GỬI MỘT NỮ SINH Ở MỸ, người đã viết thư (theo gợi ý của giáo viên) để xin lời khuyên về cách viết lách.
Ngày 14 tháng 12 năm 1959
Rất khó để đưa ra bất kỳ lời khuyên chung chung nào về việc viết lách. Dưới đây là nỗ lực của tôi.
(1) Hãy tắt radio đi.
(2) Hãy đọc tất cả những cuốn sách hay mà bạn có thể, và tránh xa gần như tất cả các loại tạp chí.
(3) Luôn luôn viết (và đọc) bằng tai, chứ không phải bằng mắt. Bạn nên nghe thấy từng câu mình viết như thể nó đang được đọc thành tiếng hoặc đang được nói ra. Nếu nghe không hay, hãy thử lại.
(4) Hãy viết về những gì thực sự khiến bạn quan tâm, cho dù đó là những điều có thật hay những điều tưởng tượng, và không gì khác nữa. (Lưu ý điều này có nghĩa là nếu bạn chỉ quan tâm đến việc viết lách, bạn sẽ không bao giờ trở thành một nhà văn, bởi vì bạn sẽ không có gì để viết cả…)
(5) Hãy dốc sức để viết một cách rõ ràng. Hãy nhớ rằng mặc dù bạn bắt đầu bằng việc hiểu ý mình muốn nói, nhưng người đọc thì không, và một từ chọn sai có thể dẫn họ đến sự hiểu lầm hoàn toàn. Trong một câu chuyện, người ta rất dễ quên mất rằng mình chưa kể cho người đọc điều mà họ muốn biết — toàn bộ bức tranh đã quá rõ ràng trong tâm trí bạn đến nỗi bạn quên mất rằng nó không hề giống như vậy trong tâm trí người đọc.
(6) Khi bạn từ bỏ một phần tác phẩm nào đó, đừng vứt nó đi (trừ khi nó dở đến mức vô phương cứu chữa). Hãy cất nó vào ngăn kéo. Nó có thể sẽ hữu ích sau này. Phần lớn những tác phẩm tốt nhất của tôi, hoặc những gì tôi cho là tốt nhất, là việc viết lại những thứ đã bắt đầu và bị bỏ dở từ nhiều năm trước.
(7) Đừng dùng máy đánh chữ. Tiếng ồn của nó sẽ phá hủy cảm nhận về nhịp điệu của bạn, thứ vốn cần nhiều năm rèn luyện mới có được.
(8) Hãy chắc chắn rằng bạn hiểu nghĩa (hoặc các nghĩa) của mọi từ mà bạn sử dụng.
Cuốn sách này đã thiêu đốt tôi theo một cách nào đó. Tôi đã mong chờ được đọc cuốn sách này từ cách đây nửa năm, nhưng phải đến cuối tháng Một vừa qua, tôi mới có cơ hội được cầm nó trên tay và, nhấm nháp cuốn sách này trong một buổi tối rảnh rỗi, với nhiều lần đọc ngắt quãng.
Về bản chất, Bí mật thiêu đốt tâm can là một tiểu thuyết ngắn. Cốt truyện có thể được hiểu như một cuộc đi săn, xoay quanh ba nhân vật chính: một chàng nam tước hào hoa phong nhã, kẻ chinh phục và thành thạo mọi ngón nghề quyến rũ đàn bà; đối tượng của nam tước – một thiếu phụ thượng lưu xinh đẹp, nghiêm nghị; và Edgar, cậu con trai nhút nhát, ốm yếu, cô độc của người thiếu phụ.
Rất nhanh chóng, nam tước chủ động làm quen với Edgar, lợi dụng cậu để tiếp cận bà mẹ. Thoạt đầu Edgar gần như choáng váng, phát cuồng vì sự quan tâm bất ngờ tới từ quý ông lịch duyệt này; cậu ngưỡng mộ nam tước vô ngần. Nhưng cậu sớm nhận ra ý đồ thật sự của nam tước: ông ta gạt phăng cậu khi đã làm quen được bà mẹ, và mẹ cậu, người hiển nhiên trong cảnh cô đơn chán chường đã ngã lòng, cũng cật lực tìm cách tống khứ cậu đi cho khuất mắt đặng giúp những cuộc hẹn hò vụng trộm dễ bề trót lọt. Ở đây có một sự chuyển biến ngoạn mục về mặt tâm lý của Edgar: từ một cậu bé ngoan ngoãn, có phần nhút nhát và khép kín, Edgar, sau khi trải qua sự thù ghét, căm hờn, đã vùng lên và “tuyên chiến” với cặp đôi. Cậu bắt đầu sắm vai một kẻ do thám, và một cách vô thức, cậu trở thành người bảo vệ phẩm giá cho mẹ mình (hãy đọc phân đoạn khi Edgar nhấn mạnh từ “cha” trước mặt nam tước và mẹ mình và đắc ý khi nhận thấy nét hoảng loạn trên khuôn mặt cả hai người lớn). Cậu dần dần nhận thức được quyền lực của mình và ra sức bám sát cặp đôi, mặc dù cậu vẫn không hiểu được cái bí mật của thế giới người lớn, rằng rốt cuộc họ dính lấy nhau để làm gì. Ngược lại, người đọc chúng ta đều biết họ sẽ làm gì với nhau, rằng mọi cuộc dạo chơi vụng trộm rồi sẽ dẫn đến chiếc giường, nhưng Edgar không biết gì cả, tuyệt nhiên không. “Bí mật” trong tiêu đề không chỉ là cuộc ngoại tình, mà còn là sự khám phá (hoặc vỡ mộng thì đúng hơn) của Edgar về thế giới người lớn – một thế giới đầy nhục dục mà cậu cảm nhận được nhưng chưa thể hiểu hết bằng lý trí.
Điều kỳ lạ về cuốn sách này là: tôi không đặc biệt yêu thích hay ghét bỏ một nhân vật nào cả. Tôi cũng chẳng cảm thông với họ. Stefan Zweig để xử lý ổn thoả để khiến nam tước không quá đểu giả, người thiếu phụ không quá đáng khinh, và cậu bé Edgar không quá đáng thương. Trên thực tế, đôi lúc tôi còn thấy Edgar phiền phức là khác: cứ để quách cho hai người họ ngủ với nhau đi, rồi xem điều gì sẽ xảy ra? Cứ để thằng Edgar khám phá ra sự thật ấy đi, rồi xem trái tim bé bỏng ấy sẽ tan vỡ thế nào?
Và cách Stefan Zweig xử lý những thách thức này đã khiến tôi bất ngờ. Đoạn kết của cuốn sách, đầy cảm động và cao thượng, đã khiến câu chuyện tưởng đâu phù phiếm về một cuộc ngoại tình ở một khách sạn hẻo lánh trở nên đáng đọc hơn bao giờ hết.
Dạo này tôi chẳng làm gì. Từ khi viết xong Mưa xuân, cảm tưởng như một phần thiết cốt trong mình bị rút hẳn ra. Sách thì tôi vẫn đọc đều, nhưng chủ yếu là đọc lại những truyện cũ.
Sáng nào thức giấc ở Hà Nội, tôi cũng tưởng như mình vừa từ dưới mồ ngoi lên. Thật may là tôi không phải đâm ra ngoài trong tiết mưa phùn bẩn thỉu này. Rất thường xuyên, tôi không biết làm gì cho hết ngày, nên tôi cứ nhàn nhã nhấm nháp từng trang sách một. Với kiểu sống thế này, ngay giữa tuổi thanh niên, tôi dễ bị cho ăn vài phát tát. Nhưng người ta không hiểu được…
… Trước nay tôi luôn viết từ ký ức. Lắm lúc tôi nghĩ cũng buồn cười, phần nhiều những tác phẩm tôi viết đa phần là viết để trút bỏ một hồi ức, một kỷ niệm, một gương mặt, hay một nỗi dằn vặt nào đó. Mà có lẽ chúng chẳng đáng được coi là sáng tác; chúng mang quá nhiều nét tự truyện. Phơi bày trần trụi tâm hồn mình như thế có ổn không, có thoả đáng không? Tôi có ngại không? Ừ, cũng hơi ngài ngại đấy! Và tôi cũng chẳng bao giờ đặt ra cho mình câu hỏi rằng tôi viết cho ai; nói cách khác, tôi không có cho mình một độc giả tưởng tượng, điều mà tôi cho mọi người thường ngộ nhận về công việc của nhà văn. Tôi nghĩ nghệ thuật là lặn ngụp trong thế giới nội tâm để đi tìm chính mình, và sự thoả mãn trước tiên là thuộc về người nghệ sĩ. Niềm vui của sáng tạo đến trong quá trình làm việc… Tôi nhớ từng đọc được một câu của Proust rằng ông ấy bận rộn “phục dựng toà dinh thự nguy nga của kỷ niệm”. Văn chương hay nắm bắt trọn vẹn một khoảnh khắc, một lát cắt của đời sống, và hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy ở trong những sát na ấy mà thôi.
… Gần đây tôi đọc nhật ký của Bunin. Thời trẻ, ông ấy thừa nhận bản thân không có khiếu bịa chuyện, – các tác phẩm đầu tay của ông ấy thật ra đúng với dạng tuỳ bút, tản văn ngày nay hơn. Ông cũng từng nói thể loại nhật ký trong văn học sẽ lên ngôi một ngày nào đó. Nhưng, đến những năm bốn mươi tuổi, Bunin thừa nhận trí tưởng tượng của ông ấy đột nhiên bùng phát – sao lại thế được nhỉ… Và tôi cũng bắt đầu nhận ra tính chất dài dòng, lan man trong văn xuôi của ông ấy. Tôi sẽ không cố gắng viết giống ông ấy nữa, mà sẽ cố gắng viết càng khác ông ấy càng tốt. Sẽ không có một dấu vết nào cho thấy sự ảnh hưởng ở đây.
Tôi sẽ về nhà vào thứ Năm tới. Tôi đã sắm sửa kha khá cho khoản bày trí nhà cửa, giờ chỉ còn lo việc tút tát lại chính mình thôi – một năm rồi tôi chưa mua quần áo mới. Tôi thấy diện mạo của mình ngày càng ổn: mặt mũi bắt đầu hiền hoà hơn (dù tính nết vẫn kỳ quặc như cũ), cân nặng ổn định, giọng nói bớt phần lè nhè; tôi chỉ hơi tiếc mấy bắp thịt trên người, từ ngày bỏ chơi bóng rổ, người ngợm cứ nhão nhoét hết cả ra.
Toni Morrison vốn nổi tiếng với các tác phẩm theo khuynh hướng nữ quyền của người da màu, khắc họa những thách thức của việc lớn lên dưới thân phận một người phụ nữ da đen trong nền văn hóa do đàn ông da trắng thống trị (Yêu dấu và Mắt nào xanh nhất là hai ví dụ điển hình). Vì thế, thành công vang dội của Bài ca Solomon, một tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là nam giới da đen, là một màn đổi gió khá ngoạn mục.
Khi được hỏi tại sao lại chọn một nhân vật nam làm trung tâm cho Bài ca Solomon, Morrison trả lời: “Vì tôi nghĩ anh ta có nhiều điều phải học hỏi hơn là một người phụ nữ.” Bà cũng thú nhận rằng mình đã cố ý “thử cảm nhận những điều vốn không hấp dẫn tôi nhưng tôi nghĩ lại hấp dẫn đàn ông, như cảm giác chiến thắng, cảm giác đá vào ai đó, hay lao vào một cuộc đối đầu; cái cảm giác phấn khích khi họ gặp nguy hiểm.” Lấy cảm hứng từ nhiều câu chuyện, thần thoại và truyền thuyết, tác phẩm tập trung vào hai tích truyện chính: truyện dân gian của người Yoruba về những người châu Phi biết bay và sách Song of Solomon, cuốn sách thứ 22 trong Cựu Ước.
Nhân vật chính của chúng ta là Macon “Milkman” Dead III, biệt danh Hàng Sữa. Cuốn tiểu thuyết mở đầu và kết thúc với cảnh bay lượn, luân phiên giữa thực tại và quá khứ, giữa miền Bắc và miền Nam, trong khi Hàng Sữa, ban đầu vốn là một chàng trai da đen ngoài ba mươi với lối sống lông bông, ích kỷ, ưa hưởng lạc, dần khám phá ra cội nguồn cùng bản sắc của mình, hay nói cách khác, Hàng Sữa đã trưởng thành. Và thông qua đó, như Toni Morrison ngụ ý, Hàng Sữa đã học được cách bay.
Hàng Sữa sinh ra trong một gia đình da đen giàu có tại miền Bắc nước Mỹ nhưng lại nghèo đến thảm hại về mặt tinh thần. Cha anh là một người sùng bái vật chất, lạnh lùng và tàn nhẫn; mẹ anh sống mòn mỏi trong sự ghẻ lạnh (ông đã phớt lờ nhu cầu tình dục của bà hàng thập kỷ, và thực chất Hàng Sữa chui được ra ngoài là nhờ mẹ anh “bẫy” cha anh). Và cứ thế, Hàng Sữa lớn lên như một kẻ ích kỷ, lạc lối, một đứa em út được nuông chiều, một gã công tử bột ba mươi tuổi vẫn chưa cai sữa về mặt tinh thần, hoặc một người tuy còn trẻ nhưng đã “chết” (Câu nói “I’m already Dead!” được nhại lại rất nhiều) về mặt tâm hồn.
Cốt truyện thực sự bắt đầu khi Milkman quyết định đi tìm kho báu – một túi vàng được cho là gia sản thất lạc của bà cô Pilate – đây có lẽ là nhân vật ấn tượng nhất cuốn sách, nhưng ta sẽ bàn về bà ấy sau. Cuộc hành trình đưa Hàng Sữa ngược về miền Nam nông thôn, quê gốc của gia đình anh. Trớ trêu thay, Hàng Sữa không tìm thấy vàng. Thay vào đó, anh tìm thấy lịch sử đau thương nhưng hào hùng của tổ tiên mình, những bài hát đồng dao của đám trẻ con chứa đựng kiến giải về dòng họ, và huyền thoại về Solomon, một người nô lệ da đen đã cất cánh bay về Phi Châu, bỏ mặc vợ con của mình.
Solomon đã bay đi mất, Solomon đã đi thật rồi
Solomon băng qua bầu trời, Solomon về lại quê nhà.
Chuyến đi tìm vàng biến thành hành trình tìm lại bản ngã, hành trình lần về cội nguồn và hành trình trưởng thành về mặt nhận thức. Thực tại và quá khứ hoà nhập vào nhau, tất cả trải ra trước Hàng Sữa là một lịch sử về dòng họ mình. Thật sự là đến đoạn Hàng Sữa giải được bài vè, mình có cảm tưởng như đang đọc truyện trinh thám của Agatha Christie vậy (Mười người da đen nhỏ). Từ một kẻ ích kỷ, hưởng lạc, không cá tính, không biết mình phải làm gì trong đời, một chàng trai sống cuộc đời quá an toàn – một con côn trùng nằm trong kén, Hàng Sữa đã phá được lớp bọc để vỗ cánh bay vào thinh không…
Bây giờ là về nhân vật gánh cả cuốn sách: bà cô Pilate. Pilate là em gái ruột của cha Hàng Sữa. Hai anh em từng xảy ra hiềm khích và dù cách nhau vài dãy phố, đôi bên đã đoạn tuyệt từ lâu. Bà sinh ra không có rốn, sống nghèo khổ nhưng tự tại, mang theo cái tên của mình trong một chiếc hộp bằng đồng đeo ở tai – ngụ ý cho việc dù đi đâu về đâu, bà vẫn luôn giữ liên hệ với gốc rễ của mình. Pilate đại diện cho cội nguồn, cho tình yêu thương bao dung và những giá trị truyền thống mà những người da đen hiện đại như cha của Hàng Sữa đã đánh mất. Dù cơm không lành canh không ngọt với ông anh, Pilate rất quý mến đứa cháu Hàng Sữa và trong phần lớn cuốn sách, bà đóng vai trò người định hướng, kim chỉ nam trong hành trình trưởng thành của anh.
Mình phải thú nhận đây không phải một cuốn sách dễ đọc. Dù câu từ chẳng có gì trúc trắc, cách hành văn cũng rất nhịp nhàng, sẽ hơi chật vật nếu các bạn lao vào đọc cuốn này mà trong đầu không có chút trang bị gì về bối cảnh, chủ đề chung, và mình khuyên các bạn nên đọc trước vài nét về cốt truyện. Phi tuyến tính mà, nếu không nắm rõ thì dễ nản lắm.
Và mình cũng nói trước rằng có thể sau khi đọc xong bạn cũng chưa hiểu gì ngay đâu. Sách rất nhiều chi tiết ẩn dụ, từ tên nhân vật, phục sức (tỉ dụ như cái vòng đeo tai của bà cô Pilate), hay đến cả cái biệt danh Hàng Sữa cũng là ẩn dụ nốt. Một cuốn sách không hợp để chill, nhưng rất phù hợp nếu bạn thích giải đố, và sẽ là cuốn sách cần đọc ít nhất hai lần.
Tính đến hiện tại, Washington Square là tác phẩm dễ hiểu, dễ cảm và xem chừng là dễ viết về nhất của Henry James mà mình đọc được. Tiểu thuyết này kể câu chuyện về những nỗ lực của một người cha, một danh y nổi tiếng vào những năm 1880 tại New York, nhằm cứu rỗi cô con gái độc nhất của mình khỏi nanh vuốt của một gã tài tử mà ông tin rằng là một kẻ đào mỏ.
Kịch bản này gợi mình nhớ đến truyện vừa Của hồi môn của Maupassant, cũng kể về một cuộc hôn nhân vụ lợi với giọng văn mỉa mai, nhưng ở đây Henry James đã xử lý câu chuyện theo một cách khiến mình khá bất ngờ.
Thoạt đầu, James để mình lơ lửng giữa hai bên; mình không biết Morris (đó là tên gã thanh niên) có thực sự là một gã đào mỏ hay không. Người đọc được cho biết gần như tất tật những gì cần biết về nhân vật chỉ trong vài chương đầu: ông bố, Đốc tờ Sloper, một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng, kiếm bộn tiền, đã goá vợ từ lâu và sống với Catherine, cô con gái duy nhất (một cô gái lành như đất) cùng bà em ruột đồng bóng của mình. Morris, một người đàn ông trạc ba mươi tuổi với diện mạo bảnh bao, có quá khứ bí ẩn, bất ngờ xuất hiện ở New York và tiếp cận Catherine, rồi thông qua sự tiếp tay của bà dì, gã nhanh chóng chiếm được cảm tình của nàng tiểu thư.
Riêng có Đốc tờ Sloper vẫn khăng khăng rằng Morris là một kẻ đào mỏ, rằng trong thâm tâm và qua “con mắt quan sát nhà nghề” của mình, Đốc tờ đinh ninh gã kia thực chất rất ích kỷ (ông đã đúng!), và chính ông cũng biết thừa rằng con gái mình chẳng thể liệt vào dạng giai nhân để mà được theo đuổi sốt sắng tới vậy. Quả thật Catherine là một cô gái rất bình thường: cô không xinh (ít nhất qua những nét phác hoạ của James là cô không hề “nổi bật”), cô rất nhút nhát, không biết ăn diện, trí tuệ tầm thường, và trong phần lớn cuốn sách cô nhẫn nhịn phục tòng ý chí của ông bố mình, người, dù rất yêu thương con gái mình, lại luôn đối xử với cô một cách trịch thượng, mai mỉa. Và cứ thế, điều duy nhất khiến Catherine khác biệt là ở tấm lòng chân chất, ngây thơ, thuần phác của nàng, nhưng chủ yếu vẫn là ở đống tài sản kếch xù.
Mặc Đốc tờ ngăn cấm, Morris vẫn năng lui tới nhà thăm Catherine nhân lúc bác sĩ vắng nhà, vẫn là qua sự tiếp tay của bà dì goá chồng xuẩn ngốc. Bà này đui mù đến mức không nhận ra được sự đểu cáng rành rành của Morris, hoặc không, bà ta không muốn nhận ra, trong vô thức bà ta dần dần coi anh ta như con đẻ của mình (vâng, bà ta không có con). Bà tìm mọi cách để se duyên đôi lứa, thậm chí táo tợn đến mức mách Morris nên cùng Catherine kết hôn trong bí mật, bà sẽ là chứng nhân cho tấn kịch ấy, và, biết đâu, bằng tình yêu son sắt thuỷ chung, kiểu gì ông bác sĩ chẳng nguôi giận mà chấp nhận ban phước cho đứa con gái ngu dại của mình.
Cốt truyện diễn tiến thì các nhân vật chia thành hai phe: một bên là ông bác sĩ với sự quả quyết không xê dịch của mình, ông đã tìm đến tận bà chị ruột của Morris để hỏi thăm về anh chàng và nhận được câu trả lời đã xác nhận mối nghi ngờ của ông bấy lâu nay là chính xác, ông hài lòng và đắc thắng; bên còn lại là Morris, vẫn không thôi hào hoa phong nhã, thở ra câu nào là bay bướm câu đấy, cùng sự phù trợ của bà dì giàu trí tưởng tượng, người đã quyết định phản bội anh mình. Thế Catherine ở đâu? Cô nàng bất hạnh nằm ở giữa sợi dây thừng làm điểm mốc, còn hai bên kia ra sức giành giật cô về phía mình. Cô cố gắng giữ tròn bổn phận với cha, không đời nào cô dám bất tuân mệnh lệnh của ông, nhưng cô cũng không thể để Morris héo mòn vì chờ đợi. Cô nàng cũng đui mù hệt như bà dì mình, trong khi người đọc thì từ lâu không ai là không nhận ra bộ mặt giả trá cùng cái động cơ bẩn thỉu của anh chàng.
Mối tình cứ dằng dai như thế cho đến khi ông bác sĩ đưa ra miếng đòn tối hậu: cắt sạch tiền thừa kế của con gái, thậm chí chấp nhận mất con, nếu Catherine dám cả gan kết hôn với tên Morris kia. Ông cực lực tìm cách để cứu con gái ra khỏi vũng lầy mà cô sắp ngập ngụa trong đấy: “Thà đau khổ vì thất tình ba tháng rồi thôi còn hơn lâm cảnh cùng cực trong cả phần đời còn lại…”
Cuối cùng thì Morris đã thoái lui và bỏ rơi Catherine một cách tàn nhẫn. Bác sĩ tự đắc vì con mắt nhìn người chưa bao giờ sai của mình, và cuộc sống trong ngôi nhà ốp gạch ở Washington Square tiếp tục trôi qua trong phẳng lặng. Bác sĩ già đi rồi qua đời, trước khi chết vẫn một mực ngăn cản Catherine, lúc này đã là một bà cô bốn mươi tuổi, là cô không được kết hôn với Morris sau khi ông khuất núi. Nếu cô làm vậy khác nào ông thua cuộc? Đó cũng là lần đầu tiên Catherine dám cưỡng lệnh cha mình. Chuyện tái ngộ của Morris và Catherine ra sao, xin bạn đọc tự khám phá ở chương cuối…
Giờ thì đến một vài suy tưởng của mình sau khi gấp cuốn sách lại. Câu chuyện bi kịch này cho thấy cuộc đời một người phụ nữ yếu đuối, ngây thơ, tốt nết có thể bị huỷ hoại ra sao bởi những ham muốn đớn hèn của chính những người thân cận. Morris nhắm Catherine chỉ vì tiền; bà dì, người được giao trọng trách kèm cặp nàng, thì lại cảm mến gã đốn mạt kia và bán đứng nàng; ông Đốc tờ, người bố cứng nhắc, gia trưởng, người chưa bao giờ nhìn nhận Catherine như một con người tự do với những nhu cầu và khát khao riêng, thì luôn tâm niệm mình đang cứu rỗi nàng, trong khi thực chất ông mới là người huỷ hoại nàng nhiều nhất. Ông giàu có, kiêu hãnh và hiếu thắng – ông nhất định phải khiến con gái sáng mắt ra. Và ông đã đúng, đã thắng, nhưng cái giá phải trả là gì? Mình nghĩ đến lúc chết người đàn ông kiêu mạn ấy vẫn không ngộ ra rằng ông ta đã “giết chết” con gái mình ra sao. Tuổi trẻ, cái phần sinh lực quý giá nhất đời người, đã qua đi trong mòn mỏi, trong đợi chờ vô vọng. Tình yêu đã chết, kỷ niệm đau đớn chôn vùi nơi đáy tim, và Catherine của chúng ta hoá chai sạn – trái tim của nàng đã bị phong ấn. Mà bi kịch của nàng là gì? Nàng không được phép sai.
Vào cái thời sinh viên của mình, tôi từng thuê trọ ở phố S. thuộc quận Thanh Xuân, gần mặt đường Lê Trọng Tấn, chung chủ với một lão già tên Hưng, một người phốp pháp tuổi trạc lục tuần, có mái tóc muối tiêu bò liếm, thường dậy từ sớm tinh mơ, mình mặc chiếc áo khoác rằn ri không tay và ngồi gác chân lên bàn xem thời sự buổi sáng. Lão sung túc và thong dong, sống ở căn nhà ba tầng ngoài mặt đường với bà vợ trắng lốp và cô con gái bỏ chồng, còn tôi thuê của lão một phòng đơn trên tầng thượng trong cái nhà nghỉ năm tầng cổ lỗ mà lão đem chắp vá thành nhà trọ cho đám sinh viên rồi thu giá cắt cổ. Đồ đạc trong phòng ngoài chiếc giường chân cao đối diện cửa ra vào thì chỉ có một chiếc quạt trần nhám bụi, một chiếc TV đã hỏng và một chiếc điều hoà hiệu Casper còn khá mới. Phòng không có cửa sổ, duy có một khung cửa chớp sát trần là nơi ánh sáng le lói ngoài con ngõ tối tăm rọi vào; những ngày mùa đông u ám, nhiều khi tôi sực tỉnh giữa chiều mà không phân định nổi đang là ngày hay đêm…
Thoạt tiên lão Hưng đối xử khá niềm nở, lão cùng vợ cũng xăng xái đỡ đần này kia, mấy ngày đầu còn mời tôi qua nhà dùng bữa, rồi dần dà chẳng rõ sự thể ra sao, lão bắt đầu giở thói ương gàn, hách dịch. Dường như chuyện vợ chồng lão không êm thấm cho lắm, nên lão cứ mò sang nhà trọ hoài, sau rốt còn ngủ hẳn ở phòng tầng trệt sát gian khách. Từ ấy lão biến cuộc đời tôi thành ác mộng. Mặt lúc nào cũng hằm hằm, lão chăm chăm bới bèo ra bọ và riêng về tính nết thì là con người ki bo nhất hạng. Đến giờ sau khi đã gặp đủ mọi hạng người, tôi vẫn tin trần đời hiếm có ai keo kiệt hơn lão già ấy; tiền nhà đắt đỏ đã đành, đằng này lão còn thu thêm mỗi tháng trăm nghìn tiền nước nhưng nhất quyết không cho tôi dùng chiếc máy giặt Panasonic mà lão kê ngoài sân thượng, nói rằng đó chỉ dành cho những khách trọ đến nghỉ ngắn ngày mà thôi (dù tôi thấy phần đông chỉ là mấy cặp đôi vào hú hí với nhau)… Nhưng thôi mặc lão la lối, thi thoảng lười quá tôi vẫn giặt trộm, còn thì quần áo cũng chẳng có mấy nên tự giặt tay cho nhanh. Từ ngày phát hiện ra việc lén lút ấy, lão càng căm ghét tôi hơn, còn về phần mình tôi cũng chỉ mong đến ngày hết hợp đồng để mà cuốn gói.
Sang tháng mười một, khi những đợt khí lạnh đã bắt đầu, tôi xin được một chân hầu bàn ở một tiệm cà phê nho nhỏ theo phong cách bao cấp, nằm ở con ngõ vắt ngang phố Chùa Bộc và phố Tam Khương. Dạo ấy tôi ít ở nhà hẳn, thảng hoặc mới đụng mặt lão Hưng, vả lại tôi cũng đóng tiền đúng hạn nên lão chẳng có gì mà bắt bẻ. Cuộc sống sinh viên của tôi bắt đầu đi vào nền nếp: sáng học trên trường, chiều lên ngồi thư viện, tối đi làm thêm. Thật ra tôi vào làm cái quán cà phê vắng tanh ấy cũng chỉ vì nó gần trường của An Dung, bạn gái của tôi từ thời cấp ba, thành ra rất tiện đường cho tôi tạt qua thăm nàng mỗi ngày. An Dung trọ ở khu tập thể X trong một căn phòng rộng rãi, sáng sủa, với một khung cửa sổ lớn thường được để ngỏ mà chiều chiều nàng hay tựa tay chống cằm ngó xuống sân chơi. Cạnh cái sân chơi ấy, dưới tán một cây đa xoè rộng hay có mấy ông già ngồi chụm đầu đánh cờ tướng, cãi nhau ỏm tỏi cả lên cứ như mấy đứa con nít. Tôi cũng hay đứng đó đợi nàng luôn… Giờ hồi tưởng lại thì khi ấy nàng quả thật rất xinh xắn: nước da trắng trẻo, bên dưới tấm áo sơ mi may rộng lộ ra xương quai xanh thanh tú và cần cổ thanh thanh, trắng muốt, ngực nàng nhô cao và khi nấu ăn nàng giữ lưng thẳng đuột, mái tóc hung hung mỏng mượt loà xoà chấm vai. Lúc đứng một mình, nàng trông có vẻ một tiểu thư tỉnh lẻ, một cô gái xinh xắn, tự tin và ý thức rất rõ về sức hút của mình; nàng làm duyên làm dáng dễ sợ và nếu ai không biết nàng thì dễ nghĩ nàng là người đỏng đảnh vô cùng. Nhưng lúc ở bên cạnh tôi thì bao giờ nàng cũng là An Dung, là người con gái chân phương, khoan hoà, dễ chịu. Nàng yêu tôi dịu dàng, âu yếm, thường ngày nói năng rất nhỏ nhẹ, chỉ lâu lâu mới giở thói ngang ngạnh, bướng bỉnh; những lúc ấy nàng đã muốn gì là đòi cho bằng được, ép tôi phải phục tùng ý chí của nàng, nhưng, suy cho cùng thì con gái khi yêu ai mà không thế nhỉ…
Một tối thứ sáu nọ, trước lúc về quê ăn Tết vài tuần, An Dung sang trọ thăm tôi. Sau khi lòng vòng quanh những con phố nhớp nhúa và ăn một bữa ăn tạm bợ, chúng tôi đi dạo ở công viên. Trời đã tối lắm, trên con đường lát đá quanh co chỉ thấy mấy ông bà già đang chầm chậm rảo bước, bao quanh những rặng cây khẳng khiu đen sẫm là một dải sương lam nhờ nhờ đục. Trong làn gió lành lạnh đưa lại mùi hương của mưa, của cỏ non mới cắt, và trên bầu trời cao thăm thẳm, lốm đốm những vì sao đứng cách xa nhau như giận hờn điều chi, còn mặt trăng chừng như rụt rè nên cứ nấp mình sau những phiến mây mỏng. Khi chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá cạnh bồn hoa, tiếng xe cộ ngoài phố chỉ còn như những tiếng vo ve bên tai, và nghe rõ tiếng sóng vỗ nhịp nhàng, êm ái vào mạn hồ. Cảnh hoàn toàn thơ mộng… Chúng tôi vừa ngắm mặt hồ gợn sóng lấp loáng những dải vàng rực vừa hăng say chuyện trò. An Dung tựa đầu vào vai tôi và kể những chuyện bâng quơ không đầu không cuối, cơ hồ cứ nhớ ra điều gì là nàng kể lại điều ấy. Và chẳng chốc thì tôi cũng đâm ra lắm lời nữa kia! Trong lòng cảm thấy lâng lâng, êm ái, chúng tôi toàn nói những chuyện cao xa, chuyện của sau này, và tranh nhau phác thảo những dự đồ cho tương lai hai đứa, trong khi vẫn chen chúc nhau trong những con phố tồi tàn và có khi ngày mai còn chưa biết mình sẽ ăn gì.
Đến chín giờ thì tốp người đi bộ đã ra về hết, chỉ còn lại mấy tay câu cá là vẫn lẳng lặng ngồi im như tượng trong bóng tối mờ mờ. Vạt cỏ dưới chân chúng tôi ướt đẫm. Màn sương lãng đãng trên mặt hồ đã dày tới mức như cắt được ra thành từng mảng.
“Sương xuống nhiều quá,” An Dung xoa xoa tay vào nhau và nói. “Này anh thử sờ váy em xem, cứ như đang mặc quần áo ẩm ấy!”
“Ừ,” tôi trả lời, “có lẽ phải về thôi, cảm lạnh mất.”
“Mới gặp nhau được có tý,” nàng phụng phịu bĩu môi. Tôi nhìn vào đôi mắt đen rất đẹp của nàng và thấy trong vẻ nũng nịu của nàng có gì đó thật đáng yêu, hồn nhiên như con trẻ. Trong lòng cảm thấy xao xuyến, tôi liền ôm ghì lấy nàng, hôn liên tiếp vào môi, vào má nàng, vào vành tai nàng, khiến nàng gập người vì nhột và ngả ra cười rúc rích.
“Về phòng anh nhé?” tôi hỏi.
Nàng bối rối chỉnh lại món tóc loăn xoăn trên trán và rụt rè gật đầu: “Vâng…”
… Sáng hôm sau, khi tôi mở mắt thì An Dung đã dậy trước và đi chợ mua đồ ăn sáng về. Hai đứa vừa ăn vừa hí hửng vạch kế hoạch đi chơi cho buổi cuối tuần. Thế rồi từ dưới tầng ba vọng lên cái giọng khàn khàn của lão Hưng: lão gọi tôi xuống nói chuyện. Tôi xuống. Lão ngồi tựa lưng trên chiếc ghế dài, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối. Lão nhìn tôi chòng chọc và gằn giọng: “Hôm qua con bé kia ngủ đây đấy à?” Tôi lúng búng: “Vâng, thưa bác…”. Liền đó lão lồng lên, hai bên lông mày như chập lại thành một con sâu róm đen ngòm và phun ra những lời văng tục bẩn thỉu vô cùng. Trước những cãi cự yếu ớt của tôi mà lão khăng khăng là xỏ lá, lão nhướng mày và đứng phắt dậy, tưởng đâu sắp lao vào tôi không chừng, rồi vừa chỉ ngón tay vào mặt tôi vừa gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:
“Tao đếch cần biết! Mày thuê trọ nhà tao thì mày phải ăn ở theo ý tao, tức là sao? Là mày phải ăn ở cho đàng hoàng con ạ, chứ không phải dẫn con này con kia về rồi chúng mày ngủ với nhau. Tao còn lạ gì cái lũ sinh viên bọn mày, chúng mày đi ở thuê mà làm như là ông tướng!”
Cuối cùng, sau một hồi đôi co vô nghĩa, lão yêu cầu tôi thu dọn đồ đạc rồi “cút xéo” khỏi nhà lão ngay trong tuần này.
An Dung ngồi bên mép giường. Trông thấy tôi mở cửa bước vào, nàng hơi nhổm dậy rồi lại buông mình xuống đầy lo lắng, môi mím chặt. Có lẽ trông vào dáng vẻ bực dọc, vào cái nhíu mày của tôi thì nàng phần nào đã đoán định ra duyên do là gì, – nàng im lặng như tủi hổ và, có lẽ còn sợ sệt cơn tam bành của tôi là khác. Sau đó nàng cứ ngồi tựa cằm vào đầu gối còn tôi thì nằm ngửa trên giường, mắt nhìn trân trân lên chiếc quạt trần cứng đờ đáng ghét. Tôi nhìn quanh quất khắp phòng, thấy đâu đâu cũng toát lên vẻ tạm bợ, trong lòng vừa thấy nhục nhã vừa căm giận cái cảnh túng thiếu của chính mình. Ngoài sân thượng, mưa gõ long tong xuống mái tôn.
“Em nghĩ cái gì đấy?” tôi hỏi chỉ vì không chịu nỗi cảnh thinh lặng.
Nàng không đáp ngay mà ngả đầu lên bắp tay tôi, vừa choàng tay ngang ngực tôi vừa thủ thỉ:
“Nãy ông ấy bảo gì anh? Anh xin lỗi ông ấy rồi chứ?”
Tôi im lặng không đáp. Nàng dịu dàng nói tiếp: “Thôi nào, có gì anh phải kể ra thì em mới giúp anh được chứ.”
“Xin lỗi cái chó gì,” tôi đáp. “Em không biết lão khốn nạn thế nào đâu. Anh chẳng kể em nghe rồi còn: ở trọ với lão còn khổ hơn con dâu với mẹ chồng. Lão xét nét anh từ li từng tí, đến khổ! Riêng cái lần phát hiện ra anh dùng trộm máy giặt là lão đã doạ tống cổ anh khỏi đây. Mẹ kiếp! Cứ làm như báu lắm! Nếu không phải vì… vì… mà thôi kệ đi.”
“Vì anh hết nhẵn tiền rồi đúng không?” An Dung nói. “Đáng ra hôm qua em phải về nhà mới đúng.”
“Thôi em đừng nói lăng nhăng. Không vì chuyện này thì cũng vì chuyện khác, kiểu đếch gì lão cũng đuổi anh đi thôi. Em thấy đấy, ngoài anh ra làm gì có ai bị ngu mà đâm đầu vào cái chỗ này. Anh chán lắm rồi!”
Trong lúc nói chuyện, vì quá bực tức mà không biết tự lúc nào tôi đã đứng dậy đi đi lại lại khắp phòng, còn An Dung thì cũng đã ngồi dậy, tiếp tục nhìn tôi với vẻ cam chịu, như thể nàng nghĩ thảy là lỗi của nàng. Tôi những muốn đập tan một cái gì đó cho hả dạ, nhưng nào có cái gì mà quăng? Có mỗi cái bàn học chỏng chơ trong góc, một cái giá quần áo bằng gỗ, rồi thì một cái va li nhét trong gầm giường. Thế rồi tôi đành ngồi xuống cạnh nàng, ngồi rất lâu, không ai nói một lời nào. Bỗng An Dung đứng phắt dậy:
“Anh, mặc áo vào rồi xuống nhà với em đi!”
Tôi gần như tá hoả với cái ý nghĩ hai đứa sẽ chường mặt ra trước lão chủ trọ và thành thật xin lỗi lão. Tôi khẩn khoản nói với nàng:
“Ôi! Em bị dở hay sao thế? Anh không bao giờ xin lỗi lão đâu. Mai có phải ra ngủ đường thì anh cũng không…”
“Nào ai bắt anh xin lỗi,” nàng ngắt lời bằng giọng quả quyết. “Thế giờ anh định ngồi đây cắn móng tay mãi à? Anh xuống dắt xe đi, mình sẽ đi tìm trọ.”
“Nhưng… nhưng…”
“Nhưng cái gì mà nhưng. Cứ nghe em, anh xuống dắt xe đi.”
Trước tiên An Dung đòi tôi chở nàng về nhà. Tới trước cổng nhà, vừa gạt chân trống là nàng đã nhảy phắt xuống, lanh lẹ tra chìa vào ổ khoá rồi leo ba tầng gác về phòng mình. Tôi khẽ khép cổng, khoá xe rồi cũng chạy vù lên theo nàng. Bạn của nàng về quê, thành thử trong phòng chỉ có hai đứa tôi. Nàng cứ đi đi lại lại khắp phòng, ngón trỏ bập bập vào môi dưới, nhón chân ngó lên chạn bếp, nóc tủ quần áo, miệng lẩm bẩm: “Đâu rồi ấy nhỉ? Đâu rồi ấy nhỉ?”
“Đâu cái gì?” tôi nôn nóng hỏi.
“Con lợn đất của em,” nàng vừa trả lời vừa nằm sấp xuống nền đất lạnh, dòm mắt vào trong gầm giường. “À, kia kìa, anh nhoài vào lấy cho em đi!”
Tôi chống tay cúi xuống nhòm thì quả là có một con lợn đất thật. Tôi chỉ hơi thò đầu vào là đã kéo được nó ra: một chú heo hồng với cái chóp màu xanh hình mắt ếch, toàn thân bám đầy bụi và tóc rối. “Đời thuở nào lại nhét lợn đất ở đây bao giờ!” tôi thầm nghĩ lúc đưa cho An Dung. Nàng phù miệng thổi bụi, đoạn đánh mắt ra hiệu cho tôi lùi về sau, rồi buông tay: con lợn đất vỡ tan tành. Nàng bắt đầu nhặt nhạnh từng đồng chẵn, đồng lẻ như đang gắp bằng hai đầu ngón tay, lẩm nhẩm tính thầm, đoạn phất xấp tiền vào tay tôi và nói dõng dạc: “Gần bốn triệu. Chừng này chắc đủ cho anh xoay sở tháng đầu…”
Vẫn với vẻ sôi nổi như thế, cả ngày hôm ấy nàng cùng tôi lặn lội tới hang cùng ngõ hẻm thuộc quận Hai Bà Trưng, quyết tìm cho ra một nhà trọ ưng ý. Thoạt đầu thì tôi cũng bị lây cái vẻ cả quyết của nàng, nên tôi còn hồ hởi, nhưng khi đã xem đến phòng trọ thứ năm trong ngày mà vẫn không chốt nổi, nhiệt hứng trong tôi suy kiệt dần, tôi đâm ra cáu bẩn và thối chí. Cơn giận ban nãy đã nguôi, trong lòng chợt thấy hèn nhát, lúc đứng chờ đổ xăng tôi mới lựa lời nói với nàng: “Hay là xin lão ấy lui cho vài ngày? Chứ em xem, trời thì vừa mưa vừa rét, đường sá lầy lội, đã thế còn tắc đường. Bây giờ cũng sắp tối rồi.”
“Không được, nhất định phải tìm cho ra!” nàng dằn giọng trong lúc tôi ngán ngẩm đẩy xe, tiếp tục cuộc hành trình vô vọng ấy. Mưa vẫn rơi liên miên. Vừa đi tôi vừa nguyền rủa số phận mình, cứ như thể tôi đây là người khổ nhất thế giới. Ngồi phía sau, An Dung tì trán vào lưng tôi, cắm cúi gọi hết số này đến số khác. Đến chín giờ thì mưa đã nặng hạt lắm rồi, bụng tôi réo lên ùng ục, răng cắn vào nhau lập cập vì rét, thì bất đồ An Dung đốp mạnh vào vai tôi.
“Đây rồi!” nàng reo lên. “Ngay gần trường anh này. Nào anh, quay đầu đi!”
Tôi ngán ngẩm thở dài: không hiểu nàng lấy đâu ra nhiều nghị lực tới thế. Gần chín rưỡi, chúng tôi phóng xe vào một con hẻm âm u dưới bóng đèn vàng vọt từ trên cột điện rọi xuống, đường hẹp đến mức hai xe máy ngược chiều phải nhường nhịn nhau. Mưa rây bụi. Trên đầu là mớ dây điện chằng chịt, chung quanh toát lên cái mùi khăm khẳm điển hình của một phố sinh viên nghèo. Khi người quản lý nhà, một anh chàng chừng ba mươi tuổi mặc áo phao đen, đến mở khoá cổng và dẫn chúng tôi lên xem phòng, nàng khẽ nói vào tai tôi: “Anh đừng nói gì cả, cứ để em lo!” Phòng ở bên trái cầu thang tầng hai. Ngay lúc bước lên cầu thang tối mù hôi hám, tôi đã ngửi thấy cái mùi ẩm mốc do cài then đóng cửa quanh năm suốt tháng, và có cảm tưởng nếu dậm chân hơi mạnh chút xíu thì vữa trên trần nhà sẽ rắc xuống như mưa. “Đấy”, tôi cay đắng nghĩ thầm, “đời sinh viên của mày đấy! Chỗ này thì đến chó còn chê nữa là!”
Viên quản lý kéo thanh cửa nhôm sang bên rồi bước vào trước, lần tay quanh bờ tường tìm công tắc điện. Tôi với An Dung đứng ngoài ngưỡng cửa ngó vào. Ôi! Căn phòng bé như cái lỗ mũi, hoàn toàn không có đồ đạc gì; một vách ngăn lợp nhựa mỏng dính dán giấy in hoa chia tách với phòng bên: vốn dĩ đây là một phòng lớn được bọn chủ nhà tách ra để kiếm lợi, như phân lô bán nền. Nghe rõ mồn một tiếng nhạc từ phòng bên vọng sang. Viên quản lý nhìn tôi rào trước ngay: “À, phòng bên cạnh bạn ấy đi làm suốt ấy mà, ít khi ở nhà lắm. Chắc hôm nay mưa nên thế thôi!” Tôi chỉ biết cười trừ và nhìn sang An Dung, thấy nàng vẫn mải miết ngắm nghía căn phòng. Đoạn nàng bước vào và lại gần sát khung cửa sổ có hàng chấn song bằng gỗ, hà hơi vào ô cửa kính. Sau đó nàng sải bước quanh phòng, cứ bước gióng một như đi diễu hành rồi quay lại đứng cạnh tôi, gật gù đầu. Nàng nói giọng khôi hài: “Được đúng năm bước chân!”
“Mình về thôi chứ em?” tôi rầu rĩ đáp lại.
“Không anh, mình sẽ lấy phòng này!”
“Em điên rồi!” tôi thốt lên. “Cái phòng bé như cái chuồng xí này! Không thể được!”
“Anh be bé cái mồm thôi chứ,” nàng huých vào tay tôi và nói bằng giọng răn đe. “Anh xem xem, ít ra nó còn có cửa sổ, vả lại còn rất gần trường. Quả là nó bé thật, có khi chỉ nhỉnh hơn cái nhà tắm ở trọ em một tí tí thôi, nhưng anh yên trí đi. Em sẽ thu xếp được! Anh có tin em không nào? Thế… thế… giờ anh ở im đây đợi em. Em sẽ vào bàn với ông kia tiền nhà xem sao.”
Trong lúc nàng trao đổi với viên quản lý, tôi nhìn quanh quất căn phòng và thấy chán nản cực độ. Thoạt đầu viên quản lý đòi hai triệu tiền phòng – lúc ấy tôi chỉ muốn tọng cho gã một đấm vào mồm. An Dung liếc mắt sang tôi như thể canh chừng, rồi nàng đon đả nói lý với gã, trình bày tình trạng cần kíp của hai đứa, rằng chúng tôi đều là sinh viên mới lên nhập học, tiền nong cũng chẳng lấy làm nhiều nhặn gì. Gã gật gù đầu ra vẻ cân nhắc nhưng vẫn chối đây đẩy rằng việc giảm tiền không nằm trong thẩm quyền của gã. Đến nước này thì chỉ còn cách kể lại toàn bộ câu chuyện ban sáng. Trong lúc nghe chuyện, gã cứ gãi gãi sống mũi, đầu gật gù, mắt nheo lại tựa hồ bán tính bán nghi. Ít ra gã cũng còn chút lương tâm: sau rốt gã đồng ý giảm tiền nhà xuống một triệu tám, với điều kiện phải ký hợp đồng ngay lập tức. Tôi nghĩ thôi thì chết đuối có bọt cũng phải cố mà vớ, nên đã đặt bút ký ngay. Liền đó gã đóng cặp xách, đưa tôi hai chiếc chìa khoá, một khoá cổng và một khoá phòng, rồi chúng tôi cùng theo gã xuống nhà…
“Em đã bảo cứ để em lo mà,” An Dung hào hứng thốt lên khi chúng tôi ngồi đợi đồ ở quán thịt nướng. “Nhưng chúng nó đớp mới ác chứ, cái phòng bé tí hin mà đòi những hai triệu. Nếu không vì vội quá đời nào em để anh phải chui lủi trong cái xó ấy. Thôi ở tạm vậy, sau này khấm khá hơn mình tìm chỗ khác. Nhưng anh ạ, ít ra cái phòng đấy còn có cửa sổ… Anh biết không, em không thể nào sống trong một căn phòng không có cửa sổ. Em cần ánh nắng và khí trời. Không hiểu sao anh ở trong cái phòng hiện tại được, tối hút lại còn ngột ngạt như cái phòng giam… Sau này dọn sang đây rồi anh nhớ phải mở toang cửa sổ cho thoáng phòng, nghe chửa?”
Lúc ấy, tôi vừa hổ thẹn vừa cảm động đến nỗi chỉ biết siết chặt tay nàng mà lắp bắp: “Cảm ơn em, cảm ơn em!”
Tám giờ sáng hôm sau, An Dung xắn tay thu xếp đồ lề trên gác trong lúc tôi bàn chuyện với lão Hưng. Lão ngồi gác chân lên mặt bàn, chóp mũi đỏ gay như quả nhót, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai có tai cụp. Nhận thấy thái độ bất cần của tôi, lão bớt khệnh khạng và chuyển qua nói giọng cha chú, bắt đầu rao giảng về cách sống trên đời, than thở rằng thật ra lão cũng chẳng muốn bắt bẻ tụi sinh viên như tôi làm gì, nhưng nếu tôi vẫn quyết ra đi và muốn nhận lại đủ tiền cọc thì trước mắt hãy vận sức khiêng giúp lão cái tủ lạnh ở tầng một về nhà bên đã. Cái lão già khốn kiếp ấy, cứ mỗi lần nhờ vả gì đó thì lão tử tế và nhu mì đến lạ… Dù sao thì tôi cũng dằn lòng mà bê giúp lão, trong lòng cứ thấp thỏm nhỡ lão gây khó dễ, không hoàn tiền cọc thì sao? Sau cùng đích tay lão trả số tiền ấy cho tôi, nhưng còn soát lại từng chiếc móc treo quần áo mà lão từng cho tôi mượn hồi mới dọn vào. Thế đấy!
Ngã tư, đèn đỏ, hẻm nhỏ, khúc quanh – tôi còn nhớ gì nữa nhỉ? À phải rồi, làm sao mà tôi quên được cái ông lão cụt chân lái xe ba gác, cái ông lão có cái chân bên phải bằng nhựa ấy, người đã lụi cụi trút hết đồ đạc của tôi ngay trước đầu hẻm như một cuộc phát mại. Tôi với An Dung lái xe theo sau, và khi đến nơi, tôi cơ hồ chỉ còn muốn chui xuống đất trước cảnh tượng bày ra trước mắt: thảy hành lý của tôi, từ chiếc vali gãy chân lăn, chăn ga gối đệm, bàn học, ghế ngồi, quần áo, thau chậu, đang nằm lổn ngổn dưới mặt đường nhầy nhụa, sát cạnh một quán cà phê nhốn nháo kẻ ra người vào. Chung quanh ồn ã tấp nập, hơi ẩm sớm mai còn đang bảng lảng, tiếng còi rú, tiếng chợ phiên, tất cả họp vào nhau tạo nên một khung cảnh huyên náo vô cùng, cái huyên náo đặc trưng của một phố Hà Nội. Từng hàng xe nối đuôi nhau, người người chen chúc, dậm chân, phả thuốc ở đèn đỏ ngã tư… Tôi chẳng còn nghe rõ tiếng An Dung kì kèo giá cả với ông thương binh nữa, mà cứ đứng đực ra đó, ngượng ngùng như thể đang trần truồng giữa thanh thiên bạch nhật, như thể cảnh nghèo khổ của tôi đang bị phô ra trước toàn thể bàn dân thiên hạ, trước hàng trăm con mắt hiếu kỳ đang chiếu vào tôi – ắt hẳn thảy đều đang ái ngại, dè bỉu, lắc đầu ngán ngẩm, hoặc tệ hơn nữa là thương hại tôi.
“Anh, nhìn em này!” bỗng giọng lanh lảnh của An Dung cất lên.
Tôi quay sang: với dáng điệu thản nhiên nàng ngồi xuống chiếc ghế và xoay tròn một vòng, rồi ngước lên nhìn tôi, nhoẻn miệng cười đầy vô tư, không ngại ngùng. Dòng người vẫn nườm nượp diễu qua, tiếng còi vẫn rú rít liên hồi, nhưng đúng là tôi đã chẳng còn nghe được gì nữa, chẳng còn thấy được gì nữa. Đúng ra là vào lúc ấy, vạn vật chung quanh đã mờ nhoè đi, giữa phố xá ảm đạm một màu xam xám nhờ nhờ, giữa màn mưa phùn li ti, chỉ còn thấy được tấm áo len màu đỏ thẫm, tấm áo may rộng lấm tấm nước mưa trùm lên thân hình gầy gầy, non nớt của nàng…
“Em yêu, mọi người đang nhìn mình đấy.”
“Anh à, ở đây không ai biết mình là ai, chỉ có hai đứa mình với nhau mà thôi…”
Lúc ấy tim tôi dịu dàng thắt lại, trong lòng ngập tràn lòng âu yếm và thương cảm với người con gái nhỏ bé, người con gái yêu tôi hết lòng hết dạ ấy. Đáng ra lúc ấy tôi đã phải bế nàng lên rồi ôm ghì lấy nàng như thể thế giới này ngoài chúng tôi ra hoàn toàn chẳng có ai cả. Đáng ra tôi đã phải nói với nàng rằng nàng xinh đẹp thế nào, nàng quý giá với tôi ra sao, rằng vào khoảnh khắc ấy, trên thế giới này, đối với tôi không còn ai gần gũi hơn, thân quý hơn, quan trọng hơn nàng. Nhưng vì cái tính cả thẹn và hèn nhát của tuổi trẻ, tôi đã chẳng nói một lời nào. Mãi những năm về sau này, khi cuộc sống của tôi vẫn bình thản tiếp diễn mà thiếu vắng bóng dáng nàng cạnh bên, khi tôi thong thả tản bộ trên những con phố thân quen, lòng tôi chợt đâm ra buồn buồn, tôi vu vơ hồi nhớ lại buổi sáng hôm ấy, nhớ tấm áo len màu đỏ thẫm của nàng, nhớ nụ cười rạng rỡ đầy hồn nhiên và lòng tôi dâng lên một nỗi dằn vặt lẫn luyến tiếc không thể nào chịu nổi.
Cho tới năm mười chín tuổi, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết lách. Đương nhiên, nhờ giáo dục, tôi phần nào phát hiện ra mình có chút văn tài, và lấy làm tự đắc lắm. Giờ nhớ lại mới thấy bản thân ngây ngô nhường nào, vì viết đâu phải cứ dựa mãi vào cảm hứng, vào thiên phú cho được. Càng viết, càng thấy việc viết khó khăn và chông gai ta tưởng nhiều.
Tác phẩm đầu tiên của tôi, nếu có thể cho đó là tác phẩm, là một bài điểm sách ngắn gọn chừng năm trăm chữ về cuốn Đất máu Sicily của Mario Puzo. Giờ cho tôi đọc lại bài viết đó hẳn tôi sẽ rất ngượng: đọc lại tác phẩm mình viết mới tháng trước đây thôi mà tôi đã thấy xấu hổ rồi. Dấu hiệu tốt đấy chứ, điều này phần nào chứng tỏ tôi vẫn đang tiến bộ từng ngày. Nói thế, chứ thực chất tôi cảm tưởng mình cứ dậm chân tại chỗ thế nào ấy; khi viết, khó tránh khỏi việc lặp lại chính mình. Riêng việc mặc lại một chiếc áo hai lần tôi đã thấy lấn cấn rồi, huống chi đây là việc sáng tác, vậy nên tôi luôn cố để mỗi tác phẩm của mình có một đời sống riêng, dù rằng bất cứ ai từng đọc quá ba tác phẩm của tôi, hẳn thấy nhiều chi tiết trùng lặp và đôi khi là những phần tự thuật thêm thắt rất dễ nhận biết nữa.
Tôi không có ý định bàn về kỹ thuật, phương pháp, hay mánh mẹo viết lách trong bài viết này. Cái đấy tôi chẳng có nhiều, dù quả thực tôi rất quan tâm đến chúng, nhưng hễ ngồi xuống viết là tôi bị cuốn đi, chẳng nhớ được gì nữa cả. Nói tóm lại, việc viết của tôi vẫn mang tính tự phát rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ muốn phân biệt hai khái niệm: cảm hứng và cảm xúc.
Viết có cảm hứng giống như hổ mọc thêm cánh, đặc biệt nếu nhà văn đã thu nạp vào mình đủ mọi quan sát, chiêm nghiệm, thì lúc đó ba giờ ngồi viết ngắn như ba phút đồng hồ. Nhưng không có cảm hứng thì cạy cục mãi chẳng nên câu, nghiến răng cắn lợi, vò đầu bứt tóc, cứ viết rồi gạch đi. Có nhiều nhà văn không viết cả tháng trời, chờ đợi cảm hứng, rồi khi nó đến thì đóng cửa nhiều ngày liền, viết một mạch cho xong. Tiêu biểu như Goethe, Stendhal, v.v. Ngược lại, có những nhà văn kỷ luật hơn, ngày nào cũng ngồi vào bàn, viết cho đủ hạn mức đặt ra, hoặc đơn giản là viết cho trọn thời gian định trước, chất lượng ra sao cũng mặc. Hiển nhiên cách làm thứ hai được cho là chuyên nghiệp hơn. Và thực tế thì nếu được chọn lựa, ai cũng nên làm vậy. Ngày nào cũng nên ngồi vào bàn, viết một chút, gì cũng được, để khỏi cùn nghề. Hồi mới tập tành làm văn tôi đã từng như vậy, tức là vốn dĩ tôi đã coi việc viết rất nghiêm chỉnh. Nhưng công việc không phải ngày nào cũng xuôi, và sáng tác ấy mà, không phải chỉ diễn ra trong lúc ta ngồi xuống viết. Việc viết diễn ra cả ngày, trong lúc ta ăn, đi dạo, nói chuyện với đồng nghiệp, hay thậm chí là trong giấc ngủ. Nếu cứ đợi đến lúc ngồi xuống bàn mới bắt đầu nghĩ, thì việc viết quả thật nhọc nhằn và dễ gây thối chí lắm. Đây là bài học quan trọng nhất tôi nghiệm được trong năm nay. Từ khi phát hiện ra sự thật này, tôi bắt đầu viết chậm hơn, ấp ủ một ý đồ nhiều ngày, nhiều tuần trời, trước khi bắt tay vào viết. Nếu câu văn viết ra ngắc ngứ, mơ hồ, không đạt, thì tức là suy nghĩ của người đó còn chưa rành mạch, lộn xộn. Như vậy là phải từ bỏ thói quen vừa viết vừa nghĩ, hoặc tệ hơn là viết mà không nghĩ gì cả, lỏng tay cho cảm hứng tuôn trào, điều này thoạt chừng đem lại cảm giác phiêu diêu, nhưng ngẫm kỹ lại thì cảm giác đó nên dành cho người đọc chứ không phải người viết. Nếu ai cũng biết một nhà văn đã chật vật ra sao để viết ra một câu hoàn chỉnh, một câu bình thường, có lẽ họ sẽ có thái độ dè dặt và cẩn trọng hơn khi tiếp cận văn chương. Lewis từng bàn về điều này rồi: “Văn chương hay nên được đọc cẩn trọng như cách chúng được viết ra.”
Cảm hứng là một khái niệm khó nắm bắt. Ở nhiều điểm, nó mang đặc tính của giống mèo: mình lại gần thì nó lảng đi, còn mình làm ngơ nó lại sán đến. Hiểu được điều này thì việc viết lách sang một trang mới rồi.
Người ta có thể viết mà không cần cảm hứng hay không? Tôi tin là có. Phần lớn mọi người đều thế, đây cũng là niềm tin của riêng tôi. Nếu cứ ngồi xuống là có cảm hứng, là dòng thác tuôn trào, thì tôi đã bỏ quách cái nghề văn phòng tẻ ngắt đi mà chuyên tâm sáng tác rồi. Rốt cuộc phải quen dần với việc viết mười ngày thì năm ngày tắc tịt, đâm vào ngõ cụt, quẹo trái rẽ phải tìm lối ra, hoặc nhiều khi phải vứt bỏ vài bản thảo không thể làm nổi. Có thể giảm thiểu tình trạng này bằng cách, như tôi nói ở trên, ngẫm kỹ rồi hẵng viết. Và quan trọng hơn là đừng cố ép bản thân phải viết, tỷ như mỗi ngày nhất nhất “viết được một ngàn từ, hai ngàn từ”… Khi đã không muốn viết, hoặc khi thân thể rã rời, tốt nhất nên nghỉ ngơi, hoặc bất lắm thì xoay qua viết nhật ký, tản mạn mà thôi. Trí không vững thì văn viết ra cũng thõng thượt ấy mà.
Người ta thường hay đánh đồng hai khái niệm cảm xúc và cảm hứng. Cảm hứng thì tôi vừa nói phần trên rồi. Bây giờ đến cảm xúc.
Theo tôi, cảm xúc là điều kiện tiên quyết để viết. Khoan bàn đến chuyện ta tài năng ra sao, bút pháp thế nào, hoặc cốt truyện của ta có hấp dẫn, phong cách có độc đáo hay không. Trong trường hợp này, tôi sẽ ví việc viết với tình yêu. Người ta không thể viết, cũng như không thể yêu, mà thiếu vắng cảm xúc. Không có cảm xúc, không có xúc động; hễ nhà văn còn không xúc động với câu chuyện của mình mà đòi hỏi độc giả xúc động quả thực vô lý quá chừng. Đây là lý do tại sao có những câu chuyện tưởng chừng đơn giản, câu cú vụng về, nhưng vẫn khiến người ta thổn thức khó tả. Bởi lẽ khi đặt bút, tác giả đã viết không chỉ bằng khối óc mà còn bằng quả tim của chính mình.
Trong Nàng Lika của Bunin có một câu nói thế này: “Mỗi sáng thức dậy, tôi đều cố chuẩn bị tâm trạng cho mình để viết.” Mấu chốt ở đây là cụm “chuẩn bị tâm trạng”. Tới đây tôi mới đồ rằng Gogol viết dạt dào cảm xúc tới vậy một phần bởi lẽ ông bẩm sinh có tài diễn xuất. Chưa bàn tới việc cảm xúc đó là chân thật hay dối trá (ai mà biết cho được?), nhưng nếu một diễn viên thực sự đắm chìm vào vai diễn, thì lúc đó y không còn diễn xuất nữa, mà y đang hoá thân. Viết cũng vậy thôi, thảy đều là hoá thân, và cái hay, cái nghệ là ở chỗ hoá thân tài tình tới mức người ta không mảy may nghi ngờ, hoàn toàn quên mất sự tồn tại của diễn viên hay tác giả. Trước mặt họ chỉ còn là một câu chuyện, một thế giới hư cấu thực hơn cả đời thực.
Tất cả những điều trên chỉ có thể được thực hiện bằng một nhịp điệu làm việc chậm rãi, lặng lẽ, có ý thức. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất: nhịp điệu. Văn xuôi không bị câu thúc như thơ ca, nhưng thiếu nhạc tính, thiếu âm điệu thì văn khô khan và tẻ nhạt lắm. Mọi câu văn trong một đoạn văn vô thưởng vô phạt nhìn chung đều có những móc nối vô hình, từ câu này ngoắc sang câu kia; nếu được xử lý khéo léo, người đọc gần như bị thôi miên, còn nếu xử lý vụng về, đơn giản là người ta không buồn đọc tiếp.
T.B. Chẳng hiểu sao tôi lại viết bài này nữa. Hôm nay trời nắng, lặng gió, bầu trời không một gợn mây, nhưng không còn xanh ngắt như những hôm trước mà chuyển qua nhờ nhờ. Tay tôi lạnh cóng khi gõ những dòng này. Sớm mai và chiều muộn thường có sương giá, các bạn nên thủ sẵn một chiếc khăn choàng trong cốp xe.
Dạo ấy tôi còn trẻ, còn nuôi mộng con chữ – thật tình mà nói, ngoài viết lách ra tôi chẳng có tài gì khác, mà cũng chẳng muốn làm gì khác. Tôi vốn là con nhà buôn và được ăn học đàng hoàng. Ở quê, bố mẹ tôi sống khá tươm tất – ông bà có một xưởng buôn sắt, và không biết có phải vì đặc thù công việc hay không, cả hai đều ra sức vùi dập thiên hướng nghệ sĩ trong tôi, mà ông bà cho là ngọn nguồn của chứng u uất, rồi tới việc tính tình tôi từ sớm đã có nhiều điểm lập dị thái quá so với bạn bè đồng trang lứa. Nhưng, một thân một mình trên thủ đô, trong khi nuốt trôi số tiền cấp dưỡng từ quê gửi lên, tôi nghiễm nhiên xếp đặt cuộc sống của mình đúng như cuộc đời của một nghệ sĩ: thuê một căn gác xép, chất hàng chồng sách trên kệ hoặc mặc chúng lăn lóc trên sàn nhà, còn trên chiếc bàn viết bằng gỗ nâu thì từng chồng giấy viết la liệt khắp nơi, vài bản thảo đem gửi tạp chí thì được tôi nâng niu gom thành một tập, nhưng cũng rất mỏng thôi…
Độ ấy là đầu mùa thu, tôi trọ ở phố Nguyễn Tuân, gần đường Nguyễn Trãi, với một anh bạn tên là Đức. Anh ta hơn tôi ba tuổi, người nhỏ thó, ăn mặc có phần tuềnh toàng, và trong giao thiệp cũng khá bông lơn, hài hước. Trước mặt mọi người, anh ta tự giới thiệu mình là sinh viên “năm cuối” trường đại học kiến trúc, nhưng qua bộ điệu nhác nhớn, qua quầng mất tím bầm sau nhiều đêm la cà ngất ngưởng, tôi biết được là anh ta bỏ học từ lâu rồi. Nguyên quán anh ta ở đâu, tôi không rõ, chỉ nhớ là ở một thị trấn miền núi thuộc tỉnh Lào Cai. Mỗi dịp hãn hữu về quê, anh ta đều mang lên hàng lô hàng lốc những thức nhắm đặc sản có cái tên lạ lạ vui tai, thi thoảng còn vác theo cả một bình rượu và, vừa kéo bạn bè về nhâm nhi vừa nghêu ngao mua vui cho cả bọn bằng cái giọng mèn mén không ai bắt chước nổi. Tất nhiên Đức là một gã buông tuồng, thảy đám bạn mà anh ta giao du cũng thế nốt, nhưng tựu chung anh ta vẫn là một bạn cùng phòng dễ chịu; anh ta ít để bụng, ít câu nệ, chuyện tiền nong thì rất sòng phẳng. Hơn nữa anh ta hiếm về nhà, lúc về cũng chỉ làm biếng hoặc lăn ra ngủ thẳng cẳng, ít quấy quả đến việc viết lách của tôi. Chúng tôi đối đãi với nhau còn khá khách khí, vì tôi đủ khôn ngoan để không đẩy mối thân giao đi xa hơn – bất cứ ai há chẳng đều muốn giữ lại một chút riêng tư về phần mình? Chưa kể tôi còn là nhà văn, mà nhà văn thì cần sự riêng tư hơn hẳn người thường.
Có một dạo, đầu tháng mười, đợt lứa tân sinh viên lên nhập học, Đức bỏ việc ca đêm ở siêu thị và vào làm một quán bar trên phố. Thoạt đầu anh ta chỉ là một chân sai vặt, nhưng nhờ tửu lượng vượt trội đã nhanh chóng ngóc đầu ngoi lên vị trí “trưởng ban hầu rượu”. Dù sao thì anh ta kiếm cũng khá, đổi lại là luôn lết về nhà vào rạng sáng trong tình trạng ngất ngư cò bợ, tự tay móc họng nôn thốc tháo vào bồn cầu. Người anh ta gầy rộc đi trông thấy. Tôi còn nhớ những ngày đó mưa liên miên, những ngày Hà Nội buồn rượi, xám xịt, buổi sáng trông như buổi chiều, những ngày mà điều thú vị nhất người ta có thể nghĩ ra là nằm ngủ. Cứ tầm mười rưỡi tối là tôi lên giường, còn Đức thì lóc cóc bò về vào tầm hai, ba giờ sáng, dầm mưa ướt như chuột lột, mái tóc chải bồng ép chặt vào đỉnh đầu, chẳng thèm tắm táp qua loa mà lập tức chui vào chăn nằm cạnh tôi. Thoạt đầu thì tôi còn cáu bẳn vì cái bộ dạng lếch thếch, hơi thở nồng nặc mùi rượu của anh ta, nhưng dần dần thì đâm chai lì, thây mặc anh ta thích làm gì thì làm, tôi cứ quay mặt vào tường mà ngủ khì thôi. Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy thì Đức đã lục tục thay đồ đi chạy xe ôm – anh ta kiếm ác mà tiêu cũng ác, nợ như chúa chổm nên phải gò lưng ra mà kiếm tiền, và với cái vai gù cùng đốt sống cổ nhô cao thì anh ta trông y chang một con lạc đà.
Chính vào một buổi sáng trời mưa như vậy, tôi thức giấc vào tầm bảy giờ như thường lệ, lúc quay sang bên, tôi cơ hồ thất kinh khi thấy nằm cạnh mình không phải Đức, mà là một đứa con gái. Tôi phải gọi là “đứa” vì trông cô ta còn rất trẻ con, nét mặt choai choai như đám con gái mới dậy thì. Cô ta để tóc mullet theo mốt tomboy, làn da mịn màng trắng trẻo, cái miệng nhỏ khép hờ, khuôn ngực gầy gầy rung lên theo nhịp thở khe khẽ. Thoạt đầu, tôi thử lay vai và thì thầm vào tai cô gái: “Ê, ê, dậy đi!” nhưng cô chỉ khẽ cựa mình, lảm nhảm vài câu gì đó tỏ vẻ khó chịu, rồi quay người về phía bên kia, tiếp tục ngủ. Theo lẽ thường, tôi cũng vén tấm chăn rồi nhòm vào trong, nhưng không có gì đáng ngại cả: cô gái mặc một chiếc váy dài có hàng khuy màu trắng chạy dài từ cổ xuống dưới thắt lưng, những viền xếp nếp loà xoà ngang đùi; qua lần vải mỏng, tôi thấy đầu gối cô thon tròn, bắp chân cũng thon, có vài sợi lông tơ mọc lên trông rất đẹp.
Tôi tựa lưng vào thành giường và ngắm cô gái một lượt nữa: cô có một nốt ruồi đen sẫm ở cuối đuôi mắt, sống mũi cao nhưng chóp mũi lại hơi rộng. “Dậy đi!” tôi xáp lại gần cô và nhắc lại nhiều lần, và nhận ra là cô gái không mặc áo lót…
Tôi lưỡng lự một hồi rồi cũng thử choàng tay ngang eo cô gái, thì thấy cô không phản ứng gì cả. Tôi càng có can đảm để tiến lên. Dần dần, bàn tay tôi luống cuống dò dẫm trong lớp chăn để cởi hàng khuy trên váy. Căn phòng như lắng đọng lại, gần như nín thở, tôi nghe rõ mồn một tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức trên chiếc bàn ở đầu giường. Bỗng cô gái chồm dậy và mở mắt nhìn tôi trân trân:
“Chán anh thật, thà tự cởi còn hơn,” cô ta vừa gạt tay tôi ra vừa nói với vẻ giễu cợt.
Và đúng lúc đó, chiếc khuy cuối cùng ở sát cổ bung ra, phần trên của tấm váy tuột xuống: cô gái hoàn toàn không mặc gì bên trong. Hai bầu ngực nhô cao và chĩa về hai bên, núm vú màu sâm sẫm có xỏ khuyên, và rốn của nàng cũng xỏ khuyên, đoạn dưới bụng xăm một nụ hồng nho nhỏ, một túm lông đen được tỉa tót gọn gàng hiện ra mờ mờ sau lần vải mỏng gần như trong suốt. Nàng thì dường như không xấu hổ với sự khoả thân của mình, trái lại, ánh mắt dần dần chuyển sang khêu gợi như muốn thách thức. Lúc ấy, tôi chẳng còn nghĩ được gì nữa, bất giác nhào tới nàng và hôn vào ngực, vào bụng nàng.
“Không dạo đầu gì à?” nàng ngả người xuống gối, vừa choãi rộng hai chân vừa tiếp tục nói bằng giọng giễu cợt…
Lát sau, tôi cởi trần ngồi trên bàn viết, vừa hút thuốc vừa lật giở mấy xấp bản thảo. Nàng khoả thân bước quanh phòng, điệu bộ điềm nhiên như ở nhà mình, vừa gật gù đầu vừa nói:
“Chu cha! Đống sách này của anh tất đấy à?”
“Ừ, của anh hết,” tôi trả lời. “Em đọc không?”
Nàng dẩu môi:
“Làm gì có thời gian! Thật ra thì đợt trước cũng đọc chút ít. Thôi, để xem anh có những sách gì nào!”
“Em thích cuốn nào thì anh kỉ em luôn,” tôi thích chí trả lời.
“Á à, nhớ mồm nhé, cứ cuốn nào đắt nhất thì em lấy!”
Nàng bắt đầu lục lọi, rồi lát sau thì chống tay vào nạnh thở dài:
“Thôi chịu chết! Sách của anh toàn cái gì ấy. Không có sách nào cho người bình thường đọc được à?”
Lúc ấy, tôi nhìn vào túm lông đen đen hình tam giác dưới bụng nàng, rồi lập tức choàng tay kéo nàng lại gần.
“Thôi,” nàng lùi phắt lại và nói bằng giọng hơi châm chọc, “vừa nãy là đủ rồi. Gắng nhịn đi nhé, cún yêu! Bây giờ thì mình phải đi học rồi cậu ạ!”
“Em học ở đâu? Để anh đưa em đi,” tôi nhổm dậy và nói.
“Ô không, mình có bạn đón rồi!”
Lát sau, trên người đã vận lại tấm váy, nàng ngoái đầu lại bên ngưỡng cửa và gửi một nụ hôn gió:
“Tạm biệt nhé, tình yêu!”
“Thế bao giờ gặp lại?”
“Để xem nào,” nàng nói và gật gù đầu ra bộ suy tính, “nếu cưng quả thực muốn gặp lại, thì thứ tư tới đây đúng sáu giờ, đón mình ở đầu Xuân Quỳnh, hôm đó có chiếu bộ phim hay lắm. Nói chung là mình mới lên Hà Nội nên còn nhiều bỡ ngỡ, mấy đứa bạn ở ký túc lại bận hết cả rồi. Cưng là người thứ hai tớ đi chơi cùng đấy, à không, thứ nhất mới phải chứ, vì anh Đức đâu có tính!”
“Khoan đã, em là gì của Đức?”
“Chà, em họ thôi…”
Tất nhiên, chẳng bao lâu sau thì tôi bỏ viết, còn nàng cũng học hành chểnh mảng. Chúng tôi không rời nhau nửa bước, quấn quýt như vợ chồng mới cưới, nắm tay lượn lờ khắp phố Cổ, đi xem bảo tàng tranh dù chẳng hiểu biết gì và, sau khi đã ngắm nghía chán chê những căn nhà cổ kính quanh con phố Đinh Lễ, bèn ghé thăm nhà sách Mão.
“Sách thì cũ rích đến long cả gáy, đã thế còn không cho chụp ảnh!” nàng bĩu môi nói lúc trở ra ngoài.
“Nhưng em xem anh đã kiếm được gì này: Chekhov của Phan Hồng Giang,” tôi hồ hởi trả lời. “Của hiếm đấy cưng ạ, nhiều người tìm mỏi mắt mà không ra đâu.”
“Thây kệ cái ông sê khốp sê khiếc nhà anh! Lần sau anh đi mà vào một mình!”
Đầu mùa xuân, theo ý nàng, tôi bắt đầu viết truyện đăng báo. Dứt khoát là không thể câu chấp với cái lý tưởng non nớt nghệ thuật vị nghệ thuật được nữa: việc cần kíp hơn cả bấy giờ là kiếm được một chân bồi bút, làng nhàng thôi cũng được, vì tiền trợ cấp hàng tháng của tôi do gia đình gửi lên luôn bay vèo như bùi nhùi bén lửa. Quả thật những cuộc hẹn hò luôn tốn kém, vả lại nàng cũng chẳng có nhiều: nàng đã đi làm thêm ở chính cái quán bar nơi Đức làm việc, bốn buổi trên tuần. Nàng bắt đầu dặm phấn, đi giày cao gót, về rất muộn, nên nàng thường sang ngủ nhờ nhà tôi. Thoạt đầu, chúng tôi trải đệm nằm dưới đất, và có trời biết cả hai đã táo tợn tới mức nào, nhưng dần dà thì Đức cũng tinh ý nên thường viện cớ vắng mặt mỗi khi nàng ghé chơi. Thi thoảng, tôi bị dằn vặt đến nỗi phải dúi vào tay gã ít tiền để gã thoải mái đi đâu thì đi…
Về phần Đức, gã chẳng cho tôi biết gì hơn ngoài việc nàng là một cô em họ cùng quê với gã và, theo cái lối bông phèng của gã, là từng “cởi truồng tắm mưa” với nhau. Tôi hơi phật ý vì cái lối ví von suồng sã này. Nàng theo học khoa thiết kế thời trang ở trường đại học kiến trúc, và vì chẳng quen biết ai, nàng đeo bám gã khắp nơi. Thằng cha ấy có lẽ cũng chẳng lạ cái tính nhẹ dạ ham chơi của nàng, đã dẫn nàng tới quán bar nơi gã làm việc, tiếp rượu cho nàng thả cửa rồi lết về nhà trong tình trạng say như hũ chìm. Ký túc xá đóng cửa, gã bèn chở nàng về thẳng trọ rồi mặc nàng nằm cạnh tôi vào rạng sáng hôm ấy. Đức thường tếu táo thuật lại chuyện ấy và cho rằng chúng tôi cần cảm ơn gã vì cái tình yêu như từ trên trời rơi xuống kia. Nàng chỉ cười nhếch mép ra vẻ khinh khỉnh, nhưng tôi thì vô hình trung lại đâm ra cảm kích gã, ngày càng đối xử với gã niềm nở, săn đón hơn.
Sang đầu xuân, tôi xin được một chân cộng tác viên ở một tạp chí lá cải, mỗi tuần chỉ cần lên văn phòng ba buổi, công việc thì chủ yếu là lục lọi đống chuyện tiếu lâm từ thời tám hoánh, thêm thắt, cải biên sao cho hợp với “thị hiếu công chúng”, theo lời của ông chủ bút. Thi thoảng tôi cũng chêm vào những truyện ngắn tự sáng tác và khoan khoái tận hưởng niềm vui được tự trả chút nhuận bút còm cõi cho mình. Những ngày làm việc tại nhà, tôi thường dậy từ sáu rưỡi, nhưng không viết ngay mà còn nhìn vẩn vơ ra ngoài ban công rất lâu. Mưa phùn liên miên, xung quanh nhà thấp nhà cao chen chúc trong con phố nhỏ quanh co, chật hẹp. Bầu trời vẩn đục vì sương mù và bụi mịn – ở Hà Nội thật khó phân định hai thứ này. Bàn viết của tôi kê sát ban công, nhìn thẳng ra hồ Rùa qua khung cửa kính chạy dài từ sàn lên tới trần. Sáng ra, màn sương mỏng nhẹ bay la đà trên mặt hồ như một tầng mây, và thấp thoáng ẩn hiện những khóm thuỷ trúc đứng lỏng chỏng như những ốc đảo. Dân cư dậy sớm thể dục, người bước thơ thới nhẹ nhàng, người cắm đầu chạy hồng hộc. Và trong khi cả thiên nhiên lẫn con người cùng đang trở mình cho một ngày mới, thì tôi lặng lẽ ngồi bên bàn viết, ngồi đến mọc rễ, cắn răng cắn lợi mà chẳng rặn nổi một câu. Qua hàng chấn song, tôi thấy mặt trời lẩn khuất trong lớp sương mù dày đặc, vẫn chuyên chú giăng toả ánh nắng làm nền đất ướt át khô dần, đến trưa, không khí chóng trở nên hầm hập, oi bức. Tầm xế chiều thì bầu trời xám xịt trở lại, mây đen lừ lừ từ xa kéo đến, chẳng chốc con phố đã lại mờ đi trong màn mưa mờ ảo, những vũng nước chưa kịp vơi từ sáng giờ đã chất đầy lá úa… Rồi mưa ngớt, tôi ra bến xe buýt đón nàng. Đường tắc, xe buýt thường tới chậm, hoa sữa rơi thành từng mảng rộng, phủ kín vỉa hè nhớp nhúa, toả ra mùi hương ngai ngái đến nhức đầu. Lũ lượt từng tốp sinh viên tụ tập quanh các quán xá xập xệ dưới chân cầu vượt, và nàng lanh lẹ lách mình giữa cái đám đông nhốn nháo ấy, trên tay vung vẩy tập ký hoạ vẽ những mẫu trang phục do nàng tự chế ra… Chúng tôi ăn tối ở một quán ăn Hàn, chỉ riêng hai người. Trước khi nàng bắt xe ra quán bar, tôi cùng nàng đi dạo quanh công viên. Nàng bước thong thả, ngả đầu vào cánh tay tôi, và đôi mắt tư lự nhìn về đằng xa, nàng bảo:
“Em đang nghĩ bao giờ mình mới mua được một căn hộ như kia.”
Nàng là một người phù phiếm và thực dụng đến khó chịu. Tâm hồn nàng không có gì độc đáo, nếu tôi yêu nàng, thì cũng chỉ vì tôi không thể không yêu nàng mà thôi. Hiển nhiên là nàng thích tiền, tiền đi trước và hạnh phúc theo sau, còn tôi, người chưa bao giờ lâm vào cảnh túng quẫn, thì bác lại rằng tiền bạc chỉ là thứ yếu, là phương tiện, và những người điềm nhiên nói rằng đam mê của họ là kiếm tiền chỉ để lại trong tôi cảm giác ngán ngẩm, khinh bỉ về một bản chất tầm thường, một cốt cách vào hạng xoàng xĩnh nhất.
“Tiền bạc có thể là động lực,” tôi giảng giải cho nàng. “Nhưng không bao giờ có thể coi là đam mê hay mục đích của cuộc đời. Anh muốn có tiền trong người chỉ để không bao giờ phải lo nghĩ về tiền, và do đó, chuyên tâm làm những công việc khác ích lợi hơn.”
“Việc ích lợi như anh nói là viết văn?” nàng cong cớn đáp trả. “Kể mà ra tiền thì cũng tốt đấy, đằng này…”
Đành rằng không thể đôi co với nàng đến cùng, tôi chỉ phẩy tay cho qua và lặng lẽ bước vòng quanh bờ hồ. Mặt nước lấp loáng những cột sáng liên xiên do ánh đèn trên cao rọi xuống, vài ông trung niên ngồi bó gối bên cái cần câu sát mép hồ, cả người đen thùi lũi chỉ có điếu thuốc cháy sáng trên môi. Qua hàng rào thâm thấp của công viên, dòng người tan tầm nườm nượp lướt qua, ai ai cũng có vẻ nôn nóng, đứng chờ đèn đỏ thì dậm dậm chân, bỏ thuốc ra hút, hoặc cúi gằm mặt lướt điện thoại. “Hà Nội là nơi làm việc, còn thích nhàn hạ thì về quê mà trồng rau nuôi cá” – hình như ai đó đã từng nói câu này, và tôi nhắc lại nó với nàng.
“Phải đấy, cưng ạ! Cưng cũng nên nghĩ như thế!” nàng hồ hởi nói. “Eo ôi, mùi tanh quá, té thôi anh, hôm nào cũng lẩn thẩn ở đây làm cái gì…”
Sau đợt Tết, tôi với Phúc chuyển ra một căn trọ mới, rộng rãi và tươm tất hơn, nằm ở đầu phố Chiến Thắng, cách ký túc xá của nàng ngót một cây số. Nàng hăm hở chiếm dụng khu bếp và gần như dọn sang ở hẳn cùng chúng tôi. Những ngày trời nồm thế này, trong nhà lúc nào cũng đóng kín mít. Nàng nằm sấp trên giường, bỏ tập ký hoạ ra tô tô vẽ vẽ, hoặc đọc sách. Nàng không ngại ngần ôm ấp tôi trước mặt Đức, và ăn mặc đôi khi lả lơi quá trớn – tôi thường phải nhắc nàng về điều này. Khi tôi bận làm việc, nàng chạy qua tấm vách ngăn cách hai phòng, dựng Đức dậy bằng được, kèo nèo gã phải đánh uno với nàng hoặc cùng chơi một cái game gì đấy trên điện thoại. Gã thường chết trước và quay sang chỉ đạo nàng, hai người cãi cọ ầm lên, rồi tôi nghe tiếng nàng thì thào: “Suỵt! Anh Tuấn đang làm việc!” Gần bảy giờ, tiện đường ra quán bar, gã chở nàng tới rạp chiếu phim.
Trước lễ giải phóng, tôi phải về quê lo ít giấy má. Tôi rủ nàng về cùng rồi tiện thể ra mắt gia đình, nhưng nàng không chịu: nàng đã nghỉ quá tiết giảng trên trường, và còn sắp thi nữa. Tôi đành tiu nghỉu bắt tàu về một mình.
Vì bị đám bồi giấy ở uỷ ban xã làm tình làm tội, công chuyện dây dưa sang tận tuần sau. Công việc tắc trách đã đành, lại còn thêm những dòng tin nhắn thưa thớt nàng gửi đi, lòng tôi rối bời khôn tả. Tôi không thể không láng máng nhận thấy một sự hờ hững, và dần dà, trong tôi dâng lên một nỗi lo ngại mơ hồ: “Lẽ nào chỉ vì xa nhau từng ấy ngày mà nàng đã chán và đang tâm rời bỏ tôi?” Riêng nàng thì cái gì cũng có thể được! Đến lúc nàng ngó lơ tin nhắn của tôi đến cả ngày trời thì chẳng đặng đừng được nữa, tôi thây mặc đống hồ sơ kia và vội vã từ biệt gia đình. Nhảy phắt xuống nhà ga đông đúc giữa màn mưa phùn lâm thâm, tôi nôn nóng chộp lấy bác tài mời chào đầu tiên. Lúc dừng chân trước cổng ký túc, tôi chạy vù vào căng tin, mua đủ thứ đồ ăn vặt mà nàng vẫn thường nhấm nháp, rồi cũng vẻ sốt sắng như thế tôi nhảy ba bậc một lên tầng bốn của khu học xá, chỉ bước chậm lại khi cánh cửa gỗ phòng nàng hiện ra phía cuối hàng lang. Tôi gõ cửa ba lần, quay lưng thấp thỏm đợi. Lát sau, một cô gái tướng tá béo tốt nhưng mặt mũi không lấy gì làm thân thiện cho được, ra mở cửa, nhìn tôi với vẻ cáu kỉnh.
Tôi hỏi cô ta về nàng.
“Không có đây đâu! Mấy ngày nay nó không về ngủ rồi,” cô ta trả lời bằng giọng đả đớt vẫn lẫn âm vùng miền.
“Mấy ngày nay?” tôi ngơ ngẩn nhắc lại.
“Phải, phải gần tuần rồi. Nhắn tin không trả lời, gọi điện thì số bận, nói chung là bặt tin luôn. Này, tìm được thì bảo là gửi tiền điện nước đi nhé. Tôi ứng cho rồi đấy!”
“Thế… thế… lớp ở đâu? Giờ này chắc phải ở trên trường chứ.”
“Giời biết!”
Trong lúc đi lẩn thẩn quanh khuôn viên ký túc, tôi chẳng màng đến cái dự định làm nàng bất ngờ nữa, nhấc máy nhắn mấy dòng tin rồi thử gọi điện, nhưng tất cả đều vô hiệu. Vẫn bác tài ban nãy chở tôi về khu trọ ẩm thấp nơi tôi trú ngụ. Tôi thất thểu xuống xe rồi leo ba tầng gác về phòng trọ của mình.
Trước ngưỡng cửa, tim tôi như muốn rụng ra: đôi giày bệt nàng thường hay đi xếp ngay ngắn trên kệ, bên dưới là đôi sneaker của Phúc nằm lăn lóc, chiếc lật chiếc úp. Vậy là nàng ở đây? Làm cái gì? Tôi lại ngó xuống kệ giày một lần nữa, rồi tôi thận trọng ghé sát tai vào khung cửa. Tôi nghe thấy tiếng nước sủi sùng sục và tiếng trò chuyện trai gái ngắt quãng. Vậy là đích thị có hai người, một nam một nữ, và nàng đã ở lì đây cả tuần nay: tức là nàng đã chung chạ… Tôi đứng im lặng hồi lâu, rồi gom hết sức bình tâm mà gõ cửa thật khẽ, và liền đó tôi nhận ra giọng nói của Đức vang lên một cách dè dặt:
“Ai đấy?”
“Em đây,” tôi bình thản trả lời.
Một lúc sau cánh cửa mới mở ra, tôi bước vào và ngó một lượt gian bếp với những đĩa ăn tươm tất được bày biện trên bệ đá hoa cương. Một nồi canh đang bốc khói nghi ngút. Đức đứng nép mình bên tôi, chân nghiêm chân nghỉ, khẽ khép cánh cửa lại sau lưng một cách sượng sùng. Tôi để ý thấy cổ áo polo của gã còn chưa bẻ cổ, bàn tay gã run run.
“Nay lại nấu ăn cơ à?” tôi hỏi.
“À… à… thì mưa gió này đi đâu được,” gã lừng khừng đáp lời.
Lúc đó, tôi chộp lấy nồi canh và liệng thẳng vào người gã bằng một sự quả quyết mà tôi không bao giờ chứng kiến ở mình nữa. Và, như thể phát điên, tôi nhảy bổ tới, đấm túi bụi vào người gã. Bỗng nàng lầm lầm hiện ra ở gian khách và hét lên:
“Anh làm cái đéo gì thế?”
Chúng tôi nhìn nhau chòng chọc một lúc lâu, không ai nói một lời. Nàng mặc chiếc váy đăng ten với hàng khuy trắng chạy dài, chiếc váy nàng bận vào hôm đầu tiên hai đứa gặp mặt; tóc nàng đã dài ra rất nhiều kể từ dạo ấy. Cổ họng nghẹn ứ, nước mắt trào ra, tôi mường tượng tới sự thật rằng tấm thân đằng sau lớp vải kia đã không chỉ dành cho riêng tôi, rằng con người mà tôi đã yêu tưởng đến chết đi sống lại, hoá ra chỉ là một con điếm.
“Mày… mày không khác gì một con đĩ,” tôi gắng gượng thốt ra.
“Ừ thì con đĩ,” nàng lập tức đáp trả với vẻ điềm nhiên đến độ ngoa ngoắt, “Nhưng anh làm thế là ngu lắm, vì con đĩ này đếch có yêu anh! Anh khỏi phải khóc lóc, trông lố lắm! Nào, anh gọi tôi là con đĩ nữa đi! Anh tưởng những câu văn, những cuốn sách của anh vui lắm hở? Nói thật nhé, đéo ai thèm đọc đâu, để đấy mà chùi đít!”
Lúc ấy, lồng ngực căng lên tưởng đến nghẹn thở, tôi chỉ muốn bóp cổ nàng cho chết. Nàng vẫn tiếp tục trâng tráo, kết cục, tôi đã tát nàng một cái như trời giáng – có lẽ trong đời nàng chưa bao giờ chịu một sự sỉ nhục lớn tới thế.
“Thằng chó! Thằng đàn bà!” nàng quỳ sụp xuống mặt sàn, vừa rú lên man rợ vừa ném vào tôi những ngôn từ miệt thị nhất. Tôi không còn cảm nhận được đôi chân của mình nữa, thậm chí không còn cảm nhận được cả sự hiện diện của mình, câm lặng, nhục nhã, tôi loạng choạng bước ra ngoài…
Đêm hôm ấy tôi về phòng thì thấy sách vở đã rách bươm, duy cuốn Chekhov nhờ kê dưới gối nên vẫn còn nguyên. Ở giữa các trang có dính vài sợi tóc.
Truyện này có hai bản: bản dưới đây là bản ngắn dùng đăng báo với tựa đề “Mùa Đông thương nhớ”, bản còn lại là bản dài với tựa đề “Đêm đông” nằm ở trang kế bên.
1.
Một mùa Đông giá lạnh, cách đây nhiều năm về trước, tôi tốt nghiệp đại học và tranh thủ về quê nghỉ ngơi. Ở nhà được dăm bữa thì mẹ tôi, phần vì thấy tôi rảnh rỗi, phần vì biết đã lâu tôi chưa thăm quê ngoại, bảo tôi thử tạt qua đó ít hôm xem sao, hoặc thích thì lưu lại vài tuần. Tôi hơi lừng khừng, bởi lẽ giờ về quê ngoại thì chỉ có thể ở lại nhà người bá, chị ruột của mẹ tôi, mà tôi thì vốn dĩ không ưa bá ấy cho lắm. Điều này không hẳn là không có duyên do, bá tôi bình sinh tính khó, cung cách lại có phần trưởng giả, lắm điều và ưa bày vẽ. Còn ông bác rể tôi là một doanh nhân kiểu mẫu, một người đàn ông của gia đình; trên bàn ăn ông toàn nói chuyện công việc. Ấy thế mà có lần tôi mắc lỗi, ông đã điềm nhiên nói với bá rằng: “Cháu của bà thì bà dạy đi.” – kể từ đó tôi đâm ra lãnh đạm với bác. Ở quê, vợ chồng bá có một ngôi nhà bề thề, nhưng quanh năm suốt tháng hai người túc trực ở xưởng gara trên Hà Nội. Ngoài ra trong nhà còn có cậu con trai út tên Quyết bằng tuổi tôi, bấy giờ đang học trên trường mỹ thuật công nghiệp, còn cô chị gái tên Vy thì làm việc ở quê, thành thử phần lớn thời gian nhà cửa là một tay chị Vy trông nom. Tôi vốn là con một, có thời tôi từng rất quấn quýt chị, coi chị như chị gái ruột vậy. Nói trắng ra, cả nhà bá tôi chỉ quý có chị Vy, và cũng chỉ vì chị mà sau một quãng trù trừ, tôi đã thưa với mẹ rằng tôi sẽ đáp tàu về.
Tôi đến thị trấn ấy vào một ngày nắng hanh giữa tháng mười một. Đang giờ nghỉ trưa nên bốn bề im ắng. Tôi đeo ba lô dọc theo con ngõ chật hẹp với những mặt tiền đơn điệu một màu vàng xỉn, nhiều nhà lớp ve đã tróc ra thành từng mảng. Giữa những gia cư xập xệ cổ lỗ ấy, ngôi nhà hai tầng kiên cố, bốn bề quét vôi trắng xóa của bá tôi sừng sững nhô lên, nom có vẻ lạc quẻ và kênh kiệu thế nào ấy.
Có một cái nút bấm dưới cái đèn trụ gắn trên cột cổng xây bằng đá trắng, tôi nhấn hai lần chuông và đợi. Lát sau, tôi thấy một cô gái lạ từ trong nhà bước ra. Nàng có vóc người thon thả, xinh đẹp, nhìn mặt có lẽ chỉ mười tám là cùng; miệng nàng hơi rộng, đôi mắt to tròn ngước nhìn tôi lộ vẻ ngạc nhiên, lúc nàng cúi người mở then chốt cổng, tôi còn để ý thấy gò má của nàng lấm tấm tàn nhang.
Cô gái trở vào nhà trước, thoăn thoắt leo lên thang gác, còn tôi cũng lập cập cởi giày bên thềm tam cấp, rồi vừa xoa tay vào nhau tôi vừa men theo hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp mờ mờ tôi tối. Chị Vy nheo mắt ngó ra, vừa tháo tạp dề vừa nói bằng giọng nhả nhớt thân thuộc:
“Ái chà! Đúng là thắp hương muỗi cũng lên! Tao vừa nhắc tới mày xong!”
“Chứ không phải mẹ em báo trước cho chị rồi à?” tôi trả lời. “Mỗi chị ở nhà hay sao?”
“Thì vẫn thế. Thôi ngồi đi, đợi tao hâm lại đồ ăn. Ăn tạm chả cá nhé, tao vừa lỡ đổ hết canh đi rồi.”
“Vô tư đi,” tôi vừa nói vừa kéo ghế ngồi xuống chiếc bàn gỗ kê giữa phòng.
Mọi thứ cơ hồ chẳng mấy đổi khác kể từ lần cuối tôi về đây, hoặc giả nếu có thì cũng rất ít thôi, chiếc quạt trần nhám bụi cứng đờ, bất động giữa trần nhà thâm thấp; mái hiên nhỏ trổ ra sân giếng, gian bếp tinh tươm với những đáy nồi đen thui xếp đều tăm tắp trên đinh gắn tường. Còn cô chị họ của tôi thật vẫn trẻ trung, duyên dáng như ngày nào – chị mới hai tư tuổi. Bữa ấy chị ăn bận rất thoải mái theo cái mốt trên đông dưới hè đang được ưa chuộng, quần bò ngắn màu bạc và áo len cổ tròn màu xám tro, mái tóc vấn qua loa bằng một chiếc trâm gỗ có khắc hình hai con thiên nga chụm đầu vào nhau.
“Chứ ai già như mày cho được. Học đâu ra cái thói để râu không biết! Ái à, lại còn cặp mắt kia nữa, thật vẫn đáng ghét như ngày nào!”
“Mắt em làm sao?”
“Mắt này chắc hay liếc ngang liếc dọc lắm mà!”
Trên bàn ăn đã dọn một đĩa chả cá xốt cà chua nóng hổi, một bát cơm xới đầy ắp và hai lon bia Hà Nội ướp lạnh đặt cạnh nhau. Tôi bật nắp một lon bia, tợp một ngụm, vừa nhăn mặt vừa nói:
“Nãy ai ra mở cổng thế?”
“À, con bé An ấy mà. Nãy đang dở tay nên tao nhờ nó mở hộ. Thấy con bé xinh đúng không?” chị Vy nhìn tôi đầy tinh nghịch và nói.
“Ừ, cũng xinh, nhưng gầy quá! Lưng trước lưng sau như một.”
“Ái chà, đã kịp nhìn rồi đấy! Nhưng cái này chưa khám chưa biết được đâu!”
“Nhưng mà từ giờ cho đến lúc đấy em vẫn cứ cho là vậy.”
“Khiếp, đùa ông có tý mà ông cũng chớt nhả ngay được. An là người yêu thằng Quyết đấy nhé!” chị trả lời với vẻ cong cớn và thấy tôi im re nên càng lựa đà đế thêm: “Thế nào, tắt điện rồi phỏng? Liệu cái thần hồn nha! Nghe chửa?”
Quả thật là tôi hơi phật ý trước lời hăm dọa có phần sống sượng ấy, đành cười trừ rồi lẳng lặng ăn tiếp. Chị Vy bật nắp lon bia của mình, tợp một ngụm nhỏ, dẩu môi theo kiểu đàn bà, rồi tiếp tục nhìn tôi bằng ánh mắt giễu cợt hóm hỉnh. Tôi cũng uống một hơi dài.
“Học xong rồi chứ hả?”
“Xong rồi,” tôi trả lời.
“Ừ hôm trước dì gọi điện khoe nên tao mới biết đấy chớ. Thế tính ra là mày tốt nghiệp sớm nửa năm nhỉ? Cu Quyết đợt này mới bắt đầu làm luận án cơ. À đấy, dạo này hai anh em còn hay rủ nhau đi đá bóng không?”
“Em nghỉ bóng bánh lâu rồi.”
Chị Vy im lặng thở dài, đoạn hạ giọng nói:
“Thôi nào, nói thật đi, mày vẫn giận nó phải không?”
Tôi bình thản nhún vai.
“Lại chẳng,” chị nói tiếp, “từ sau vụ ấy mày ít về đây hẳn… Chân đến mùa này chắc buốt lắm hở? Chậc, không muốn nói thì thôi vậy!”
Tôi chẳng biết đáp gì nữa, lại cụng lon. Dưới chiếc đồng hồ quả lắc trên tường có một bức tranh khổ rộng, không nhìn ra hình thù gì, chỉ có những đốm sơn loang lổ trên lớp toan được ánh đèn trần rọi chiếu làm cho sáng loáng. Tôi khẽ chạm vào lớp toan.
“Tranh của thằng Quyết đấy,” chị Vy nhanh nhảu nói. “Cả nhà chẳng biết nó vẽ cái gì, thế mà vẫn giật giải hẳn hoi! Con bé An suốt ngày qua đây, ngắm tranh rồi thì ‘anh Quyết của em’, ‘anh Quyết sắp về chưa chị?’ Buồn cười, tao mới bảo: ‘Mẹ mày chứ! Người yêu mày chứ người yêu tao đâu mà tao biết!’
Tôi vừa cười vừa nói bằng giọng bỡn cợt:
“Thế con bé kia nhà ở đâu? Ngày nào nó cũng qua đây chơi à?”
“An là cháu bà Thắm, nhà cách đây một quãng. Bà Thắm trước ghi lô đề ấy, bà ấy là anh em họ xa với bố chị. Con bé này là cháu ngoại bà đấy. Năm nay cuối cấp, bà nó xin cho nó thỉnh thoảng qua đây để tiện đường ra trường, chứ nhà bố mẹ nó thì ở trên thành phố cơ. Cái này nói riêng nhé, bố nó là dân xã hội đấy, nghe đâu giàu lắm thì phải. Nói chung làm cái nghề ấy chưa thấy ai nghèo bao giờ. Còn mẹ nó thì… hơi khó nói, hình như cũng bồ bịch trai gái gì gì đấy. Tao cũng chẳng biết hai đứa nó quen nhau thế nào. Con bé này nhìn chung cũng lễ phép, mồm mép, nhưng tính tình cũng hơi đồng bóng, chẳng biết đường nào mà lần… Con bé này luỵ lắm, mấy lần chia tay đều sang đây khóc lóc, kể lể, ấy thế mà vẫn yêu nhau đến giờ. Thế tài!”
“Chà, thế nhỡ nó thích em thì không phải tốt cho nó à?” tôi nói giọng cợt nhả.
“Vớ vẩn,” chị Vy bỗng đanh giọng. “Riêng chuyện này thì không đùa được đâu cu. Lằng nhằng có khi lại cạch mặt nhau! Mà mày cứ nói thế chứ chắc gì mày đã tán nổi nó!”
Vừa dứt lời, chị Vy đứng dậy thu dọn bát đĩa và dẫn tôi về gian phòng sát bàn thờ – căn phòng này thường khi vẫn để trống, có cái mùi ẩm mốc rất đặc trưng. Tôi chẳng thèm cởi đồ, lập tức lăn phịch xuống nệm, trong đầu cảm thấy ong ong, rã rời vì mỏi mệt, sung sướng. Ban nãy, ngay lúc bước vào trong phòng, tôi ngoái đầu lại thì thấy An đứng thập thò từ ngưỡng cửa ở phía bên kia cầu thang ngó sang. Chạm mắt tôi, nàng lập tức lảng đi ngay. Lúc ấy, tôi bất giác nhớ lại lời đe nẹt ngoa ngoắt của chị Vy trên bàn ăn, nhưng rồi chỉ lát sau là tôi đã quên béng và đánh một giấc hết cả buổi chiều. Tối hôm ấy trôi qua thế nào nhỉ? Hình như sau bữa ăn sớm, tôi và chị Vy đã ngồi lại tám chuyện một lúc, rồi thì ai về phòng nấy, thỏa thuê với những ý nghĩ của riêng mình…
2.
Năm ngày đã qua. Sáng nào thị trấn cũng có sương mù, tầm năm giờ chiều thì trời đã xâm xẩm tối và về đêm thì lạnh vô cùng. Thường nhật chị Vy dậy từ rất sớm và tự nấu bữa sáng, rồi về phòng giam mình đến quá trưa, còn tôi thì ăn xong lại ra nằm trên đi văng ngoài phòng khách đọc sách. Thoạt đầu, tôi cũng dạo sang nhà họ hàng ở lân cận để thăm hỏi cho phải lẽ, nhưng trừ những phút ấy ra thì cả ngày họ cũng phải mải miết kiếm ăn, chẳng hơi đâu mà tiếp mình mãi. Và thế là niềm vui được gặp lại người thân cứ mai một dần, trơ ra cảm giác chán ngán do nếp sống đơn điệu, tẻ nhạt bao trùm cái huyện lỵ hẻo lánh này, dân cư toàn người già và bậc hưu trí, còn thảy lứa trẻ đều bỏ đi làm ăn tha phương hết. Những ngày này, niềm an ủi duy nhất với tôi là việc cứ độ chín giờ thì An sẽ xuất hiện (nàng chỉ đi học ca chiều), chân xỏ đôi dép lót bông đi trong nhà, băng qua hành lang dẫn đến các phòng về phía gian bếp, bắt gặp tôi ở một mình thì chỉ dám lí nhí:
“Chị Vy đâu ạ?”
Thoạt đầu, nàng hồ như còn thẹn thùng với tôi, nàng chẳng hề hé miệng, nhưng dần dần, vào những lúc chị Vy bận việc, nàng vừa bước vẩn vơ quanh nhà vừa ngắm những khung tranh treo trên tường phòng khách, lát sau thì điềm nhiên ngồi xuống ghế đi văng đối diện, giương con mắt tò mò và hỏi tôi đang đọc sách gì. Đôi chập, nàng còn dạn dĩ đòi tôi đọc to thành tiếng. Và người con gái nhỏ nhắn, xinh đẹp và hồn nhiên ấy, khuôn mặt lúc nào cũng như đang khúc mắc điều gì, hễ nghe tôi đọc được một lát là mí mắt đã lim dim, khuôn miệng đáng yêu khép hờ… Lúc sực tỉnh, nàng vớ vội ba lô và trách tôi bằng giọng ngúng nguẩy dằn dỗi:
“Tại anh đấy! Lại đi học muộn mất rồi!”
Có lần, vào buổi sáng, độ chín giờ, trên đường ra tiệm tạp hoá mua thuốc lá (dù hồi ấy tôi hút cũng có chừng mực thôi), tôi thấy An đang chậm rãi bước xuống con dốc, trên người vận bộ đồng phục hơi rộng so với vóc người; bắt gặp tôi, gương mặt nàng thoáng ửng hồng, đôi mắt còn hơi ngơ ngác – có lẽ nàng mới ngủ dậy.
“Chị Vy đang làm việc ạ?” nàng cất giọng khe khẽ.
“Ừ,” tôi trả lời.
“Anh đi đâu thế?”
“Đi lang thang.”
Nàng khẽ bật cười. Và rồi cả hai lại lặng lẽ lướt ngang qua nhau, như những người hoàn toàn xa lạ. Nhưng, khi tới chân dốc, tôi nghe tiếng nàng gọi lại:
“Đợi em với!”
Nhìn nét mặt, cử chỉ, giọng nói của An, không hiểu sao tôi lại tin rằng mọi chuyện thật ra chẳng tình cờ như nó vốn thế. Cơn mưa phùn rạng sáng đã tạnh hẳn nhưng mặt đường còn hơi ướt. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện. Mỗi khi muốn nói điều gì, An dấn lên ngang hàng như để trông rõ mặt tôi.
“Em để ý rồi, hôm nào cũng thấy anh đọc cuốn này. Anh đọc mãi vậy không chán à?” Nàng vừa nhìn cuốn sách tôi cầm trên tay vừa nói ra bộ khó hiểu.
“Chán chứ, nhưng vẫn đỡ hơn ngồi không,” tôi trả lời. “Cái khu này buồn thật, đến một cái sân bóng cũng không có.”
Nàng hớn hở:
“Trường em có sân bóng đấy!”
“Không, bóng rổ cơ,” tôi vừa đáp vừa đá một viên sỏi vào lề đường.
An nhìn tôi từ đầu đến chân, chắc nàng đoán rằng một người to cao, vạm vỡ như tôi ắt trên trường đại học phải vào dạng sao số lắm và tôi thì hồ hởi thuật lại chi li mọi giải đấu mình từng tham dự. Nàng im lặng lắng nghe, gật gù và tỏ vẻ thán phục.
Khi chúng tôi về gần đến nhà, An bỗng dừng lại và nói:
“Chị Vy kể rằng anh với anh Quyết từng xích mích và giận nhau đến giờ. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?” – nàng khẽ chạm vào tay tôi và nói – “Dẫu sao cũng là họ hàng với nhau, tội gì lại không làm lành cơ chứ?”
“Bởi vì nó là một thằng chó má.”
Nàng cụp mắt xuống và tôi thấy khóe miệng nàng run run.
“Sao anh phải nặng lời thế?” Nàng ấm ức kêu lên, và lập tức xẵng giọng một cách ngoa ngoắt: “Nếu anh nói được thế chứng tỏ anh cũng chẳng ra gì!”
“Thôi được rồi,” tôi im lặng một hồi rồi trả lời bằng giọng khô khốc. “Nhìn cái đầu gối này đi, có ba chiếc nẹp vít trong này, và sẽ găm ở đấy suốt đời. Tất cả là nhờ một pha vào bóng ‘không may’ của người yêu em đấy, của ông anh họ quý hoá, dù đếch ai cũng biết là nó cố tình. Những ngày nổi gió thế này, chân anh buốt đến mức muốn chặt phứt đi rồi quăng ra vườn!”
“Em xin lỗi, em không biết,” nàng thổn thức đáp lời…
Những ngày sau đó chúng tôi thường đi dạo cùng nhau. Đương nhiên tôi cũng lờ mờ đoán ra rằng nàng giả đò tình cờ gặp tôi trên con ngõ nhỏ – sau này nàng thường đắc chí kể lại chuyện đó. Sáng sáng, nàng đứng ở đầu con dốc cách nhà nàng không xa, cạnh một cây bàng trơ cành trụi lá. Sương mai đọng trên chiếc khăn choàng cổ màu đỏ nàng hay mang mỗi khi ra ngoài. Thường ngày nàng khoác áo đồng phục màu đen với quần thể thao ống suông màu xanh thẫm. Trong khi đi dạo, tôi kể nàng nghe về tuổi ấu thơ, thời niên thiếu của mình, về những khát vọng đôi mươi và những vỡ mộng trên thành phố; nàng chăm chú lắng nghe, mắt nhìn tôi vừa khâm phục vừa tò mò. Cuộc sống bề ngoài đơn điệu của tôi cứ thế trôi qua nhưng cả tôi lẫn An đều nhận ra mối tình thầm lặng mà trong những chuyến đi dạo ngày càng dài hơn, thường xuyên hơn đã được thổ lộ qua nhiều câu đùa lấp lửng như muốn thăm dò tình ý, qua những cử chỉ quan tâm vụng về, dè dặt.
Tôi còn nhớ, một ngày thứ sáu rất bình thường, trời rét khô, hanh hao làm da dẻ nứt toác. Hôm ấy, An và chị Vy rủ nhau ra tiệm cắt tóc. Còn lại một mình, tôi nằm rũ người bên bàn bếp, đầu gối lên tay, tư lự trông ra rẻo vườn sau nhà – tôi nằm đó rất lâu, thấy trong lòng bâng khuâng khó tả, một nỗi buồn thật mơ hồ, dịu ngọt, say sưa, một cảm giác thân thuộc ùa về, bồi hồi xao xuyến như khi được trông thấy lại thời thơ ấu… Lát sau, vẫn ngồi đó, tôi lại nghe tiếng cười đùa vui vẻ ngoài sân, tiếng chân bước nhẹ êm trên hành lang rõ dần và liền đó là cái giọng lanh lảnh của chị Vy: “A lô!” Chắc lại thằng Quyết đây mà. “Có khi nào nó sắp về?” tôi thầm nghĩ trong lúc vẫn nằm yên chỗ cũ.
Và liền đó, tôi thấy An bước vào gian bếp một mình. Nàng lẳng lặng tới cúi người trước mặt tôi, áp một bên má xuống bàn, mặt nàng sát đến mức tôi có thể ngửi thấy hương thơm dìu dịu toả ra từ mái tóc nàng.
“Anh nghĩ cái gì thế?” nàng tròn xoe mắt hỏi.
Lúc ấy tôi đăm đắm nhìn vào mắt An, rồi không hề báo trước, tôi hôn vào môi nàng. Nàng giật mình lùi phắt về sau, bất giác đảo mắt liếc quanh: chị Vy có thấy không? Mặt đỏ bừng, nàng hấp tấp chạy vụt ra ngoài, bất thần va ngay phải chị Vy đang từ hành lang tiến vào.
Chị Vy ngồi xuống bàn, vẫn nhìn tôi bằng con mắt riết róng, ngờ vực như muốn nói: Anh cứ liệu cái thần hồn đấy! Vẫn còn sửng sốt vì pha chết hụt vừa rồi, tôi bèn vớ lấy cuốn sách bỏ dở lúc nãy, nâng cao sách che mặt giả vờ đọc. Chị Vy bày đồ lề ra bàn và bắt đầu trang điểm.
“Chị đi đâu à?”
“Ra ngân hàng gửi tiền cho thằng Quyết!” chị vừa dặm phấn vừa đáp gọn lỏn. “Chiều tao còn đi có việc nữa, nếu đói thì tự hâm lại đồ mà ăn nhé!”
Chị Vy khoác chiếc măng tô màu be bằng dạ, tà áo chớm đầu gối, xoa xoa tay vào nhau trong lúc tôi đề ga hộ chị. Tôi phát mệt trước những lời căn dặn của chị. Thế mà vừa bước vào trong nhà, tôi bỗng dưng hoảng sợ với cái ý nghĩ rằng chỉ còn lại mình tôi với tôi, rằng nửa ngày đã trôi qua phung phí và nửa còn lại sẽ chẳng khá khẩm hơn: biết làm gì cho hết chiều đây? Lại ngủ? Hay đọc sách? Thế là đủ lắm rồi! Nhưng rồi tôi vẫn đọc sách, vẫn thiếp đi trên đi văng như thường lệ.
Khi tôi tỉnh dậy thì đã gần năm giờ, đầu váng vất, toàn thân ê ẩm. Căn nhà vốn trống trải như càng rộng thêm ra, chung quanh tối sầm, không cả nhìn rõ mặt người trên khung ảnh gia đình treo tường. Qua ô cửa kính trên thềm nghỉ cầu thang, tôi thấy bầu trời xam xám, buồn buồn, như sắp đổ cơn giông. Ngoài vườn không có gió, trong nhà tĩnh lặng như một nấm mồ và chính tôi cảm thấy toàn thân như mục ruỗng, tan ra…
Sao lại ngủ đẫy mắt thế không biết! Tôi vò đầu tự trách mình. Giờ thì biết đi đâu đây? À, có lẽ giờ này An sắp tan học!
Với ý nghĩ đó trong đầu, tôi chộp ngay lấy chiếc áo bành tô treo trên chiếc móc áo gần cửa ra vào, chẳng thèm xỏ giày cho tử tế, đoạn đâm bổ ra ngoài đường. Một cơn gió bất ngờ thốc vào má, vào tai lạnh buốt như kim châm. Tôi chậm rãi leo lên con dốc thoai thoải về phía đường ray, băng qua cánh đồng cằn cỗi, qua những đụn rạ toả khói mờ mờ về phía thị trấn, toàn thân rúm ró cả lại. Trời tối dần. Vừa đi, tôi vừa nghĩ về An.
Tôi đến ngôi trường ấy vừa sát giờ tan ca. Rồi tiếng trống gióng lên ba hồi dài, âm thanh trầm trầm lan ra trong không gian trống trải, ông bảo vệ đội chiếc mũ cối từ căn phòng nhỏ quét vôi vàng rề rà bước ra mở thanh chốt cổng. Học sinh nô nức ùa ra như đàn ong vỡ tổ, vài đứa nhanh chân đã tụm thành một tốp rảo bước trên sân trường. Chỉ lát sau là không gian đã tĩnh mịch trở lại, chỉ còn nghe tiếng chổi loẹt xoẹt, đều đều của người lao công.
Trời đã tối không còn nom rõ mặt người, chỉ thấy một phòng học ngay sát cầu thang tầng ba là vẫn sáng đèn. Vì bận ôn thi cuối cấp, lớp An thường tan muộn hơn. Tôi ngồi ở ghế đá dưới hàng cây xà cừ đợi nàng. Tôi nhớ vài cậu học sinh lớp nhỡ không chịu về ngay mà còn nán lại ném dép chọc tổ ong, lúc sốt sắng chạy ngang qua tôi thì ném đi những tia nhìn ranh mãnh như muốn nói: Này, anh kia, đến đón người yêu phải không?
Lát sau, tôi thấy An trùm khăn kín đầu, khoác tay cùng một bạn học khác chầm chậm bước xuống cầu thang, rồi đôi bạn vẫy tay chào nhau ở khúc rẽ dẫn về nhà để xe. Tôi mừng rỡ tiến đến đón nàng:
“An!”
Nàng giương cặp mắt ngơ ngác nhìn quanh, khựng lại một thoáng, rồi ngay lập tức bổ nhào về phía tôi. Trong nỗi sửng sốt hân hoan, giọng nàng vang lên trong trẻo, không kìm nổi niềm vui sướng:
“Ôi! Anh đợi lâu chưa? Trời ơi, lâu lắm rồi mới có người đi đón thế này!” Nàng vừa khoác tay tôi vừa hí hửng nói.
Lúc gần đến cổng trường, An chợt dừng lại, nàng đã để quên chiếc khăn choàng trong gầm bàn. Chúng tôi đành rảo bước trở lại. Những học sinh cuối cùng đã ra về hết, đường nét của khu nhà hoang vắng hiện lên dưới ánh đèn nhập nhoạng trông rờn rợn khó tả, hành lang dài hun hút. Trong lúc An khum người mở thanh chốt cửa, tôi đứng tựa lưng vào lan can đợi nàng. Lát sau nàng trở ra, chiếc khăn choàng màu đỏ đã quấn hờ trên cổ và trong bóng tối mờ mờ, tôi thấy đôi mắt của nàng đang nhìn tôi tràn ngập âu yếm. Đúng ra là lúc ấy, tôi đã chẳng còn nhìn thấy gì khác ngoài đôi mắt của nàng. Tôi lập tức hôn vào đôi môi giá lạnh, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn giá lạnh, tôi dẫn nàng về góc hành lang tối tăm, heo hút…
Từ sau lần ấy, An và tôi bắt đầu một mối quan hệ mập mờ, giấu diếm dưới sự con mắt riết róng của chị Vy. Cơ hồ chị đã nhận ra điều gì ám muội giữa hai chúng tôi, nhưng ngoài mặt thì chị vẫn hoàn toàn bình thường, thi thoảng, chị vời chúng tôi ra chơi tú lơ khơ. Có chị ở cạnh, An liền quay ngoắt thái độ, bề ngoài trưng ra vẻ thờ ơ giả hiệu; trái lại tôi thấy vui vẻ một cách khoái trá trước màn đóng kịch của nàng. Nhiều lần, khi đang đi dạo ngoài trời, lựa lúc chung quanh không có ai, tôi kéo nàng lại gần và hôn nàng đắm đuối. Bây giờ thì thật khó mà dứt nàng ra được, nàng ngoan ngoãn chiều theo mọi âu yếm nơi tôi bằng vẻ cam chịu thơ ngây và tính thẹn thùng của lứa tuổi nàng nữa. Và bao giờ những phút giây lén lút vụng trộm ấy cũng để lại trong tôi dư vị ngọt ngào, đê mê, đồng thời là cảm giác rạo rực, bức bối vì những cuộc ái ân chưa thật đến nơi đến chốn. Xa nàng, những khao khát giày vò tôi…
3.
Khoảng hơn một tuần sau lần đón nàng ở trường, tôi bị đuổi cổ khỏi nhà chị Vy, thâm tâm không khỏi bàng hoàng vì sự chia ly ập đến quá đỗi nhục nhã, đột ngột.
Một lần sau bữa ăn trưa, chị Vy kêu mệt rồi đi nằm ở phòng bên, còn tôi ngồi ở góc phòng xem phim trên chiếc bàn gấp được chừng ba mươi phút thì An tới. Nàng vẫn mặc bộ đồng phục như thường nhật và trông nàng có vẻ phấn chấn.
“Chị Vy đâu rồi?” Nàng nói rồi vui vẻ ngồi xuống cạnh tôi, cằm tựa vào đầu gối. “Ồ, phim này hồi bé em xem rồi, cái gì mà… hình như có một ông sát thủ với một con bé… xong rồi kết buồn phải không?”
“Em yên lặng xem nào,” tôi dịu giọng nói và choàng tay ôm ngang khuôn ngực nhỏ nhắn của nàng. “Mà xem này, trên người em cũng có nhiều tàn nhang, ngộ thật!”
“Thôi nào, anh hư thế,” nàng khẽ đánh vào tay tôi và thì thào…
Bất thần có tiếng chân bước êm ru từ ngoài hành lang. Chị Vy hiện ra trên ngưỡng cửa, đầu tóc rối tung, miếng hạ sốt vắt ngang vầng trán. Thoạt đầu, cặp mắt đen sắc của chị ánh lên một vẻ vừa căm phẫn, vừa ma mãnh như muốn khiêu khích. Chị nhếch mép cười rồi lắc lắc đầu. An vùng khỏi tôi, đứng bật dậy, vừa tủi hổ chỉnh lại áo quần vừa cúi gằm mặt đâm bổ xuống lầu…
Chị Vy chạy vụt vào phòng và vung tay tát tôi một cái rất đau, vừa nhìn tôi tôi đầy hằn học vừa hét lên: “Sao mày không đội luôn áo ngực nó lên đầu luôn đi? Nào, có gì mà phải ngạc nhiên thế, mày vần vò nó bao nhiêu hôm rồi mà? Mày cứ tưởng tao không biết phỏng? Tao biết hết! Lại còn ngay trong nhà này!”
Buổi chia tay hôm ấy, chiều cuối năm buồn da diết, cái lạnh cô liêu đã giăng khắp mọi chốn. Cánh đồng trơ trọi với những luống cày đen trũi như dài thêm ra. Trên khoảng trời xam xám buồn buồn, một con diều hâu cứ chao liệng mãi; con chim bình thản sà xuống rồi lại đập cánh vươn lên, đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ, dường như nó chẳng mảy may phiền muộn, cũng chẳng thấy lý do gì phải phiền muộn vì tình cảnh đơn độc. Sương mù la đà trên mặt đường ẩm ướt như một làn bụi.
Như thường lệ, An đứng đợi tôi dưới mái ở gần cổng trường. Chúng tôi lặng lẽ lê bước theo ngõ phố vòng vèo và tăm tối, không ai nói một lời nào. Trông nàng rầu rĩ, mỏi mệt, môi nàng mấp máy như muốn nói điều gì.
“Anh này,” nàng bước chậm lại và cất giọng khe khẽ, “từ mai anh không cần đi đón em nữa đâu, em sẽ nhờ bạn chở đi.”
“Ừ,” tôi ngập ngừng trả lời, mắt không nhìn sang nàng, “mai anh cũng đi rồi.”
An khựng lại một thoáng rồi lại tiếp tục bước đi, nàng đi trước còn tôi đi sau. Khi đến cạnh gốc cây bàng, nàng bỗng quay lại và tôi nhìn thấy gò má nàng ướt đẫm, nàng khóc.
“Vậy là cứ thế mà đi thật đấy?” Nàng nghẹn ngào nói qua làn nước mắt, bờ vai run run vì sương lạnh – nàng chỉ mặc áo sơ mi mỏng bên trong áo khoác đồng phục. “Là sẽ không gặp nhau nữa đấy?”
Nhìn gương mặt nàng, tôi chợt thấy tiếc dáng điệu vô tư thơ trẻ của nàng, mắt nàng nhìn tôi với vẻ bi ai đầy khó hiểu. Người con gái trẻ trung tôi đã tán tỉnh một cách bông lơn, tôi đã lợi dụng nàng để thỏa mãn sự hẹp hòi trong mình, đang lặng lẽ nhìn tôi bằng đôi mắt buồn da diết. Nhìn dáng vẻ ủ rũ của nàng, cảm tưởng tất cả mọi thứ hết sức nặng nề. Và thật sự không thể tin nổi mai đây rồi tôi sẽ quên nàng, hay nàng sẽ quên tôi, rằng tất thảy rồi sẽ chìm vào quên lãng và mọi luyến lưu nào có ích gì…
“An này, dù sao thì em sẽ không quên anh ngay đấy chứ?” tôi nói.
Tôi cầm tay nàng rồi áp lên má tôi. An gạt nước mắt, áp tay kia của tôi lên má nàng; nàng cười gượng như sợ làm tan mất bóng đêm. Lúc ấy, tôi bất giác ôm lấy nàng, hôn lên cổ, lên vai, lên tóc nàng.
“Em bảo này,” nàng khẽ gỡ tôi ra và dè dặt nói. “Nửa năm nữa thôi là em tốt nghiệp rồi. Lúc đó em cũng sẽ lên Hà Nội. Thế… thế… anh đợi em nhé? Em không ngại gì anh Quyết, có lẽ chia tay em, anh ấy còn mừng là khác, nhưng chị Vy thì… ôi, em sợ chị ấy lắm… ngộ nhỡ chị ấy lại làm om sòm lên… Thôi bà em kia rồi, em phải vào nhà đây.”
Nàng chạy về phía cánh cổng:
“Anh nhớ nhé! Về đi anh, kéo khoá áo lên khỏi lạnh!”
Tôi nhìn theo bóng nàng, cố nán lại nghe tiếng bước chân nhè nhẹ xa dần. Bóng tối dày đặc đã bao trùm con ngõ, tôi kéo khoá áo kín cổ, vừa xoa hai tay vào nhau vừa chậm rãi bước về ngôi nhà của bá tôi, thầm ước rằng trong ấy sẽ chẳng có ai, rằng một phép màu sẽ xảy đến và…
Gian khách sáng đèn, cửa để ngỏ, từ sân giếng có tiếng trò chuyện râm ran vọng ra. Liền đó, tôi chạm mặt cả hai chị em Vy trong phòng bếp, chị Vy im lặng nhìn tôi bằng ánh mắt khinh khi, và tôi bắt được cái liếc nhìn của thằng Quyết xuống đầu gối tôi…
Cuối cùng, chính nó cất giọng phá tan bầu không khí gượng gạo bằng cái giọng giả lả cố hữu:
“Chú trốn ở đâu mà kỹ thế?”
Ngay đêm hôm ấy tôi sửa soạn hành lý rồi đáp chuyến tàu sau chót về thẳng quê nhà.
4.
Từ dạo ấy tôi không bao giờ ghé chơi nhà chị Vy nữa. Duy có một lần cách đây không lâu, vào ngày chị đi lấy chồng, do bố tôi đương đóng quân ở Móng Cái nên tự tôi phải cầm lái để chở mẹ về chung vui. Từ xa tôi đã trông thấy bá tôi đứng tiếp khách một mình – trước đó vài năm ông bác rể tôi đã đột ngột từ trần; bá vận bộ áo dài diêm dúa chiết eo lồ lộ những ngấn mỡ ở bụng, mặt trát phấn dày cộm. Còn Quyết thì lăng xăng chỉ đạo, thắng lên mình bộ âu phục cắt may đỏm dáng đến mức có thể tưởng lầm cậu chàng là chú rể cũng nên. Trông thấy mẹ con tôi, Quyết lập tức sán đến, hỉ hả tay bắt mặt mừng. Anh ta vẫn xưng hô với tôi theo cái lối “chú chú anh anh” dạo nào.
Lát sau, tôi bắt gặp chị Vy trên phòng trang điểm cho cô dâu. Chị tự hào kháo chuyện với mẹ con tôi rằng chị đã quen một anh chàng ở miền trong, và rất hài lòng vì cuối cùng đã thuyết phục được anh này về đây ở rể.
“Nếu Huy (đó là tên chồng chị) không về đây, còn lâu cháu mới cưới!” chị cao giọng.
Còn về câu chuyện dạo trước, chị gượng cười coi như chuyện cũ gác sang bên, chẳng đáng nhắc lại làm gì. Theo như chị nói, đến Tết năm ấy thì bà ngoại An ngã bệnh rồi qua đời, giờ ngôi nhà với bờ giậu thâm thấp cùng mái hiên giăng giàn hoa giun đó bỏ không, mỗi tháng một lần có người ghé qua lo chuyện quét tước, hương hoả. Cũng cái năm ấy, bố nàng lĩnh án bảy năm trong một pha chết chùm, còn nàng thì tốt nghiệp phổ thông xong liền theo mẹ về quê ngoại ở trong miền Nam. Từ đó không ai nghe tin gì về nàng, và có lẽ chẳng ai còn nhớ tới nàng nữa.
Tôi cũng đã dần quên gương mặt nàng. An, khi ấy nàng mười bảy tuổi, lúc nàng rảo những bước nhanh qua con ngõ nhỏ, dáng dong dỏng cao và hai dải bím tóc đen nhánh đung đưa sau tấm lưng. Riêng điều này thì tôi nhớ mãi – gò má nàng lấm tấm tàn nhang, càng rành rọt hơn lúc nàng cười, bao giờ cũng ửng hồng vì sương giá… Thi thoảng, khi đợt gió mùa đầu tiên ùa về làm bầu trời chuyển xám, khi tôi từ ngoài đường trở về nhà dậm dậm chân, xoa đôi bàn tay giá lạnh, tôi sực nhớ rằng đã từng có một mùa đông như thế, một mùa đông gắn liền với mối tình thơ trẻ cùng người con gái mà gương mặt theo năm tháng đã dần phai nhạt trong tâm trí tôi.
“Sao thế, vẫn còn nhung nhớ con bé à?” Chị Vy huých khẽ vào tay tôi và nói bằng giọng đùa đùa.