• Người đàn bà ngốc nghếch

    Đọc thử

    Bà Văn là bà lão chuyên mò cua bắt ốc gần nhà tôi. Thật ra Văn là tên chồng bà, một viên chức đĩnh đạc với hai nếp rãnh cười hằn lên làn da mai mái như thể được cố tình vẽ ra, còn tên thật bà là gì thì tôi không rõ, mà tôi nghĩ trong làng cũng chẳng ai rõ, hoặc có rõ thì cũng đã quên từ lâu.

    Bà Văn tuổi ngoài bảy mươi, lưng còng rạp như cái cây oằn mình trước gió, và khuôn mặt, dáng dấp, giọng nói, – tất cả ở bà đều cho thấy bà là một người đã bị cuộc đời vò cho nhàu nhĩ. Bà đẻ được bốn mụn con, ba trai một gái, và thảy đều được cho ăn học đàng hoàng, lớn lên thành người tử tế, những người có chỗ đứng. Ông chồng bà về hưu đã chục năm nay nhưng ngày lại ngày, ông đóng bộ tươm tất như đi dự họp, thắt cà vạt thẳng thớm, quần là áo lụa, ông chống cây gậy gỗ nhiều mấu đi dạo trên đường làng với khuôn mặt khắc khổ như một kẻ hành hương, vừa đi vừa lầm bầm trong hơi thở. Ông ta tề chỉnh, mẫu mực, đường hoàng, tác phong nghiêm cẩn như thể mọi chuyện nhỏ nhặt nhất đối với ông cũng mang tầm quan trọng khôn lường. Dân làng khiếp sợ ông vì ông đánh vợ không chùn tay. Hở ra là đánh.

    Tôi nhớ có lần vào buổi trưa, bà Văn sang nhà tôi rao cá. Bà thường bắt được những mẻ cá rô đồng rất ngon, và ông bà nội tôi là khách hàng thường xuyên của bà. Thường thì ngồi trong nhà đã nghe thấy tiếng dép loẹt quẹt của bà Văn trên con đường rải sỏi, và thời bé tôi có thói quen đoán xem bà bước bao nhiêu bước nữa thì tới trước cổng nhà tôi. Bà cất tiếng gọi:

    “Cô giáo ơi! Cô giáo!”

    Bà nội tôi thưở trước từng làm nhà giáo, nên bà Văn cứ quen miệng gọi vậy hoài, kể cả khi bà nội đã chẳng còn nhớ nổi ngày trước mình từng làm nhà giáo, khi mà tất cả những gì gợi nhắc về một sự nghiệp đã qua chỉ là tấm bằng khen đóng khung thếp vàng treo cạnh khung cửa sổ.

    “Cô giáo ơi! Có cá rô đây này!” bà Văn gọi tiếp.

    Bà tôi lật đật trở ra từ phòng ngủ, lướt qua tôi, bấy giờ đang ngồi xem TV trên chiếc ghế gỗ ở phòng khách, và bà vẫn kịp ném vào tôi một ánh nhìn đe doạ vì tội không ngủ trưa, trước khi bà với lấy chiếc nón chạy ra khoảng sân vàng rộm những thóc là thóc. Tôi ra đứng cạnh thềm cửa, ngơ ngác nhìn theo hai người đàn bà và cố hiểu từng lời mà họ trao đổi với nhau. Họ xì xầm to nhỏ một hồi, rồi bà nội tôi đánh khẽ vào tay bà Văn, nói:

    “Mặt mũi làm sao thế này?”

    Bà Văn không đáp. Bà tôi hỏi tiếp:

    “Thằng ấy nó lại đánh à?”

    “Ừ, nó đánh đấy,” bà Văn im lặng, vẻ sợ sệt thêm một lát rồi mới đáp. “Vài bữa nay nó đánh liên tục.” Đoạn bà ta liếc mắt ngó quanh như thể lo sợ ông chồng đang rình rập mình và có thể nhảy ra từ bất cứ chỗ nào. Trông bà rúm ró, tội nghiệp. Bà mỉm cười, răng đã rụng gần hết, mớ tóc trên đầu xoà xuống rũ rượi, rồi bà vừa loạt xoạt lật giở xấp tiền lẻ bà tôi đưa cho vừa lắc lơ cái giỏ cá không về nhà, nơi ông chồng bà rất có thể đang khó ở chuyện gì đó và sẵn sàng tương cho bà vài tát vào mặt can tội nắng chang chang còn đâm ra đường, hoặc có khi là chẳng can tội gì cả. Thật khó hiểu làm sao! Ông Văn rất giàu và con cái ông ta cũng rất giàu, nhưng bà mẹ thì sống như thể một gia nhân, một người thừa trong cái cảnh giàu sang của mình. Vợ chồng ông Văn, cái đôi vợ chồng không yêu thương nhau ấy, đã chung sống gần nửa thập kỷ, từ một căn nhà vách đất cho tới căn nhà cấp bốn có mái lợp ngói như hiện tại, xây từ những năm chín mươi.

    Mỗi lần tết nhất, con cái ông bà dựng xe ô tô thẳng hàng chắn hết cả lối đi. Và từ thưở nhỏ, khi bắt gặp mắt tôi rơm rớm khi chứng kiến cảnh ngộ của bà Văn, bà nội tôi cao giọng bảo rằng chẳng cần cám cảnh cho bà ấy làm gì, có lẽ cũng vì mỗi người đều có nỗi khổ của mình, và nếu chỉ nhìn bằng con mắt trần tục thì đâu biết ai khổ hơn ai.

    Bà Văn vẫn đi mò cua bắt ốc, vẫn gọi bà nội tôi là cô giáo, vẫn gọi tôi là cháu cô giáo, vẫn bị chồng đánh tối ngày, và vẫn luôn mỉm cười đầy ngờ nghệch khi bước trên đường, như thể mọi chuyện đối với bà chỉ là những hòn đá ném xuống nước, khuấy động sự phẳng lặng của mặt nước trong chốc lát, và thời gian qua đi, dòng nước sẽ êm ả chảy lại như cũ. Một người đàn bà ngốc nghếch và kiên cường, tôi nghĩ thế.

    T.B. Tôi luôn muốn viết một truyện ngắn về bà Văn, nhưng kỳ thực tôi chẳng mấy xúc động và cảm thông với bà già này. Tôi chỉ thấy ngồ ngộ và khó hiểu thế nào ấy. Tạm thời tôi ghi lại trường hợp của bà ấy tại đây.


  • Ba tiểu luận của Arthur Schopenhauer

    Đọc thử

    Arthur Schopenhauer, triết gia u sầu và thất tình nhiều nhất lịch sử, có một series tiểu luận dài hơi về văn chương, trong đó ông thảo luận (với thái độ cả quyết) về nhiều khía cạnh của nghề cầm bút: từ hình thức, phong cách, phê bình, hay về các thiên tài văn học, v.v..

    Dưới đây là ba trong số những bài tiểu luận thuộc series ấy:


    Bàn về nghề viết

    – Arthur Schopenhauer

    Trước hết, có hai loại tác giả: những người viết vì chính chủ đề của mình, và những người viết chỉ để mà viết. Trong khi kiểu người thứ nhất có những suy tư hay trải nghiệm mà họ thấy xứng đáng để truyền đạt, thì kiểu người thứ hai lại chỉ muốn tiền; và vì thế họ viết, vì tiền. Việc suy tư của họ chỉ là một phần trong công việc kinh doanh viết lách. Có thể nhận diện kiểu người này qua cách họ bôi vẽ và kéo dài ý nghĩ của mình ra đến độ dài tối đa có thể; rồi cũng qua chính bản chất những ý nghĩ ấy: chỉ đúng một nửa, sai lệch, gượng ép, chao đảo; và lại còn qua thái độ ghét bỏ mà họ thường thể hiện đối với việc nói thẳng ra bất cứ điều gì, cốt để họ tỏ ra khác với bản chất thực của mình. Do đó, văn chương của họ thiếu đi sự rõ ràng và rành mạch, và chẳng bao lâu họ sẽ để lộ ra rằng mục đích duy nhất của họ khi viết lách chỉ là để phủ kín mặt giấy. Điều này đôi khi cũng xảy ra với cả những tác giả xuất sắc nhất; thỉnh thoảng, chẳng hạn, với Lessing trong cuốn Kịch luận của ông, và ngay cả trong nhiều cuốn tiểu thuyết diễm tình của Jean Paul. Ngay khi nhận ra điều này, độc giả hãy quăng ngay cuốn sách đi; bởi thời gian là vàng bạc. Sự thật là khi một tác giả bắt đầu viết chỉ để bôi kín mặt giấy, ông ta đang lừa dối độc giả; bởi ông ta viết dưới vỏ bọc giả tạo rằng mình có điều gì đó để nói.

    Tựu trung lại, việc viết vì tiền và giữ bản quyền chính là sự hủy hoại văn chương. Không ai viết ra được điều gì đáng giá, trừ khi người đó viết hoàn toàn vì lợi ích của chính chủ đề. Sẽ là một ân huệ vô giá biết bao, nếu trong mỗi nhánh của văn học chỉ có vài cuốn sách, nhưng lại là những cuốn thực sự xuất sắc! Điều này sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực, chừng nào người ta còn có thể kiếm tiền từ việc viết lách. Dường như đồng tiền mang theo một lời nguyền; bởi mọi tác giả đều tha hóa ngay khi bắt đầu đặt bút xuống giấy vì mục đích tư lợi dưới bất kỳ hình thức nào. Những tác phẩm tuyệt luân của những vĩ nhân đều ra đời vào thời kỳ mà họ phải viết mà chẳng nhận lại được gì, hoặc nhận được những đồng thù lao rẻ mạt. Và ở đây, câu tục ngữ Tây Ban Nha nọ lại ứng nghiệm, câu nói răn rằng danh dự và tiền bạc không thể chung một túi – honora y provecho no caben en un saco. Lý do khiến Văn chương ngày nay rơi vào tình cảnh tồi tệ như vậy, đơn giản và duy nhất, là vì người ta viết sách để kiếm tiền. Một kẻ đang túng thiếu ngồi xuống viết một cuốn sách, và công chúng thì lại đủ ngu ngốc để mua nó. Hệ quả phái sinh của việc này chính là sự suy tàn của ngôn ngữ.

    Rất nhiều tay viết tồi tệ kiếm sống hoàn toàn dựa vào cái chứng cuồng dại ngu ngốc của công chúng khi chỉ khăng khăng đọc những gì vừa mới được in ra, – ý tôi là những nhà báo. Quả thực, một cái tên thật thích đáng. Nói một cách trần trụi thì đó là những kẻ làm thuê, những người làm công nhật!

    Lại nữa, có thể nói rằng có ba kiểu tác giả. Đầu tiên là những người viết mà không suy nghĩ. Họ viết từ một trí nhớ đầy ắp, từ những hồi tưởng; và thậm chí có thể lấy thẳng từ sách của người khác. Lớp người này đông đảo nhất. Tiếp đến là những người vừa viết vừa suy nghĩ. Họ nghĩ cốt để mà viết; và nhóm này cũng không hề thiếu. Cuối cùng mới là những tác giả suy nghĩ thấu đáo trước khi bắt đầu viết. Họ là những người hiếm hoi.

    Các tác giả thuộc nhóm thứ hai, những kẻ trì hoãn việc suy nghĩ cho đến lúc bắt tay vào viết, giống như một tay thợ săn đi săn một cách ngẫu hứng và khả năng cao là sẽ chẳng mang được mấy chiến lợi phẩm về nhà. Mặt khác, khi một tác giả thuộc nhóm thứ ba – nhóm hiếm hoi – viết lách, nó giống như một cuộc săn lùa. Ở đó, con mồi đã bị tóm gọn từ trước và bị nhốt trong một không gian rất hẹp; từ đó, chúng được thả ra, từng đàn một, vào một không gian khác cũng bị giới hạn. Con mồi không thể nào trốn thoát khỏi tay thợ săn; anh ta chẳng có việc gì khác ngoài ngắm và bắn – nói cách khác, viết những dòng suy nghĩ của mình xuống. Đây là kiểu đi săn mà một người chắc chắn sẽ có thành quả để phô bày.

    Nhưng ngay cả khi số lượng những người thực sự suy nghĩ nghiêm túc trước khi viết vốn đã ít ỏi, thì số người suy nghĩ về chính bản thân chủ đề đó lại càng cực kỳ hiếm hoi: phần lớn chỉ nghĩ về những cuốn sách đã được viết về chủ đề đó, và những gì người khác đã nói. Để có thể tư duy, những nhà văn như vậy cần một thứ xúc tác trực tiếp và mạnh mẽ hơn, đó là phải có sẵn suy nghĩ của người khác ở ngay trước mắt họ. Những điều này trở thành chủ đề trực tiếp của họ; và kết quả là họ luôn nằm dưới sức ảnh hưởng của chúng, và do đó, không bao giờ có được tính nguyên bản theo đúng nghĩa thực sự của từ này. Ngược lại, nhóm người trước lại được khơi gợi suy tư bởi chính chủ đề, và vì vậy tư duy của họ hướng trực tiếp đến nó. Đây là nhóm duy nhất sản sinh ra những nhà văn có danh tiếng trường tồn.

    Tất nhiên, cần hiểu rõ rằng ở đây tôi đang nói về những nhà văn bàn luận về những chủ đề vĩ đại; chứ không phải những người viết về nghệ thuật chưng cất rượu brandy.

    Trừ khi một tác giả lấy chất liệu để viết từ chính khối óc của mình, tức là, từ chính sự quan sát của bản thân, ông ta không đáng để đọc. Những kẻ “gia công” sách, những nhà biên soạn, những người viết sử tầm thường, và nhiều người khác cùng loại, lấy chất liệu trực tiếp từ các cuốn sách; và chất liệu ấy đi thẳng xuống đầu ngón tay của họ mà không hề phải “trả phí vận chuyển” hay qua khâu kiểm duyệt khi đi xuyên qua đầu họ, chứ đừng nói đến chuyện được gọt giũa hay hiệu đính. Sẽ uyên bác biết bao nếu nhiều người biết được tất thảy những gì nằm trong chính những cuốn sách của họ! Hệ quả của việc này là những nhà văn đó ăn nói một cách lỏng lẻo và mơ hồ đến mức, độc giả có vắt óc suy nghĩ cũng hoài công trong việc hiểu xem thực sự họ đang nghĩ gì. Bởi họ chẳng nghĩ gì cả. Đôi khi có thể xảy ra trường hợp cuốn sách mà họ sao chép cũng được tạo ra theo đúng cách như vậy: thế nên thứ văn chương kiểu này chẳng khác nào một khuôn thạch cao đúc lại từ một khuôn đúc khác; và cuối cùng, đường nét trơ trọi của khuôn mặt, mà cũng khó lòng nhận ra nổi, là tất cả những gì còn sót lại cho bức tượng Antinous của bạn. Hãy đọc các tác phẩm biên soạn càng hiếm hoi càng tốt. Thật khó để tránh chúng hoàn toàn; bởi lẽ các tài liệu biên soạn cũng bao gồm cả những cuốn sách giáo khoa chứa đựng khối kiến thức tích lũy của nhiều thế kỷ trong một không gian nhỏ gọn.

    Không có sai lầm nào lớn hơn việc cho rằng tác phẩm ra đời sau cùng luôn luôn chính xác hơn; rằng những gì được viết sau, trong mọi trường hợp, đều là sự cải tiến so với những gì được viết trước đó; và rằng sự thay đổi luôn đồng nghĩa với tiến bộ. Những nhà tư tưởng đích thực, những người có óc phán đoán chuẩn xác, những người chân thành nghiêm túc với chủ đề của mình, tất cả những người này chỉ là những ngoại lệ. Bọn ăn bám mới là quy luật ở khắp mọi nơi trên thế giới: chúng luôn rình rập, chộp lấy những ý kiến chín muồi của các nhà tư tưởng, và cần mẫn tìm cách “cải thiện” chúng (lạy Chúa tôi!) theo cái cách kỳ quặc của riêng chúng.

    Nếu độc giả muốn nghiên cứu bất kỳ chủ đề nào, hãy thận trọng đừng vội vàng lao vào những cuốn sách mới nhất về nó, và giới hạn sự chú ý của mình chỉ vào chúng, dưới ý niệm rằng khoa học luôn tiến bộ, và rằng những cuốn sách cũ đã được tham khảo để viết nên những cuốn sách mới. Quả thực là chúng đã được tham khảo; nhưng theo cách nào? Tác giả của cuốn sách mới thường không hiểu thấu đáo những cuốn sách cũ, nhưng ông ta lại không sẵn lòng trích dẫn chính xác ngôn từ của họ; vậy nên ông ta làm hỏng chúng, và diễn đạt theo lối tệ hại của riêng mình những điều vốn đã được nói hay hơn và rõ ràng hơn rất nhiều bởi những bậc tiền nhân, những người đã viết từ vốn kiến thức sống động của chính họ về chủ đề đó. Tác giả mới thường xuyên bỏ sót những điều tinh túy nhất mà người trước đã nói, những ví dụ minh họa sắc sảo nhất của họ, những lời bình luận đắc địa nhất của họ; bởi vì ông ta không thấy được giá trị của chúng hay cảm nhận được chúng súc tích đến nhường nào. Thứ duy nhất hấp dẫn ông ta là những gì nông cạn và vô vị.

    Thường có chuyện một cuốn sách cũ xuất sắc bị hất cẳng bởi những cuốn sách mới tồi tệ, những tác phẩm được viết vì tiền, xuất hiện với vẻ ngoài vô cùng tự phụ và được bạn bè tâng bốc tung hô hết lời. Trong khoa học, một người cố gắng ghi dấu ấn bằng cách đưa ra một điều gì đó mới mẻ. Điều này thường chẳng có ý nghĩa gì hơn ngoài việc ông ta tấn công một học thuyết đã được công nhận vốn hoàn toàn chính xác, cốt để dọn đường cho những quan điểm sai lầm của chính mình. Đôi khi nỗ lực ấy thành công trong một khoảng thời gian; và sau đó người ta lại trở về với học thuyết cũ và đúng đắn. Những nhà cách tân này chẳng nghiêm túc với bất cứ điều gì ngoài cái bản ngã quý giá của chính họ: đó là thứ mà họ muốn đưa lên bệ phóng, và cách nhanh nhất để làm điều đó, theo tư duy của họ, là khởi xướng một nghịch lý. Những cái đầu cằn cỗi của họ vươn tới con đường phủ định một cách tự nhiên; vì vậy họ bắt đầu chối bỏ những chân lý đã được thừa nhận từ lâu – chẳng hạn như sinh lực, hệ thần kinh giao cảm, quá trình tự sinh (generatio equivoca), sự phân định của Bichat giữa hoạt động của đam mê và hoạt động của trí tuệ; hoặc không thì họ muốn chúng ta quay trở lại với thuyết nguyên tử thô thiển, và những thứ đại loại như vậy. Vì thế, điều thường xuyên xảy ra là tiến trình của khoa học lại đang đi lùi.

    Thuộc về lớp nhà văn này còn có những dịch giả không chỉ dịch tác giả của mình mà còn sửa chữa và hiệu đính ông ta; một việc làm mà đối với tôi luôn có vẻ xấc xược. Đối với những người như vậy, tôi nói: Tự anh hãy viết ra những cuốn sách đáng để dịch, và để yên cho tác phẩm của người khác như vốn có của chúng!

    Độc giả nên nghiên cứu, nếu có thể, những tác giả đích thực, những người đã kiến tạo và khám phá ra các sự vật; hoặc ít nhất là những người được công nhận là các bậc thầy vĩ đại trong mỗi nhánh tri thức. Hãy mua sách cũ còn hơn là đọc nội dung của chúng qua những cuốn sách mới. Rõ ràng, rất dễ để thêm thắt vào một khám phá mới – inventis aliquid addere facile est; và do đó, người học, sau khi đã nắm vững những nền tảng của chủ đề, sẽ phải tự làm quen với những bổ sung mới hơn cho hệ tri thức đó. Và, nhìn chung, quy tắc sau đây có thể được áp dụng ở đây cũng như ở bất kỳ đâu: nếu một thứ là mới, thì nó hiếm khi tốt; bởi vì nếu nó tốt, thì nó chỉ mới trong một khoảng thời gian ngắn mà thôi.

    Giống như địa chỉ đối với một bức thư, tiêu đề cũng có ý nghĩa tương tự đối với một cuốn sách; nói cách khác, mục tiêu chính của nó là đưa cuốn sách đến với những độc giả trong công chúng có sự quan tâm đến nội dung của nó. Do đó, nó phải mang tính biểu đạt; và vì bản chất của nó phải ngắn gọn, nó cần súc tích, khúc chiết, cô đọng, và nếu có thể, truyền tải được nội dung chỉ bằng một từ. Một tiêu đề rườm rà là tồi; và tương tự là một tiêu đề trống rỗng, hay tối nghĩa và mơ hồ, hoặc thậm chí có thể là sai lệch và gây hiểu nhầm; trường hợp cuối cùng này có thể khiến cuốn sách chịu chung số phận với một bức thư ghi sai địa chỉ. Những tiêu đề tệ hại nhất là những tiêu đề bị ăn cắp, ý tôi là những tiêu đề đã được các cuốn sách khác sử dụng; bởi vì trước hết chúng là sự đạo văn, và thứ hai là minh chứng thuyết phục nhất cho sự vắng bóng hoàn toàn tính nguyên bản ở tác giả. Một người không có đủ sự sáng tạo để nghĩ ra một tiêu đề mới cho cuốn sách của mình, sẽ lại càng không có khả năng mang đến cho nó những nội dung mới mẻ. Tương tự với những tiêu đề ăn cắp này là những tiêu đề sao phỏng, tức là, ăn cắp đến một nửa; ví dụ, rất lâu sau khi tôi xuất bản luận văn Về Ý chí trong Tự nhiên (On Will in Nature), Oersted đã viết một cuốn sách có tựa đề Về Tâm trí trong Tự nhiên (On Mind in Nature).

    Một cuốn sách không bao giờ có thể là gì hơn ngoài dấu ấn những suy nghĩ của tác giả; và giá trị của những suy nghĩ này sẽ nằm ở chất liệu mà ông ta đã nghĩ tới, hoặc ở hình thức mà những suy nghĩ của ông ta thể hiện, nói cách khác, chính những gì ông ta đã tư duy về chất liệu đó.

    Chất liệu của các cuốn sách là vô cùng đa dạng; và cũng đa dạng không kém là những nét xuất sắc gắn liền với các cuốn sách dựa trên khía cạnh chất liệu của chúng. Bằng từ “chất liệu”, ý tôi muốn nói đến tất thảy những gì nằm trong phạm vi của những trải nghiệm thực tế; nghĩa là, các dữ kiện lịch sử và các sự kiện tự nhiên, được xem xét tự thân chúng và theo nghĩa rộng nhất của chúng. Ở đây, chính sự vật được bàn luận mang lại đặc tính riêng biệt cho cuốn sách; vì vậy mà một cuốn sách có thể trở nên quan trọng, bất kể ai là người đã viết ra nó.

    Nhưng xét về hình thức, đặc tính riêng biệt của một cuốn sách phụ thuộc vào con người đã viết ra nó. Nó có thể bàn về những vấn đề mà ai cũng có thể tiếp cận và đã rất quen thuộc; nhưng chính cách thức chúng được xử lý, những gì được người ta tư duy về chúng, mới tạo nên giá trị của cuốn sách; và điều này xuất phát từ chính tác giả. Do đó, nếu từ góc độ này mà một cuốn sách là xuất sắc và vô song, thì tác giả của nó cũng vậy. Hệ quả là nếu một nhà văn đáng để đọc, giá trị của ông ta tăng lên đúng theo tỷ lệ với việc ông ta ít vay mượn từ chất liệu của mình đến đâu; vì thế, chủ đề càng quen thuộc và càng bị nhai đi nhai lại bao nhiêu, thì nhà văn sẽ càng vĩ đại bấy nhiêu. Ba nhà soạn bi kịch vĩ đại của Hy Lạp, chẳng hạn, đều sáng tác trên cùng một chất liệu chủ đề.

    Vậy nên khi một cuốn sách được ca tụng, cần phải lưu tâm xem liệu điều đó là do chất liệu hay hình thức của nó; và cần phải có sự phân biệt tương ứng.

    Những cuốn sách có tầm quan trọng lớn lao nhờ chất liệu của chúng có thể xuất phát từ những người hết sức tầm thường và nông cạn, bởi thực tế là chỉ riêng họ có cơ hội tiếp cận chất liệu này; ví dụ, những cuốn sách mô tả các chuyến du hành đến những vùng đất xa xôi, các hiện tượng tự nhiên hiếm gặp, hay các cuộc thí nghiệm; hoặc những biến cố lịch sử mà các tác giả là nhân chứng, hoặc những thứ mà họ đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu và khảo sát chuyên sâu từ các tài liệu gốc.

    Mặt khác, nơi chất liệu là thứ ai cũng tiếp cận được hoặc đã rất quen thuộc, thì mọi thứ sẽ phụ thuộc vào hình thức; và chính những suy tư về chất liệu ấy sẽ mang lại cho cuốn sách mọi giá trị mà nó sở hữu. Ở đây, chỉ một người thực sự xuất chúng mới có thể tạo ra được bất cứ thứ gì đáng đọc; bởi những kẻ khác sẽ chẳng nghĩ ra điều gì ngoài những điều mà bất kỳ ai khác cũng có thể nghĩ. Họ sẽ chỉ tạo ra một bản in tâm trí của chính mình; nhưng đây lại là một bản in mà ai cũng đang sở hữu bản gốc.

    Tuy nhiên, công chúng lại quan tâm nhiều hơn đến việc thu nhận chất liệu thay vì hình thức; và chính vì lý do này mà họ khiếm khuyết đi bất cứ mức độ văn hóa cao cấp nào. Công chúng thể hiện sự ưu ái của mình về mặt này theo cách nực cười nhất khi tiếp cận với thi ca; bởi ở đó họ cất bao công sức chỉ để lần theo những sự kiện thực tế hay những hoàn cảnh cá nhân trong cuộc đời thi sĩ, vốn đóng vai trò là cơ duyên cho các tác phẩm của ông; thậm chí, những sự kiện và hoàn cảnh này đến cuối cùng lại trở nên quan trọng hơn cả chính tác phẩm; và thay vì đọc bản thân Goethe, người ta thà đọc những gì người khác viết về ông, và miệt mài nghiên cứu truyền thuyết về Faust hơn là đọc vở kịch mang tên đó. Và khi Bürger tuyên bố rằng “người ta sẽ viết những bài luận hàn lâm xoay quanh câu hỏi, Leonora thực sự là ai”, chúng ta thấy điều này ứng nghiệm theo đúng nghĩa đen trong trường hợp của Goethe; bởi hiện nay chúng ta sở hữu rất nhiều bài luận hàn lâm về Faust và truyền thuyết gắn liền với ông. Việc nghiên cứu kiểu này là, và vẫn luôn là, chỉ dành riêng cho khía cạnh chất liệu của vở kịch mà thôi. Việc ưu ái chất liệu hơn hình thức như thế, chẳng khác nào một người cầm lấy một chiếc bình Etruscan tinh xảo, không phải để chiêm ngưỡng hình dáng hay màu sắc của nó, mà là để tiến hành phân tích hóa học về chất đất sét và lớp sơn làm nên chiếc bình ấy.

    Nỗ lực nhằm tạo ra hiệu ứng thông qua chất liệu được sử dụng—một nỗ lực nhằm a dua theo xu hướng tai hại này của công chúng—là điều đáng lên án nhất trong những nhánh văn học mà mọi giá trị của chúng đều nằm hiển nhiên ở hình thức; ý tôi muốn nói, trong các tác phẩm thi ca/kịch thơ. Dù vậy, không hiếm để thấy những nhà soạn kịch tồi đang cố lấp đầy khán phòng bằng thứ chất liệu mà họ viết. Chẳng hạn, những tác giả loại này không ngần ngại đưa lên sân khấu bất kỳ nhân vật nào có danh tiếng theo bất cứ cách nào, bất kể cuộc đời của anh ta có hoàn toàn vắng bóng những biến cố kịch tính hay không; và đôi khi, thậm chí họ còn chẳng thèm đợi cho đến khi những người có liên hệ trực tiếp với nhân vật ấy qua đời.

    Sự phân định giữa chất liệu và hình thức mà tôi đang đề cập ở đây cũng hoàn toàn đúng trong giao tiếp. Những phẩm chất cốt lõi cho phép một người trò chuyện lôi cuốn là trí thông minh, sự sáng suốt, sự dí dỏm và vẻ hoạt bát: những yếu tố này cung cấp hình thức của cuộc trò chuyện. Nhưng chẳng bao lâu sau, sự chú ý sẽ phải hướng đến nội dung/chất liệu mà anh ta đang nói; nói cách khác, những chủ đề mà người ta có thể đàm đạo với anh ta – chính là vốn tri thức của anh ta. Nếu vốn tri thức này quá ít ỏi, cuộc trò chuyện của anh ta sẽ chẳng có chút giá trị nào, trừ phi anh ta sở hữu những phẩm chất hình thức kể trên ở một mức độ cực kỳ xuất chúng; bởi anh ta sẽ chẳng có gì để nói ngoại trừ những sự thật về đời sống và tự nhiên mà ai ai cũng biết. Tuy nhiên, mọi chuyện sẽ hoàn toàn ngược lại nếu một người thiếu vắng những phẩm chất hình thức này, nhưng lại có một khối lượng tri thức mang lại giá trị cho những gì anh ta nói. Giá trị này khi ấy sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào chất liệu nội dung cuộc trò chuyện của anh ta; bởi vì, như câu tục ngữ Tây Ban Nha đã chỉ rõ, mas sabe el necio en su casa, que el sabio en la agena – kẻ ngốc biết rõ chuyện nhà mình hơn người khôn biết chuyện nhà người khác.


    Bàn về việc tự suy nghĩ

    – Arthur Schopenhauer

    Một thư viện có thể rất khổng lồ; nhưng nếu nó lộn xộn, nó cũng chẳng hữu ích bằng một thư viện nhỏ bé nhưng được sắp xếp khoa học. Tương tự như vậy, một người có thể sở hữu một khối lượng tri thức khổng lồ, nhưng nếu anh ta không nhào nặn nó bằng cách tự mình suy ngẫm, thì giá trị của nó kém xa một lượng kiến thức nhỏ hơn nhiều nhưng đã được anh ta nghiền ngẫm thấu đáo. Bởi chỉ khi một người nhìn nhận tri thức của mình từ mọi góc độ, và kết hợp những điều anh ta biết bằng cách đối chiếu chân lý với chân lý, anh ta mới có được sự nắm bắt hoàn toàn và làm chủ được nó. Một người không thể lật đi lật lại bất cứ điều gì trong tâm trí nếu anh ta không biết nó; do đó, anh ta phải học một điều gì đó; nhưng chỉ khi anh ta đã lật đi lật lại nó thì mới có thể nói là anh ta đã biết nó.

    Đọc và học là những việc mà bất cứ ai cũng có thể làm theo ý chí tự do của mình; nhưng suy nghĩ thì không. Suy nghĩ phải được thổi bùng lên, giống như ngọn lửa nhờ luồng gió lùa; nó phải được duy trì bởi một sự quan tâm nào đó đối với vấn đề đang đối mặt. Sự quan tâm này có thể hoàn toàn mang tính khách quan, hoặc thuần túy chủ quan. Loại sau chỉ phát huy tác dụng trong những vấn đề liên quan đến cá nhân chúng ta. Loại khách quan thì bị giới hạn ở những cái đầu sinh ra để suy nghĩ; đối với họ, việc suy nghĩ tự nhiên như hơi thở; và họ là những người rất hiếm hoi. Đó là lý do tại sao hầu hết những người có học lại thể hiện phẩm chất này ít ỏi đến thế.

    Thật khó tin khi thấy việc tự mình suy nghĩ lại tạo ra một hệ quả khác biệt đến nhường nào lên tâm trí, so với việc đọc. Nó tiếp nối và khuếch đại sự khác biệt nguyên thủy trong bản chất của hai kiểu tâm trí: một loại hướng đến việc suy nghĩ và loại kia hướng đến việc đọc. Điều tôi muốn nói là, việc đọc cưỡng bách những ý nghĩ xa lạ vào tâm trí—những ý nghĩ vốn hoàn toàn xa lạ với dòng chảy và tâm trạng hiện tại của tâm trí, giống như con dấu đóng lên sáp để lại vệt hằn. Do đó, tâm trí hoàn toàn bị áp đặt từ bên ngoài; nó bị lùa đi để nghĩ về điều này hay điều kia, dù cho lúc đó nó có thể không hề có một chút thôi thúc hay hứng thú nào để làm vậy.

    Nhưng khi một người tự mình suy nghĩ, anh ta tuân theo sự thôi thúc của chính tâm trí mình, điều được xác định cho anh ta vào thời điểm đó, hoặc bởi môi trường xung quanh, hoặc bởi một hồi ức cụ thể nào đó. Thế giới hữu hình xung quanh một người không in hằn một ý nghĩ duy nhất và xác định lên tâm trí anh ta như việc đọc sách làm, mà chỉ cung cấp chất liệu và cơ hội dẫn dắt anh ta suy nghĩ những gì phù hợp với bản tính và tâm trạng hiện tại của mình. Chính vì thế, đọc quá nhiều sẽ tước đi mọi sự đàn hồi của tâm trí; giống như việc liên tục giữ một chiếc lò xo dưới áp lực. Cách an toàn nhất để không có bất kỳ ý nghĩ nào của riêng mình là cầm một cuốn sách lên vào mọi khoảnh khắc ta không có việc gì khác để làm. Chính thói quen này giải thích tại sao sự uyên bác lại khiến hầu hết con người trở nên ngu ngốc và ngớ ngẩn hơn so với bản chất tự nhiên của họ, và ngăn cản các tác phẩm của họ đạt được bất kỳ mức độ thành công nào. Họ mãi mãi mang dáng vẻ, như lời của Pope:

    Mãi mãi đọc sách, chẳng bao giờ được ai đọc!

    Những người có học là những kẻ đã thực hiện việc đọc của mình trên các trang sách. Còn những nhà tư tưởng và những bậc thiên tài là những người đi thẳng đến cuốn sách của Tự nhiên; chính họ là những người đã khai sáng thế giới và đưa nhân loại tiến xa hơn trên con đường của mình. Nếu những suy nghĩ của một người muốn có được chân lý và sức sống trong đó, thì rốt cuộc, chúng phải là những suy nghĩ cốt lõi của chính anh ta; bởi đây là những suy nghĩ duy nhất mà anh ta có thể hiểu một cách toàn vẹn và trọn vẹn. Đọc suy nghĩ của người khác giống như ăn đồ thừa của một bữa tiệc mà ta không được mời, hoặc mặc lại bộ quần áo mà một vị khách vô danh nào đó đã cởi ra. Suy nghĩ mà ta đọc so với suy nghĩ nảy mầm trong chính chúng ta, giống như dấu vết hóa thạch của một loài cây tiền sử so với một cái cây đang đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân.

    Đọc sách không là gì khác ngoài một sự thay thế cho việc tự mình suy nghĩ. Nó đồng nghĩa với việc đặt tâm trí vào những sợi dây dắt mũi. Vô số sách vở chỉ phục vụ mục đích cho thấy có biết bao ngã rẽ sai lầm, và một người có thể đi lạc xa đến đâu nếu đi theo bất kỳ ngã rẽ nào trong số đó. Nhưng người được dẫn dắt bởi thiên tài của chính mình, người tự suy nghĩ, người suy nghĩ một cách tự phát và chính xác, sẽ sở hữu chiếc la bàn duy nhất giúp anh ta đi đúng hướng. Một người chỉ nên đọc khi những suy nghĩ của chính anh ta bị đình trệ ngay tại cội nguồn, điều vốn dĩ cũng sẽ xảy ra thường xuyên ngay cả với những bộ óc vĩ đại nhất. Mặt khác, cầm một cuốn sách lên nhằm mục đích xua đuổi những suy nghĩ nguyên bản của chính mình là một tội lỗi chống lại Thánh Linh. Việc đó chẳng khác nào chạy trốn khỏi Tự nhiên để vào xem một bảo tàng toàn những loài cây khô ép lá, hay ngắm nhìn một bức phong cảnh được khắc trên bản đồng.

    Một người có thể đã khám phá ra một phần chân lý hay sự khôn ngoan nào đó, sau khi dành rất nhiều thời gian và công sức để tự mình suy ngẫm và chắp nối hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác; và đôi khi có thể xảy ra trường hợp anh ta đã có thể tìm thấy toàn bộ những điều đó sẵn sàng trong một cuốn sách và đỡ tốn công nhọc sức. Nhưng ngay cả như vậy, điều đó vẫn có giá trị gấp trăm lần nếu anh ta có được nó bằng cách tự mình suy nghĩ. Bởi vì chỉ khi ta đạt được tri thức theo cách này, nó mới đi vào như một phần tích hợp, một thành tố sống động, trong toàn bộ hệ thống tư duy của chúng ta; nó mới đứng trong mối liên hệ hoàn chỉnh và vững chắc với những gì chúng ta đã biết; nó mới được thấu hiểu cùng với mọi nền tảng và hệ quả của nó; nó mới mang màu sắc, sắc độ chính xác, và dấu ấn phân biệt của cách tư duy của riêng ta; nó mới đến đúng lúc, ngay khi ta cảm thấy sự cần thiết của nó; nó mới bám rễ vững chắc và không thể bị lãng quên. Đây là sự ứng dụng hoàn hảo, hay đúng hơn, là sự diễn giải lời khuyên của Goethe về việc hãy tự mình giành lấy tài sản thừa kế để có thể thực sự sở hữu nó:

    Was due ererbt von deinen Välern hast,

    Erwirb es, um es zu besitzen.

    Người tự suy nghĩ hình thành quan điểm của riêng mình, và chỉ tìm hiểu những thế giá (sách vở/học giả) ủng hộ chúng về sau, khi những thế giá ấy chỉ phục vụ mục đích củng cố niềm tin của anh ta vào chúng và vào chính mình. Nhưng triết gia-mọt sách thì bắt đầu từ những thế giá. Anh ta đọc sách của người khác, thu thập quan điểm của họ, và từ đó nhào nặn thành một tổng thể cho riêng mình, thứ giống như một cỗ máy tự động được tạo nên từ bất cứ vật liệu gì ngoại trừ máu thịt. Ngược lại, người tự suy nghĩ tạo ra một tác phẩm giống như một con người sống động do Tự nhiên nhào nặn. Bởi tác phẩm ấy ra đời y hệt như cách một con người ra đời; tâm trí tư duy thụ thai từ bên ngoài, rồi tự nó hình thành và mang nặng đẻ đau đứa con của mình.

    Chân lý chỉ học vẹt mà có giống như một cái chân giả, một chiếc răng giả, một cái mũi sáp; cùng lắm cũng chỉ như một cái mũi được đắp từ thịt của người khác; nó gắn vào ta chỉ vì nó được dán lên. Nhưng chân lý đạt được bằng tư duy của chính mình thì giống như một chi thể tự nhiên; chỉ có nó mới thực sự thuộc về chúng ta. Đây là sự khác biệt nền tảng giữa nhà tư tưởng và kẻ chỉ có học vấn đơn thuần. Thành tựu trí tuệ của một người tự suy nghĩ giống như một bức họa tuyệt đẹp, nơi ánh sáng và bóng tối chuẩn xác, tông màu ổn định, màu sắc hòa quyện hoàn hảo; nó chân thực với cuộc sống. Trái lại, thành tựu trí tuệ của kẻ chỉ có học vấn đơn thuần giống như một bảng pha màu khổng lồ, đầy đủ mọi loại màu sắc, cùng lắm là được sắp xếp một cách có hệ thống, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng sự hài hòa, tính liên kết và ý nghĩa.

    Đọc sách là suy nghĩ bằng cái đầu của người khác thay vì cái đầu của mình. Suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình luôn nhắm đến việc phát triển một tổng thể mạch lạc—một hệ thống, dẫu nó chưa thực sự hoàn chỉnh nghiêm ngặt; và không gì cản trở điều này nhiều bằng một luồng ý nghĩ quá mạnh mẽ từ người khác, như hệ quả của việc đọc sách liên tục. Những ý nghĩ này, mỗi ý nghĩ nảy sinh từ một tâm trí khác nhau, thuộc về các hệ thống khác nhau, và được nhuốm bằng những màu sắc khác nhau, không bao giờ tự thân chúng chảy vào nhau để tạo thành một tổng thể trí tuệ; chúng không bao giờ hình thành một sự thống nhất về tri thức, hay thấu suốt, hay niềm tin; mà thay vào đó, chúng lấp đầy cái đầu bằng một mớ ngôn ngữ hỗn độn kiểu tháp Babel. Tâm trí bị chất quá tải bởi những ý nghĩ xa lạ do đó bị tước đoạt đi mọi sự thấu suốt rõ ràng, và gần như trở nên vô tổ chức. Đây là trạng thái có thể quan sát thấy ở rất nhiều người có học; và điều đó khiến họ thua kém về lẽ phải thông thường, óc phán đoán chuẩn xác và sự nhạy bén thực tế so với nhiều người thất học, những người, sau khi tiếp thu một chút tri thức từ bên ngoài thông qua kinh nghiệm, giao tiếp với người khác, và đọc một lượng ít ỏi, đã luôn biết cách đặt nó dưới sự phục tùng và hòa nhập nó vào tư duy của chính mình.

    Nhà tư tưởng khoa học đích thực cũng làm điều tương tự như những người thất học này, nhưng ở một quy mô lớn hơn. Dù anh ta cần nhiều tri thức, và vì thế phải đọc rất nhiều, tâm trí anh ta vẫn đủ mạnh mẽ để làm chủ tất thảy, đồng hóa và hợp nhất nó vào hệ thống tư duy của mình, và do đó khiến nó ăn khớp với tính thống nhất hữu cơ trong sự thấu suốt của anh ta, thứ mà dù rộng lớn, vẫn luôn không ngừng trưởng thành. Và trong quá trình đó, tư duy của chính anh ta, giống như âm trầm trong một cây đại phong cầm, luôn thống trị mọi thứ và không bao giờ bị chìm lấp bởi những âm sắc khác, như những gì xảy ra với các tâm trí chỉ chứa đầy những mớ kiến thức đồ cổ đơn thuần; nơi những mảnh vụn âm nhạc, có thể nói như vậy, ở mọi cung bậc, hòa lẫn lộn xộn vào nhau, và chẳng thể nghe thấy một nốt nhạc chủ đạo nào.

    Những kẻ dành cả đời để đọc, và rút ra sự khôn ngoan từ sách vở, giống như những người có được thông tin chính xác về một đất nước qua những lời miêu tả của vô số lữ khách. Những người như vậy có thể kể lể rất nhiều về nó; nhưng, rốt cuộc, họ chẳng có một sự hiểu biết liền mạch, rõ ràng và sâu sắc nào về tình trạng thực sự của đất nước ấy. Ngược lại, những ai dành cả đời để suy nghĩ, lại giống như chính những vị lữ khách đó; chỉ có họ mới thực sự biết mình đang nói về điều gì; họ quen thuộc với tình trạng thực tế của vấn đề, và hoàn toàn am hiểu chủ đề đó như ở ngay trong nhà mình.

    Mối quan hệ giữa nhà tư tưởng và những triết gia-mọt sách thông thường cũng hệt như mối quan hệ giữa một nhân chứng mắt thấy tai nghe và một nhà sử học; anh ta nói từ chính sự hiểu biết trực tiếp của mình. Đó là lý do tại sao tất cả những ai tự mình suy nghĩ đều đi đến cùng một kết luận cốt lõi. Những khác biệt họ đưa ra là do lăng kính góc nhìn khác nhau; và khi những điều này không ảnh hưởng đến bản chất vấn đề, họ đều nói giống nhau. Họ chỉ đơn thuần diễn đạt kết quả của sự nhận thức khách quan của chính họ về vạn vật. Có rất nhiều đoạn trong tác phẩm của tôi mà tôi chỉ đưa ra công chúng sau đôi chút ngần ngại, vì tính chất nghịch lý của chúng; và sau này tôi đã trải qua một sự ngạc nhiên thú vị khi tìm thấy cùng một quan điểm như thế được ghi lại trong tác phẩm của những vĩ nhân đã sống từ thời xa xưa.

    Triết gia-mọt sách chỉ đơn thuần báo cáo lại người này đã nói gì và người kia có ý gì, hoặc những lời phản bác do người thứ ba đưa ra, v.v… Anh ta so sánh các quan điểm khác nhau, cân nhắc, chỉ trích, và cố gắng chạm đến chân lý của vấn đề; ở điểm này anh ta ngang hàng với một nhà sử học phê phán. Ví dụ, anh ta sẽ bắt tay vào việc điều tra xem liệu Leibnitz có từng là một môn đệ của Spinoza trong một thời gian hay không, và những câu hỏi có tính chất tương tự. Một sinh viên tò mò về những vấn đề như vậy có thể tìm thấy những ví dụ nổi bật cho điều tôi muốn nói trong cuốn Làm rõ mang tính phân tích về Đạo đức và Quyền Tự nhiên (Analytical Elucidation of Morality and Natural Right) của Herbart, và trong cuốn Những bức thư về Tự do (Letters on Freedom) cũng của chính tác giả này. Có thể ta sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi một người như thế lại phải tự rước lấy bao phiền toái nhường ấy; bởi vì, nhìn ở bề ngoài, nếu anh ta chỉ việc tự mình khảo sát vấn đề, anh ta sẽ nhanh chóng đạt được mục đích của mình bằng cách vận dụng một chút suy tư. Nhưng có một rào cản nhỏ ngáng đường. Điều đó không phụ thuộc vào ý chí của riêng anh ta. Một người lúc nào cũng có thể ngồi xuống và đọc, nhưng không thể ngồi xuống và—nghĩ. Ý nghĩ cũng giống như con người; không phải lúc nào ta cũng có thể triệu hồi chúng theo ý muốn; ta phải đợi chúng đến. Suy nghĩ về một vấn đề phải tự nó xuất hiện, bằng sự kết hợp hài hòa và may mắn giữa kích thích bên ngoài với tâm trạng và sự tập trung của trí óc; và đó chính xác là thứ dường như chẳng bao giờ tìm đến với những người này.

    Chân lý này có thể được minh họa bằng những gì diễn ra trong các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân của chúng ta. Khi cần phải đưa ra một quyết định trong một vấn đề loại đó, ta không thể cứ ngồi xuống vào bất kỳ khoảnh khắc nào rồi cân nhắc các mặt lợi hại của vấn đề và chốt lại quyết định; bởi vì, nếu cố gắng làm vậy, ta thường thấy mình không thể, tại chính khoảnh khắc đó, giữ cho tâm trí tập trung vào chủ đề; nó sẽ lang thang sang những chuyện khác. Đôi khi, chính sự ác cảm với vấn đề đó lại là nguyên nhân. Trong một trường hợp như vậy, ta không nên dùng sức ép, mà hãy chờ đợi cho một trạng thái tâm trí phù hợp tự tìm đến. Nó thường đến một cách bất ngờ và trở đi trở lại nhiều lần; và sự đa dạng trong tâm trạng mà chúng ta dùng để tiếp cận vấn đề ở những thời điểm khác nhau luôn đặt vấn đề đó dưới một lăng kính mới mẻ. Quá trình lâu dài này chính là điều được hiểu qua thuật ngữ một quyết định chín muồi. Vì quá trình đi đến một quyết định phải được dàn trải ra; và trong quá trình đó, nhiều điều bị bỏ sót ở khoảnh khắc này sẽ nảy ra trong tâm trí ta ở khoảnh khắc khác; và sự miễn cưỡng sẽ tan biến khi ta nhận ra, như ta thường thấy khi xem xét kỹ lưỡng hơn, rằng mọi chuyện không quá tồi tệ như ta tưởng.

    Quy luật này áp dụng cho đời sống tri thức cũng giống như các vấn đề thực tiễn. Một người phải chờ đợi thời cơ thích hợp. Ngay cả bộ óc vĩ đại nhất cũng không có khả năng tự suy nghĩ ở mọi thời điểm. Do đó, một bộ óc vĩ đại nên dành thời gian nhàn rỗi để đọc, điều mà như tôi đã nói, là một sự thay thế cho tư duy; nó mang chất liệu đến cho tâm trí bằng cách để người khác làm công việc suy nghĩ thay ta; mặc dù việc đó luôn được thực hiện theo một cách thức không phải của riêng ta. Vì vậy, một người không nên đọc quá nhiều, để tâm trí không bị quen với thứ đồ giả và nhờ đó mà quên đi thứ thật; để nó không hình thành thói quen bước đi trên những lối mòn đã mòn vẹt; hay vì mải mê theo đuổi một dòng tư duy ngoại lai mà trở nên xa lạ với chính mình. Ít nhất là một người không bao giờ nên rút hẳn tầm mắt khỏi thế giới thực tại chỉ vì mục đích đọc sách; vì sự thôi thúc và tâm trạng để khơi gợi những suy nghĩ của riêng ta đến từ thế giới thực tại nhiều hơn hẳn so với từ thế giới sách vở. Cuộc sống thực tế mà một người nhìn thấy trước mắt là đối tượng tự nhiên của tư duy; và với sức mạnh của nó như là yếu tố cơ bản của sự tồn tại, nó có thể dễ dàng hơn bất cứ thứ gì khác trong việc đánh thức và gây ảnh hưởng lên tâm trí tư duy.

    Sau những sự xem xét này, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi một người tự suy nghĩ có thể dễ dàng được phân biệt với một triết gia-mọt sách thông qua chính cách mà anh ta trò chuyện, bằng sự nghiêm túc rõ rệt, và tính nguyên bản, sự trực diện, cùng niềm tin cá nhân được in dấu trên mọi suy nghĩ và cách diễn đạt của anh ta. Mặt khác, triết gia-mọt sách lại để lộ ra rằng mọi thứ anh ta có đều là đồ cũ [second-hand]; rằng những ý tưởng của anh ta giống như đống hàng họ và rác rưởi của một cửa hàng đồ nội thất cũ, được gom nhặt từ khắp mọi nơi. Về mặt tinh thần, anh ta đần độn và vô vị—một bản sao của một bản sao. Văn phong của anh ta được tạo thành từ những sáo ngữ rập khuôn, thậm chí là thô tục, và những thuật ngữ tình cờ đang thịnh hành; ở khía cạnh này, anh ta rất giống với một Tiểu bang nhỏ bé nơi tất cả lượng tiền lưu thông đều là tiền ngoại quốc, vì nó không có đồng tiền riêng của mình.

    Kinh nghiệm đơn thuần, cũng ít ỏi y như việc đọc, không thể thay thế cho tư duy. Nó đứng trong cùng một mối quan hệ với tư duy giống như việc ăn uống đối với quá trình tiêu hóa và đồng hóa. Khi kinh nghiệm khoác lác rằng chỉ nhờ vào những khám phá của nó mà nhân loại mới tiến bộ, thì điều đó chẳng khác nào cái miệng lớn tiếng tự nhận toàn bộ công lao trong việc duy trì một cơ thể khỏe mạnh.

    Tác phẩm của tất cả những bộ óc thực sự xuất chúng được phân biệt bởi một nét tính cách của sự quyết đoántính dứt khoát, nghĩa là chúng rõ ràng và không hề có sự tối tăm. Một bộ óc thực sự xuất chúng luôn biết chắc chắn và rõ ràng điều mà nó muốn diễn đạt, bất kể phương tiện là văn xuôi, thơ ca hay âm nhạc. Những bộ óc khác không có sự quyết đoán và dứt khoát; và nhờ đó người ta có thể nhận ra chân tướng của chúng.

    Dấu hiệu đặc trưng của một bộ óc bậc nhất là nó luôn phán xét ở ngôi thứ nhất. Mọi điều nó đưa ra đều là kết quả của việc tự tư duy; và điều này hiển hiện rõ ràng ở mọi nơi qua cách nó thốt lên những suy nghĩ của mình. Một bộ óc như vậy giống như một Vị Quân Vương. Trong vương quốc trí tuệ, thẩm quyền của nó là thẩm quyền đế vương, trong khi thẩm quyền của những bộ óc bậc thấp hơn chỉ là thẩm quyền được ủy nhiệm; như có thể thấy trong văn phong của họ, thứ không có một dấu ấn độc lập nào của riêng mình.

    Mọi người thực sự tự suy nghĩ do đó đều giống như một vị quân vương. Vị thế của anh ta không do ai ủy quyền và là vị thế tối cao. Các phán quyết của anh ta, giống như các sắc lệnh hoàng gia, bắt nguồn từ chính quyền lực tối cao của anh ta và tiến thẳng từ chính bản thân anh ta. Anh ta ít thừa nhận thế giá (authority) cũng như một vị quân vương không chấp nhận một mệnh lệnh nào; anh ta không phục tùng bất cứ điều gì ngoại trừ những gì chính anh ta đã ban quyền. Đám đông những bộ óc tầm thường, chật vật dưới đủ mọi loại dư luận, thế giá, thành kiến hiện hành, thì giống như thần dân, ngoan ngoãn tuân theo luật pháp và nhận lệnh từ cấp trên.

    Những kẻ quá hăng hái và háo hức muốn giải quyết các câu hỏi tranh luận bằng cách trích dẫn các thế giá, thực chất là đang vui mừng khi họ có thể đưa sự hiểu biết và thấu suốt của người khác ra trận mạc để thay cho sự hiểu biết của chính họ, thứ vốn dĩ đang khuyết thiếu. Số lượng của họ nhiều vô kể. Bởi vì, như Seneca đã nói, không ai lại không thích tin tưởng hơn là phải rèn luyện khả năng phán đoán—unusquisque mavult credere quam judicare. Trong các cuộc tranh luận của mình, những người như vậy sử dụng vũ khí thế giá một cách lộn xộn, và lấy đó làm đòn giáng vào nhau. Nếu có ai tình cờ bị cuốn vào một cuộc thi thố như vậy, anh ta nên biết điều mà đừng sử dụng lý trí và lập luận như một phương thức phòng thủ; vì đối mặt với một loại vũ khí như thế, những người này giống như những gã Siegfried (nhân vật thần thoại Đức mình đồng da sắt), với lớp da sừng, và được ngâm mình trong dòng lũ của sự bất lực trong việc tư duy và phán xét. Họ sẽ đáp trả cuộc tấn công của anh ta bằng cách mang các thế giá của họ ra như một cách làm anh ta bẽ mặt—argumentum ad verecundiam, và rồi gào lên rằng họ đã thắng trận.

    Trong thế giới thực, dẫu nó có công bằng, thuận lợi và dễ chịu đến đâu, chúng ta luôn phải sống phục tùng định luật trọng trường mà ta phải không ngừng vượt qua. Nhưng trong thế giới tri thức, chúng ta là những linh hồn thoát xác, không bị xiềng xích bởi bất kỳ định luật nào như vậy, và thoát khỏi cảnh bần cùng và đau khổ. Vì vậy, trên cõi đời này không có niềm hạnh phúc nào giống như niềm hạnh phúc mà, vào thời khắc thuận lợi, một bộ óc tinh tế và phong phú tìm thấy trong chính nó.

    Sự hiện diện của một ý nghĩ giống như sự hiện diện của một người phụ nữ ta yêu. Ta ảo tưởng rằng ta sẽ không bao giờ quên đi ý nghĩ đó hay trở nên dửng dưng với người yêu dấu. Nhưng xa mặt thì cách lòng! Ý nghĩ tuyệt diệu nhất có nguy cơ bị lãng quên vĩnh viễn nếu ta không viết nó xuống, và người yêu dấu có nguy cơ bị bỏ rơi nếu ta không cưới nàng.

    Có rất nhiều ý nghĩ có giá trị đối với chính người đã nghĩ ra chúng; nhưng chỉ một vài trong số đó có đủ sức mạnh để tạo ra hành động dội lại hoặc phản xạ—ý tôi là, để giành được sự đồng cảm của độc giả sau khi chúng được đưa lên trang giấy.

    Nhưng dù vậy, không được quên rằng một giá trị đích thực chỉ gắn liền với những gì một người đã nghĩ ra ngay từ đầu cho chính bản thân anh ta. Các nhà tư tưởng có thể được phân loại tùy theo việc họ suy nghĩ chủ yếu cho bản thân họ hay cho người khác. Những người thuộc nhóm thứ nhất là những nhà tư tưởng độc lập chân chính; họ thực sự suy nghĩ và thực sự độc lập; họ là những triết gia đích thực; chỉ có họ mới thực sự nghiêm túc. Niềm vui và hạnh phúc trong sự tồn tại của họ bao gồm việc suy nghĩ. Nhóm còn lại là những ngụy biện gia; họ muốn tỏ ra là những gì họ không phải, và tìm kiếm hạnh phúc trong những gì họ hy vọng sẽ nhận được từ thế giới. Họ chẳng nghiêm túc về bất cứ điều gì khác. Một người thuộc về nhóm nào có thể được nhìn thấy qua toàn bộ văn phong và cung cách của anh ta. Lichtenberg là một ví dụ cho nhóm thứ nhất; còn Herder, không còn nghi ngờ gì nữa, thuộc về nhóm thứ hai.

    Khi một người xem xét việc vấn đề về sự tồn tại lớn lao và gần gũi với chúng ta đến nhường nào—sự tồn tại đầy mơ hồ, đớn đau, phù du, tựa như giấc mộng này của chúng ta—lớn lao và gần gũi đến mức một khi một người phát hiện ra nó, nó sẽ lập tức che bóng và làm lu mờ mọi vấn đề và mục tiêu khác; và khi một người thấy tất cả mọi người, chỉ trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, đều không có ý thức rõ ràng về vấn đề này, hay nói đúng hơn, dường như hoàn toàn không nhận ra sự hiện diện của nó, mà lại bận rộn với mọi thứ khác ngoài điều này, và cứ sống tiếp, không mảy may suy nghĩ gì ngoài những ngày đang trôi qua và cái nhịp tương lai cá nhân chẳng dài hơn là bao của chính họ, hoặc là dứt khoát gạt bỏ vấn đề sang một bên, hoặc là quá dễ dãi thỏa hiệp với nó bằng cách chấp nhận một hệ thống siêu hình học bình dân nào đó và để nó làm họ thỏa mãn; khi, tôi nói, một người khắc cốt ghi tâm tất cả những điều này, anh ta có thể đi đến nhận định rằng con người chỉ có thể được gọi là một sinh vật tư duy theo một nghĩa rất xa xôi, và từ đó trở đi sẽ không cảm thấy đặc biệt ngạc nhiên trước bất kỳ đặc điểm nào của sự vô tâm hay sự ngu xuẩn của con người; mà thay vào đó, hiểu rằng, tầm nhìn trí tuệ của một người bình thường quả thực có vượt xa tầm nhìn của một con thú (kẻ mà toàn bộ sự tồn tại của nó, có thể nói, là một hiện tại liên tục, không có ý thức về quá khứ hay tương lai), nhưng khoảng cách đó không hề xa vời vợi như người ta vẫn thường lầm tưởng.

    Điều này, trên thực tế, được chứng thực qua cách mà hầu hết mọi người giao tiếp; nơi những suy nghĩ của họ được nhận thấy là bị băm nhỏ nát vụn, như vỏ trấu, đến mức họ không thể kéo dài một cuộc đàm luận về bất cứ độ dài nào.

    Nếu thế giới này được lấp đầy bởi những sinh vật thực sự biết tư duy, thì không thể nào đủ mọi loại tiếng ồn lại được cho phép hoạt động với những giới hạn rộng rãi như thế, như trường hợp của dạng tiếng ồn kinh khủng nhất và đồng thời cũng vô mục đích nhất này. Nếu Tự nhiên có ý định để con người tư duy, bà đã không ban cho họ đôi tai; hoặc, ít nhất, bà cũng đã trang bị cho chúng những cái nắp đậy kín hơi, giống như vật sở hữu đáng ghen tị của loài dơi. Nhưng, thực ra, con người cũng chỉ là một loài động vật tội nghiệp như bao loài khác, và sức mạnh của họ chỉ nhằm duy trì họ trong cuộc đấu tranh sinh tồn; do đó, họ cần phải luôn mở to đôi tai, để chúng tự động báo động, bất kể ngày đêm, khi kẻ săn mồi đang đến gần.

    Trong kịch nghệ, vốn là sự phản chiếu hoàn hảo nhất của sự tồn tại con người, có ba giai đoạn trong việc trình bày chủ đề, với sự đa dạng tương ứng trong thiết kế và phạm vi của tác phẩm.

    Ở giai đoạn đầu tiên, cũng là giai đoạn phổ biến nhất, vở kịch không bao giờ là cái gì hơn ngoài sự thú vị. Các nhân vật thu hút sự chú ý của ta bằng cách theo đuổi các mục tiêu của riêng họ, những mục tiêu giống với chúng ta; hành động tiến triển thông qua mưu mô và sự diễn xuất của tính cách cũng như sự cố; trong khi đó sự hóm hỉnh và sự chế giễu làm gia vị cho toàn bộ tác phẩm.

    Ở giai đoạn thứ hai, vở kịch trở nên đa cảm. Sự cảm thông được khơi dậy với người anh hùng và, một cách gián tiếp, với chính chúng ta. Hành động chuyển sang một bước ngoặt cảm động; nhưng kết cục thì yên bình và thỏa đáng.

    Đỉnh điểm đạt được ở giai đoạn thứ ba, cũng là giai đoạn khó khăn nhất. Ở đó, vở kịch nhắm đến tính bi kịch. Chúng ta bị đưa ra đối mặt với những đau khổ lớn lao và những giông tố, căng thẳng của sự tồn tại; và kết quả của nó là để phơi bày sự phù phiếm của mọi nỗ lực con người. Bị xúc động sâu sắc, chúng ta hoặc là được thúc giục trực tiếp rút lui ý chí của mình khỏi cuộc đấu tranh của cuộc sống, hoặc là một hợp âm nào đó trong ta bị rung lên để vang vọng một cảm giác tương tự.

    Người ta nói, vạn sự khởi đầu nan. Trong kịch nghệ thì điều ngược lại mới đúng; đối với chúng, cái khó luôn nằm ở phần kết. Điều này được chứng minh bởi vô số vở kịch hứa hẹn rất tốt ở một hoặc hai hồi đầu, và sau đó trở nên lộn xộn, mắc kẹt hoặc lảo đảo—nổi tiếng là ở hồi thứ tư—và cuối cùng kết thúc theo một cách gượng ép, hoặc không thỏa đáng, hoặc đã được mọi người đoán trước từ lâu. Đôi khi, phần kết lại thực sự gây phẫn nộ, như trong vở Emilia Galotti của Lessing, thứ đã tống khán giả về nhà trong sự bực tức.

    Khó khăn này đối với phần kết của một vở kịch nảy sinh một phần là vì ở đâu cũng vậy, làm rối tung mọi thứ thì dễ hơn nhiều so với việc gỡ rối chúng ra; một phần cũng vì lúc đầu chúng ta cho tác giả carte blanche [toàn quyền] để làm bất cứ điều gì anh ta thích, nhưng, vào phút cuối, chúng ta lại đặt ra những đòi hỏi nhất định và rõ ràng đối với anh ta. Do đó, chúng ta yêu cầu một kết cục phải hoàn toàn hạnh phúc hoặc phải hoàn toàn bi kịch; trong khi những chuyện của con người lại không dễ dàng rẽ sang một bước ngoặt rõ ràng như thế; và rồi chúng ta mong đợi rằng nó phải tự nhiên, phù hợp và đúng đắn, không chút gượng ép, và đồng thời không ai đoán trước được.

    Những nhận xét này cũng có thể áp dụng cho sử thi và tiểu thuyết; nhưng bản chất cô đọng hơn của kịch nghệ khiến khó khăn này trở nên rõ ràng hơn bằng cách nhân nó lên.

    E nihilo nihil fit. Rằng không có gì có thể sinh ra từ hư vô là một phương châm đúng trong mỹ thuật cũng như ở những nơi khác. Trong việc sáng tác một bức tranh lịch sử, một họa sĩ giỏi sẽ dùng những người sống làm người mẫu, và lấy cấu trúc cơ bản của khuôn mặt từ đời thực; và sau đó tiến hành lý tưởng hóa chúng về mặt vẻ đẹp hay biểu cảm. Một phương pháp tương tự, tôi tưởng tượng, được các tiểu thuyết gia giỏi áp dụng. Khi phác họa một nhân vật, họ lấy những nét phác thảo chung của nó từ một người thực nào đó mà họ quen biết, và sau đó lý tưởng hóa và hoàn thiện nó cho phù hợp với mục đích của mình.

    Một cuốn tiểu thuyết sẽ thuộc về một đẳng cấp cao và cao quý hơn, nếu nó càng thể hiện nhiều đời sống bên trong, và càng ít thể hiện đời sống bên ngoài; và tỷ lệ giữa hai yếu tố này sẽ cung cấp một phương tiện để phán xét bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào, dù thuộc thể loại nào, từ cuốn Tristram Shandy cho đến câu chuyện thô sơ và giật gân nhất về hiệp sĩ hay tên cướp. Tristram Shandy, quả thực, gần như không có cốt truyện/hành động nào; và trong La Nouvelle HeloïseWilhelm Meister cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Thậm chí Don Quixote cũng có tương đối ít; và những gì có ở đó, lại rất không quan trọng, và được đưa vào chỉ vì mục đích gây cười. Và bốn tác phẩm này là những cuốn tiểu thuyết hay nhất trong tất cả các tiểu thuyết hiện có.

    Hơn nữa, hãy xem xét những câu chuyện lãng mạn tuyệt vời của Jean Paul, và xem biết bao nhiêu đời sống nội tâm được phô diễn trên một cái nền hẹp nhất của các sự kiện thực tế. Ngay cả trong các cuốn tiểu thuyết của Walter Scott cũng có một sự áp đảo lớn của đời sống nội tâm so với bên ngoài, và các sự cố không bao giờ được đưa vào ngoại trừ mục đích tạo không gian cho suy nghĩ và cảm xúc phát huy; trong khi đó, ở những cuốn tiểu thuyết tồi, sự cố lại hiện diện vì lợi ích của chính nó. Kỹ năng nằm ở việc làm cho đời sống nội tâm chuyển động với một mảng tình tiết nhỏ nhất có thể; vì chính đời sống nội tâm này mới là thứ thực sự kích thích sự hứng thú của chúng ta.

    Nhiệm vụ của tiểu thuyết gia không phải là kể những sự kiện lớn lao, mà là làm cho những sự kiện nhỏ bé trở nên thú vị.

    Lịch sử, môn mà tôi thích nghĩ đến như là sự đối lập với thi ca [tiếng Hy Lạp: istoroumenon—pepoiaemenon (những gì được kể lại—những gì được sáng tạo ra)], đối với thời gian cũng giống như địa lý đối với không gian; và nó cũng chẳng đáng được gọi là một môn khoa học, theo bất kỳ nghĩa nghiêm ngặt nào của từ này, hơn gì môn địa lý, bởi vì nó không giải quyết những chân lý phổ quát, mà chỉ giải quyết những chi tiết cụ thể. Lịch sử luôn là môn học yêu thích của những ai muốn học một cái gì đó, mà không phải đối mặt với nỗ lực đòi hỏi bởi bất kỳ nhánh tri thức thực sự nào, thứ gây áp lực lên trí thông minh. Vào thời đại chúng ta, lịch sử là một sự theo đuổi được yêu thích; minh chứng là vô số cuốn sách về chủ đề này xuất hiện mỗi năm.

    Nếu độc giả không thể không nghĩ giống như tôi, rằng lịch sử chỉ là sự lặp lại liên tục của những điều tương tự, giống như trong một kính vạn hoa nơi cùng những mảnh kính vỡ được đại diện, nhưng trong những tổ hợp khác nhau, anh ta sẽ không thể chia sẻ tất cả sự hứng thú sống động này; tuy nhiên, anh ta cũng sẽ không chỉ trích nó. Nhưng có một đòi hỏi lố bịch và vô lý, do nhiều người đưa ra, là coi lịch sử như một phần của triết học, hay nói đúng hơn, như chính triết học; họ ảo tưởng rằng lịch sử có thể chiếm lấy vị trí của nó.

    Sự ưu ái dành cho lịch sử của đông đảo công chúng trong mọi thời đại có thể được minh họa qua kiểu trò chuyện rất thịnh hành ở khắp mọi nơi trong xã hội. Nó thường bao gồm việc một người kể lể một điều gì đó và sau đó một người khác lại kể lể một điều gì khác; nhờ vậy theo cách này, mọi người đều chắc chắn nhận được sự chú ý. Cả ở đây và trong trường hợp của lịch sử, rõ ràng là tâm trí bị chiếm đóng bởi những chi tiết cụ thể. Nhưng cũng giống như trong khoa học, trong bất kỳ cuộc trò chuyện xứng đáng nào, tâm trí vươn lên đến việc xem xét một chân lý chung nào đó.

    Sự phản đối này, tuy nhiên, không tước đi giá trị của lịch sử. Cuộc đời con người thì ngắn ngủi và thoáng qua, và hàng triệu triệu cá nhân chia sẻ trong đó, những người bị nuốt chửng bởi con quái vật của sự lãng quên đang chực chờ họ với bộ hàm luôn há rộng. Vì vậy, đó là một nhiệm vụ rất đáng biết ơn khi cố gắng giải cứu một điều gì đó—ký ức về những sự kiện thú vị và quan trọng, hoặc những đặc điểm và nhân vật hàng đầu của một thời đại nào đó—khỏi vụ đắm tàu chung của thế giới.

    Từ một góc độ khác, chúng ta có thể coi lịch sử như phần tiếp theo của động vật học; bởi vì trong khi với tất cả các loài động vật khác, chỉ cần quan sát giống loài là đủ, thì với con người, phải nghiên cứu các cá nhân, và do đó phải nghiên cứu các sự kiện cá nhân; bởi vì mỗi con người sở hữu một tính cách như một cá thể. Và vì các cá nhân và các sự kiện là vô số kể hay không có điểm kết, một sự khiếm khuyết thiết yếu luôn gắn liền với lịch sử. Trong việc nghiên cứu nó, tất cả những gì một người học được không bao giờ góp phần làm giảm đi những gì anh ta vẫn còn phải học. Với bất kỳ môn khoa học thực sự nào, một sự hoàn hảo về tri thức, chí ít, là có thể hình dung được.

    Khi chúng ta có được sự tiếp cận với lịch sử của Trung Quốc và của Ấn Độ, sự vô tận của chủ đề này sẽ phơi bày cho chúng ta những khiếm khuyết trong việc nghiên cứu, và buộc các nhà sử học của chúng ta phải thấy rằng mục đích của khoa học là nhận ra cái nhiều trong cái một, nhận thức các quy luật trong bất kỳ ví dụ cụ thể nào, và áp dụng vào đời sống của các quốc gia một sự hiểu biết về nhân loại; chứ không phải là tiếp tục đếm các sự kiện đến vô tận.

    Có hai loại lịch sử; lịch sử chính trị và lịch sử văn học, nghệ thuật. Một cái là lịch sử của ý chí; cái kia là của trí tuệ. Cái đầu tiên là câu chuyện của nỗi bi thương, thậm chí là sự kinh hoàng: đó là hồ sơ của sự thống khổ, đấu tranh, lừa lọc, và những cuộc thảm sát đẫm máu hàng loạt. Cái thứ hai thì ở đâu cũng làm người ta hài lòng và thanh thản, giống như trí tuệ khi được để mặc cho chính nó, dẫu cho con đường của nó có thể là con đường của sai lầm. Nhánh chính của nó là lịch sử triết học. Đây, trên thực tế, là âm trầm nền tảng của nó, và những nốt nhạc của nó được nghe thấy ngay cả trong loại lịch sử kia. Những tông trầm sâu thẳm này dẫn dắt việc định hình quan điểm, và quan điểm thống trị thế giới. Vì vậy, triết học, nếu được hiểu đúng, là một thế lực vật chất thuộc loại hùng mạnh nhất, mặc dù nó hoạt động rất chậm chạp. Triết lý của một thời đại do đó chính là âm trầm nền tảng cho lịch sử của nó.

    TỜ BÁO là chiếc kim giây trên đồng hồ của lịch sử; và nó không chỉ được làm từ kim loại rẻ tiền hơn so với những kim chỉ phút và giờ, mà nó còn hiếm khi chỉ đúng.

    Cái gọi là bài xã luận chính là dàn đồng ca cho vở kịch của những sự kiện đang diễn ra.

    Sự cường điệu dưới mọi hình thức đều thiết yếu đối với báo chí cũng như đối với nghệ thuật kịch; vì mục đích của báo chí là làm cho các sự kiện đi xa nhất có thể. Chính vì vậy mà tất cả các nhà báo, trong chính bản chất nghề nghiệp của họ, đều là những kẻ giật gân; và đây là cách họ tạo ra sự hứng thú cho những gì họ viết. Về mặt này, họ giống như những con chó nhỏ; hễ có bất cứ thứ gì nhúc nhích, chúng lập tức sủa ầm ĩ.

    Do đó, chúng ta hãy điều chỉnh một cách cẩn thận sự chú ý cần dành cho chiếc kèn báo động này, để nó không làm rối loạn sự tiêu hóa của ta. Hãy nhận thức rằng một tờ báo cùng lắm cũng chỉ là một chiếc kính lúp, và rất thường khi, chỉ là một cái bóng trên tường.

    Cây bút đối với suy nghĩ cũng giống như cây gậy đối với việc đi lại; nhưng anh đi lại dễ dàng nhất khi không dùng gậy, và anh suy nghĩ với sự hoàn hảo nhất khi không cầm bút trên tay. Chỉ khi con người bắt đầu già đi, ông ta mới thích dùng gậy và vui sướng cầm bút lên.

    Khi một giả thuyết đã một lần được sinh ra trong tâm trí, hay giành được chỗ đứng ở đó, nó sẽ dẫn dắt một đời sống ở mức độ nào đó có thể so sánh với vòng đời của một sinh vật, ở chỗ nó chỉ đồng hóa vật chất từ thế giới bên ngoài khi vật chất ấy cùng loại với nó và mang tính hữu ích; và ngược lại, khi loại vật chất ấy không cùng loại mà mang tính gây hại, giả thuyết, cũng giống y như sinh vật, sẽ vứt bỏ nó, hoặc, nếu bị ép phải hấp thụ nó, sẽ lại tống khứ nó ra một cách trọn vẹn.

    Để giành được sự bất tử, một tác giả phải sở hữu thật nhiều những phẩm chất xuất sắc đến mức, trong khi không dễ để tìm được ai có thể hiểu và trân trọng tất thảy chúng, thì ở thời đại nào cũng sẽ có những người có khả năng nhận ra và đánh giá cao một vài phẩm chất trong số đó. Bằng cách này, danh tiếng cho cuốn sách của ông ta sẽ được duy trì xuyên suốt chiều dài nhiều thế kỷ, bất chấp một thực tế rằng những mối quan tâm của con người luôn luôn thay đổi.

    Một tác giả như thế, người có quyền đòi hỏi sự tiếp nối của cuộc đời mình ngay cả với hậu thế, chỉ có thể là một người mà, trên khắp cõi địa cầu rộng lớn này, sẽ cất công tìm kiếm một người giống mình trong vô vọng, và mang đến một sự tương phản rõ rệt với mọi người khác nhờ vào sự xuất chúng không thể nhầm lẫn của mình. Thậm chí còn hơn thế nữa: nếu ông ta, giống như người Do Thái lang thang, phải sống qua nhiều thế hệ, ông ta vẫn sẽ duy trì nguyên vẹn cái vị thế bề trên ấy. Nếu không phải như vậy, sẽ thật khó để thấy lý do tại sao những suy nghĩ của ông ta lại không tàn lụi đi giống như suy nghĩ của bao người khác.

    Ẩn dụso sánh mang một giá trị rất lớn, ở chỗ chúng giải thích một mối quan hệ chưa biết bằng một mối quan hệ đã biết. Ngay cả sự so sánh chi tiết hơn vốn phát triển thành ngụ ngôn hay phúng dụ, cũng không có gì khác ngoài việc phơi bày một mối quan hệ nào đó dưới hình thức đơn giản nhất, dễ thấy nhất và dễ cảm nhận nhất. Sự phát triển của các ý tưởng dựa, ở điểm mấu chốt, vào các phép so sánh; bởi vì các ý tưởng nảy sinh thông qua một quá trình kết hợp những điểm tương đồng và bỏ qua những điểm khác biệt giữa các sự vật. Hơn nữa, trí thông minh, theo nghĩa chặt chẽ nhất của từ này, rốt cuộc bao gồm việc nắm bắt các mối quan hệ; và một sự nắm bắt rõ ràng, thuần túy các mối quan hệ thường đạt được nhiều nhất khi sự so sánh được thực hiện giữa các trường hợp nằm cách xa nhau, và giữa các sự vật có bản chất hoàn toàn khác biệt. Chừng nào một mối quan hệ được tôi biết đến như chỉ tồn tại trong một trường hợp duy nhất, tôi chỉ có một ý niệm cá biệt về nó—nói cách khác, chỉ là một sự hiểu biết trực giác về nó; nhưng ngay khi tôi nhìn thấy cùng một mối quan hệ đó trong hai trường hợp khác nhau, tôi có một ý niệm tổng quát về toàn bộ bản chất của nó, và đây là một tri thức sâu sắc và hoàn hảo hơn.

    Vì vậy, do sự so sánh và ẩn dụ là một cỗ máy tri thức mạnh mẽ như thế, đó là dấu hiệu của một trí thông minh lớn lao ở một nhà văn nếu những phép so sánh của anh ta bất thường và, cùng lúc đó, lại trúng đích. Aristotle cũng đã quan sát rằng điều quan trọng hơn cả đối với một nhà văn là có được năng lực ẩn dụ này; vì đó là một năng khiếu không thể học được, và nó là dấu ấn của thiên tài.

    Đối với việc đọc sách, đòi hỏi một người phải giữ lại mọi thứ anh ta từng đọc, cũng giống như bắt anh ta phải mang theo bên mình mọi thứ anh ta từng ăn. Loại thức ăn này mang lại cho anh ta sự nuôi dưỡng cơ thể, và loại thức ăn kia là sự nuôi dưỡng tinh thần; và thông qua hai phương tiện này mà anh ta đã trưởng thành để trở thành con người như hiện tại. Cơ thể chỉ đồng hóa những gì giống với nó; và vì thế một người chỉ giữ lại trong tâm trí những gì anh ta quan tâm, nói cách khác, những gì phù hợp với hệ thống tư tưởng hay mục đích sống của anh ta.

    Nếu một người muốn đọc sách hay, anh ta phải kiên quyết tránh đọc sách dở; vì cuộc đời thì ngắn ngủi, còn thời gian và năng lượng thì có hạn.

    Repetitio est mater studiorum [Sự lặp lại là mẹ học vấn]. Bất kỳ cuốn sách nào thực sự quan trọng đều nên được đọc lại lần thứ hai ngay lập tức; một phần vì, ở lần đọc thứ hai, mối liên kết giữa các phần khác nhau của cuốn sách sẽ được hiểu rõ hơn, và phần mở đầu chỉ được thấu hiểu đầy đủ khi phần kết đã được biết; và một phần vì chúng ta không ở cùng một tâm trạng và thiên hướng trong cả hai lần đọc. Trong lần nghiền ngẫm thứ hai, chúng ta có một cái nhìn mới về từng đoạn văn và một ấn tượng khác về toàn bộ cuốn sách, thứ sau đó sẽ hiện lên dưới một ánh sáng khác.

    Tác phẩm của một người là tinh túy từ tâm trí anh ta, và dẫu cho anh ta có thể sở hữu một năng lực rất vĩ đại, thì chúng vẫn sẽ luôn luôn có giá trị hơn hẳn vô song so với cuộc trò chuyện của anh ta. Thậm chí, trong tất cả những vấn đề cốt yếu, tác phẩm của anh ta sẽ không chỉ bù đắp cho sự thiếu hụt giao tiếp cá nhân với anh ta, mà chúng còn vượt xa nó ở những lợi ích vững chắc. Các bài viết ngay cả của một người có tài năng vừa phải cũng có thể mang tính khai sáng, đáng đọc và đầy tính giáo dục, bởi vì chúng là tinh hoa của anh ta—là kết quả và trái ngọt của toàn bộ tư duy và học vấn của anh ta; trong khi việc trò chuyện với anh ta có thể lại chẳng thỏa mãn chút nào.

    Chính vì thế mà chúng ta có thể đọc sách của những người mà trong sự hiện diện của họ ta chẳng thấy có gì làm ta vui thích, và rằng một mức độ văn hóa cao dẫn dắt chúng ta tìm kiếm sự giải trí gần như hoàn toàn từ sách vở chứ không phải từ con người.


    Về thiên tài

    – Arthur Schopenhauer

    Không có sự khác biệt nào về cấp bậc, địa vị, hay xuất thân lại to lớn bằng hố sâu ngăn cách giữa hàng triệu triệu kẻ chỉ dùng cái đầu để phục vụ cho cái dạ dày của mình—nói cách khác, coi nó như một công cụ của ý chí—và một số cực kỳ ít ỏi những người hiếm hoi có đủ can đảm để nói rằng: Không! cái đầu của ta quá tốt để làm việc đó; nó sẽ chỉ hoạt động để phục vụ cho chính nó; nó sẽ cố gắng thấu hiểu vở kịch kỳ diệu và đa dạng của thế giới này, rồi tái tạo lại nó dưới một hình thức nào đó, dù là nghệ thuật hay văn chương, sao cho tương xứng với tính cách cá nhân của ta. Đây mới là những kẻ quý tộc đích thực, tầng lớp noblesse [quý tộc] thực sự của thế giới. Bọn còn lại chỉ là lũ nông nô gắn liền với mảnh đất—glebae adscripti. Dĩ nhiên, ở đây tôi đang nói đến những người không chỉ có lòng can đảm, mà còn có tiếng gọi (thiên hướng), và do đó có quyền, ra lệnh cho cái đầu phải rời khỏi sự phục vụ cho ý chí; với một kết quả chứng minh rằng sự hy sinh đó là hoàn toàn xứng đáng. Đối với những người mà điều này chỉ có thể áp dụng một phần, hố sâu ngăn cách không quá rộng; nhưng dẫu cho tài năng của họ có nhỏ bé đến đâu, miễn là nó có thực, thì sẽ luôn luôn có một ranh giới phân định rõ rệt giữa họ và hàng triệu kẻ khác.

    Những tác phẩm mỹ thuật, thơ ca và triết học do một quốc gia sản sinh ra chính là thành quả của phần trí tuệ dư thừa tồn tại trong quốc gia đó.

    Đối với người có thể hiểu đúng—cum grano salis [với sự châm chước]—mối quan hệ giữa thiên tài và người bình thường có lẽ được diễn đạt tốt nhất như sau: Một thiên tài sở hữu một trí tuệ kép, một dành cho chính mình và để phục vụ ý chí của mình; cái còn lại dành cho thế giới, nơi anh ta trở thành tấm gương phản chiếu, nhờ vào thái độ hoàn toàn khách quan của anh ta đối với nó. Tác phẩm nghệ thuật, thơ ca hay triết học do thiên tài tạo ra đơn giản là kết quả, hay tinh túy, của thái độ chiêm nghiệm này, được nhào nặn theo những quy tắc kỹ thuật nhất định.

    Mặt khác, người bình thường chỉ có một trí tuệ đơn nhất, thứ có thể gọi là mang tính chủ quan để đối lập với trí tuệ khách quan của thiên tài. Dù trí tuệ chủ quan này có sắc bén đến đâu—và nó tồn tại ở những mức độ hoàn hảo rất khác nhau—nó cũng không bao giờ cùng đẳng cấp với trí tuệ kép của thiên tài; cũng giống như những nốt trầm giọng ngực mở của giọng người, dù có cao đến mấy, về bản chất vẫn khác biệt với những nốt giọng gió. Những nốt này, giống như hai quãng tám trên của sáo và âm bồi của vĩ cầm, được tạo ra bởi cột không khí tự chia thành hai nửa rung động, với một điểm nút ở giữa; trong khi những nốt giọng ngực mở của giọng người và quãng tám dưới của sáo được tạo ra bởi cột không khí không bị phân chia, rung động như một thể thống nhất. Sự minh họa này có thể giúp độc giả hiểu được sự đặc thù riêng biệt đó của thiên tài, thứ được in dấu không thể nhầm lẫn lên các tác phẩm, và thậm chí cả lên diện mạo của người được ban phú cho nó. Đồng thời, rõ ràng là một trí tuệ kép như thế này, như một quy luật, ắt hẳn phải cản trở sự phục vụ cho ý chí; và điều này giải thích cho năng lực tồi tệ thường thấy ở các thiên tài trong việc lèo lái cuộc sống trần tục. Và điều đặc biệt định hình nên thiên tài là nó hoàn toàn không có sự điềm tĩnh chừng mực vốn luôn được tìm thấy ở trí tuệ đơn giản thông thường, dù trí tuệ đó sắc bén hay đần độn.

    Bộ não có thể được ví như một loài ký sinh trùng, được nuôi dưỡng như một phần của cơ thể con người nhưng không đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế nội tại của cơ thể đó; nó trú ngụ an toàn ở tầng cao nhất, và ở đó nó dẫn dắt một cuộc sống tự cấp tự túc và độc lập. Theo cùng một cách, có thể nói rằng một người được ban tặng những món quà trí tuệ lớn lao sẽ dẫn dắt, tách biệt khỏi cuộc sống cá nhân chung cho tất cả mọi người, một cuộc sống thứ hai, thuần túy thuộc về tri thức. Anh ta cống hiến bản thân cho sự gia tăng, điều chỉnh và mở rộng không ngừng, không phải những kiến thức học thuật đơn thuần, mà là sự thấu suốt và tri thức hệ thống thực sự; và anh ta không hề hấn gì trước số phận ập xuống đầu cá nhân mình, miễn là nó không quấy rầy anh ta trong công việc. Do đó, đây là một cuộc sống nâng đỡ con người và đặt anh ta lên trên số phận cùng những biến thiên của nó. Luôn suy nghĩ, học hỏi, thử nghiệm, thực hành tri thức của mình, người đó sẽ sớm coi cuộc sống thứ hai này là phương thức tồn tại chính, còn cuộc sống cá nhân đơn thuần của mình chỉ là thứ yếu, chỉ phục vụ để thúc đẩy những mục tiêu cao cả hơn chính nó.

    Một ví dụ về sự tồn tại độc lập, tách biệt này được cung cấp bởi Goethe. Trong suốt cuộc chiến tranh ở vùng Champagne, và giữa tất cả sự huyên náo của doanh trại, ông vẫn tiến hành những quan sát cho lý thuyết về màu sắc của mình; và ngay khi vô số tai ương của cuộc chiến ấy cho phép ông rút lui trong một thời gian ngắn về pháo đài Luxembourg, ông đã cầm lên bản thảo cuốn Farbenlehre (Lý thuyết về màu sắc) của mình. Đây là một tấm gương mà chúng ta, những hạt muối của trần gian, nên nỗ lực noi theo, bằng cách không bao giờ để bất cứ điều gì quấy rầy ta trong việc theo đuổi đời sống tri thức của mình, mặc cho bão táp của thế gian có thể xâm lấn và khuấy động môi trường cá nhân của ta đến mức nào; luôn nhớ rằng chúng ta là những người con, không phải của nữ tỳ, mà là của người đàn bà tự do. Để làm biểu tượng và gia huy cho chúng ta, tôi đề xuất hình ảnh một cái cây bị gió lay động dữ dội, nhưng vẫn trĩu quả chín mọng trên từng cành nhánh; với khẩu hiệu Dum convellor mitescunt [Càng bị lay động, tôi càng chín muồi], hoặc Conquassata sed ferax [Bị chấn động nhưng vẫn sinh sôi].

    Đời sống tri thức thuần túy của cá nhân đó có bản sao của nó trong toàn thể nhân loại. Bởi ở đó cũng vậy, đời sống thực sự là đời sống của ý chí, cả trong ý nghĩa kinh nghiệm lẫn ý nghĩa siêu nghiệm của từ này. Đời sống tri thức thuần túy của nhân loại nằm ở nỗ lực gia tăng tri thức thông qua các ngành khoa học, và khát khao hoàn thiện các nghệ thuật. Do đó, cả khoa học và nghệ thuật đều tiến bước chậm chạp từ thế hệ này sang thế hệ khác, và lớn lên cùng nhiều thế kỷ, mỗi chủng tộc khi hối hả đi qua đều đóng góp phần của mình. Đời sống tri thức này, giống như một món quà nào đó từ thiên đường, lơ lửng bên trên sự xáo động và chuyển dịch của thế giới; hay nói cách khác, nó giống như một luồng không khí thơm ngát được sinh ra từ chính quá trình lên men—tức đời sống thực sự của nhân loại, bị thống trị bởi ý chí; và sánh vai cùng lịch sử của các quốc gia, lịch sử của triết học, khoa học và nghệ thuật cất bước trên con đường vô tội và không đổ máu của riêng mình.

    Sự khác biệt giữa thiên tài và người bình thường, không nghi ngờ gì nữa, là một sự khác biệt về lượng, ở chỗ nó là sự khác biệt về mức độ; nhưng tôi bị cám dỗ coi nó cũng là một sự khác biệt về chất, dựa trên thực tế là những bộ óc bình thường, bất chấp sự đa dạng của cá nhân, đều có một khuynh hướng nhất định là suy nghĩ giống nhau. Do đó, trong những dịp tương tự, ý nghĩ của bọn họ ngay lập tức đều rẽ về một hướng tương tự, và chạy trên cùng một đường ray; và điều này giải thích tại sao những phán xét của bọn họ liên tục đồng nhất—tuy nhiên, không phải vì chúng dựa trên chân lý. Điều này đi xa đến mức có những quan điểm nền tảng nhất định luôn được duy trì giữa nhân loại ở mọi thời đại, và luôn được lặp đi lặp lại và đưa ra như mới, trong khi những bộ óc vĩ đại của mọi thời đại lại nằm trong tư thế đối lập công khai hoặc bí mật với chúng.

    Thiên tài là một người mà trong tâm trí của anh ta, thế giới được trình hiện giống như một vật thể được trình hiện trong gương, nhưng với một mức độ rõ ràng hơn và sự tách biệt đường nét sắc nét hơn so với những gì người bình thường đạt được. Chính từ anh ta mà nhân loại có thể trông đợi được giảng dạy nhiều nhất; bởi vì sự thấu suốt sâu sắc nhất vào những vấn đề quan trọng nhất phải được tiếp thu, không phải bằng sự chú ý quan sát từng chi tiết, mà bằng một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về vạn vật như một tổng thể. Và nếu tâm trí anh ta đạt đến độ chín muồi, lời giảng dạy mà anh ta mang đến sẽ được truyền tải lúc thì dưới hình thức này, lúc thì dưới hình thức khác. Do đó, thiên tài có thể được định nghĩa là một ý thức cực kỳ rõ ràng về vạn vật nói chung, và vì thế, cũng là ý thức về thứ đối lập với chúng, cụ thể là, bản ngã của chính mình.

    Thế giới ngước nhìn một người được ban phú như vậy, và kỳ vọng học được điều gì đó về cuộc sống và bản chất thực sự của nó. Nhưng phải có sự kết hợp của một vài hoàn cảnh cực kỳ thuận lợi mới có thể sản sinh ra thiên tài, và đây là một sự kiện rất hiếm hoi. Chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra, hãy nói là khoảng một lần trong một thế kỷ, một người được sinh ra với trí tuệ vượt trội mức bình thường một cách dễ dàng nhận thấy đến mức đạt tới cái năng lực thứ hai đó, thứ năng lực dường như là ngẫu nhiên, bởi nó nằm ngoài mọi mối liên hệ với ý chí. Anh ta có thể sống một thời gian dài mà không được công nhận hay trân trọng, bởi sự ngu dốt cản trở điều trước và sự đố kỵ cản trở điều sau. Nhưng một khi điều này xảy ra, nhân loại sẽ xúm lại quanh anh ta và các tác phẩm của anh ta, với hy vọng rằng anh ta có thể soi sáng chút bóng tối trong sự tồn tại của họ hoặc cung cấp thông tin cho họ về nó. Thông điệp của anh ta, ở một mức độ nào đó, là một sự mặc khải, và bản thân anh ta là một sinh thể cao cấp hơn, ngay cả khi anh ta có thể chỉ nhỉnh hơn tiêu chuẩn bình thường một chút.

    Cũng giống như người bình thường, thiên tài là những gì anh ta là chủ yếu cho chính bản thân anh ta. Điều này là thiết yếu đối với bản chất của anh ta: một thực tế không thể tránh khỏi cũng không thể thay đổi, việc anh ta có thể là gì đối với người khác vẫn là một vấn đề của sự may rủi và có tầm quan trọng thứ yếu. Trong mọi trường hợp, người ta không bao giờ có thể nhận được từ tâm trí anh ta nhiều hơn một sự phản chiếu, và khi đó cũng chỉ khi anh ta hợp tác với họ trong nỗ lực đưa tư tưởng của mình vào đầu họ; nơi mà, tuy nhiên, nó không bao giờ là gì khác ngoài một loài cây ngoại lai, còi cọc và yếu ớt.

    Để có được những suy nghĩ nguyên bản, khác thường, và có lẽ là cả bất tử, chỉ cần một người tự xa lánh bản thân mình một cách hoàn toàn khỏi thế giới sự vật trong vài khoảnh khắc, sao cho những vật thể và sự kiện bình thường nhất cũng hiện lên hoàn toàn mới mẻ và lạ lẫm. Bằng cách này, bản chất thực sự của chúng sẽ được phơi bày. Điều được đòi hỏi ở đây, có lẽ, không thể nói là khó khăn; nó hoàn toàn không nằm trong quyền hạn của chúng ta, mà chính là lãnh địa của thiên tài.

    Tự bản thân nó, thiên tài có thể sản sinh ra những suy nghĩ nguyên bản cũng ít ỏi như một người phụ nữ tự mình có thể sinh con. Những hoàn cảnh bên ngoài phải đến để làm cho thiên tài đơm hoa kết trái, và, có thể nói, đóng vai trò như một người cha đối với những đứa con của nó.

    Tâm trí của thiên tài giữa những tâm trí khác giống như viên hồng ngọc giữa những viên đá quý: nó tự phát ra ánh sáng của riêng mình, trong khi những viên khác chỉ phản chiếu lại những gì chúng đã nhận được. Mối quan hệ của thiên tài với tâm trí bình thường cũng có thể được mô tả như mối quan hệ của một vật thể tự phát điện đối với một vật thể chỉ đơn thuần là chất dẫn điện.

    Kẻ chỉ có học vấn đơn thuần, người dành cả đời để dạy những gì anh ta đã học, hoàn toàn không thể được gọi là một bậc thiên tài; cũng giống như những vật thể tự phát điện không phải là chất dẫn điện. Thậm chí, thiên tài đối với sự học vấn đơn thuần giống như ca từ đối với giai điệu trong một bài hát. Một người có học vấn là một người đã học được rất nhiều điều; một bậc thiên tài, là người mà từ anh ta chúng ta học được điều gì đó mà thiên tài ấy chưa từng học từ bất kỳ ai. Những bộ óc vĩ đại, mà trong hàng trăm triệu người chưa chắc đã có một, do đó chính là những ngọn hải đăng của nhân loại; và nếu không có họ, nhân loại sẽ lạc lối trong biển cả bao la của những sai lầm và sự hoang mang quái dị.

    Và vì thế, một người có học vấn đơn thuần, theo nghĩa khắt khe của từ này—chẳng hạn như một vị giáo sư thông thường—nhìn thiên tài giống hệt như cách chúng ta nhìn một con thỏ rừng, thứ chỉ ngon khi đem ăn sau khi nó đã bị giết và làm thịt sạch sẽ. Chừng nào nó còn sống, nó chỉ tốt để dùng làm bia tập bắn.

    Kẻ nào muốn nếm trải lòng biết ơn từ những người cùng thời, kẻ đó phải điều chỉnh tốc độ bước đi của mình cho phù hợp với họ. Nhưng những điều vĩ đại không bao giờ được tạo ra theo cách này. Và kẻ nào muốn làm những điều vĩ đại, phải hướng ánh nhìn về phía hậu thế, và trong một niềm tin vững chắc, hãy trau chuốt tác phẩm của mình cho các thế hệ mai sau. Không nghi ngờ gì nữa, kết quả có thể là anh ta sẽ vẫn hoàn toàn vô danh đối với những người cùng thời, và có thể so sánh với một người, bị buộc phải dành cả đời trên một hòn đảo hoang vắng, đã nỗ lực hết mình để dựng lên một tượng đài ở đó, nhằm truyền đạt cho những người đi biển trong tương lai biết về sự tồn tại của mình. Nếu anh ta nghĩ đó là một số phận khắc nghiệt, hãy để anh ta tự an ủi mình bằng suy ngẫm rằng người bình thường sống chỉ vì những mục đích thực dụng, thường cũng phải chịu một số phận tương tự, mà không có bất kỳ sự đền bù nào để hy vọng; bởi vì anh ta có thể, trong những điều kiện thuận lợi, dành cả đời cho việc sản xuất vật chất, kiếm tiền, mua sắm, xây dựng, vun xới, quy hoạch, sáng lập, thiết lập, làm đẹp bằng nỗ lực hàng ngày và lòng nhiệt thành không mệt mỏi, và suốt thời gian đó cứ ngỡ rằng mình đang làm việc cho chính mình; thế nhưng rốt cuộc chính con cháu anh ta mới là những người gặt hái lợi ích từ tất cả những điều đó, và đôi khi thậm chí còn chẳng phải là con cháu anh ta. Người mang thiên tài cũng vậy; anh ta, cũng thế, hy vọng vào phần thưởng của mình và ít nhất là được vinh danh; và cuối cùng nhận ra rằng mình chỉ làm việc cho hậu thế mà thôi. Chắc chắn rằng, cả hai đều đã thừa hưởng rất nhiều từ tổ tiên của họ.

    Sự đền bù mà tôi đã đề cập như một đặc quyền của thiên tài nằm ở, không phải nó là gì đối với người khác, mà nó là gì đối với chính nó. Liệu có con người nào theo bất kỳ ý nghĩa thực sự nào lại sống nhiều hơn kẻ mà những khoảnh khắc tư duy của anh ta khiến tiếng vang của chúng được nghe thấy xuyên qua sự hỗn loạn của nhiều thế kỷ? Có lẽ, suy cho cùng, điều tốt nhất cho một thiên tài là đạt được sự sở hữu tĩnh tại đối với chính bản thân mình, bằng cách dành cả đời để tận hưởng niềm vui từ những suy nghĩ của chính mình, những tác phẩm của chính mình, và chỉ cho phép thế giới đóng vai trò là người thừa kế sự tồn tại phong phú của anh ta. Khi đó, thế giới sẽ chỉ tìm thấy dấu vết sự tồn tại của anh ta sau khi anh ta qua đời, giống như cách nó tìm thấy dấu vết của hóa thạch chân thú.

    Không chỉ trong hoạt động của những năng lực cao nhất mà thiên tài mới vượt trội hơn những người bình thường. Một người có cơ thể đặc biệt săn chắc, mềm dẻo và nhanh nhẹn, sẽ thực hiện mọi chuyển động của mình với sự dễ dàng hiếm có, thậm chí là với sự thoải mái, bởi vì anh ta có được niềm vui trực tiếp trong một hoạt động mà anh ta được trang bị đặc biệt tốt, và do đó thường xuyên rèn luyện nó mà không vì mục đích gì cả. Hơn nữa, nếu anh ta là một người nhào lộn hay một vũ công, anh ta không chỉ thực hiện được những cú nhảy mà người khác không thể làm được, mà anh ta còn phô bày một sự đàn hồi và độ linh hoạt hiếm có trong những bước đi dễ dàng hơn mà người khác cũng có thể thực hiện, và ngay cả trong dáng đi thông thường. Theo cùng một cách, một người có trí tuệ siêu việt sẽ không chỉ tạo ra những ý nghĩ và tác phẩm mà không bao giờ có thể đến từ một người khác; không chỉ ở đây anh ta mới thể hiện sự vĩ đại của mình; mà vì tri thức và tư duy hình thành nên một phương thức hoạt động tự nhiên và dễ dàng đối với anh ta, anh ta cũng sẽ luôn tìm thấy niềm vui trong chúng, và do đó nắm bắt được những vấn đề nhỏ nhặt nằm trong tầm với của những bộ óc khác một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn họ. Nhờ vậy, anh ta sẽ có được một niềm vui trực tiếp và sống động trong mọi sự gia tăng của Tri thức, mọi vấn đề được giải quyết, mọi ý nghĩ dí dỏm, dù là của chính anh ta hay của người khác; và do đó tâm trí anh ta sẽ không có mục đích nào xa hơn ngoài việc liên tục hoạt động. Đây sẽ là một suối nguồn niềm vui không bao giờ cạn kiệt; và sự buồn chán, cái bóng ma luôn ám ảnh người bình thường, sẽ chẳng bao giờ có thể đến gần anh ta.

    Kế đó, những kiệt tác của các thiên tài trong quá khứ và đương đại tồn tại trong sự trọn vẹn của chúng là dành cho riêng anh ta. Nếu một sản phẩm vĩ đại của thiên tài được giới thiệu cho một bộ óc đơn giản, bình thường, nó sẽ cảm thấy thích thú với tác phẩm đó y hệt như niềm vui mà một nạn nhân của bệnh gút nhận được khi bị mời đến một buổi dạ vũ. Một kẻ thì đi vì lý do hình thức, còn kẻ kia thì đọc cuốn sách để khỏi bị tụt hậu. Bởi La Bruyère đã hoàn toàn đúng khi nói: Mọi sự dí dỏm trên đời đều là vô nghĩa đối với kẻ chẳng có chút dí dỏm nào. Toàn bộ phạm vi tư duy của một người tài năng, hay của một thiên tài, so với những ý nghĩ của kẻ phàm phu, ngay cả khi cùng hướng đến những đối tượng về cơ bản là giống nhau, cũng giống như một bức tranh sơn dầu rực rỡ, tràn đầy sức sống, so với một nét phác thảo sơ sài hay một bức vẽ màu nước nhạt nhòa.

    Tất cả những điều này là một phần phần thưởng của thiên tài, và đền bù cho anh ta vì một sự tồn tại đơn độc trong một thế giới mà anh ta chẳng có điểm chung nào và cũng chẳng có chút đồng cảm nào. Nhưng vì kích thước là mang tính tương đối, nên dù tôi nói “Caius là một người vĩ đại” hay “Caius phải sống giữa những kẻ nhỏ bé thảm hại”, thì kết quả cũng như nhau: vì xứ Brobdingnag [xứ khổng lồ] và xứ Lilliput [xứ tí hon] chỉ khác nhau ở điểm xuất phát mà thôi. Dù cho một hậu thế lâu dài có thể nghĩ tác giả của những tác phẩm bất hủ là vĩ đại đến đâu, đáng ngưỡng mộ hay đầy tính giáo dục đến nhường nào, thì trong suốt cuộc đời của mình, ông ta sẽ xuất hiện trước những người cùng thời nhỏ bé, thảm hại và vô vị theo đúng tỷ lệ đó. Đây là điều tôi muốn nói khi phát biểu rằng cũng như có ba trăm bậc thang từ chân tháp lên đỉnh tháp, thì cũng có chính xác ba trăm bậc từ đỉnh tháp xuống chân tháp. Những bộ óc vĩ đại do đó nợ những bộ óc nhỏ bé một sự bao dung nào đó; vì chỉ nhờ vào những bộ óc nhỏ bé này mà bản thân họ mới trở nên vĩ đại.

    Vậy thì, chúng ta đừng ngạc nhiên nếu thấy những bậc thiên tài thường không thích giao du và có vẻ cự tuyệt. Lỗi không nằm ở sự thiếu hòa đồng của họ. Con đường họ đi qua thế giới này giống như con đường của một người đi dạo vào một buổi sáng mùa hè rực rỡ. Anh ta ngắm nhìn với niềm say mê vẻ đẹp và sự tươi mát của thiên nhiên, nhưng anh ta phải dựa hoàn toàn vào điều đó để giải trí; bởi anh ta chẳng thể tìm thấy một xã hội nào ngoài những người nông dân đang cúi gập mình trên mặt đất và cày xới đất đai. Thường thì một bộ óc vĩ đại thích độc thoại hơn là tham gia vào những cuộc đối thoại mà anh ta có thể có trong thế giới này. Nếu thỉnh thoảng anh ta hạ cố tham gia vào đó, sự rỗng tuếch của nó rất có thể sẽ xua anh ta quay trở lại với sự độc thoại của mình; bởi vì trong sự quên lãng người đối thoại, hoặc chẳng màng bận tâm xem liệu người đó có hiểu hay không, anh ta nói chuyện với người đó như một đứa trẻ nói chuyện với một con búp bê.

    Sự khiêm tốn ở một bộ óc vĩ đại, không nghi ngờ gì nữa, sẽ làm hài lòng thế giới; nhưng, thật không may, nó lại là một contradictio in adjecto [sự mâu thuẫn trong chính thuật ngữ]. Nó sẽ ép buộc một thiên tài phải dành sự ưu tiên cho những suy nghĩ và quan điểm, thậm chí là phương pháp và văn phong, của hàng triệu kẻ khác hơn là của chính mình; phải đánh giá chúng cao hơn; và, dẫu cho chúng khác xa nhau đến đâu, phải đưa quan điểm của anh ta vào sự hài hòa với bọn họ, hoặc thậm chí là dập tắt chúng hoàn toàn, cốt để những kẻ khác được làm chủ trận địa. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, anh ta hoặc là sẽ chẳng tạo ra được gì cả, hoặc là những thành tựu của anh ta sẽ chỉ ngang hàng với của bọn họ. Những tác phẩm vĩ đại, đích thực và phi thường chỉ có thể được tạo ra chừng nào tác giả của nó coi thường phương pháp, những ý nghĩ, những quan điểm của những người cùng thời, và lặng lẽ tiếp tục làm việc, bất chấp sự chỉ trích của bọn họ, và về phần mình, khinh bỉ những gì bọn họ ngợi ca. Không ai trở nên vĩ đại mà không có loại kiêu ngạo này. Nếu cuộc đời và tác phẩm của anh ta rơi vào một thời đại không thể nhận ra và trân trọng anh ta, anh ta chí ít vẫn trung thực với chính mình; giống như một vị lữ khách quý tộc buộc phải qua đêm trong một nhà trọ tồi tàn; khi bình minh đến, ông ta thỏa mãn tiếp tục bước đi trên con đường của mình.

    Một nhà thơ hay triết gia không có lý do gì để bắt lỗi thời đại của mình nếu nó chỉ việc cho phép anh ta làm công việc của mình không bị quấy rầy trong góc riêng; cũng không bắt lỗi số phận của mình nếu cái góc được ban cho ấy cho phép anh ta theo đuổi tiếng gọi đời mình mà không phải bận tâm về những người khác.

    Việc bộ não chỉ là một gã làm thuê phục vụ cho cái dạ dày, quả thực là số phận chung của hầu hết tất cả những ai không sống bằng sức lao động của đôi tay; và họ thì khác xa với việc bất mãn với số phận của mình. Nhưng nó lại giáng một đòn tuyệt vọng vào một người có bộ óc vĩ đại, kẻ có sức mạnh trí não vượt xa mức cần thiết để phục vụ cho ý chí; và anh ta thà, nếu cần, sống trong những hoàn cảnh eo hẹp nhất, miễn là chúng ban cho anh ta sự tự do sử dụng thời gian của mình để phát triển và ứng dụng những năng lực của bản thân; nói cách khác, nếu chúng cho anh ta sự nhàn rỗi, thứ vốn là vô giá đối với anh ta.

    Chuyện lại khác với những người bình thường: đối với họ, sự nhàn rỗi không có giá trị tự thân, và quả thực, nó cũng không thiếu những cạm bẫy, như những người này dường như đều biết. Công việc kỹ thuật của thời đại chúng ta, thứ được thực hiện đến một mức độ hoàn hảo chưa từng có, bằng cách gia tăng và nhân lên các đồ vật xa xỉ, đã trao cho những kẻ được số phận ưu ái một sự lựa chọn giữa việc có nhiều thời gian rảnh rỗi và văn hóa hơn ở một mặt, và thêm phần xa xỉ và sống sung sướng, nhưng với sự gia tăng hoạt động, ở mặt kia; và, đúng với bản chất của mình, họ chọn cái sau, và thích rượu sâm panh hơn là sự tự do. Và họ hoàn toàn nhất quán trong sự lựa chọn của mình; bởi vì, đối với họ, mọi sự cố gắng của tâm trí mà không phục vụ cho các mục tiêu của ý chí đều là điên rồ. Nỗ lực tri thức vì chính lợi ích của nó, họ gọi là sự lập dị. Do đó, sự kiên trì với những mục tiêu của ý chí và cái dạ dày sẽ là sự đồng tâm; và, chắc chắn rồi, ý chí chính là trung tâm, là hạt nhân của thế giới.

    Nhưng nhìn chung, rất hiếm khi có một sự lựa chọn nào như vậy được đưa ra. Bởi cũng giống như với tiền bạc, hầu hết con người không có sự dư dả, mà chỉ vừa đủ cho nhu cầu của họ, trí thông minh cũng vậy; họ chỉ sở hữu vừa đủ những gì phục vụ cho ý chí, tức là, để duy trì công việc làm ăn của họ. Sau khi đã kiếm được gia sản, họ hài lòng với việc há hốc mồm ra nhìn hoặc đắm chìm vào những thú vui nhục dục hay những trò giải trí trẻ con, bài bạc hay súc sắc; hoặc họ sẽ nói chuyện theo cách tẻ nhạt nhất, hoặc ăn diện và cúi chào nhau. Và thật hiếm hoi biết bao những kẻ có được dù chỉ một chút dư thừa sức mạnh trí tuệ! Giống như những người kia, họ cũng tạo ra cho mình một niềm vui; nhưng đó là niềm vui của trí tuệ. Hoặc là họ sẽ theo đuổi một môn học khai phóng nào đó chẳng mang lại cho họ đồng nào, hoặc họ sẽ thực hành một môn nghệ thuật; và nhìn chung, họ sẽ có khả năng duy trì một sự quan tâm khách quan đối với vạn vật, nhờ vậy mới có thể trò chuyện với họ. Nhưng đối với những người kia, tốt nhất là không nên thiết lập bất kỳ mối quan hệ nào; bởi vì, ngoại trừ khi họ kể về kết quả từ những kinh nghiệm của bản thân hoặc tường thuật về nghề nghiệp chuyên môn của mình, hay chí ít là truyền đạt những gì họ học được từ ai đó khác, những cuộc trò chuyện của họ sẽ không đáng để lắng nghe; và nếu ta nói bất cứ điều gì với họ, họ sẽ hiếm khi nắm bắt hoặc hiểu đúng, và trong hầu hết các trường hợp, nó sẽ đối lập với quan điểm của chính họ. Balthazar Gracian mô tả họ một cách rất sắc sảo là những con người không phải là người—hombres che non lo son. Và Giordano Bruno cũng nói điều tương tự: Thật là một sự khác biệt to lớn khi phải làm việc với những con người thực sự so với những kẻ chỉ được tạo ra theo hình ảnh và bộ dạng của họ! Và đoạn văn này mới đồng điệu một cách tuyệt vời làm sao với nhận xét đó trong sử thi Kurral: Đám dân đen trông giống con người nhưng ta chưa từng thấy thứ gì thực sự giống chúng. Nếu độc giả xem xét mức độ đồng thuận của những tư tưởng này trong ý nghĩa và thậm chí trong cả cách diễn đạt, cũng như sự khác biệt to lớn giữa chúng về mặt thời gian và quốc tịch, anh ta không thể nghi ngờ gì nữa ngoài việc chúng hoàn toàn trùng khớp với những sự thật của cuộc sống. Chắc chắn không phải dưới sức ảnh hưởng của những đoạn văn đó mà, khoảng hai mươi năm trước, tôi đã cố gắng đặt làm một chiếc hộp đựng thuốc lá nghẹt mũi, mà nắp của nó phải có hai quả hạt dẻ tuyệt đẹp được khắc lên đó, nếu có thể là bằng nghệ thuật khảm; cùng với một chiếc lá để cho thấy rằng chúng là hạt dẻ ngựa. Biểu tượng này nhằm mục đích giữ cho ý nghĩ đó luôn hiển hiện trước tâm trí tôi. Nếu có ai mong muốn được giải trí, theo cách sẽ ngăn cản anh ta cảm thấy cô đơn ngay cả khi anh ta ở một mình, hãy để tôi tiến cử sự bầu bạn của những con chó, mà những phẩm chất đạo đức và trí tuệ của chúng gần như có thể mang lại sự vui thích và mãn nguyện.

    Tuy nhiên, chúng ta nên luôn luôn cẩn thận để tránh trở nên bất công. Tôi thường xuyên ngạc nhiên trước sự thông minh, và đôi khi là sự ngốc nghếch của con chó của tôi; và tôi cũng có những trải nghiệm tương tự với nhân loại. Vô số lần, trong sự phẫn nộ trước sự bất lực của họ, sự thiếu vắng hoàn toàn óc phán đoán của họ, tính thú vật của họ, tôi đã bị buộc phải lặp lại lời than phiền cổ xưa rằng sự ngu xuẩn chính là mẹ và là nhũ mẫu của toàn bộ nhân loại:

    Humani generis mater nutrixque profecto

    Stultitia est.

    Nhưng vào những lúc khác, tôi lại phải kinh ngạc rằng từ một giống loài như vậy lại có thể phát khởi ra biết bao nghệ thuật và khoa học, dồi dào về sự hữu dụng lẫn vẻ đẹp đến thế, dẫu cho những kẻ tạo ra chúng luôn luôn chỉ là một thiểu số. Tuy nhiên những nghệ thuật và khoa học này đã đâm rễ, nảy mầm, và cứ thế.

    ,

  • Narcisse và Goldmund, Hermann Hesse

    Đọc thử

    Đây là một tiểu thuyết rất khó để đánh giá và truyền tải giá trị của nó một cách toàn vẹn bởi vì nó bao hàm quá nhiều tầng bậc ý nghĩa. Có thể xếp tiểu thuyết này vào dạng bildungsroman – tiểu thuyết trưởng thành, cũng có thể xếp nó vào thể loại triết – văn học hiện sinh, nêu ra vấn đề nhị nguyên về lý tính và cảm tính. Nhưng hơn cả, nó là một câu chuyện tuyệt đẹp về tình bạn cao thượng của cặp đôi chính trong tựa đề.

    Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc lại lỗi lầm cho cuộc sống phóng túng, lầm lạc trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Nhưng thầy chóng nhận ra rằng cuộc đời tu viện không phù hợp với khuynh hướng của Goldmund, và thầy giúp cậu chọn con đường đi.

    Từ ấy, Goldmund lao vào đời sống phiêu bạt: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được diện mạo của người phụ nữ “Eva vĩnh cửu”, gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời. Hành trình của Goldmund trải dài phần lớn cuốn sách – một chuyến phiêu lưu tình ái không ngơi nghỉ. Bất cứ nơi nào chàng trú lại, dù là thôn quê hay thành phố, chàng đều ra sức thoả mãn dục vọng của mình thông qua vô số cuộc chung đụng ngắn ngủi với phụ nữ. Chàng đẹp trai, tốt bụng, chân thành, dịu dàng và đầy yêu thương, do đó hiếm khi chàng thất bại trong việc đưa những đối tượng của mình lên giường. Nhưng chàng không bao giờ nán lại một nơi đủ lâu để hình thành một mối quan hệ bền chặt, khăng khít với bất cứ ai; trong khi tình cảm mến của chàng với Narcisse, dẫu đôi bạn đã nhiều năm bặt tin, vẫn luôn âm ỉ trong lòng chàng, là thứ tình cảm mà chàng luôn trân trọng, cảm thấy gắn bó, được thấu hiểu, – tình bạn ấy tiếp tục ảnh hưởng đến chàng và đóng vai trò kim chỉ nam trong cuộc đời chàng.

    Goldmund tiếp tục đi, chàng trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, chàng quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để truy tìm cái đẹp. Chàng được một điêu khắc gia lành nghề, người thầy Niklaus thu nhận, nhưng ngay khi chàng tạo ra được kiệt tác của mình – một bức tượng thánh Jean lấy cảm hứng từ chính khuôn mặt của người bạn Narcisse – chàng liền dứt áo ra đi, một lần nữa bước chân vào đời sống phiêu lãng, vô định. Đối với chàng, cuộc sống luôn là một bí ẩn, và nếu loại trừ tính bí ẩn đó đi thì cuộc sống sẽ không còn vẻ đáng sống nữa. Nhờ dốc cạn lòng để yêu thương và đau khổ, chàng cảm nhận rõ rệt sự phù du của kiếp sống ngắn ngủi, vô thường, rằng hạnh phúc luôn mong manh, và càng cảm nhận sâu sắc điều ấy, chàng càng cố gắng bất tử hoá sự sống thông qua nghệ thuật…

    Goldmund gặp lại Narcisse vào thời điểm khốn cùng nhất của cuộc đời, khi chàng sắp phải bêu đầu trước giàn treo cổ. Nhờ sự can thiệp của Narcisse, chàng được phép trở về tu viện và tại đây, trong những ngày tháng cuối đời, chàng đã gom hết tất cả mọi trải nghiệm phong phú trong cuộc phiêu lưu đời mình trước nay, để miệt mài chế tác các bức tượng để tô điểm cho tu viện thân yêu của mình. Vào giờ khắc ấy, chàng là một nghệ sĩ hơn bao giờ hết. Chính tại những trang cuối này đã diễn ra những cuộc đối thoại triết lý sâu sắc về hai thái cực trong cuộc truy tìm chân lý của con người, về hai con đường song song giữa nhà tư tưởng (tu viện trưởng Narcisse) và người nghệ sĩ (Goldmund). Narcisse, người từ sớm đã hiến dâng cuộc đời của mình cho sự nghiệp thờ phụng Chúa, là con người của lý trí, của sự nghiêm cẩn, chuẩn mực, thầy luôn tiếp cận mọi chuyện bằng tư duy trừu tượng, bằng logic; trong khi Goldmund thì suy nghĩ bằng hình ảnh, bằng giác quan, đã không ngừng nếm trải lạc thú trần gian, không thể sống mà không cảm nhận, không thể sống thiếu phụ nữ kề bên, hoặc đúng hơn, không thể sống mà không yêu, mà không đau khổ.

    Mặc dù phần lớn cuốn sách theo chân cuộc phiêu lưu của Goldmund, nhưng sự chuyển biến tâm lý quan trọng nhất ở cuối truyện lại thuộc về Narcisse. Khi Goldmund trở về tu viện trong hình hài tàn tạ, chờ đợi cái chết, chàng đã hỏi Narcisse một câu hỏi “như một ngọn lửa đốt cháy con tim” của ông: “Khi cậu chết, cậu sẽ chết như thế nào, Narcisse, khi cậu không có một người mẹ? Thiếu người mẹ thì không thể yêu, cũng không thể chết được.”

    Câu nói này đánh gục sự kiêu hãnh lý trí của tu viện trưởng. Narcisse nhận ra rằng, mặc dù triết lý tu tập của mình rất thanh cao, nhưng nó lại khô cằn và thiếu vắng tình yêu thương sinh động của con người. Sự thuần khiết của Narcisse có được là nhờ lẩn tránh thế giới, trong khi sự thánh thiện của Goldmund đạt được bằng cách lội qua vũng bùn của nó. Hesse không đặt con đường nào lên trên con đường nào, mà cho thấy chúng ta cần cả hai: sự tĩnh lặng của tu viện để giữ gìn tri thức, và sự cuồng nhiệt của thế giới để sản sinh ra sự sống và nghệ thuật.

    – Goldmund, mình học được của bạn rất nhiều, mình bắt đầu hiểu thế nào là nghệ thuật. Trước đây, mình không nghĩ là người ta phải rất coi trọng nghệ thuật, sánh với khoa học và tư tưởng. Mình đã tự bảo gần gần như thế này: Bởi lẽ con người là một hợp thể đáng ngờ về tinh thần và thể chất, bởi lẽ tinh thần mở ra cho con người sự hiểu biết về tính vĩnh hằng, trong khi đó thể chất kéo người ta xuống tầng dưới thấp của xã hội và cột họ vào vứoi những sự vật sớm nở tối tàn, hẳn họ phải giải thoát khỏi các xúc cảm nhục dục và cố gắng vươn tới đời sống tinh thần để nâng cao cuộc sống của họ và trao cho nó một ý nghĩa. Mình ra vẻ có thói quen tôn vinh nghệ thuật, nhưng trong thâm tâm, mình nhìn nó từ trên cao với một cảm giác kiêu căng. Chỉ đến nay mình mới nhận biết rõ rằng có nhiều con đường dẫn đến sự hiểu biết và con đường của tư duy trừu tượng không phải là duy nhất, có lẽ cũng không hẳn tốt nhất. Quả thực đó là con đường của mình, và mình sẽ giữ vững con đường ấy. Nhưng mình thấy bằng con đường trái ngược lại, bạn cũng nắm được sâu sắc điều bí ẩn của sự tồn tại và diễn đạt nó một cách sống động hơn phần đông các nhà tư tưởng có thể làm được.

    Narcisse và Goldmund là tác phẩm tôi đọc lại ngay sau khi đọc xong lần đầu. Bận này tôi cũng đang đọc lại Siddhartha của Hermann Hesse. Đây là nhà văn mà mỗi lần đọc xong, tôi đều phải tự hỏi: Rốt cuộc ông ta đã viết như thế nào? Và ông ta đã sống ra sao để viết được nhường ấy?


  • C.S. Lewis & 8 lời khuyên viết lách

    Đọc thử

    C.S. Lewis (1898 – 1963)

    GỬI MỘT NỮ SINH Ở MỸ, người đã viết thư (theo gợi ý của giáo viên) để xin lời khuyên về cách viết lách.

    Ngày 14 tháng 12 năm 1959

    Rất khó để đưa ra bất kỳ lời khuyên chung chung nào về việc viết lách. Dưới đây là nỗ lực của tôi.

    (1) Hãy tắt radio đi.

    (2) Hãy đọc tất cả những cuốn sách hay mà bạn có thể, và tránh xa gần như tất cả các loại tạp chí.

    (3) Luôn luôn viết (và đọc) bằng tai, chứ không phải bằng mắt. Bạn nên nghe thấy từng câu mình viết như thể nó đang được đọc thành tiếng hoặc đang được nói ra. Nếu nghe không hay, hãy thử lại.

    (4) Hãy viết về những gì thực sự khiến bạn quan tâm, cho dù đó là những điều có thật hay những điều tưởng tượng, và không gì khác nữa. (Lưu ý điều này có nghĩa là nếu bạn chỉ quan tâm đến việc viết lách, bạn sẽ không bao giờ trở thành một nhà văn, bởi vì bạn sẽ không có gì để viết cả…)

    (5) Hãy dốc sức để viết một cách rõ ràng. Hãy nhớ rằng mặc dù bạn bắt đầu bằng việc hiểu ý mình muốn nói, nhưng người đọc thì không, và một từ chọn sai có thể dẫn họ đến sự hiểu lầm hoàn toàn. Trong một câu chuyện, người ta rất dễ quên mất rằng mình chưa kể cho người đọc điều mà họ muốn biết — toàn bộ bức tranh đã quá rõ ràng trong tâm trí bạn đến nỗi bạn quên mất rằng nó không hề giống như vậy trong tâm trí người đọc.

    (6) Khi bạn từ bỏ một phần tác phẩm nào đó, đừng vứt nó đi (trừ khi nó dở đến mức vô phương cứu chữa). Hãy cất nó vào ngăn kéo. Nó có thể sẽ hữu ích sau này. Phần lớn những tác phẩm tốt nhất của tôi, hoặc những gì tôi cho là tốt nhất, là việc viết lại những thứ đã bắt đầu và bị bỏ dở từ nhiều năm trước.

    (7) Đừng dùng máy đánh chữ. Tiếng ồn của nó sẽ phá hủy cảm nhận về nhịp điệu của bạn, thứ vốn cần nhiều năm rèn luyện mới có được.

    (8) Hãy chắc chắn rằng bạn hiểu nghĩa (hoặc các nghĩa) của mọi từ mà bạn sử dụng.


  • Bí mật thiêu đốt tâm can, Stefan Zweig

    Đọc thử

    Cuốn sách này đã thiêu đốt tôi theo một cách nào đó. Tôi đã mong chờ được đọc cuốn sách này từ cách đây nửa năm, nhưng phải đến cuối tháng Một vừa qua, tôi mới có cơ hội được cầm nó trên tay và, nhấm nháp cuốn sách này trong một buổi tối rảnh rỗi, với nhiều lần đọc ngắt quãng.

    Về bản chất, Bí mật thiêu đốt tâm can là một tiểu thuyết ngắn. Cốt truyện có thể được hiểu như một cuộc đi săn, xoay quanh ba nhân vật chính: một chàng nam tước hào hoa phong nhã, kẻ chinh phục và thành thạo mọi ngón nghề quyến rũ đàn bà; đối tượng của nam tước – một thiếu phụ thượng lưu xinh đẹp, nghiêm nghị; và Edgar, cậu con trai nhút nhát, ốm yếu, cô độc của người thiếu phụ.

    Rất nhanh chóng, nam tước chủ động làm quen với Edgar, lợi dụng cậu để tiếp cận bà mẹ. Thoạt đầu Edgar gần như choáng váng, phát cuồng vì sự quan tâm bất ngờ tới từ quý ông lịch duyệt này; cậu ngưỡng mộ nam tước vô ngần. Nhưng cậu sớm nhận ra ý đồ thật sự của nam tước: ông ta gạt phăng cậu khi đã làm quen được bà mẹ, và mẹ cậu, người hiển nhiên trong cảnh cô đơn chán chường đã ngã lòng, cũng cật lực tìm cách tống khứ cậu đi cho khuất mắt đặng giúp những cuộc hẹn hò vụng trộm dễ bề trót lọt. Ở đây có một sự chuyển biến ngoạn mục về mặt tâm lý của Edgar: từ một cậu bé ngoan ngoãn, có phần nhút nhát và khép kín, Edgar, sau khi trải qua sự thù ghét, căm hờn, đã vùng lên và “tuyên chiến” với cặp đôi. Cậu bắt đầu sắm vai một kẻ do thám, và một cách vô thức, cậu trở thành người bảo vệ phẩm giá cho mẹ mình (hãy đọc phân đoạn khi Edgar nhấn mạnh từ “cha” trước mặt nam tước và mẹ mình và đắc ý khi nhận thấy nét hoảng loạn trên khuôn mặt cả hai người lớn). Cậu dần dần nhận thức được quyền lực của mình và ra sức bám sát cặp đôi, mặc dù cậu vẫn không hiểu được cái bí mật của thế giới người lớn, rằng rốt cuộc họ dính lấy nhau để làm gì. Ngược lại, người đọc chúng ta đều biết họ sẽ làm gì với nhau, rằng mọi cuộc dạo chơi vụng trộm rồi sẽ dẫn đến chiếc giường, nhưng Edgar không biết gì cả, tuyệt nhiên không. “Bí mật” trong tiêu đề không chỉ là cuộc ngoại tình, mà còn là sự khám phá (hoặc vỡ mộng thì đúng hơn) của Edgar về thế giới người lớn – một thế giới đầy nhục dục mà cậu cảm nhận được nhưng chưa thể hiểu hết bằng lý trí.

    Điều kỳ lạ về cuốn sách này là: tôi không đặc biệt yêu thích hay ghét bỏ một nhân vật nào cả. Tôi cũng chẳng cảm thông với họ. Stefan Zweig để xử lý ổn thoả để khiến nam tước không quá đểu giả, người thiếu phụ không quá đáng khinh, và cậu bé Edgar không quá đáng thương. Trên thực tế, đôi lúc tôi còn thấy Edgar phiền phức là khác: cứ để quách cho hai người họ ngủ với nhau đi, rồi xem điều gì sẽ xảy ra? Cứ để thằng Edgar khám phá ra sự thật ấy đi, rồi xem trái tim bé bỏng ấy sẽ tan vỡ thế nào?

    Và cách Stefan Zweig xử lý những thách thức này đã khiến tôi bất ngờ. Đoạn kết của cuốn sách, đầy cảm động và cao thượng, đã khiến câu chuyện tưởng đâu phù phiếm về một cuộc ngoại tình ở một khách sạn hẻo lánh trở nên đáng đọc hơn bao giờ hết.


  • Mấy ngày cuối năm

    Đọc thử

    Dạo này tôi chẳng làm gì. Từ khi viết xong Mưa xuân, cảm tưởng như một phần thiết cốt trong mình bị rút hẳn ra. Sách thì tôi vẫn đọc đều, nhưng chủ yếu là đọc lại những truyện cũ.

    Sáng nào thức giấc ở Hà Nội, tôi cũng tưởng như mình vừa từ dưới mồ ngoi lên. Thật may là tôi không phải đâm ra ngoài trong tiết mưa phùn bẩn thỉu này. Rất thường xuyên, tôi không biết làm gì cho hết ngày, nên tôi cứ nhàn nhã nhấm nháp từng trang sách một. Với kiểu sống thế này, ngay giữa tuổi thanh niên, tôi dễ bị cho ăn vài phát tát. Nhưng người ta không hiểu được…

    … Trước nay tôi luôn viết từ ký ức. Lắm lúc tôi nghĩ cũng buồn cười, phần nhiều những tác phẩm tôi viết đa phần là viết để trút bỏ một hồi ức, một kỷ niệm, một gương mặt, hay một nỗi dằn vặt nào đó. Mà có lẽ chúng chẳng đáng được coi là sáng tác; chúng mang quá nhiều nét tự truyện. Phơi bày trần trụi tâm hồn mình như thế có ổn không, có thoả đáng không? Tôi có ngại không? Ừ, cũng hơi ngài ngại đấy! Và tôi cũng chẳng bao giờ đặt ra cho mình câu hỏi rằng tôi viết cho ai; nói cách khác, tôi không có cho mình một độc giả tưởng tượng, điều mà tôi cho mọi người thường ngộ nhận về công việc của nhà văn. Tôi nghĩ nghệ thuật là lặn ngụp trong thế giới nội tâm để đi tìm chính mình, và sự thoả mãn trước tiên là thuộc về người nghệ sĩ. Niềm vui của sáng tạo đến trong quá trình làm việc… Tôi nhớ từng đọc được một câu của Proust rằng ông ấy bận rộn “phục dựng toà dinh thự nguy nga của kỷ niệm”. Văn chương hay nắm bắt trọn vẹn một khoảnh khắc, một lát cắt của đời sống, và hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy ở trong những sát na ấy mà thôi.

    … Gần đây tôi đọc nhật ký của Bunin. Thời trẻ, ông ấy thừa nhận bản thân không có khiếu bịa chuyện, – các tác phẩm đầu tay của ông ấy thật ra đúng với dạng tuỳ bút, tản văn ngày nay hơn. Ông cũng từng nói thể loại nhật ký trong văn học sẽ lên ngôi một ngày nào đó. Nhưng, đến những năm bốn mươi tuổi, Bunin thừa nhận trí tưởng tượng của ông ấy đột nhiên bùng phát – sao lại thế được nhỉ… Và tôi cũng bắt đầu nhận ra tính chất dài dòng, lan man trong văn xuôi của ông ấy. Tôi sẽ không cố gắng viết giống ông ấy nữa, mà sẽ cố gắng viết càng khác ông ấy càng tốt. Sẽ không có một dấu vết nào cho thấy sự ảnh hưởng ở đây.

    Tôi sẽ về nhà vào thứ Năm tới. Tôi đã sắm sửa kha khá cho khoản bày trí nhà cửa, giờ chỉ còn lo việc tút tát lại chính mình thôi – một năm rồi tôi chưa mua quần áo mới. Tôi thấy diện mạo của mình ngày càng ổn: mặt mũi bắt đầu hiền hoà hơn (dù tính nết vẫn kỳ quặc như cũ), cân nặng ổn định, giọng nói bớt phần lè nhè; tôi chỉ hơi tiếc mấy bắp thịt trên người, từ ngày bỏ chơi bóng rổ, người ngợm cứ nhão nhoét hết cả ra.


  • Bài ca Solomon, Toni Morrison

    Đọc thử

    Toni Morrison vốn nổi tiếng với các tác phẩm theo khuynh hướng nữ quyền của người da màu, khắc họa những thách thức của việc lớn lên dưới thân phận một người phụ nữ da đen trong nền văn hóa do đàn ông da trắng thống trị (Yêu dấuMắt nào xanh nhất là hai ví dụ điển hình). Vì thế, thành công vang dội của Bài ca Solomon, một tác phẩm xoay quanh nhân vật chính là nam giới da đen, là một màn đổi gió khá ngoạn mục.

    Khi được hỏi tại sao lại chọn một nhân vật nam làm trung tâm cho Bài ca Solomon, Morrison trả lời: “Vì tôi nghĩ anh ta có nhiều điều phải học hỏi hơn là một người phụ nữ.” Bà cũng thú nhận rằng mình đã cố ý “thử cảm nhận những điều vốn không hấp dẫn tôi nhưng tôi nghĩ lại hấp dẫn đàn ông, như cảm giác chiến thắng, cảm giác đá vào ai đó, hay lao vào một cuộc đối đầu; cái cảm giác phấn khích khi họ gặp nguy hiểm.” Lấy cảm hứng từ nhiều câu chuyện, thần thoại và truyền thuyết, tác phẩm tập trung vào hai tích truyện chính: truyện dân gian của người Yoruba về những người châu Phi biết bay và sách Song of Solomon, cuốn sách thứ 22 trong Cựu Ước.

    Nhân vật chính của chúng ta là Macon “Milkman” Dead III, biệt danh Hàng Sữa. Cuốn tiểu thuyết mở đầu và kết thúc với cảnh bay lượn, luân phiên giữa thực tại và quá khứ, giữa miền Bắc và miền Nam, trong khi Hàng Sữa, ban đầu vốn là một chàng trai da đen ngoài ba mươi với lối sống lông bông, ích kỷ, ưa hưởng lạc, dần khám phá ra cội nguồn cùng bản sắc của mình, hay nói cách khác, Hàng Sữa đã trưởng thành. Và thông qua đó, như Toni Morrison ngụ ý, Hàng Sữa đã học được cách bay.

    Hàng Sữa sinh ra trong một gia đình da đen giàu có tại miền Bắc nước Mỹ nhưng lại nghèo đến thảm hại về mặt tinh thần. Cha anh là một người sùng bái vật chất, lạnh lùng và tàn nhẫn; mẹ anh sống mòn mỏi trong sự ghẻ lạnh (ông đã phớt lờ nhu cầu tình dục của bà hàng thập kỷ, và thực chất Hàng Sữa chui được ra ngoài là nhờ mẹ anh “bẫy” cha anh). Và cứ thế, Hàng Sữa lớn lên như một kẻ ích kỷ, lạc lối, một đứa em út được nuông chiều, một gã công tử bột ba mươi tuổi vẫn chưa cai sữa về mặt tinh thần, hoặc một người tuy còn trẻ nhưng đã “chết” (Câu nói “I’m already Dead!” được nhại lại rất nhiều) về mặt tâm hồn.

    Cốt truyện thực sự bắt đầu khi Milkman quyết định đi tìm kho báu – một túi vàng được cho là gia sản thất lạc của bà cô Pilate – đây có lẽ là nhân vật ấn tượng nhất cuốn sách, nhưng ta sẽ bàn về bà ấy sau. Cuộc hành trình đưa Hàng Sữa ngược về miền Nam nông thôn, quê gốc của gia đình anh. Trớ trêu thay, Hàng Sữa không tìm thấy vàng. Thay vào đó, anh tìm thấy lịch sử đau thương nhưng hào hùng của tổ tiên mình, những bài hát đồng dao của đám trẻ con chứa đựng kiến giải về dòng họ, và huyền thoại về Solomon, một người nô lệ da đen đã cất cánh bay về Phi Châu, bỏ mặc vợ con của mình.

    Solomon đã bay đi mất, Solomon đã đi thật rồi

    Solomon băng qua bầu trời, Solomon về lại quê nhà.

    Chuyến đi tìm vàng biến thành hành trình tìm lại bản ngã, hành trình lần về cội nguồn và hành trình trưởng thành về mặt nhận thức. Thực tại và quá khứ hoà nhập vào nhau, tất cả trải ra trước Hàng Sữa là một lịch sử về dòng họ mình. Thật sự là đến đoạn Hàng Sữa giải được bài vè, mình có cảm tưởng như đang đọc truyện trinh thám của Agatha Christie vậy (Mười người da đen nhỏ). Từ một kẻ ích kỷ, hưởng lạc, không cá tính, không biết mình phải làm gì trong đời, một chàng trai sống cuộc đời quá an toàn – một con côn trùng nằm trong kén, Hàng Sữa đã phá được lớp bọc để vỗ cánh bay vào thinh không…

    Bây giờ là về nhân vật gánh cả cuốn sách: bà cô Pilate. Pilate là em gái ruột của cha Hàng Sữa. Hai anh em từng xảy ra hiềm khích và dù cách nhau vài dãy phố, đôi bên đã đoạn tuyệt từ lâu. Bà sinh ra không có rốn, sống nghèo khổ nhưng tự tại, mang theo cái tên của mình trong một chiếc hộp bằng đồng đeo ở tai – ngụ ý cho việc dù đi đâu về đâu, bà vẫn luôn giữ liên hệ với gốc rễ của mình. Pilate đại diện cho cội nguồn, cho tình yêu thương bao dung và những giá trị truyền thống mà những người da đen hiện đại như cha của Hàng Sữa đã đánh mất. Dù cơm không lành canh không ngọt với ông anh, Pilate rất quý mến đứa cháu Hàng Sữa và trong phần lớn cuốn sách, bà đóng vai trò người định hướng, kim chỉ nam trong hành trình trưởng thành của anh.

    Mình phải thú nhận đây không phải một cuốn sách dễ đọc. Dù câu từ chẳng có gì trúc trắc, cách hành văn cũng rất nhịp nhàng, sẽ hơi chật vật nếu các bạn lao vào đọc cuốn này mà trong đầu không có chút trang bị gì về bối cảnh, chủ đề chung, và mình khuyên các bạn nên đọc trước vài nét về cốt truyện. Phi tuyến tính mà, nếu không nắm rõ thì dễ nản lắm.

    Và mình cũng nói trước rằng có thể sau khi đọc xong bạn cũng chưa hiểu gì ngay đâu. Sách rất nhiều chi tiết ẩn dụ, từ tên nhân vật, phục sức (tỉ dụ như cái vòng đeo tai của bà cô Pilate), hay đến cả cái biệt danh Hàng Sữa cũng là ẩn dụ nốt. Một cuốn sách không hợp để chill, nhưng rất phù hợp nếu bạn thích giải đố, và sẽ là cuốn sách cần đọc ít nhất hai lần.


  • Washington Square, Henry James

    Đọc thử

    Tính đến hiện tại, Washington Square là tác phẩm dễ hiểu, dễ cảm và xem chừng là dễ viết về nhất của Henry James mà mình đọc được. Tiểu thuyết này kể câu chuyện về những nỗ lực của một người cha, một danh y nổi tiếng vào những năm 1880 tại New York, nhằm cứu rỗi cô con gái độc nhất của mình khỏi nanh vuốt của một gã tài tử mà ông tin rằng là một kẻ đào mỏ.

    Kịch bản này gợi mình nhớ đến truyện vừa Của hồi môn của Maupassant, cũng kể về một cuộc hôn nhân vụ lợi với giọng văn mỉa mai, nhưng ở đây Henry James đã xử lý câu chuyện theo một cách khiến mình khá bất ngờ.

    Thoạt đầu, James để mình lơ lửng giữa hai bên; mình không biết Morris (đó là tên gã thanh niên) có thực sự là một gã đào mỏ hay không. Người đọc được cho biết gần như tất tật những gì cần biết về nhân vật chỉ trong vài chương đầu: ông bố, Đốc tờ Sloper, một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng, kiếm bộn tiền, đã goá vợ từ lâu và sống với Catherine, cô con gái duy nhất (một cô gái lành như đất) cùng bà em ruột đồng bóng của mình. Morris, một người đàn ông trạc ba mươi tuổi với diện mạo bảnh bao, có quá khứ bí ẩn, bất ngờ xuất hiện ở New York và tiếp cận Catherine, rồi thông qua sự tiếp tay của bà dì, gã nhanh chóng chiếm được cảm tình của nàng tiểu thư.

    Riêng có Đốc tờ Sloper vẫn khăng khăng rằng Morris là một kẻ đào mỏ, rằng trong thâm tâm và qua “con mắt quan sát nhà nghề” của mình, Đốc tờ đinh ninh gã kia thực chất rất ích kỷ (ông đã đúng!), và chính ông cũng biết thừa rằng con gái mình chẳng thể liệt vào dạng giai nhân để mà được theo đuổi sốt sắng tới vậy. Quả thật Catherine là một cô gái rất bình thường: cô không xinh (ít nhất qua những nét phác hoạ của James là cô không hề “nổi bật”), cô rất nhút nhát, không biết ăn diện, trí tuệ tầm thường, và trong phần lớn cuốn sách cô nhẫn nhịn phục tòng ý chí của ông bố mình, người, dù rất yêu thương con gái mình, lại luôn đối xử với cô một cách trịch thượng, mai mỉa. Và cứ thế, điều duy nhất khiến Catherine khác biệt là ở tấm lòng chân chất, ngây thơ, thuần phác của nàng, nhưng chủ yếu vẫn là ở đống tài sản kếch xù.

    Mặc Đốc tờ ngăn cấm, Morris vẫn năng lui tới nhà thăm Catherine nhân lúc bác sĩ vắng nhà, vẫn là qua sự tiếp tay của bà dì goá chồng xuẩn ngốc. Bà này đui mù đến mức không nhận ra được sự đểu cáng rành rành của Morris, hoặc không, bà ta không muốn nhận ra, trong vô thức bà ta dần dần coi anh ta như con đẻ của mình (vâng, bà ta không có con). Bà tìm mọi cách để se duyên đôi lứa, thậm chí táo tợn đến mức mách Morris nên cùng Catherine kết hôn trong bí mật, bà sẽ là chứng nhân cho tấn kịch ấy, và, biết đâu, bằng tình yêu son sắt thuỷ chung, kiểu gì ông bác sĩ chẳng nguôi giận mà chấp nhận ban phước cho đứa con gái ngu dại của mình.

    Cốt truyện diễn tiến thì các nhân vật chia thành hai phe: một bên là ông bác sĩ với sự quả quyết không xê dịch của mình, ông đã tìm đến tận bà chị ruột của Morris để hỏi thăm về anh chàng và nhận được câu trả lời đã xác nhận mối nghi ngờ của ông bấy lâu nay là chính xác, ông hài lòng và đắc thắng; bên còn lại là Morris, vẫn không thôi hào hoa phong nhã, thở ra câu nào là bay bướm câu đấy, cùng sự phù trợ của bà dì giàu trí tưởng tượng, người đã quyết định phản bội anh mình. Thế Catherine ở đâu? Cô nàng bất hạnh nằm ở giữa sợi dây thừng làm điểm mốc, còn hai bên kia ra sức giành giật cô về phía mình. Cô cố gắng giữ tròn bổn phận với cha, không đời nào cô dám bất tuân mệnh lệnh của ông, nhưng cô cũng không thể để Morris héo mòn vì chờ đợi. Cô nàng cũng đui mù hệt như bà dì mình, trong khi người đọc thì từ lâu không ai là không nhận ra bộ mặt giả trá cùng cái động cơ bẩn thỉu của anh chàng.

    Mối tình cứ dằng dai như thế cho đến khi ông bác sĩ đưa ra miếng đòn tối hậu: cắt sạch tiền thừa kế của con gái, thậm chí chấp nhận mất con, nếu Catherine dám cả gan kết hôn với tên Morris kia. Ông cực lực tìm cách để cứu con gái ra khỏi vũng lầy mà cô sắp ngập ngụa trong đấy: “Thà đau khổ vì thất tình ba tháng rồi thôi còn hơn lâm cảnh cùng cực trong cả phần đời còn lại…”

    Cuối cùng thì Morris đã thoái lui và bỏ rơi Catherine một cách tàn nhẫn. Bác sĩ tự đắc vì con mắt nhìn người chưa bao giờ sai của mình, và cuộc sống trong ngôi nhà ốp gạch ở Washington Square tiếp tục trôi qua trong phẳng lặng. Bác sĩ già đi rồi qua đời, trước khi chết vẫn một mực ngăn cản Catherine, lúc này đã là một bà cô bốn mươi tuổi, là cô không được kết hôn với Morris sau khi ông khuất núi. Nếu cô làm vậy khác nào ông thua cuộc? Đó cũng là lần đầu tiên Catherine dám cưỡng lệnh cha mình. Chuyện tái ngộ của Morris và Catherine ra sao, xin bạn đọc tự khám phá ở chương cuối…

    Giờ thì đến một vài suy tưởng của mình sau khi gấp cuốn sách lại. Câu chuyện bi kịch này cho thấy cuộc đời một người phụ nữ yếu đuối, ngây thơ, tốt nết có thể bị huỷ hoại ra sao bởi những ham muốn đớn hèn của chính những người thân cận. Morris nhắm Catherine chỉ vì tiền; bà dì, người được giao trọng trách kèm cặp nàng, thì lại cảm mến gã đốn mạt kia và bán đứng nàng; ông Đốc tờ, người bố cứng nhắc, gia trưởng, người chưa bao giờ nhìn nhận Catherine như một con người tự do với những nhu cầu và khát khao riêng, thì luôn tâm niệm mình đang cứu rỗi nàng, trong khi thực chất ông mới là người huỷ hoại nàng nhiều nhất. Ông giàu có, kiêu hãnh và hiếu thắng – ông nhất định phải khiến con gái sáng mắt ra. Và ông đã đúng, đã thắng, nhưng cái giá phải trả là gì? Mình nghĩ đến lúc chết người đàn ông kiêu mạn ấy vẫn không ngộ ra rằng ông ta đã “giết chết” con gái mình ra sao. Tuổi trẻ, cái phần sinh lực quý giá nhất đời người, đã qua đi trong mòn mỏi, trong đợi chờ vô vọng. Tình yêu đã chết, kỷ niệm đau đớn chôn vùi nơi đáy tim, và Catherine của chúng ta hoá chai sạn – trái tim của nàng đã bị phong ấn. Mà bi kịch của nàng là gì? Nàng không được phép sai.


  • Mưa xuân (truyện ngắn)

    Đọc thử

    Thật ngọt ngào khi hồi tưởng lại những gì

    Mà khi trước ta ít thèm để ý.

    Và đau đớn và u sầu đến thế –

    Chỉ hy vọng sao thêm được một mùa xuân.

    Vào cái thời sinh viên của mình, tôi từng thuê trọ ở phố S. thuộc quận Thanh Xuân, gần mặt đường Lê Trọng Tấn, chung chủ với một lão già tên Hưng, một người phốp pháp tuổi trạc lục tuần, có mái tóc muối tiêu bò liếm, thường dậy từ sớm tinh mơ, mình mặc chiếc áo khoác rằn ri không tay và ngồi gác chân lên bàn xem thời sự buổi sáng. Lão sung túc và thong dong, sống ở căn nhà ba tầng ngoài mặt đường với bà vợ trắng lốp và cô con gái bỏ chồng, còn tôi thuê của lão một phòng đơn trên tầng thượng trong cái nhà nghỉ năm tầng cổ lỗ mà lão đem chắp vá thành nhà trọ cho đám sinh viên rồi thu giá cắt cổ. Đồ đạc trong phòng ngoài chiếc giường chân cao đối diện cửa ra vào thì chỉ có một chiếc quạt trần nhám bụi, một chiếc TV đã hỏng và một chiếc điều hoà hiệu Casper còn khá mới. Phòng không có cửa sổ, duy có một khung cửa chớp sát trần là nơi ánh sáng le lói ngoài con ngõ tối tăm rọi vào; những ngày mùa đông u ám, nhiều khi tôi sực tỉnh giữa chiều mà không phân định nổi đang là ngày hay đêm…

    Thoạt tiên lão Hưng đối xử khá niềm nở, lão cùng vợ cũng xăng xái đỡ đần này kia, mấy ngày đầu còn mời tôi qua nhà dùng bữa, rồi dần dà chẳng rõ sự thể ra sao, lão bắt đầu giở thói ương gàn, hách dịch. Dường như chuyện vợ chồng lão không êm thấm cho lắm, nên lão cứ mò sang nhà trọ hoài, sau rốt còn ngủ hẳn ở phòng tầng trệt sát gian khách. Từ ấy lão biến cuộc đời tôi thành ác mộng. Mặt lúc nào cũng hằm hằm, lão chăm chăm bới bèo ra bọ và riêng về tính nết thì là con người ki bo nhất hạng. Đến giờ sau khi đã gặp đủ mọi hạng người, tôi vẫn tin trần đời hiếm có ai keo kiệt hơn lão già ấy; tiền nhà đắt đỏ đã đành, đằng này lão còn thu thêm mỗi tháng trăm nghìn tiền nước nhưng nhất quyết không cho tôi dùng chiếc máy giặt Panasonic mà lão kê ngoài sân thượng, nói rằng đó chỉ dành cho những khách trọ đến nghỉ ngắn ngày mà thôi (dù tôi thấy phần đông chỉ là mấy cặp đôi vào hú hí với nhau)… Nhưng thôi mặc lão la lối, thi thoảng lười quá tôi vẫn giặt trộm, còn thì quần áo cũng chẳng có mấy nên tự giặt tay cho nhanh. Từ ngày phát hiện ra việc lén lút ấy, lão càng căm ghét tôi hơn, còn về phần mình tôi cũng chỉ mong đến ngày hết hợp đồng để mà cuốn gói.

    Sang tháng mười một, khi những đợt khí lạnh đã bắt đầu, tôi xin được một chân hầu bàn ở một tiệm cà phê nho nhỏ theo phong cách bao cấp, nằm ở con ngõ vắt ngang phố Chùa Bộc và phố Tam Khương. Dạo ấy tôi ít ở nhà hẳn, thảng hoặc mới đụng mặt lão Hưng, vả lại tôi cũng đóng tiền đúng hạn nên lão chẳng có gì mà bắt bẻ. Cuộc sống sinh viên của tôi bắt đầu đi vào nền nếp: sáng học trên trường, chiều lên ngồi thư viện, tối đi làm thêm. Thật ra tôi vào làm cái quán cà phê vắng tanh ấy cũng chỉ vì nó gần trường của An Dung, bạn gái của tôi từ thời cấp ba, thành ra rất tiện đường cho tôi tạt qua thăm nàng mỗi ngày. An Dung trọ ở khu tập thể X trong một căn phòng rộng rãi, sáng sủa, với một khung cửa sổ lớn thường được để ngỏ mà chiều chiều nàng hay tựa tay chống cằm ngó xuống sân chơi. Cạnh cái sân chơi ấy, dưới tán một cây đa xoè rộng hay có mấy ông già ngồi chụm đầu đánh cờ tướng, cãi nhau ỏm tỏi cả lên cứ như mấy đứa con nít. Tôi cũng hay đứng đó đợi nàng luôn… Giờ hồi tưởng lại thì khi ấy nàng quả thật rất xinh xắn: nước da trắng trẻo, bên dưới tấm áo sơ mi may rộng lộ ra xương quai xanh thanh tú và cần cổ thanh thanh, trắng muốt, ngực nàng nhô cao và khi nấu ăn nàng giữ lưng thẳng đuột, mái tóc hung hung mỏng mượt loà xoà chấm vai. Lúc đứng một mình, nàng trông có vẻ một tiểu thư tỉnh lẻ, một cô gái xinh xắn, tự tin và ý thức rất rõ về sức hút của mình; nàng làm duyên làm dáng dễ sợ và nếu ai không biết nàng thì dễ nghĩ nàng là người đỏng đảnh vô cùng. Nhưng lúc ở bên cạnh tôi thì bao giờ nàng cũng là An Dung, là người con gái chân phương, khoan hoà, dễ chịu. Nàng yêu tôi dịu dàng, âu yếm, thường ngày nói năng rất nhỏ nhẹ, chỉ lâu lâu mới giở thói ngang ngạnh, bướng bỉnh; những lúc ấy nàng đã muốn gì là đòi cho bằng được, ép tôi phải phục tùng ý chí của nàng, nhưng, suy cho cùng thì con gái khi yêu ai mà không thế nhỉ…

    Một tối thứ sáu nọ, trước lúc về quê ăn Tết vài tuần, An Dung sang trọ thăm tôi. Sau khi lòng vòng quanh những con phố nhớp nhúa và ăn một bữa ăn tạm bợ, chúng tôi đi dạo ở công viên. Trời đã tối lắm, trên con đường lát đá quanh co chỉ thấy mấy ông bà già đang chầm chậm rảo bước, bao quanh những rặng cây khẳng khiu đen sẫm là một dải sương lam nhờ nhờ đục. Trong làn gió lành lạnh đưa lại mùi hương của mưa, của cỏ non mới cắt, và trên bầu trời cao thăm thẳm, lốm đốm những vì sao đứng cách xa nhau như giận hờn điều chi, còn mặt trăng chừng như rụt rè nên cứ nấp mình sau những phiến mây mỏng. Khi chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế đá cạnh bồn hoa, tiếng xe cộ ngoài phố chỉ còn như những tiếng vo ve bên tai, và nghe rõ tiếng sóng vỗ nhịp nhàng, êm ái vào mạn hồ. Cảnh hoàn toàn thơ mộng… Chúng tôi vừa ngắm mặt hồ gợn sóng lấp loáng những dải vàng rực vừa hăng say chuyện trò. An Dung tựa đầu vào vai tôi và kể những chuyện bâng quơ không đầu không cuối, cơ hồ cứ nhớ ra điều gì là nàng kể lại điều ấy. Và chẳng chốc thì tôi cũng đâm ra lắm lời nữa kia! Trong lòng cảm thấy lâng lâng, êm ái, chúng tôi toàn nói những chuyện cao xa, chuyện của sau này, và tranh nhau phác thảo những dự đồ cho tương lai hai đứa, trong khi vẫn chen chúc nhau trong những con phố tồi tàn và có khi ngày mai còn chưa biết mình sẽ ăn gì.

    Đến chín giờ thì tốp người đi bộ đã ra về hết, chỉ còn lại mấy tay câu cá là vẫn lẳng lặng ngồi im như tượng trong bóng tối mờ mờ. Vạt cỏ dưới chân chúng tôi ướt đẫm. Màn sương lãng đãng trên mặt hồ đã dày tới mức như cắt được ra thành từng mảng.

    “Sương xuống nhiều quá,” An Dung xoa xoa tay vào nhau và nói. “Này anh thử sờ váy em xem, cứ như đang mặc quần áo ẩm ấy!”

    “Ừ,” tôi trả lời, “có lẽ phải về thôi, cảm lạnh mất.”

    “Mới gặp nhau được có tý,” nàng phụng phịu bĩu môi. Tôi nhìn vào đôi mắt đen rất đẹp của nàng và thấy trong vẻ nũng nịu của nàng có gì đó thật đáng yêu, hồn nhiên như con trẻ. Trong lòng cảm thấy xao xuyến, tôi liền ôm ghì lấy nàng, hôn liên tiếp vào môi, vào má nàng, vào vành tai nàng, khiến nàng gập người vì nhột và ngả ra cười rúc rích.

    “Về phòng anh nhé?” tôi hỏi.

    Nàng bối rối chỉnh lại món tóc loăn xoăn trên trán và rụt rè gật đầu: “Vâng…”

    … Sáng hôm sau, khi tôi mở mắt thì An Dung đã dậy trước và đi chợ mua đồ ăn sáng về. Hai đứa vừa ăn vừa hí hửng vạch kế hoạch đi chơi cho buổi cuối tuần. Thế rồi từ dưới tầng ba vọng lên cái giọng khàn khàn của lão Hưng: lão gọi tôi xuống nói chuyện. Tôi xuống. Lão ngồi tựa lưng trên chiếc ghế dài, hai tay đan vào nhau đặt trên đầu gối. Lão nhìn tôi chòng chọc và gằn giọng: “Hôm qua con bé kia ngủ đây đấy à?” Tôi lúng búng: “Vâng, thưa bác…”. Liền đó lão lồng lên, hai bên lông mày như chập lại thành một con sâu róm đen ngòm và phun ra những lời văng tục bẩn thỉu vô cùng. Trước những cãi cự yếu ớt của tôi mà lão khăng khăng là xỏ lá, lão nhướng mày và đứng phắt dậy, tưởng đâu sắp lao vào tôi không chừng, rồi vừa chỉ ngón tay vào mặt tôi vừa gầm lên bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Tao đếch cần biết! Mày thuê trọ nhà tao thì mày phải ăn ở theo ý tao, tức là sao? Là mày phải ăn ở cho đàng hoàng con ạ, chứ không phải dẫn con này con kia về rồi chúng mày ngủ với nhau. Tao còn lạ gì cái lũ sinh viên bọn mày, chúng mày đi ở thuê mà làm như là ông tướng!”

    Cuối cùng, sau một hồi đôi co vô nghĩa, lão yêu cầu tôi thu dọn đồ đạc rồi “cút xéo” khỏi nhà lão ngay trong tuần này.

    An Dung ngồi bên mép giường. Trông thấy tôi mở cửa bước vào, nàng hơi nhổm dậy rồi lại buông mình xuống đầy lo lắng, môi mím chặt. Có lẽ trông vào dáng vẻ bực dọc, vào cái nhíu mày của tôi thì nàng phần nào đã đoán định ra duyên do là gì, – nàng im lặng như tủi hổ và, có lẽ còn sợ sệt cơn tam bành của tôi là khác. Sau đó nàng cứ ngồi tựa cằm vào đầu gối còn tôi thì nằm ngửa trên giường, mắt nhìn trân trân lên chiếc quạt trần cứng đờ đáng ghét. Tôi nhìn quanh quất khắp phòng, thấy đâu đâu cũng toát lên vẻ tạm bợ, trong lòng vừa thấy nhục nhã vừa căm giận cái cảnh túng thiếu của chính mình. Ngoài sân thượng, mưa gõ long tong xuống mái tôn.

    “Em nghĩ cái gì đấy?” tôi hỏi chỉ vì không chịu nỗi cảnh thinh lặng.

    Nàng không đáp ngay mà ngả đầu lên bắp tay tôi, vừa choàng tay ngang ngực tôi vừa thủ thỉ:

    “Nãy ông ấy bảo gì anh? Anh xin lỗi ông ấy rồi chứ?”

    Tôi im lặng không đáp. Nàng dịu dàng nói tiếp: “Thôi nào, có gì anh phải kể ra thì em mới giúp anh được chứ.”

    “Xin lỗi cái chó gì,” tôi đáp. “Em không biết lão khốn nạn thế nào đâu. Anh chẳng kể em nghe rồi còn: ở trọ với lão còn khổ hơn con dâu với mẹ chồng. Lão xét nét anh từ li từng tí, đến khổ! Riêng cái lần phát hiện ra anh dùng trộm máy giặt là lão đã doạ tống cổ anh khỏi đây. Mẹ kiếp! Cứ làm như báu lắm! Nếu không phải vì… vì… mà thôi kệ đi.”

    “Vì anh hết nhẵn tiền rồi đúng không?” An Dung nói. “Đáng ra hôm qua em phải về nhà mới đúng.”

    “Thôi em đừng nói lăng nhăng. Không vì chuyện này thì cũng vì chuyện khác, kiểu đếch gì lão cũng đuổi anh đi thôi. Em thấy đấy, ngoài anh ra làm gì có ai bị ngu mà đâm đầu vào cái chỗ này. Anh chán lắm rồi!”

    Trong lúc nói chuyện, vì quá bực tức mà không biết tự lúc nào tôi đã đứng dậy đi đi lại lại khắp phòng, còn An Dung thì cũng đã ngồi dậy, tiếp tục nhìn tôi với vẻ cam chịu, như thể nàng nghĩ thảy là lỗi của nàng. Tôi những muốn đập tan một cái gì đó cho hả dạ, nhưng nào có cái gì mà quăng? Có mỗi cái bàn học chỏng chơ trong góc, một cái giá quần áo bằng gỗ, rồi thì một cái va li nhét trong gầm giường. Thế rồi tôi đành ngồi xuống cạnh nàng, ngồi rất lâu, không ai nói một lời nào. Bỗng An Dung đứng phắt dậy:

    “Anh, mặc áo vào rồi xuống nhà với em đi!”

    Tôi gần như tá hoả với cái ý nghĩ hai đứa sẽ chường mặt ra trước lão chủ trọ và thành thật xin lỗi lão. Tôi khẩn khoản nói với nàng:

    “Ôi! Em bị dở hay sao thế? Anh không bao giờ xin lỗi lão đâu. Mai có phải ra ngủ đường thì anh cũng không…”

    “Nào ai bắt anh xin lỗi,” nàng ngắt lời bằng giọng quả quyết. “Thế giờ anh định ngồi đây cắn móng tay mãi à? Anh xuống dắt xe đi, mình sẽ đi tìm trọ.”

    “Nhưng… nhưng…”

    “Nhưng cái gì mà nhưng. Cứ nghe em, anh xuống dắt xe đi.”

    Trước tiên An Dung đòi tôi chở nàng về nhà. Tới trước cổng nhà, vừa gạt chân trống là nàng đã nhảy phắt xuống, lanh lẹ tra chìa vào ổ khoá rồi leo ba tầng gác về phòng mình. Tôi khẽ khép cổng, khoá xe rồi cũng chạy vù lên theo nàng. Bạn của nàng về quê, thành thử trong phòng chỉ có hai đứa tôi. Nàng cứ đi đi lại lại khắp phòng, ngón trỏ bập bập vào môi dưới, nhón chân ngó lên chạn bếp, nóc tủ quần áo, miệng lẩm bẩm: “Đâu rồi ấy nhỉ? Đâu rồi ấy nhỉ?”

    “Đâu cái gì?” tôi nôn nóng hỏi.

    “Con lợn đất của em,” nàng vừa trả lời vừa nằm sấp xuống nền đất lạnh, dòm mắt vào trong gầm giường. “À, kia kìa, anh nhoài vào lấy cho em đi!”

    Tôi chống tay cúi xuống nhòm thì quả là có một con lợn đất thật. Tôi chỉ hơi thò đầu vào là đã kéo được nó ra: một chú heo hồng với cái chóp màu xanh hình mắt ếch, toàn thân bám đầy bụi và tóc rối. “Đời thuở nào lại nhét lợn đất ở đây bao giờ!” tôi thầm nghĩ lúc đưa cho An Dung. Nàng phù miệng thổi bụi, đoạn đánh mắt ra hiệu cho tôi lùi về sau, rồi buông tay: con lợn đất vỡ tan tành. Nàng bắt đầu nhặt nhạnh từng đồng chẵn, đồng lẻ như đang gắp bằng hai đầu ngón tay, lẩm nhẩm tính thầm, đoạn phất xấp tiền vào tay tôi và nói dõng dạc: “Gần bốn triệu. Chừng này chắc đủ cho anh xoay sở tháng đầu…”

    Vẫn với vẻ sôi nổi như thế, cả ngày hôm ấy nàng cùng tôi lặn lội tới hang cùng ngõ hẻm thuộc quận Hai Bà Trưng, quyết tìm cho ra một nhà trọ ưng ý. Thoạt đầu thì tôi cũng bị lây cái vẻ cả quyết của nàng, nên tôi còn hồ hởi, nhưng khi đã xem đến phòng trọ thứ năm trong ngày mà vẫn không chốt nổi, nhiệt hứng trong tôi suy kiệt dần, tôi đâm ra cáu bẩn và thối chí. Cơn giận ban nãy đã nguôi, trong lòng chợt thấy hèn nhát, lúc đứng chờ đổ xăng tôi mới lựa lời nói với nàng: “Hay là xin lão ấy lui cho vài ngày? Chứ em xem, trời thì vừa mưa vừa rét, đường sá lầy lội, đã thế còn tắc đường. Bây giờ cũng sắp tối rồi.”

    “Không được, nhất định phải tìm cho ra!” nàng dằn giọng trong lúc tôi ngán ngẩm đẩy xe, tiếp tục cuộc hành trình vô vọng ấy. Mưa vẫn rơi liên miên. Vừa đi tôi vừa nguyền rủa số phận mình, cứ như thể tôi đây là người khổ nhất thế giới. Ngồi phía sau, An Dung tì trán vào lưng tôi, cắm cúi gọi hết số này đến số khác. Đến chín giờ thì mưa đã nặng hạt lắm rồi, bụng tôi réo lên ùng ục, răng cắn vào nhau lập cập vì rét, thì bất đồ An Dung đốp mạnh vào vai tôi.

    “Đây rồi!” nàng reo lên. “Ngay gần trường anh này. Nào anh, quay đầu đi!”

    Tôi ngán ngẩm thở dài: không hiểu nàng lấy đâu ra nhiều nghị lực tới thế. Gần chín rưỡi, chúng tôi phóng xe vào một con hẻm âm u dưới bóng đèn vàng vọt từ trên cột điện rọi xuống, đường hẹp đến mức hai xe máy ngược chiều phải nhường nhịn nhau. Mưa rây bụi. Trên đầu là mớ dây điện chằng chịt, chung quanh toát lên cái mùi khăm khẳm điển hình của một phố sinh viên nghèo. Khi người quản lý nhà, một anh chàng chừng ba mươi tuổi mặc áo phao đen, đến mở khoá cổng và dẫn chúng tôi lên xem phòng, nàng khẽ nói vào tai tôi: “Anh đừng nói gì cả, cứ để em lo!” Phòng ở bên trái cầu thang tầng hai. Ngay lúc bước lên cầu thang tối mù hôi hám, tôi đã ngửi thấy cái mùi ẩm mốc do cài then đóng cửa quanh năm suốt tháng, và có cảm tưởng nếu dậm chân hơi mạnh chút xíu thì vữa trên trần nhà sẽ rắc xuống như mưa. “Đấy”, tôi cay đắng nghĩ thầm, “đời sinh viên của mày đấy! Chỗ này thì đến chó còn chê nữa là!”

    Viên quản lý kéo thanh cửa nhôm sang bên rồi bước vào trước, lần tay quanh bờ tường tìm công tắc điện. Tôi với An Dung đứng ngoài ngưỡng cửa ngó vào. Ôi! Căn phòng bé như cái lỗ mũi, hoàn toàn không có đồ đạc gì; một vách ngăn lợp nhựa mỏng dính dán giấy in hoa chia tách với phòng bên: vốn dĩ đây là một phòng lớn được bọn chủ nhà tách ra để kiếm lợi, như phân lô bán nền. Nghe rõ mồn một tiếng nhạc từ phòng bên vọng sang. Viên quản lý nhìn tôi rào trước ngay: “À, phòng bên cạnh bạn ấy đi làm suốt ấy mà, ít khi ở nhà lắm. Chắc hôm nay mưa nên thế thôi!” Tôi chỉ biết cười trừ và nhìn sang An Dung, thấy nàng vẫn mải miết ngắm nghía căn phòng. Đoạn nàng bước vào và lại gần sát khung cửa sổ có hàng chấn song bằng gỗ, hà hơi vào ô cửa kính. Sau đó nàng sải bước quanh phòng, cứ bước gióng một như đi diễu hành rồi quay lại đứng cạnh tôi, gật gù đầu. Nàng nói giọng khôi hài: “Được đúng năm bước chân!”

    “Mình về thôi chứ em?” tôi rầu rĩ đáp lại.

    “Không anh, mình sẽ lấy phòng này!”

    “Em điên rồi!” tôi thốt lên. “Cái phòng bé như cái chuồng xí này! Không thể được!”

    “Anh be bé cái mồm thôi chứ,” nàng huých vào tay tôi và nói bằng giọng răn đe. “Anh xem xem, ít ra nó còn có cửa sổ, vả lại còn rất gần trường. Quả là nó bé thật, có khi chỉ nhỉnh hơn cái nhà tắm ở trọ em một tí tí thôi, nhưng anh yên trí đi. Em sẽ thu xếp được! Anh có tin em không nào? Thế… thế… giờ anh ở im đây đợi em. Em sẽ vào bàn với ông kia tiền nhà xem sao.”

    Trong lúc nàng trao đổi với viên quản lý, tôi nhìn quanh quất căn phòng và thấy chán nản cực độ. Thoạt đầu viên quản lý đòi hai triệu tiền phòng – lúc ấy tôi chỉ muốn tọng cho gã một đấm vào mồm. An Dung liếc mắt sang tôi như thể canh chừng, rồi nàng đon đả nói lý với gã, trình bày tình trạng cần kíp của hai đứa, rằng chúng tôi đều là sinh viên mới lên nhập học, tiền nong cũng chẳng lấy làm nhiều nhặn gì. Gã gật gù đầu ra vẻ cân nhắc nhưng vẫn chối đây đẩy rằng việc giảm tiền không nằm trong thẩm quyền của gã. Đến nước này thì chỉ còn cách kể lại toàn bộ câu chuyện ban sáng. Trong lúc nghe chuyện, gã cứ gãi gãi sống mũi, đầu gật gù, mắt nheo lại tựa hồ bán tính bán nghi. Ít ra gã cũng còn chút lương tâm: sau rốt gã đồng ý giảm tiền nhà xuống một triệu tám, với điều kiện phải ký hợp đồng ngay lập tức. Tôi nghĩ thôi thì chết đuối có bọt cũng phải cố mà vớ, nên đã đặt bút ký ngay. Liền đó gã đóng cặp xách, đưa tôi hai chiếc chìa khoá, một khoá cổng và một khoá phòng, rồi chúng tôi cùng theo gã xuống nhà…

    “Em đã bảo cứ để em lo mà,” An Dung hào hứng thốt lên khi chúng tôi ngồi đợi đồ ở quán thịt nướng. “Nhưng chúng nó đớp mới ác chứ, cái phòng bé tí hin mà đòi những hai triệu. Nếu không vì vội quá đời nào em để anh phải chui lủi trong cái xó ấy. Thôi ở tạm vậy, sau này khấm khá hơn mình tìm chỗ khác. Nhưng anh ạ, ít ra cái phòng đấy còn có cửa sổ… Anh biết không, em không thể nào sống trong một căn phòng không có cửa sổ. Em cần ánh nắng và khí trời. Không hiểu sao anh ở trong cái phòng hiện tại được, tối hút lại còn ngột ngạt như cái phòng giam… Sau này dọn sang đây rồi anh nhớ phải mở toang cửa sổ cho thoáng phòng, nghe chửa?”

    Lúc ấy, tôi vừa hổ thẹn vừa cảm động đến nỗi chỉ biết siết chặt tay nàng mà lắp bắp: “Cảm ơn em, cảm ơn em!”

    Tám giờ sáng hôm sau, An Dung xắn tay thu xếp đồ lề trên gác trong lúc tôi bàn chuyện với lão Hưng. Lão ngồi gác chân lên mặt bàn, chóp mũi đỏ gay như quả nhót, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai có tai cụp. Nhận thấy thái độ bất cần của tôi, lão bớt khệnh khạng và chuyển qua nói giọng cha chú, bắt đầu rao giảng về cách sống trên đời, than thở rằng thật ra lão cũng chẳng muốn bắt bẻ tụi sinh viên như tôi làm gì, nhưng nếu tôi vẫn quyết ra đi và muốn nhận lại đủ tiền cọc thì trước mắt hãy vận sức khiêng giúp lão cái tủ lạnh ở tầng một về nhà bên đã. Cái lão già khốn kiếp ấy, cứ mỗi lần nhờ vả gì đó thì lão tử tế và nhu mì đến lạ… Dù sao thì tôi cũng dằn lòng mà bê giúp lão, trong lòng cứ thấp thỏm nhỡ lão gây khó dễ, không hoàn tiền cọc thì sao? Sau cùng đích tay lão trả số tiền ấy cho tôi, nhưng còn soát lại từng chiếc móc treo quần áo mà lão từng cho tôi mượn hồi mới dọn vào. Thế đấy!

    Ngã tư, đèn đỏ, hẻm nhỏ, khúc quanh – tôi còn nhớ gì nữa nhỉ? À phải rồi, làm sao mà tôi quên được cái ông lão cụt chân lái xe ba gác, cái ông lão có cái chân bên phải bằng nhựa ấy, người đã lụi cụi trút hết đồ đạc của tôi ngay trước đầu hẻm như một cuộc phát mại. Tôi với An Dung lái xe theo sau, và khi đến nơi, tôi cơ hồ chỉ còn muốn chui xuống đất trước cảnh tượng bày ra trước mắt: thảy hành lý của tôi, từ chiếc vali gãy chân lăn, chăn ga gối đệm, bàn học, ghế ngồi, quần áo, thau chậu, đang nằm lổn ngổn dưới mặt đường nhầy nhụa, sát cạnh một quán cà phê nhốn nháo kẻ ra người vào. Chung quanh ồn ã tấp nập, hơi ẩm sớm mai còn đang bảng lảng, tiếng còi rú, tiếng chợ phiên, tất cả họp vào nhau tạo nên một khung cảnh huyên náo vô cùng, cái huyên náo đặc trưng của một phố Hà Nội. Từng hàng xe nối đuôi nhau, người người chen chúc, dậm chân, phả thuốc ở đèn đỏ ngã tư… Tôi chẳng còn nghe rõ tiếng An Dung kì kèo giá cả với ông thương binh nữa, mà cứ đứng đực ra đó, ngượng ngùng như thể đang trần truồng giữa thanh thiên bạch nhật, như thể cảnh nghèo khổ của tôi đang bị phô ra trước toàn thể bàn dân thiên hạ, trước hàng trăm con mắt hiếu kỳ đang chiếu vào tôi – ắt hẳn thảy đều đang ái ngại, dè bỉu, lắc đầu ngán ngẩm, hoặc tệ hơn nữa là thương hại tôi.

    “Anh, nhìn em này!” bỗng giọng lanh lảnh của An Dung cất lên.

    Tôi quay sang: với dáng điệu thản nhiên nàng ngồi xuống chiếc ghế và xoay tròn một vòng, rồi ngước lên nhìn tôi, nhoẻn miệng cười đầy vô tư, không ngại ngùng. Dòng người vẫn nườm nượp diễu qua, tiếng còi vẫn rú rít liên hồi, nhưng đúng là tôi đã chẳng còn nghe được gì nữa, chẳng còn thấy được gì nữa. Đúng ra là vào lúc ấy, vạn vật chung quanh đã mờ nhoè đi, giữa phố xá ảm đạm một màu xam xám nhờ nhờ, giữa màn mưa phùn li ti, chỉ còn thấy được tấm áo len màu đỏ thẫm, tấm áo may rộng lấm tấm nước mưa trùm lên thân hình gầy gầy, non nớt của nàng…

    “Em yêu, mọi người đang nhìn mình đấy.”

    “Anh à, ở đây không ai biết mình là ai, chỉ có hai đứa mình với nhau mà thôi…”

    Lúc ấy tim tôi dịu dàng thắt lại, trong lòng ngập tràn lòng âu yếm và thương cảm với người con gái nhỏ bé, người con gái yêu tôi hết lòng hết dạ ấy. Đáng ra lúc ấy tôi đã phải bế nàng lên rồi ôm ghì lấy nàng như thể thế giới này ngoài chúng tôi ra hoàn toàn chẳng có ai cả. Đáng ra tôi đã phải nói với nàng rằng nàng xinh đẹp thế nào, nàng quý giá với tôi ra sao, rằng vào khoảnh khắc ấy, trên thế giới này, đối với tôi không còn ai gần gũi hơn, thân quý hơn, quan trọng hơn nàng. Nhưng vì cái tính cả thẹn và hèn nhát của tuổi trẻ, tôi đã chẳng nói một lời nào. Mãi những năm về sau này, khi cuộc sống của tôi vẫn bình thản tiếp diễn mà thiếu vắng bóng dáng nàng cạnh bên, khi tôi thong thả tản bộ trên những con phố thân quen, lòng tôi chợt đâm ra buồn buồn, tôi vu vơ hồi nhớ lại buổi sáng hôm ấy, nhớ tấm áo len màu đỏ thẫm của nàng, nhớ nụ cười rạng rỡ đầy hồn nhiên và lòng tôi dâng lên một nỗi dằn vặt lẫn luyến tiếc không thể nào chịu nổi.


  • Tản mạn về việc viết

    Đọc thử

    Cho tới năm mười chín tuổi, tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ viết lách. Đương nhiên, nhờ giáo dục, tôi phần nào phát hiện ra mình có chút văn tài, và lấy làm tự đắc lắm. Giờ nhớ lại mới thấy bản thân ngây ngô nhường nào, vì viết đâu phải cứ dựa mãi vào cảm hứng, vào thiên phú cho được. Càng viết, càng thấy việc viết khó khăn và chông gai ta tưởng nhiều.

    Tác phẩm đầu tiên của tôi, nếu có thể cho đó là tác phẩm, là một bài điểm sách ngắn gọn chừng năm trăm chữ về cuốn Đất máu Sicily của Mario Puzo. Giờ cho tôi đọc lại bài viết đó hẳn tôi sẽ rất ngượng: đọc lại tác phẩm mình viết mới tháng trước đây thôi mà tôi đã thấy xấu hổ rồi. Dấu hiệu tốt đấy chứ, điều này phần nào chứng tỏ tôi vẫn đang tiến bộ từng ngày. Nói thế, chứ thực chất tôi cảm tưởng mình cứ dậm chân tại chỗ thế nào ấy; khi viết, khó tránh khỏi việc lặp lại chính mình. Riêng việc mặc lại một chiếc áo hai lần tôi đã thấy lấn cấn rồi, huống chi đây là việc sáng tác, vậy nên tôi luôn cố để mỗi tác phẩm của mình có một đời sống riêng, dù rằng bất cứ ai từng đọc quá ba tác phẩm của tôi, hẳn thấy nhiều chi tiết trùng lặp và đôi khi là những phần tự thuật thêm thắt rất dễ nhận biết nữa.

    Tôi không có ý định bàn về kỹ thuật, phương pháp, hay mánh mẹo viết lách trong bài viết này. Cái đấy tôi chẳng có nhiều, dù quả thực tôi rất quan tâm đến chúng, nhưng hễ ngồi xuống viết là tôi bị cuốn đi, chẳng nhớ được gì nữa cả. Nói tóm lại, việc viết của tôi vẫn mang tính tự phát rất nhiều. Ở đây, tôi chỉ muốn phân biệt hai khái niệm: cảm hứng và cảm xúc.

    Viết có cảm hứng giống như hổ mọc thêm cánh, đặc biệt nếu nhà văn đã thu nạp vào mình đủ mọi quan sát, chiêm nghiệm, thì lúc đó ba giờ ngồi viết ngắn như ba phút đồng hồ. Nhưng không có cảm hứng thì cạy cục mãi chẳng nên câu, nghiến răng cắn lợi, vò đầu bứt tóc, cứ viết rồi gạch đi. Có nhiều nhà văn không viết cả tháng trời, chờ đợi cảm hứng, rồi khi nó đến thì đóng cửa nhiều ngày liền, viết một mạch cho xong. Tiêu biểu như Goethe, Stendhal, v.v. Ngược lại, có những nhà văn kỷ luật hơn, ngày nào cũng ngồi vào bàn, viết cho đủ hạn mức đặt ra, hoặc đơn giản là viết cho trọn thời gian định trước, chất lượng ra sao cũng mặc. Hiển nhiên cách làm thứ hai được cho là chuyên nghiệp hơn. Và thực tế thì nếu được chọn lựa, ai cũng nên làm vậy. Ngày nào cũng nên ngồi vào bàn, viết một chút, gì cũng được, để khỏi cùn nghề. Hồi mới tập tành làm văn tôi đã từng như vậy, tức là vốn dĩ tôi đã coi việc viết rất nghiêm chỉnh. Nhưng công việc không phải ngày nào cũng xuôi, và sáng tác ấy mà, không phải chỉ diễn ra trong lúc ta ngồi xuống viết. Việc viết diễn ra cả ngày, trong lúc ta ăn, đi dạo, nói chuyện với đồng nghiệp, hay thậm chí là trong giấc ngủ. Nếu cứ đợi đến lúc ngồi xuống bàn mới bắt đầu nghĩ, thì việc viết quả thật nhọc nhằn và dễ gây thối chí lắm. Đây là bài học quan trọng nhất tôi nghiệm được trong năm nay. Từ khi phát hiện ra sự thật này, tôi bắt đầu viết chậm hơn, ấp ủ một ý đồ nhiều ngày, nhiều tuần trời, trước khi bắt tay vào viết. Nếu câu văn viết ra ngắc ngứ, mơ hồ, không đạt, thì tức là suy nghĩ của người đó còn chưa rành mạch, lộn xộn. Như vậy là phải từ bỏ thói quen vừa viết vừa nghĩ, hoặc tệ hơn là viết mà không nghĩ gì cả, lỏng tay cho cảm hứng tuôn trào, điều này thoạt chừng đem lại cảm giác phiêu diêu, nhưng ngẫm kỹ lại thì cảm giác đó nên dành cho người đọc chứ không phải người viết. Nếu ai cũng biết một nhà văn đã chật vật ra sao để viết ra một câu hoàn chỉnh, một câu bình thường, có lẽ họ sẽ có thái độ dè dặt và cẩn trọng hơn khi tiếp cận văn chương. Lewis từng bàn về điều này rồi: “Văn chương hay nên được đọc cẩn trọng như cách chúng được viết ra.”

    Cảm hứng là một khái niệm khó nắm bắt. Ở nhiều điểm, nó mang đặc tính của giống mèo: mình lại gần thì nó lảng đi, còn mình làm ngơ nó lại sán đến. Hiểu được điều này thì việc viết lách sang một trang mới rồi.

    Người ta có thể viết mà không cần cảm hứng hay không? Tôi tin là có. Phần lớn mọi người đều thế, đây cũng là niềm tin của riêng tôi. Nếu cứ ngồi xuống là có cảm hứng, là dòng thác tuôn trào, thì tôi đã bỏ quách cái nghề văn phòng tẻ ngắt đi mà chuyên tâm sáng tác rồi. Rốt cuộc phải quen dần với việc viết mười ngày thì năm ngày tắc tịt, đâm vào ngõ cụt, quẹo trái rẽ phải tìm lối ra, hoặc nhiều khi phải vứt bỏ vài bản thảo không thể làm nổi. Có thể giảm thiểu tình trạng này bằng cách, như tôi nói ở trên, ngẫm kỹ rồi hẵng viết. Và quan trọng hơn là đừng cố ép bản thân phải viết, tỷ như mỗi ngày nhất nhất “viết được một ngàn từ, hai ngàn từ”… Khi đã không muốn viết, hoặc khi thân thể rã rời, tốt nhất nên nghỉ ngơi, hoặc bất lắm thì xoay qua viết nhật ký, tản mạn mà thôi. Trí không vững thì văn viết ra cũng thõng thượt ấy mà.

    Người ta thường hay đánh đồng hai khái niệm cảm xúc và cảm hứng. Cảm hứng thì tôi vừa nói phần trên rồi. Bây giờ đến cảm xúc.

    Theo tôi, cảm xúc là điều kiện tiên quyết để viết. Khoan bàn đến chuyện ta tài năng ra sao, bút pháp thế nào, hoặc cốt truyện của ta có hấp dẫn, phong cách có độc đáo hay không. Trong trường hợp này, tôi sẽ ví việc viết với tình yêu. Người ta không thể viết, cũng như không thể yêu, mà thiếu vắng cảm xúc. Không có cảm xúc, không có xúc động; hễ nhà văn còn không xúc động với câu chuyện của mình mà đòi hỏi độc giả xúc động quả thực vô lý quá chừng. Đây là lý do tại sao có những câu chuyện tưởng chừng đơn giản, câu cú vụng về, nhưng vẫn khiến người ta thổn thức khó tả. Bởi lẽ khi đặt bút, tác giả đã viết không chỉ bằng khối óc mà còn bằng quả tim của chính mình.

    Trong Nàng Lika của Bunin có một câu nói thế này: “Mỗi sáng thức dậy, tôi đều cố chuẩn bị tâm trạng cho mình để viết.” Mấu chốt ở đây là cụm “chuẩn bị tâm trạng”. Tới đây tôi mới đồ rằng Gogol viết dạt dào cảm xúc tới vậy một phần bởi lẽ ông bẩm sinh có tài diễn xuất. Chưa bàn tới việc cảm xúc đó là chân thật hay dối trá (ai mà biết cho được?), nhưng nếu một diễn viên thực sự đắm chìm vào vai diễn, thì lúc đó y không còn diễn xuất nữa, mà y đang hoá thân. Viết cũng vậy thôi, thảy đều là hoá thân, và cái hay, cái nghệ là ở chỗ hoá thân tài tình tới mức người ta không mảy may nghi ngờ, hoàn toàn quên mất sự tồn tại của diễn viên hay tác giả. Trước mặt họ chỉ còn là một câu chuyện, một thế giới hư cấu thực hơn cả đời thực.

    Tất cả những điều trên chỉ có thể được thực hiện bằng một nhịp điệu làm việc chậm rãi, lặng lẽ, có ý thức. Đây có lẽ là điều quan trọng nhất: nhịp điệu. Văn xuôi không bị câu thúc như thơ ca, nhưng thiếu nhạc tính, thiếu âm điệu thì văn khô khan và tẻ nhạt lắm. Mọi câu văn trong một đoạn văn vô thưởng vô phạt nhìn chung đều có những móc nối vô hình, từ câu này ngoắc sang câu kia; nếu được xử lý khéo léo, người đọc gần như bị thôi miên, còn nếu xử lý vụng về, đơn giản là người ta không buồn đọc tiếp.

    T.B. Chẳng hiểu sao tôi lại viết bài này nữa. Hôm nay trời nắng, lặng gió, bầu trời không một gợn mây, nhưng không còn xanh ngắt như những hôm trước mà chuyển qua nhờ nhờ. Tay tôi lạnh cóng khi gõ những dòng này. Sớm mai và chiều muộn thường có sương giá, các bạn nên thủ sẵn một chiếc khăn choàng trong cốp xe.

    ,