và anh ta nói có lý: chúng tôi quả thật đã tưởng là sẽ không đi tới nơi, thế nhưng rồi vẫn cứ tới được, và nếu mỗi người đều nghĩ kỹ thêm chút nữa thì hẳn họ đã khẳng định được rằng cuộc đời không đáng để ta bận tâm nhiều đến thế.

    – Lermontov, Một anh hùng thời đại

    ***

    Từ đó tôi bắt đầu đọc sách và học tập, rồi khoa học cũng làm tôi chán ngấy, tôi thấy rằng cả danh vọng lẫn hạnh phúc đều không mảy may do khoa học, vì những kẻ sung sướng nhất lại là những kẻ vô học, còn danh vọng chỉ là một việc may rủi, muốn có nó, chỉ cần khôn khéo là đủ. Từ đó tôi đâm ra buồn…

    – Lermontov, Một anh hùng thời đại

    ***

    Tolstoy từng rất tự ti về ngoại hình của mình. “Tôi ý thức rất rõ rằng tôi không được ưa nhìn,” ông viết. “Có nhiều khoảnh khắc tôi đã gắng gượng trong tuyệt vọng: tôi tưởng tưởng rằng sẽ không có một hạnh phúc nào trên thế gian dành cho một kẻ mà mũi đã rộng, môi lại dày và có đôi mắt ti hí màu xám như tôi; và rồi tôi cầu ở Chúa một phép màu, và biến tôi trở nên đẹp trai, và rằng tôi sẵn lòng đánh đổi tất cả những gì mình có trong tương lai chỉ để lấy một gương mặt đẹp trai.”

    Tự dưng nhớ tới câu của Howl: “Tôi không thiết sống nữa nếu không còn đẹp trai.”

    Có xấu lắm đâu nhỉ???

    Ngày 30 tháng Năm năm 2025,

    Hồi đi học quân sự có chơi bóng rổ với một cậu bạn “dân Hà Nội gốc”. Cậu ta cao, tầm mét tám năm, da trắng, bắp tay bắp chân chắc nịch và có cái răng khểnh rất duyên. Lần nào chơi bóng cùng cậu ta cũng thấy một con bé ra xem, nó chẳng quen biết ai, cứ ngồi một mình một chỗ rồi vừa xem vừa tủm tỉm cười thầm. Một hôm cô bé đó mang nước cho cậu kia, còn lũ bạn gái (chúng tôi chơi bóng rổ cùng cả con gái) chung lớp của cậu ta hò theo:

    “Đừng theo nó em ơi! Nó chơi xong nó bỏ đấy!”

    Cô nàng kia dường như bị điếc, và có lẽ cũng bị mù luôn, bất chấp đâm đầu vào anh này. Chuyện kết thúc ra sao có lẽ chẳng cần bàn thêm.

    ***

    Tôi sẽ đọc tất cả tác phẩm của Somerset Maugham.

    ***

    Chekhov từng viết trong thư rằng ông rất mến mộ tiểu thuyết (về phần tôi, tôi cho rằng nó là một tập bút ký) Một anh hùng thời đại của Lermontov. Thật may vì có bản dịch tiếng Việt, và tôi cũng đến phục sát đất cái tài mô tả nhân vật ngắn gọn mà sắc nét của Lermontov, như được trình bày dưới đây:

    Tôi ngoảnh lại: Grusnixki! Chúng tôi ôm hôn nhau. Tôi quen anh ta trong một đơn vị tác chiến. Anh ta bị một viên đạn làm bị thương ở chân và tới suối nước khoáng trước tôi một tuần.

    Grusnixki là học sinh võ bị mới tại ngũ được một năm. Anh ta làm dáng bằng một cách đặc biệt, mang một chiếc áo ca pốt lính dày cộp và chiếc huân chương Thánh Gióocgiơ, một thứ huân chương thưởng cho lính trơn. Anh ta tầm vóc cân đối, nước da ngăm đen, tóc đen, thoạt nhìn vẻ ngoài người ta tưởng anh đã hai mươi lăm tuổi, mặc dù anh ta chưa đầy hai mươi mốt. Khi nói, anh ta ngửa đầu ra sau và luôn luôn đưa tay trái lên vê ria mép vì tay phải vướng chống nạng. Anh nói nhanh và văn vẻ; anh thuộc hạng người, trong mọi cảnh đời, đều có sẵn những câu khoa trương, hạng người không xúc động trước cái đẹp và rất thích huênh hoang bằng những tình cảm ly kỳ, những ham muốn cao thượng và những đau khổ khác thường. Điều họ thích nhất là gây được ấn tượng mạnh; những cô gái lãng mạn tỉnh lẻ say mê họ như điên như rồ! Về già, họ trở thành hoặc là những chúa đất an phận, hoặc là những tay nát rượu, đôi khi là cả hai. Trong tâm hồn họ thường có nhiều đức tính tốt, nhưng thơ phú thì không đáng một xu. Điều ham thích của Grusnixki là nói những lời hoa mỹ: khi câu chuyện vừa mới vượt ra ngoài những chuyện thông thường thì anh ta thao thao bất tuyệt; tôi không bao giờ có thể tranh luận được với anh. Anh ta không đáp lại những câu bắt bẻ của bạn cũng không nghe bạn nói. Các bạn vừa ngừng một tí là anh ta chộp lấy nói ngay một thôi tràng giang đại hải mà ai nấy đều tưởng là có liên quan ít nhiều đến những điều mình vừa nói, nhưng thật ra thì anh ta vẫn tiếp tục bài diễn thuyết của mình.

    Anh ta khá hay châm chọc, những lời châm chọc của anh thường thì cũng vui nhộn, nhưng không khi nào sắc bén và độc ác: Anh ta không có khả năng chỉ dùng một tiếng mà đủ giết được người; anh ta không hiểu người đời, những khía cạnh yếu của họ, vì suốt đời anh ta chỉ lo toan cho bản thân mình. Mục đích của anh ta là trở thành một nhân vật tiểu thuyết. Anh ta thường gắng công làm cho người khác nghĩ rằng mình sinh ra không phải để sống trên thế gian này, rằng anh ta bị đày ải vào những đau khổ huyền bí nào đó, mà điều này thì chính anh ta cũng tin như thế. Đấy là lý do tại sao anh ta rất hãnh diện mặc cái áo ca pốt lính thô kệch. Tôi hiểu anh ta lắm nên anh ta không ưa tôi tuy bề ngoài hai bên đều rất thân. Anh ta được tiếng là rất can đảm, nhưng tôi đã từng trông thấy anh ta lúc lâm sự: tay vung kiếm, miệng thét vang và xông lên phía trước nhưng hai mắt lại nhắm nghiền. Đó là cái gì chứ đâu phải lòng dũng cảm của dân Nga!

    ***

    Maugham cho rằng không có ai ở Anh viết những truyện ngắn “đọc một mạch”, theo nghĩa tích cực nhất của cụm từ này, tốt hơn Rudyard Kipling.

    ***

    Người ta nói rằng các nhân vật tiểu thuyết của Balzac đúng hơn với thế hệ sau ông hơn là với thế hệ cùng thời mà ông đã mô tả.

    ***

    Một cái kết lấp lửng, một cái kết vụng về, lười biếng, xử lý kém, có thể khiến độc giả cảm thấy như bị lừa. Hụt hẫng như để rơi mất miếng cuối cùng của gói bim bim.


    Ngày 31 tháng Năm năm 2025,

    Đang viết một truyện ngắn có tựa đề “Chuyện ở một uỷ ban”. Liệu có chua cay quá không nhỉ?

    Thịnh đi ngang qua ngõ chợ nhớp nhúa, và đến cảnh mấy bà già ngồi tán chuyện cũng khiến anh ngao ngán. Nơi đây cuộc sống bí bách và buồn tẻ, nó giam hãm những tâm hồn trẻ trung như anh, nó kiềm toả mọi năng lực, nó trù dập thiên tư. Con người nơi đây không có những hoài bão cao cả: đam mê của họ là ních cho thật đầy tiền, thây kệ công việc đó có khiến họ tự hào hay không; còn lại, họ sống một cuộc đời ảm đạm, quẩn quanh, vô nghĩa, chỉ biết vớt vát tình trạng ngồi không bằng những lời đàm tiếu, đơm đặt, bằng thị phi, bằng giành giật đấu đá… Nhảy từ thị trấn lên thành phố đã tám năm nhưng không có lấy một cái trường học cho tử tế, – thì cũng có một cái trường đại học đấy! nhưng toàn thu nhận những đứa đầu trâu mặt ngựa, lũ du đãng, đốn mạt, học hành làng nhàng cốt trốn quân dịch; nhìn mà xem, cả thành phố rộng gần ba mươi ngàn héc-ta mà không có lấy một cái thư viện, không rạp chiếu bóng, chỉ lổn nhộn toàn những công sở màu trắng toát chạy dài, tẻ nhạt, khô khốc y hệt những con người ngồi trong; những miếu, đền quanh năm không mở cửa cho khách vào; phá cả công viên thiếu nhi đi để xây vườn hoa nhưng không thấy hoa đâu; còn bệnh viện thì chỉ nhận người quen vào làm, các ông bà già quặt quẹo đứng xếp hàng từ năm giờ sáng, lương y hồn khô như ngói, quát tháo bệnh nhân…

    Kể cũng lạ, thi thoảng vẫn có những người trí thức ở trên Hà Nội tìm về đây lập nghiệp. Cuộc sống thủ đô trôi qua vồn vã, tấp nập, con người hiển nhiên luôn trong trạng thái chuyển động; ấy thế mà không những họ không xê dịch mà còn chây ì, biếng nhác từ những ngày thanh niên. Có những cô giáo, thầy giáo trẻ măng về đây thực tập, nhưng hoàn toàn không phải những vị thức giả miệt mài cống hiến đâu, mà chỉ là những con người trí tuệ tầm trung, tư tưởng an phận và ngại sống xa nhà. Và có lẽ họ sẽ ở đến mạt kiếp, mà cuộc đời họ sẽ lặp lại y chang cuộc đời cha mẹ họ như một điệp khúc, muốn cất tiếng ca reo vui với đời nhưng khổ nỗi chỉ thuộc mỗi một câu, thành thử phải ngân đi ngân lại đến cùn lưỡi…

    ***

    Như hôm qua đã nói, tôi đã mượn thư viện được hai cuốn của Kipling: KimChuyện rừng xanh. Kipling là nhà văn người Anh gốc Ấn Độ, nhận giải Nobel Văn học năm 42 tuổi, trẻ nhất trong lịch sự. Sau khi trở nên nổi tiếng, ông kiên quyết lánh xa báo chí và gần như lãnh đạm trước danh vọng; ông viết tiểu thuyết Kim thay cho lời giã từ Ấn Độ, sau đó lui về một vùng hẻo lánh tại Anh và ở đó cho đến cuối đời. Ôi, chưa cần biết văn ông thế nào, cao siêu ra sao, lấp lửng vài dòng về con người ông thôi đã làm tôi mê điên lên rồi. Còn về cuốn Chuyện rừng xanh, tôi nhớ Lewis từng nói rằng một tác phẩm thiếu nhi mà chỉ có thiếu nhi đọc thì chưa hẳn là xuất sắc, ông viện dẫn câu chuyện về cậu bé Mowgli của Kipling như một trường hợp tiêu biểu cho truyện cổ tích “dành cho cả người lớn và trẻ con.”

    À, hôm qua tôi đọc một lèo truyện ngắn Phòng 6 của Chekhov, đọc xong buồn như chấu cắn…

    ***

    Đàn bà chỉ yêu những gì mà họ không hiểu thôi.

    ***

    Hoá ra bà chủ quán trà đá có một cô em họ. Cô này thường ra trông quán giúp bà vào tầm trưa hoặc cuối chiều, khi bà lão bận bịu chợ chiền hoặc bếp núc gì đó. Cô trạc năm mươi tuổi, da hơi sạm, nám hai bên gò má, trông tướng người mà đoán thì máy móc chắc còn chạy tốt – điều mà, theo cô, là kết quả tất yếu của sự nhàn tản, tập luyện, ăn uống điều độ và kiêng khem. Sáng nay khi tôi vừa bước chân ra khỏi ngõ đã thấy cô đứng cách xa hơn 200 mét hỏi lớn:

    “Nay không đi làm à?”

    Tôi khua tay và một thoáng sau đã ngồi xuống cùng cô. Đó là lần thứ hai gặp mặt, vậy mà cô còn nhớ hẳn mặt tôi cơ đấy! Thú thực tôi không thích chuyện gẫu với cô lắm vì dáng dấp cô làm tôi thấy nhớ mẹ mình, thật trùng hợp vì con trai tôi cũng bằng tuổi tôi. Từ cô, tôi nhanh chóng được biết cô là dân Nghệ An, thực ra điều này tôi phỏng đoán cũng được vì âm sắc của cô vẫn còn lơ lớ. Nhưng, cô có nhiều chuyện để kể, và dường như nhu cầu thổ lộ bị kìm nén lâu ngày nên gặp tôi cô xả như súng liên thanh, chẳng mấy mà tôi đã nhức đầu và tay chống cằm nhìn ra xa. Những lúc đó, có vẻ cô biết ý nên tạm ngừng chốc lát, để thay băng đạn, có lẽ.

    Chúng tôi trò chuyện nhiều, cũng xin nói rằng tính khí tôi vốn buồn rầu, ủ ê, càu cạu, nhưng tôi không ngại ngồi lê đôi mách đâu. Tôi thu được từ những cuộc trò chuyện lẻ tẻ vặt vãnh này đủ thứ, phần lớn chỉ nghe xong để đấy. Đôi khi tôi triển khai một vài truyện ngắn từ những mẩu chuyện cỏn con tôi tình cờ nghe được, nhưng vì kỹ thuật còn yếu, các tác phẩm của tôi vẫn mang tính “sao chép cuộc sống”, tức là, tôi chưa bồi đắp thêm vào cái hạt nhân những da thịt từ trí tưởng tượng. Đại khái tôi mới chỉ là đang kể chuyện, chứ chưa đến mức sáng tác. Suy cho cùng thì tôi mới nghiêm túc viết văn được bốn tháng, còn thời hạn tôi đặt ra cho bản thân là ba năm. Ba năm cố gắng, còn nếu không mảy may triển vọng thành tài, tôi sẽ bỏ.

    Sáng nay, sau khi tôi tiết lộ bản thân từng dự định theo học sĩ quan chuyên nghiệp, cô lập tức bĩu môi, lắc đầu ngán ngẩm và nói:

    “May mà cháu không vào! Được cái ổn định thôi, nhưng ổn định là chết! Chán vãi linh hồn!

    Và khi tôi đả động đến chuyện giới trẻ chúng tôi ngày nay nhiều người ngại sống tha phương, thì:

    “Như con trai nhà cô lúc nó đòi đi nước ngoài, các bà các cô ở quê cứ xúm vào rồi bảo: ‘Ôi giời ơi! Đi nước ngoài làm cái gì, ở quê mà sống có phải hay hơn không?’ – cô thì cô cứ nói thẳng: ‘Đấy các bà cứ ở nguyên trong cái luỹ tre làng của các bà đi.’ Mà buồn cười lắm nhé, không dám đi máy bay! Sợ chết! Bố tổ, chết càng sướng!”

    Càng trò chuyện nhiều, tôi càng thấy cô khoáng đạt và mang tư tưởng cấp tiến ra phết, có lẽ trong thời gian tới tôi sẽ còn viết thêm về cô. Còn tạm thời cứ thế này đã.

    … Về chiều thì tôi đi thư viện cùng Hương. Ở quầy làm thẻ người ta xếp thành hàng dài, tay mỗi người cầm một tấm thẻ đánh số thứ tự. Thủ tục rầy rà, làm việc lâu vô kể, các sách báo trưng bày trên kệ thì tẻ ngắt, dù toàn là tác phẩm tuyển chọn của những cây đa cây đề. Có lẽ chừng một trăm năm sau, cũng có một thằng ất ơ như tôi, khi lật giở những trang sách của chính tôi (giả sử tôi được xuất bản và trở nên nổi tiếng đi), cũng khinh khỉnh nhận xét rằng đây là thứ văn chương cũ nhàm?

    Thật may vì Hương đã đi cùng tôi, nếu không tôi đã bỏ về sau năm phút đứng đợi. Rốt cuộc tôi đã chôn chân ở cái hàng dài đó những ba mươi phút. Tôi nên cảm ơn người yêu tôi vì nàng đã bổ khuyết những phần còn thiếu trong tôi; rằng ý chí viết văn của tôi thì kiên định, tình yêu nghệ thuật thì bao la, nhưng mọi công việc khác đều làm hú hoạ đại khái; và rằng tôi nóng vội, bộp chộp, tính khí thất thường, cáu bẳn và khó chiều, con người như được đan toàn bằng những thứ kỳ quặc và mâu thuẫn nhất. Nàng chuyên hỏi tôi rằng liệu tôi có chán nàng không, tôi không biết phải trả lời ra sao, vì tôi sợ rằng chính nàng sẽ chán tôi trước.

    ***

    Hồi cấp ba cô giáo dạy Giáo dục công dân có một đứa con đồng khoá với tôi. Tôi quen nó từ thời cấp hai. Nó gầy, cận hơn tám độ, cặp kính dày cả tảng nhưng da mặt nó mỏng tèo, trơn láng, còn hàm răng thì vàng khè, mọc lộn xộn. Không hiểu sao nó bị thế, còn tính khí nó cũng khuyết tật nốt. Tôi đánh bạn cùng nó và mặc dù không khinh bỉ hay thương hại gì, đôi lúc tôi cũng thấy ghê ghê. Năm học lớp mười một thì phải, tôi nghe được tin đồn rằng mẹ nó cãi nhau với chồng (bố dượng của thằng kia) vì vụ ông này nhất quyết không muốn có con, sợ rằng đứa con khi sinh ra cũng sẽ khuyết tật bẩm sinh. Họ cãi vã và đánh nhau liên miên. Có lần cô giáo đến dạy mắt sưng húp, đỏ hoe… Có lẽ thằng kia có kể cô nghe về tôi nên nhìn chung cô để ý tôi hơn bình thường…


    Ngày 1 tháng Sáu năm 2025,

    Chà, viết đều đặn thật, hết tháng Năm rồi cơ đấy.

    Mới tuần trước thiên nhiên còn ưu ái tặng cho một đợt khí lạnh giữa hè, lòng phập phồng vì khoan khoái và những dự trù khám phá thủ đô, thì nay hè hùng hổ đổ về, từ tang tảng sáng đã thấy nóng ran cả người, kéo rèm cửa sổ thấy loá mắt.

    Hơn tám giờ sáng mới ra ngoài mà các nhà bên vẫn im thít. Hàng trà đá đóng, ông già gầy gò hay quét lá khô ở thềm nhà cũng không thấy đâu, loa phát thanh thôi làm việc vì đã vào hè, quán bún cá nghỉ, hàng bún chả bỏ không. Trên đường tản mác vài ông già bụng phệ mặc áo ba lỗ trắng bước lật đật. Một đứa bé gái chừng bốn tuổi, mặc váy đen xếp nếp, chạy theo người đàn bà phục phịch ăn mặc thanh lịch phía trước và nó gần như nhảy bổ vào tôi khi bước qua. Con bé kháu quá! Thế là tôi lại được trẻ con yêu mến rồi đấy…

    Ngày bé bà nội nói tôi là một đứa thảo lảo, gặp ai cũng quấn, xin gì cũng cho. Trái khoáy làm sao trưởng thành tôi thành ra vị kỷ, cau có, chuyện bé xé ra to, rồi tự ái vô biên. Tôi sẵn sàng sống mái với một người nếu họ dám chê tôi “dốt”, “tồ”, “đần”, đại loại thế. Tôi ý thức rất cao về phẩm cách của con người, và trong thâm tâm tôi không thể nào chấp nhận việc người ta coi khinh trí tuệ của mình. Nhưng rồi cũng không tránh khỏi những cái vả bôm bốp nhân danh “thực tế”. Đúng là… mình dốt thật!

    Hai mươi ba năm cuộc đời, điều tôi tự hào nhất cho tới giờ là tính chuyển động ở bản thân. Tôi đã từng đi giật lùi, nhưng hiếm khi dậm chân tại chỗ. Đời sống nội tâm của tôi luôn biến chuyển theo những cuốn sách tôi đọc, những con người tôi quen, những cuộc hội thoại lặt vặt tôi nói hàng ngày… – tất cả những thứ ấy, tôi cho là đầu vào. Trong số này, văn chương đóng một vai trò quan trọng hơn thảy. Stephen King từng cho rằng văn chương là “thần giao cách cảm”; còn với tôi, văn chương là sự thoát ly. Các nhà văn sẽ không nói với bạn rằng nhiều khi họ viết chỉ vì đói viết quá, chứ không phải nhu cầu được trò chuyện trong họ đã dâng lên quá cao. Người ta cũng sẽ khuyên các bạn rằng khi viết nên tưởng tượng mình đang viết cho một độc giả duy nhất, một người bạn tưởng tượng hoặc một người thân thích nào đó, nhưng tôi nghĩ độc giả đó nên là chính bạn. Bạn nên viết để thoả mãn, hài lòng chính mình trước, còn những lời hay ý đẹp, những tư tưởng, suy ngẫm… của bạn sẽ tự tìm được chỗ đứng trong lòng những người đồng điệu. Toni Morrison từng nói rằng bà muốn đọc những tác phẩm nói về số phận của người phụ nữ da màu, nhưng vì chưa ai từng viết điều đó nên bà sẽ tự viết. Vẻ đẹp của văn chương còn nằm ở chỗ nó cho phép ta cùng lúc sống nhiều cuộc đời. Đôi khi đó chỉ là sự thoát ly thực tiễn, vì cuộc sống thường ngày vốn nhàm chán, nhiều khi kinh khủng, nên ta buộc phải nương náu nơi toà lâu đài của trí tưởng tượng.

    Văn chương bồi đắp sự đồng cảm, điều mà thiếu vắng hẳn ta không sống nổi. Bản thân tôi vốn dĩ đã là một người dễ đồng cảm, cho đến nay tôi vẫn không thể thản nhiên nhìn những kẻ ăn xin lê la dọc đường tôi đi làm. Tôi luôn thấy bứt rứt, nhiều lần tay tôi tự động lần sờ túi quần nhằm kiếm cho ra một vài đồng bạc. Tôi nhớ có hôm dừng đèn đỏ ở ngã tư Vọng, đoạn cây xăng, có một gã ăn mày với phần bắp chân rách toạc, màu máu khô thâm thẫm như sáp, nằm vạ vật trên vỉa hè. Tôi thấy chộn rộn khó tả khi nhìn gã, tôi muốn cho tiền gã, nhưng tôi chùn. Vài giây sau có một quân nhân trạc năm mươi tuổi, mặt đỏ gay, ánh mắt lừ đừ, nghễnh ngãng dựng chân trống giữa ngã tư và ngất ngưởng tiến về phía gã ăn mày. Ông ta dúi cho gã tờ một trăm, hoàn toàn im lặng, trở về. Tất cả mọi người đều nhìn theo. Rồi khi đèn xanh bật, người ta nườm nượp thả tiền vào rổ cho gã ăn xin. Tôi ấn tượng với sự việc cỏn con ấy tới mức giờ tôi có thể soạn hẳn một bài để miêu tả lại ngày hôm đó. Một lần khác, tôi bắt gặp một cậu “boy phố” đầu không nón bảo hiểm, dựng xe giữa ngã tư phố Huế và băng qua đường đẩy xe lăn giúp một bà cụ. Tôi đã tư lự phát khiếp lên được…

    Tự dưng viết đến đây không nghĩ được nữa. Thôi, khi không viết được thì không nên cố, vậy nên tôi sẽ dành những điều dang dở cho ngày hôm sau.


    Ngày 2 tháng Sáu năm 2025,

    Tôi đang có ý tưởng cho một truyện ngắn, nhưng trời ơi, tôi có nhiều điều để kể đến nỗi có thể biến nó thành một tiểu thuyết. Phải làm sao đây…


    Ngày 3 tháng Sáu năm 2025,

    Cuối cùng cũng đọc xong Một anh hùng thời đại của Lermontov. Chekhov từng nhắc tới cuốn sách này của Lermontov trong thư từ, trong thư, ông ca ngợi tài năng và thiên khiếu kể chuyện của nhà thơ (Lermontov là một nhà thơ viết cả truyện). Thật không tưởng tượng nổi cần bao nhiêu thiên tư và nỗ lực để viết ra một tác phẩm lớn như vậy ở tuổi hai mươi lăm. Và cũng thật đáng tiếc con người đó đã qua đời quá sớm, trong một trận đấu súng, y như những gì ông đã mô tả trong tác phẩm này, chỉ khác một điều rằng Pechorin của ông đã chiến thắng, còn ngoài đời thì ông là kẻ chiến bại. Sau Puskin, một nhà thơ lớn đang giữa thời kỳ dồi dào bút lực đã phải bỏ mạng trong một trận quyết đấu. Haiz…

    ***

    Trong tập hồi ký Looking Back của mình, Maugham đã trích dẫn một câu chuyện của Lamfort trong Anecdotes et Bons Mots, kể câu chuyện về một người đàn ông có thói quen trải qua buổi tối với một cô bồ nhí trong ba mươi năm, và khi vợ ông mất, bạn bè ông đã xúi giục ông nhanh chóng kết hôn với cô tình nhân. “Nhưng nếu tôi làm vậy,” ông nói, “tôi sẽ không biết tiêu buổi tối của mình vào đâu nữa.”

    Thế đấy, tôi đang rơi vào một tình trạng phần nào tương tự. Tôi đã quen tự động dậy sớm và ngồi vào bàn viết mỗi sáng, đến nỗi bây giờ nếu không ngồi viết, tôi sẽ làm gì cho hết thời giờ…

    Khi mơ tưởng tới công việc thì người anh lâng lâng như cánh chim đại bàng, nhưng khi vừa mới bắt tay vào việc anh đã thấy mệt mỏi và chân tay rã rời.

    ***

    Bữa trước tôi tải về một cuốn ebook tên là Creating Short Fiction của Damon Knight, để học hỏi thêm chút ấy mà. Nhưng vừa đọc xong lời tựa, tôi lặng lẽ đóng tab lại.

    Introduction
    Three Reasons Why I Should Not Have Written This Book

    1. Writing can only be learned, not taught.
    2. Even if it can be taught, you can’t learn to write by reading a book.

    Tự dưng nhớ tới giai thoại về Mario Puzo. Người ta đồn rằng sau khi bộ phim Bố già (không phải của Trấn Thành) được công chiếu và đạt được thành công phòng vé, Puzo đã chuyên tâm hơn vào sự nghiệp biên kịch. Để bắt đầu, ông mua một cuốn sách dạy viết kịch bản cho cây bút mới, và ở dòng đầu tiên, ông đọc được: HÃY HỌC TẬP ‘BỐ GIÀ’. Con trai của Puzo kể lại rằng ông đã tống khứ cuốn sách đó không thương tiếc.

    ***

    Hôm qua nắng thật các bạn nhỉ? Hôm nay đỡ hơn xíu, mệt bã người, bải hoải, cả ngày khát nước.

    Cả tối qua chúng tôi không làm gì. Chỉ nằm đọc sách. Hương đọc được 3 truyện, 2 truyện của Chekhov và 1 truyện của Turgenev. Rồi tôi đọc thành tiếng truyện Cái chết của Ivan Ilyich chưa hết một phần ba thì cô nàng mắt đã líu díu rồi. Nóng tới nỗi bật hoà bật không mát. Sáng dậy tôi nhức hết người, ra quán trà đá người ta tiếp chuyện tôi còn chẳng buồn tiếp, tay chống cằm, chỉ ậm ừ cho xong. Về nhà ngồi lên bàn, viết hú hoạ được vài dòng, tự thấy tầm thường, lại để đấy…

    ***

    Nếu tôi là vua, tôi sẽ ban luật rằng nhà văn nào dùng từ mà không giải thích được nghĩa sẽ bị cấm viết và chịu 100 roi.

    Các bạn thử đoán xem câu này của ai nào?

    ***

    Cuối cùng tôi cũng tìm ra nguồn ebook cho tiểu thuyết Cuộc đời Arseniev của Ivan Bunin, nhưng hỡi ơi, tôi phải nhờ Grok dịch từ tiếng Nga sang. Đọc tạm vậy…

    Tạp chí Đường Văn triển khai cuộc thi truyện ngắn cho tới tận tháng Mười năm sau. Tôi có lượn lên website của họ, các truyện ngắn được minh hoạ bằng ảnh do AI tạo 😀 Mà giả tham gia thì viết gì giờ nhở?


    Ngày 4 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng nay giật mình tỉnh giấc từ năm giờ. Ngồi vào bàn viết và nhắm mắt ngủ gật mất ba mươi phút, rồi bước xuống đường. Trời oi nồng, nóng bức. Thú thực là nếu sáng tôi không tắm thì tôi không làm việc được.

    Hôm nay tôi sửa bài Giang, các bạn đọc thử nhé:

    Trong căn phòng rẻ nhất của dãy nhà tập thể trung tâm cơ khí Hà Nội, Thành Nam, một sinh viên quá hạn trường X., ngồi bất động và nghiến răng ken két. Vì chửi đổng nãy giờ nên miệng cậu khô ran, đầu óc bí bách. Dù bụng réo inh ỏi từ sáng nhưng cậu quyết không đứng dậy, nghiền ngẫm mãi về những nhận xét của hội đồng chấm thi. Suốt hai tuần nay cậu mất ăn mất ngủ để chuẩn bị đồ án tốt nghiệp, cất công sửa soạn hơn tám mươi trang, rồi chữa đi, chữa lại, thế mà bài làm vẫn bị chê tơi tả. Một giáo sư tóc mai bạc trắng ghi bên lề độc một dòng “ngán ngẩm quá!” rồi chấm bài cậu không đạt. Đã là lần thứ hai! Cậu không khỏi không nhớ đến những bạn học cấp ba của mình, kể cả những đứa bất tài nhất, đều đã phe phẩy bằng tốt nghiệp trên tay và may mắn được gia đình sắp xếp cho một chức vụ ổn định… Nghĩ tới đây, lòng cậu chợt tê tái se lại…

    Bên ngoài màn mưa trắng xoá khiến dãy cao ốc phía xa mờ nhạt như những đỉnh núi mù sương; trời lạnh căn cắt khiến các đốt tay tím bầm; gian phòng ọp ẹp tuồng như bê trễ theo chủ nhân, ba bịch ni-lông đen nằm chỏng chơ trong góc, bên cạnh là cái xô đựng cát của con mèo đã đi lạc hơn sáu tháng nay; trần nhà thâm thấp mà dưới ánh đèn điện lờ mờ càng trở nên thấp hơn, quang cảnh hỗn độn toát lên mùi tạm bợ và túng thiếu. Vì hết tiền, bốn hôm rồi Nam chưa gọi người tới dọn nhà, còn tự dọn lấy thì cậu không có thời gian, do đó đống rác rưởi cùng những vật dụng linh tinh cứ chây ì ra, choán một vách tường, quần áo bẩn lẫn quần áo sạch tống chung vào một ngăn tủ he hé như một cái bụng căng phồng…

    Ở gian bên cạnh, cách một vách tường mỏng, P. bạn cùng phòng của Nam đang chơi điện tử. Vì trời mưa nên cậu ta ở nhà cả ngày. Chốc chốc cậu ta lại hú hét loạn xạ, không mảy may lưu ý đến tâm trạng bực bội của Nam.

    “Mẹ cái trường khốn nạn!” Nam rủa. “Con mẹ nhà nó nữa… Mẹ kiếp, ngu ngu ngu ngu ngu! Đúng là ngu mới đâm đầu vào đây! Khổ hơn chó!”

    P. gõ gõ vào liếp cửa sổ ngăn cách hai gian phòng và ngây thơ hỏi Nam làm sao thế.

    “Câm mẹ mày đi!”

    “Nóng thế anh bạn!”

    Trong tâm trạng tức tối, sinh viên quá hạn đi đi lại lại trong phòng, bất giác đá quả bóng nhựa khiến nó đập vào tường rồi lăn lông lốc. Cậu nhìn quanh quất, thấy trong lòng tràn lên một khao khát man dại, đó là được xổ tung hết đống này lên. Bây giờ mà có một bao cát để mà đấm, mà đá, thì hả hê biết mấy! Tiếng trẻ con nô đùa ở căn nhà bên vọng sang; mỗi cuối tuần, chúng theo mẹ đến thăm bà ngoại. Đám ranh con vô tư cười cợt thoả thích, tranh cãi với nhau những chuyện nhỏ nhặt, ngọng nghịu đánh vần từng từ ngữ tiếng Anh. Phải gắng lắm Nam mới không hét lên: “Tất cả các người câm đi! Tuần nào cũng kéo đàn kéo đống đến!” Cậu nằm vật xuống giường, miệng há, nhìn trân trân lên trần nhà, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay…

    Hơn mười hai giờ trưa, cậu sực tỉnh vì tiếng mở then cửa, một người con gái bước vào. Đó là Giang, bạn gái của Nam, sinh viên năm cuối trường nhân văn. Cô nhẹ nhàng thu lại chiếc ô màu xanh xanh sũng nước, dựng cạnh cửa và cúi xuống tháo quai giày; trên tay cô lắc lư một bịch nước dùng láng mỡ – đó là bữa trưa. Vừa bước vào trong, trông cảnh nhà cửa nhớp nhúa, cô kêu lên:

    “Anh để cái phòng như này mà được à?”

    “Em mua cái gì đấy?”

    “Anh dọn bàn đi.”

    Nam uể oải bửa các chân trống của chiếc bàn gấp, ngáp ngắn ngáp dài. Họ ngồi đối diện nhau, lặng lẽ ăn. Răng Giang cầm cập vì dính mưa, cô run rẩy so vai, thân hình gầy gò của cô càng trở nên gầy gò hơn; đôi khi cô dùng một tay vén tóc, trông gương mặt cô nhợt nhạt, mệt mỏi và ủ rũ.

    Ăn xong, họ chung nhau một tờ giấy chùi mép; thấy người yêu đã nguôi, cô lựa lời hỏi khẽ:

    “Thế nào rồi anh?”

    “Chẳng thế nào cả!” Nam đáp xẵng.

    “Thôi nào, đừng có bực dọc thế.”

    “Trượt rồi!”

    “Sao mà trượt?”

    “Trượt là trượt! Mẹ kiếp! Chúng nó cho bảo vệ online. Thế mới khổ! Bây giờ biết lấy đâu ra tiền. Đi làm được bao nhiêu nuôi cái trường khốn nạn ấy hết. Đớp sâu thật!”

    Trong lúc Nam ca cẩm thì Giang đã tới cạnh bàn học và khom lưng nhìn vào màn hình máy tính.

    “Người ta bảo anh làm lạc đề này!”

    “Em đâu cần phải nhắc lại những cái ấy!”

    “Anh tự ái quá đáng đấy! Nếu anh không thích thì thôi… nhưng đằng nào cũng phải làm lại. Mình phải biết mình sai ở đâu để còn sửa chứ.”

    “Em… em không hiểu! Em cứ thử vào cái trường của anh đi rồi biết. Trường gì mà đồ án xét tốt nghiệp lại theo hình thức bài tập nhóm và xếp nhóm ngẫu nhiên. Nhóm được ba thằng thì một thằng cũng đi làm rồi như anh đây, nhưng đếch bao giờ vào họp, việc giao cũng không làm, hỏi đến thì bảo ‘Anh bận! Anh bận!’ Tiên sư nó chứ, đếch ai mà chả bận. Có mỗi anh với thằng kia hùng hục làm, mà thằng đấy nó ngu nhưng cứ cãi chem chẻm, lộn hết cả ruột!”

    “Thôi, cái đấy mình tạm thời bỏ qua đi,” Giang xoa dịu người yêu. “Bây giờ phải nghĩ cách để xoay sở… Để em xem nào, tiền học lại là bao nhiêu ấy nhỉ?”

    Nam nhẩm tính một lát rồi trả lời, giọng chán nản:

    “Gần ba mươi triệu.”

    “Anh đang có bao nhiêu?”

    “Năm triệu,” Nam đáp sau một thoáng chần chừ.

    “Anh gọi về nhà chưa?”

    “Chẳng còn một cắc mà xin! Ông già ở quê đang nợ đầm nợ đìa, hôm trước còn gọi lên bảo gửi tiền về.”

    Cả hai cùng im lặng một lát.

    “Anh này?”

    “Gì nữa?”

    “Anh có vay không thì em cho… Em còn…”

    “Vớ vẩn!”

    Đoạn Nam bỏ ra ngoài hiên hút thuốc. Ngồi gập người bên thành giường, Giang bình tĩnh suy xét tình hình…

    Suốt một năm qua, cô đã chứng kiến tất thảy những thay đổi lớn bé trong cuộc sống của Nam, đồng thời cả cuộc sống của chính mình, vì họ luôn kề cạnh nhau. Nam bẳn gắt, khó chiều, dễ tự ái; hiển nhiên anh có tài, anh thừa nghị lực cho những việc mình thích nhưng không có lấy mảy may chút nhẫn nại nào với những việc mình không ưa. Anh ghét thói đặt điều nhưng về phần mình, anh phán xét không kiêng nể ai và luôn đặt bản thân cao hơn những người khác. Bạn bè của Giang không thích Nam; họ thấy anh khó gần, ngạo mạn, hơn nữa anh nói tục quá nhiều, và dù không nói ra nhưng tất thảy đồng thuận rằng mối tình này sẽ chỉ lả lướt chứ chẳng dẫn đến đâu; còn Giang, cô tự khích lệ mình rằng ẩn sau vẻ ngoài tự mãn, vênh vang kia là một trái tim nóng hổi đang đập, tràn đầy hoài bão lớn lao, một tâm hồn cao thượng! Cô tin tưởng vào triển vọng của Nam còn hơn anh tin chính mình, thế nên giờ đây ngồi giữa căn phòng ảm đạm, hẩm hiu này, cô thấy trong lòng xót xa khôn tả. Cô thương người yêu quá, anh ăn uống bữa đực bữa cái mấy tuần nay, người gầy tọp cả đi, mắt thì thâm quầng vì thiếu ngủ. Cần nhanh chóng chấm dứt thảm trạng này và trở lại nếp sống thường nhật. “Phải làm sao đây, làm sao đây,” cô vừa cắn móng tay vừa nghĩ ngợi rất lung, như thể chính cô mới là người đang lầm vào thế bí, chứ không phải Nam.

    Anh đã trở vào, mặt khó đăm đăm ngồi xuống đệm, vẻ ngán ngẩm, âu sầu. Chừng năm phút sau, thanh cửa lách kêu lên một tiếng rít chói tai; P. bước ra, sửa soạn đi ăn trưa.

    “Ô! Chào bạn nhé!” cậu ta hí hửng nói với Giang. “Ngoài trời mưa lắm không bạn?”

    “To lắm, bạn lấy ô của tôi mà che,” cô khẽ đáp.

    Cậu ta liếc nhanh Nam rồi ngần ngừ đáp:

    “Thôi… tôi chạy ù ra đầu ngõ ấy mà.”

    Khi cậu bạn kia đi rồi, chỉ còn hai người với nhau, Giang bèn nhích sang phía Nam, lay lay bắp tay anh và rụt rè nói:

    “Hay là vay thằng P. hả anh?”

    “Nó thì đào đâu ra tiền.”

    “Nó chẳng vừa khoe mới lĩnh tiền học bổng tuần trước còn gì! Anh quên mất à?”

    Nam chợt thấy hổ thẹn vì ban nãy đã nặng lời với anh bạn cùng phòng.

    “Ừ nhỉ? Anh quên mất,” anh lúng túng trả lời. “Thôi được rồi, để anh xem.”

    “Ừ, lát anh vào hỏi luôn nhé, còn thiếu bao nhiêu em bù cho.”

    Một lối thoát dẫu chật hẹp đến thế cũng giúp họ khuây khoả, như những giải pháp nửa vời đôi khi vẫn khiến ta an tâm. Bên ngoài trời mưa liên miên, màn trời xám xịt buồn tẻ, và có lẽ sẽ còn mưa cả ngày dài. Hôm ấy là cuối tuần, ngày mai phải trở lại văn phòng rồi, nên họ mong chờ chiều về trời sẽ ngớt dần và có thể ra ngoài lượn lờ phố xá, ăn một bữa xả xui…

    Thế nhưng đến hơn chín giờ tối mưa mới ngớt, Nam tiễn Giang ra tới bãi đỗ xe. “Anh gắng lên nhé,” cô an ủi và xoa má anh, “dăm ba chuyện này nhằm nhò gì!”.

    Rồi cô đi, tấm áo trùm màu xanh đen ướt sũng chìm lẫn vào màn mưa, mất hút…

    Sau đó, suốt ba tháng ròng, Nam gần như không rời bàn làm việc. Trên văn phòng công việc tẻ nhạt, người ta dành phân nửa thời gian để làm việc riêng, tối về cậu ăn uống qua loa rồi tranh thủ sửa soạn đồ án. Vì không quen nợ nần nên giờ vác nợ vào người, tính mẫn cảm trong cậu gia tăng dữ dội; cậu cảm tưởng mọi lời hỏi thăm của P. đều là: “Này, bao giờ trả tiền tao đấy?”, còn khi nó hỏi cậu sắp lĩnh lương chưa thì cậu tức tối như thể sắp bị tước đoạt. Công ty chạy sự kiện liên miên, mệt bã người, hơn nữa còn hay thức muộn nên Chủ Nhật thường trôi qua chóng vánh, vô vị, phí hoài. Đến giữa trưa thì Giang ghé qua, nàng vẫn xắn tay xăng xái bếp núc; ban đầu nàng thường vận rất tươm, vì nàng mong đợi được đi chơi, rồi nàng cũng hoá tuềnh toàng; gương mặt nàng bơ phờ, uất nghẹn vì ghen tỵ với chúng bạn, những người áo quần là lượt xúng xính và mang bộ dạng nhởn nhơ, mãn nguyện…

    Nhưng tình yêu đủ lớn để san bằng thiệt thòi. Có hề gì, nếu đánh đổi một vài buổi hẹn hò để vun vén cho sự nghiệp? Nam đang làm việc để lo cho tương lai của anh, mà tương lai của anh chính là tương lai hai đứa chứ đâu? Những cuối tuần sau đó, noi gương người tình, Giang cũng tranh thủ nhận thêm vài công việc phụ. Ở nhà chán, họ rủ nhau ra quán cà phê, mỗi người một việc, chụp choẹt một vài tấm hình, gọi là workdate. Họ cảm thấy tự hào ở chính mình cũng như ở đối phương vì sự phát triển song hành này. Họ có những dự thảo sáng sủa cho mai đây, họ lấp đầy cảm giác trống rỗng bằng các kỳ vọng, họ nảy ra những ý tưởng kỳ khôi, hân hoan vì chúng, nhưng không ai nhận ra chúng chỉ như than hồng trong lò, loé sáng, vương lại tàn lửa rồi tắt ngấm. Tuổi thanh xuân của họ cứ thế trôi qua, mòn mỏi, đầu tắt mặt tối, lúc nào cũng vội vã, cũng tất bật, điên cuồng như con chuột chạy trong con quay… Về đêm, họ ôm lấy nhau, tự nhủ rằng mọi khốn khó rồi sẽ qua, rằng mọi tủi nhục, thiếu thốn, chênh vênh, ở cái độ tuổi này, đều là cần thiết và xứng đáng cả!

    Chúc các bạn ngày mới vui vẻ nhé! Bây giờ là 8 giờ 30 phút. Tôi đi làm đây.

    ***

    Sang hè rồi. Tôi còn nhớ ngày bé mỗi đợt nghỉ hè tôi thường được gửi về ngoại. Tôi ở nhà bá. Chị họ của tôi, con gái bá, dạo ấy đang học năm hai đại học. Chị quen một thanh niên hơn mình năm, sáu tuổi; vì cùng phường và vì chị tôi cũng đang nghỉ hè nên anh ta rất năng ghé qua. Mỗi sáng thức dậy, chị sẽ xoa đầu tôi và hỏi:

    “Nay Long thích ăn gì nào?”

    Tôi nheo mắt ngẫm ngợi một hồi, đảo trong đầu một lượt những món ăn. Hai chị em còn tranh cãi thêm một hồi. Sau khi thống nhất được nhu cầu, chị nhắn tin cho anh chàng kia. Chừng ba mươi phút, anh ta mang tới đúng hai suất, vẻ miễn cưỡng và bực dọc gì đấy.

    Hầu như chỉ có tôi ăn. Chị tôi ăn rất ít. Trong lúc tôi ăn, hai anh chị bỏ lên phòng trước.

    Cả ngày dài tôi không có bạn chơi cùng nên sau khi ăn xong, tôi cứ quanh quẩn trong phòng cùng chị; anh ta ngồi cạnh bên, hai người ôm ấp, vuốt ve nhau. Ngày nào anh cũng ghé qua, ngày nào cũng thấy tôi ở đấy, thế rồi một lần, khi ba người chúng tôi đang ở trong phòng thì anh ta khẽ kéo tôi lại gần, hỏi tôi có thích ăn quà vặt không. Ồ, thích chứ! Anh ta nhả cho tôi tờ hai mươi nghìn mới cóng và trước khi xua tôi đi, còn nói với theo bằng giọng sang sảng:

    “Đừng mua tạp hoá gần đây nhé! Mua quán chỗ trường tiểu học ấy!”

    Trời nắng nên tôi đi sát vỉa hè, nép mình dưới tán cây. Thú thực lúc ấy tôi mệt mỏi và chóng mặt, nhưng nghĩ đến những món ăn và đồ chơi sắp được sở hữu thì lòng tôi lại chộn rộn, tôi bước nhanh hơn và khi nhìn thấy cái quầy hàng sặc sỡ lấp ló gần cánh cổng thép của trường tiểu học, tôi đã chạy bổ tới đó như một thằng chết khát giữa sa mạc bỗng tìm ra một hồ nước.

    Bà chủ quán chèo kéo tôi ở lại những hai mươi phút.

    Tôi men theo con đường ban nãy trở về. Tôi đi bên trái đường vì bên phải không có bóng râm. Vừa về đến nhà, mồ hôi đầm đìa và mặt ửng đỏ vì nắng, tôi đã thấy anh chàng kia đang mặc áo nắng vào, chuẩn bị dắt xe ra về. Anh ta hỏi:

    “Mua được những gì? Có ngon không?”

    Tôi hồn nhiên giơ cho anh ta xem những đồ mình mang về.

    Anh ta cười khẩy, hỏi tôi đã đi đến đâu, hứa ngày mai sẽ cho tôi tiền tiếp rồi phóng xe đi.

    Vài hôm sau, mọi chuyện tiếp diễn. Quý ông hào phóng liên tục vung tiền cho tôi, mỗi ngày một nhiều, thành thử sau vài hôm da mặt tôi cháy sạm, đến nỗi bá tôi sinh nghi; và những đồ vặt cứ chất đống dần mà không biết tiền từ đâu ra, bà bắt đầu tra hỏi tôi, bằng giọng uy quyền gần như ra lệnh. Tôi đã kể một lèo, không giấu giếm một thứ gì.

    Tối hôm ấy, bá chửi chị ròng rã một tiếng trời, trước mặt tôi.

    Hôm sau, anh kia quay lại. Vẫn chiêu trò cũ, anh ta gọi tôi lại gần, ve vẩy tờ bạc trong tay, bảo:

    “Nay đi sớm đi không nắng.”

    “Anh thôi cái trò ấy đi,” chị tôi lên giọng. “Anh cứ làm tình làm tội nó mãi, trời thì nắng…”

    “Em làm sao thế?”

    “Chẳng sao cả. Đừng có bắt nó đi nữa.”

    Lúc ấy tôi ngồi lặng yên, ngơ ngác quan sát cặp đôi cãi cọ. Anh chàng kia cố gắng chạm vào người chị tôi nhưng chị tôi dùng dằng gạt ra; sau mươi phút, anh ta bỏ về. Tôi đi theo anh ta xuống đóng cổng.

    “Chị mày làm sao thế?” anh ta hỏi tôi lúc chuẩn bị ngồi lên xe.

    “Hôm qua bá mắng chị.”

    “Sao mà mắng?”

    Tôi thành thực thuật lại câu chuyện.

    “Ờ… ờ… thôi mày vào nhà đi! Anh về đây!”

    “Mai anh có qua không?”

    “Có.”

    … Anh ta trở lại thêm vài ngày, nhưng có vẻ bức bối lắm, vì giờ chẳng đuổi cổ tôi đi đâu được. Hôm nào vào bữa cơm bá cũng hỏi tôi còn bị sai đi mua quà vặt không, trông thấy cái lắc đầu e dè của tôi, bà hài lòng gật gù. Hỡi ôi! Tôi cũng ước anh ta cho tôi thêm tiền để tôi đi mua quà vặt tiếp lắm chứ, nhưng anh ta nhất quyết không nhả ra một đồng nào nữa. Nhất quyết không!

    ***

    Tự làm khó mình bằng cách chọn sai nhưng làm đúng ngành. Cuộc đời đẹp sao, giá có ai để đánh thì tốt biết mấy!


    Ngày 5 tháng Sáu năm 2025,

    Con người ta đôi khi khó mà tránh được việc nói những lời ngu xuẩn, nhưng điều tối kỵ là chớ bao giờ nói những lời ngu xuẩn bằng giọng khôn ngoan.

    ***

    Hôm nay công việc trì trệ, đầu óc bí bách như một căn phòng không có cửa sổ.

    Tối qua tôi ngủ sớm, từ chín giờ. Tôi đã căng mắt đọc Kim của Kipling và sau rốt vì không chịu được sự tẻ nhạt nên đành gác lại, đổi qua đọc Bunin. Tôi ngờ rằng bản dịch của Kim Đồng tệ và nhân tiện gần đây tôi có vài trải nghiệm không mấy thú vị với những bản dịch. Tôi đã mua cuốn ‘Vẽ một phụ nữ’ của Henry James cùng một số sách khác do của nhà formapublic; sách khá đắt, nhưng bản dịch thật sự chán ngắt, không thể đọc nổi. Một độc giả khác tôi quen thậm chí còn nghi ngờ năng lực tiếp thu của bản thân sau khi đọc sách của họ. Chán thật…

    Năm giờ sáng tôi tỉnh, nhưng không dậy: tôi định bụng hôm nay sẽ không viết vời gì cả. Cứ thế, tôi nằm ngủ tiếp đến sáu rưỡi, uống trà đá, lại về phòng, nằm im, hoàn toàn không nghĩ ngợi. Cảm giác như bị tra tấn vậy. Sáng mai tôi sẽ viết trở lại, tạm thời tôi sẽ không gõ bàn phím nữa; đến lúc sắm một cây bút máy rồi.

    Em họ của tôi vừa thi vào 10 xong, nó sẽ lên đây vào thứ Bảy tới. Em của Hương cũng lên. Hai thằng bằng tuổi nhau và sẽ tá túc ở phòng tôi. Tạm thời tôi chưa biết sẽ dẫn chúng nó đi đâu cả. Ngày mai thì sinh nhật Thư. Tôi muốn mua cho em một con gấu bông hoặc một món đồ chơi gì đó, chắc chắn sẽ phải tặng quà muộn rồi, nhưng thôi mặc kệ…

    Tối nay tôi quay lại tập bóng rổ chuẩn bị cho giải Bóng rổ miền Bắc khởi tranh vào tháng Bảy tới. Lực lượng đông như muỗi vậy, không biết tôi có được chọn không nữa. Hương thúc tôi cứ đi đi vì tôi đã bê trễ sức khoẻ của mình quá lâu rồi; thú thực, từ ngày đâm đầu vào viết truyện, tôi ăn uống qua quýt kinh khủng, vận động chỉ là đi dạo quanh khu phố tôi ở và nơi làm việc. Chưa chi tôi đã mường tượng thấy cảnh một buổi tối bị lãng phí rồi.


    Ngày 6 tháng Sáu năm 2025,

    Chiều nay ton tót theo chân chị Chu ra kho Đông Tây. Nóng kinh hồn, không có điều hoà. Dưới đây là những gì mua được:

    Kỳ lạ thế đấy cuộc đời này, Danil Granin, Đoàn Tử Huyến dịch – Tôi không biết tác giả này là ai, không biết cả nhân vật mà ông ta nhắc đến trong tác phẩm là ai. Tôi mua chỉ vì đây là sách cho Đoàn Tử Huyến dịch. Đại khái nó trình bày về một Hệ thống mà nhân vật Liubisev trong cuốn sách đã áp dụng trong suốt cuộc đời mình: ông ghi lại mọi hành động trong ngày cùng thời gian tiêu tốn cho việc đó, đều đặn trong suốt 56 năm, không bỏ ngày nào. Giống như một dạng “kiểm kê thời gian” vậy!

    Tuyển tập thơ trữ tình Puskin – Trước nay tôi chỉ đọc thơ hồi còn đi học, vì bị ép. À không, không hẳn. Vẫn có vài tác phẩm phụ lục mà tôi yêu thích. Giờ thì tôi bắt đầu tập đọc thơ… nhấm nháp giết thời giờ.

    Giọt rừng, Mikhail Prisvin, Đoàn Tử Huyến dịch – Tôi có ebook của cuốn này, nhưng vì nó quá hay nên có bản cứng phải mua vội. Dưới đây là một trích đoạn tiêu biểu:

    Một sự yên ắng đầy rét mướt. Trời đã về chiều. Những bụi cây của cánh rằng hãy còn trụi lá trở nên tối sẫm, dường như chính khu rừng đang gom những suy tư của mình lại để đi vào đêm. Qua màn tối giăng giữa những lùm cây, trông mặt trời hệt như một con mắt bằng hồng ngọc; nhìn qua các bụi cây, con mắt đỏ này không to hơn mắt người là mấy.

    Khi bước ra ngoài đường, trời oi nồng, cái nóng hầm hập đến nhức đầu. Ông bảo vệ, ăn mặc như mọi ông bảo vệ, đang ngồi ở bàn uống nước dưới một lán ô ngay cổng ra vào. Ghế bên trái còn trống, tôi bèn mượn chỗ. Ông ta nhìn tôi một hồi, hỏi tôi có hút thuốc không, rồi khi tôi đáp không thì ông ta gật đầu. Tôi ngồi xuống, chân vắt chữ ngũ, bắt đầu giở sách ra đọc.


    Ngày 7 tháng Sáu năm 2025,

    Kỳ lạ thế đấy cuộc đời này là một cuốn sách tuyệt bích, kể về một nhà khoa học tên Liubisev, người từ năm 26 tuổi, đã đề ra một nhiệm vụ, rằng cần kiểm kê toàn bộ thời gian chi tiêu trong cuộc đời mình. Ông coi đó là Hệ thống để tận dụng tối đa quãng thời gian tại thế của mình. Ngoài hệ thống ra, ông còn có một vài nguyên tắc như sau:

    1. Tôi không có những nhiệm vụ bắt buộc;

    2. Tôi không nhận những nhiệm vụ cấp bách;

    3. Khi quá mệt mỏi, tôi lập tức ngừng công việc lại và nghỉ ngơi;

    4. Ngủ nhiều, khoảng mười tiếng;

    5. Kết hợp những công việc nặng nề với những công việc thích thú.

    Thái độ của Liubisev đối với Thời Gian là rất quý trọng, ông cố gắng không đánh rơi, dù chỉ một mẩu vụn, của thời gian. Bất cứ thời gian nào đối với ông đều có ích. Ông không có khái niệm “giết thời gian”. Ông đọc Kant trên tàu, giải toán trong những buổi họp chán ngán. Soi xét cuộc đời ông, ta nhận ra thời gian không khan hiếm như vẫn tưởng. Bài học của Liubisev là: con người có thể sống từng phút của giờ và từng giờ của ngày, với hiệu suất thường xuyên cao nhất. Cuộc đời thực sự dài, rất dài; trong đó con người có thể tha hồ làm việc và vẫn kịp đọc được rất nhiều sách, học các ngoại ngữ, tham quan du lịch, nghe nhạc thoả thuê, giáo dục con cái, sống ở nông thôn và sống ở thành thị, chăm sóc vườn cây và dạy dỗ lớp trẻ…

    Ngoài ra, dưới đây là một trích đoạn đặc biệt thú vị của cuốn sách, trích từ lá thư Liubisev hồi đáp một nhà khoa học trẻ tuổi tài năng, khi anh ta phàn nàn mình không có đủ thời gian để suy nghĩ:

    Nhà khoa học mà không có thời gian để suy nghĩ (nếu như đó không phải là một thời kì ngắn – một, hai hoặc ba năm), là nhà khoa học đã hết thời, và nếu như anh ta không thể thay đổi chế độ sinh hoạt của mình để có đủ thời gian cho việc suy nghĩ, thì tốt nhất là anh ta nên từ bỏ khoa học sớm… Bây giờ anh đã là tiến sĩ khoa học, có một địa vị vững chắc. Anh chẳng phải đi đâu mà vội cả, và cần phải cố gắng để tự ý thức bản thân. Anh đặt cho mình mục đích gì? Nếu như anh đặt mục đích đạt đến kết quả tối đa có thể có trong khoa học, thì nhất thiết phải dành thời gian để suy nghĩ… ‘Quan sát và suy nghĩ’ – C. Fon Ber vĩ đại đã đặt tên cho các tác phẩm của mình như vậy, còn trong những công trình nghiên cứu hiện đại có rất nhiều quan sát nhưng thường lại quá ít suy nghĩ…

    Vì nó đáng đọc nên sẽ cần note lại thêm chút:

    Tôi muốn dẫn ra tấm gương đáng buồn của một người bạn của tôi, trước đây đã từng là một nhà khoa học không tồi và sau đó lãnh đạo một viện nghiên cứu lớn. Nhưng ngay liền đấy tôi lại nhớ đến số phận giống hệt như vậy của một nhà văn quen thân với tôi, và rồi lại của một nhà văn khác nữa. Chức vụ quả thật đã chiếm mất của họ quá nhiều thời gian và ngăn cản họ làm việc, nhưng rồi họ quen dần với quyền lực của những hoàn cảnh đó. Tất cả bọn họ đều mơ ước được giải thoát, thường nói rằng tới khi đó sẽ thực sự bắt tay vào công việc yêu thích của mình, bởi vì không thể nào viết sách và nghiên cứu khoa học một cách gián đoạn. Cuối cùng, họ được giải phóng. Mỗi người trong bọn họ đã đến được cái ngày họ vẫn hằng mong đợi. Nhưng chẳng bao lâu sau đã thấy rằng không người nào trong số họ còn có thể làm việc được nữa. Rất lâu họ không thừa nhận với mình điều đó, mà đi tìm kiếm những hoàn cảnh, tức là những nhiệm vụ nào đấy, để trì hoãn, để chạy trốn cái tự do mà họ đã nói nhiều đến bao lâu nay và có thể, cuối cùng họ đã đạt được. Người thứ nhất sinh ra nghiện ngập rồi tự tử. Người thứ hai tắt lịm dần một cách lặng lẽ, không ai nhận thấy. Và người thứ ba… Những người khác thì còn sống.

    Chúng ta muốn con người phát triển toàn diện và hài hoà, trong lúc ai cũng rõ rằng bà mẹ lịch sử lại quý chuộng hơn hết những con người suốt đời chỉ say mê một khát vọng nào đó…

    Khả năng nhìn thấy được những điều người khác không nhìn thấy là một khả năng chứa đầy day dứt và đau khổ. Cái năng khiếu tuyệt vời này mang lại cho con người nhiều khốn khổ hơn là vui sướng.

    Tôi giống với nhân vật của Gogol – Akaki Akakievitr, người cảm thấy niềm vui trong việc sao chép lại các thứ giấy tờ… hoá ra tôi viết để rồi ‘bỏ xó’ khá nhiều, những cái mà tôi hoàn toàn không tính là sẽ được in. Việc tóm lược những công trình nghiêm túc tôi làm rất cẩn thận, thậm chí đến bây giờ tôi vẫn bỏ vào việc này rất nhiều thời giờ. Tôi đã tích luỹ được mội khối lưu trữ lớn. Trong đó, đối với những công trình quan trọng tôi viết bản tóm lược, và sau đó là nhận xét phê bình. Vì vậy tôi có nhiều vốn dự trữ, và hễ khi nào gặp khả năng in, thì tất cả có thể lấy ra ngay từ nguồn dự trữ đó, và bài báo sẽ được viết rất nhanh, bởi vì trong thực tế chỉ cần lấy nó từ kho ra.

    Thời trẻ phương pháp làm việc của tôi dẫn đến tình trạng ít nhiều lạc hậu, bởi vì tôi đọc được ít sách hơn so với các bạn của tôi, những người làm việc với sách vở hời hợt. Nhưng trong cách làm việc của họ nhiều điều thú vị bị bỏ sót, và những gì đã đọc sẽ bị quên đi nhanh chóng. Còn với cách làm việc của tôi, ấn tượng về cuốn sách được giữ lại khá rõ ràng, lâu bền. Vì vậy, cùng với năm tháng, kho tàng kiến thức của tôi trở nên phong phú nhiều hơn so với các bạn tôi.

    ***

    Từ hôm chị chàng ở quán trà đá biết tên tôi, đã liên tục gọi thẳng tên riêng.

    “Long sướng nhỉ? Thứ Bảy không phải đi làm.”

    “Chả sướng gì đâu! Cuối tuần là ngày làm việc gấp đôi bình thường.”


    Ngày 8 tháng Sáu năm 2025,

    Cuối tuần được chi tiêu một cách căn ke, cẩn thận. Tôi cố gắng giữ đầu óc bình tâm và hăng hái bắt tay ngay vào công việc. Tôi cảm thấy thèm viết vô kể, ấy thế mà lúc ngồi bào bàn, tôi không thể nghĩ cho xuôi, tôi cố lần tìm những ý tưởng… Được vài phút, tôi cảm thấy mình cần ra ngoài; tôi mở cửa sổ, trước mắt tôi hiện ra một vườn cây ranh rợp xum xuê, ở một phía những tán lá xoè rộng lấp lánh ánh bạc, ở phía còn lại, không được chiếu sáng nên có màu thâm thẫm. Ngắm cảnh chán chê rồi, tôi lại cố đưa mình vào tâm trạng thích hợp, rồi tôi sớm buông bút…

    Tám rưỡi sáng thứ Bảy, tôi xuống đón Cò ở ngay đầu ngõ. Cò là em trai ruột của Hương. Lâm, em họ tôi, lên muộn hơn, chừng mười giờ hơn nó mới tới.

    Lâm dáng gầy, người dong dỏng, quắt queo như nhành củi khô, da dẻ đen đúa, trên gương mặt chỉ thấy rõ đôi mắt sáng quắc nhưng không mấy tinh anh. Cò cao ngang Lâm nhưng dày người, có da có thịt hơn: vai rộng, lưng dài, khi nói thường ngân dài giọng như hát.

    Bọn trẻ con giờ thật lạ! Chúng chẳng yêu thích triệt để thứ gì sất! Lâm không còn lạ trước thú đọc sách của anh nó, nhưng Cò dường như choáng ngợp trước cái kế sách tổ ong hèn mọn của tôi. Tất cả những gì cậu chàng quan tâm là:

    “Trần đời em ghét nhất là đọc sách!”

    hoặc:

    “Chỗ này bán được bao nhiêu hở anh?”

    “Vô giá,” tôi thầm nhủ rồi đáp gọn: “Không biết!”

    “À anh ơi,” Lâm bỗng chen ngang, “con bé Ngọc nó đem trả anh cuốn này.”

    “Thế nó đọc xong chưa?”

    “Nó bảo sách khó hiểu, anh toàn đọc những cái gì ấy!”

    Trong nhà, duy có Ngọc thích đọc sách giống tôi. Nhưng chị này đọc sách lớt phớt lắm. Nó đang ở giai đoạn mà phần lớn mọi thiếu nữ tỉnh lẻ đều trải qua: đắm chìm vào những thiên truyện ngôn tình ba xu, những câu chuyện mà tác giả gần như bóp méo cuộc đời đến nỗi các nhà lãng mạn chủ nghĩa cũng phải lấy làm ngao ngán.

    Về chiều trời oi hơn, nóng hầm hập, điều hoà chạy hết công suất. Sau bữa ăn trưa (bốn người chúng tôi đi ăn bún chả, ngồi trong quán nóng điên người và lũ trẻ bảo bún ở đây còn không ngon bằng ở quê), tôi ngồi bàn đọc nốt truyện ngắn Cuộc sống tươi đẹp của Bunin rồi cùng Hương đến thư viện đổi sách. Tôi lựa được 3 cuốn:

    • Hai vạn dặm dưới đáy biển, Jules Verne
    • Các hung thần lên cơn khát, Anatole France
    • Tuyển truyện ngắn Nikolai Gogol

    Tôi chưa đọc sách của Jonathan Swift và Jules Verne bao giờ. Anatole France cũng vậy. Còn Gogol thì ban đầu đọc tôi cứ nghĩ ông xoàng xoàng cơ đấy, hoá ra là tôi quá gà tồ để hiểu được tầm vóc của ông.

    Chiều tối trời đổ mưa như trút. Đứng trên tầng thượng gióng mắt ra xa có thể thấy màn mưa trắng xoá một vùng trời, mây lướt chậm và đều như thang cuốn. Hương đi học, chỉ còn tôi với hai đứa trẻ con. Tôi cảm thấy mình cần gợi chuyện.

    “Sau này lớn lên Cò sẽ hiểu,” tôi nói, “thế nào là cảm giác đi đâu cũng gặp cái tiếng khoan đục này. Dù có chuyển nhà trăm bận đi nữa vẫn sẽ gặp.”

    “Còn em thì không phải sợ vì em không học đại học,” Lâm nói.

    “Lằng nhằng mày sẽ là thằng đi làm nghề khoan đục, cái nghề phá bĩnh giờ khắc thảnh thơi của người khác đấy.”

    “Mưa sắp đến đây rồi này!”

    “Đâu?”

    Ngay lúc ấy, tiếng mưa rơi lộp độp xuống mái tôn. Chúng tôi xuống gác và về phòng. Vài phút sau, mưa trở nên nặng hạt và quất vào ô cửa sổ nho nhỏ mở hé khiến nước lọt vào trong, chất đầy rãnh cửa như một con kênh, lõng bõng chảy xuống sàn nhà. Cây cối chao đảo như sắp đổ đến nơi. Trong cái thời tiết như vậy, chẳng còn gì thích hợp hơn là nằm đọc sách, đi ngủ, hoặc kể chuyện.

    “Ngày bé anh Long cũng đưa em đi chơi thế này xong vừa bế vừa chạy dưới mưa,” Lâm nói.

    Tôi không ngờ thằng bé còn nhớ được vụ đó.

    “Bất đắc dĩ thôi,” tôi cười nói. “Hồi trước suốt ngày bị bắt trông mày, nên đi đâu cũng phải dẫn theo.”

    “Lâm với anh Long cùng ở với ông bà à?” Cò hỏi.

    “À,” tôi đáp, hơi sượng sùng, “trước thì ở cùng nhau, nhưng giờ nhà nó xây ngay bên cạnh.”

    “Chị Hương cũng ở với ông bà từ nhỏ.”

    “Cái đấy thì anh biết.”

    Im lặng một lát.

    “Ông bà chiều anh Long lắm,” Lâm khoe với Cò.

    “Mày biết tại sao anh được chiều không?” tôi vặc lại.

    Thằng bé lắc đầu, còn Cò trố mắt chờ đợi câu trả lời.

    “Vì anh xứng đáng được chiều,” tôi tự đắc nói, “nhưng khoan. Con bé Ngọc hồi bé cũng chẳng được chiều kinh khủng, song lớn rồi thì không được nữa.”

    “Em chả hiểu,” Lâm nói, “con bé Ngọc chắc con rơi con vãi ở đâu nhặt về! Ông thì chiều anh, bà thì chiều em, riêng nó chẳng ai chiều.”

    “Đấy là lý do mẹ mày ra sức bù đắp cho nó,” tôi trả lời.

    Bọn trẻ ậm ừ một lát, rồi Cò cất giọng ngán ngẩm:

    “Eo chán thật! Nghe hai người kể chuyện ông bà rõ vui, còn ông em ấy, cả ông nội lẫn ông ngoại, đều nát rượu!”

    Lâm cười nắc nẻ còn tôi chỉ cười thầm.

    “Ô thật đấy!” thằng bé nói tiếp. “Hai ông già khú rồi mà vẫn đạp xe rủ nhau đi uống rượu. Đi ngủ là phải có chai rượu trong gầm giường này này! Xong ông bà em còn cãi nhau suốt ngày cơ. Có lần ông bảo bà nấu trứng với mắm tôm cho ông, xong bà không chịu làm. Anh biết tại sao không? Tại mấy lần trước ông cũng thế, cứ sai bà làm món này món kia, kiểu cho vui mồm ấy, xong bà nấu rồi lại chê không ăn. Thế là cãi nhau. Cãi nhau to đến độ chị Hương không chịu được xong còn đứng dậy mắng ông… Ông giơ tay định tát, rồi chị khóc lu loa lên, thế là ông mới thôi…”

    “Ông mình trước cũng nghiện rượu anh Long nhỉ?”

    “Vớ vẩn, ông mày thích ngâm rượu cũng như người này thích câu cá, người kia thích chơi chim thôi!”

    “Bà bảo trước ông hút thuốc lá hơn hai mươi năm, xong…”

    “Ông bảo tao là,” tôi ngắt lời nó, “mà tao biết thừa ông nói phét. Ông bảo một hôm tự dưng nghe loa phát thanh bảo hút thuốc lá gây chết sớm, xong sợ quá nên bỏ. Không hiểu sao ông có thể bịa ra được cái lý do củ chuối ấy. Ai hút thuốc mà chẳng biết hút thuốc gây chết sớm, nhưng chưa ai bỏ thuốc vì sợ chết sớm cả.”

    “Thế ông lừa anh rồi,” Lâm nói. “Còn bà bảo em là trước ông rít liên tùng tục, xong bà doạ nếu ông không bỏ thuốc sẽ không cho ngủ cùng.”

    Cả ba người chúng tôi cùng cười… Mưa ngớt dần, chiều muộn êm ả trôi qua…

    Chừng hơn sáu giờ Hương qua. Bữa tối sửa soạn nhanh chóng và ăn uống cũng nhanh chóng. Sau khi cơm nước xong xuôi, một cuộc chuyện vãn dễ chịu lại bắt đầu. Chúng tôi bàn luận về cái tủ sách. Cò chỉ tay vào kệ sách và nói:

    “Chị Hương, chỗ này bán được bao nhiêu tiền?”

    “Mày đoán xem,” Hương đáp xẵng.

    Thằng bé ra chiều nghĩ ngợi, rồi nói hú hoạ một vài con số chẳng theo tính toán nào cả.

    “Anh Long, chỗ này bao nhiêu?” nó quay sang hỏi tôi.

    Tôi cau mày một thoáng rồi trả lời:

    “Chục triệu, tầm đấy.”

    Và đứng dậy rút vài cuốn bìa cứng trên vách kệ trên cùng, tôi bắt đầu đóng vai một giáo sư văn học, rao giảng về lý tưởng trong mỗi tác phẩm và giá tiền chỉ thuần tuý mang tính thương mại thôi.

    “Có nhiều cuốn bây giờ bán đi phải gấp đôi giá gốc đấy!” Hương phụ hoạ theo.

    “Thế á?” thằng bé kêu lên.

    “Đúng,” tôi gật gù đáp, “nhiều cuốn trên thị trường không bán nữa rồi. Nên có thể đẩy giá lên. Nhưng tất nhiên là anh đây đếch bán đâu!”

    “Chỗ này tầm bao nhiêu quyển hả anh Long?” Lâm vừa đi rửa tay về, mở cửa bước vào và gia nhập nhóm chat.

    “Chắc bảy, tám chục cuốn.”

    “Anh Long mày còn cả đống chất trong góc kia kìa,” Hương đánh mắt về phía bệ đỡ ở cuối phòng, có một đống sách lộn xộn xếp chồng lên nhau.

    “Thế cuốn anh đang cầm trên tay là bao nhiêu?” Lâm hỏi tiếp.

    “Ba trăm.”

    Nó im lặng một lát rồi nói giọng nhả nhớt:

    “Thế mai mất đừng có tìm em nhé! Hê hê!”

    “Mày chỉ thế là nhanh,” Hương cười nói. “Anh Long mày quý sách còn hơn cả chị. Sách ướt có tý mà buồn từ sáng tới giờ.”

    “Ờ… ờ… vẫn đang buồn đây.”

    Hương nhìn tôi, vẻ ngán ngẩm, nhưng lời nói ra thì phấn khích vô cùng:

    “Anh này, cuốn màu đo đỏ hôm qua anh cho em đọc tên là gì nhỉ? Cuốn đấy hay thật!”

    “Của Bunin em ạ! Hay phải không, ông ấy viết đỉnh dã man.”

    “Hôm qua em đọc truyện gì mà nhẹ nhẹ ấy nhở?”

    “Hơi thở nhẹ! Anh đọc cho em truyện hay nhất trong cuốn đó rồi mà em không cảm được.”

    “Truyện nào?”

    “Ruxia.”

    Bọn trẻ không biết tôi viết lách, hẳn rồi. Nhưng Hương đề nghị tôi nên đọc to một vài trang viết của mình. Còn tôi trước hết muốn thú nhận với nàng một điều đau đáu dày vò tôi suốt hai hôm nay.

    “Có chuyện anh cần giãi bày với em,” tôi nói, “đó là… anh đã mua cái bút hôm trước. Và quả thực nó viết như hạch. Đây, nó đây.”

    Tôi đưa chiếc bút thon thon, dèn dẹt màu đen cho Hương.

    “Bao nhiêu đây?”

    “Hơn ba trăm.”

    “Em bảo anh rồi mà! Chỉ tổ phí tiền thôi!”

    “Đâu em xem nào,” Cò hí hửng chen ngang, và khi đã ngắm nghía cây bút đủ lâu, cậu chàng buông lời bình: “Anh bỏ ra hơn ba trăm để mua một cái bút máy á?”

    “Thế đã là gì?” chị cậu ta lên giọng châm chọc. “Anh đưa nó cây bút máy màu đỏ kia đi!”

    Tôi nhấc chiếc bút màu đỏ khỏi hộp đựng và chuyền tay thằng bé. Hương nói to:

    “Rồi, mày đoán xem bao nhiêu đi?”

    Thằng bé mân mê, ngắm nghía một hồi như một người thợ kim hoàn đang xem xét món đồ người ta đem đến cho mình.

    “Năm trăm!”

    “Sai bét.”

    “Bảy trăm.”

    “Vẫn sai.”

    “Thế bao nhiêu hở chị?”

    Hương đánh mắt với tôi làm hiệu.

    “Triệu tư em ạ!” tôi bình tĩnh đáp.

    Cả ba cùng lặng đi một thoáng. Hương vẫn khoái đem vụ cây bút ra để giễu cợt tôi vì tôi đã mua không hề hỏi ý kiến của nàng; sau khi viết vời được vài bữa, tôi đâm chán vì nét bút không trơn, vì chữ viết tay xấu hoắc, và một ngày không đẹp trời tôi đã để ngòi bút toẽ ra như cái lưỡi rắn.

    … Chín giờ tối tôi ra sân bóng rổ. Hai đứa trẻ tôi gửi rạp chiếu phim trông nhờ.

    Tôi ngủ lúc mười hai giờ, sau khi đọc lớt phớt được hai mươi trang sách, truyện Đại lộ Nevsky của Gogol.


    Ngày 9 & 10 tháng Sáu năm 2025,

    Hôm nay người khoẻ re.


    Ngày 11 tháng Sáu năm 2025,

    Dạo này tôi ngủ sớm, chừng hơn mười giờ mắt đã như dính bằng hồ rồi. Sáng ra dậy muộn, ngồi vào bàn viết khoảng một tiếng rồi sửa soạn đi làm.

    Lên văn phòng nhiều khi rảnh lắm, nhưng không thể viết trên này được. Quá nhiều mối xao nhãng.

    … Giữa chiều xuống tầng một gặp chị Phương. Đang hầu chuyện với chị thì con trai chị, một cu cậu chừng lớp ba, lớp bốn, cận thị, nhìn tôi và bảo:

    “Chào chào bác!”

    Ái chà, lười cạo râu có mấy hôm mà đã từ chú lên thành bác rồi.

    Có lẽ nên dẹp ngay cái trò đọc sách tiếng Anh bằng bản dịch của AI. Tất cả những gì đọng lại là một cốt truyện mơ hồ và cảm giác phung phí thời giờ.

    ***

    Tôi còn nhớ thầy giáo toán hồi lớp Sáu của tôi là một người ưa châm chọc thế nào. Tên của thầy cũng thật ấn tượng: Đáng. Ngay từ những buổi học đầu tiên, hỡi ơi, thầy đã để ý tới tôi, thường gọi tôi lên bảng làm những ví dụ và nghiêm nghị bĩu môi mỗi khi tôi không không đáp ứng được kỳ vọng của thầy. Học hết một kỳ tôi mới biết cả lớp tôi đều học phụ đạo ở nhà thầy, chỉ riêng tôi, cuối tuần cứ chạy nhong nhong ngoài đường và la cà hết chỗ này đến chỗ khác.

    Tuy nhiên, sau khi biết vụ đó tôi vẫn không đi học thầy, phần vì tiếc tiền, phần vì sợ thầy quá. Lâu dần thì các bạn khác cũng bị đem ra mai mỉa giống tôi nên tôi bớt xấu hổ hẳn; thằng Sơn bị thầy chê răng vâu, con Trang thì thầy nói môi này thái vội phải được mấy đĩa, cứ thế. Về phía tụi học sinh, vì thầy Đáng lùn tịt nên chúng tôi thường gọi thầy là “quỷ lùn”. Thầy có cái bụng bia to tướng, một cặp kiếng dèn dẹt và đôi mắt của thầy cũng dèn dẹt y thế, lúc nào trông cũng như thể đang dò la thám thính điều gì.

    Thầy khó tính, vặn vẹo học sinh đủ kiểu; nhưng số học sinh ghét thầy và quý thầy vẫn ngang ngửa nhau. Tôi nghiêng về về sau hơn, vì tôi sợ thầy chứ tôi không ghét; thầy dạy giỏi và mỗi lời khen ngợi của thầy, vốn khan hiếm, trở nên quý giá nhường nào.


    Ngày 12 tháng Sáu năm 2025,

    Tối qua tôi chở Hương ra Ocean Park dự fan-meeting của Đăng Khôi (tôi không biết điều này cho đến giữa buổi). Kỷ niệm ba năm. Ban đầu, hai đứa dự định sẽ nấu một bữa cơm tươm tất, đèn nến đủ thứ kiểu. Rồi đổi qua ăn hàng. Sau rốt lúc đi giữa đường, tôi quyết sẽ phóng bằng được ra Hưng Yên.

    Chúng tôi vừa ra tới nơi thì trời mưa. Dưới ánh đèn sân khấu từng hạt mưa liên xiên đâm xuống như một dải bụi vàng; quang cảnh thật rực rỡ, sống động. Năm phút sau mưa ngớt dần, người ta căng những chiếc ô trong suốt, ánh đèn flash nhập nhoạng, chốc chốc lại nghe thấy tiếng một cổ động viên quá khích hét lên những câu từ quên cả thận trọng giữ gìn.

    Người yêu tôi quả là lạ! Khi trên đường, tôi hỏi gì nàng đều đáp “cũng được”, vậy mà ra tới nơi, nàng la hét cuồng nhiệt, mắt đăm đắm, nhón chân nhìn sân khấu qua vai người khác. Nàng nhờ tôi quay lại bằng hết những khoảnh khắc của Trọng Hiếu. Chậc, anh chàng này Tây thật; anh ta mặc chiếc quần thụng màu đen, thắt lưng đính đá; mái tóc anh trông như Jared Leto trong Morbius. Đội ngũ trang điểm đã thành công trong việc biến anh ta thành một gã ma cà rồng đẹp trai.

    “Đẹp trai quá!” Hương reo lên.

    “Ừ, đẹp trai thật!” tôi nghĩ thầm.

    Tôi đói, rủ Hương đi ăn gì đó nhưng nàng từ chối. Nàng chờ Tự Long xuất hiện. Chán nản, cồn cào, tôi rảo bước đi quanh quảng trường. Tôi đi một vòng, ngắm nghía đủ các thứ; tôi vào một quán, xem lướt menu rồi đi ra; tôi ra ngồi ở gần bệ phun nước, những tia nước vồng lên từ miệng của con sư tử bằng đá. Tôi đứng dậy, đi tiếp, sau cùng tạt vào Chang Hi. Nhân viên phục vụ làm tôi nhớ tới em tôi ở quê, chân tay dài lênh khênh, mũ lưỡi trai Gucci, làn da đen rám nắng…

    Lúc trở về, chúng tôi lạc đường, đâm vào một ngõ cụt. Một ông chú đang ngồi xổm hút thuốc gần đó mới hỏi:

    “Đi đâu đấy?”

    Hương lanh chanh đáp:

    “Về Hà Nội đi đường nào chú?”

    “Cầu Vĩnh Tuy hay cầu Thanh Trì?”

    “Vĩnh Tuy ạ.”

    “Thế lên dốc rồi đi thẳng.”

    Tôi rịn ga lên dốc, toan phóng thẳng.

    “Đi đường này chứ anh!”

    “Mẹ kiếp! Đi thẳng mới đúng!”

    “Anh gắt cái gì!”

    Tôi không nhớ mình đã đáp lại thế nào, hẳn là rất thậm tệ. Như thể có ai đó cầm mõ gõ vào phần giữa hai lông mày của tôi. Lời vừa buông ra đã thấy hối hận ngay! Thế là hậm hực nhau suốt đường về.

    “Anh có viết về những thói xấu của anh không?” Hương hỏi tôi khi về tới nhà, lúc chuẩn bị đi ngủ.

    “Không.”

    Dẫu tình cảm hai đứa có thế nào, quán bún ngan ở Thanh Nhàn vẫn ngon bền vững, ngon như lần đầu ta ngồi ăn. Chuyện tình quán bún ngan.

    ***

    Tôi bắt đầu hiểu ra tại sao các truyện ngắn của Bunin đều gây ở độc giả một nỗi buồn man mác, day dứt khôn nguôi. Chủ đề lặp đi lặp lại trong truyện ông là “đời thừa”: một khoảnh khắc vụt sáng giữa cuộc đời, đem lại phút giây thần tiên trong thoáng chốc, rồi tắt lịm; phần đời còn lại sau đó dường như chỉ là phần dôi ra của cái khoảnh khắc kia.

    ***

    Trưa nay chán cơm thèm bánh mì, mới tạt ra đầu Mạc Thái Tông. Tôi ấy mà, cứ ưng quán nào là mua đi mua lại ở đó, miết rồi thành quen. Quán có ba người đàn bà; một người tóc xù, đỏm, môi đỏ chót; người nữa có gương mặt to bè như mặt bàn với chiếc mũi lổm nhổm như một con sâu đang bò, mắt xếch kiểu Tàu, lờ đờ như loài cá chết; hai bà này có thể gọi là chủ quán, có thể gọi là chị em cũng được vì trông trạc tuổi nhau và trông từ đằng mông thì khó nhận ra ai vào ai. Còn người đàn bà thứ ba, người lúc nào đưa cốc trà đá cho tôi tay đều run lẩy bẩy, có lẽ là chân phụ việc. Tôi quý bà này hơn cả; trông bà ta ít làm điệu, rặt vẻ chất phác hồn hậu của dân quê; làn da màu đồng thau cháy nắng và những nếp nhăn hằn rõ hai bên khoé mắt khiến bà già hơn tuổi thật.

    Tôi gọi bánh mì trứng xúc xích.

    “Không nộm và nhớ thêm tương ớt. Sáng nay quên không cho đấy nhé, ăn như bỏ trấu vào miệng!”

    “Cháu ngồi đợi chút nhé… Trứng xúc xích không nộm có tương ớt!”

    Thấy chán, tôi kéo ghế ngồi ngay dưới quầy nguyên liệu và giở sách ra đọc. Ánh nắng rọi vàng những trang sách cũ kỳ vốn đã ngả vàng. Trên tay tôi là cuốn Tuyển tập I. A. Bunin của Đông Tây; cuốn sách này tôi thó được ở văn phòng và đã vớt vát tôi ra khỏi những ngày trì trệ của đời công sở. Gần đây tôi đọc trên TikTok thấy nhiều người than phiền việc không dám đọc sách ở nơi công cộng, sợ bị cho là làm màu. Là một người từng đọc sách ở yên sau xe máy, ở sảnh chờ bệnh viện, ở quán trà đá, ở công viên Thống Nhất lúc chờ pháo hoa, tôi thấy thật nực cười! Thú thực, tôi hiếm khi đọc ở nơi công cộng vì cuốn sách quá hay đến nỗi không đọc không được. Sách hay thì phải để dành đọc ở nơi yên tĩnh, như bản nhạc hay thường được cắm tai nghe để ngâm nga một mình. Tôi đọc ở nơi công cộng phần lớn vì không có gì làm, tức là, cũng thuần tuý như việc một người phụ nữ tranh thủ đan len lúc rỗi rãi mà thôi.

    Trong lúc tôi nghĩ ngợi như vậy, bỗng có hai người đàn ông tiến tới thanh toán. Bà chủ tính nhẩm thành tiếng rồi nói to:

    “Một trăm năm mươi nghìn.”

    Người đàn ông chìa điện thoại trước mặt bà chủ, bà ta gõ số trên màn hình. Hoá ra là hai lão trung niên người Tàu. Tôi đoán chừng bà già này tính lố tiền cho họ cũng nên, thế mà họ vừa đi khỏi thì bà nói:

    “Bọn này nó ăn mới khiếp thật! Mỗi thằng cứ phải hai cái bánh mì như này này, rồi lại đá một bát mì tôm sốt vang. Eo ôi, nó gọi mà tao cứ tưởng nó gọi cho người khác.”

    “Chứng tỏ mấy tay này phàm ăn quá nhỉ?”

    “Ừ, nó ăn khoẻ lắm. Hôm nào ra đây y như rằng mở cỗ.”

    Đồ ăn trao tay, tôi thanh toán tiền rồi lấy sách che đầu khỏi nắng; men theo vỉa hè, tôi dừng chân ở quán trà đá. Không hẳn là quán, đúng hơn là một cái sạp, gồm một bàn nhỏ bằng nhôm trên đựng các thức uống sặc sỡ thông thường.

    “Hôm nay không mát như hôm qua nhỉ?”

    “Ừ, hôm nay gió lặng rồi. Hôm qua gió thổi mát rượi, sướng rơn người.”

    Tôi ngồi xuống một bàn dài. Người phụ nữ ngồi cạnh tôi đội mũ rộng vành kéo sụp xuống ngang tầm mắt, tôi không nhìn được mặt chị ta. Căn cứ vào dáng dấp và trang phục, tôi ướng chừng chị ta khoảng ba nhăm tuổi. Chị mặc sơ mi trắng dài tay, quần âu đen ống loe; đối diện chị là một ông chú mặt đỏ dừ, giọng khô rang, đang tiếp chuyện với ai đó qua điện thoại. Trông họ vừa giống anh em, vừa giống sếp với nhân viên, lại vừa giống nhân tình. Sự kết hợp giữa vế hai và vế ba không phải không khả dĩ.

    Lát sau quả thực có một cơn gió ào ạt thổi từ chung cư phía sau, đẩy bịch túi bóng vo tròn của tôi lăn lông lốc xuống thềm đường. Tôi về văn phòng. Lúc mở cửa, tôi thấy cô chủ nhà đang ngồi vắt chân, mặt hướng ra đằng cửa, nghe điện thoại. Cô là một thi sĩ kiêm văn sĩ; tôi đã từng đọc một truyện ngắn của cô và thấy chúng khá được, còn thơ thì tôi không cảm được. Tôi đã nhiều lần định bắt chuyện với cô, thổ lộ rằng tôi cũng nuôi mộng con chữ nhưng rồi lại thôi. Mọi chuyện cứ bỏ ngỏ như thế thôi. Đến giờ, có lẽ cô ta cũng chẳng biết về tôi gì hơn một thằng nhân viên loắt choắt trên tầng bốn, làm sách, thi thoảng xuống rít trộm thuốc lào của ông bảo vệ ở phòng bếp phía sau.

    Văn phòng của tôi, nếu nó đủ tiêu chí để được gọi là một văn phòng, có một hành lang ngắn thông sang phòng trà. Bên này, chủ nhà, vì thị hiếu, treo trên tường các tấm vải thổ cẩm sặc sỡ nhưng không mấy bắt mắt, trái lại, khá quê mùa và khiến căn phòng đã tối càng trở nên u tối hơn. Dưới những tấm vải có gắn những đồng xèng to to mà mỗi khi tôi bật quạt cây, chúng dội vào tường kêu lên những tiếng leng keng rất khó chịu. Vài bức hoạ vẽ bằng tranh sơn dầu, loang lổ, không ra một hình thù gì, không hiểu dụng tâm của nghệ sĩ là gì, được bày biện so le, cao lớn, đứng án ngữ như mấy tên lính gác; bản thân chúng dường như ý thức được tính trừu tượng và đánh đố của mình nên cũng lặng lẳng, vô hồn, cam chịu sự bạc đãi của người xem thông thường. Thi thoảng vài người đi qua, nhìn liếc chúng và phẩy tay bảo:

    “Eo cái ông Tĩnh (tên của hoạ sĩ và là chủ nhà) này toàn vẽ mấy cái gì gì ấy. Cứ vẽ phong cảnh có phải hay hơn không.”

    Trong phòng dựng một ghế dài đan bằng cói là nơi tôi nằm ngủ trưa. Tôi thường ngả người ra đó, tựa đầu lên chiếc gối ôm hình tròn lút lại ở giữa như một chiếc bánh donut, chân gập lại, đọc hú hoạ được chừng mười, hai mươi trang sách rồi mắt như bơi trong đầu, dần chìm vào giấc ngủ trưa, bải hoải, nhức nhối cả người và đôi khi bực mình vì tiếng piano vọng lên từ dưới tầng bỗng khiến tôi thù oán cả Chopin.


    Ngày 13 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng ra đã nhức hết đầu vì tiếng khoan đục. Chị chủ quán trà đá thì cứ đôi ba câu lại:

    “Ui mày giống y thằng con cô!”

    Dường như điều gì ở tôi cũng gợi nhắc cô nhớ đến con trai mình.

    ***

    Hôm nay mua xôi về ăn cùng mọi người ở văn phòng. Uống trà ổi hồng. Buổi trưa ngồi sửa truyện.

    ***

    – Anh bảo anh đau khổ vì em, sao vẫn thấy anh hát? Sao vậy? Hồi ấy em vẫn nghe thấy anh hát trên bao lơn, – Katerina vừa ôm ấp người tình vừa tiếp tục hỏi.

    – Sao lại hát ấy à? Thì con muỗi đấy thôi, quanh năm vo ve nhưng có phải vì nó vui sướng đâu nào, – Sergei hờ hững đáp.


    Ngày 14 tháng Sáu năm 2025,

    Một ngày sẽ dài như vô tận nếu không có sự can thiệp của con người. Cố tận hưởng nốt buổi sáng vì chiều phải đi concert rồi.


    Ngày 15 tháng Sáu năm 2025,

    Tối qua đi concert tới hơn một giờ đêm mới về. Người ướt sũng như chuột lột, nhưng đi đường gió tạt thì khô cong. Sáng ra bảy giờ đã phải dậy chở bà Hương đi ăn sáng. Trở về nhà, đọc lớt phớt vài trang sách rồi lăn ra ngủ tới gần hai giờ chiều.

    Đọc một lèo Người hành hương mê đắm của Leskov.

    Tối, trời mưa. Đọc truyện ngắn Tamango của Mérimée. Đi chơi bóng rổ, vừa phí thời gian vừa phí tiền. Ăn tối qua loa, về nhà.

    Hôm nay không viết gì cả. Cảm thấy trống rỗng.


    Ngày 16 tháng Sáu năm 2025,

    Nước chè trong tới độ nhìn thấy vân tay in trên thành cốc khi tôi siết mạnh tay. Trời nhiều mây, mát mẻ.

    Không viết được gì. Ngồi ở quán cà phê. Gần cạnh là một cô gái trẻ tóc ngắn, xăm ở bắp tay, da trắng, mặc áo hở lưng. Ngồi ở bàn ngoài cửa là một thanh niên tóc vuốt keo, tờ hồ sơ đặt trên bàn, cả buổi thấy bấm điện thoại. Trời, quán ồn kinh khủng. Thế mà có ông mang cả Kindle với một pho sách dày cộp ra. Sao mình lại chui ra đây làm gì không biết…


    Ngày 17 tháng Sáu năm 2025,

    Cả buổi sáng ngồi lọc các bài viết gửi về cho cuộc thi “Đại lộ của những giấc mơ tan vỡ”, từ những con người cùng mắc một tật là đam mê viết văn. Phần lớn là học sinh, tuổi mười lăm, mười sáu, ít nhiều dính dáng tới môn Văn trên ghế nhà trường. Những giấc mơ tan vỡ của họ, vì trải nghiệm còn ít ỏi, tạm gói gọn trong việc thi trượt vào trường chuyên, hoặc, hiếm hoi hơn, nhận ra sự bất tài và vô vọng của việc xuất bản một cuốn sách. Việc xét duyệt và đăng tải các bài viết thế này giống một bài tập rèn tính kiên nhẫn và đắp bồi lòng vị tha. Tôi phải giữ một tinh thần kiên định và một lý trí không thiên kiến để lượng thứ cho mỗi dấu ngắt nghỉ đặt sai chỗ, những đoạn văn không có dấu chấm câu, ngữ pháp lộn xộn, cách hành văn cẩu thả, đó là chưa kể những pha lạm phát sáo ngữ. Tôi từng đọc được rằng lý do các biên tập viên hiếm khi công thành danh toại trong nghề văn chương được bởi vì “làm sao có thể viết những tác phẩm hay cho được khi phải đọc những tác phẩm tệ của người khác mỗi ngày.” Trêu vậy thôi, Toni Morrison đã làm biên tập viên sách thiếu nhi trong hơn 20 năm trời đấy.

    Gần đây tôi chuyển qua viết tay. Giấy, bút thượng hảo hạng nhưng chữ viết thì xấu hoắc.

    Từ ngày viết cái nhật ký này, tôi liên tục bị thúc giục bởi một fan nữ khiến đời sống tinh thần của tôi nhiều khi bực bội vô kể. Cô ta phàn nàn sao dạo này tôi ít viết nhật ký thế, hoặc sao mỗi lần viết chỉ độc có vài dòng. Chắc hẳn các bạn đều biết cô ta là ai…

    Hôm qua trước khi ngủ đọc cho Hương nghe “Người đàn bà có con chó nhỏ”, chưa đọc hết mười trang đã thấy ngáy rồi.


    Ngày 18 tháng Sáu năm 2025,

    Trưa nay tôi đi ăn mì tôm ở ngoài hàng. Vì tôi đi sớm hơn giờ tan ca thường lệ nên quán còn vắng; quanh quán người ta ngồi lẻ tẻ không theo trật tự nào cả. Trời không nắng không gió. Tôi ngồi ở bàn ngay sát vỉa hè, đầu bàn bên kia có một ông chú trung niên đang ăn trứng lộn. Trong lúc đợi đồ, tôi quan sát người đàn ông.

    Ông ta trạc bốn nhăm tuổi, đầu húi cua, tóc trắng tóc đen đan xen như eo đất cằn cõi được rắc vôi bột, người quắc thước, mũi phập phồng và khuôn miệng rộng, ngập tràn vẻ thoả mãn no nê. Ăn xong, ông rít một hơi thuốc lá dài, lấy làm sung sướng, và bằng giọng sang sảng, ông bắt chuyện với bà chủ quán phục phịch đang nấu bếp ngay sát vách.

    “Ngày nào cũng phải một bao chị ạ!” ông nói. “Hôm nào mà rượu bia vào nữa còn tốn nữa, nên cứ thủ sẵn cả dây trong cốp cho chắc.”

    “Báu bở gì đâu chú ơi, anh nhà chị đây trước mua cũng toàn mua hàng dây, thuốc lào sợi thì cứ hàng cân mà vã,” bà chủ quán lè nhè nói, liếc nhìn khách rất vội rồi lập tức hướng mắt trở lại chiếc chảo nhôm sâu lòng. Bà nhanh nhẹn đổ đồ ăn ra chiếc bát ô tô đặt trên bàn và sai người phụ việc mang ra cho tôi.

    Vì đói, tôi lập tức so đũa và lấy và để. “Cho một trà đá,” tôi vừa nhồm nhoàm nhai vừa nói.

    “Anh nhà chị mất cũng chục năm rồi đấy nhỉ? Mà trước cùng làng rồi lấy nhau hay như nào?” người đàn ông cùng bàn tôi lại hỏi.

    “Đâu! Khác làng, cách một con sông,” bà chủ quán đáp ngay.

    “Chứng tỏ anh nhà cũng dạn phết đấy nhỉ? Qua hẳn làng khác tán gái! Không biết thời chị thế nào chứ thời bọn em muốn tán gái làng bên là bọn trai làng nó phục sẵn ở đầu đình rồi cứ túi bụi mà giã thôi. Nhiều ông sứt đầu mẻ trán, bỏ cả xe đạp để chạy xuống đồng.”

    “Chị chắc trước xấu gái nên trai làng nó chả thèm giữ,” người đàn bà tếu táo nói.

    “Úi, bà chị còn đẹp chán! Giờ đi lấy chồng hai vẫn kịp ấy chứ!”

    Tiếng cười vang rộn gian bếp ọp ẹp; một luồng gió nóng xô những tấm ván nhôm nhám mỡ khiến chúng nghiêng ngả, như thể chúng cũng không thể nhịn cười trước lời bông đùa về bà chủ của mình. Vì ngứa miệng, tôi bèn góp đôi lời cùng người đàn ông; ông ta quay về phía tôi, mắt mở to, tỏ ý rất vui lòng khi có một người chuyện gẫu cùng. Chúng tôi trò chuyện về chuyện trai làng này đánh trai làng kia, về những vụ ẩu đả hay sát hại người tình vì ghen tuông. Chuyển qua chuyện chém giết, tôi bảo với ông ta rằng trong mười thằng lĩnh án tử hình thì chín thằng là buôn ma tuý, và chuyện ở quê tôi người ta gọi đám nghiện hút vạ vật ở đường ray là “kim la”.

    “Bọn trẻ con chân trần đi trên đường ray thi thoảng hét toáng lên vì suýt nữa giẫm vào một cái kim tiêm, mũi kim hướng thẳng lên trời,” tôi nhấp một ngụm trà đá và nói.

    “Ừ cái đấy là chúng nó cứ tiêm chích chung với nhau. Chủ yếu chết là bởi thế, chứ cứ của thằng nào thằng ấy dùng thì có chơi mãi cũng không chết,” người đối diện tôi đáp, và tiếp tục dẫn chứng một loạt những trường hợp xấu số ông biết về vấn đề này. “Hồi của chú những năm chín mươi cũng nghiện suốt, mười thằng thì bảy thằng nghiện. Nhưng giờ thì đi tù hết rồi.”

    Ông ta dừng lại, châm thuốc, rít liền một hơi dài như nghỉ lấy sức, rồi tiếp:

    “Cái bọn đánh xe, nhất là bọn lái đầu máy container, bọn đấy chơi ác hơn cả. Bọn đấy kiếm cũng đẫm phết đấy, mỗi chuyến nó đi vác về cũng gần chục triệu. Đám này cứ phải chơi vào nó mới làm việc được. Cắn nửa hạt thôi, ba bốn ngày không cần ăn gì cả.”

    Tôi im lặng lắng nghe, vì nguyên tắc của tôi là ngậm họng khi gặp chủ đề mình không biết.

    “Tiền nhiều để làm gì đâu? Cứ kiếm đủ tiêu thôi, còn nhiều tiền là nhanh hỏng lắm!” ông ta vỗ vai tôi, cười nói, ra giọng ôn tồn như đang khuyên bảo một kẻ đàn em.

    Rồi ông đi, nghêng ngang, hai tay khuỳnh sang bên, vô tư và khoan khoái.

    Lúc ấy tôi bỗng nhớ tới câu nói của Chekhov: “Anh chưa bao giờ có tiền, nên anh hoàn toàn dửng dưng với nó.”

    Không viết nổi nữa. Mũi máy khoan như khoét qua đầu.

    ***

    Sáng nay trên TikTok có một bạn comment vào post của tôi:

    “PR sách cho nhà N à?”

    Tôi đáp:

    “Mình không quan tâm vụ nhà N bạn ạ! Họ có sách mình thích thì mình đọc thôi!”

    Người kia trả lời ngay:

    “Nói thế chịu rồi, mong con gái bạn không bị.”

    Tôi không biết. Tôi thích con trai hơn. Nếu là con gái, chắc chắn nó sẽ bị tôi nuông chiều đến hư hỏng.


    Ngày 19 tháng Sáu năm 2025,

    Trời oi bức cả ngày. Trưa ngủ tôi nằm thẳng cẳng trên sàn nhà, rồi tôi quay nghiêng, gác chân lên chiếc bàn như một ván gỗ cắt bừa, bốn chân thấp tủn củn. Nay làm việc thì ít đọc sách thì nhiều. Dạo này tôi lười viết quá… Tôi đang tính thời gian tới sẽ dịch văn học trở lại.

    Hôm nay thèm kể chuyện quá, nhưng ngày trôi qua nhanh, ảm đạm, không có gì để kể ấy.


    Ngày 20 tháng Sáu năm 2025,

    Hơn tháng trời mới gọi điện cho mẹ. Bà vui lắm, mắt cười miệng cười.

    “Ui con giai mẹ nay gọi điện cho mẹ!”

    Vẫn những lời căn dặn, nhắn nhủ thông thường, lặp đi lặp lại, và sau một hồi chuyện trò bâng quơ, bà bỗng hỏi bằng giọng thật sự tò mò:

    “Con sống có hạnh phúc không con?”

    Lúc đấy tim tôi đột ngột thắt lại, như bước hụt một bậc cầu thang. Tôi trả lời, giọng ủ ê:

    “Vẫn thế thôi mẹ à! Buồn vui lẫn lộn, nhưng buồn nhiều hơn vui.”

    “Mẹ con mình giống nhau.”

    Mùa hè năm sau là tròn mười năm kể từ lần cuối hai mẹ con ta gặp nhau. Thú thực con ít khi nhớ mẹ… vì cũng chẳng có gì mà nhớ.

    ***

    Hôm nay người ta từ chối bản thảo của tôi. Tôi đón nhận trong một tâm trạng nửa hụt hẫng, nửa lãnh đạm. Dần dà việc bị từ chối sẽ chẳng đủ làm tôi buồn nữa. Người ta chê truyện tôi viết còn đơn giản quá, cốt truyện không đủ kịch tính, và khuyên tôi nên tham khảo các truyện ngắn (tất nhiên là trên tạp chí của họ) để học hỏi thêm. Lạ thật, lần trước bị từ chối tôi đã muốn bỏ quách đi, giờ thì tôi càng nôn nóng muốn viết hơn. Bây giờ tôi sẽ viết chậm, thật từ tốn, bình tĩnh. Còn việc gửi truyện đăng tạp chí thì thi thoảng túng tiền quá tôi mới nghĩ đến thôi, còn đâu là do tôi hám danh. Đúng là phông bạt mà!

    À, có một tin vui: Chữ viết tay của tôi đã cải thiện đáng kể. Hương bảo trông giống mấy ông cụ (với hàm ý tích cực). Dạo này tôi nghĩ ra thú tiêu khiển mới là ngồi chép lại những tác phẩm yêu thích. Từ tối qua đến nay tôi đã chép gần xong truyện ngắn Ruxia của Bunin.


    Ngày 21 & 22 tháng Sáu năm 2025,

    Tôi vừa xem xong 28 Years Later. Tạm được.

    Trần đời ghét nhất bọn khôn lanh. Nếu là trẻ con thì còn ghét hơn nữa.

    Ngày còn nhỏ, tôi có một thằng bạn hàng xóm nhà sát sườn. Đám trẻ ngày ấy mê băng đĩa siêu nhân. Thằng đó nhà nghèo, thi thoảng mới được bố mẹ mua cho vài cái đĩa, vì thế nên nó cất công lựa rất kỹ. Nó toàn chọn được những đĩa hay. Nó xem hai, ba lần, hoặc đôi khi một lần duy nhất, rồi đem ra nhấp nhả với bọn trẻ con quanh xóm, bắt đầu bán chác, với giá bán lại gấp đôi giá gốc. Có thằng nghe mê quá đã trộm cả tiền đi chợ của mẹ để mua của nó. Tôi thì bàng quan, tôi đầy băng đĩa, chẳng bao giờ tôi phải đi mua của thằng nào; nhưng từ hồi ấy tôi đã biết ghét cái trò trục lợi trẻ ranh ấy. Người nào dễ tính hơn sẽ bảo đó là dấu hiệu của một doanh nhân tương lai, còn tôi, nghiêm túc mà nói, tôi cho rằng đấy là dấu hiệu của thói trục lợi, khôn lỏi và ti tiện. Và thời gian đã chứng minh với tôi rằng cái thói ấy nếu không ra sức gột rửa sẽ đeo đẳng con người ta cả đời, vì đến giờ tôi vẫn quen thằng đấy, nó vẫn thế, lần mò, đánh hơi ra mùi kiếm chác ngay trong mọi tình huống nhỏ nhặt nhất, như một con chó.


    Ngày 23 tháng Sáu năm 2025,

    Chán thật, nay ngồi cả sáng mà viết chưa đầy hai trang. Isak Dinesen từng nói rằng bà viết mỗi ngày, không hy vọng cũng không tuyệt vọng. Nhưng cũng có những nhà văn hoàn toàn không động đến giấy bút trong một thời gian rất dài, vậy mà lúc phóng tác câu chữ vẫn ào ạt như thác triều dâng. Turgenev chẳng hạn. Khi không viết được thì nên làm gì nhỉ?

    Từ qua tới nay tôi đọc Jekyll và Hyde của Robert Louis Stevenson và Những lá thư từ Tây Ban Nha của Merimee. Ngày mai tôi sẽ đọc Lao động biển cả của Victor Hugo (nói thật là tôi không có thiện cảm với ông nhà văn này lắm!)


    Ngày 24 tháng Sáu năm 2025,

    “Mọi thứ rồi sẽ qua!” Khi buồn, những lời ấy khiến ta vui; và khi vui, chúng khiến người ta buồn.


    Ngày 25 tháng Sáu năm 2025,

    Gần đây tôi ngủ mơ hoài, mơ về thời cấp ba.

    Sáng nào cũng dậy sớm nhưng không viết nổi một dòng tử tế.

    À, ông Hugo lại làm tôi thất vọng lần nữa. Tôi không thể chịu được cái lối hành văn lan man của ổng, nên tôi bỏ dở cuốn Lao động biển cả, điều mà tôi từng làm với Nhà thờ Đức BàNhững người khốn khổ.


    Ngày 26 tháng Sáu năm 2025,

    Hôm nay buổi sáng tôi không viết, mà ngồi học từ điển. Tôi vừa nảy ra một ý tưởng (không hay cho lắm): lấy một tờ giấy trắng, liệt kê từng từ mà tôi biết liên quan tới một âm nào đó, sau đó rà soát lại xem mình đã hiểu hết nghĩa của chúng chưa.

    Ví dụ hôm nay tôi học được từ “riết róng”, “rậm rật”. “Phiêu linh”? Thế mà trước nghe Trung Quân Idol hát cứ tưởng lão phiên âm “feeling” thành “phiêu linh”!


    Ngày 27 tháng Sáu năm 2025,

    Hương thường gọi cuốn Tuyển tập I. A. Bunin của tôi là “quyển đỏ đỏ”, còn cuốn Tuyển tập Chekhov thì là “quyển hồng hồng”. Thi thoảng tôi sẽ đọc to một vài truyện của hai nhà văn này trước giờ ngủ.

    Còn dưới đây là hồi ký của Bunin về Chekhov:

    Tôi gặp Chekhov lần đầu ở Moskva, vào cuối năm 1895. Lúc ấy, chúng tôi chỉ gặp nhau thoáng qua, vài lần trò chuyện, chẳng có gì đáng nhớ lắm, nếu không vì những câu nói rất đặc trưng của ông.

    “Anh viết nhiều không?” một lần ông hỏi tôi.

    Tôi đáp rằng mình viết ít.

    “Tệ đấy,” ông nói, giọng trầm và gần như nghiêm khắc. “Phải làm việc… không ngừng nghỉ… cả đời mình.”

    Rồi, sau một khoảng lặng, chẳng liên quan gì, ông nói thêm:

    “Khi viết xong một truyện, tôi nghĩ nên bỏ đi phần đầu và phần cuối. Đó là chỗ chúng ta, những nhà văn, hay nói dối nhất. Và phải viết ngắn thôi—càng ngắn càng tốt.”

    Rồi chúng tôi nói về thơ, và anh bỗng trở nên hào hứng. “Nói tôi nghe, anh có thích thơ Alexey Tolstoy không? Với tôi, ông ta cứ như một diễn viên. Hồi nhỏ, ông ta vận lên mình bộ lễ phục buổi tối và không bao giờ cởi ra nữa.”

    Sau những lần gặp thoáng qua, mà ở đó chúng tôi bàn về những chủ đề ông yêu thích—như phải lao động không ngừng và phải viết một cách giản dị, không chút giả dối—chúng tôi không gặp lại cho đến mùa xuân năm 1899. Tôi đến Yalta vài ngày, và một buổi tối, tôi gặp Chekhov trên bến cảng.

    “Sao anh không đến thăm tôi?” là câu đầu tiên ông nói. “Nhất định mai phải đến nhé.”

    “Mấy giờ?” tôi hỏi.

    “Sáng mai, khoảng tám giờ.”

    Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, ông nói thêm:

    “Chúng tôi dậy sớm. Anh cũng thế chứ?”

    “Có, tôi cũng dậy sớm,” tôi đáp.

    “Vậy khi nào dậy hãy đến đây. Chúng tôi sẽ mời anh cà phê. Anh uống cà phê chứ?”

    “Thi thoảng.”

    “Anh nên uống thường xuyên. Đó là một thức uống tuyệt vời. Khi tôi làm việc, tôi chỉ uống cà phê và nước hầm gà đến tận tối. Cà phê cho bữa sáng, nước luộc gà vào bữa trưa. Nếu không như thế, công việc của tôi sẽ không xuôi.”

    Tôi cảm ơn ông vì lời mời, và chúng tôi lặng lẽ băng qua bến cảng rồi ngồi xuống một băng ghế.

    “Anh yêu biển không?” tôi hỏi.

    “Có,” ông trả lời. “Nhưng biển cô đơn quá.”

    “Đó là điều tôi thích ở biển,” tôi đáp.

    Ông trầm ngâm, qua cặp kính đôi mắt ông hướng về phía xa. “Tôi tự hỏi,” ông nói, “làm một anh lính hay một sinh viên trẻ chắc thú lắm… ngồi giữa đám đông, nghe ban nhạc chơi…”

    Rồi, như thường lệ, sau một khoảng lặng, ông nói thêm, chẳng liên quan gì:

    “Tả biển rất khó. Anh biết một cậu học sinh đã tả thế nào trong bài tập không? ‘Biển mênh mang.’ Chỉ có vậy. Tuyệt vời, tôi thấy thế.”

    Có người sẽ nghĩ ông làm màu khi nói vậy. Nhưng Chekhov—làm màu ư?

    “Thú thật,” một người quen thân Chekhov từng nói, “tôi đã gặp nhiều người chân thành như Chekhov. Nhưng người mà giản dị, không chút phô trương hay giả tạo như ông ấy thì chưa từng thấy!”

    Đúng thế thật. Ông yêu tất cả những gì chân thành, sống động và vui tươi, miễn là chúng không thô thiển hay nhàm chán. Ông không chịu nổi những kẻ học đòi, hay những con mọt sách quen buông những lời sáo rỗng đến mức chẳng biết nói theo kiểu khác. Trong văn chương, ông hiếm khi nói về bản thân hay quan điểm của mình, khiến người ta nghĩ ông là người vô nguyên tắc hay thiếu trách nhiệm với xã hội. Trong cuộc sống, ông cũng chẳng ích kỷ, ít khi nói về sở thích hay sở ghét. Nhưng cả hai đều rất mạnh mẽ và bền bỉ, và ông yêu nhất là sự giản dị. “Biển mênh mang.”… Với ông, với niềm đam mê giản dị và sự ghê tởm những gì gượng ép, câu đó thật “tuyệt vời.” Những lời về người lính và âm nhạc cho thấy một nét khác của ông: sự kín đáo. Chuyển từ biển sang người lính chắc hẳn bắt nguồn từ khát khao thầm kín về tuổi trẻ và sức khỏe. Biển thì cô đơn… Còn Chekhov yêu cuộc đời và niềm vui. Trong những năm cuối cùng, khát khao hạnh phúc, dù là đơn sơ nhất, thường lấp ló trong lời nói của ông. Nó được gợi lên chứ không nói thẳng.

    Ở Moskva, năm 1895, tôi thấy một người đàn ông trung niên (Chekhov lúc đó 35 tuổi), đeo kính gọng kẹp, ăn bận giản dị, dáng dấp cao ráo, nhẹ nhàng và thanh thoát. Ông đón tôi lặng lẽ đến mức tôi, khi ấy còn trẻ, cho sự lặng lẽ đó là lạnh lùng… Đến Yalta, năm 1899, tôi thấy ông đã thay đổi nhiều; ông gầy đi, trông ưu tư hơn; sự tao nhã vẫn còn, nhưng là nét tao nhã của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều đau khổ và được khổ đau trui rèn. Giọng ông dịu dàng hơn… Còn lại, ông vẫn như hồi ở Moskva; thân thiện, chuyện trò sôi nổi, nhưng ngày càng đơn giản và ngắn gọn hơn, và trong lúc nói, ông vẫn chìm đắm vào những suy nghĩ riêng. Ông để tôi tự đoán mối liên tưởng giữa những suy nghĩ của ông, trong khi ông nhìn ra biển qua cặp kính, mặt hơi ngẩng lên. Sáng hôm sau, tôi đến nhà ông. Tôi vẫn nhớ buổi sớm nắng vàng rực rỡ ấy, trong khu vườn của Chekhov. Ông rất sôi nổi, cười nhiều, và đọc cho tôi nghe bài thơ duy nhất, theo ông nói, mà ông từng viết, “Ngựa, Thỏ và Người Tàu, một câu chuyện ngụ ngôn cho trẻ con.” (Chekhov viết nó cho con của một người bạn.)

    Có lần băng qua cầu
    Người Tàu mũm mĩm,
    Phía trước họ, đuôi vểnh cao,
    Thỏ chạy nhanh.
    Bỗng người Tàu hét lên:
    “Dừng! Dừng! Hô! Hô!”
    Thỏ càng vểnh đuôi cao hơn
    Rồi trốn vào bụi cây.
    Bài học của chuyện này thật rõ ràng:
    Ai muốn ăn thịt thỏ
    Mỗi ngày thức dậy
    Phải nghe lời cha mình.

    Sau lần đó, tôi đến thăm ông thường xuyên hơn. Thái độ của Chekhov với tôi cũng thay đổi. Ông trở nên thân thiện, gần gũi hơn… Nhưng ông vẫn kín đáo, không chỉ với tôi mà cả với những người thân cận nhất. Tôi tin rằng sự kín đáo đó không xuất phát từ sự lạnh lùng, mà từ điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.

    Ngôi nhà đá trắng xinh xắn, sáng bừng dưới nắng; khu vườn nhỏ, do chính Chekhov giồng giọt và chăm sóc, vì ông yêu hoa, cây cối và động vật; căn phòng làm việc với vài bức tranh, và khung cửa sổ lớn nhìn ra thung lũng sông Utchan-Spo, cùng một eo biển xanh hình tam giác; những giờ, ngày, thậm chí hàng tháng tôi ở đó, và tình bạn với người đàn ông cuốn hút tôi không chỉ bởi tài năng mà còn bởi giọng nói nghiêm nghị và nụ cười thơ trẻ—tất cả sẽ mãi là một trong những ký ức đẹp nhất đời tôi. Ông niềm nở với tôi, đôi lúc gần như dịu dàng. Nhưng sự kín đáo mà tôi nhắc đến không bao giờ biến mất, kể cả khi chúng tôi thân thiết nhất. Ông kín đáo về mọi thứ.

    Ông rất hài hước và yêu tiếng cười, nhưng chỉ cười vang, lôi cuốn khi người khác kể chuyện vui: còn ông, ông nói những điều thú vị nhất mà không hề mỉm cười. Ông thích đùa, đặt biệt danh ngộ nghĩnh và trêu chọc mọi người… Ngay cả khi gần cuối đời, lúc sức khỏe khá hơn đôi chút, sự hài hước của ông vẫn không kìm được. Và ông khiến người ta cười bằng một sự tinh tế đến thế nào! Chỉ cần buông vài từ và nháy mắt qua cặp kính… Những lá thư của ông, dù hình thức hoàn hảo, cũng tràn ngập sự hóm hỉnh duyên dáng.

    Nhưng sự kín đáo của Chekhov còn thể hiện ở nhiều cách khác, chứng tỏ sức mạnh tính cách của ông. Không ai từng nghe ông than vãn, dù chẳng ai có lý do để than vãn hơn ông. Ông sinh ra trong một gia đình đông con nghèo khó. Ông phải kiếm tiền trang trải trong điều kiện có thể dập tắt cả nguồn cảm hứng mãnh liệt nhất. Ông sống trong một căn hộ nhỏ, viết ở góc bàn, giữa tiếng cười nói ồn ào của cả gia đình và thường là vài vị khách. Nhiều năm ông rất túng… Nhưng ông hiếm khi càu nhàu về số phận. Không phải ông đòi hỏi ít từ cuộc đời: ngược lại, ông ghét cay ghét đắng những gì tầm thường và nhỏ nhen, dù ông sống giản dị một cách cao quý. Mười lăm năm ông chịu đựng căn bệnh quái ác cuối cùng đã cướp đi mạng sống của ông, nhưng độc giả của ông chẳng hề hay biết. Điều đó không phải ai cũng làm được. Quả thật, sự mạnh mẽ mà qua đó ông gánh chịu đau khổ và đối mặt cái c.hết thật đáng khâm phục. Ngay cả vào thời khắc tồi tệ nhất, ông gần như vẫn giấu kín nỗi đau của mình.

    “Anh không khỏe à, Antosha?” mẹ hoặc chị ông sẽ hỏi, thấy ông ngồi cả ngày với đôi mắt nhắm nghiền.

    “Tôi á?” ông đáp, giọng nhẹ nhàng, mở đôi mắt trong trẻo và hiền hậu khi không đeo kính. “Ồ, không có gì. Chỉ hơi nhức đầu thôi.”

    Ông yêu văn chương nồng nàn, và nói về các nhà văn, ca ngợi Maupassant, Flaubert, hay Tolstoy là niềm vui lớn với ông. Ông đặc biệt hào hứng khi nói về họ và cả về “Taman” của Lermontov.

    “Tôi không hiểu nổi,” ông nói, “làm sao một chàng trai trẻ lại viết được Taman! Ôi, nếu viết được như thế và một vở hài kịch hay—thì đến là mãn nguyện mà c.hết!”

    Nhưng cách ông nói về văn chương rất khác với lối nói chuyện tầm thường của các nhà văn, với sự nhỏ nhen, hẹp hòi và những nghi kỵ cá nhân. Ông chỉ bàn về sách với những người yêu văn chương hơn mọi nghệ thuật khác và yêu nó một cách vô tư, thuần khiết.

    “Đừng đọc bản thảo của mình cho người khác trước khi xuất bản,” ông thường nói. “Và quan trọng nhất, đừng bao giờ nghe lời khuyên của ai. Nếu làm hỏng thì tự chịu trách nhiệm. Maupassant, với sự vĩ đại của mình, đã nâng tiêu chuẩn viết lách lên cao đến mức viết trở nên thật khó khăn; nhưng chúng ta phải viết, đặc biệt là người Nga chúng ta, và đã viết là phải can đảm. Có chó lớn và chó nhỏ, nhưng chó nhỏ không nên nản lòng vì chó lớn. Tất cả đều phải sủa—và phải sủa bằng giọng Chúa ban cho.”

    Mọi thứ trong thế giới văn chương đều khiến ông quan tâm, và ông phẫn nộ với sự ngu ngốc, giả dối, phô trương và những trò bịp bợm sống ký sinh trên văn học. Tuy căm giận, ông không bao giờ cáu kỉnh, và sự giận dữ của anh không mang tính cá nhân. Người ta thường nói về các nhà văn đã qua đời rằng họ vui mừng trước thành công của người khác và không ghen tị. Nếu tôi ngờ rằng Chekhov có chút ghen tị nào, tôi sẽ chẳng nói gì. Nhưng sự thật là ông vui mừng trước tài năng, một cách tự nhiên. Từ “bất tài” có lẽ là lời chê bai nặng nề nhất ông từng dùng. Thất bại và thành công của chính ông, ông đón nhận theo cách chỉ ông biết.

    Ông viết trong hai mươi lăm năm, và trong thời gian đó, tác phẩm của ông liên tục bị công kích. Là một trong những nhà văn Nga vĩ đại và tinh tế nhất, ông không bao giờ dùng nghệ thuật để rao giảng. Vì thế, các nhà phê bình Nga không hiểu nổi ông, cũng chẳng tán thành ông. Họ chẳng từng đòi Levitan phải “tô điểm” tranh phong cảnh của ông—nghĩa là vẽ thêm con bò, con ngỗng, hay bóng dáng một người phụ nữ sao? Những lời phê bình ấy làm Chekhov đau lòng, và khiến ông thêm chán chường với cuộc sống Nga vốn đã làm ông chán ngấy. Sự cay đắng ấy chỉ thoáng qua—trong một khoảnh khắc.

    “Sắp đến ngày kỷ niệm của anh rồi, Anton Pavlovitch!”

    “Tôi biết mấy cái kỷ niệm của các người. Hai mươi lăm năm họ chỉ chửi bới và chế giễu một nhà văn, rồi các người tặng anh ta một cây bút bằng nhôm, rồi khóc lóc, hôn hít, và bộc bạch suốt cả ngày!”

    Khi nói về danh vọng hay sự nổi tiếng của mình, ông đáp bằng vài từ hoặc một câu nói đùa.

    “Anh đọc bài đó chưa, Anton Pavlovitch?” ai đó hỏi, sau khi đọc một bài viết về ông.

    Ông giương mắt qua cặp kính, thưỡn mặt một cách hài hước, và trả lời bằng giọng trầm trầm:

    “Ôi, cảm ơn ngàn lần! Hẳn một cột báo dài, và ở cuối, ‘Còn có một nhà văn tên Chekhov: một kẻ bất mãn, hay càu nhàu.’”

    Đôi khi ông nghiêm túc nói thêm:

    “Khi bị phê bình, hãy nhớ đến chúng tôi, những kẻ tội lỗi. Các nhà phê bình bạt tai chúng tôi vì những chuyện vặt vãnh, như thể chúng tôi là đám học trò. Một người còn tiên đoán tôi sẽ c.hết trong rãnh nước. Ông ta cho rằng tôi bị đuổi học vì say rượu.”

    Tôi chưa bao giờ thấy Chekhov nổi giận. Hiếm khi ông bực bội, và vị thể ông có bực bội thì khả năng kiểm soát của ông luôn đáng phục. Tôi nhớ có lần ông tỏ ra khó chịu khi đọc một cuốn sách nói rằng ông “thờ ơ” với các vấn đề đạo đức và xã hội, và rằng ông là kẻ bi quan. Nhưng sự khó chịu ấy chỉ thể hiện qua hai từ:

    “Đồ ngu!”

    Tôi cũng không thấy ông lạnh lùng. Ông nói rằng mình lạnh lùng khi viết, và chỉ viết khi những ý nghĩ và hình ảnh sắp phải diễn đạt đã trở nên hoàn toàn rõ ràng, rồi ông viết liên tục, không ngừng, cho đến khi hoàn thành.

    “Chỉ nên viết khi hoàn toàn bình tâm,” ông từng nói.

    Nhưng sự bình tâm ấy rất đặc biệt. Không nhà văn Nga nào sở hữu sự nhạy cảm và phức tạp như ông.

    Quả thật, cần một trí tuệ phong phú để làm sáng tỏ tâm hồn sâu sắc và phức tạp này—một “nghệ sĩ vô song” như Tolstoy gọi ông. Tôi chỉ có thể chứng thực rằng ông là người có tâm hồn cao quý hiếm có, thanh lịch và tinh tế theo nghĩa trọn vẹn nhất, hoà hợp sự dịu dàng và vi tế với sự chân thành tuyệt đối, lòng tốt và nhạy cảm với sự thẳng thắn tuyệt đối.

    Việc chân thật và tự nhiên mà vẫn giữ được nét duyên dáng lớn lao cho thấy một tư chất đẹp đẽ, chính trực và vững vàng hiếm có. Tôi thường nói về sự điềm tĩnh của Chekhov vì sự điềm tĩnh ấy, với tôi, là minh chứng sức mạnh tính cách ở ông. Nó luôn thuộc về ông, tôi nghĩ thế, ngay cả khi ông còn trẻ và tràn đầy sức sống, và có lẽ chính điều đó đã khiến ông độc lập đến vậy, và có thể bắt đầu công việc một cách khiêm tốn và can đảm mà không hề thỏa hiệp với lương tâm.

    Ông có “ý thức tự do cá nhân” ở mức cao nhất, và không thể chịu nổi khi chứng kiến sự thiếu sót cái đó ở người khác. Ông sẽ trở nên cay độc và không khoan nhượng nếu nghĩ rằng ai đó đang xâm phạm sự tự do ấy.

    Sự “tự do” ấy, ai cũng biết, đã khiến ông trả giá đắt; nhưng ông không phải loại người có hai lý tưởng—một cho mình, một cho công chúng. Thành công của ông, trong thời gian rất dài, ít hơn những gì ông xứng đáng nhận được. Nhưng suốt đời ông không hề nỗ lực để gia tăng sự nổi tiếng. Ông cực kỳ nghiêm khắc với mọi chiêu trò giờ đây được dùng để đạt tới thành công.

    “Các người vẫn gọi họ là nhà văn sao? Họ là phu xe ngựa!” ông cay đắng nói.

    Niềm căm ghét thói phô trương của ông đôi khi có vẻ cực đoan.

    “Công ty Scorpion quảng cáo sách tệ thật,” ông viết cho tôi sau khi xuất bản “Hoa Bắc Cực.” “Họ đề tên tôi lên đầu, và khi đọc quảng cáo trên tờ Russkya Vedonosti, tôi thề sẽ không bao giờ dính dáng đến lũ bọ cạp, cá sấu hay rắn rết nữa.”

    Đó là mùa đông năm 1900, khi Chekhov, vì hứng thú với một số điểm của công ty xuất bản mới “Scorpion,” đã gửi cho họ, theo đề nghị của tôi, một truyện ngắn thời trẻ với tựa đề “Trên Biển.” Họ cho in nó trong một tập truyện và ông nhiều lần hối tiếc vì điều đó.

    “Tất cả nghệ thuật mới của Nga này đều vô nghĩa,” anh sẽ nói. “Tôi nhớ từng thấy một tấm biển ở Taganrog: Ở đây có bán nước khoáng nhân tạo! Ừ, loại nghệ thuật mới này cũng chỉ thế thôi.”

    Sự kín đáo của ông xuất phát từ một tâm hồn cao thượng và sự nỗ lực không ngừng nhằm diễn đạt chính xác. Rồi một ngày, người ta sẽ biết rằng ông không chỉ là “nghệ sĩ vô song,” không chỉ là bậc thầy ngôn từ, mà còn là một con người trác việt. Nhưng sẽ mất nhiều năm để người ta hiểu hết sự tinh tế, sức sống và vẻ đẹp nơi ông.

    “Anh khỏe không, Ivan Alexeyevitch thân mến?” ông viết cho tôi từ Nice. “Chúc anh năm mới vui vẻ. Tôi nhận được thư anh, cảm ơn nhé. Ở Moskva mọi thứ vẫn an toàn, lành lặn, và tẻ nhạt. Chẳng có tin tức gì (trừ năm mới) và cũng chẳng mong có tin gì. Vở kịch của tôi chưa được dựng, và tôi cũng chẳng biết đến khi nào. Khả năng tháng Hai tôi sẽ đến Nice… Gửi lời chào của tôi đến mặt trời nóng bỏng đáng yêu và biển lặng. Vui vẻ, hạnh phúc, đừng nghĩ về bệnh tật, và viết thư thường xuyên cho bạn bè… Giữ sức khỏe, vui vẻ, và đừng quên những người bạn phương Bắc xanh xao, những kẻ khổ sở vì khó tiêu và tâm trạng xấu.” (8 tháng 1, 1904).

    “Gửi lời chào của tôi đến mặt trời nóng bỏng đáng yêu và biển lặng”… Tôi hiếm khi nghe ông nói thế. Nhưng tôi thường cảm thấy ông nên nói thế, và rồi lòng tôi buồn đau.

    Tôi nhớ một đêm đầu xuân. Đã muộn. Bỗng điện thoại reo. Tôi nghe giọng trầm của Chekhov:

    “Anh bạn, gọi xe đến đây đi. Đi dạo một vòng nào.”

    “Đi dạo ư? Vào giờ này á?” tôi đáp. “Có chuyện gì sao, Anton Pavlovitch?”

    “Tôi đang yêu.”

    “Chuyện tốt đấy. Nhưng đã hơn chín giờ rồi… Anh sẽ bị nhiễm lạnh.”

    “Chàng trai à, đừng cãi!”

    Mười phút sau, tôi đến nhà Antka. Ngôi nhà, nơi Chekhov sống một mình với mẹ suốt mùa đông, tối tăm và tĩnh lặng, trừ tia sáng lọt qua khe cửa phòng mẹ ông, với hai ngọn nến nhỏ leo lét cháy trong gian phòng làm việc tối mờ mờ. Như thường lệ, lòng tôi se lại khi thấy căn phòng lặng lẽ ấy, nơi Chekhov đã trải qua biết bao đêm đông cô đơn, có lẽ cay đắng suy ngẫm về số phận đã biệt đãi ông nhiều mà cũng tàn nhẫn trêu người ông.

    “Trời đêm đẹp quá!” ông nói với tôi, dịu dàng hơn thường lệ và mang vẻ vui tươi trầm tư, khi đón tôi ở cửa. “Tẻ nhạt quá! Niềm phấn khích duy nhất là khi điện thoại reo và Sophie Pavlovna hỏi tôi đang làm gì, tôi đáp: ‘Bắt chuột đây.’ Nào, đi đến Orianda. Tôi chẳng thiết nếu bị cảm!”

    Đêm ấm áp và tĩnh lặng, với ánh trăng soi tỏ, mây mỏng nhẹ và vài ngôi sao lác đác trên nền trời thẳm xanh. Cỗ xe êm ái lăn trên con đường trắng, và, dịu đi bởi sự tĩnh lặng của đêm, chúng tôi ngồi im ngắm nhìn mặt biển lấp lánh ánh sáng vàng mờ… Rồi đến khu rừng phủ đầy bóng tối, nhưng đã mang hơi thở mùa xuân và đẹp đẽ… Những hàng cây bách khổng lồ đen sẫm vươn cao lên trời một cách uy nghi. Chúng tôi dừng xe và đi bộ, qua những tàn tích lâu đài màu xanh nhàn nhạt dưới ánh trăng. Chekhov bỗng nói:

    “Anh biết tôi sẽ được đọc trong bao lâu nữa không? Bảy năm.”

    “Sao lại bảy?” tôi hỏi.

    “Thì bảy năm rưỡi.”

    “Không,” tôi nói. “Thơ sống lâu, và càng lâu càng đẹp—như rượu.”

    Ông không nói gì, nhưng khi chúng tôi ngồi xuống một băng ghế nhìn ra mặt biển lấp loáng ánh trăng, ông tháo kính ra và cất lời, nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ, mệt mỏi:

    “Nhà thơ, thưa anh, là những người dùng những cụm từ như ‘khoảng bạc,’ ‘hòa âm,’ hay ‘tiến lên, tiến lên, đương đầu với bóng tối’!”

    “Tối nay anh buồn, Anton Pavlovitch ạ,” tôi nói, nhìn gương mặt hiền từ và đẹp đẽ của ông trở nên nhợt nhạt dưới ánh trăng.

    Ông trầm ngâm bới những viên sỏi nhỏ bằng đầu gậy, mắt nhìn xuống đất. Nhưng khi tôi nói ông buồn, ông nhìn sang tôi với vẻ hài hước.

    “Anh mới là người đang buồn,” ông đáp. “Buồn vì tốn tiền thuê xe.”

    Rồi ông nghiêm túc nói thêm:

    “Ừ, tôi sẽ chỉ được đọc thêm bảy năm nữa; và tôi sẽ sống thêm được ít hơn thế—có lẽ sáu năm. Nhưng đừng nói điều này với mấy tay phóng viên báo chí.”

    Ông đã nhầm: ông không sống thêm được sáu năm…

    Ông qua đời an yên, không đau đớn, trong sự tĩnh lặng và vẻ đẹp của một bình minh mùa hạ mà ông luôn yêu dấu. Khi ông mất, một vẻ hạnh phúc hiện trên gương mặt, và trông ông như một chàng trai rất trẻ. Tôi chợt nhớ lời của Leconte de Lisle:

    Tôi ghen tị với anh, trong lăng mộ tĩnh lặng và u tối
    Được giải thoát khỏi cuộc sống và không còn biết
    Nỗi hổ thẹn của suy nghĩ và nỗi kinh hoàng của việc làm ngườ
    i.


    Ngày 28 tháng Sáu năm 2025,

    Một trong những điều kỳ lạ về ông là mặc dù ông luôn cảnh giác không để ai đem mình ra làm trò cười, nhưng ông luôn tự đem mình ra làm trò cười.

    Ông đã dành cả cuộc đời để theo đuổi hạnh phúc, và chưa bao giờ ngộ ra rằng hạnh phúc chỉ đạt được khi ta thôi tìm kiếm; và hơn nữa, hạnh phúc chỉ được thấu hiểu khi mất đi. Thật khó có ai có thể nói ‘Tôi hạnh phúc’; mà chỉ có thể nói ‘Tôi đã hạnh phúc’. Bởi vì hạnh phúc không phải là sự khỏe mạnh, sự hài lòng, sự thoải mái của trái tim, sự vui thích, sự tận hưởng: tất cả những điều này đều tạo nên hạnh phúc, nhưng chúng không phải là hạnh phúc.


    Ngày 29 tháng Sáu năm 2025,

    Sáng nay dậy muộn. Dạo này ngồi viết tay chăm chỉ quá xá. Cả buổi chiều ngất ngưởng như thằng say rượu, trầm uất, u sầu, mặt mày ủ ê. Tối qua ngồi đọc lại Carmen của Mérimée, thề, sao ông ấy có thể viết hay được như vậy nhỉ?


    Ngày 30 & 31 tháng Sáu năm 2025,

    Trời cái kênh TikTok vô danh của tôi mà cũng có người booking. Phúc Minh Books sắp ra mắt một cuốn sách có tên Trường mẫu giáo, hình như có cả ảnh minh hoạ, hình thức nom khá tươm tất, chỉn chu. Tôi bảo rằng kênh TikTok của tôi chủ yếu là tự phát nên tôi sẽ chỉ nhận sách rồi truyền thông miễn phí thôi. Không chừng cái kênh này lại là lối thoát của tôi cũng nên. Sắp tới tôi sẽ quay video nhiều hơn chút, một nỗ lực sau cùng để không nghỉ việc…


    Ngày 1 tháng Bảy năm 2025,

    Rồi đến phải bỏ cái trò viết lách này đi thôi. Cuối tuần sẽ về quê, sau hai tháng lăn lộn trên Hà Nội, chính thức trở thành trai đất cảng. Có lẽ sắp tới chúng tôi sẽ đi du lịch đâu đó. Và rồi thi nốt chứng chỉ, tìm một công việc mới, đợi tới tháng Mười xem có bị gọi đi lính không. Hiện tại tôi chán nản tới mức nếu có bị gọi thì tôi cũng chẳng tiếc gì, ngoại trừ… tình yêu của hai đứa. Hồi trước tôi từng lo ngại về sức khoẻ của ông bà, chỉ nghĩ tới việc hai người đổ bệnh thôi mắt tôi đã rấn lệ… thú thực bây giờ tôi vẫn sợ…

    Hơn ba giờ chiều tôi đột ngột rời văn phòng để dạo quanh khu phố. Tới ngã tư, thấy quán bít tết cửa đóng im lìm, tôi bất giác nhớ về cái nút giao Chùa Bộc – Phạm Ngọc Thạch quỷ quái. Thật khó lòng tin nổi mỗi tuần trên đường đến thư viện băng qua khu đó, chúng tôi đều thấy một cửa hàng bị thanh lý. Vừa qua cửa hàng quần áo cũ của tôi, cơ sở Chùa Bộc, đã bị khai tử – hồi còn đi làm chúng tôi cứ đoán mãi xem bao giờ nó sẽ đi đời. Điều này nhắc nhở tôi về cái nền kinh tế ảm đạm thê lương mà chúng ta đang trải qua đây, và dù là người gần như lãnh đạm với thời thế, tôi không khỏi nhiễm cái không khí âu sầu bủa vây này (hoặc chỉ đơn giản là tác dụng phụ của sự kết hợp giữa bụi mịn, tắc đường, đèn đỏ domino và những suy ngẫm về cuộc đời).

    Đến trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân, đám trẻ đang mải miết nô đùa; hai đầu sân đặt hai cột trụ bóng rổ, một thằng bé còm nhom đang dẫn bóng, nó chỉ dẫn bằng tay phải, giống ai đó, như thể tay trái của thằng bé không hề biết đến sự tồn tại của chính nó. Lúc tôi bước ngang qua phòng bảo vệ, một người ông đang sửa dáng cho cháu trai cạnh tấm biển tên của trường.

    “Qua phải một tý… đúng rồi… thế mới nhìn thấy tên trường.”

    Trông thấy ánh nhìn châm chọc và cái cười khẩy của tôi, thằng bé ngượng nghịu, tay giơ chữ V; mặt cu cậu tròn vo, béo múp míp… Ông nó cười, ngắm nghía tác phẩm của mình và xua xua tay bảo nó vào học đi.

    “Chào ông ạ,” nó nói với lại lúc bước lên bậc thềm.

    Ở góc khuôn viên trường, cạnh bờ tường vẽ hình làng quê với một triền đê trải dài tít tắp, có một chiếc chòi là nhà của lũ bồ câu. Một con bồ câu đực hay cái chẳng rõ đứng nghiêm nghị, trông cái dáng nó oai vệ như các quân nhân vào thế, khe khẽ gù gù cần cổ; từ các ô cửa nhỏ của chiếc chuồng được xây thành một chái nhà, mấy con chim chích choè với phần lông xanh xanh dưới khoé mắt chộn rộn bay đi, lẩn khuất giữa những tán cây, cùng lúc cất tiếng hót ra rả liên hồi, như những ca sĩ giấu mặt ẩn sau cánh gà.

    … Tôi nhớ gần đây mình từng ước mùa hạ không bao giờ tới; giờ đứng giữa con đường trống trải, vắng lặng trong cơn gió se se thoáng lướt qua mình, con tim tôi rộn ràng, tôi càng khẩn thiết ao ước điều đó hơn. Mùa thu ơi, tới mau đi.


    Ngày 2 tháng Bảy năm 2025,

    Chà, hôm nay là sinh nhật anh bạn Bờm.

    Đêm qua tôi giật mình tỉnh giấc vì tiếng sấm nổ đùng đoàng, rền vang như lan đi trong bốn vách tường. Tôi cố ru mình vào giấc ngủ nhưng con mắt dẫu nhắm nghiền vẫn choi chói, nhưng nhức, và sau cùng tôi buộc phải thừa nhận một cảm giác không mấy dễ chịu. Phải, tôi sợ. Bây giờ nằm đây giữa gian phòng u tối mà luồng sáng duy nhất là dòng số màu xanh lá cây nhàn nhạt trên chiếc điều hoà, tôi đột nhiên thấy trống trải vô cùng. Có cảm tưởng như chiếc giường của tôi rộng mãi ra còn tôi nhỏ lại đến khi chìm nghỉm trong đó, rồi tôi trùm chăn kín đầu, trở mình, thử đủ mọi tư thế trong tuyệt vọng. Ngay lúc đấy tôi đã ước rằng giá như Hương ở đây bên tôi thì xem chừng tôi sẽ không bơ vơ đến thế; không hiểu sao trong trí tôi tự động bật ra hàng loạt những câu, những từ mà tôi đã viết trong các bản nháp gần đây của tôi, thế là tôi định bụng chồm dậy tiến tới bàn viết, sửa chữa một cái gì đó. Hay là đọc sách nhỉ? Không được, tôi phải ngủ đủ để đi làm – những ngày vô lo vô nghĩ của tôi đã lùi về sau rồi. Tôi bật đèn học, nhưng lại không đọc, giảm độ sáng hết cỡ. Trong ánh sáng lờ mờ tôi cảm thấy bớt sợ hơn, có lẽ vì giờ đây tôi đã trông thấy rõ cái nhà giam của mình, rằng không có ai đang ngồi ghế nhìn tôi cả. Sấm vẫn rền vang, tôi mong sao trời mưa thật to, thế mà đến sáng ra bước lên sân thượng, tôi lại phải khum tay che mắt vì ráng bình minh lấp loáng phía chân trời, hứa hẹn một ngày oi nồng khó chịu.


    Ngày 3 tháng Bảy năm 2025,

    Bài này viết khá lâu rồi, trên Spiderum:

    Khó khăn lớn nhất trong đời tôi cho tới giờ vẫn luôn là học cách phớt lờ những cám dỗ. Đúng vậy, phớt lờ thay vì vượt qua. Tôi vẫn đủ tỉnh táo để không sa đà vào bất cứ tệ nạn nào quá nghiêm trọng, nhưng chỉ riêng game thôi đã khiến tôi khổ sở đôi ba lần, và cũng ngốn không ít nước mắt của người nhà tôi (kỳ lạ là không phải của tôi vì tôi chưa bao giờ ăn đập vì bị bắt đi net).

    Như bất cứ thằng con trai nào với gia cảnh bình thường, sống ở miền quê, cộng thêm việc hiếm khi được tiếp xúc với các trò chơi điện tử từ bé, sự ra đời của các quán net bỗng thu hút tôi một cách lạ lùng. 

    Các quán net sớm trở thành mái nhà thứ hai của tôi, chỉ còn nước là chưa cắm trại ăn ngủ ở đó thôi. 

    “Nắng tháng Sáu chết cả cá cờ” nhưng tinh thần game thủ thì còn khuya mới chết. Tôi vẫn nhớ những ngày đạp xe lóc cóc 4, 5 cây số giữa trưa hè 40 độ ra quán net rồi an tọa ở đó cả buổi chiều, trong căn gác mái nóng nực kinh hồn, ngột ngạt, không khí nồng nặc nicotine và học được cách nghe tiếng chửi thề như nghe cô giáo giảng bài trong giờ Văn.

    Ngẫm lại những ngày đó không làm tôi hối hận mà thấy ngớ ngẩn, dù không ít lần tôi trốn học, nói dối ông bà để đi chơi game, nhưng tôi tự hào vì ít ra nó còn vui, và vì tôi có bạn, những người tới giờ vẫn là bạn thân của tôi. 

    Tôi không ngần ngại mà nói rằng đa số tiền tôi nạp vào để mua trang phục đến từ ‘tiền đóng học’ theo cách gọi của tôi, và tệ hơn là nguồn gốc của nó lại là tiền lương hưu của ông bà. Một phép so sánh đơn giản sẽ khiến vấn đề này trở thành nỗi dằn vặt ám ảnh: tôi đã đánh đổi tiền dưỡng già của ông bà để mua lấy chút niềm vui phù phiếm. Song tôi vẫn luôn giấu nhẹm chuyện ‘tiền học’ đó, và vì không muốn tự nhận mình là một thằng khốn lừa đảo, tôi tự nhủ rằng thất bại đầu đời này — như tất cả các thất bại khác trong cách hành xử của tôi — đều được xem là trải nghiệm. 

    Không chỉ chơi mỗi một game, tôi cũng chỉ chơi ở đúng một quán, một thành tích mà tôi vỗ ngực cho đó là biểu hiện của đức tính trung thành. Điều này xem chừng không đúng cho lắm vì tuổi đời đã chứng minh tôi không phải một người may mắn có được đức tính trung thành, mà phải qua kha khá lần nhào nặn thì mới thành hình. Nhưng cái hình đó đến nay vẫn chưa đẹp cho lắm, tôi nghĩ vậy. 

    13 tuổi, tôi bắt đầu tập tành làm ‘báo đêm’. Một lời nói dối sang nhà bạn ngủ đã khởi đầu cho chuỗi 2 tuần trời cắm trại xuyên đêm ở quán net, trở về nhà vào rạng sáng với đôi mắt thâm quầng, bụng réo inh ỏi vì đói và lương tâm có đôi chút dằn vặt. 

    Tôi vẫn nhớ một ngày hè oi ả chừng 40 độ C, ba thằng chôn chân trong căn phòng nhỏ với hai hàng ghế dài mà chỉ có chúng tôi là kẻ duy nhất ngồi đó, một niềm vui nho nhỏ đã gieo vào trong lòng tôi.

    Tầm 1 giờ đêm, có vẻ nghĩ bọn tôi đang đói (mà đúng là thế thật), ông chủ quán hạ cửa cuốn rồi thình lình vỗ vai tôi với 3 gói bim bim, cùng một nụ cười mà tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ tìm thấy ở một ông chủ quán net nào khác. Khoảnh khắc đó đã mở khóa trong trái tim một thằng bé như tôi một điều gì đó, rằng những thứ mà người lớn vẫn luôn khinh miệt và cấm tiệt chúng tôi dính tới bằng mọi cách, vẫn ẩn giấu một vẻ đẹp ngời sáng của tâm hồn. Giây phút đó tôi hiểu, quán net cũng chỉ là cớ sinh nhai của hai ông bà, việc họ mở một ‘quán trọ’ đầu độc trẻ vị thành niên – theo cách mà giáo viên vẫn thường nhắc tới – hoàn toàn không can dự tới việc họ sống ra sao, hành xử thế nào.

    Dù gì tôi cũng đóng họ ở nhà ông bà ròng rã 4 năm trời, một gói bim bim thì có hề hà gì. Nhưng gói bim bim đó đã tượng trưng cho một điều gì đó mà tôi khó lòng giải thích nổi, chỉ biết khi ông bà dọn đi, tôi cũng chẳng thiết tha gì tới quán net nữa. Lâu lâu không có gì làm tôi lại té vô quán bật máy lên chỉ để nghe nhạc lướt web, và ông bà sẽ luôn chào đón tôi với nụ cười rạng rỡ: “Dạo này sao ít ra thế con?” Tôi không đáp. Có lẽ ông bà cũng chỉ mong tôi ra quán nhiều hơn để ông bà kiếm chút tiền lẻ nhưng tôi cũng kệ. Dù gì người ta cũng tốt với tôi, mà tôi thì vốn đa sầu đa cảm nên nghĩ ngợi là chuyện thường tình.

    Ngày ông bà chủ quán đó dọn đi, tôi thấy lòng mình hơi trĩu. Một thứ gì đó đã biến mất, và tình yêu của tôi với game cũng theo đó mà đi. Có lẽ đối với tôi, game không còn là một thú vui mà là một trải nghiệm. Lại là trải nghiệm, đúng thế. 

    Tôi không thể nói mình chính thức bỏ game, vì thực sự là tôi không bỏ, tới giờ tôi vẫn chơi. Chỉ là tôi đã chơi ít đi rất nhiều, càng ngày càng ít. Thói phù phiếm từng là cứu cánh của tôi trong những đợt nghỉ hè chán chường nay hóa nhạt thếch, niềm đam mê từng giữ mí mắt tôi không cụp thâu đêm suốt sáng nay đã thui chột ít nhiều. Rồi tôi đứng đó, nhìn lại những tháng ngày đã qua với vẻ chán chường. 

    Những tháng ngày chán chường đó đã dạy tôi nhiều điều, và cũng là nút thắt giúp tôi từ bỏ game. Có lẽ một mối bận tâm hiếm khi biến mất mà chỉ có thể chuyển sang một mối bận tâm khác. Nói đơn giản, tôi hết nghiện game vì tôi có cái khác để nghiện rồi, và tâm trí tôi chỉ đủ chỗ cho một đam mê duy nhất cư ngụ mà thôi. 

    Năm lớp 10, mối bận tâm mới của tôi đã đến. Thể thao, rất dễ đoán. Bóng rổ. Tôi ra sân vào mỗi buổi chiều, luyện tập tới khi áo vắt ra nước và giày Asia rẻ tiền lăn trên mặt sân xi măng chẳng khác nào trứng chọi đá, mỗi tháng tôi thay một đôi. Dễ hiểu là chẳng còn thì giờ đâu mà game gủng nữa, vì cứ rảnh là tôi lại ngồi xem highlights của Jordan với Kobe. 

    Tới giờ tôi vẫn chơi bóng rổ, nhưng như một điệp khúc muôn thuở, tôi thấy mình không còn quá nhiều đam mê như dạo trước. Thì đó, tôi lại có một mối bận tâm khác rồi, nhưng lần này thì may mắn, mối bận tâm đó chính là công việc hiện tại của tôi, cũng là thứ tôi đang theo đuổi: viết lách. 

    Quay trở lại với câu chuyện ban đầu. Gần đây tôi bắt đầu chơi game lại, với một tần suất mà theo tôi thấy là lý tưởng: 1, 2 lần/tháng. Tôi tự hào là một trong số những thằng hiếm hoi nghe theo cảnh báo không chơi quá 180 phút mỗi ngày. Dù vẫn vui nhưng động cơ đã thay đổi phần nhiều. Tôi không ra net vì thích chơi game mà vì muốn tụ tập với bạn bè là chính, vì thứ tôi cần là cảm giác, là bầu không khí quen thuộc nhuốm màu hoài niệm. 

    Vì thi thoảng, tôi chợt nhớ bát mì tôm ốp trứng và cốc Sting đỏ cùng ông bà chủ quán net 22, nơi mà tôi đã gửi gắm cả quãng đời cấp 2 của mình và cũng là nơi tôi không bao giờ đặt chân tới nữa. 

    … Thế đấy, tôi đã bỏ net, bỏ bida, bỏ bóng rổ cả rồi.


    Ngày 4 tháng Bảy năm 2025,

    “Chẳng thể khổ hơn được nữa đâu!”

    “Sẽ khổ hơn đấy.”

    ***

    “Sao tiếng hót của chim ngắn thế,” có lần người ta hỏi chim. “Hay là chim không đủ hơi?”

    “Tôi có rất nhiều điệu hót, và tôi muốn hót được hết các điệu.”

    ***

    Chà, mai về quê rồi.


    Ngày 5 & 6 & 7 tháng Bảy năm 2025,

    Cảnh nhà ảm đạm và đơn sơ tới độ vừa bước vào sân đã thấy buồn. Căn phòng của tôi vẫn y nguyên kể từ hai tháng trước khi tôi rời đi, vẫn vài cuốn sách bám bụi chỏng chơ trên chiếc bàn học mà mặt bàn đã bị khắc trạm đủ những hình thù ngộ nghĩnh từ thời tôi còn học sinh. Vườn nhà um tùm, cỏ mọc cao ngang mình, cây vải ở góc vườn đã bị phạt mất vài cành trên đỉnh, nhìn từ xa cứ như một ông lão hói đầu. Trên khoảng sân đón gió của nhà chú tôi đem phơi đệm và rất nhiều lạc, độ bốn, năm giờ chiều khi nắng đã dịu, một cô hàng xóm đẩy chiếc xe cút kít cùng một con nhóc chừng ba, bốn tuổi, mắt xếch kiểu Tàu, không lông mày, tay cầm một chiếc súng bắn bong bóng màu hồng hồng. Trông mẹ nó cũng trẻ mà đã ba con rồi, và đứa lớn trạc tuổi tôi…

    Bệnh trạng của bác tôi không thuyên giảm; bây giờ bán thân bất toại, bác trở thành nỗi đau khổ triền miên cho người bà già cả của tôi. Bà đã sụt mất hơn chục ký từ đầu năm tới giờ, cảm tưởng đang già đi từng giờ, trũng mắt bà sâu hoắm, con ngươi bắt đầu mờ đục một màu xám xỉn như màu chì. Bà nói với tôi bằng giọng van nài khẩn thiết:

    “Tối nay con đừng có đi chơi muộn nữa nhé, bà đến chết vì lo mất thôi!”

    Giọng nói của bà có vẻ thống thiết làm tôi mủi lòng, tôi trấn an bà chiếu lệ và lại ra đi. Những tối hiếm hoi tôi ở nhà, bà thở phào đầy nhẹ nhõm và mười giờ đêm vẫn thấy ngồi cố xem nốt chương trình trên TV. Công việc chăm lo người ốm khiến bà gầy rạc, bà gắt gỏng với bác rất nhiều, vì bác tôi thường thốt ra những lời báng bổ và bất kính tới độ tôi đã bất giác nghĩ rằng rốt cuộc bà đã làm những gì để phải khổ sở như thế. Mẹ tôi nói tôi nên làm ngơ, tất nhiên, vì mẹ tôi chẳng mấy ưa nhà nội. Bà có cái lý của bà, còn tôi, nỗi bất lực trong tôi ngày càng lớn. Tôi yêu gia đình của mình, nhưng sống gần họ tôi không chịu đựng nổi. Tôi không thể điềm nhiên hít thở cái mùi ốm đau tạm bợ này mà không đưa ra một giải pháp triệt để. Người ta bảo ngôi nhà của bác tôi với vợ cũ, giờ đây có thêm một người đàn ông tới ở. Bà tôi, có lẽ nghĩ rằng mình nên tỏ ra cao thượng, đã nhận về mình độc một chiếc giường, một chiếc xe máy và chút đồ đạc lặt vặt nhét đầy trong túi du lịch để vác theo mỗi khi lên viện. Mỗi tuần, hai đứa con gái của bác sẽ đạp xe vào thăm; nhưng gần đây chúng không đến. Con bé lớn hay đến hơn cả, nó là đứa con duy nhất thuộc máu mủ của bác tôi.

    … Ngay buổi chiều đầu tiên về nhà, tôi đã dẫn Thư đi mua quà sinh nhật. Tôi hỏi nó:

    “Thích quà gì thì anh tặng?”

    Tuy góc cầu thang chất chồng hàng lô đôi dép màu hồng, con bé này vẫn một mực đòi mua dép tiếp và dứt khoát phải là màu hồng nó mới chịu. Nó thậm chí còn đặt ra tiêu chuẩn về màu hồng đậm, hồng nhạt. Diêm dúa như mọi bé gái cùng tuổi mình, nó chọn những đôi có gắn nơ, đính ngọc và đế càng cao càng tốt. Ông chủ quán đã chật vật trong cái nóng hầm hập của buổi chiều khát mưa, bên cái gian hàng căng bạt sập xệ, bộc lộ một sự kiên nhẫn không mấy ngạc nhiên ở những người bán hàng để chiều theo sở thích của vị khách lau chau. Tuy vậy chiếc dép quá nhỏ, tôi buộc phải dẫn Thư vào gian trong và tự tay chọn cho nó hai đôi – theo ý tôi, một đôi đi chơi và một đôi đi học.

    “Một đôi đi chơi, một đôi đi học,” nó nhại lại lời tôi bằng giọng ngọng nghịu.

    Vì trời mưa, tôi buộc phải tấp vào quán chè. Cái quán chè này tôi đã ăn ở đây tám năm ròng, nhưng chủ quán không nhớ mặt tôi, và ngần ấy năm không lắp nổi một cục wifi. Xúc xích giờ thành xúc xích chiên ngập dầu rồi chứ chẳng phải xúc xích quay nữa nên ăn cũng chẳng ngon. Thư vòi một cốc trà sữa, mà theo lời nó, tôi xin trích nguyên văn:

    “Anh gọi cho em món gì màu hồng!”

    Và không hiểu sao, tôi buột miệng nói thẳng với bà chủ quán khiến những người khách khác quay sang nhìn tôi đầy sửng sốt như thể tôi là một thứ sinh vật quái dị nào đó:

    “Cho cháu nước gì cũng được miễn là màu hồng!”

    À, tôi quên, nãy giờ còn cậu em Lâm đi cùng nữa. Nó thì tôi cho đi theo như lính lác thôi, để trông xe, đại loại vậy. Cu cậu có vẻ hài lòng với chức vụ này và biết rõ hơn ai hết về cái nết chuộng màu hồng của cô em gái. Hai đứa có vẻ thân nhau.

    Sau khi đưa được bà cụ non kia về thì mưa đã ngớt. Hoá ra chỉ là mưa bóng mây. Mặt trời đằng sau và mặt trăng trên đầu. Tôi với Lâm lượn trên đê, phía dưới là con đập mênh mang, cỏ dại mọc um tùm tứ phía, giữa đập tản mác một vài chiếc xuồng đen đen mà nhìn từ xa chẳng khác nào một chấm đen bất động giữa mặt nước êm ru. Con đập này rộng, vạt cỏ lan rộng tạo thành một đầm lầy, xa xa thấy cả một vũng nước hình tròn như một cái giếng trời, nước xanh ngắt, trái ngược hẳn với mặt nước hồ đùng đục chung quanh. Hồi lớp sáu, khi “khai trương” con đập này, người ta đổ xô ra đây tắm, đông nghịt, tưởng như đang ở Sầm Sơn. Hôm ấy tôi cùng bơi với một thằng bạn tên Khải, một thằng làng bên mà theo lời ông tôi thì bố nó đã mượn bố tôi con dao rựa rồi cuỗm luôn. Khải có một bà mẹ đúng tuýp bà chằn theo nghĩa trọn vẹn nhất của từ này. Bà ta dẫn hai thằng bọn tôi ra đập, ngồi trên bờ và liên tục quắc mắt đe doạ mỗi lần một trong hai thằng tỏ ý muốn bơi ra xa… Chính quyền cho tắm vài hôm, rồi cấm ngặt, thế là hai thằng chúng tôi bèn lỉnh về mấy cái hồ trên núi đằng sau nhà thằng Khải. Ôi, nước màu cà phê hoà tan và đáy hồ lởm chởm những đá là đá, mỗi lần ngoi lên da tôi láng bóng, kin kít như vừa tắm bùn. Thằng Khải bơi giỏi hơn tôi, một lần tôi sang tìm nó thấy nhà cửa vắng tanh, chỉ nghe tiếng chó sủa từ xa vọng lại và tiếng đập nước chậm rãi. Tôi nhanh nhẹn bám vào cái mỏm đá để trượt xuống con dốc cho khỏi ngã, đất sét bám đầy lên dép, rồi giữa hồ, thằng Khải cất giọng sảng khoái bảo với tôi:

    “Hồi xưa hồ này có người chết đấy!”

    Tôi nhát đến nỗi không dám xuống nữa, bụng bảo dạ rằng hôm nay chỉ nên ngồi trên bờ ném thia lia thôi. Rồi một lát sau, thằng Khải lên tận mỏm đá nơi tôi đang ngồi, nằng nặc kéo tôi xuống bơi cùng, và sốt ruốt nên nó đành thú nhận:

    “Ôi giời ạ, mẹ tôi doạ thế thôi. Ông sợ thì mặc áo phao vào, thế thì chục con ma cũng chẳng kéo chân nổi!”

    … Đến tối tôi ăn cùng ông bà. Bữa ăn trôi qua rất nhanh. Từ ngày bác tôi về ở, nhà tôi luôn phảng phất cái mùi đau ốm tạm bợ, đến ăn uống bà tôi cũng qua loa, hoặc chẳng phải, có lẽ trước nay bà vẫn ăn nhanh nhưng tôi không để tâm đấy thôi. Ăn giữa sân, như ngày bé, muỗi đốt đầy tay và đùi. Tôi bảo với bà rằng nếu tôi bị gọi đi lính và ông bà có xảy ra cơ sự gì thì tôi sẽ khóc lụt doanh trại, và bà tôi cười…


    Ngày 8 & 9 & 10 tháng Bảy năm 2025,

    Tôi đang cố yêu lấy công việc của mình. Gần đây tôi vẫn viết đều. Tôi viết nháp bằng tay, sau đó gõ và chỉnh sửa trên máy. Tôi viết đi viết lại một truyện. Dù gì cũng không bị thúc ép phải viết vội (nhuận bút tôi nhận từ việc viết lách gần như không có), tôi sẽ trau chuốt bản thảo cho tới kỳ láng bóng mới thôi. Phải rồi, việc cần làm là viết từ tốn, đều đặn. Đọc sách thì tôi đọc ít thôi, cả tuần nay không đọc rồi. Thi thoảng tôi mới vớ lấy một cuốn truyện cũ, đọc lại những tác phẩm ưa thích. Tôi đã đọc Nàng Lika của Bunin bốn lần trong hai tháng nay rồi.

    Đột nhiên nhớ ra bản thân kiếm được gần hai trăm ngàn từ tiếp thị liên kết trên TikTok. Nếu Hương không tò mò kiểm kê gian hàng của tôi thì có lẽ đến giờ tôi vẫn không biết. Nhìn chung tôi thấy công việc tay trái này khá dễ chịu…

    Lần cuối gọi điện với mẹ, tôi bảo với bà sẽ điện lại vào ngày mai. Thế mà từ hôm ấy đến nay đã gần tuần rồi.


    Ngày 11 tháng Bảy năm 2025,

    Vì cuốn sách mới ra mắt của Haruki Murakami mà tối qua tôi đi ngủ muộn, nhưng sáng ra thì vẫn dậy đúng sáu rưỡi sáng. Đồng hồ sinh học của tôi đã hoạt động trở lại. Sáng dậy bước lên sân thượng thấy lòng khoan khoái, tràn ngập cảm giác tự tại, đột nhiên yêu đời lạ lùng – cảm giác lâu lắm rồi tôi không có được. Thật yêu xiết bao những buổi mát trời như hôm nay đây. Tôi nhớ trên khúc quanh từ Khuất Duy Tiến rẽ sang Trần Duy Hưng, phóng giữa đại lộ bề bề, tôi đã không kìm lòng được mà hú hét lên như một thằng dở người. Thật may vì không có ai nghe thấy và ngoái lại nhìn, thế thì tôi sẽ chết vì ngượng mất.

    Lên văn phòng, tôi đọc nốt cuốn sách bỏ dở tối qua và ngay lập tức viết một bài về nó. Trước đó, trên đường rẽ tới văn phòng, tôi đã tỏ ra vô cùng lần chần, phóng đi rồi lại ngoặt lại, không biết có nên mua một thức uống gì hay không. Sau rốt, tôi mua thứ nước trái cây có cái tên thật kêu – nước ổi hồng ruby. Có một con chó poodle lông trắng như tuyết, mắt đen láy, được chủ bận cho một chiếc váy màu hồng, nom nó ngộ nghĩnh, điệu đà và gần như yêu kiều trong cái cảnh mờ nhạt của quầy hàng. Con chó rất dạn, nó ngay lập tức xun xoe dưới chân tôi, tôi cúi xuống xoa đầu nó và hình như đã vội rút điện thoại ra chụp một tấm. Chủ quán bảo con chó:

    “Con này mê trai quá!”

    Tôi mải vuốt ve cục bông gòn kia nên không đáp lại, chỉ nhìn anh ta rồi cười… Rồi thì tôi lên văn phòng, chật vật viết xong một bài đăng, chưa kịp thiết kế ảnh thì đã tới giờ ăn trưa. Tôi ăn thịt băm xào hành, đậu xốt, gà popcorn và canh rau cải. Ngồi ăn với tôi có chị Vy, mà mọi người trong văn phòng quen miệng gọi là Táo; chị có một ông bố hồi hưu thường xăng xái vào bếp chuẩn bị bữa trưa cho con gái – hộp cơm của chị thì hết ý. Nhưng hôm nay chị ăn xôi xéo, khi tôi hâm đồ lên xong thì chị đã ngồi bệt giữa bàn, vừa xem điện thoại vừa ăn gần xong rồi. Tôi ngồi xuống đối diện chị, và tôi ngắm chị, để ý ở chị luôn có vẻ gì rất thơ trẻ, cảm tưởng như thân hình gầy gầy còn chưa phát triển hết. Tôi nghe bảo chị đang quen một anh trai làm ở BIDV; một ngày chị đã ngây ngô đến mức vô tình bật mí chuyện tình của mình bằng cách bảo với Cún (cháu trai của sếp tôi, đang học ngành ngân hàng) rằng Cún nên tập uống rượu dần đi, sắp tới phải tiếp khách nhiều lắm đấy. Cô nàng này quả thực nai tơ hết thuốc chữa!

    … Sáng nay thức dậy tôi đột nhiên thấy thờ ơ với công việc viết lách của mình kinh khủng, đến mức suốt nửa tiếng trời ngồi vào bàn viết, tôi đã không làm gì ngoài chống tay lên cằm và ngắm khoảnh vườn nhà bên. Tầm bảy rưỡi sáng sẽ có một bà đứng trên sân thượng tập thể dục, tay vỗ bèn bẹt vào nhau, – dẫu biết thế nhưng lần nào tôi cũng ngó ra nhìn rồi bất giác nghĩ rằng từ trên cao ấy bà ta có nhìn xuyên được vào cửa phòng tôi không, có thấy tôi đang cặm cụi ngồi viết và thi thoảng lại cắn bút hay không. Tại sao tôi không thể thả lỏng cho bản thân mình, rằng những lúc không viết được thì đừng cố viết, mà hãy kiếm việc gì đó làm tạm, nhưng rồi tôi lại nghĩ “như vậy liệu có đang lãng phí thời gian không?” Suy cho cùng, tôi đâu có dậy sớm để làm gì khác ngoài cái công việc đày ải và căng thẳng triền miên này? Tôi không viết vì tiền, quả thực tôi cũng hơi thèm khát danh vọng đấy, nhưng tôi viết vì lòng vị kỷ của mình nhiều hơn thảy – tôi muốn mình viết hay tới mức làm cảm động chính mình; tôi hiện tại quá thiếu vốn sống, còn bút lực của tôi ư, tôi chẳng biết bút lực của mình ra sao nữa. Tôi đang viết một truyện, rất khó, có lẽ khó nhất từ trước tới nay, nhưng tôi biết rồi mình sẽ làm được thôi, sẽ vượt qua thôi, mọi chướng ngại dọc đường đi rồi sẽ bị san bằng…


    Ngày 12 & 13 tháng Bảy năm 2025,

    Tôi không nhớ bằng cách nào đó tôi đã quyết đoán nói với Hương rằng: “Chúng ta sẽ đi Hoà Bình”. Có lẽ tôi đã bắt gặp một video trên TikTok, khả năng là về thác nước, vì bản thân tôi chưa bao giờ đi tắm thác nên viễn cảnh đó càng lôi cuốn tôi hơn bao giờ hết. Bạn gái tôi đồng thuận gần như tức khắc, và liền mấy hôm sau ra công sửa soạn một lô một tràng những bản kế hoạch, dự trù chi phí, đủ sức nói về nó cả ngày, – còn tôi thì sau khi ra được cái quyết định kia lập tức biến mất như thể một lão thuyền trưởng chỉ ra hiệu lệnh khi cần thiết, còn không sẽ ru rú mãi trong cái khoang chỉ huy của mình. Tôi sắm cho Hương một đôi dép xỏ ngón màu trắng, theo yêu cầu của cô nàng, bản thân tôi không thích nó lắm và thậm chí còn nghi ngại tính hữu ích của nó là khác, nhưng xem chừng nó đã tỏ ra khá đắc dụng vào những trường hợp ta cần đến nó nhất. Có lẽ nếu nó biết nói, nó sẽ tự đắc mà vênh vang bảo với tôi rằng: “Biết mặt tao chưa thằng khốn!”

    Công cuộc chuẩn bị bắt đầu từ tối thứ Sáu. Hôm ấy ban ngày thì mát mẻ mà về tối oi bức đến lạ; chừng hơn bảy giờ tôi tới nhà Hương, sau nửa tiếng vạ vật bên nhà cũ để mượn chiếc ba lô du lịch. Chuyện ở nhà cũ cũng đáng để thuật lại lắm nhưng xem chừng phải khất lại tới một dịp khác. Vì dự tính sẽ mua một chiếc váy trắng cho đủ lệ bộ của dân du lịch, chúng tôi lượn ra Phạm Ngọc Thạch, nhanh chóng thoái chí không hiểu do đâu, có lẽ vì đói, và tôi gợi ý nên vào ăn cơm niêu Tố Uyên – kỳ lạ làm sao tôi lại nhớ được tên cái quán quỷ quái này! – tôi đã để mắt nhiều lần nhưng chưa ăn ở đây bao giờ. Từ sau lưng tôi, Hương nói bằng cái giọng khuyên nhủ quen thuộc của mình:

    “Chắc là đắt đấy anh.”

    “Quán nào cũng nghĩ đắt rồi chẳng vào được quán nào, toàn ăn đi ăn lại quán cũ.”

    Sở dĩ tôi đáp trả thế này cũng đơn giản thôi. Hồi năm nhất, bạn gái của tôi khi ấy cũng rất biết tiếc tiền thay tôi, mỗi lần chúng tôi đi qua một quán ăn lạ mắt là y rằng cô ta đòi vào, rồi chính bản thân cô ta lại dùng dằng không chịu vì sợ rằng “quán nom thế này chắc đắt lắm”, đại loại vậy… Và quả thực tôi đã để cô ấy ăn đi ăn lại một vài quán, những quán ăn tạm bợ của tụi sinh viên… Mãi sau này khi đã chia đôi ngả, dạo ấy tôi còn độc thân và thậm chí khá bi luỵ, đã lần lượt vào từng quán xá mà cô gái kia từng ao ước được vào. Lạ thay, giá cả cũng mềm thôi, thế chẳng phải tôi vì mấy đồng bạc mà từ khước niềm vui của người mình yêu hay sao?

    Chuyện là thế, tôi không muốn lặp lại điều tương tự với Hương. Nhưng rốt cuộc chúng tôi vẫn vào một quán cũ, có phần sập xệ, tù túng (trời oi nồng kinh khủng mà quán không bật điều hoà), bàn ăn thì là dạng bàn tròn màu đen giống mấy quán nướng bên Hàn Quốc và thực tế cũng thiết kế theo lối này luôn; mặt bàn cáu bẩn, nhờn nhờn, chiếc quạt cây với nồng quạt và cánh quạt bám bụi quay lờ đờ, uể oải… Tôi gọi món cơm trộn khoái khẩu còn Hương sau một hồi lần chần cũng chọn được món cơm chiên cà ri. Bữa ăn tẻ nhạt, tôi không nhớ hai đứa đã nói những gì, có lẽ bàn tính về chuyến đi sắp tới và nàng nghe tôi kể lại chuyện tôi về nhà cũ ra sao. Thôi thì cũng xin thừa nhận với các bạn rằng tôi đã mua một gói bánh gạo ở quán tạp hoá quen thuộc ngày trước, đó là quà dành tặng bà Xuân, bà hàng xóm sát sườn phòng cũ trong khu nhà tập thể cơ khí của tôi. Bà ngơ ra vài giây rồi mới nhận ra tôi, và liền đấy, bà bước lại phía tôi với vẻ hồ hởi, với ánh mắt hân hoan dường như trong thoáng chốc làm trẻ lại những con người già cả, với điệu bộ ân cần xởi lởi như cách ta đón tiếp một vị khách không hẹn mà gặp sau những tháng ngày bặt vô âm tín. Bà nói:

    “Trời, thằng Long đấy hả? Càng lớn càng đẹp trai!”

    Thú thực từ năm cấp ba trở đi thì những người duy nhất khen tôi đẹp trai, loại trừ những cô bạn gái của tôi ra, chủ yếu là người trung niên hoặc người cao tuổi. Có lẽ “đẹp trai” trong mắt họ là “ưa nhìn”, và họ thẩm định ngoại hình của tôi theo những quy chuẩn khác với các thế hệ gần gũi tôi hơn. Khi tôi kể tới chuyện đó, Hương nhìn tôi đầy châm chọc và nói giọng giễu cợt:

    “Này, này, chắc lúc đấy chẳng sướng rơn lên chứ hả?!”

    Ồ, chẳng phải nói!

    … Tôi rất thất vọng với sự mù đường của bạn gái tôi. Cô nàng sống ở Hà Nội năm, sáu năm rồi nhưng kiến thức cơ bản về địa lý thủ đô vẫn hết sức hạn chế. Nhưng tôi biết ngoài kia có hằng hà sa số những cô nàng với cái đầu óc đãng trí kiểu vậy, – có lẽ họ cho rằng những thứ như vậy là không cần thiết, còn với người yêu tôi thì cái lý của cô nàng là: “Có anh nhớ hộ em rồi!”

    “Thế không còn anh nữa thì ai nhớ thay em?” – rất may tôi đã chẳng nói thế.

    Chúng tôi sắm sửa chút đồ ăn vặt. Lạm chi vài chục ngàn, vì tôi ít có cơ hội ăn đồ vặt tới nỗi mỗi khi có thể, tôi sẽ ăn bù cho bằng hết. Về tới phòng, tôi đọc lớt phớt vài trang truyện ngắn Peasants của Chekhov, rồi lên giường, đọc tiếp một cuốn gì đấy tôi không nhớ rõ. Có lẽ tôi định đọc thêm, nhưng Hương bảo tôi nên đi ngủ thôi vì mai chúng tôi cần khởi hành sớm, tôi cự nự một hồi rồi cũng tắt đèn…

    Hình như tôi đã ngủ chập chờn đêm đó. Phải rồi, giữa đêm, ba giờ sáng tôi tỉnh giấc vô nguyên cớ… rồi tôi mơ… hình như tôi đã mơ thấy mình trở lại hồi cấp ba (dạo gần đây những giấc mơ thế này thường xuyên lặp lại)… Tôi thấy mình đứng giữa hành lang, bên dưới cầu thang đang có hai cô gái đi lên, mỗi người vác vai một bình nước. Một bình nước đổ kềnh xuống và tôi may mắn đỡ được, và tôi bê cho cô ta về tận lớp (tôi vẫn như như in mặt của cô gái này vì tôi từng nuôi giữ một mối tình ít nhiều trong sáng với cô ta – nghĩ thử xem, tôi đã cảm động chỉ vì cô ta xinh xắn và từng nhắc bài tôi bằng một giọng hết sức nhỏ nhẹ, tôi cũng nhớ thêm rằng ngực cô nàng đó lép kẹp, “hai lưng”, theo cách nói của tụi học sinh chúng tôi). Lát sau, cô ta cảm ơn tôi rối rít và không hiểu sao còn quá khích tới độ hét toáng lên:

    “Em cảm ơn anh ạ!”

    Năm rưỡi sáng báo thức reo. Nàng thơ uể oải tỉnh dậy và bắt đầu điểm trang. Ôi, lúc đấy tôi thấy lòng nhẹ bẫng, suy cho cùng cũng chỉ giống như quãng đường phóng về quê thôi mà. Cuối tuần đáng ra phải viết, phải sáng tác hăng say (nói dối!), nhưng tôi ngộ ra rằng mình không thể sống nhiều hơn mình viết được (điều mà tôi từng nhét vào miệng một nhân vật của mình để rồi bây giờ đem ra răn dạy chính tôi), rằng tôi đang đặt quyển sách lên trên cuộc đời chứ không phải ngược lại… Nói tôi đi vì trải nghiệm cũng đúng, vì ngơi nghỉ cũng đúng, nhưng có lẽ đơn giản chỉ vì muốn du lịch cùng người yêu; tôi vẫn luôn có cảm giác chúng tôi nợ nhau một chuyến du lịch sau nhiều dự tính bỏ ngỏ…

    Tôi vẫn kịp nán lại rít một bi thuốc lào ở quán trà đá thân quen. Vì không có thuốc, bà chủ quán bóc một bao thuốc mới, bảo tôi vo lấy một bi rồi đút trả lại như thể nguyên si. Tôi không khỏi cười thầm, tôi cảm thấy một nỗi hả hê nanh ác như cái thời còn là học trò cưng của các giáo viên và được họ dành tặng nhiều biệt đãi; dẫu biết có bất công với nhiều người khác nhưng tôi cũng mặc, toàn chuyện cỏn con ít phương hại đến ai…

    “Rít thuốc lào xong là không được vội! Không được vội!” – hình như tôi đã lẩm bẩm thế khi nhìn thấy Hương ngồi vắt vẻo trên yên xe, liếc nhìn tôi bằng ánh mắt đầy ngao ngán, chán chường.

    Đường sá thẳng băng. Mặt trời chưa lên cao hẳn…


    Ngày 16 tháng Bảy năm 2025,

    Tỉ mỉ, cặn kẽ là nét đặc trưng trong văn xuôi của Tolstoy, điều từng khiến Turgenev bực mình vì cho rằng ông “muốn làm cho người đọc tin rằng ông đã biết hết thảy mọi thứ nên sa vào những cái tủn mủn như vậy, nhưng trái lại là ông không biết gì ngoài những cái tủn mủn đó”.


    Ngày 18 tháng Bảy năm 2025,

    Hương xem Young Sheldon làm tôi không tập trung dịch bài được. Tôi đành mở phim xem: Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love). Phim đẹp quá nhưng chưa đủ buồn, hôm nào ở một mình sẽ xem lại!


    Ngày 19 tháng Bảy năm 2025,

    Buổi chiều trôi qua hoàn toàn lãng phí. Giờ đây, tôi đang ngồi viết những dòng này trong sự trống rỗng tột cùng. Buổi sáng tôi bắt tay vào viết Thương và viết được kha khá, nhưng nhận thấy quá nhiều sự ảnh hưởng từ các tác giả khác trong đó. Hai khiếm khuyết lớn nhất trong công việc viết lách của tôi: thiếu độc đáo và không biết xây dựng cốt truyện. Kỳ lạ thật khi hôm nay tôi tình cờ đọc được từ nhật ký của Tolstoy: “Nếu một ý tưởng tuyệt vời trong đầu mà khi thảo ra giấy lại trở nên tầm thường, tác giả của nó hẳn là bất tài.” Tại sao tôi lại viết một câu chuyện về người con dâu hục hặc với bà mẹ chồng nhỉ? Công việc tiến triển chậm, tôi đang nhồi nhét quá nhiều chi tiết vào một truyện ngắn, và lúc nhận ra nó đã biến thành một truyện vừa thì muộn quá rồi!

    Viết từ tám rưỡi sáng đến mười hai rưỡi trưa, sau đó đi ăn. Đọc Chuyện rừng xanh. Nếu Hương không gọi điện có lẽ sẽ ngủ đến hết chiều.

    Tối mưa. Ăn uống qua loa đồ ở tạp hoá. Đọc nhật ký của Tolstoy, và đã ngồi thừ hơn ba mươi phút mà vẫn chưa quyết nổi nên chi tiêu buổi tối thế nào. Rốt cuộc đã đọc Trên thảo nguyên của Chekhov rồi đi ngủ.


    Ngày 20 tháng Bảy năm 2025,

    Đừng bao giờ bỏ lỡ cơ hội hưởng lạc và đừng bao giờ tìm kiếm nó.

    ***

    Sáng dậy từ sáu giờ. Viết từ bảy giờ đến mười hai giờ. Công việc có tiến triển, nhưng không đáng kể. Vẫn chưa biết xử lý cốt truyện ra sao cho thoả đáng, mặc dù đã soạn xong chương kết. Giữa buổi bị cắt ngang bởi shipper gọi điện giao Từ điển Ca dao – Tục ngữ. Rất nóng lòng đọc tiếp Trên thảo nguyên.

    Buổi chiều đọc Người nhạc sĩ mù của Korolenko. Lãng phí phần lớn buổi tối, đi ngủ sớm và dậy khá muộn.


    Ngày 21 tháng Bảy năm 2025,

    Sáng dậy từ bảy giờ, nhưng chín giờ mới bắt đầu viết tiếp Thương. Vẫn không tiến triển mấy, dường như càng viết càng đâm vào ngõ cụt. Buổi tối qua nhà bạn gái tránh bão, té ra cơn bão chẳng đáng kể cho lắm. Ngày mai được nghỉ làm. Tôi bắt đầu đọc Kiếp người (Of Human Bondage) của Maugham, song song với Chuyện rừng xanh của Kipling.


    Ngày 22 tháng Bảy năm 2025,

    Viết tiếp Thương từ chín đến mười hai giờ, sau đó đi ăn trưa, trở về viết tiếp đến ba giờ. Không tiến triển mấy. Đã nhận Hán Việt Từ Điển – cuốn sách này hầm hố hơn tôi nghĩ và hiện tại tôi chưa biết nhét anh chàng bự con này vào đâu, thành thử nó vẫn nằm chình ình trên bàn học của tôi, ngay dưới bậu cửa sổ. Hơi thất vọng vì cơn bão…

    Tôi ngồi trau chuốt lại bản dịch cho tiểu luận The Short-Story của Maugham từ bảy giờ đến tám giờ. Sau đó, tôi nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt và lật giở lớt phớt một vài trang của cuốn Hán Việt Từ Điển. Tôi học thêm được vài từ mới, “chằng chằng”, “chành chạnh”, “chẻo lẻo”, “ải tử”….

    Đọc SevastopolCái chết của Ivan Ilyich tới quá nửa đêm. Ngủ ngon.


    Ngày 23 tháng Bảy năm 2025,

    Dậy từ sáu giờ. Bảy giờ bắt đầu ngồi vào bàn, tiếp tục viết Thương. Mọi thứ dần trở nên rõ rệt hơn trong tâm trí. Hôm nay viết khá xuôi tay, công việc quả thực có tiến triển, dù không đáng kể.

    Hôm qua lại mơ về thời đi học, nhưng không nhớ rõ đã mơ những gì. Hình như là một giấc mơ đẹp, vì tôi thức dậy với cảm giác phấn chấn, sảng khoái của người vừa thức dậy sau một giấc mơ đẹp.


    Ngày 28 tháng Bảy năm 2025,

    Chà, ông bạn giấu tên, tôi đã đọc được tin nhắn của ông và tạm thời xin trả trước, một vài tâm sự vụn vặt, những điều mà theo thời gian tôi sẽ hoàn thiện dần.

    Tôi viết thế nào?

    Thoạt đầu mới viết tôi không bao giờ nghĩ trước mình sẽ cần viết gì cả. Tôi vừa viết vừa nghĩ, và thú thực đến giờ phần lớn tôi vẫn làm thế. Tôi từng đọc được rằng chỉ có những tay mơ mới làm việc theo cái hướng như vậy, rằng một nhà văn chuyên nghiệp sẽ suy tính trước tất tật mọi thứ, từ ý đồ, tư tưởng, hình tượng, sườn và cốt truyện, v.v. rồi mới bắt tay vào viết. Điều này hiển nhiên thích đáng, và chỉ có ai dại dột mới toan phản bác. Nhưng Flannery O’Connor từng nói rằng bà không hề biết câu chuyện sẽ dẫn bà đi đâu cả; nói chung, những người như Flannery – chúng ta tạm coi là một trường phái khác – sẽ bắt tay viết với một ý tưởng có phần mờ mịt, nhưng càng viết thì cốt truyện sẽ càng sáng rõ trong tâm trí họ. Đây cũng là phương pháp của Gorki hay Zola, người tự nhận mình không có năng khiếu “dựng chuyện”. Tôi buộc phải lấy một ví dụ khác của một nhà văn mà tôi không mấy ưa thích – Rowling. Bà đã nung nấu ý tưởng về Harry Potter trong suốt năm năm trời, chúng ta được nghe kể vậy. Nếu một nhà văn không bị thúc giục viết vì cơm ăn áo mặc, tôi nghĩ tốt nhất anh ta nên noi gương bà, tức là nhào nặn ý tưởng của mình thật kỹ, ngắm nghía nó từ mọi góc độ, và ghi chú thật nhiều. Phần lớn những ghi chú đó sẽ thành ra vô dụng trong mắt người nghệ sĩ, bởi ta không thể nhét bừa một đoạn ghi chú vào giữa một tác phẩm, nhưng trong quá trình viết phác, ý tưởng cho câu chuyện sẽ liên tục được đắp bồi. Có lẽ người ta phải viết chục trang mới tới được trang đầu tiên. Sự tình cờ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình này, vì, chiểu theo kinh nghiệm riêng tôi, rất nhiều ý tưởng ẩn tàng trong tiềm thức của ta như thể chúng không hề tồn tại, nhưng một sự việc bất ngờ, đôi khi chỉ là một cánh hoa ngưu bàng bị dập nát thôi (trường hợp của Tolstoy với Kha-gi Mu-rát), cũng đủ khiến một cơn say phóng tác dội về.

    Những người mới bắt đầu viết thường mang tư duy ăn xổi. Ta những muốn viết thật nhanh, câu cú lai láng trơn tuột như được bôi dầu, muốn viết như chim hót. Và nếu có thiên phú thì việc này càng dễ dàng hơn nữa. Nhưng càng dấn sâu vào viết lách thì một nghịch lý xảy ra, đó là người viết sẽ cảm thấy viết càng ngày càng khó khăn hơn với anh ta. Đây là một tín hiệu tốt dù không lấy gì làm vui vẻ. Một cây bút non trẻ sẽ sớm ngộ ra rằng trước nay anh ta hoàn toàn chỉ viết theo lối tài tử, được chăng hay chớ, và kết quả rõ rành là hiếm một tác phẩm nào thiếu sự nung nấu và trau chuốt lại có thể toát ra sức sống nổi. Sáng tác là một công việc mệt mỏi và dễ gây thoái chí, nhưng nếu một người cặm cụi viết trong vòng một tuần và nhận ra mình không kham nổi, thì hoặc vấn đề chỉ đơn thuần nằm ở sức chịu đựng, hoặc anh ta không hợp với việc viết lách. Về chuyện này tôi xin trích dẫn một câu nói của Chandler:

    “Điều quan trọng nhất ở đây là phải có một khoảng thời gian trong ngày, cứ cho là tối thiểu bốn giờ đồng hồ, buộc một nhà văn chuyên nghiệp không làm gì khác ngoài viết cả. Y không cần phải viết, và nếu y cảm thấy không muốn viết thì y không nên cố. Y có thể nhìn ra ngoài cửa sổ hoặc chồng cây chuối hoặc lăn lộn trên sàn nhà. Nhưng y không được làm bất kể hoạt động nào khác, không đọc, không viết thư, không ngó nghiêng mấy chồng tạp chí, không rà soát bản thảo. Chỉ viết hoặc không làm gì cả… Tôi thấy nó hiệu quả. Hai quy tắc vô cùng đơn giản, a: bạn không cần phải viết. b: bạn không được làm gì khác. Phần còn lại tự nó đến.”

    … Tôi không biết các cây viết khác thực hiện công đoạn world building (tôi không thích thuật ngữ này lắm), rồi đến character building, v.v. nói chung là cân nhắc mọi khía cạnh của truyện ra sao. Nhưng tôi nghĩ vẫn nên trình bày vắn tắt phương pháp của bản thân về phương diện này. Tôi thường bắt đầu từ nhân vật. Nhân vật là sẽ toa đầu kéo cả đoàn tàu theo sau. Như chúng ta đều biết, câu chuyện phải có một người hùng, phản diện hay chính diện, nhưng y sẽ đóng vai trò là mặt trời, còn tất tật những yếu tố khác sẽ xoay quanh y như một thái dương hệ. Hiếm ai nảy ra hình tượng cho một nhân vật từ hư không, tức là ngồi tưởng tượng ra anh ta, mà thường họ sẽ xây dựng anh ta từ một nguyên mẫu trong đời thực, và trong quá trình đó nhà văn sẽ liên tục điều chỉnh, nhào nặn nhân vật của mình như một hình nhân đất sét vậy. Y đẽo, gọt, giữ lại những gì cần giữ, còn những phần khác y tự bịa ra, rồi y đặt nhân vật đó vào một môi trường trong đó làm nổi bật tất thảy những nét tính cách của nhân vật, ngoài cái hình hài mà y đã phác cho anh ta. Nếu hình tượng nhân vật đủ rõ rệt, nhân vật đó sẽ bắt đầu phản kháng, bắt đầu từ khước những ý đồ mà nhà văn muốn áp đặt lên anh ta, và tới đấy thì phần còn lại của cốt truyện mới nhẹ nhàng làm sao! Nhân vật đã sống, đã thoát thai, và gần như tự mình lèo lái cốt truyện. Chính Chandler, một nhà văn trinh thám, từng nói rằng ông viết để biết kết truyện ra sao. Đến bản thân người viết đôi khi còn không rõ các nhân vật sẽ dẫn dắt mình tới đâu. Đây là một phương pháp nghe khá nghiệp dư, nghe như thể nhắm mắt bắn bừa, nhưng chúng ta há chẳng phải những cây bút nghiệp dư đó sao?

    Về thủ pháp dựng chuyện, thú thực bản thân tôi không có năng khiếu cho lắm. Tôi vẫn đang mày mò. Đôi khi tôi ăn cắp cốt truyện của người khác, rồi biến tấu lại theo ý mình. Thoạt đầu tôi thấy khá tội lỗi vì chuyện này, nhưng lâu dần tôi phát hiện ra đa số các nghệ sĩ đều bắt chước ai đó, cho đến khi họ đủ khả năng để thôi bắt chước (hoặc che đậy kín đáo hơn) và chuyển qua bị bắt chước. Tôi nghĩ những người bị tôi đánh cắp sẽ đủ độ lượng để tha thứ cho sự kém cỏi nơi tôi. Stendhal viết trong nhật ký rằng ông có thể xem xong một vở kịch rồi lập tức biến vở kịch đó thành của mình; người ta thấy ông cặm cụi ghi chép cốt truyện trong khi xem kịch một cách vô liêm sỉ, và nhân tiện, rất nhiều trong số các tác phẩm của ông là sự cải biên các tác phẩm khác (thậm chí ông từng ăn cắp cốt truyện một cách trắng trợn tới mức không thèm đổi tên nhân vật chính). Tôi, phần nào giống Stendhal, thiếu vắng năng khiếu sáng tạo. Trí tưởng tượng của tôi rất yếu. Tôi vật lộn với đối thoại. Tôi viết dài dòng lan man về những điều không cần thiết. Nếu nghĩ mãi không ra nổi một cốt truyện thoả đáng, có lẽ nên tự thừa nhận rằng mình bất tài về bình diện này, rồi dành thời gian chăm chút cho những bình diện khác, nơi tiềm năng dày hơn và niềm vui theo đó cũng cao hơn. Dù sao mỗi nhà văn sẽ có một biệt tài riêng, dù có khiêm tốn đến mấy, cũng phải cố bằng được để phô nó ra.

    Tôi sẽ nói sơ qua về lịch trình làm việc của mình. Dạo trước tôi thường viết vào buổi tối, sau khi tan làm, từ tám giờ đến quá khuya. Tôi viết khá sung mãn và thậm chí còn phiêu diêu là khác, nhưng lối làm việc như vậy khiến ngoài viết ra tôi chẳng làm gì ra hồn. Rõ ràng ta không thể chỉ viết, ta còn phải sống và biết bao bổn phận khác nữa. Dần dà tôi chuyển qua viết buổi sáng. Bây giờ thì nếu không thể viết sáng tôi sẽ không viết; tôi cố tránh bằng được thói viết về đêm, dù chỉ là chỉnh sửa bản thảo. Tôi ngủ hơi muộn, nhưng dậy sớm, thường trước bảy giờ, viết cho đến giờ đi làm. Phần còn lại trong ngày, ngoài công việc trên công ty, tôi chủ yếu đọc sách, học hỏi thêm nhiều món khác (tạm thời là nghiên cứu từ điển – chà, tôi biết ít từ xiết bao!). Việc viết buổi sáng có những ưu điểm đáng kể: sớm mai trong lành, sự yên bình đầy khoan khoái, nhưng vào những hôm viết không xuôi, tôi buộc phải đem cái tâm trạng ủ ê bức bối và vác bộ mặt bí sị đến văn phòng. Điều quan trọng: chỉ nên viết lúc bình tâm! Nếu trong lòng còn lợn cợn một mối lo toan dù nhỏ bé tới mấy thì cũng đừng đặt bút viết. Và không hiểu sao nhưng tôi không thể viết nếu không ở một mình – về chuyện này tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình. Viết, với tôi, như thể khoả thân, và tôi ngượng ngùng, dè dặt với sự hiện diện của bất cứ ai bên cạnh, dù họ chẳng gây phiền nhiễu gì tới tôi…

    Giờ thì về sách. Tôi mê viết đến nỗi từng bỏ bê chuyện đọc sách, dù chắc mẩm nếu không đọc thì mình chẳng viết được gì ra hồn đâu. Hai việc này tương hỗ mật thiết đến nhau. Nếu có cơ hội, nên đọc những cuốn làm ta hao tâm tổn trí, còn đọc các tác phẩm văn học là mặc nhiên… Vì đã soạn sẵn một bài viết về những reading-list của bản thân, tôi xin phép kết thúc vấn đề này ở đây.

    Chekhov đã nói không ngoa khi cho rằng viết lách phần lớn là cắt bỏ. “Ngắn gọn là chị tài năng,” ông viết. Suy cho cùng thì phần lớn những gì ta viết trong bản thảo đều đáng liệng vào sọt rác hết. Và nếu sự thể vốn vậy thì việc viết sẽ không còn đáng để bận tâm tới thế. Cứ đi rồi sẽ đến, nhưng đến đâu? Hãy cứ mong nó là một cái đích. Còn nếu đi mãi, đi mãi mà vẫn hun hút như một đường hầm, tốt nhất nên quẳng hết đi và dẹp luôn cái trò viết lách đau khổ! Về điều này hãy noi theo những điều tôi khuyên, đừng noi theo những điều tôi làm.

    ***

    Gần như mất toi cả buổi sáng chỉ vì cuộc họp diễn ra vào cái giờ trái khoáy (10 giờ?). Buổi chiều sẽ phải bù lại. Chưa chi đã thấy lười.

    Công việc biên tập diễn ra khá trôi chảy. Tôi ngủ một tiếng rưỡi vào buổi trưa – bây giờ thì giấc ngủ cứ tự nó đến, đặc biệt là sau khi đọc những bản dịch tồi. Thật khoan khoái và nhẹ nhõm làm sao khi có một ngày làm việc êm xuôi, đầu óc thanh thản, vô ưu, tràn đầy sảng khoái… Thời tiết khá tệ, nhưng có sao đâu vì ta nhốt mình trong nhà cả ngày, chẳng giao du với ai, chẳng chịu cảnh tắc đường… Hê hê!


    Ngày 29 tháng Bảy năm 2025,

    Hôm nay tôi cố đọc cho hết Sevastopol.

    Ở Paris, tôi chẳng bao giờ đi ra ngoài, bởi phố xá nào khác gì những căn phòng không trần.

    – Maupassant, “Mùa chim giẽ”


    Ngày 30 & 31 tháng Bảy năm 2025,

    Hai ngày gần đây tôi đọc xong Sevastopol, một trong những truyện ngắn đầu tay đăng báo của Tolstoy. Cá nhân tôi thấy nó tàm tạm. Tôi đọc hết Tuyển tập truyện ngắn Guy de Maupassant của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, một cuốn sách dài hơn nghìn trang, tổng hợp 50 truyện của nhà văn người Pháp. Riêng Viên mỡ bò tới nay tôi đã đọc hai lần.

    Tôi tự đặt ra cho mình mục tiêu phải:

    1. Đọc ít nhất 1 truyện ngắn mỗi ngày;
    2. Đọc ít nhất 1 bài thơ mỗi ngày;
    3. Đọc ít nhất 1 tiểu luận / bài phê bình mỗi ngày;
    4. Đọc ít nhất 1 tiểu thuyết mỗi tuần;
    5. Viết mỗi ngày, dù ít dù nhiều, nhưng tối thiểu là 1 tiếng.

    Phúc Minh Books vừa gửi sách: Trường mẫu giáoĐương đầu với lửa. Hôm nay là một ngày làm việc năng suất, cả sáng lẫn chiều. Chỉ hơi đói bụng một chút, dù trưa tống đẫy một bát ô tô cơm.


    Ngày 2 tháng Tám năm 2025,

    Hôm nay tôi dậy sớm đưa Hương ra công ty cho kịp giờ chuyến xe đưa sẽ cô nàng xa khỏi Hà Nội hơn hai trăm cây số. Có lẽ lúc tôi đang nằm trên giường viết những dòng này đây, cô gái của tôi đang nhai rau ráu một món hải vị nào đó chăng? Chưa chi tôi đã mường tượng ra cái mùi mặn chát của biển rồi…

    Gần bảy giờ sáng, tôi nán lại quán trà đá lâu hơn thường lệ, những bốn mươi phút, vì một anh bạn không quen biết, có mái tóc bờm xờm màu trắng màu đen lẫn lộn, cằm nhọn, hai mắt sáng rực, cho thấy anh ta là người linh lợi, hoạt bát. Anh ta mặc áo đồng phục Be còn khá mới, nhưng bên dưới lại diện quần cộc có hộp màu xam xám đính khuy, đeo đôi tất Nike kéo cao ngang cặp bắp chân rắn rỏi, bận dép sục theo mốt dân thể thao. Người xưa có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, còn trong trường hợp của tôi, chiếu theo những gì tôi có dịp trải nghiệm, thì đúng ra là điếu cày là đầu câu chuyện. Phải, anh chàng nhỏ nhẻ nhờ tôi với giúp cây điếu cày ở ngay bên trái tôi. Tôi nhoài người đưa cho anh ta. Anh ta khẽ cảm ơn e dè như một thục nữ, rồi vừa vón thuốc vừa hỏi bằng giọng lúng túng:

    “Anh ơi, sao em thấy họ hút cứ đổ hết nước ra ngoài nhỉ?”

    Tôi không nghe rõ nên anh ta lặp lại câu hỏi và diễn đạt cho nó sáng nghĩa hơn. Rồi tôi bật cười, trả lời anh ta rằng như thế nó mới phê. Anh ta cũng cười, khoe hàm răng đều tăm tắp nhưng xin xỉn, cái bộ nhá đặc trưng của người hút thuốc lâu ngày.

    Chúng tôi tiếp tục tán chuyện. Tôi hỏi anh ta, rồi anh ta hỏi tôi. Anh ta quê ở Thanh Hoá, nhưng nghe cái giọng lanh lảnh của anh ta thì khó đoán định cho nổi – tôi đã phải nhờ tới đầu biển sổ chiếc xe Wave trắng dựng ngay sau xe tôi, đuôi xe hơi chếch vào tường. Thoạt đầu anh ta nói năng còn nhát gừng, nhưng có lẽ bị lây cái cung cách xuề xoà nơi tôi, anh dần dần bốc hơn, nói liên miệng và chỉ thi thoảng mới chịu dừng lại để nhấp nước chè. Anh ta uống hết một cốc, rồi gọi thêm một cốc bỏ đá không để pha nước ngọt. Tôi cũng gọi thêm một cốc chè loãng, thầm nhủ cuộc trò chuyện này chắc hẳn sẽ lai rai đây.

    Tôi có đánh sang công việc xe ôm của anh chàng, nhưng nhắc tới đấy trán anh ta bỗng nhíu lại, đầu hơi chúi về trước, khuỷu tay chống lên đầu gối, giọng liến thoắng:

    “Em không có ý định làm lâu dài đâu!”

    “Ồ,” tôi tiếp lời, “thì đâu ai nghĩ đến chuyện lái xe ôm lâu dài!”

    Hẳn tôi đã hơi tọc mạch, vì tôi lần lượt biết được anh ta sống ở vùng nào Thanh Hoá, cấp ba học ở đâu, giờ theo ngành gì, trường nào, vân vân. Anh ta thật thà trả lời tất tật, nhưng tóm lại tôi chỉ nhớ anh ta giống tôi, học marketing, ở cao đẳng FPT, và chưa đến kỳ quân sự năm nhất thì đã bỏ học. Tôi nhẹ nhàng giễu nhãi rằng dường như truyền thống của FPT là bỏ học, và anh chàng ngước lên nhìn tôi bật cười, trông hơi rúm ró như bị ép buộc phải cười vậy…

    Tôi không biết tên anh ta. Anh ta chủ động thanh toán tiền nước, loạt xoẹt đống tiền lẻ một thoáng rồi đứng lên. Tôi cũng đứng dậy theo. Chúng tôi chào nhau qua loa, không nhiệt tình cho lắm, và tôi cũng chẳng biết tên anh ta là gì, tuổi cũng không. Nhưng đó là một gương mặt rất ấn tượng, tôi chỉ có thể nói thế.

    Tôi về nhà, tắm táp (không thể thiếu), đọc nốt 30 trang Xulamif của Kurpin bỏ dở từ tối qua, rồi tôi bắt đầu làm việc. Tự dưng trong lúc viết tôi đã nghĩ rằng vì tôi dường như không bỏ viết ngày nào cả, có lẽ sắp tới, khi hoàn thành truyện vừa này, tôi sẽ rộng lượng trao cho chính tôi một kỳ nghỉ ngắn ngày – có lẽ một, hai tuần gì đấy. Trong thời gian đó, tôi sẽ không sáng tác gì cả, dồn lực đọc sách và ghi chép nhật ký… Tôi đang mong tới ngày ấy đây…

    Tôi viết từ tám đến mười hai giờ. Tôi nghĩ mình nên giảm ca làm việc xuống còn ba tiếng, vì về cuối tôi bắt đầu thấy hơi lả. Rồi tôi đọc tiếp truyện của Kuprin đến hơn một giờ, chỉnh trang sơ sài và đến thư viện đổi sách. Tôi lựa được 3 cuốn: Từ điển vần, Ở nhà trọ Đức của Mansfield và một cuốn hồi ký nhập ngũ năm 68-69 (tên tác giả không nhớ).

    … Trở về nhà đã gần bốn giờ, tôi nằm dài đọc hết Kuprin và hơn ba chương của Người nhạc sĩ mù (Korolenko). Lâu rồi mới có cảm giác thư thái thế này… Cảm tạ trời đất!

    Khiếm khuyết duy nhất ngăn ngày hôm nay trở nên trọn vẹn: lướt TikTok quá ba mươi phút. Phải chấn chỉnh lại thôi.


    Ngày 3 tháng Tám năm 2025,

    Một ngày dài vô tận. Nguyên hai ngày cuối tuần tôi áng chừng mình đã đọc 1.000 trang sách. Phần lớn là truyện ngắn. Mưa của Maugham hay tuyệt, các truyện khác tàm tạm. Tôi đọc lại Phu nhân Macbeth của Leskov, và Taman của Lermontov (hoá ra Taman là tên một vùng biển, và nó chiếm một chương ngắn trong Một anh hùng thời đại, điều mà lần đọc trước tôi đã bỏ qua). Hình như Chekhov rất ngưỡng mộ Taman, ông viết: “Thật không ngờ một chàng trai 25 tuổi có thể viết được thế.”

    Tôi vẫn viết đều, nhưng tôi bắt đầu lờ mờ nghiệm ra tại sao mấy lão nhà văn thường chết sớm. Tôi làm việc liên tục hơn bốn tiếng, từ chín giờ đến một rưỡi chiều, đói lả, mắt mờ, bụng gần như tóp lại, và riêng việc kiếm gì đó ăn cũng làm tôi ngao ngán…

    Tôi đã đọc xong Người nhạc sĩ mù của Korolenko, và đang đọc dở Đời Tolstoy của Romain Rolland. Đây là một cuốn sách mỏng nhẹ, nhưng không dễ đọc chút nào. Tuy vậy, tôi biết thêm khá nhiều về Tolstoy và những phát hiện đó cộng hưởng một cách lạ kỳ với bài tiểu luận Chiến tranh và hoà bình của Maugham. Tolstoy không xem trọng hai tiểu thuyết lớn của mình – tạm thời tôi chỉ có thể nói vậy.


    Ngày 5 tháng Tám năm 2025,

    Điều quan trọng: viết thật chính xác, cô đúc và dung dị. Tránh rườm rà, tránh lối “làm văn”, tránh những sự kiểu cách, những điều phô trương, làm duyên làm dáng trong viết lách. Cực lực tránh lặp từ. Bằng lòng với tài năng nhỏ mọn của bản thân, nhưng luôn viết tốt nhất trong khả năng của mình. Viết chân thật, chỉ viết những điều thực sự khuấy động tâm can bản thân, tránh lối dàn dựng, khiên cưỡng.

    Khuyết điểm hiện tại: viết quá lan man, thiếu vốn từ trầm trọng, lạm dụng khẩu ngữ phương ngữ, câu cú không mạch lạc, thiếu nhịp điệu. Văn chương cũng như một điệu nhạc, cần biết chỗ nào nên nhấn nhá, chỗ nào nên buông lỏng, chỗ nào cần đẩy nhanh, chỗ nào cần nán lại. Hiện tại tôi đang viết quá dài dòng cho những phần cần ngắn gọn và quá sơ sài cho những phần cần tỉ mỉ. Ít ra cũng tự nhủ bản thân còn tự nhìn nhận được các khuyết điểm ở mình. Sẽ cật lực bổ khuyết.

    Thêm một điều cuối: tôi có khuynh hướng tuyệt thực vì viết. Tôi chẳng thiết ăn, ngâm ở một chỗ quá lâu (thường từ ba đến bốn tiếng). Hẳn tôi sẽ không thể sáng tác lâu dài với cái lối làm việc lao lực thế này. Sẽ cần đề ra phương hướng giải quyết. Không biết nữa… Tôi vừa muốn viết kiệt tác vừa muốn sống lâu.

    Sáng nay tôi hoàn thành Một anh hùng thời đại của Lermontov. Đây là lần đọc thứ hai, tác phẩm hay đến mức tôi trân quý cuốn sách mỏng dẹt với những trang giấy ố vàng như một bảo vật thiêng liêng nhất. Tôi không hiểu tại sao một chàng trai hai nhăm tuổi có thể viết được những dòng như thế. Vào tôi, chắc phải sống đến cả nghìn năm.

    À, tôi vừa mua Từ điển chính tả tiếng Việt.


    Ngày 12 tháng Tám năm 2025,

    Chúng tôi cập bến Giáp Bát vào sáu rưỡi sáng, trở về sau chuyến đi ba ngày hai đêm tới Đà Nẵng. Vùng đất tuyệt đẹp! Lại còn Huế nữa, quả là chốn thiên đường để nghỉ hưu…


    Ngày 13 tháng Tám năm 2025,

    Hôm nay tôi dậy sớm, chừng sáu rưỡi. Tôi ngồi vào bàn từ bảy giờ nhưng tới tám giờ, tức là khi Hương cuốn gói, tôi mới có thể bắt tay sửa chữa bản thảo. Tôi cố gắng đẽo gọt câu văn của mình cho thật gãy gọn, bớt diêm dúa, bỏ đi những thứ hoa lá cành…

    Trên văn phòng tôi đọc Chỉ tại con chích choè của Dương Tường và Looking Back của Somerset Maugham. Tôi làm việc năng suất, hơi hài lòng, và tối về chúng tôi cùng nấu ăn. Tôi chưa biết nên chi tiêu buổi tối của mình thế nào cho hiệu quả – hiện tại tôi chỉ đọc sách rồi đi ngủ. Thi thoảng tôi muốn dịch thuật nhưng việc này tốn thời gian và vốn từ của tôi còn hạn hẹp, nên trước mắt tôi sẽ tự bổ túc lấy một khoá.


    Ngày 14 tháng Tám năm 2025,

    TikTok là một trò hề. Bất cứ điều gì xổ ra ở trên nền tảng này đều phải kèm theo cụm “ý kiến riêng”. Mà, kể cả thế, vẫn sẽ vô số thành phần nhảy vào táp bạn, hoặc, tử tế hơn, ra giọng thầy tu rao giảng. Tối qua có một lão già bình luận vào bài đăng “chê” vài cuốn sách kinh điển của tôi, lão dạy tôi cần đọc thế nào, ra sao, nhìn chung được hưởng ứng rất nhiệt liệt. Lão biến tường nhà tôi thành cái bục giảng à? Chà, tôi chỉ lặng lặng xoá cái bình luận được hơn 1.000 tim đó đi, rồi tôi đóng luôn hộp comment. Và có lẽ khi chán rồi tôi sẽ xoá luôn cái bài đăng đấy (gần đây tôi đã xoá kha khá), hoặc đến một ngày sẽ xoá luôn cái kênh TikTok ấy đi. Mệt mỏi! Chỉ có ở đây tôi mới được là chính mình.


    Tôi có quá nhiều điều muốn nói đến nỗi không thể lãng phí một từ nào.


    Ngày 15 tháng Tám năm 2025,

    Kẻ thù của nhà văn

    … Nhưng nguy cơ lớn nhất đe dọa nhà văn chuyên nghiệp là điều đáng tiếc mà chỉ ít người phải đề phòng. Thành công. Đây là điều khó khăn nhất mà nhà văn phải đối mặt. Sau một cuộc đấu tranh dài dặc và gian khổ, khi sau cùng anh ta đạt được thành công, anh ta phát hiện ra rằng nó giăng ra một cái bẫy làm vướng chân và hủy hoại anh ta. Ít ai trong chúng ta có quyết tâm để tránh những nguy hiểm đó. Nó phải được đối phó một cách cẩn trọng. Quan niệm phổ biến rằng thành công làm hư hỏng con người bằng cách khiến họ kiêu ngạo, ích kỷ và tự mãn là sai lầm; trái lại, phần lớn nó giúp họ trở nên khiêm tốn, khoan dung và nhân hậu. Thất bại khiến con người trở nên cay độc và tàn nhẫn. Thành công cải thiện nhân cách của con người; nó không phải lúc nào cũng cải thiện nhân cách của tác giả. Nó có thể tước đi sức mạnh đã mang lại thành công cho anh ta. Cá tính của anh ta được hình thành bởi những trải nghiệm, những cuộc đấu tranh, những hy vọng tan vỡ, những nỗ lực thích nghi với một thế giới thù địch; nó phải rất ngoan cường nếu không bị ảnh hưởng bởi những tác động làm mềm của thành công.

    Thành công thường ẩn chứa trong nó hạt mầm của sự hủy diệt, vì nó có thể chia cắt tác giả khỏi nguồn cảm hứng đã tạo nên nó. Y bước vào một thế giới mới. Y được coi trọng. Y phải gần như thoát phàm nếu không bị cuốn hút bởi sự chú ý của những người quyền quý và lãnh đạm trước sự quan tâm của những phụ nữ xinh đẹp. Y quen với một lối sống khác, có lẽ sang trọng hơn cách y từng sống, và với những người giàu phong thái xã hội hơn những người y từng giao du trước đây. Họ thông minh hơn và sự rạng rỡ bề ngoài của họ rất cuốn hút. Làm sao y có thể tự do di chuyển trong những giới quen thuộc từng trao cho y đề tài sáng tác? Thành công khiến những người bạn cũ nhìn y khác đi và họ không còn cảm thấy thoải mái khi ở bên y. Họ có thể nhìn y với sự ghen tị hoặc ngưỡng mộ, nhưng không còn coi y là một trong số họ. Thế giới mới mà thành công đã đưa y vào kích thích trí tưởng tượng của y và y viết về nó; nhưng y nhìn nó từ bên ngoài và không bao giờ có thể thâm nhập vào nó đến mức trở thành một phần của nó. Không có ví dụ nào tốt hơn để minh họa điều này hơn Arnold Bennett. Ông chưa từng biết cặn kẽ điều gì ngoài cuộc sống của Five Towns là nơi ông sinh trưởng, và chỉ khi ông viết về chúng, tác phẩm của ông mới có sức sống. Khi thành công đưa ông vào giới văn chương, giới thượng lưu và những phụ nữ thông minh, và ông ra sức nghiên cứu họ, những gì ông viết thành ra vô giá trị. Thành công đã hủy hoại ông.

    (The Summing Up, Maugham)


    Ngày 16 tháng Tám năm 2025,

    Tôi có theo dõi một nhà văn trên Facebook, khá tên tuổi, đã xuất bản trên dưới 10 tác phẩm, nhưng chuyên về tiểu thuyết lịch sử. Vài lần bắt gặp sách của anh ta ở trong thư viện công cộng, tôi cũng tò mò giở đọc thử. Một giọng văn khinh bạc và trào lộng khiếp! Tất nhiên chỉ đọc vài trang mà bình phẩm như thế xem chừng phiến diện, nhưng tôi tin tưởng vào cảm nghĩ của riêng tôi, và không đòi hỏi cũng như tìm kiếm ai phải nghĩ giống mình. Ban đầu tôi theo dõi nhà văn này chỉ vì anh ta là biên tập viên của một tờ báo mà tôi muốn gửi truyện ngắn đến. Bản thảo của tôi bị từ chối, sau ba, bốn lần tôi nhắn tin giục giã (máu tôi lúc nào cũng sôi lên!); hoàn toàn không có lời khen, nhưng chê bai thì cũng không hẳn, nếu có, hẳn nó rất nhẹ nhàng đến mức tôi hài lòng chấp nhận. Cơ bản anh ta đã chỉ ra phần lớn những thiếu sót mà chính tôi cũng nhận thấy được. Nhà văn này không chỉ độc một ngón viết lách mà còn dạy viết lách. Thi thoảng tôi bắt gặp vài bài khoe học trò – phần lớn là những cây viết không trẻ cũng không già, hiển nhiên là có năng lực, tôi tin thế, dù tôi chưa bao giờ đọc trọn vẹn một truyện ngắn của họ. Tôi chỉ nghĩ rằng ở tuổi ba mươi, bốn mươi mà họ vẫn nuôi mộng với con chữ ắt hẳn họ phải tâm huyết lắm. Tôi viết lan man thế này chỉ để thông báo với bạn rằng tôi sẽ ngừng theo dõi nhà văn kia. Anh ta bợ đít Nguyễn Huy Thiệp (phải nói là rất tinh tế vì nhà văn này đã qua đời), Nguyễn Quang Thiều, và giờ là đến Y Ban. Ban đầu tôi nghĩ đó chỉ là những dòng tuỳ bút (vì các nhà văn thường khen ngợi, nhiều khi tâng bốc lẫn nhau rất nhiều, đặc biệt nhiều nữa khi âm dương cách biệt), nhưng giờ tôi đoan chắc đó là bợ đít. Tôi không hiểu, hay văn chương phải như thế?

    Nhân tiện, gần đây tôi hơi bỏ bê bên này, tôi viết nhiều bên Tản mạn văn chương hơn. Và cuối cùng tôi cũng viết xong truyện ngắn Làng . Tôi sẽ tạm thời ngưng sáng tác dăm ba tuần. Tôi đang sửa soạn đồ. Hơn tháng rồi tôi chưa về thăm quê.


    Ngày 17 tháng Tám năm 2025,

    Sáng tôi dậy sớm, hồi sáu giờ kém mười lăm. Tôi quyết định tản bộ dọc theo đường ray một vòng, băng ngang qua mô đất trồng keo, nơi ngày bé lũ trẻ con chúng tôi thường tụ tập, và tôi cảm tưởng như cả tuổi thơ của mình đã chỉ trôi qua ở đó, gói gọn trong đó. Bảy giờ ba mươi tôi đi ăn sáng cùng Bờm. Rồi đi bắn bida, chơi điện tử; về nhà, tôi đọc hú hoạ cho Thư nghe vài chuyện cổ tích, hình như là Sự tích con cá mập, và tôi ăn bữa ăn đạm bạc cùng ông bà. Tôi mang sáu quyển sách về nhưng không đọc quyển nào.


    Ngày 20 tháng Tám năm 2025,

    Tôi vừa nhận cuốn Người thợ dệt ở Raveloe (nguyên tác: Silas Marner) từ Phúc Minh Books. Và tôi tự hào tuyên bố rằng tôi đã có trong tay cuốn Những linh hồn chết của Gogol.


    Ngày 21 tháng Tám năm 2025,

    “Cô ấy được bộ mặt đẹp tuyệt.”

    “Mặt thì quan trọng gì?”


    Ngày 22 tháng Tám năm 2025,

    Đã vào cuối tháng Tám, còn tôi đang mong tới tháng Mười. Hôm nay lúc leo cầu thang, tự dưng tôi thèm viết kỳ lạ, nhưng khi leo đến những bậc trên cùng thì tôi lại không muốn viết nữa, càng lên cao cảm hứng càng xuống thấp. Tôi sẽ viết cái gì đây?


    Ngày 23 tháng Tám năm 2025,

    “Chàng buồn rầu nghĩ đến khoảng cách giữa chàng và họ, và cay đắng nghĩ mình đã từng ước mơ thật nhiều nhưng kết quả chẳng bao nhiêu. Đối với chàng dường như những năm tháng ấy đã vĩnh viễn qua đi không trở lại và hoàn toàn uổng phí.”


    Ngày 27 tháng Tám năm 2025,

    Miền trong hẳn đã đối đãi rất tốt với Tuấn. Anh bạn của tôi vẫn cao, nhưng giờ thì đậm người, to ngang, chóp đầu nhọn, mái tóc nham nhở mà tôi sẽ gọi là tóc chó gặm. Anh ta vẫn ăn nói ngắc ngứ, có cái tật hay gãi khắp người như người ghẻ, dễ ngủ và ngủ ngáy. Anh ta đã thôi đọc sách, tôi đoán thế, vì giữa chừng của cuộc trò chuyện khi tôi hỏi rằng anh ta làm gì vào thời gian rảnh, anh ta đáp trả một cách mông lung. Sau khi hoàn thành chương trình chính quy trên trường đại học, Tuấn xin vào thực tập ở khách sạn hiện tại và trụ lại đó cho tới giờ. Tính chất công việc không cho phép anh ta được về thăm nhà vào dịp lễ lạt, thẳng hoặc anh về cũng chỉ vì có công chuyện cấp bách, không thể không về, như lần này chẳng hạn. Khách sạn nơi anh ta làm việc thuộc hàng cao cấp, kiểu khách sạn nghỉ dưỡng chìm lút trong rừng, được bao quanh bởi một lối đi quanh co lát đá hoa cương và khi đi bạn có thể trông thẳng xuống biển. Một khung cảnh mê ly, thi thoảng bọn nhân viên cũng rủ nhau xuống tắm, nhưng chung quy nhìn lâu thì cảnh vui cũng hoá nhàm, và tôi không bất ngờ nếu Tuấn nói rằng bây giờ cảnh sắc ấy đối với anh ta cũng chỉ giống như cái màn hình TV. Khu đó có rất nhiều rắn, rắn hổ mang, rắn cạp nong, cạp nia, và đôi khi khách khứa nằm im nhìn chúng trườn trên sàn phòng mình, như ở Úc; có cả những câu chuyện nhân viên bị ma giấu vào rừng, tát chục cái chưa tỉnh, và khi tỉnh dậy lại chẳng nhớ mô tê chi; có những chuyện trai gái, chuyện đánh ghen, chuyện mật thám được thuê tới theo dõi một ông chồng ngoại tình, gã mật thám chìa thẳng camera vào mặt ông chồng và hôm sau khách sạn ăn một đơn kiện. Nhân viên được bao ăn bao ở, có căng tin, khi rảnh thì rất rảnh và ngược lại; họ sống bốn người một phòng như thể phòng ký túc, và bắt cặp với nhau. Tuấn hẹn hò với một chị gái hơn mình bốn tuổi, khá nhỏ con, tôi nghĩ thế, tính tình cũng hồn nhiên. Quê chị ta ở Phú Yên và theo những gì nghe được, tôi đoán chừng chị chàng không muốn về làm dâu ở quê chúng tôi. Còn khách hàng của khách sạn là những người tách biệt với phần đông như thể họ sống ở một thế giới khác hay một chiều không gian khác. Họ giàu có, no đủ, làm những công việc quan trọng. Tuấn nói rằng anh không nghĩ người Việt giàu tới thế. Anh cũng kể với tôi rằng có những đoàn thương gia nước ngoài lái phi cơ riêng sang Việt Nam, và mỗi bận như vậy cả khách sạn lại rối rít chuẩn bị trước cả tuần trời. Cuối cùng họ đến, tiêu tiền thả cửa, đám nhân viên đi qua đi lại, thấp thỏm trước từng cái nhăn mặt của khách tại bàn ăn, còn sếp sòng luôn sẵn sàng hoàn trả cả tỷ đồng cho mỗi vụ rầy rà. Tiền boa đôi khi vượt quá lương cứng, và nếu là quản gia thì đây được coi là chuyện mặc nhiên. Nhưng lũ Tàu và Ấn Độ boa không hậu, đôi khi còn không boa, và tất thảy cùng chưng hửng vì sau nhiều ngày ròng rã nai lưng phục dịch (tôi xin lỗi vì đã dùng một cách diễn đạt thô thiển thế này), thậm chí chúng không nhả ra một đồng kẽm. Đám nhân viên nhìn theo chúng đầy hằn học. Khách Tây thì hào phóng hơn, dù túi tiền chưa chắc đã rủng rỉnh bằng, nhưng họ giữ một quy tắc ngầm là tiền boa ít nhất sẽ rơi vào độ 5% tổng hoá đơn. Tôi nghĩ anh bạn Tuấn của tôi khi phục vụ họ hẳn đã tính nhẩm rất nhiều.


    Ngày 4 tháng Chín năm 2025,

    Tôi quyết định đọc bằng hết Đồi gió hú, cuốn sách mà tôi từng hai lần bỏ ngang. Tôi định mua Bánh ngọt và rượu bia của Maugham ở Nhã Nam, chính bản dịch quá tồi, tự tay tôi dịch còn tốt hơn.


    Ngày 5 tháng Chín năm 2025,

    Sau khi bố mẹ qua đời, tôi được ông bà nội đón về nuôi dưỡng. Trước những lời đe nẹt của bà nội về một cuộc sống nhọc nhằn đang đón chờ tôi nếu tôi không chịu khó làm bài tập về nhà, tôi đã tin như tin tôi là con của bố mẹ tôi vậy. Như mọi đứa bé cùng tuổi, tôi được gửi tới trường làng; tôi được phong làm lớp trưởng, tôi học thuộc các bài văn mẫu, khóc khi không làm được bài; tôi mót ra quần khi tập viết chính tả; tôi thả hai tay phóng xe trên đường đi học; tôi chở chè tới biếu bà giáo để được ưu tiên. Nếu tôi là một khúc gỗ xù xì thì hẳn bà tôi là một nghệ nhân, bà ra sức đẽo gọt, tỉa tót và ngắm nhìn tôi với niềm tự hào vô biên như một nghệ sĩ ngắm nhìn kiệt tác của mình. Dù sao thì, tôi xin thú nhận, tôi đã nghe lời bà, tôi tỏ ra lanh lẹ, được việc, do đó được thầy yêu bạn mến; tôi học hành rất tấn tới, dù phần lớn chỉ toàn ăn may. Nhân vụ này, tôi có một chuyện muốn kể. Năm mười một tuổi, tôi được gửi đến trường chuyên trên thành phố nhờ đã quay cóp thành công bài làm của một cậu bạn ngồi bên. Tôi vẫn nhớ cậu ta có khuôn mặt trắng bệch như người bạch tạng, thân hình còi cọc, đeo mắt kính dày cộp và dùng bút mực tím. Cậu ta để mặc tôi thích chép bài cậu ra sao thì ra. Như thế, tôi giành được học bổng và ngang nhiên bước vào ngôi trường mới, trên thị trấn, thâm tâm không khỏi dằn vặt vì sự thật kia, nhưng tôi đủ tỉnh táo và hèn nhát để giữ điều đó cho riêng mình.

    Lần vỡ mộng đầu tiên đến với tôi ngay vào những buổi học đầu tiên tại ngôi trường mới. Bà nội đích thân đạp xe chở tôi tới nhập học. Đó là một ngôi trường cũ, với cánh cổng cao bằng thép quét sơn màu đỏ gạch, có những thanh sắt như những mũi giáo chĩa thẳng lên mái vòm uốn cong hình bán nguyệt. Trời trong xanh, nắng chan hoà, không khí dịu nhẹ, thoáng đãng; gió hây hây làm lòng ta phấn chấn, mơ mộng. Cánh cổng đồ sộ nom lạc lõng giữa cảnh náo động chung quanh, như một đứa bé lầm lì lạc giữa một đàn anh chị em rặt lũ hiếu động; người ta thường đóng cổng luôn, chỉ có cánh cửa phụ giáp phòng bảo vệ mở he hé; trong gian phòng ọp ẹp ngồi trên giường một ông bảo vệ mặc đồng phục tươm tất, râu ria, gầy gò, khuôn mặt đôn hậu, trông lúc nào cũng như đang gà gật; khi có khách, ông ta nhướn mày, nhổm về phía trước, chường bản mặt nhăn nheo như quả táo héo tới sát hàng chấn song bằng gỗ, dò xét một hồi rồi nói, giọng ề à:

    “Này, đi đâu đấy, chị kia?”

    Bà tôi có vẻ hơi hốt khi có người gọi bà bằng “chị”. Bà mỉm cười thân ái chào ông bảo vệ, đáp:

    “Bác cho tôi hỏi, lớp 6B ở đâu ấy nhỉ? Nay thằng bé nhà tôi nhập học.”

    Bà liếc sang tôi.

    “Con út đấy hả?” ông bảo vệ nhìn tôi săm soi rồi nói, trong âm giọng có vẻ gì như giễu cợt.

    “Ối chao, bác khéo đùa! Đây cháu nội. Kìa, chào bác đi chứ.”

    Tôi cúi đầu chào ông ta theo đúng phép tắc. Bà tôi gật đầu hài lòng, và sau khi trao đổi, chỉ trỏ, rồi vỗ cả vai nhau, bà bảo tôi đứng đợi một lát và một mình rảo bước về phía nhà để xe. Tôi đứng lặng, gần như choáng ngợp trước quang cảnh rộng lớn bày ra trước mắt: một dãy nhà quét vôi vàng chạy dài, những khung cửa gỗ, lớp rêu bám trên nền gạch dưới chân tôi, và đám học sinh cuối cấp cao lớn tồng ngồng đang rượt đuổi theo một trái bóng nhựa màu xanh lá cây. Tôi đảo mắt một vòng và đột nhiên cảm thấy rùng mình vì sự vắng mặt của người bà bệ vệ; tôi phóng tầm mắt và thấy chiếc áo sơ mi màu xanh lốm đốm hoa huệ của bà. Bà tôi, dáng thấp thỏm, tay cầm nón, nheo nheo mắt ngó qua hàng lan can. Một quả bóng lăn ngang chân tôi, tôi suýt nữa đã giơ chân ra đá, nhưng liền đó mấy thằng trai đã bổ nhào theo, đưa lại mùi mồ hôi chua ngòm làm tôi bất giác bịt mũi. Hôi quá!

    … Lớp tôi gồm năm mươi hai người, trong khi giới hạn cho phép của một lớp học trung bình rơi vào tầm bốn mươi em. Có bốn đứa tên Trang, ba đứa tên Tùng; năm đứa ngồi một bàn dài, và hầu như đứa nào đứa nấy cũng cận lòi mắt. Có vài cậu bé rất cao, có lẽ phải hơn tôi một đến hai cái đầu; lũ con gái thành phố cũng to lớn, chúng nhìn tôi với bộ điệu khinh khỉnh và dè chừng khi tiếp xúc với tôi. Tôi đã rất buồn khổ và thường xuyên mò về trường quê, nơi các bạn cũ của tôi đang theo học cấp hai, đóng giả làm một học sinh mới chuyển đến và vào lớp dự giảng như bình thường. Tôi có một mối tình keo sơn với một cô bé quê kệch mà theo đằng nội tôi phải gọi em ấy bằng cô. Cuộc sống của tôi ở ngôi trường mới thoạt đầu rất khốn khổ, tôi cảm thấy cô quạnh, lẻ loi, hoàn toàn không tìm được bạn tâm giao. Hơn nữa, tôi nhanh chóng ngộ ra sự ngu độn của bản thân, như một con cá trước nay chỉ vùng vẫy trong ao giờ bị quăng ra giữa biển. Dần dà tôi bắt đầu để ý tới những đứa có hoàn cảnh giống mình, ít nhất là về bộ dạng. Đám trẻ thành phố thường ăn mặc tươm tất, tính tình nếu không khó gần thì cũng kẻ cả; nhưng những đứa nhà quê như tôi thì luôn ăn bận giản dị, tính tình chân chất, nhút nhát. Tôi rất bất ngờ khi chúng bạn không lấy gì làm ngạc nhiên khi biết tôi là trẻ mồ côi; chúng nói trong lớp cũng có vài bạn như thế. Thằng Tuấn, một thằng cao lênh khênh, chân tay èo uột như loài nhuyễn thể, có giọng nói ngắc ngứ, vừa mất mẹ năm ngoái. Một buổi trưa sau khi tan học, bố nó ra đón nó ngay ở đầu ngõ và bảo rằng mẹ nó chết rồi. Nó lẩn thẩn một vòng quanh thị trấn, cả chiều hôm đó không thấy đâu, và tối nó trở về nhà ăn tối như thường lệ. Nó không khóc, điều này làm tôi sốc tận óc. Ngoài ra trong lớp còn có một bạn, khi chúng tôi nhập học chưa được ba tuần, con bé đó tên là Ngọc Anh. Tôi biết nó từ trước, nó cùng học cấp một với tôi và cũng thuộc diện học bổng giống tôi. Bố nó bị ung thư gan đã lâu, và lúc ông nội nó tới đứng trước ngưỡng cửa, nhìn quanh quất khắp phòng tìm cháu; mắt ông đỏ hoe, vẻ bối rối, nó nhìn lại ông và la toáng lên. Mọi người đều biết thế là bố nó toi rồi! Nhưng trong lớp cũng có những đứa trắng trợn nói rằng bố hoặc mẹ nó đã về chầu tiên tổ, mà nguyên do chỉ vì bố mẹ nó đã ly hôn và nó nghĩ tốt hơn là coi đấng sinh thành mà nó căm ghét chết rồi còn hơn. Rồi đến tôi, bố mẹ chết cả vì tai nạn, trong trường có vài vụ tương tự, mỗi năm một lần chúng tôi được trao một giỏ quà khích lệ, gồm dầu ăn, nước tương, cà phê, đậu phộng, nói chung là không mấy đáng kể và chúng bạn chỉ thở dài nuối tiếc khi vô tình chạm tới vấn đề trên; chúng sợ tôi sẽ buồn, dù tôi chẳng mảy may cảm thấy điều gì. Tôi không nhớ gì về bố mẹ mình, tôi chưa từng cảm nhận được sự hiện diện của họ và do đó không cảm nhận được khi thiếu vắng họ thì đời sống của tôi sẽ thay đổi ra sao. Tôi giữ tâm thế thản nhiên của một kẻ mù bẩm sinh, hoàn toàn không nhận thức được nỗi đau đớn của một kẻ từng được ông trời trao cho một đôi mắt để rồi bị chính Người tước đoạt đi.

    Có một đứa bé mồ côi trong lớp mà không ai dám bén mảng tới. Đó là Hà. Bố nó mất vì căn bệnh thế kỷ, mẹ nó thủ tiết hơn chục năm nay, nhưng trông nó hoàn toàn đủ đầy như bất cứ đứa trẻ thành phố nào. Nó không làm đỏm, nhưng ăn mặc tươm tất, gọn gàng và mấy cái búi tóc xinh xinh vấn cao trông phát mê lên được. Thành thật mà nói thì nó không đẹp, nhưng xấu thì cũng không hẳn, nếu buộc phải khen thì tôi sẽ khen nó có duyên. Mặt vuông bèn bẹt, cằm nhô, mũi tẹt, gần như không có lông mày, miệng nhỏ, môi mỏng. Nó chinh phục đám trai trong lớp bằng vẻ nhũn nhặn, gia giáo, bằng điệu cười duyên dáng cho thấy nó hoàn toàn chú tâm lắng nghe câu chuyện của bạn, nó có cái thói vỗ nhẹ vào tay người đối diện để tỏ rằng nó thích thú ra sao. Đó là một cô gái lớn trước tuổi, cả về thể chất lẫn tinh thần; ngực cao, nhọn qua lần vải mỏng của áo đồng phục, quần jean xanh bó tôn lên cặp mông nở nang, một đặc điểm gia truyền; con bé nói năng như khướu, phân định yêu ghét rất rõ rệt, ở nó toát ra một bầu nhiệt huyết khiến những người quen thân với nó cảm tưởng như họ đang nắm giữ một ưu thế so với đám thần dân kia vốn chẳng bao giờ được vị nữ thần ngó ngàng tới. Bây giờ thật kỳ lạ khi nhớ rằng tôi và đám trai trong lớp đã mê đắm con bé điệu đàng ấy ra sao, nhưng hỡi ôi, hãy đổ lỗi cho sự ngờ nghệch của lứa tuổi và đôi mắt của kẻ si tình.

    Không mất nhiều thời gian để tôi phát hiện ra mình đã yêu. Phải, tôi đã yêu! Tôi có cơ may được đánh bạn với Hà, và tôi nuôi giữ một tình cảm mến với nó mà giây phút ấy tôi tưởng chừng chỉ cái chết mới có thể định đoạt. Tôi lân la tán tỉnh cô bé, và rồi cô bé mời tôi đến nhà chơi. Mẹ cô làm việc ở quầy dược phẩm ngoài chợ và do đó vắng mặt cả ngày. Trong gian phòng chật chội sặc mùi nhà thương (mẹ cô chất đống thuốc thang trong nhà), tôi được tiếp đãi long trọng như một thịnh khách, với trà nhạt và bánh quy để trong các hộp đựng mà ở quê tôi người ta hay dùng để chất kim chỉ; biết tôi thích đọc sách, cô thân hành dẫn tôi ra hiệu sách thành phố, lượn qua lượn lại, tay chắp sau lưng, đầu gật gù như một viên giám thị, và nhướn mày, cô nói:

    “Thích cuốn nào thì chọn đi.”

    Tôi chọn một tiểu thuyết ngôn tình, loại đóng bìa cứng trắng tinh. Hà thanh toán tiền và tôi xách túi đồ lẽo đẽo theo sau. Lúc chia tay, cô tiễn tôi ra đầu ngõ, dúi cuốn sách vào tay tôi, và nhanh nhảu ấn định thời gian cho buổi gặp tới. Tôi đạp xe như bay trên đường và thấy cuộc đời sao mà ý vị, đáng sống đến thế!

    Tôi trở lại thăm Hà, và vì những rung cảm tinh thần dần chuyển thành thể xác, tôi tiếp tục trở lại.

    Ít lâu sau thì cả lớp đã biết chuyện trai gái giữa hai chúng tôi. Tôi không hiểu tại sao chúng nó phải bận tâm đến hai đứa tôi nhiều tới thế. Thoạt đầu tôi dự tính chống đỡ theo lối chủ hoà, nhưng Hà lại bạo dạn hơn tôi tưởng nhiều. Rắn như đanh, cô khẳng định chúng tôi đang quen nhau, và dù không nói ra, tôi biết cô mong ở tôi một động thái quyết đoán tương tự. Tất nhiên tôi yêu cô, nhưng tôi chỉ yêu ở chừng mực vừa phải thôi và tôi không muốn những màn tán tỉnh công nhiên nó phương hại tới uy tín của tôi trong lớp học. Tôi rất nhút nhát, là một thằng bé ốm yếu, mắt lên lẹo hai dịp trong năm, thân hình chìm lút trong chiếc áo sơ mi quá khổ, mà lũ trẻ trong lớp độc miệng bảo tôi mặc áo của bố dù chúng biết tỏng bố tôi đã chết lâu rồi. Giờ thì tôi thấy Hà sao mà kệch cỡm, thô thiển đến thế! Cô ta cứ xía vào những chuyện riêng tư của tôi, cô ta lên giọng mạt sát đám bạn dám đem hoàn cảnh côi cút của tôi ra bỡn cợt, và tôi biết lắm chứ, tôi biết vài đứa ác khẩu sẵn lòng đốp vào mặt chúng tôi là: “Mày bênh nó cũng phải thôi, vì chúng mày cùng một giuộc với nhau mà!” Tất nhiên mọi suy nghĩ này hoàn toàn do tôi tưởng tượng ra, nhưng đâu ai biết miệng lưỡi thế gian có thể cay độc thế nào. Tôi tủi hổ cùng cực và đâm thẹn vì sự quá khích của người yêu, dù tôi biết đó là hành động cao thượng chỉ có thể xuất phát từ một tình yêu, một tâm hồn và trên cả, là sự đồng cảm lớn lao.

    Vài tuần trôi qua. Tôi dần nhích ra khỏi sự bao bọc của Hà và kỳ lạ thay, đi nhập hội với những đứa vẫn luôn nhìn tôi bằng ánh mắt khinh miệt. Tôi không biết! Tôi những tưởng rằng việc đánh bạn với chúng sẽ chứng tỏ rằng tôi chai lì, tôi là một chính nhân quân tử, lòng lim dạ sắt, hoàn toàn trơ lì trước những lời xỏ xiên châm chích. Cùng lúc tôi vẫn lén lút đến chơi nhà Hà, thản nhiên lợi dụng tấm lòng quảng đại của cô và đôi bận còn gạ gẫm chút đỉnh. Cô bảo tôi rằng chúng tôi còn bé quá và nếu lớn thêm chút thì cô sẽ chẳng khước tôi điều gì. Tôi vui như mở cờ trong bụng, nhưng đồng thời kiên quyết không để những cuộc tình riêng tư này lọt ra ngoài. Tôi yêu cầu phải giữ kín mối quan hệ giữa chúng tôi, trên lớp không được tỏ ra chú ý đến tôi và ngược lại tôi cũng sẽ làm vậy. Khi tôi nói những điều này cô đơ ra một thoáng, rồi nhìn tôi bằng ánh mắt trách móc, môi mấp máy như sắp tuôn ra một tràng sỉ vả. Nhưng cuối cùng cô chỉ đáp cụt lủn:

    “Được thôi.”

    “Nhất trí thế nhé,” tôi nói.

    Tôi ngả người gối đầu lên đùi cô và giơ tay nghịch đám tóc mai lơ thơ của cô. Cô đón nhận mọi ve vuốt một cách hững hờ, mắt nhìn vô định. Trước khi ra về, lúc tôi dắt xe qua cổng và cố ý nán lại để chờ một nụ hôn, như thường lệ, thì cô lùi về sau và nói xẵng:

    “Khốn nạn!”

    Tôi nghiền ngẫm câu nói đó trên đường về và thâm tâm cảm thấy dằn vặt dữ dội. Tôi hoàn toàn không thể chối cãi điều đó.


    Ngày 6, 7 & 8 tháng Chín năm 2025,

    Điểm xem mấy ngày qua đã làm được gì nào…

    Không gì cả!

    Đọc hết Đồi gió hú, thay đổi hoàn toàn quan điểm về tiểu thuyết này, và đọc trọn Một cuộc đời của Maupassant trong chủ nhật. Bắt đầu đọc sách triết học, chuẩn bị đọc Spinoza. Hiện tại đang đọc cuốn Quyền lực của Russell (không hiểu mấy). Nhận ra bản thân ngu độn đến mức nào. Đang đọc dở Tom Jones của Fielding.


    Ngày 9 tháng Chín năm 2025,

    Tôi đếm từng ngày cho tới tháng Mười. Sáng tôi dậy sớm, nhưng phải làm những việc tôi không ưa. Tôi cảm tưởng mình đang lê lết qua những ngày dài lê thê và vô vị này. Hoàn toàn không có chút động lực nào.


    Ngày 10 tháng Chín năm 2025,

    Một ngày buồn tẻ. Thức dậy, đi làm, ngủ trưa, đi dạo giữa giờ làm, về nhà, ăn cơm bụi, tắm rửa và đọc Tom Jones.


    Ngày 25 tháng Chín năm 2025,

    Bắt đầu viết trở lại từ ba hôm nay.

    ***

    Chúng ta nghe nhiều lời than phiền rằng các nhà văn ngày nay đều đến các trường đại học, sống đàng hoàng thay vì ra ngoài tìm thông tin trực tiếp về cuộc sống. Sự thật là bất kỳ ai sống sót qua tuổi thơ đã có đủ thông tin về cuộc sống để dùng suốt đời. Nếu bạn không thể làm gì đó từ một ít trải nghiệm, có lẽ nhiều trải nghiệm cũng chẳng giúp ích hơn. Công việc của nhà văn là chiêm nghiệm trải nghiệm, không phải hòa mình vào nó.


    Ngày 27 tháng Chín năm 2025,

    Hôm nay tôi ngồi ở bàn làm việc năm tiếng trời nhưng không viết được gì ra hồn. Bằng một nỗ lực tuyệt vọng tôi cũng dứt ra được để đứng dậy, hâm lại đồ và ăn trưa. Trong lúc ăn, tôi xem Jojo Rabbit, đọc một vài truyện của Bunin (rất buồn, như mọi khi), rồi gần bốn giờ cố gắng chợp mắt tí chút. Khi trở dậy thì chân trời đằng xa đã nhuốm màu hồng cam phơn phớt, trời sáng sủa và nóng nực, nhưng chỉ lát sau gió đã ùa về. Tôi hơi lười và quyết định trong lúc đầu óc trì trệ, sẽ đọc lại truyện ngắn Tanhia của Bunin, và tôi đã đọc rất cẩn trọng. Tôi vẫn không hiểu sao ông ta có thể viết hay được đến thế.


    Ngày 28 tháng Chín năm 2025,

    Cách tôi viết

    (I. A. Bunin)

    Tôi viết thế nào nhỉ? Hồi trẻ, tôi rất đãng trí. Tôi luôn muốn viết, nhưng đồng thời cũng muốn sống, nên việc viết lách không phải lúc nào cũng diễn ra như tôi mong đợi. Hồi trẻ, tôi gần như lúc nào cũng viết quá vội vàng, bừa bãi. Ngày ấy tôi cũng vậy thôi, trong khi mọi người viết về tôi như thể tôi có một cách viết tuyệt vời trong từng câu chữ vậy.

    …Sáng tạo câu chữ! Nhưng tôi chưa bao giờ làm vậy cả. Mà “sáng tạo” là gì cơ chứ? Suy cho cùng, đối với một nhà văn, hình thức gắn bó mật thiết với nội dung và bắt nguồn từ đó.

    Sau này, công việc của tôi diễn tiến suôn sẻ hơn, bình thản hơn. Tôi đã quen làm việc trong sự yên bình – thành thử, tôi thường lui về nơi cô độc, về miền quê, hoặc như sau này tôi đã làm, là về Ý, về Capri. Nhưng tôi luôn viết một cách say mê. Tôi ngồi xuống viết, và điều đó có nghĩa là tôi sẽ nán lại rất lâu, cho đến khi hoàn toàn tự do. Và, tiện đây, tôi không bao giờ viết, và chưa bao giờ viết, vào ban đêm. Nói chung, tôi không làm việc khi tôi lo lắng…

    Cảm hứng viết đến với tôi như thế nào? Thông thường, nó đến hoàn toàn bất ngờ. Cảm hứng viết luôn xuất phát từ một cảm giác phấn khích, một xúc cảm buồn vui, thường gắn liền với một bức tranh nào đó đang bày ra trước mắt, với hình ảnh một con người cụ thể, với một tình cảm con người… Đó chính là khoảnh khắc khởi phát. Đôi khi tôi giấu kín sự khởi phát này trong lòng rất lâu, đôi khi tôi ngồi xuống viết ngay lập tức, nếu điều đó diễn ra ở làng quê, trong im lặng, trong cô đơn, trong một lối mòn công việc. Nhưng điều này hoàn toàn không có nghĩa là, khi cầm bút lên, tôi đã biết trước mọi thứ nói chung mà mình sẽ viết. Điều này hiếm khi xảy ra. Tôi thường bắt đầu công việc của mình không chỉ khi chưa có một cốt truyện rành mạch trong đầu, mà còn chưa hiểu rõ mục đích cuối cùng của nó. Chỉ có ý nghĩa chung nhất mới hiện ra trong tôi khi tôi bắt đầu. Không phải một ý tưởng có sẵn, mà chỉ có ý nghĩa bao quát nhất của tác phẩm mới chiếm hữu tôi vào khoảnh khắc khởi sự này – có thể nói là chỉ có âm điệu của nó. Và tôi thường không biết mình sẽ kết thúc thế nào: đôi khi ta hoàn thành một tác phẩm hoàn toàn khác so với dự tính ban đầu, hoặc thậm chí khác so với khi ta đang làm việc. Nhưng, tôi xin nhắc lại, điều quan trọng nhất là âm điệu tổng thể của toàn bộ tác phẩm phải được xác định ngay từ đầu…

    Đúng vậy, câu đầu tiên rất quan trọng. Trên hết, nó quyết định nhịp điệu của tác phẩm, âm thanh tổng thể của tác phẩm. Và còn một điều nữa. Nếu bạn không thể phát âm đúng âm đầu, chắc chắn bạn sẽ bị nhầm lẫn và gạt nó sang một bên, hoặc đơn giản là vứt nó đi vì nó vô giá trị…

    …Tôi chưa bao giờ viết dưới ảnh hưởng của bất cứ tác nhân nào bên ngoài, mà luôn viết “từ bên trong”. Một điều gì đó phải thoát thai bên trong tôi, và nếu điều đó không tồn tại, tôi không thể viết. Tôi chưa bao giờ có thể, và không thể, cách điệu hóa. Tôi không thể và sẽ không viết “theo tinh thần” của bất cứ điều gì. Tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình bất kỳ nhiệm vụ bên ngoài nào trong văn chương… Khi làm thơ, tôi chưa bao giờ đặt ra cho mình nhiệm vụ cố tình phá vỡ câu thơ, đưa “sự đổi mới” vào đó. Nhân tiện, tôi không phân biệt thơ với văn xuôi. Cả hai đều có cùng nhịp điệu… vấn đề chỉ là thay đổi tiết tấu của nó.

    “Từ bên ngoài” cũng không ảnh hưởng đến tôi theo cách nào khác. Tôi chưa bao giờ được truyền cảm hứng viết lách từ văn chương của người khác. Nhưng dĩ nhiên, tác phẩm hay của người khác luôn khơi dậy khát khao viết lách. Về điểm này, tôi hoàn toàn trái ngược với một nhà văn từng nói rằng khi không muốn viết, ông ta sẽ lấy Kruglov hay Zlatovratsky từ kệ sách ra. “Tệ quá, tôi muốn tự mình viết!” Tôi nhắc lại – bí mật của cảm giác ban đầu thôi thúc một nhà văn sáng tác rất khó nắm bắt. Cảm giác này đã đến với tôi trên cánh đồng, trên đường phố, trên biển, ở nhà, khi đáp lại ánh sáng này hay ánh sáng kia, hay khuôn mặt một người mà tôi gặp, đôi khi trong lúc đọc. Nhưng bằng cách nào? Chỉ một từ, thường là từ bình thường nhất, một cái tên nào đó, đã khơi dậy cảm giác mà từ đó ý chí viết lách được khơi nguồn. Và rồi, bằng cách nào đó, ta ngay lập tức nghe thấy tiếng gọi mà từ đó toàn bộ tác phẩm được sinh ra…


    Thu

    Tôi nhớ hồi nhỏ tôi rất thích mùa hè, mà đúng hơn là thích nghỉ hè. Một ngày, tôi hỏi bà tôi rằng bà thích mùa gì nhất. Bà bảo bà thích nhất là mùa thu.

    “Mùa thu thì có gì mà thích kia chứ! mùa hè của mình đẹp hơn nhiều!” lúc đó tôi đã nghĩ thế…

    Tôi cũng nhớ hồi nhỏ tôi rất ghét mưa. Mưa làm gián đoạn những hoạt động ngoài trời của đám con nít, nhưng nếu cho chúng được bêu đầu ngoài mưa thì chúng lại trầm trồ: “Ồ! hoá ra mưa cũng chẳng tệ lắm!”

    Nhân tiện, tối qua suýt nữa thì tôi dính một cơn cảm mưa.

    Thi cử đã xong xuôi. Tôi chính thức trở lại.


    Ngày 29 tháng 10 năm 2025,

    Gần đây tôi vẫn viết đều. Tôi dậy sớm lắm, thường năm giờ rưỡi là tôi đã tỉnh thao láo rồi.


    Ngày 3 tháng 11 năm 2025,

    Từ hôm nay tôi làm việc tại nhà. Tôi bắt đầu suy nghĩ lại về việc viết lách của bản thân. Tôi dành cho nó quá nhiều thời gian, quá nhiều thể lực lẫn trí lực, nhưng túi tiền thì vẫn mòn vẹt, trong khi chẳng biết bản thân có tài hay không nữa.


    Ngày 21 tháng 11 năm 2025,

    Chiều nay tôi ngồi ở bàn viết trông ra cửa sổ, thấy chân trời đằng xa nhuốm màu đỏ ối của buổi chiều tà. Tôi chẳng viết gì cả, đã hơn tuần nay rồi, thêm nữa tôi không muốn viết cho lắm. Người ta cần tích luỹ bao nhiêu, nhìn ngắm bao nhiêu, dung nạp vào mình bao nhiêu để cho ra một câu văn đích thực? Vả lại còn việc đọc, gần đây tôi thấy chán đọc lắm. Sáng nay tôi nằm thừ trên giường đọc lại Lika của Bunin, có những phút đọc mà như không đọc, có những phút lại cảm nhận sâu sắc, trọn vẹn từng lời văn. Chekhov đã không nói ngoa khi cho rằng ở Bunin có những trang được viết rất tài tình, đến nỗi gây cảm tưởng rằng nếu không phải là ông ấy thì không ai viết nổi cả.

    Buổi trưa tôi bước ra hàng trà đá, mua một bắp cải, hai gói mì tôm, nhưng không trở về ngay, mà đã bị lôi cuốn bởi một con ngõ nhỏ hẹp là nơi người dân thường hay dẻo bộ sáng sáng. Trời có gió nhẹ, nắng vàng hoe, những tán cây như càng thêm xanh tốt, còn bên trên thì bầu trời xanh xanh trong vắt không một gợn mây cứ vời vợi ra mãi. Thế mới nhớ, hồi còn đi học, trong tiết giảng, tôi thường gối đầu lên tay nhìn thơ thẩn ra ngoài cửa sổ, ao ước được hoá thành một cánh chim, tự hình dung mình có một đôi cánh và mình sẽ bay đi đâu, cảm giác trên cao nhìn xuống sẽ ra sao…


    Ngày 22 tháng 11 năm 2025,

    Sáng nay tôi đi thử livestream buổi đầu ở Nhã Nam. Tầng tám. Ngồi cùng tôi là Nhi, cô này kém tôi một tuổi, có gương mặt xinh xắn, mái tóc đen dày búi gọn, nhưng lúc xoã ra thì lọn tóc loăn quăn rủ xuống ngang lưng, trông giống người đàn bà ở logo của Starbucks. Tôi ngồi đủ gần để thấy cô gái dặm phấn khá kĩ, gương mặt cô ta thon gầy, có hàng lông tơ mịn mịn, nhưng trông hơi gớm vì lớp phấn dày cộm. Mọi chuyện diễn ra khá suôn sẻ, thực ra công việc cũng không đến nỗi nào, đơn giản và hanh thông, mong là những ngày kế theo cũng vậy…

    Hôm nay trời không mây, hanh khô, mặt rát cả ngày, đi ngoài đường cũng không vui, tựu chung là mệt. Điều an ủi duy nhất là tôi với Hương đi ăn bánh chưng rán ở quán quen nằm sâu trong ngõ chợ Trung Tự; bà chủ quán tuổi ngoài bốn mươi, người tròn lẳn, mặt bè bè. Lúc chúng tôi mới ngồi vào, bà ta nói:

    “Hai đứa này lâu lắm mới thấy đến!”

    Rồi, lát sau thì:

    “Thế bao giờ thì cưới nhau?”

    Tôi toan lờ đi câu hỏi này nhưng Hương đã huých khẽ vào tay, và tôi nói nhỏ:

    “Còn lâu!”


    Ngày 26 tháng 11 năm 2025,

    Còn hơn tháng nữa là hết năm rồi. Quanh đi ngoảnh lại đã một năm trôi qua, không mấy tiến triển, trái lại, còn có cảm giác như sa đáy.

    Sao mà tôi yêu cái khung cửa sổ phòng tôi vào buổi chiều muộn thế không biết? Hầu như tôi luôn viết những dòng nhật ký thế này vào quãng chiều tà, khi chân trời đằng xa sáng toả hôm thì một màu đỏ rực như lửa cháy, hôm thì trong trong phớt hồng. Tôi nghe tiếng tụi học sinh của ngôi trường lân cận hò reo… Vài cánh chim cứ chờn vờn mãi, nó chẳng chịu cố định chỗ nào, cứ nhảy loạn xạ từ cành này qua cành khác…

    Vì xin được một chân cộng tác với Nhã Nam, tôi có thể thoả thích mượn sách về nhà rồi đọc bao nhiêu thì đọc. Gần đây, tôi bắt đầu sờ mó đến văn học châu Á, cụ thể là Nhật Bản và Trung Quốc. Tôi đã đọc Kokoro của Soseki, thấy rất mến mộ phong cách dung dị, trầm mặc của nhà văn này (đến mặt ông ta tôi trông còn có thiện cảm nữa là!); Hương mua tặng tôi Minh Ám cho dịp sinh nhật, tôi thấy biết ơn và yêu nàng lắm lắm. Đấy, chuyện đọc sách của tôi hiện giờ như thế đấy.

    Còn việc viết thì, thật sự, chán chẳng buồn nói. Tôi đã thu gom được kha khá ý đồ cho các truyện ngắn, nhưng không màng bắt tay vào viết. Mới hôm qua thôi, tôi còn ngồi được hai tiếng để viết tầm ngàn chữ về một bà già sống gần nhà tôi dưới quê; tôi cố viết thật chậm rãi, bình thản, ý thức được mạch truyện và kiểm soát được tốc độ của mình. Không biết rồi nó sẽ ra sao… Dạo này tôi lại nổi hứng đem các bản thảo của mình đi gửi các toà soạn, tôi định bụng là nếu họ từ chối tôi phen này, tôi sẽ hạ quyết tâm dứt khoát một thể với công chuyện viết lách luôn. Trước nay tôi vẫn luôn tâm niệm mình chỉ viết vì sở thích, thế mà rồi vẫn đem bán con để lấy tiền. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ mình sắp cùng đường đến nơi rồi… Tôi sẽ kiếm lấy một ngón nghề đàng hoàng, ổn định mà chu toàn cuộc sống thôi – tôi sắp hai nhăm tuổi rồi, chẳng thể rong chơi bông lông mãi được nữa. Chính tôi đây, còn không kiên nhẫn được với tôi nữa là.


    Ngày 28 tháng 11 năm 2025,

    Sáng nay tôi mệt, chẳng muốn làm gì cả. Tôi thức dậy vào cái giờ muộn hơn lệ thường, chừng hơn bảy giờ gì đấy, rồi còn cố nằm lại trên giường lúc lâu, nghe nhạc. Gần tám giờ tôi nhấc mình dậy đi tắm, đầu óc hơi váng vất, và rồi việc tắm táp cũng không khiến tinh thần tôi khá lên, trái lại, còn làm tôi thêm bệ rạc. Tôi không muốn làm việc. Mà làm cái quái gì cơ chứ? Viết ư? Chẳng lẽ ngày nào cũng cố rặn cho ra vài thứ dớ dẩn mà viết?

    Chiều nay tôi đi livestream thay ca cho một bạn trẻ trong nhóm. Nằm trên giường, tôi nghĩ giá như mình đừng chấp nhận thì hơn; hôm nay tôi mệt, chẳng muốn làm gì cả. Riêng việc suy nghĩ thôi đã ngốn của tôi đủ sức lực rồi. Nằm trên giường, tôi hết đắp rồi vùng chăn ra, tôi thử quơ tạm một cuốn sách, đọc, nhưng những dòng chữ xoắn xuýt vào nhau làm tôi phát mệt – chẳng hiểu đang đọc cái gì nữa… Có tiếng chuông gió ngoài vườn vọng vào. Sáng nay, khi đi ăn cháo, tôi cũng đã nghe thấy tiếng chuông gió. Chiếc chuông gió với sáu thỏi chuông dài màu đồng nhẵn thín lanh canh, lanh canh, thanh gỗ thả thõng xuống như cái gầu nước, quay tít lự trong gió… Trời nắng nhưng lạnh lắm. Nếu ra đường, đừng chủ quan mà hãy mặc ấm nhé!

    Trang: 1 2


  • Những cuốn sách yêu thích

    Đọc thử

    Tất cả những lời bình dưới đây đều là quan điểm cá nhân.

    Cảnh báo: Spoil nặng.

    TIỂU THUYẾT

    1. Giáo dục tình cảm, Gustave Flaubert, Lê Hồng Sâm dịch

    Quá hay để được biết tới.

    2. Bà Bovary, Gustave Flaubert, Trọng Đức dịch.

    3. Chiến tranh và hoà bình, Leo Tolstoy

    4. Anna Karenina, Leo Tolstoy, Nhị Ca dịch.

    5. Đỏ và đen, Stendhal, Tuấn Đô dịch.

    6. Lão Goriot, Balzac

    7. Bút ký người đi săn, Turgenev

    Người giỏi viết bút ký cũng thành kiệt tác.

    8. Cha và con, Turgenev

    Tiểu thuyết được biết đến nhiều nhất và theo tôi cũng là tiểu thuyết hay nhất của Turgenev.

    9. Pierre và Jean, Guy de Maupassant

    Câu chuyện về hai anh em thù hằn nhau “do hoàn cảnh”. Pierre, người anh, vô tình phát hiện ra Jean, em trai của mình, là kết quả của mối tình vụng trộm giữa người mẹ mà anh hằng tôn kính với một quý ông đã qua đời.

    10. Chùm nho thịnh nộ, John Steinbeck

    Steinbeck là một nhà văn có lối sống không mấy đáng kính, nhưng văn của lão thì tuyệt hảo.

    11. Bay trên tổ chim cúc cu, Ken Kesey

    Một trong số hiếm những tác phẩm văn học hiện đại mà ta có thể nhai đi nhai lại.

    12. Oliver Twist, Charles Dickens

    Có lẽ trong tác phẩm này giọng văn trào phóng của Dickens đã đạt tới tầm bậc thầy.

    13. Hội chợ phù hoa, William Thackeray

    Chưa đọc hết nên tạm thời chưa bình.

    14. Đại gia Gatsby, F. Scott Fitzgerald

    Cuốn sách mỗi năm tôi đọc lại một lần.

    15. Những kỳ vọng lớn lao, Charles Dickens

    Cuốn sách dẫn lối tôi vào địa hạt văn chương kỳ vĩ của Dickens.

    16. Hai kinh thành, Charles Dickens

    Một tiểu thuyết tràn trề tham vọng của Dickens nhưng chưa đủ tính bi kịch.

    17. Bên phía nhà Swann & Dưới bóng những cô gái đương hoa, Marcel Proust

    Suốt một thời gian dài, tôi đã thường đi ngủ sớm….

    18. Hội hè miên man, Ernest Hemingway

    Hemingway nên viết ký nhiều hơn.

    19. Người Dublin, James Joyce

    Bản dịch của Thiên Lương quá tệ. Nhưng đây là một tuyển tập truyện ngắn đáng đọc, nếu không muốn nói là một trong những tập truyện ngắn được đánh giá cao nhất.

    20. Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, Mark Twain

    Jack London từng nói rằng viết hài kịch là khó nhất, nhưng cũng được trả công hậu hĩnh nhất. “Như Mark Twain chẳng hạn.”

    21. Tiếng gọi của hoang dã, Jack London

    Dữ dội, hoang dại và thấm nhuần tinh thần tự do.

    22. Mặt trăng và đồng xu, Somerset Maugham

    Đơn giản, khúc chiết, giọng văn gần như lạnh lùng nhưng không ngừng lôi cuốn người đọc lật trang – đơn giản vì tự thân câu chuyện đã quá hay: Strickland (dựa trên danh hoạ Paul Gauguin), một nhà buôn chứng khoán tuổi tứ tuần, có vợ đẹp con khôn, bỗng dưng bỏ tất cả đi để tới sống trong một căn buồng tồi tàn, ăn uống kham khổ, chỉ để được vẽ tranh.

    23. Chuyến tàu định mệnh, Georges Simenon

    Một chuyện tình bi kịch thời chiến tranh. Tôi nhớ mình đã buồn mất mấy ngày sau khi gấp cuốn sách lại.

    24. Truyện trinh thám của Agatha Christie

    Trước khi xuất bản mỗi cuốn sách, Agatha Christie thường đọc bản thảo cho cả nhà cùng nghe. Con cháu bà xúm vào đoán xem ai là hung thủ, và thường thì họ đoán trật lất.

    25. Tuyển tập Sherlock Holmes, Arthur Conan Doyle

    Đừng mua lẻ truyện của Holmes, hãy mua tuyển tập, thường được chia làm ba phần. Cá nhân tôi đọc bản của Huyhoangbooks.

    26. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor

    Thú thực đọc Flannery O’Connor vài truyện không hiểu lắm, nhưng vẫn thấy hay và có thể đọc lại nhiều lần.

    27. Của chuột và người, John Steinbeck

    Tiểu thuyết “truyện vừa” của Steinbeck. Tính khúc chiết và giản dị trong ngôn từ được đẩy tới mức cao nhất, nhưng vẫn thấm đượm màu sắc bi kịch và khiến độc giả thổn thức khôn nguôi.

    28. Người vô hình, H. G. Wells

    Tôi ít đọc sách giả tưởng nhưng của Wells thì tôi không dám chê cuốn nào.

    29. Những linh hồn chết, Gogol

    Nếu Những linh hồn chết được hoàn thành, vị thế tiểu thuyết gia người Nga vĩ đại nhất thế kỷ 19 của Tolstoy sẽ bị lung lay.

    30. Ông bạn đẹp, Guy de Maupassant

    31. Don Quixote, Cervantes

    Pho tiểu thuyết khiến ta khóc, cười và suy ngẫm.

    32. Tuyển tập truyện ngắn Edgar Allan Poe

    33. Một tổ quý tộc, Turgenev

    34. Lolita, Vladimir Nabokov

    Dễ bị lạc vào mê cung ngôn từ của Nabokov mà quên mất sự tha hoá nhân cách của nhân vật chính.

    35. Tiếng cười trong bóng tối, Vladimir Nabokov

    Một tiểu thuyết dài vừa phải và cũng hay vừa phải.

    36. Tội ác và hình phạt, Dostoevsky

    Bản thân tội ác không đáng sợ bằng việc che giấu tội ác.

    37. Nhật ký viết dưới hầm, Dostoevsky

    Thực ra thì đọc xong cuốn này tôi cũng không hiểu tại sao Dos có thể viết tài tình tới mức thế.

    38. Cá voi trắng, Herman Melville

    39. Frankenstein, Mary Shelley

    40. Chìm nổi giữa Paris và London, George Orwell

    41. Middlemarch, George Eliot

    42. Câu chuyện dòng sông, Herman Heese

    43. Rừng Na Uy, Haruki Murakami

    44. Mãi đừng xa tôi, Kazuo Ishiguro

    45. Châu Phi nghìn trùng, Isak Dinesen

    46. Những người khốn khổ, Victor Hugo

    47. Một cuộc đời, Guy de Maupassant

    48. Vẽ một phụ nữ, Henry James

    49. Sông Đông êm đềm, Sholokhov

    50. Phục sinh, Tolstoy

    51. Phía Đông vườn địa đàng, Steinbeck

    52. Chuyện vặt ông Pickwick, Dickens

    53. Nghệ nhân và Margarita, Mikhail Bugakov

    54. Một anh hùng thời đại, Lermontov

    55. Kiếp người, Somerset Maugham

    Tôi vừa đọc xong Kiếp người (Of Human Bondage) của Maugham – hơn một nghìn trang. Có lẽ là thử thách lớn nhất với tôi từ sau Chiến tranh và hoà bình. Vì từng đọc khá nhiều hồi ký lẫn ghi chép của Maugham, tôi không khỏi nhận thấy Maugham thường lặp lại chính mình. Ông viết cuốn tiểu thuyết bán tự truyện này vào năm 1915, ở tuổi trung niên. Và ở những tiểu luận ông viết vào những năm cuối cùng, ông lần nữa đưa ra một vài định kiến đã gắn chặt với ông trong suốt cuộc đời. Ông xem trọng tài năng ở người nghệ sĩ (không có nó họ không là gì cả), nhưng với ông cá tính mới cốt yếu hơn tất cả. Xét về mặt chuyên môn, ông không phải là người đem đến những cách tân cho văn học; ông làm điều mà mọi nhà văn phải làm – kể chuyện, và không thể chấp nhận việc một tác phẩm lại thiếu đi cốt truyện. “Nếu hoạ sĩ suy nghĩ bằng đường nét và màu sắc, thì nhà văn suy nghĩ bằng cốt truyện”. Lý lẽ khó phản bác. Ông đọc rộng, phần vì công việc, phần vì không có nhiều thứ hơn để làm; ông coi kỹ năng đọc lướt là phẩm chất quan trọng của một độc giả; nhưng tôi thực sự không hiểu nổi quan điểm của ông cho rằng việc đọc đi đọc lại một tác phẩm là vô ích. Ông đã mượn lời Philip Carey để diễn giải lập trường của mình như sau:

    – Tôi không hiểu cứ đọc đi đọc lại mãi một thứ thì ích lợi gì – Philip nói – Đây chỉ là hình thức nặng nề của bệnh lười nhác.

    – Nhưng liệu anh có nghĩa rằng trí nhớ của anh tuyệt vời đến nỗi chỉ đọc một lần đầu là anh có thể hiểu được một nhà văn uyên thâm nhất không?

    – Tôi không cần hiểu họ. Tôi không phải nhà phê bình. Tôi quan tâm đến họ vì lợi ích của tôi, chứ không phải vì lợi ích của họ.

    – Vậy thì anh đọc để làm gì?

    – Một phần để mua vui, vì đó là thói quen, nếu tôi không đọc, tôi thấy khó chịu ngay cũng như không hút thuốc lá, một phần là để hiểu được mình. Khi đọc sách, dường như tôi chỉ đọc bằng mắt, nhưng thỉnh thoảng tình cờ tôi bắt gặp một đoạn văn, có thể chỉ một câu thôi có ý nghĩa với tôi, thế là nó trở thành một bộ phận của cơ thể tôi. Thế là từ sách vở tôi đã rút ra được mọi điều có ích cho tôi, nên dù có đọc đến hàng chục lần tôi cũng chẳng thu nhận được gì hơn.

    Hiển nhiên chúng ta đọc sách như những kẻ vụ lợi; người kiếm tìm niềm vui (những niềm vui rất khác nhau!), người kiếm tìm tri thức, và dĩ nhiên họ nên làm vậy. Nhưng không có minh chứng nào cho thấy chỉ qua một lần đọc người ta có thể “rút ra được mọi điều có ích” cho bản thân, vì chúng ta há chẳng vẫn nhiều phen ngạc nhiên vì nhiều ý tưởng mới lạ hiển hiện trong một tác phẩm ở một lần đọc lại, điều mà dù cẩn trọng mức nào ta vẫn sẽ bỏ lỡ ở lần đọc trước. Tuy nhiên, đó chỉ là quan điểm của riêng tôi, tôi không yêu cầu ai đồng thuận với mình; tôi cũng không ở đây để bàn về cách đọc sách, do đó tôi sẽ mau chóng trở lại với chủ đề.

    Vì Kiếp người là một tiểu thuyết bán tự truyện, ta không thể không điểm qua vài nét về cuộc đời Somerset Maugham. Tôi sẽ nói vắn tắt. Maugham sinh năm 1974. Ông nội của ông là một luật gia, một người có chức tước và thành đạt; ông hành nghề tại Paris, và chính tại đây, cha mẹ Maugham đã cưới nhau và đứa con trai duy nhất của họ chào đời mang quốc tịch Pháp, biết nói tiếng Pháp trước cả tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Năm 1882, người mẹ qua đời vì bệnh lao, hai năm sau người bố nối gót, và cậu bé Maugham tám tuổi được gửi về Anh để sống với người chú ruột Henry, một linh mục. Maugham bình sinh nhút nhát và mắc chứng nói lắp, cố tật sẽ đeo đẳng ông suốt đời. Mặc dù được nuôi nấng trong bầu không khí tôn nghiêm ở nhà người chú linh mục của mình, Maugham sớm đánh mất niềm tin vào Chúa và trở thành người vô thần. Cuộc sống ở trường học không mấy êm ả với một chú bé nhút nhát, còi cọc, ăn nói ngắc ngứ, hơn nữa còn hững hờ với thể thao. Mười sáu tuổi, Maugham vui sướng được thoát khỏi King và thuyết phục thành công cô chú cho mình đến Đức. Năm ấy ông mười sáu tuổi. Trong một năm rưỡi tiếp theo, ông học văn học, triết học và tiếng Đức, có mối tình đồng tính đầu tiên với John Brooks, một học giả người Anh hơn ông mười tuổi. Chính Brooks đã nhen nhóm tham vọng trở thành nhà văn của Maugham và giới thiệu ông với các triết luận của Schopenhauer và Spinoza – những tác phẩm mà Maugham đã đọc nghiến ngấu. Cũng ở Đức mà Maugham đã viết cuốn sách đầu tiên của mình, một thiên tiểu sử về Meyerbeer, nhưng nó không được chấp nhận và sau đó ông đã tiêu huỷ bản thảo.

    Maugham trở về Anh năm 1892, như mọi thanh niên khác, đứng trước những ngã rẽ về tương lai của mình. Chứng nói lắp ngăn cản ông phụng sự trong nhà thờ hay kế tục nghề luật của gia đình. Ông được giới thiệu cho một chức vụ kế toán tại London, nơi ông chịu đựng được một vài tháng, và sau rốt tự xin từ chức để nhận về lời nhận xét là “bất tài và lười nhác”. Ông thừa nhận vế đầu đúng và vế sau sai. Cuối cùng một bác sĩ địa phương đề xuất nghề y, và chú của Maugham đã ưng thuận. Và năm 1987, ông nộp đơn vào Trường Y khoa Bệnh viện St Thomas ở Lambeth, vui sướng vì được hoà mình vào đời sống London.

    Tuy chỉ gắn bó với nghề y năm năm, trải nghiệm y khoa đối với Maugham đã không hề uổng phí. Trên thực tế, ông hối tiếc vì đã không gắn bó với nghề này lâu hơn. “Tôi có lý do để tin rằng quá trình đào tạo mà một sinh viên y khoa phải kinh qua là một kho báu với một nhà văn,” ông viết. “Y có được kiến thức vô giá về bản chất con người. Y nhìn thấy nó ở cả trạng thái tốt nhất và tệ nhất. Khi mọi người lâm bệnh, khi họ sợ hãi, họ vứt bỏ chiếc mặt nạ mà họ đeo khi khoẻ mạnh. Bác sĩ nhìn thấy họ đúng như bản chất của họ, ích kỷ, cứng cỏi, tham lam, hèn nhát; nhưng cũng dũng cảm, hào phóng, tử tế và tốt bụng. Y khoan dung với những khuyết điểm của họ, và kính sợ trước những đức hạnh của họ.” Maugham chưa bao giờ viết nhật ký, nhưng rất năng ghi sổ tay. Ông sống khá thoải mái trong bầu không khí gây tê của nhà thương, miệt mài viết lách trong lúc cần cù lấy bằng y khoa. Công việc yêu cầu ông phải tiếp xúc với những người bần cùng ở khu ổ chuột, những ngõ hẻm nhớp nhúa, những mảnh đời leo lắt cùng cực, và tất cả trở thành chất liệu để ông viết nên tiểu thuyết đầu tay của mình, Liza xứ Lambeth. Cuốn sách nhận về nhiều đánh giá trái chiều, nhưng Rudyard Kipling đã ca ngợi cuốn sách trên báo chí và nhiều bỉnh bút ở các tạp chí khác tung hô kỹ thuật của tác giả. Tác giả trẻ được ví với Zola về tài tả chân của mình, và cuốn sách nhanh chóng được tái bản. Maugham đủ ngây thơ để bỏ quách nghề y và quyết tâm trở thành một nhà văn chuyên nghiệp. Sau này ông tỏ ra hối hận vì đã từ bỏ y nghiệp sớm thế; ông yêu thích công việc và những trải nghiệm quý giá mà nó đem lại, nhưng quan trọng hơn cả, tôi nghĩ, là bởi nghề y giúp ông cáng đáng chuyện tiền nong. Dù sao thì ông cũng chỉ hai bảy tuổi, và một tiểu thuyết đầu tay thành công không hứa hẹn gì nhiều. Có lẽ ông đã may mắn. Không phải một tay chơi bạt mạng, quan điểm về tài chính của ông rất rõ ràng, dù không mấy khác lạ với phần đông. Ông có tài sản và chi tiêu tiết kiệm. Ông kiểm soát tài chính tốt, giữ mọi nhu cầu trong khuôn khổ cho phép, tin rằng đó là điều kiện tiên quyết để một nhà văn có thể yên tâm sáng tác, điều mà ta khó lòng phủ nhận.

    Giờ thì, truyện ngắn được coi là khoá học nghề hoàn hảo cho một nhà văn. Maugham đã viết một vài truyện ngắn gửi tới các tạp chí, vì không được lưu trữ nên tôi chỉ có thể đoán định, rằng chúng ít nhiều bộc lộ một sự thông minh nào đó và có lẽ là mắt quan sát sắc sảo, những phẩm chất mà Maugham tiếp tục trui rèn trong suốt sự nghiệp. Nhưng những truyện đó không được nhận, việc viết tiểu thuyết bấp bênh, ông sớm thấy mình ngấp nghé bên bờ phá sản. Ông tự nhận thấy truyện ngắn của mình không hay, và quyết định bỏ dở thể loại này, đâu đó khoảng hai thập kỷ. Ngày nay chúng ta thường ca ngợi tài viết truyện ngắn của Maugham; trên thực tế, tôi từng bắt gặp một độc giả khen ngợi Maugham là thiên tài truyện ngắn. Nó không đúng. Có lẽ chính Maugham sẽ là người trước tiên phản bác điều này: chính ông thừa nhận thoạt đầu mình viết truyện ngắn quá kém nên mới phải quay sang viết kịch. Chỉ sau khi thành đạt trong sân khấu, ông mới quay lại với thể tài này. “Tôi là nhà văn đứng đầu trong hạng nhà văn trung bình,” ông viết. Tất nhiên ông không quá khiêm nhường tới mức nói rằng mình bất tài, có lẽ ông sẽ nhận đó là tài mọn; ông có tài năng, không quá lớn nhưng đủ độc đáo, khả năng lèo lái cốt truyện của ông gợi nhớ đến Maupassant; có người gọi đùa ông là Maupassant của Anh, và lâu dần cách gọi ấy được công nhận trong lịch sử văn học. Lời văn của ông rõ ràng, chính xác, du dương – ba phẩm chất mà chính ông đặt ra theo thứ tự ưu tiên. Tuy nhiên, ông vật lộn với những phân đoạn miêu tả thiên nhiên; cảnh sắc, phong tục trong văn ông ít nhiều tiết chế (tuy không phải lúc nào cũng vậy), mà theo lời Chekhov, là “ngắn gọn và đi thẳng vào trọng tâm”. “Tôi biết mình chẳng có năng khiếu trữ tình,” ông viết. “Tôi có vốn từ hạn hẹp và không hề nỗ lực mở rộng nó. Tôi không có tài ẩn dụ; những phép so sánh độc đáo và ấn tượng hiếm khi đến với tôi.” Là một nhà văn và một con người, Maugham có những khiếm khuyết ở mình, hoặc về tính cách hoặc về nghệ thuật, và đương nhiên tính cách của ông ảnh hưởng đến nghệ thuật của ông; nhưng ít ai dám phủ nhận tài viết đối thoại sáng rõ của Maugham, và có lẽ chính phẩm chất đặc trưng này đã dẫn lối ông đến với kịch nghệ, lĩnh vực đã giúp ông rạng danh và đưa tên tuổi ông vượt khỏi địa phận Anh Quốc.

    Trong The Summing Up, Maugham kể rằng thời trẻ ông từng đưa kịch bản của mình cho một nhà viết kịch khá thành công để xin nhận xét, và quý ông kia đã tuyên bố rằng chàng trai này rồi sẽ trở thành kịch tác gia vĩ đại nhất thế hệ của mình. Lời tiên tri đã ứng nghiệm. Công việc viết kịch giúp Maugham trang trải tốt hơn, và kể cả một vài vở kịch không đem lại nhiều tiền bạc như ông trông đợi thì nó cũng đem lại danh tiếng; ông chưa bao giờ rơi vào cảnh túng bấn, giờ đây ông càng khá giả, có phần dư dật; ông mua một ngôi nhà, sống ổn định, thường xuyên dự tiệc và được chào đón bởi giới thượng lưu. Bản tính ông vẫn nhút nhát và kín đáo, dù qua những trang hồi ký của ông, có vẻ ông có tài kể chuyện, hóm hỉnh đúng nơi đúng chỗ và quan trọng nhất, là một người có cá tính. Thiên hạ quý chuộng ông và về phần mình, ông ra sức quan sát họ, sớm biết họ sẽ nhanh chóng trở thành nguyên mẫu cho nhiều nhân vật của mình. Ông tự tin viết rằng mình có thể sáng tác một câu chuyện từ một cuộc trò chuyện một tiếng đồng hồ với bất kỳ người nào. Ông còn trẻ, sung mãn, và viết như chim hót. Năm 1935, hơn hai thập kỷ sau khi Maugham khiến Shakespeare phải ghen tỵ, ông từ bỏ nghề viết kịch. Ông nói rằng mình đã cạn ý tưởng. Nhưng ông vẫn để mắt đến nghệ thuật này và sẵn lòng bàn về nó mọi khi có thể. Ông không tự mãn về thành công của mình, cho rằng ít nhiều nó chịu ơn sự ngẫu nhiên và sự may mắn.

    Chúng ta sẽ cần lộn lại một chút vì trong khoảng thời gian giữa hai cuộc Thế chiến, Maugham đã tham gia chiến trận rất sôi nổi. Năm 1914, Thế chiến I bùng nổ, quá già để nhập ngũ, ông đã phục vụ tại Pháp với tư cách là tài xế xe cứu thương tình nguyện cho Hội Chữ thập đỏ Anh. Cùng khoảng thời gian này ông hẹn hò với Syrie Wellcome, đồng thời có một mối quan hệ đồng tính với Frederick Haxton, một tiểu thuyết gia và nhà viết kịch mà sau này chỉ được nhớ tới như người tình của Maugham. Năm 1915, Of Human Bondage trình làng. Tháng Chín năm đó, Maugham được John Wallinger, một sĩ quan tình báo cấp cao, tuyển dụng vào Cục Tình báo mật. Dưới vỏ bọc một nhà văn, ông hoạt động bí mật trong vai trò liên lạc viên trung gian cho mạng lưới điệp viên tại Thuỵ Sĩ và trụ sở Cục Tình báo tại Anh. Ông không nhận lương, nhưng ông được hậu đãi và gặp gỡ nhiều nhân vật vai vế. Năm 1917, toà án xét duyệt đơn ly hôn của Syrie với người chồng trước, và Maugham lập tức kết hôn với bà. Ban đầu bà ít nhiều phụ thuộc chồng về mặt tài chính, nhưng rồi bà trở nên nổi tiếng dưới tư cách một nhà thiết kế nội thất. Bà vẫn duy trì lối sống hoang phí, và hoang đàng. Maugham biết Syrie vẫn lén lút qua lại với nhiều nhân tình, nhưng ông thờ ơ, như ông vốn thế, và ông bận rộn với những chuyến đi nước ngoài thường xuyên của mình, thêm nữa mối quan hệ bất chính với Haxton cũng dấy lên nhiều dị nghị. Đó là một cuộc hôn nhân đầy phong ba bão táp, và cặp đôi chính thức ly dị vào khoảng những năm 1927. Năm 1944, Haxton qua đời, và Maugham trở về Anh, rồi ngay năm sau tới định cư ở Pháp cho tới cuối đời, trừ những chuyến du lịch dài thường xuyên.

    “Sự bình yên cho phép tôi viết tất cả những gì tôi muốn viết mà không lãng phí thời gian quý báu hay xao nhãng tâm trí; sự bình yên và một lối sống ổn định, đàng hoàng. Tôi kiếm tìm tự do và nghĩ rằng mình có thể tìm thấy nó trong hôn nhân,” Maugham viết. “Tôi đã hình thành những ý tưởng này khi còn đang viết cuốn ‘Of Human Bondage’, và biến những mong muốn của mình thành tiểu thuyết, như các nhà văn vẫn làm, vào cuối tác phẩm, tôi đã vẽ nên một bức tranh về cuộc hôn nhân mà tôi hằng mong ước. Nhìn chung, độc giả thấy đây là phần kém thoả đáng nhất trong cuốn sách của tôi.”

    “Như các nhà văn vẫn làm”, như Tolstoy, người cũng từng tìm đến hôn nhân như một sự cứu rỗi cho những bất an tinh thần, những hoài nghi tôn giáo, coi nó là nơi nương tựa. Chất liệu cho những Kitty và Levin, Pierre và Natasha đến từ chính cuộc hôn nhẫn giữa Tolstoy với bà Sofia. Tolstoy ít nhiều đã vỡ mộng, nhưng ông không lường trước điều này, và tất cả đã được ông phô bày trong tiểu thuyết ngắn Bản Sonata Kreutzer; còn Maugham lại rất ý thức về tấn bi kịch mà ông sắp phải chịu đựng khi kết hôn với Syrie. Khi cưới nhau, Syrie mang nợ rất nhiều; “nhưng nếu không cưới cô ấy,” Maugham nói với một người bạn, “tôi sẽ hối hận cho tới lúc chết.” Syrie là người hấp dẫn, nhưng phóng đãng; Maugham biết bà từng ngủ với tất cả bạn bè của ông, và ông từng không dám thừa nhận bà là vợ mình khi một người lạ hỏi tới bà như một hạng gái làng chơi. Họ có với nhau một người con gái, được đặt tên là Mary, nhũ danh là Liza. Maugham đã vướng víu khá nhiều thủ tục pháp lý trước khi đứa con được công nhận là con hợp pháp của mình.

    Về lý do Of Human Bondage ra đời, Maugham viết trong hồi ký: “Nhiều năm trôi qua và tôi đã trở thành một nhà viết kịch nổi tiếng. Nhưng những ký ức về một quá khứ bất hạnh cứ đè nặng lên tôi, và rồi tôi cảm thấy mình chỉ có thể thoát khỏi chúng bằng cách viết chúng ra; thế là tôi nghỉ hưu và dành hai năm để viết cuốn sách mà bây giờ bạn đã biết.” Maugham đã gặp may. Of Human Bondage rất dài và không ai thèm đọc, nó không hẳn là một thất bại, nhưng cũng chẳng đáng được gọi là một thành công. Nhưng George Doran, lúc đó là một nhà xuất bản chuyên về dòng sách tiếng Anh, đã cân nhắc nó; ông này đưa cho vợ mình đọc, chủ yếu vì bà bị ốm, cần được tiêu khiển và cuốn sách lại rất dài. Thật may sao vì bà Doran thích cuốn sách, và quý ông kia chiều lòng vợ, quyết định xuất bản nó. Nó nhanh chóng nhận về những bài đánh giá rất dài, có lẽ vì không thể viết ngắn hơn, nhìn chung khá tích cực. Tuổi thọ của một cuốn tiểu thuyết ngày đó rơi vào độ ba tháng, và kết thúc chu kỳ này, Of Human Bondage khả năng cao sẽ lụi tàn và chịu chung số phận bị lãng quên như hàng ngàn tiểu thuyết khác. Nhưng rồi Maugham lại gặp may. Vì một lý do nào đó, cuốn sách đã thu hút nhiều cây bút nổi tiếng thời bấy giờ; họ bàn tán về nó trên các chuyên mục do họ đảm trách, và lần lần nó tìm được ngày càng nhiều độc giả hơn.

    Như chúng ta đều biết, bên cạnh The Moon and Sixpence, Of Human Bondage được công nhận rộng rãi là kiệt tác của Maugham. Nhiều độc giả đương thời coi nó là một cuốn tự truyện, nhưng Maugham phản bác, “Mặc dù nhiều nội dung trong đó mang tính tự truyện, nhưng phần lớn là do tôi sáng tác.” Quả vậy, ông đã hoà quyện sự thật và tưởng tượng vào cuốn tiểu thuyết đến mức nhiều năm sau này nhìn lại, ông không phân định nổi đâu là hư đâu là thực. Ông đã viết cuốn sách bằng cách tận dụng “món quà sáng tạo mà tôi được ban cho”. Nó từng được đưa vào chương trình phổ cập tại các cơ sở giáo dục, các tạp chí ca ngợi nó, còn Ernest Hemingway xem nó là một trong những tiểu thuyết phải đọc trong đời.

    Nhân vật chính của Of Human Bondage, Philip Carey, là hiện thân văn học của chính Maugham. Philip mắc tật khoèo chân, côi cút từ khi còn nhỏ, được gửi đến sống với ông chú William làm mục sư tại Blackstable, một thị trấn ở Kent. Sau một thời gian bị cầm tù ở trường nội trú, Philip đến học ở Heidelberg, thử sức với hội hoạ một thời gian ở Paris, rồi trở về Anh. Anh ta gặp Midred, một cô hầu bàn lẳng lơ, và cuộc hành hương dài dặc của anh ta thực sự bắt đầu. Mildred khinh miệt Philip, cô phản bội anh luôn, đi chơi với những người bạn khác của anh, coi thường cảm xúc của anh. Mối tình của họ là một ải đoạ đày, sớm nắng chiều mưa; Mildred có mang với một người đàn ông khác, ngoại tình với người bạn thân của Philip, nhưng Philip vẫn chìm đắm trong tình yêu. Philip nguyền rủa tính nhu nhược ở mình và nguyền rủa cả tình yêu của anh ta với Mildred; và, tôi không rõ lắm, anh ta dường như có khuynh hướng khổ dâm (tôi không chắc lắm về thuật ngữ này). Một mặt, anh ta đau đớn vì bị khinh thường, hổ thẹn vì tật nguyền của mình, nhưng anh ta thích sắm vai một quý ông cao thượng, người sẵn lòng chi trả tiền du lịch cho chính cặp gian phu dâm phụ đã phản bội anh ta. Tôi biết có những người thích nhấm nháp đau đớn, thích bị làm nhục, và Philip gây ở tôi cảm tưởng như vậy. Điều này có thể khiến nhiều độc giả khó chịu. Philip có thể vừa nhỏ nhen vừa hào phóng, vừa ích kỷ vừa rộng lượng, vừa khao khát hạnh phúc vừa đâm ra chán chường ngay khi ước vọng của mình thành hiện thực. Mặc dù xuyên suốt tiểu thuyết là hành trình kiếm tìm hạnh phúc của Philip, nhưng anh ta hoàn toàn không bộc lộ một ý chí đủ mãnh liệt, anh ta thụ động, nhu nhược, bất lực. Anh ta yêu một con điếm, không được nó yêu lại, và thâm tâm thèm khát ả ta dữ dội cùng lúc khinh bỉ bản thân vì đã yêu ả. Anh ta bỏ lỡ nhiều cơ hội, cho đến nửa già tiểu thuyết, anh ta mắc những sai lầm liên tiếp và gần như không học được cách rút kinh nghiệm. Nhưng bất chấp tất thảy những khuyết điểm trên, anh ta hiện lên sống động tới từng chân tơ kẽ tóc. Bức chân dung về Philip Carey là một bức chân dung mà thanh thiếu niên, thông thường, sẽ đồng cảm hơn cả. Tiểu thuyết giống như lịch sử tâm hồn của anh ta, và vô số tình tiết, ấn tượng, trải nghiệm được rút ra từ chính cuộc đời của tác giả. Có lẽ kể từ sau David Copperfield, chưa có một nhà văn người Anh nào khai thác cuộc đời mình một cách sinh động và triệt để đến vậy.

    Tại Việt Nam, Of Human Bondage lần đầu được chuyển ngữ bởi nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê. Đó là một bản dịch không đầy đủ, vì dịch giả đã lược bỏ những đoạn tả phong tục và đời sống bên Anh để tác phẩm bớt rườm rà mà thêm phần hấp dẫn. Đến năm 2000, chúng ta có bản dịch đầy đủ của dịch giả Hoàng Tuý và Nguyễn Xuân Phương. Tôi xin trích dẫn những dòng sau từ cuốn Đời viết văn của Nguyễn Hiến Lê:

    “Không có một tác phẩm nào tả được nhiều nỗi đau khổ của kiếp người như thế: đau khổ của một đứa bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải ở nhờ nhà ông bác, xa chị vú thân yêu; đau khổ của một kẻ tàn tật, hồi đi học thì bị bạn giễu, lớn lên bị thiên hạ khinh; cảnh khổ ở nội trú, nỗi chua chát khi mất lòng tin Chúa, nỗi chán chường khi phải học một nghề mình không ưa; sau khi tranh đấu với ông bác để được phép học nghề mình thích thì lại thất vọng nhận ra rằng mình không có khiếu về nghề đó; đau khổ tủi nhục nhất là yêu một con điếm mà nó không yêu lại, bị nó phản với bạn thân của mình, vậy mà vẫn không quên nó được; rồi cảnh đầu cơ nhẵn túi phải lang thang ở ngoài đường, uống nước máy, ngủ công viên, nhịn đói ba bốn ngày, phải bỏ học, nhận một chân chỉ dẫn khách hàng trong một tiệm buôn; sau cùng chỉ muốn có cái mộng đi du lịch thế giới mà đành phải bỏ, chịu sống cuộc đời vô vọng của một y sĩ trong một vùng quê nghèo.”

    Đó là sườn truyện của Kiếp người. Tôi thấy không có gì phải bàn cãi ở đây, ngoại trừ đoạn kết của tác phẩm. Dụng ý của Maugham, theo tôi hiểu, khi để Philip không thực hiện được ước mơ du lịch thế giới hoàn toàn mang tính lạc quan. Anh ta tưởng mình đã làm Sally có thai và tính đến chuyện cầu hôn cô nàng. Anh ta sẵn lòng từ bỏ giấc mơ du lịch thế giới, anh ta thấp thỏm, dù không phải không ngậm ngùi, vì sau rốt cũng nương náu nhờ ở hôn nhân. Kết thúc này không nhuốm sắc thái uỷ mị, đau đớn như các nỗi gian truân khác của Philip. Đến cuối thiên tiểu thuyết, anh ta đã hoàn toàn chấp nhận cái số kiếp của mình. Anh ta có được tự do, nhưng là một tự do hạn chế: thoải mái đi lại trong mảnh vườn của mình. Kết cục này gợi nhắc tôi đến Candide của Voltaire. Dù sao thì, Philip đã giác ngộ sự vô nghĩa của kiếp người, cùng lúc kết luận rằng “mô hình đơn giản nhất – mô hình mà một người đàn ông sinh ra, làm việc, kết hôn, sinh con và chết đi – cũng chính là mô hình hoàn hảo nhất.” Philip đã dành cả tuổi trẻ để đeo đuổi hạnh phúc mà không hay biết rằng hạnh phúc chỉ đến khi ta không cố đeo đuổi nó, và, hơn nữa, hạnh phúc không phải là sự an lạc, vinh hiển, thịnh vượng, hay kể cả là bình yên trong tâm khảm, là ước vọng thành sự thực, là khoái lạc hay niềm vui – tất cả những điều trên góp phần tạo nên hạnh phúc, nhưng bản thân chúng không phải là hạnh phúc. Chung cục, Philip ngừng theo đuổi nó và quyết định bằng lòng với số phận của mình. Đó chẳng phải một kết cục hẩm hiu, thậm chí có vẻ khai sáng, nhưng như chính Maugham từng thú nhận, nó không làm độc giả hài lòng.

    56. Các hung thần lên cơn khát, Anatole France, Trần Mai Châu dịch

    57. Phu nhân Macbeth ở Mtsensk, Nikolai Leskov

    Trước hết, xin thú thực với mọi người tôi chưa đọc Macbeth của Shakespeare.

    Còn về truyện vừa này của Leskov, nó kể về một thiếu phụ trẻ tên Katerina, người được gả cho Zinovy, một thương gia, điền chủ giàu có. Chồng già vợ trẻ sống cùng bố chồng tên Boris trong điền trang; cuộc sống tẻ vắng nơi đây nhanh chóng làm cô gái trẻ héo hon dần. Tình cảnh càng trở nên tù túng hơn khi Katerina mãi không sinh được con, điều mà, người vợ trước đó từng chung sống hơn hai mươi năm với Zinovy, cũng không làm nổi.

    Thế rồi Zinovy có việc công cán xa nhà; Katerina bắt đầu ngả ngớn với Sergei, thằng làm công mới đến. Họ thản nhiên chim chuột ngay trong buồng ngủ của Katerina; một ngày nọ, ông già Boris phát giác chuyện tằng tịu giữa đôi gian phu dâm phụ, ông ta phạt roi Sergei và nhốt y trong hầm. Katerina bỗng trở nên xốc nổi, yêu cầu bố chồng thả nhân tình của mình ra, và, sau cùng, đã hạ độc ông già bằng một liều thuốc chuột.

    Cặp tình nhân tiếp tục hạ sát Zinovy khi ông này trở về, rồi chôn ông ta ngay trong chính căn hầm mà mình từng bị giam giữ. Sau đó, Katerina và Sergei ngang nhiên cai quản điền trang, chờ đợi món tiền thừa kế vì lúc này Katerina đã mang chửa. Mọi chuyện đều êm thấm cả, nếu không vì Fyodor, người cháu ruột của Zinovy, tìm đến. Tài sản thừa kế buộc phải phân chia; Katerina tỏ ra thờ ơ trước điều này, nhưng trước những xúi giục của Sergei, ý tưởng hạ sát cậu cháu trai kia dần trở nên sống động trong tâm trí cô. Nhân một lần người bà của Fyodor bận đi nhà thờ, Katerina và Sergei đã bóp cổ cậu bé tới chết, nhưng cùng lúc ấy, tội ác đã được phát giác bởi một tốp người tình cờ đi ngang.

    Sergei thú nhận tội ác và khai cả nơi giấu xác Zinovy; Katerina tỏ ra thờ ơ, cho rằng tất cả mọi việc cô làm đều bởi Sergei. Cô nói không sai, tất cả mọi hành vi sai trái của cô xuyên suốt thiên bi kịch này, đều xuất phát từ tình yêu mù quáng với Sergei.

    Toà đày cả hai người đi Siberia.

    Trong khi Sergei tỏ ra chán ngán, thậm chí khinh bỉ Katerina, liên tục đặt điều và khích bác người tình cũ; thì Katerina vẫn một lòng một dạ yêu mến gã. Trong đoàn người khổ sai, có hai người đàn bà phóng đãng tên Fiona và Sonya. Sergei, với bản tính trai lơ, nhanh chóng chinh phục cả hai cô nàng này. Katerina ghen lồng ghen lộn, nhưng cô vẫn không thể ngừng yêu gã đốn mạt kia. Lần duy nhất Sergei gọi cô đến, họ đã ân ái và sau khi Sergei than phiền về bàn chân lạnh cóng, Katerina đã không ngần ngại mà dúi cho gã đôi bít tất mới tinh, duy nhất của mình. Ngay sau khi cô rời đi, Sonya lỉnh tới.

    Sáng hôm sau đoàn khổ sai tiếp tục đi. Họ lên thuyền qua sông Volga. Katerina tức trợn tròng mắt khi thấy đôi bít tất kia đang trùm lên bàn chân của Sonya. Cay đắng vì bị phụ bạc, nhục nhã vì bị lợi dụng, cùng lúc Sergei ngang nhiên thuật lại những tội ác của họ lúc còn ở điền trang, Katerina bị nhấn chìm bởi niềm uất hận và túm chân Sonya kéo xuống nước. Người ta hoảng hốt quăng móc, Sonya nổi lên; “nhưng cũng lúc ấy từ một ngọn sóng khác, Katerina dướn cả nửa người lên khỏi mặt nước, lao về phía Sonya như con cá mập lao đến con cá mương bé nhỏ. Thế là cả hai chìm lỉm hoàn toàn.”

    Sau khi đọc câu chuyện này, câu hỏi duy nhất đọng lại trong tôi là: Tại sao Leskov không để Sergei chết, mà lại là Sonya, dù so về độ đáng chết thì họ cũng một chín một mười. Sonya tỏ ra trâng tráo và thoả mãn khi đay nghiến vết thương lòng của Katerina – nhưng cô nàng không đáng phải chết. Tôi đã nghĩ rất lung, và kết luận rằng khi để Katerina giết Sonya thay vì Sergei, đơn thuần là một xảo thuật của người viết truyện, theo đó, với cái kết này, có hai điều được đảm bảo:

    1. Tính khả dĩ của hoàn cảnh: Katerina khó có thể mưu sát Sergei, vì suy cho cùng cô vẫn chỉ là phái nữ. Hoặc có thể khoảng cách chỗ ngồi giữa họ không thuận lợi. Và mặc dù cô căm phẫn Sergei, phải thừa nhận cô vẫn yêu gã, do đó, nếu giết gã, thiên bi kịch này sẽ mất tính bi kịch đi khá nhiều.
    2. Tính thống nhất của tính cách nhân vật: Tình yêu mê muội, cực đoan của Katerina là xung lực chính thúc đẩy cốt truyện. Các tội ác lần lượt thảo ra, từ việc hạ sát bố chồng, chồng và người cháu trai, giống như những nấc thang đo đếm sự sa đoạ của Katerina vào vũng lầy tình yêu với Sergei. Hiển nhiên Katerina đã yêu đến mất trí; một thứ tình yêu cuồng si, đại loại vậy, nhưng dứt khoát cô không phải kẻ điên tình, vì nếu thế hẳn cô đã giết quách gã tình nhân. Việc cô giết Sonya chứng tỏ cô vẫn yêu Sergei, và bảo đảm rằng tình yêu của cô với gã, cái xung lực như tôi đã nhắc đến, vẫn duy trì và được bảo toàn từ đầu tới cuối truyện. Khi đặt ra một cái kết như vậy, cái xung lực kia, giống như một chiếc thuyền, đã không bất ngờ bẻ lái vào phút chót mà cứ theo một đường thẳng băng, lao xuống thác nước, chìm nghỉm như chính Katerina và Sonya.

    58. Người hành hương mê đắm, Nikolai Leskov

    Người hành hương mê đắm (nguyên bản: Очарованный странник) xuất hiện lần đầu trên tạp chí Russkiy Mir năm 1873, là một tiểu thuyết vừa phải bao gồm 20 chương, không có cốt truyện mạch lạc. Cấu trúc của truyện khá đơn giản: chương đầu tiên dùng để vào đề, còn các chương sau thuật lại cuộc đời của nhân vật chính – Ivan Flyagin – một tu sĩ đang trên đường hành hương. Logic của câu chuyện được xác định không theo trình tự thời gian của các sự kiện, mà bởi ký ức rời rạc của Ivan (“những gì tôi nhớ, mà, nếu các bạn muốn, tôi sẵn lòng kể”).

    Cuốn sách tạo cảm giác như ta đang đọc một nhật ký hành trình, trong đó toàn bộ cuộc đời của Ivan trải dài theo từng chương. Ivan, một người đã được “gán cho Chúa” bởi mẹ mình nhưng một mực từ chối gia nhập tu viện khi còn trẻ, trải qua một cuộc đời long đong, chìm nổi, một bể trầm luân, mà ông tự coi là “hình phạt” của mình tới mức cầu Chúa ban cho mình một linh hồn khác. Cuối cùng Ivan cũng trở thành một thầy dòng, tuy thế, số mệnh của ông vẫn là một dấu hỏi đối với độc giả.

    Tôi đánh giá cao cuốn sách này ở lối kể chuyện mê đắm y chính tựa đề của nó. Ngoài ra, kỹ thuật đối thoại trong truyện, dẫu cảm tưởng như được viết cẩu thả, lại vô cùng đơn giản, dễ đọc. Từng câu chữ như xếp gọn vào trong trí óc, đúng như những gì Chekhov từng nói về tiêu chí của một câu chuyện hay.

    Ban đầu, tôi những tưởng một cuốn sách với chủ đề “hành hương” ắt hẳn đáng ngán và tẻ nhạt lắm, nhưng không hề: có thể gọi cuộc đời ba chìm bảy nổi của Ivan như một chuyến phiêu lưu. Ông lang bạt cùng đám du mục Tatar ăn thịt ngựa, mười năm trời đằng đẵng chôn mình trên thảo nguyên, phải đi bằng gót chân vì gan bàn chân đã bị rạch rồi đem gắn bờm ngựa vào. Sau đó, nhờ mưu mẹo và phần lớn bởi may mắn, ông tìm được cách hồi hương, làm người coi ngựa cho một viên sĩ quan hoàng thân. Vị hoàng thân cho ông là người không khôn ngoan, nhưng thật thà, tốt bụng; trong một lần “bỏ đi chơi”, ông bị thôi miên và tiêu một lèo hết năm ngàn rúp của chủ cho một cô gái Digan tên là Grusha. Trở về dinh cơ, không những Ivan không bị quở phạt mà còn được biết vị hoàng thân đã mua đứt cô nàng Grusha kia với cái giá năm mươi vạn rúp – số tiền lớn hơn nhiều gia sản của ông ta. Ông ta sớm trở nên chán ngán cô nàng và vì sa cơ lỡ vận, bắt đầu tính kế “lấy vợ giàu”. Grusha bị ông ta đem nhốt và giao cho ba người đàn bà lực lưỡng canh gác. Sau đó, cô bỏ thoát được và gặp lại Ivan, lúc này đang rối bời vì người tình, ở bờ sông. Tại đây, Grusha thúc ép Ivan lập một lời thề và yêu cầu dùng dao đâm chết cô – điều mà anh đã không làm, mà đẩy cô xuống dòng nước, thay vào đó.

    Ivan sau đó tòng ngũ thế chân cho một thanh niên trẻ. Một lần đại đội của ông cần vượt sông để tóm lũ Tatar, ông xung phong với một mong muốn tối thượng là được chết. Ông đã không chết, trớ trêu thay, trái lại, còn được phong hàm Sĩ quan; sau khi giải ngũ, nhận một lá thư giới thiệu hứa hẹn một chức nghiệp ổn định trong ngạch quan lại. Bàn giấy nhanh chóng làm ông chán ngán, và ông gia nhập tu viện. Nhưng ngay cả ở đó, hành trình cuộc đời của ông có lẽ vẫn chưa an bài; ông tin chắc một cuộc chiến tranh lớn sắp xảy ra và ông sẽ phải “chết vì nhân dân” trong cuộc chiến đó.

    59. Hadji Murad, Leo Tolstoy

    60. Người nhạc sĩ mù, Korolenko

    61. Người thợ dệt ở Raveloe (Silas Marner), George Eliot

    Tôi từng đọc sơ qua cốt truyện của Silas Marner của Eliot trên Wiki, qua lời bình của Walter Besant rằng đó là “cuốn tiểu thuyết Anh hay nhất từng được viết ra”. Giờ đây tôi vừa đọc xong bản dịch của cuốn tiểu thuyết ấy, tựa Việt là Người thợ dệt ở Raveloe, và tôi ngờ rằng Besant đã hơi quá lời khi tâng bốc người bạn văn đồng hương của mình.

    Tôi nghĩ cuốn sách khá khó đọc với nhiều người, có lẽ chủ yếu bởi những phân tích tâm lý tỉ mỉ của Eliot. Nửa đầu cuốn sách khá chậm, nhưng tiết chế ở những đoạn miêu tả cảnh sắc, phong tục. Bạn đọc gần như được thông báo về mọi thứ cần biết. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Silas Marner, một người thợ dệt sống ở Lantern, sau khi bị vu khống trắng trợn trong một vụ mất trộm đã phải rời bỏ quê hương trong nhục nhã. Anh ta dọn đến Raveloe, bối cảnh chính của câu chuyện, và tiếp tục làm nghề quay sợi. Tuổi trẻ của anh trôi qua mòn mỏi, vô vị, và bộ dạng của anh ta phản ánh tình trạng tinh thần của anh ta: bệ rạc, u uất, tự cô lập. Dân làng dè chừng anh ta và ngày lại ngày, anh ta miệt mài kéo sợi, như con nhện giăng tơ, âm thầm tích cóp “những đồng vàng” của mình. Eliot hé lộ rằng anh ta là kẻ keo kiệt, chi li, và rằng thú vui duy nhất đối với anh chàng này là mỗi tối được ngồi “kiểm kê” tài sản đang ngày càng gia tăng của mình. Anh ta sống như vậy suốt mười lăm năm.

    Cho tới nửa đầu cuốn sách, Silas Marner gần như độc chiếm một tuyến truyện riêng biệt. Một bên là Silas cùng cái khung dệt của ông ta, một bên là dân làng Raveloe với những mối quan tâm thôn điền của họ. Nút giao đầu tiên xảy ra khi Dunstan, đứa con thứ mạt hạng của một Địa chủ trong vùng, sau khi để chết con ngựa yêu quý của người anh trai Godfrey, đã lẻn vào ăn cắp tiền của người thợ dệt. Gã trộm sau đó biệt tăm. Cố nhiên Marner rất đau khổ; cho đến một đêm giao thừa, giữa cảnh tuyết rơi mịt mùng, ông ta bỗng tìm lại được đống vàng của mình, nhưng dưới một hình hài khác: một bé gái hai tuổi, tóc vàng hoe. Mẹ đứa bé, người vợ vô thừa nhận của Godfrey và cũng là nỗi đoạ đày của anh ta bấy lâu, đã chết vùi trong tuyết. Marner tin chắc đứa bé là món quà “đền bù” của Thượng đế và nhận nó về nuôi.

    Và hãy dõi xem sự biến chuyển của Silas qua ngòi bút của Eliot:

    “Trong lòng ông hỗn độn với hàng loạt suy nghĩ và cảm xúc, đến mức nếu cố thốt lên thành lời, có lẽ ông chỉ có thể nói rằng đứa trẻ này đến thay cho số vàng đã mất – rằng số vàng đó đã hoá thân thành đứa bé.”

    “Không giống như số vàng kia của ông – thứ chẳng cần gì cả và chỉ có thể thờ phụng trong nỗi cô đơn khép kín, bị giấu biệt khỏi ánh sáng ban ngày, điếc với tiếng chim hót nhưng giật mình trước những âm thanh lạ thường – Eppie là một sinh linh với nhu cầu bất tận và khát khao không ngừng tăng lên. Cô bé luôn tìm kiếm và yêu thích ánh sáng mặt trời, những âm thanh sống động và chuyển động của sự sống; thử nghiệm mọi thứ với niềm tin vào niềm vui mới mẻ, và khơi dậy lòng tử tế trong ánh mắt của bất cứ ai nhìn vào nó. Số vàng ấy trói buộc suy nghĩ của ông theo một vòng lặp bất tận chẳng đi đến đâu ngoài chính nó, nhưng Eppie là hiện thân của những thay đổi và hy vọng, thúc đẩy tâm trí ông tiến về phía trước, rời xa con đường cũ chỉ miệt mài dẫn đến một giới hạn trống rỗng như nhau. Tâm trí ông hướng đến những điều mới mẻ của những năm tháng sắp tới, khi Eppie đủ lớn để hiểu rằng bố Silas đã chăm sóc nó như thế nào. Ông cũng kiếm tìm những hình ảnh tương lai ấy trong mối liên kết và tình cảm gắn bó giữa hàng xóm với nhau. Vàng buộc ông ngồi dệt ngày càng lâu, khiến ông ngày càng điếc lác và mù mờ với mọi thứ ngoài tiếng lạch cạch của khung dệt và tấm vải dệt đơn điệu. Còn Eppie kéo ông rời khỏi khung dệt, khiến ông coi mỗi lần tạm dừng như một ngày lễ, đánh thức mọi giác quan của ông bằng sức sống mới mẻ của con bé – đến cả những con ruồi già sống qua mùa đông cũng bò ra dưới ánh nắng đầu xuân – và sưởi ấm lòng ông thành niềm vui rộng ràng chỉ vì con bé thấy hạnh phúc.”

    Tiền bạc, trong trường hợp của Silas, khiến con người ta hèn mọn, ti tiện, quẩn quanh, sống mòn sống mỏi. Đó là một sự cứu rỗi, một ân điển của Thượng đế khi Người đặt Eppie vào tay Silas, một người thợ dệt độc thân, người chưa từng có lấy bất cứ một hy vọng nào trong đời ngoài số tiền đã mất. “Những giờ đây,” Eliot viết, “một điều gì đó đã thay thế kho báu cũ, mang đến mục đích ngày một rõ ràng hơn cho việc kiếm tiền – nó thúc đẩy hy vọng và niềm vui của ông liên tục vươn về phía trước, vượt xa khỏi bản thân đồng tiền.” Hẳn bạn đọc nào cũng tìm thấy trong những lời này một quan điểm đáng giá về tiền bạc. Nếu trước đây tiền bạc đối với Silas là mối quan tâm độc hữu, là mục đích tối thượng, là tâm điểm của cuộc đời, thì sau khi có Eppie, tiền bạc chỉ là phương tiện để qua đó người ta sống cho hạnh phúc hơn.

    Cuốn sách nhảy cóc mười sáu năm, tới thời kỳ mà Eppie đã ra dáng thiếu nữ, còn Silas thì trở thành một lão thợ dệt già năm mươi lăm tuổi. Không còn gì nhiều để nói. Mọi chuyện kết thúc tốt đẹp đúng như tiêu chí của các tiểu thuyết thời Victoria mà ta thường bắt gặp ở Dickens. Một cái chết và một đám cưới là đủ cho phần hồi kết viên mãn, và trong trường hợp của câu chuyện này, chúng ta có hẳn hai đám cưới.

    Nếu có thể tán chuyện ngoài lề đôi chút, tôi xin bình phẩm rằng hình ảnh của Silas trên bìa sách làm tôi liên tưởng đến lão Goriot của Balzac. Chung cục, Người thợ dệt ở Raveloe là một cuốn sách đáng đọc, được cấu trúc chặt chẽ, hóm hỉnh một cách duyên dáng. Tôi chưa đọc Eliot trong nguyên bản, nhưng với bản dịch này của Phúc Minh, cảm tưởng của tôi về Eliot là bà có giọng điệu rất khoan thai, từ tốn, và hơi thở của tôn giáo luôn phảng phất qua các trang văn, hé lộ một mối quan tâm mạnh mẽ tới chủ đề này của tác giả. Điều này khiến tôi đôi chập phải khựng lại vì ngỡ đang đọc văn của Tolstoy (Tolstoy quả thực có thích văn của Eliot). Ngoại trừ điều đó ra, cuốn sách đem đến một trải nghiệm rất thú vị và thư giãn, đặc biệt sau một thời gian dài nhấm nháp đủ loại tiểu thuyết bi kịch trên đời.

    62. Chuyện ma ám ở trang viên Bly (The Turn of the Screw), Henry James

    63. Bánh ngọt và rượu bia, Somerset Maugham

    64. Đồi gió hú, Emily Bronte, Dương Tường dịch

    65. Kiêu hãnh và định kiến, Jane Austen, Diệp Minh Tâm dịch

    66. Núi thần, Thomas Mann

    67. Faust, Goethe

    68. Trăm năm cô đơn, Gabriel García Márquez

    69. Bài ca Solomon, Toni Morrison

    70. Minh Ám, Natsume Soseki

    71. Nỗi lòng, Natsume Soseki

    72. Botchan, Natsume Soseki

    73. Chữ A màu đỏ, Nathaniel Hawthorne

    74. Narcisse và Goldmund, Hermann Hesse


    TRUYỆN NGẮN

    1. Người đàn bà có con chó nhỏ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    2. Câu chuyện của một hoạ sĩ, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    3. Người trong bao, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    4. Một chuyện tình yêu, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    5. Khóm phúc bồn tử, Anton Chekhov, Phan Hồng Giang dịch

    6. Nàng Lika, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    7. Ruxia, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    8. Natali, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    9. Cuộc đời tươi đẹp, Ivan Bunin

    Đừng để tựa đề đánh lừa. Đây là một câu chuyện cho thấy cuộc đời của con người có thể trở nên bẩn thỉu và đáng tởm đến mức nào. Câu chuyện kể về “hành trình tiến thân” của một người phụ nữ, để ngoi được lên khỏi phận con ở, đã không từ một thủ đoạn gì, sẵn sàng bán rẻ lương tâm, nhân phẩm, cốt cách của con người, chỉ vì TIỀN.

    10. Bố của Simon, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    11. Boitelle, Maupassant

    Boitelle là một gã làm nghề hót phân. Lão có mười bốn người con cả thảy. Khi người ta hỏi tại sao lão phải đi làm cái nghề bẩn thỉu này, thì lão đổ tất cả là do ông bà thân sinh lão đã không tác thành mối tình giữa lão và cô gái da đen năm xưa. Dĩ nhiên là lão yêu vợ mình thật, nhưng nhất quyết không thể bằng cô gái da đen kia. “Cô gái da đen của tôi ấy, cổ chỉ cần nhìn một cái là tâm hồn tôi lên mây.”

    12. Clochettle, Maupassant

    13. Viên mỡ bò, Maupassant

    14. Đi ngựa, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    15. Cái thùng con, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    Maupassant thường lấy tên một đồ vật mang tính then chốt trong truyện ngắn để đặt tựa đề. Chiếc thùng con trong truyện này là thùng rượu, qua đó ông đồng thời lột tả sự tha hoá của hai con người: tên lái buôn quỷ quyệt nhăm nhe miếng đất của bà già, nhưng bà ta nhất mực không bán. Gã bèn lập văn tự đóng thuế hộ bà lão từ giờ cho tới lúc bà lão qua đời để đổi lại quyền sở hữu sau khi bà lão đi chầu. Nhưng bà lão sống dai quá, hắn cay cú. Cuối cùng, hắn mời bà lão về nhà mình một hôm, chiêu đãi bà già nhà quê những vo rượu và bà này mê mệt. Dần dần, bà ta đâm nghiện rượu, vài năm sau thì mất.

    16. Chiếc dây chuyền, Maupassant

    17. Vật tư trang, Maupassant

    18. Cái chết của Ivan Ilyich, Leo Tolstoy

    19. Đức cha Serghi, Leo Tolstoy

    20. Xổ số, Shirley Jackson

    21. Khó mà tìm được một người tốt, Flannery O’Connor

    22. Ả Rập, James Joyce

    23. Số phận con người, M. Sholokhov

    24. Chiếc tủ, V. Pyetsukh

    25. Con bọ vàng, Edgar Allan Poe

    26. Con mèo đen, Edgar Allan Poe

    27. Khóm hoa tử đinh hương, A. Kuprin

    28. Tuyết, K. Paustovsky

    29. Một con người ra đời, M. Gorky

    30. Phát bắn, Puskin

    31. Mùa xuân, Anton Chekhov, Đào Tuấn Ảnh dịch

    32. Nhà thờ, Raymond Carver

    33. Trụ cột của gia đình, Frank O’Connor

    34. Ban thờ người chết, Henry James

    35. Chúng tôi nói gì khi nói chuyện tình, Raymond Carver

    36. Chuyện kỳ lạ về Benjamin Button, F. Scott Fitzgerald

    37. Nỗi buồn, Anton Chekhov

    38. Ngôi nhà của Matryona, A. Solzhenitsyn

    39. Mặt trời, ông già và cô gái, V. Shukshin

    40. Hoa nở muộn, Chekhov

    41. Mumu, Turgenev

    42. Con đầm pích, Puskin

    43. Con gái viên đại uý, Puskin

    44. Những điền chủ nếp xưa, Gogol

    45. Con quỷ, Maupassant, Lê Hồng Sâm dịch

    46. Trên mặt nước, Maupassant

    47. Hai tư giờ trong đời một người đàn bà, Stefan Zweig

    48. Carmen, P. Mérimée

    49. Phòng 6, Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch

    50. Axya, Turgenev, Anh Trúc dịch

    51. Đại lộ Nevsky, Gogol, Phạm Thuỷ Ba dịch

    52. My Life, Chekhov

    53. Rip Van Winkle (1819), Washington Irving, Lê Huy Bắc dịch

    Rip Van Winkle, một người Mỹ gốc Hà Lan, việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng, sợ vợ, sống ở một ngôi làng dưới chân núi Catskill vào những năm trước Cách mạng Hoa Kỳ. Một ngày, trong lúc đi săn trên núi cùng chú chó Wolf của mình, Rip Van Winkle nghe thấy tiếng người gọi mình và lát sau bắt gặp một người đàn ông Hà Lan vác trên lưng một thùng rượu. Là “một ma men từ trong bản chất”, Winkle nhập hội với hội bạn của người đàn ông kia, những người đang chơi ky chín hòn, say đến nỗi “hai mắt bơi trong đầu” và nhanh chóng ngủ thiếp đi.

    Khi tỉnh dậy, Winkle thấy chân tay rã rời, con chó Wolf không thấy đâu, những người đàn ông tối qua cũng biến mất. Anh uể oải trở về làng; mọi vật đã đổi thay, làng mạc không còn như xưa nữa. Bị thiên hạ xì xồ, Winkle mới nhận ra bộ râu của mình đã dài đến ba tấc. Anh tìm tới quán rượu, dò hỏi về những bạn hữu cũ, thì được cho hay trong lúc anh ngủ vùi, hai mươi năm đã trôi qua, nhiều bạn bè của anh đã qua đời trong chiến trận. Winkle bắt gặp một thiếu niên giống mình đang tựa người ở gốc cây; lát sau, một người phụ nữ bước vào, anh nhanh chóng được biết bà vợ độc đoán của anh đã qua đời, còn người phụ nữ trước mặt chính là con gái anh, còn cậu thiếu niên giống anh kia chính là con trai của anh.

    Qua một già làng, Rip Van Winkle được biết về giai thoại những hồn ma của thuỷ thủ đoàn Hà Lan. Con gái ông đưa ông về nhà. Ông trở lại với nếp sống nhàn rỗi thường ngày, tiếp đãi bất cứ khách khứa nào tới thăm bằng câu chuyện kỳ lạ của chính mình. Người ta bán tính bán nghi, tuy nhiên những người Hà Lan nghiêm túc đặc biệt ghi nhớ; họ cho rằng mỗi khi sấm rền ở trên núi, tức là những hồn ma đang chơi ky chín hòn. “Và ước muốn chung của những anh chồng sợ vợ trong vùng một khi phải chịu quá đỗi áp bức thì hẳn họ sẽ ao ước được lặng lẽ uống cạn cả hũ rượu của Rip Van Winkle.”

    54. Tamango, Prosper Mérimée

    Viên thuyền trưởng Ledoux rời Nantes trên con tàu “Hy Vọng” để buôn lậu nô lệ da đen. Trên sông Joale, y đã mua 160 người da đen từ một tên buôn nô lệ da đen Tamango với giá bằng “những ly rượu nhỏ”. Tamango đã bắn chết một người mẹ của ba đứa con nhỏ chỉ vì Ledoux không chịu mua thêm, sau đó, vì say tuý luý, hắn gả luôn một trong hai người vợ của mình – Ayché – cho tên kia.

    Khi tỉnh rượu, Tamango hốt hoảng nhận ra sai lầm của mình và vội vã đuổi theo con tàu. Gã đã đuổi kịp, và nhanh chóng bị đám thuỷ thủ người Pháp chế ngự rồi nhốt chung trong boong cùng những nô lệ khác. Vết thương từ trận ẩu đả khiến Tamango nằm liệt vài ngày, rồi, khi đã hồi phục, gã bắt đầu hô hào những nô lệ đồng hương, vốn cả tin và mê tín, cùng ấp ủ một màn nổi loạn. Qua Ayché, Tamango có một cái giũa nhỏ; nhờ nó, các tù nhân đã tự giải thoát cho mình. Một trận thảm sát diễn ra, tất cả thuỷ thủ trên tàu đều bị giết.

    Lênh đênh giữa biển, đám người da đen giờ chỉ biết phó mặc số phận cho thủ lĩnh Tamango, người rõ ràng chẳng biết nhiều hơn họ là mấy. Nhiều người chết vì đói, vì ẩu đả, vì ngã xuống biển. Khi tàu chiến Anh “Bellona” đi qua, Ayché đã chết, còn Tamango thân bọc xương, thoi thóp. Thống đốc Kingston đã trả tự do cho Tamango; nhưng hắn dần đắm chìm trong rượu chè và sau rốt chết vì sưng phổi ở nhà thương.

    55. Hai sự hiểu lầm, Prosper Mérimée

    Julie de Chaveny không thể yêu chồng mà còn khó lòng tôn trọng chồng đôi chút. Trong sáu năm đầu của cuộc hôn nhân tính toán, tẻ nhạt, nàng dần thấu triệt nỗi bất hạnh của mình và dần thu mình vào sự cô đơn. Nàng được săn đón, và không ai có thể chê trách nàng điều gì.

    Một ngày nọ, Darcy, một nhà ngoại giao, trở về từ Constantinople và đến định cư tại Paris. Julie nhớ lại mối tình dang dở giữa họ khi cô chưa lấy chồng, và cảm thấy hối tiếc khi anh phải đi xa để lập nghiệp. Khi gặp lại anh, cô tin rằng mình đã tìm lại được tình yêu mà anh dành cho cô. Và khi anh nhẹ nhàng gợi lại ký ức này, cô thú nhận sự vỡ mộng trong hôn nhân rồi ngả vào vòng tay anh.

    Darcy ngạc nhiên, tin rằng việc chinh phục người đẹp này quá dễ dàng. Julie, người ấp ủ khát khao được yêu thương mãnh liệt, một lần nữa thất vọng, xấu hổ, gờm tởm bản thân vì đã ngã lòng. Nàng tức tốc lên đường về với mẹ để ẩn nấu, nhưng đã chết dọc đường đi.

    Sau khi nàng chết, Darcy không bao giờ nói đến nàng. Vài tháng sau, chàng cưới vợ có gia tài.

    56. Quỷ Sứ và Tom Walker, Washington Irving, Lê Minh Đức dịch

    57. Nữ gia sư, Stefan Zweig

    58. Người thợ săn, Anton Chekhov, Cao Xuân Hạo dịch

    59. Colomba, Mérimée

    60. Mưa, Maugham

    61. Bất khuất, Maugham

    Thực ra tôi không thích cái kết của truyện này lắm, dù cảm xúc đọng lại trong tôi khá rõ rệt. Nó hao hao sự căm tức và bí bách mà Pierre và Jean của Maupassant từng gây cho tôi.

    62. Gambrinut, Kuprin, Xuân Du dịch

    63. Sự sa ngã của Edward Barnard, Maugham

    64. Một người có lương tâm, Maugham

    65. Bản Sonata Kreutzer, Lev Tolstoy, Trần Thị Phương Phương dịch

    66. Những quần đảo thần tiên, Maugham, Nguyễn Hiến Lê dịch

    67. Zadig hay Số phận, Voltaire, Lê Tư Lành dịch

    68. Tanhia, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch

    69. Ở Paris, Ivan Bunin, Phan Hồng Giang dịch


    TIỂU LUẬN

    1. Truyện ngắn là gì? (1958), Somerset Maugham, Thành Long dịch

    2. Ten Novels and Their Authors (1954), Somerset Maugham

    3. Vài khía cạnh của truyện ngắn (1970), Julio Cotázar, Đức Anh dịch

    4. Kinh nghiệm viết truyện ngắn của Raymond Carver, Thanh Diệp dịch

    5. How to Write a Thriller (1963), Ian Fleming

    6. The Philosophy of Composition, Edgar Allan Poe

    7. Как я пишу, Maxim Gorky

    8. Kì lạ thế đấy cuộc đời này, Danil Granin, Đoàn Tử Huyến dịch

    9. The Art of Fiction, Henry James & Walter Besant

    10. Books and You, Somerset Maugham


    HỒI KÝ & TUỲ BÚT

    1. The Summing Up, Somerset Maugham

    2. LETTERS OF ANTON CHEKHOV TO HIS FAMILY AND FRIENDS

    3. Afloat, Maupassant

    4. Looking Back (1962), Somerset Maugham

    5. Mystery and Manners, Flannery O’Connor

    6. Dagestan của tôi, Rasul Gamzatov, Phan Hồng Giang dịch