• Cuộc tái ngộ

    Đọc thử

    Truyện ngắn được đăng tải trên tạp chí Văn Plus: https://vanplus.vn/cuoc-tai-ngo-vu-thanh-long/

    Mình giữ nguyên bản thảo trên blog, còn bản trên tạp chí là đã qua chỉnh sửa.

    ***

    Bảy năm trước, y từng cho rằng quyết định Nam tiến của bạn thật đáng mặt nam nhi. Minh quả thực đã tìm được luồng gió mới như đã hứa và thậm chí còn mang nó về đây. Y đã làm nên. Bạn bè cũ mến mộ y – từ sớm, họ đã trông thấy ở y những dấu hiệu tiên báo cho sự thành danh của y sau này. Giao thiệp với đủ hạng người, Sài Gòn trui rèn ở y bản tính dày dạn và hào phóng ban tặng y một điệu bộ từng trải, lõi đời. Giờ đây, y trở về cố hương với tư cách một người con thành đạt.

    Suốt mấy hôm nay ở văn phòng, Quang cố dò la xem bạn y đã làm gì trong suốt thời gian qua. Y tò mò dòng đời muôn hình vạn trạng đã rẽ Minh sang những nẻo đường nào và thành công kia do đâu mà có. Một phù thuỷ marketing! – người bạn mà y vẫn nhớ đến dưới cái lốt tiều tuỵ và nghèo túng ấy. Hồi ức về người bạn cũ cứ lởn vởn trong tâm trí y, chúng nối thành hàng đan xen, chằng chéo, diễu qua nhập nhoạng, thật tương thích với cảnh tranh tối tranh sáng mà y đang ngồi đây, lắc đầu ngán ngẩm trước hàng chồng văn bản chờ được đóng dấu.

    Không thể làm việc nổi: đầu óc của Quang Quắt chỉ hướng tới buổi hẹn chiều nay. Sở dĩ y có biệt danh ấy vì thuở trước y gầy tọp, người quắt queo như một nhánh củi khô. Thế mà nhờ rượu chè liên miên và chây lười nên chỉ vài năm trong nghề, y đã có một một cái bụng bia vào hàng hộ pháp đến mức che khuất thắt lưng, khiến bộ dạng y thành ra uể oải, khó coi. Tấm lưng phì nộn của y giờ đang ngả sâu vào ghế bành, ngất ngư xoay bên này bên kia, và nếu có thể, cái đồng hồ treo tường hẳn đã tan thành bơ dưới cái nhìn chằm chặp của y.

    Quang Quắt liếc đồng hồ, mười phút nữa tới giờ tan ca. Y đảo mắt thăm dò, tỉ mẩn sắp xếp chồng giấy tờ, chào tạm biệt cái bàn và lăm lăm tiến về quầy lễ tân. Y chào mọi người rồi rảo bước về hướng đại lộ. Y thơ thẩn lề đường, tâm trí lần về hang cùng ngõ hẻm của một thời quá vãng. Y quen Minh suốt thời phổ thông và đôi bên vẫn giữ mối giao hảo. Minh từng là một thằng lêu lổng, có lẽ. Y học hành làng nhàng nhưng luôn được thầy cô châm trước: y có một cái miệng rất khéo. Đôi mắt biết nói và một chiếc răng khểnh khiến khuôn mặt y cười lên trông khá duyên. Hoạ hoằn y mới ta thán chuyện đời hay giãi bày tâm tư của mình với kẻ khác – y kín kẽ như một gã mật thám. Người ta có thể đoán biết với cái bản lĩnh trời cho ấy, y đã tầm ngầm đợi thời cơ tới và dứt khoát tóm lấy nó như một nòng súng không khoan nhượng. Tóm lại, y thanh toán sòng phẳng với thành công của y hiện tại và y xứng đáng có nó.

    Quang Quắt bước mau hơn. Trời đông sẩm tối và lạnh dần. Vài thằng nhóc loai choai đang chơi ván trượt trên lề đường; phía trước, đài phun nước phả ra những tia vòm uốn lượn như một bó hoa nở rộ; xa hơn, ta thấy những hình người dật dờ tản mác, hoặc tụm thành nhóm đôi, ba, bốn người, chen vai thích cánh tỉ tê chuyện gì không ai hay. Hai bên đường, từng hàng xe tấp nập nối đuôi nhau, còi rú inh ỏi, nom ai cũng vội vã như thể đều đang được ngóng chờ. Quang chẳng quan tâm tới những sinh mệnh mà y đang lướt qua, mắt y dõi thẳng, cảm tưởng có một đường đạn tung ra từ tròng mắt ấy. Trong phút này đây, y thấy trong người lâng lâng, gần như say sưa, như thể y đang ở một chiều không gian khác. Mặc tưởng này sâu xa tới nỗi nó như nâng y lên, khiến y cao vời, vượt lên trên những con người bé nhỏ. Đầu óc y tự động đảo lại cuộc đời của chính mình như lật ngửa một đồng xu: y không nỡ chịu thiệt khi nghĩ về người khác quá nhiều mà không nghĩ đủ cho riêng mình.

    Thời còn trẻ, ở Quang không phải không có những cao vọng. Thiếu vắng trải nghiệm và khả năng tự dìu dắt chính mình, mộng tưởng lập nghiệp ở thủ đô trong y sớm sụp đổ như toà lâu đài cát trước cơn sóng vỗ: vốn quen nhịp sống êm đềm, chậm rãi ở thôn nhà, sau bốn năm bám trụ ở thủ đô, y ngán ngẩm việc lặn lội giữa cảnh tắc đường tới cắm cọc ở một văn phòng ngột ngạt, chịu đựng đủ thứ rầy rà, đủ điều căm ghét mà ngoài mặt vẫn phải niềm nở thân tình với đám đồng nghiệp mà y chẳng quý hơn con chó trông nhà. Như thể một sự tước đoạt! Y đánh tiếng về quê, nhờ ông bà già lo lót, nhanh chóng khăn gói về tỉnh nhỏ và cam phận làm một anh bàn giấy quèn. Quê nhà cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Sau một thập kỷ bôn ba, luồn cúi, y vẫn dậm chân ở chức Uỷ viên chỉ huy quân sự.

    Kinh qua một phần ba chặng đường, y nhìn lại và thấy cuộc đời dường như đã đối đãi không công bằng với y. Ngày trẻ, y từng tin rằng chỉ bằng ý chí, con người ta có thể làm nên mọi sự, có thể thách thức mọi nỗi khổ, đạp bằng mọi gian nan, và sau đó hẳn đường hoan lộ sẽ trải ra thênh thang bạt ngàn, y sẽ phóng băng băng trên đó như một đoàn hoả xa, và thành công kia sẽ dựng ngang hàng thẳng lối như những cột mốc. Tính nhàm nhán của công vụ nhanh chóng kéo y về thực tại: ngày lại ngày, y đóng bộ chỉnh tề như đúng chức vụ yêu cầu, loạt xoạt lật giở từng chồng giấy tờ, dập những con dấu, thời gian rảnh thì chơi cờ tướng trên mạng. Đối với y, công việc là món ăn chính, dù không phải bổ dưỡng nhất, trên bữa tiệc cuộc đời. Vì muốn giữ mối giao hảo, y ngoan ngoãn theo chân các đàn anh trong sở tới bên bàn nhậu mỗi tối thứ Sáu, uống rượu như hũ chìm và luôn lết về nhà trong tình trạng say khướt.

    Quang Quắt suy nghĩ miên man tới mức đi quá chỗ hẹn. Y rầy rà quay đầu, miệng lầm bầm chửi thề. Trời càng lúc càng tối dần, ánh đèn cao áp rọi xuống làm nổi lên màn sương huyền như một tấm chăn bàng bạc, bảng lảng giữa không trung, lơ lửng trên đầu, ẩm ướt và giá buốt. Y cài khuy áo vest và xoa xoa tay. Một đám đông dồn tụ giữa ngã tư chặn y lại. Vì tò mò nên y len lỏi qua dòng người như con thuyền rẽ làn nước; bên lề đường, y thấy một người đàn ông ăn vận nhếch nhách, mình mẩy xây xát và bê bết máu. Người dân xung quanh nháo nhào, hô hoán gọi cấp cứu; trong thời gian chờ đợi, họ đặt người bị thương ngồi tựa vào cột đèn giao thông, ngay chỗ Quang đang đứng. Y thoáng rùng mình, bất giác lùi ra sau và lảng đi. Máu khiến y sợ, đôi khi chỉ chứng kiến nhân vật trên màn ảnh lấy dao lam khứa cổ tay, hay đơn giản là chuyên mục cắt tiết gà mỗi dịp giỗ giếc thôi, y đã thấy bủn rủn, nôn nao như người bị say xe. “Ôi dào”, y tự nhủ, “sao lại vớ phải mấy thứ dớ dẩn này không biết.” Vững dạ rồi, y lại sải những bước nhanh gọn, thoăn thoắt. Y muốn tránh xa khỏi đám đông kia càng nhanh càng tốt.

    Quang đứng trước cửa quán Trạm Hồi Ức, chỉnh lại phần độn vai hơi nhăn nhúm và húng hắng thử giọng của mình. Một nỗi niềm hèn nhát khiến y trù trừ, sau cùng y quyết định bước vào. Quán rộng chia làm nhiều gian, y thấy khoan khoái đôi chút khi được bao bọc trong bầu không khí ấm cúng, tràn ngập ánh đèn vàng dìu dịu và lắng nghe tiếng nhạc du dương, tiếng cốc, ly va vào nhau lanh canh, tiếng khách khứa rì rầm. Các băng cassette, tivi đen trắng, cùng những chồng sách ngả vàng gây nên ở y một trạng thái u hoài xa xăm.

    Một cô tạp vụ trẻ măng tới hỏi y đã có bàn chưa. Y phủi tay và nói y đang tìm một người bạn. Y quét mắt một lượt, khẽ nhón chân và nhíu mày để ra vẻ nghiêm trọng, nhưng khi tầm nhìn đã trở nên thoáng đãng hơn, y nhận ra không ai quay về phía mình. Đúng lúc toan quay đầu, y thấy Minh đang ngả lưng hút thuốc ở một bàn trong góc tường, chân nọ vắt chân kia, rất kiểu cách.

    Y tiến về phía bạn một cách đường hoàng. Minh nhận ra y từ xa và cất giọng hồ hởi:

    “Ô kìa, cậu bé nhút nhát! Lâu quá rồi nhỉ.. Ê, lại đây! Gọi đồ chưa? Quán này pha chế hơi lâu, thà tao tự vào quầy pha quách cho nhanh.. Em ơi, cho anh gọi đồ với… Mày uống gì? Cà phê nhé? Tao cũng vừa mới gọi một cà phê.. Đây, em ơi, cho bạn anh một nâu đá. Thế là hai nâu đá bàn này nhé. Nhanh nhé. À, với lại, mang anh cái gạt tàn.”

    Bồi bàn mang gạt tàn tới và Minh khẽ rút một điếu thuốc, châm lửa, bặp bặp môi, nhả khói điệu nghệ. “Bạn vẫn kiên quyết không hút thuốc hả?” y hỏi khi bắt gặp cái nhìn ngơ ngác của bạn. “Tôi cũng từng nghĩ như bạn đấy. Nhưng đời quảng cáo mà bạn, nhiều áp lực lắm!” Y cười khẩy, mắt long lanh như thể thực sự tự hào vì điều đó.

    Quang nở một nụ cười mỉm rất khẽ.

    Bấy giờ, y mới có cơ hội nhìn ngắm anh bạn cũ một cách triệt để: tấm lưng phì nộn ngả vào ghế lounge, cái cổ ngắn ngủn, bè ra như cổ bò, mặt mũi đỏ phừng phực – có lẽ y vừa nốc rượu xong. Y diện một chiếc áo sơ mi nhung tằm màu nâu và quần kaki thô màu ngà, và y giắt cặp kính râm trước ngực, toát lên vẻ phong lưu kệch cỡm của lũ học đòi.

    “Tôi vừa đi nhậu với mấy thằng bạn cũ”, Minh nói, và mắt nhìn xa xăm, thở dài, “cả hội tan tác cả rồi. Bạn có hay gặp chúng nó không?”

    “Hiếm lắm.”

    “Thằng Sơn có vẻ nát. Nhà nó vỡ nợ rồi.”

    “Hôm qua vẫn thấy nó đăng ảnh đi du lịch.”

    “Tài thật. Chỉ khổ ông già nó thôi.”

    Hai người bạn đàm luận về những bạn bè thời cấp ba. Chuyện trò, ban đầu xoay quanh vụ xuống chó của nhà thằng Sơn, biệt danh “Cậu Ấm” suốt thời đi học. Quang kể bằng một giọng đều đều, hé lộ chứng tâm thần của mẹ Sơn, rằng bà này chuyên quấy phá chuyện làm ăn tại xưởng khai thác đất của bố nó bấy lâu. Ông chồng, vì muốn giữ thể diện, chấp nhận làm ngơ – nhưng ở nhà, họ chiến tranh lạnh, lướt qua nhau tại bàn ăn như người dưng trên phố. Trên Sơn còn một chị cả, chị này lấy chồng năm năm trước, một tài năng bóng đá lỡ thì vì chấn thương liên miên, rồi theo anh ta vào Nam và ở đó tới giờ.

    “Hay hớm thật!” Minh nói. “Trước tao thử gạ mà không được. Con mẹ lên Hà Nội rồi về quê ra mẽ dân thành thị, đỏng đảnh lắm.”

    “Thằng Sơn thì”, Quang lại nói, dường như không để tâm, “không biết phải nói sao nữa”, và y nhấp một ngụm cà phê, cau mày như thể đang sắp xếp các ý nghĩ, “chắc nó vẫn ngô nghê như dạo trước thôi.”

    Rồi, người này bổ sung hồi ức của người kia, đôi bạn ngồi điểm lại từng kỷ niệm: lần cả hai cùng trốn học đi đánh điện tử vào năm lớp mười một, bị thầy chủ nhiệm lôi ra khiển trách trước lớp, chân líu ríu cả vào nhau, đầu cúi gằm và mặt đỏ như gái tân; hay lớp mười hai, Quang lỡ thích người yêu cũ của chính bạn mình, khiến đôi bên lánh mặt nhau suốt một thời gian dài. Hoài niệm đẩy đưa, đôi bạn chìm vào một trạng thái say sưa, nhấm nháp dư vị u hoài của những tháng ngày xa xăm, đê mê trong một miền quá vãng, triền miên bất tận.

    “Nhưng thôi”, Minh cắt ngang dòng tâm tưởng, “nói mấy chuyện này thì đến mai cũng chẳng hết”, và hắng giọng, “công việc thế nào, ổn chứ hả?”

    “Tôi thì…” Quang đáp nhát gừng, “cũng phiên phiến thôi. Không đem so với bạn được.”

    Minh cười khẩy. “Phải chăng nó cho đây là điều hiển nhiên?” bạn y nghĩ.

    “Cái nghề quảng cáo ấy mà”, y xẵng giọng, “chẳng lấy gì làm béo bở đâu”, và y làm một động tác phẩy tay, nhăn mặt ngán ngẩm. “Thế mà”, y nói tiếp, cố hạ giọng xuống ra chiều nghiêm trọng, “nhiều bọn đâm vào đáo để. Nhưng tôi kể bạn nghe, mà tôi là người trong ngành hẳn hoi ấy nhé, là quảng cáo chỉ là nghệ thuật của sự đốt tiền mà thôi! Marketing phải xuất phát từ nhu cầu khách hàng, bạn được dạy thế phỏng? Thì.. tôi cũng được dạy thế, nhưng phần lớn khách của tôi họ chẳng có nhu cầu gì sất, họ mua vì họ cần phải giải ngân, có vậy thôi. Thằng này cắt hoa hồng nhiều hơn thì họ chốt.”

    Quang thấy chướng trước những lời lẽ rặt vẻ huênh hoang này. Vì Minh nói hăng quá nên y đành gật gù ra vẻ đồng tình, rồi, nhấp một ngụm cà phê: nhân viên đã rót quá nhiều sữa đặc.

    “Nhưng mà”, y nói, ngập ngừng như thể giọng nói của y bị cắt ra làm từng quãng, “chắc cũng kiếm đấy nhỉ? Nói tao nghe đi, có thật là… chạy một dự án… à không.. trong nghề họ gọi là gì ấy nhỉ..”

    “Chiến dịch, bạn ạ.”

    “Ừ, đúng rồi, là chiến dịch. Có thật chạy một chiến dịch đủ ăn cả năm không?”

    “Cũng hên xui thôi,” Minh thờ ơ đáp. “Như xổ số ấy mà.”

    “À…”

    Một khoảng lặng bao trùm.

    “Bạn có hay đi đây đi đó không?”

    Bất ngờ trước câu hỏi có phần xỏ xiên, Quang Quắt cố tình hỏi lại rồi đáp một cách dè dặt, như một cậu học sinh mải chơi bị thầy giáo gọi lên trả bài đầu giờ:

    “Tôi.. còn chưa ra nước ngoài lấy một lần.”

    Minh cười khẩy. “Không”, y phẩy phẩy tay, “cần chi đâu nước ngoài. Cứ trong nước thôi là được rồi, bạn ạ. Bạn nên ra ngoài nhiều hơn. Bạn bảo tôi đã đi được bao nhiêu nước? Duy nhất một đợt sang Thái năm ngày cùng công ty cũ.”

    “Nhưng ít nhất..”

    “Nhưng”, Minh ngắt lời, “chỉ tính trong nước thôi, khắp sáu ba tỉnh thành này đều in dấu chân tôi. Thú lắm bạn ạ! Mỗi nơi một vẻ, không đâu giống đâu, nó mở mang con người ta, và ta thu lại những trải nghiệm quý giá. Vẫn chưa quá già đâu, vẫn đi được.”

    “Nhà văn thì không thể thiếu vắng trải nghiệm, bạn nhỉ?” y đế thêm. “Hoặc, như ông anh trong ngành tôi hay nói, ‘Ta không thể viết nhiều hơn ta sống’.”

    Quang hận bạn vì câu nói này.

    Trên đường tới đây, y đã phác thảo một loạt những điều mình sẽ nói, đầu óc y tập dượt, lường trước những tình huống như thể y đang chuẩn bị cho một bài vấn đáp mà số phận, danh dự của y phụ thuộc cả thảy vào nó. Thế mà khi thời khắc tới thì y trở lại làm con người năm xưa. Một chú bé nhút nhát. Cay đắng thay. Sau ngần ấy năm, y vẫn loá mắt trước vầng hào quang của bạn, vẫn lép vế trước uy lực vô hình kia. Tất nhiên Minh biết y có viết lách chút đỉnh và thường trêu chọc bằng cách gọi y là “Nhà văn”. Mọi người ở sở làm cũng biết y nuôi mộng với con chữ. Trong những buổi chè chén vắng mặt y, họ đùa cợt rằng “đam mê của y đã bị triệt tiêu”, sau vài năm trong nghề, có khác nào ánh nến leo lắt rồi tắt hẳn khi hết sáp. Phút này đây, y thấy cái bộ tịch, cung cách của của người bạn cũ sao mà trưởng giả, khả ố đến thế. Y nguyền rủa bạn vì sự kênh kiệu và thoáng hối hận vì đã tới buổi hẹn này.

    “Ồ, anh bạn, sao thế?” Minh hỏi, khi thấy cái nhăn mày của y. “Tôi nói gì không phải à? Chỉ là vài lời bâng quơ thôi mà.”

    Y khua tay thay cho câu nói: “Không sao đâu”.

    “Bạn vừa lấy vợ năm ngoái nhỉ?” bạn y lại hỏi.

    “Ừ, bạn, tôi vừa đón cháu đầu lòng ba tháng trước.”

    “Trai hay gái?”

    “Một ông con.”

    “Thế thì tốt quá rồi,” Minh nhoài người ra trước, làm giọng phấn khởi, “trúng số độc đắc nhé. Congrats, my friend! Thứ lỗi cho tôi vì đã không về dự ngày lễ trọng đại của bạn! Xin chúc bạn con đàn cháu đống, rượu uống như nước lã mà vẫn khoẻ như vâm, và bảy mươi tuổi vẫn còn khiến người khác thất tình. Ha! Ha!”

    “Còn tôi”, y nói tiếp, giọng ta thán, “tôi đến phát ốm với những thúc giục từ bà mẹ yêu dấu của mình.” “Cuộc đời còn nhiều cảnh đẹp quá”, y đung đưa người, mắt nhắm như ngâm thơ, “mà tôi lại không nỡ tự giam mình.”

    Quang vẫn lặng thinh, bạn y tiếp tục đắm chìm vào bài độc thoại:

    “Người như bạn chắc không sống nổi ở miền Nam. Khí hậu trong đó oi bức lắm, nhưng đàn bà thì cũng làm ta râm ran hệt vậy! Tôi có thể kiếm cho bạn vài cô nàng, dễ như bỡn, nếu bạn có tình cờ ghé chơi. Bạn có thích hạng mẫu ảnh không? Chúng nó thanh toán thù lao trên giường cho mấy anh phó nháy. Nhưng thú thực thì tôi ưa cánh sinh viên hơn, trẻ, khoẻ và ít tốn gạo. Sao, thế gu của bạn là gì? Có còn thích những chị gái một con như dạo trước nữa không? Hề! Hề!”

    Rồi, thấy Quang ngần ngừ không đáp, mắt miệng tròn vo, mặt đỏ nhừ như gái mới lớn, y cười thích chí như vớ được mẻ.

    “Ôi ông bạn, Quang Quắt ơi, bạn vẫn là con cưng của mẹ. Vẫn ngoan ngoãn, dễ bảo hệt thuở nào. Tôi là tôi phục bạn đấy. Bạn..”

    “Bạn cũng sớm yên bề gia thất đi thôi,” Quang ngắt lời.

    “À, vậy ra bạn cũng như mọi người, khuyên tôi nên chui đầu vào rọ.”

    “Bạn sẽ tự nguyện chui đầu vào rọ thôi”, y đáp, với giọng điệu của một người đã từng trải cái cảnh ấy, “nếu bạn tìm được một cái rọ đúng kiểu.”

    “Bạn thật sự nghĩ tôi sẽ thế à?” bạn y vặc lại.

    “Chứ sao?” y xẵng giọng đáp.

    Minh gật gù và bật cười khinh khỉnh. Điều này làm Quang thấy chướng. Tranh thủ bước đà, y toan lên giọng nói tiếp, nhưng chuông điện thoại reo, bạn y nhìn màn hình, chẳng nói chẳng rằng, vội vã ra ngoài hiên bắt máy.

    “Thằng cha lỗ mãng!” Quang nghĩ.

    Minh trở lại: y có chuyện gấp, cần đi ngay. “Hẹn ông bạn dịp tới nhé”, y vồn vã nói. Đôi bạn đứng dậy và bắt tay thân tình. Từ lúc đứng lên tới lúc ra thanh toán họ còn rả rích thêm một hồi, đủ tư liệu cho một nhà văn giàu trí tưởng tượng tạo nên một thiên truyện ngắn. Hai ông khách đồ sộ tới đứng trước sảnh tính tiền, và giằng co một hồi, Minh giành phần thắng: y rút ra chiếc ví da màu đen khổ nhỏ như loại của đàn bà hay dùng, và khẽ thầm thì vào tai bạn y giá tiền của nó.

    Quang lùi ra sau, rồi, như sực nhớ ra một dự định:

    “À, tối nay bạn bận gì không? Tiện qua nhà tôi ăn một bữa luôn, tôi sẽ gọi điện cho bà xã chuẩn bị trước. Lúc về là chỉ việc đánh chén thôi.”

    “Tiếc quá, bạn hiền!” bạn y mím môi, chẹp chẹp miệng. “Sáng mai tôi phải chở bà già lên tỉnh làm chút giấy tờ.”

    “Thế tối mai?”

    “Chiều mai tôi đi rồi. Thôi nào.. hẹn bạn khi khác nhé. Anh em mình thì thiếu gì dịp. Biết đâu lần tới về, tôi lại mang tới cho bạn một cái rọ đấy!”

    “Vậy Tết vào nhà tôi ăn một bữa đi, tôi sẽ thết bạn ra trò. Chốt nhé.”

    “Được rồi, chốt.”

    “Thế là bạn nợ tôi một bữa đấy nhé,” Quang nói và vỗ nhẹ vào vai bạn khi ra trước cửa, “Tết này nhé, đừng quên đấy.”

    “Nhất trí thế”, Minh đáp, rồi khuất dạng.

    Còn lại một mình, Quang thất thểu lê bước trở lại sở làm và lấy xe ra về. Đi đường, gió thốc vào mặt y tê tái, khuấy động những uất ức bị y đè nén nãy giờ. “Ôi dào! Đáng ra mình không nên tới mới phải”, y tự nhủ, và tự trách mình là một thằng ngu.

    Y về tới nhà và vụng về tra chìa khoá vào ổ như kẻ say. Y nhìn quanh quất một hồi, cái cặp lồng sắt úp trên bàn, trong chứa một liễn rau muống xào tỏi, lưa thưa vài ngọn, vài miếng chả lụa, một bát sứ và đôi đũa đặt cạnh bên. Y không ăn ngay mà mon men tới căn phòng sát vách, mở hé cửa đủ để thấy vợ y đang ru con ngủ. Cánh cửa lâu không tra dầu phát ra những tiếng ken két, vợ y quay phắt người lại, rồi, khi nhận ra đó là y, cô giơ tay ra hiệu như muốn nói: “Hãy nhẹ nhàng!”

    Y lặng lặng rời đi, tiến về phía sofa rồi lăn vật xuống đó như vừa lĩnh một cú đòn sau gáy.

    “Một tên tuổi máu mặt trong làng quảng cáo”, y nghĩ, “cái thằng cha đấy à. Bọn nhà báo đặt cho nó một cái tên nghe mới thật kêu.” Y nhếch mép dè bỉu, cố thuyết phục bản thân rằng cái điệu bộ kệch cỡm ban nãy của Minh chỉ là mẽ ngoài, hoặc quá lắm là tác dụng phụ của đời sống bon chen nơi Sài Thành, giữa sự đua tranh khốc liệt trong làng quảng cáo. Y không tin mình thua kém. Y coi khinh cái nghề của bạn mình, rặt một lũ lừa đảo! Rồi dòng suy nghĩ tự động đưa đẩy y về công việc tẻ ngắt của mình tại sở làm. “Dù sao cũng là một việc nghiêm túc, đứng đắn” – y tự nhủ – và trong thoáng chốc y thấy mình như được nâng lên, vời vợi và cao quý hơn bạn. Dẫu sao Minh cũng chỉ là một thằng cha phóng đãng, ba mươi tuổi đầu mà vẫn ngất ngưởng như tụi sinh viên mới lớn. Cái lối ăn mặc lạ chưa! Bấy giờ, trong đầu y, từng lời đối khẩu bỗng phật ra như một cuộn băng; y thán phục mình trước những ý nghĩ xuất thần, rồi đâm bực tức vì chúng đến muộn. Bao giờ cũng thế. Y đâu phải tuýp người bặt thiệp. Y đui mù ở chốn giao tế. Vợ y vẫn thường ý nhị chê bai (cô biết tính chồng mình vốn nhạy cảm trước những lời chê bai) cái ngờ ngệch của y trong khoa ứng xử.

    Phòng khách im như tờ. Chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường rung từng tiếng ngân vang, được vách tường dội lại như bổ vào đầu, làm y váng óc. Y ngó khung ảnh viền đen thếp vàng chụp y và vợ nhân ngày cưới. Y nhổm dậy, tiến lại gần, đặt tay vào khuôn mặt người phụ nữ mà y vẫn đầu ấp tay gối hằng đêm, người phụ nữ trong bộ quần áo ngủ, đầu tóc rối bời, đang nằm cách y một vách phòng kia. Y nghĩ lại lời của Minh, “Cuộc đời còn quá nhiều cảnh đẹp, mà tôi lại không nỡ tự giam mình.” Y nghĩ lại giọng điệu châm chọc khi bạn y thốt ra câu nói đó. Quân súc sinh!

    Ngẫm lại, y thấy hôn nhân đến với mình thật tình cờ, như cách người ta rút một lá bài hay gieo một quân xúc xắc. Nhan sắc của vợ y đã tàn phai ít nhiều, lửa tình chưa kịp nhóm đã tắt lụi trước những thúc giục tới tấp về nhà riêng, xe hơi và sổ tiết kiệm. Nhưng y vẫn còn trẻ trung, tuấn tú đến thế! Y mới có ba mươi, đâu thể gọi là đã lỡ hẹn với thành công. Thực lòng mà nói, Minh thua y cả về gia cảnh lẫn học vấn, vậy thì điều gì ngăn trở y? Cái tính rụt rè của y! Cái thói an phận thủ thường trời đánh thánh vật! Y ngại sống tha hương, y gắn chặt với nó như con chó sủa nhặng khi gần chuồng. Vạn nhất có thể viết một cuốn và đem xuất bản ngay, y có thể sống như Minh, dám lắm chứ!

    Ngày còn độc thân, y thường mượn từ thư viện tỉnh về hàng lô tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, hồi ký, vân vân, để nhấm nháp giết thì giờ và đắp bồi đam mê viết lách. Mỗi tối trở về từ sở, y miệt mài sáng tác với niềm hăng say của một trí tuệ đang tự giải phóng. Vì nghèo ý và làm việc một cách tuỳ hứng, tất cả mọi tác phẩm của y mới chỉ dừng lại ở mức bản thảo. Y đem cất chúng trong hộc bàn, mỗi cuối tuần bỏ ra thêm thắt, chỉnh sửa rồi trả về chỗ cũ. Vợ y từng đọc các bản thảo này, cô khích lệ y bằng những lời lẽ nồng nhiệt nhưng không đòi thêm. “Ôi, sao mình lại nghĩ vớ vẩn thế này?” y thầm nghĩ. Cút đi, cút hết đi. Y nhìn lên một cuốn sách nằm vất vưởng ở kệ tủ và với tay lấy nó xuống: Oliver Twist. Dickens, phải rồi, Dickens là người đã kéo y vào mộng tưởng xa vời của văn chương.

    Y thử lẩm bẩm một đoạn của cuốn sách:

    “Oliver khóc váng nhà. Nếu biết mình là trẻ mồ côi, phải sống nhờ tình thương của các giám thị và các tình nguyện viên của nhà thờ giáo xứ, thì có lẽ nó sẽ còn gào to hơn nữa.”

    Thế đấy, liệu y có thể viết, có thể mỉa mai công kích qua lời văn một cách ý nhị như thiên tài kia? Chưa chi y đã thấy nản. Quá muộn rồi. Tài năng đã thui chột, nhiệt hứng đã suy tan. Bút cùn mạt kiếp. Y chỉ là một thằng hèn! Thế mà y đã nhiều lần toan bỏ việc ở ủy ban để trở lại thủ đô cơ đấy! Y hình dung mình sẽ thuê tạm lấy một căn gác xép, hết mình sáng tác và dẫu chết vì uống mười lăm ly cà phê một ngày như Balzac thì cũng thây kệ. Y sớm vỡ mộng vì nhận ra mình không có thiên khiếu trong lĩnh vực mà thiên khiếu là đầu vào tiên quyết này, và y dằn lòng chỉ giữ đam mê ở chừng mực thường thức, nhưng nó cũng trôi dạt khỏi đầu y sau nhiều năm chôn mình tại sở. Tâm hồn y ráo hoảnh, cằn cỗi, y phó mặc sự đời theo cái lối chuộng an phận thủ thường. Ở tuổi ba mươi, y thấy mình dường như đã tới ngưỡng, chững lại như con thuyền gặp tảng đá ngầm giữa đại dương cuộc đời.

    Nghĩ ngợi như thế, y cảm thấy rất buồn, một sự ủ ê khó chịu lan toả khắp tứ chi chẳng khác nào một cơn bệnh. Y nghĩ về Minh cùng điệu bộ phách lối, tự thuyết phục rằng cái diêm dúa loè loẹt kia có lẽ cốt nhằm che đậy một tâm hồn vào hạng xoàng xĩnh nhất. “Nhưng nó đã sống cho ra sống”, y cười một mình, như thể con người y giờ đang tách làm hai và phản bác lẫn nhau, “còn mình thì chỉ quẩn quanh ở cái xó này, ngoan ngoãn và vô hại (Minh hẳn sẽ nói thế) như một con cừu.” Y nhớ về một câu chuyện từng đọc thời trẻ, một chuyện tình bi đát giữa người đàn ông trung niên đã lập gia đình và cô tình nhân trẻ nhút nhát. Vào lần gặp cuối, cô gái đặt vào tay người tình một viên thuốc có thể giúp anh ta trở lại quãng thời gian độc thân trước đây và chọn lựa lại. Gã ngần ngừ trong phút chốc nhưng cô gái đã kịp bắt gặp ánh nhìn ấy. Cô ném viên thuốc ra ngoài cửa sổ và gã tự động rời đi. Y thấy nực cười vì cái cốt truyện tầm phào từng khiến y thổn thức ấy, nhưng nếu được trao một viên thuốc như vậy thì y sẽ tống thẳng vào cổ họng mà chẳng chần chừ lấy một giây. Y không còn giận Minh về những lời bóng gió sâu xa ban chiều nữa, y đâu hèn tới vậy. Trong lòng y giờ đây chỉ có một nỗi luyến tiếc dâng lên đều đều như những đợt sóng, bị chặn lại trước cuống họng nhưng rồi nó tràn ra khỏi khoé mắt y, giàn giụa, bết bát.

    “Chồng ơi? Thay cho con cái tã lót!” tiếng vợ y từ trong phòng vọng ra.


  • Đam mê

    Đọc thử

    Dạo mới nhập học lớp mười, tôi thường theo chân tụi bạn tới quân khu để đá bóng, ở đó họ có một sân cỏ rất rộng mà thỉnh thoảng lượn qua tôi vẫn thấy hàng tá anh lính người ngợm đen đúa như hòn than, mặt mày ửng đỏ đang đeo những chiếc ba lô nặng tới cả chục cân và tập diễu hành dưới ánh mặt trời chói chang tháng Sáu. Mỗi lần có một đứa con gái đạp xe ngang qua, đám lính sẽ chen vai thích cánh rồi buông những lời bay bướm, xen lẫn vài câu đùa tục tĩu đúng kiểu bọn lính tráng. Tôi hay để ý cái nhìn thèm thuồng của mấy thằng canh trại khi chúng thấy một anh chàng hoặc cô nàng ăn vận bảnh bao, tươm tất tới thăm người thân, cứ như thể chúng ước bộ đồ kia đang ướm vào mình; chúng nhớ nhung những tháng ngày tự do bay bổng bên ngoài hàng rào thép gai, có lẽ.

    Sau một vài buổi đá bóng thì tôi đâm nản, đồng đội không ai chuyền bóng cho tôi cả. Tôi bị gạt ra rìa như một kẻ ngoại tộc. Một hôm, sau khi tan học, tôi không về nhà thay đồ mà ra thẳng quân khu. Vì còn sớm nên chưa có ai đến cả, tôi lẩn thẩn dạo bước, tự cho mình cơ hội thăm thú nơi này như một du khách thực sự. Ở gần nhà gửi xe cho cán bộ, chỗ sát chuồng lợn và ao nuôi cá, có một xưởng thép dựng im lìm, trông ra một sân bóng rổ nền xi măng nhám bụi. Góc sân lẩn khuất như một gã mật thám giữa đám người mặc áo rằn ri này lập tức thu hút sự chú ý của tôi. Tôi đang ôm trên tay một quả bóng đá cũ mèm. Tôi nhìn xung quanh, vắng tanh như một nghĩa địa bỏ hoang, rồi tôi ngước nhìn hai vành rổ sắt hoen gỉ và tấm lưới rách bùi nhùi như mớ giẻ lau, phơ phất khi một cơn gió kéo qua. Tôi thử ném quả bóng vào rổ vài lần nhưng nó còn không chạm tới vành. Tôi nghĩ mình chưa bật đủ cao, vậy nên tôi lấy đà và cố gửi quả bóng vào đúng địa chỉ – nhưng tất cả mưu chước đều vô hiệu.

    Nửa giờ như thế trôi qua, tôi mệt lử và ngồi thừ ra bãi cỏ, phóng mắt ra xa nhìn đám lính đang lục tục căn hàng chỉnh lối – chúng chuẩn bị tới nhà ăn để chén cơm tối. Từ đám đông lúc nhúc đó, một anh lính tách ra rồi bước về phía tôi. Khi chỉ còn cách tôi hai mét, anh dừng lại và hỏi tôi chơi bóng rổ đã lâu chưa. Tôi đáp rằng tôi mới chơi buổi đầu tiên, và tôi ném quả bóng đá cho anh như lời anh bảo. Mọi thứ diễu qua trước mắt tôi sau đó là một màn trình diễn. Anh lính đó ít phải cao mét chín, cẳng chân dài, thẳng như một cái thước kẻ nhưng lưng hơi ngắn; sự bất cân xứng này khiến anh trông lòng khòng như một gã bù nhìn, thêm vào đó là mái tóc húi cua cùng chiếc mũi tẹt, khiến bộ dạng anh trông có vẻ nhộn lắm. Anh nói mình tới từ Quảng Ninh, ở đó bóng rổ rất thịnh hành. Anh từng chinh chiến khắp các giải cấp thành phố với đội bóng thời cấp ba, “nhưng giờ thì tan đàn xẻ nghé rồi”, anh nói bằng một giọng tiếc nuối, buồn buồn. Anh vén ống quần lên cao rồi chỉ tôi xem một vết sẹo dài cắt ngang chỗ đầu gối, đó là tàn dư của một ca phẫu thuật đứt dây chằng, cách đây ba năm. Anh không vực dậy sau tai nạn ấy, và giấc mộng cầu thủ bóng rổ chuyên nghiệp của anh dần phôi phai, tan biến khi đứng trước gánh nặng cơm áo gạo tiền.

    “Nhưng,” anh nói, “nếu chú muốn học bóng rổ thì mua một quả bóng đem tới đây.”

    Tôi ngần ngừ không đáp.

    “Ngại à?” anh nói thêm. “Cứ mua tới đây rồi anh dạy.”

    Ngày hôm sau, sau giờ tan học, tôi ra chợ và mua một quả bóng rổ cao su rẻ tiền ở cửa hàng đồ chơi. Vì họ không bơm bóng sẵn nên tôi phải tạt qua một tiệm sửa xe gần đó để xin chút hơi. Chủ tiệm, một ông già lọm khọm, nhìn tôi láo liên từ đầu tới cuối như thể tôi là một sinh vật kỳ dị nào đấy.

    “Ở đây mà cũng có người chơi bóng rổ à?” ông ta nói, và vỗ vỗ vào hai bên quả bóng để xem nó đã căng chưa.

    Tôi không đáp, dúi vào tay lão già một tờ bạc lẻ và lên xe chuồn thẳng. Tôi đạp xe ngang sân cỏ, nơi lũ bạn tôi, mình trần, đang mải miết đuổi bắt nhau. Tôi thấy trong lòng dâng lên một niềm khinh khi như thể tôi vừa phát hiện ra một vùng đất mới mà lũ người ngoài kia không hề hay biết, và tôi cảm tưởng bóng rổ là một bộ môn thời thượng, điều này chứng tỏ tôi khác biệt, nó nâng tôi lên cao hơn chúng bạn.

    Tôi cùng anh lính tập bóng năm buổi một tuần vì quân khu đóng cửa vào cuối tuần. Trên lớp, tôi cau có với chuyện học hành. Ban ngày ở lớp học và ban đêm trong phòng ngủ, quả bóng rổ chen ngang tâm trí tôi, xen vào giữa những trang sách mà tôi đang cố đọc. Tôi mường tượng những bước di uyển chuyển của anh lính kia, rồi, chìm đắm trong sự ngưỡng mộ và ghen tị đồng thời.

    Khi tôi có cơ hội tiếp xúc anh nhiều hơn, tôi biết anh là một người tận tâm và hết mực hào phóng. Tôi nghĩ anh có khiếu sư phạm, hay là bất cứ ai khi nói về đam mê của mình đều toát lên một bầu nhiệt huyết như thế? Anh thường ký nợ để đãi tôi những chai nước ngọt ở căng tin sau mỗi buổi tập. Lần cuối cùng tôi gặp anh, anh nói mình vừa bị điều chuyển sang một quân khu khác. Anh nhờ tôi mua giùm anh một chiếc điện thoại Nokia. Tôi hẹn anh sẽ đem đến cho anh vào ngày mai, và tôi định bụng sẽ tặng anh chiếc điện thoại cục gạch như một kỷ vật, một món quà lưu niệm cho tình bạn này.

    Hôm sau, tôi đến sân sớm hơn thường lệ và không thấy bóng dáng người thầy quen thuộc đâu cả. Anh thường đứng tựa một chân vào cột rổ và nhìn về phía con đường trải dài sát ao nuôi cá, khi thấy tôi thì anh sẽ rời trạng thái đó và vuốt vuốt tóc – đó là cách anh cho tôi thấy rằng anh đã sẵn sàng. Cái xưởng thép mọi hôm im lìm như tảng đá hôm ấy bỗng nhộn nhịp hẳn, vì mấy anh thợ đi ra đi vào để bê vác mấy dụng cụ chất chồng lên cái xe tải dựng bên thềm cỏ. Mười phút, rồi hai mươi phút trôi qua, tôi hướng tầm mắt về Toà chính, hình dung hai sải chân lòng khòng của anh đang rảo bước về phía tôi như mọi khi. Trái lại, người đang tiến về phía tôi là một người đàn ông trung niên trong bộ quân phục nghiêm chỉnh, mặt đỏ gay, bước đi ngật ngưỡng, gượng gạo. Bằng một giọng ngạo nghễ như nói với kẻ bề dưới, ông ta nói rằng từ nay tôi không được chơi bóng rổ ở đây nữa. Quân khu chuẩn bị san cái sân bóng rổ này đi để làm một bãi gửi xe rộng rãi hơn.

    Giây phút đó, tôi đứng thừ ra bất động, vẫn ghì chặt quả bóng rổ trong tay, và, tôi nhìn qua chỏm đầu hói của ông đại tá kia, lên cái bảng rổ lợp tôn, nó như trải dài ra trước mắt tôi và những giờ tập luyện của tôi, những cốc nước ngọt pha đá ở căng tin, khi anh lính kia vỗ vai tôi và khen rằng tôi có năng khiếu trong bóng rổ, diễu qua tâm trí tôi như một thước phim tua nhanh. Chiếc Nokia bỗng dưng nặng trịch như một hòn đá cuội trong túi quần tôi, tôi cảm tưởng nó cố ghì tôi xuống nền đất. Ông đại tá đã bỏ đi, chỉ còn lại tôi một mình. Tôi nhìn xung quanh, cái sân bóng rổ chỏng chơ như một vùng đất bỏ hoang, rồi sang bãi tập luyện; ngoài sân bóng, tụi bạn tôi vẫn đang nô đùa, tiếng chúng cười nói làm tôi thấy chướng. Tôi thất thểu nhét quả bóng trên tay vào túi đựng, toan lên xe về thẳng nhà. Khi tôi vừa gạt chân trống lên, tôi nghe rõ tiếng bước chân hớt hải chạy về phía mình. Là anh, anh sải những bước dài như thể anh đang lướt trên mặt đất.

    “Này”, anh nói, thở hổn hển, “chú đừng nói là chú quên nhé..”

    “Em không quên đâu thầy”, tôi nói, đương lúc đặt chiếc cục gạch vào bàn tay chai sần của anh. Anh đón lấy nó bằng hai bàn tay khum lại như thể sợ nó sẽ vuột mất qua các kẽ tay, mặt mày anh rạng rỡ và anh cười khì khì khiến mặt anh nhăn lại như một con khỉ. Tôi cũng bật cười. Anh cảm ơn tôi một cách rối rít, vụng về lật giở từng tờ tiền lẻ rút từ trong túi áo ra. Tôi phẩy tay, nói anh hãy giữ lấy: chiếc điện thoại này là một món quà..

    “Mai anh đi rồi,” anh nói khi chúng tôi trên đường tới căng tin. “Chắc ở đó tới lúc ra quân luôn.”

    “Anh không về đây nữa à?”

    “Vậy là lần cuối đi bên nhau..” anh hát nghêu ngao bằng chất giọng khàn khàn hết sức dở tệ.

    “Ông bụng phệ kia vừa đuổi cổ em khỏi đây.”

    “Ai cơ? À.. anh biết rồi, sếp anh đấy.”

    Ngồi bên bàn ăn nhớp nháp, bát đũa cáu bẩn của căng tin, chúng tôi trò chuyện thân tình như đôi bạn cố tri. Mười lăm phút sau, chuông báo hiệu cất lên và bạn cùng phòng tới gọi anh tập trung để đi ăn tối. Sáu giờ sáng hôm sau anh sẽ lên đường. Tôi về nhà, dặn lòng mai sẽ dậy thật sớm để qua tiễn anh nhưng cả tối hôm ấy tôi trằn trọc tới gần năm giờ sáng mới chợp mắt tí chút, rồi tôi ngủ quên luôn tiết đầu ở trường.

    Tôi không bao giờ gặp lại anh nữa. Và vì không nhớ tên anh, nên tôi chỉ gọi anh là “anh lính”.

    Những ngày sau đó, tôi cất quả bóng rổ vào xó nhà như cách người ta quẳng đi một đồ vật hết giá trị. Thi thoảng, thằng em tôi lấy quả bóng ra và hỏi tôi cách chơi thế nào. Tôi giằng bóng từ tay nó và trả về chỗ cũ theo cùng một kiểu hằn học, vậy nên nó mặc tôi ru rú trong phòng rồi bỏ đi chơi với đám bạn học. Bà nội để ý thấy sự ủ dột nơi tôi và nhiều lần úp mở về vấn đề này. Khi bà chăm bẵm khóm rau ngoài khoảnh vườn tí tẹo trước hiên nhà, tôi lôi quả bóng ra, ngồi thừ giữa sân và đập đập một cách máy móc. Tôi lấy đà bật nhảy cố chạm tới một chiếc lá trên cây. Tôi trút bỏ bộ đồng phục, thay bằng đồ thể thao rồi lại lủi vào phòng đọc sách. Chắc vì sốt ruột nên bà đã bí mật nhờ chú út mua một chiếc vành rổ và gắn nó lên tường nhà. Chú lặn lội trong vài ngày và đem về một chiếc vành rổ đặc thép, cùng dây lưới bằng xích vì chú lười thay. Tôi xin bà tiền học dôi ra một khoảng đủ để sắm một quả bóng rổ mới bằng da, một đôi giày thể thao chính hãng và vài đôi tất trắng như những minh chứng cho sự nghiêm túc của mình.

    Tới lúc ngồi viết bài này, tôi đã chơi bóng rổ được tám năm rồi. Thi thoảng, thường là sau những trận thua, lời nói của anh lính kia, khi chúng tôi nằm ngửa ra nền xi măng nhám bụi sau buổi tập, lại trở lại với tôi như một cơn gió thốc vào mặt giữa trời đêm:

    “Cố mà giữ lấy đam mê nhé.”


  • Thử việc.

    Đọc thử

    Năm ngoái, sau khi ăn Tết đã đời và chuyển nhà xong xuôi, tôi bắt tay vào rải CV. Tôi vẫn nhớ mình lục lọi đủ vị trí trống ở các nhà xuất bản danh tiếng (hoặc ít nhất chúng gây ở tôi cảm tưởng thế): Trẻ, Văn học, Hội nhà văn, v.v. nhưng những lá thư xin việc gửi đi đều không nhận lại nổi một lời hồi đáp. Mãi sau này, một người anh chỗ quen biết mới chỉ tôi hay rằng những nhà xuất bản này hiếm khi nhận tay ngang, chưa kể còn không được ai giới thiệu và, anh nói thêm bằng giọng khá đời rằng “công việc biên tập viên thì chẳng lấy gì mà thi vị đâu.”

    “Ngon nhất là vào được Kim Đồng. Trụ sở trên phố, bán đắt như tôm tươi, đã thế anh chị ở đấy toàn người giỏi. Chú ở đấy thì cứ đi theo xách dép cũng học được khối thứ, hơn là đâm đầu vào mấy công ty làng nhàng.”

    “Em thì thích Nhã Nam hơn,” tôi đáp.

    “Èo,” anh nhăn mặt, “đúng là trẻ người non dạ!”

    Bấy giờ, tôi không hiểu mong muốn được gia nhập hàng ngũ Nhã Nam có gì ngô nghê, dại dột mà anh lại phán một câu làm tôi, một người thường lấy việc suy diễn làm thú tiêu khiển, không thể không băn khoăn. Anh còn nhắn gửi thêm vài lời khuyên, hết mực thiết thực nhưng lại không áp dụng được với tôi ở thời điểm đó. Dù sao thì tôi vẫn tiếp tục săn việc, sau cùng nộp đơn vào hai vị trí trống ở 1980 Books và X. Cả hai đều là những thương hiệu khá tên tuổi và không khó để bắt gặp sản phẩm của họ tại bất cứ nhà sách nào. 1980 Books không phản hồi, có vẻ như họ đã tìm được người. Hai ngày sau, tôi tới X phỏng vấn.

    Văn phòng của X cách chỗ ở của tôi gần mười lăm cây số. Tôi vẫn nhớ chị HR đã trầm trồ ra sao trước nghị lực phi thường của tôi khi lặn lội tới phỏng vấn những hai vòng, cả hai buổi đều mưa tầm tã.

    Tôi cần phải làm rõ ở đây một điều trước khi tiếp tục câu chuyện này: trước khi tới X, tôi hoàn toàn không có, thậm chí là một mẩu, kiến thức về ngành xuất bản cũng như nghề biên tập. Tôi chỉ biết biên tập viên sẽ làm việc với các bản thảo, sẽ cùng tác giả rà soát từng chương, săm soi câu chữ như vạch lá tìm sâu nhằm cho ra thành phẩm trau chuốt, như cách một toán thợ mộc ngồi đẽo gọt cho tới khi nó trở nên tròn trịa, láng o. Tôi chọn biên tập viên vì tôi thích được công việc chỉnh sửa. Ở X, mọi chuyện không đơn giản tới vậy. Họ không gọi vị trí của tôi là Biên tập viên, mà là “Quản lý xuất bản”. Một ông chú đã ngoài bốn mươi tuổi, diện quần kaki màu be và áo sơ mi cộc tay hãng Việt Tiến, được cắt cử tới training cho tôi. Chú có nụ cười ngờ nghệch nhưng đôi mắt ánh lên vẻ linh lợi, dáng đi gật gù như những nhà bác học lập dị; bằng giọng nói rè rè như một chiếc TV nhiễu, chú kiên nhẫn giảng giải cho tôi từng bước một về quy trình xuất bản một cuốn sách: tìm kiếm bản thảo tiềm năng, xin duyệt kinh phí từ ban giám đốc, làm việc với đội ngũ dịch giả, hiệu đính, nộp lưu chiểu, v.v.

    “Thế bước chỉnh sửa bản thảo thì ở đâu hả anh?” Tôi cắt ngang.

    “À, cái đó không phải việc của mình.”

    “Vậy thì của ai anh?”

    “Mình sẽ chỉ rà soát lỗi chính tả thôi, mà thường thì bên hiệu đính họ cũng thầu vụ đó cả rồi.”

    Một buổi tối sau bữa đó vài ngày, khi đang lướt TikTok tôi bất ngờ thấy ông chú ấy đang livestream dạy toán ôn thi vào cấp ba. Hôm sau, tôi hỏi dò mọi người và từ họ tôi biết được rằng ông chú đó vốn là sinh viên ngành sư phạm Toán, làm tám năm trong ngạch như đúng thoả thuận rồi sau đó rẽ ngang sang vào X. để phụ trách chuyên mục sách giáo khoa, và gần đây nhất là mảng sách tham khảo. Hèn chi ở điệu bộ, cung cách ở ông chú ấy luôn phảng phất vài nét mà chỉ những người từng làm nhà giáo, từng công tác trong ngạch giáo dục mới có được. Tôi cho rằng tất thảy nằm ở “thiên hướng sư phạm.” Mặc dù những lời ông chú ấy chỉ bảo cho tôi không mấy bổ ích, nhưng cách ổng nói quả nhiệt tâm hiếm thấy.

    Có lẽ nên tả sơ qua về văn phòng làm việc của tôi ở X cho bạn đọc dễ hình dung. Nó là một toà nhà nằm trong lô đất tái định cư ở một phường của quận Bắc Từ Liêm, có bảy tầng; tầng dưới cùng là hầm để xe và kệ đựng giày, nhân viên phải đi dép lên trên tầng hai tới tầng sáu, là các tầng làm việc của từng phòng ban riêng. X còn có một kho sách cách văn phòng chừng năm trăm mét, tôi có ghé qua đó hai, ba lần và một lần cao hứng thậm chí còn bỏ tiền ra mua sách của công ty. Tầng bảy, tầng trên cùng, là nhà ở của sếp sòng. Anh này mới ngoài bốn mươi tuổi, dáng dấp phốp pháp và trông khá dễ gần. Anh hiếm khi ở văn phòng và thường ra ngoài từ rất sớm, như mọi ông sếp khác. Có một bác tạp vụ, ngày ngày vẫn nấu cơm cho một số chị em tầng ba, là nơi tôi ngồi làm việc, và bác kiêm luôn việc dọn dẹp, lau chùi, tất tật. Mỗi lần tổ chức tiệc hay ăn uống gì đấy họ đều mời bác đi, và Ban Văn hoá của X không tiếc lời ca ngợi bác như một tấm gương về sự mẫn cán mà mọi nhân viên đều nên học tập theo. Chung quy lại, tôi quý bác tạp vụ đó, bác thường đáp “À chào cháu!” một cách máy móc mỗi khi tôi trốn ra ngoài uống trà đá trong giờ làm, và bất kể gặp tôi bao nhiêu lần trong ngày, bác vẫn chào tôi như thể mới gặp tôi lần đầu tiên.

    Ban đầu, tôi cứ ngỡ bà tạp vụ là vợ của bác bảo vệ. Hai người họ luôn nhìn nhau bằng ánh mắt tình tứ. Hoá ra giữa họ chẳng có liên hệ nào hết ngoài việc họ cùng làm ở X. Bác bảo vệ là một người ngoài sáu mươi, bộ dạng phốp pháp, mặt mũi đỏ gay như trái phúc bồn tử và có dáng đi ngất ngưởng cứ như thể bác vừa tợp tí rượu xong. Bác kê một bộ bàn ghế gỗ ngay dưới bậc thềm, mỗi sáng bật con loa cỡ đại lên và nghêu ngao mấy bài hát mà chỉ người cùng thời bác mới thẩm nổi. Bác ăn mặc như những ông bảo vệ bình thường, quần vải suông màu navy đậm, áo sơ mi cộc tay màu trắng xanh và đội một chiếc mũ lưỡi trai như những sĩ quân hạ cấp. Bác bị gút nặng, nhưng khoái thịt chó và không có dấu hiệu gì cho thấy bác sẽ bỏ cả. Bác thường gầm lên trước miệng lưỡi tọc mạch của người đời rằng bác vẫn sẽ cứ ăn, – Tao sợ chó gì gút!, – rồi đả một bữa no nê, hôm sau bác xin vắng vì bệnh gút tái phát, đau đến phát khóc lên được. Mặc dù công việc như một bác bảo vệ, nhưng mọi người trong văn phòng đều dành một sự kính nể nhất định cho bác, không khó để nhận ra sự thật hiển hiện này, khi tất cả đều chào bác một cách hết sức nhã nhặn, niềm nở và đôi khi tôi còn thấy vài biểu hiện của sự xun xoe. Họ xun xoe như những chú cún, nhưng cũng có thể là họ quý bác thật, mà thực ra việc này cũng hợp lý khi bác là bố của sếp họ. Một ngày, bác chìa trước mắt tôi huy hiệu có tên bác kèm dòng chữ “Trưởng Ban Quản Lý Toà Nhà” bên dưới, tôi chỉ biết lặng lặng cười.

    Công việc của tôi tại X, như đã nói, là Quản lý Biên tập. Văn phòng chia làm ba gian, gồm bốn hàng dài máy tính, nhân viên ngồi đối diện nhau như trong một quán net. Thật kỳ lạ khi họ xếp Quản lý biên tập ngồi chung với hội Marketing, rồi Quay dựng, Thiết kế, Kế toán, Chăm sóc khách hàng, v.v. Tôi có đi khảo sát các tầng khác thì thấy phòng Kinh doanh riêng, phòng Kho vận riêng, phòng Hành chính Nhân sự riêng, ấy vậy mà cái phòng của tôi lại chẳng khác nào một đống hổ lốn được tập hợp lại, nhét chung vô một phòng rồi quẳng đại cho nó một cái tên: Phòng Marketing – Xuất Bản. Chị Sếp (luôn là chữ S viết hoa) vốn là dân Marketing, nhưng chị thầu luôn vị trí Trưởng phòng và theo miệng mọi người thì có vẻ chị cũng biết đôi điều về xuất bản. Chị quý tôi ra mặt vì tôi cũng từ Marketing mà ra, và đối với chị, tương lai đang mở rộng trước mắt tôi, vì bằng năng lực và tư duy nền tảng tôi thu nhận được từ trường đại học, kết hợp với những kỹ năng thực chiến trong nghề biên tập, chắc chắn tôi sẽ đem lại cho công ty những “bom tấn” – khẩu hiệu của ban giám đốc trong các buổi họp tháng. Bom tấn ở đây là những cuốn sách bán chạy. Ở X, mới năm ngoái, có một chị đã lĩnh thưởng hơn 12 tháng lương nhờ một đầu sách, và người trợ lý của chị, dù chỉ làm những công việc làng nhàng mà chị không muốn động tới, cũng hưởng sái đâu đó chừng 5, 6 tháng lương. Chị trợ lý đó hơn tôi một tuổi và mới vào X làm được chưa tròn năm. Tôi vẫn nhớ chị ngồi ngay sau lưng tôi. Nếu để chê bai X thì tôi nghĩ chị viết sẽ đầy đủ hơn tôi, nhưng tôi luôn thắc mắc tại sao chị vẫn trụ lại chốn đó. Sau khi dính mông ở cái văn phòng ngột ngạt như nhà giam lỏng ấy gần mười tiếng trời, chị phải ăn một bữa tối qua quýt rồi phóng vội tới trung tâm Tiếng Anh để dạy học hay làm trợ giảng gì đó. Hình như chị yêu một anh cũng làm ở X, ở trên tầng 5 thì phải. Họ sống chung nhà, sáng đi làm, tối về nấu ăn, thi thoảng làm tình còn thường thì sẽ lên giường lướt điện thoại vài tiếng rồi đi ngủ. Mới vài ngày trước, tôi thấy chị đăng ảnh lễ dạm ngõ: chị chuẩn bị lên xe hoa. Có vẻ như chị đã đá người bạn trai cùng tuổi kia và ngay lập tức nhận lời hẹn hò rồi về nhà cùng một ông anh 9x. Đúng là đời mà.

    Nhiệm vụ của tôi ở X, mô tả một cách đơn giản, là lên Amazon tìm những đầu sách có tiềm năng bên nước ngoài để chuyển ngữ sang tiếng Việt. Nhưng Amazon là một cái chợ, và tất cả những cuốn tôi nhắm được thì luôn về tay Alpha Books, hoặc NXB Trẻ, hoặc một ông nào đấy. Nói chung là luôn có người đến trước mình rồi, thậm chí họ còn đặt hàng trước khi cuốn sách đó được xuất bản bên nước ngoài. Đó là chưa kể tới vô vàn bất cập trong việc xét duyệt các đầu sách. Ban giám đốc đề ra một ý tưởng (cái ý tưởng này, ngu ngục và vô lý chẳng để đâu cho hết) như sau: mỗi một thành viên trong đội Xuất bản, nếu muốn được chuyển ngữ một cuốn nào đó, trước hết cần thuyết trình về cuốn sách trước mặt toàn thể mọi người trong phòng, rồi sau đó nếu được cho qua thì tiếp tục chinh chiến ải các “giám đốc” (gồm cả trưởng phòng nhân sự và trưởng phòng kho vận), những người thật sự không có lấy một mẩu kiến thức về xuất bản nhưng luôn đòi hỏi mọi cuốn sách đem đi xét duyệt đều cần cam kết số lượng bán từ trước; tổng kết lại, cảm tưởng nó gây nên nơi tôi là chốn làm việc chẳng mấy lý tưởng này sặc mùi tiền, chưa kể, họ đề cao danh tiếng của tác giả hơn những ý tưởng của ông ta. Chẳng hạn như những đầu sách của Warren Buffett. Tôi vẫn nhớ chính ông anh từng training cho tôi đã đề xuất chuyển ngữ cuốn đó. Nếu nói thẳng thắn thì cách anh trình bày nội dung cuốn sách không khác nào tụng kinh, vì anh thuyết trình bằng một giọng hết sức ề à, đều đều, như đưa nôi đánh võng cho toàn thể văn phòng. Mọi người sốt ruột chờ anh kết thúc bài độc tấu. Bất chấp màn pitching hết sức tệ hại ấy, cuốn ấy vẫn được đánh giá 9/10 và giám đốc ra chỉ thị cần phải tức tốc liên hệ để thầu về. Tôi cũng được chọn vài cuốn, phần lớn là những cuốn theo dạng “đãi cát tìm vàng”. Cực chẳng đã, vì biết trước những cuốn bán chạy bên nước ngoài đều đã bị thầu trước, tôi chỉ tập trung tìm những cuốn chứa đựng những ý tưởng độc đáo nhưng được ít người biết đến. Sau khi trải qua hai vòng kiểm duyệt, tôi sang bước tiếp theo: mua bản quyền. Đây có lẽ là công việc gây nản chí nhất trong cả quy trình, vì theo tôi hình dung, mỗi phòng xuất bản nên đặc cử một vài nhân sự chuyên phụ trách việc mua bán bản quyền. Ở X, ai muốn chuyển ngữ cuốn nào thì tự liên hệ để đặt cọc cuốn đó. Thậm chí tôi còn chưa được cấp mail công ty. (Chị HR bảo tôi rằng tôi sẽ được cấp khi lên nhân viên chính thức.) Nhưng điều tệ hại nhất là đám tác giả (phần lớn vì vẫn có một vài tác giả tỏ ra rất hoà nhã và phản hồi tôi với một tốc độ nhanh chóng bất thường, dù chỉ để thông báo rằng cuốn sách này đã bị bán cho bên khác rồi), không bao giờ trả lời những tin nhắn về bản quyền cả, dù tôi có cố liên hệ với họ qua Instagram hay Whatsapp. Tôi vẫn nhớ khi tôi đã sang làm công ty mới được bốn tháng thì một nhà xuất bản tôi từng hỏi xin bản quyền hồi ở X mới phản hồi tôi. Thường thì những bên trung gian sẽ phản hồi nhanh hơn, đơn cử như những đại diện chính thức của nhà xuất bản đó tại Việt Nam hoặc khu vực châu Á. Thật rầu rĩ khi mà một tháng thử việc trôi qua và tất cả những gì tôi làm là lên Reddit, , NYT, Guardian, v.v. để mò cho ra những đầu sách hot, rồi cất công chuẩn bị slide, thuyết trình đến lạc giọng, được duyệt và tin nhắn hỏi mua bản quyền mãi bặt vô âm tín, như thể ta vứt một chiếc rìu xuống dưới giếng và mong đợi một ông bụt nào đó sẽ hiện ra và cho ta ba lựa chọn. Mọi thứ cứ như tắc tịt, và tôi thực chất chỉ dậm chân tại chỗ ở bước một. Tôi tìm ra năm, mười, rồi mười lăm cuốn, được duyệt tất, nhưng chỉ một phần mười trong số đó sẽ trả lời mail của tôi, và luôn là “I’m sorry to inform you that…” Ôi thôi, tôi thuộc làu về sau rồi!

    Các Quản lý Xuất bản ở X bị dí KPI có lẽ chỉ sau Sales. Sales cần cam kết số bán ra, mà thường họ chỉ cam kết như một động thái chống chế thôi vì thực chất họ thiếu cơ sở để cam kết: chất lượng cuốn sách phần lớn do Quản lý Xuất bản quyết định và mức độ được biết đến của cuốn sách lại nhờ vào tài cán của đội Marketing trong việc khai thác ngân sách công ty. Vậy nên, doanh số của Sales, có thể nói, bị ảnh hưởng nặng nề bởi phòng của tôi. Anh em Sales cuối tháng có tiền mua trang sức tặng vợ, xe cộ sáng choang, gửi con đi học ở trường tư, v.v. hay không, thì tốt nhất là lạy lật từ phía QLXB và Marketing trở đi. Chắc bởi vậy mà mỗi lần tôi xuống phòng Sales, các anh chị đều rất hồ hởi đón chào, thậm chí còn xởi lởi hơn những người trong phòng tôi, nhưng cũng có thể đó chỉ là một tác dụng phụ của bán hàng. Marketing ở X thì chạy ads là chính: mỗi nhân viên sẽ được trao một ngân sách nhất định, cam kết bằng tỷ lệ chuyển đổi; nếu vượt quá ngân sách cho phép, họ sẽ bị trừ thẳng vào lương. Tương tự, QLXB sẽ buộc phải cho ra một lượng đầu sách nhất định trong tháng, nếu không đạt được sẽ bị trừ vào lương cứng. Bà chị ngồi cạnh tôi hồi ấy nói rằng thử việc là quãng thời gian chị dư dả nhất khi ở X, bởi khi đã lên chính thức thì sẽ bị áp số, mà hầu như 80% QLXB đều không đạt được. Lương họ cập bến ngày mùng 10 như một thứ đầu thừa đuôi thẹo, méo mó chỗ này chỗ kia, tháng nào cũng hụt. Họ cố gắng cày cuốc cả năm để cho ra một đến hai đầu sách bom tấn, bán cực chạy, nổ bôm bốp như bắp rang bơ, khiến bà chị CRM dẫu có nói giọng địa phương hay ngọng líu lưỡi thì đơn vẫn về ầm ầm. Nhờ những cuốn đó, các QLXB có thể gỡ gạc lại phần lớn, hoặc có khi là vượt hẳn, mức thu nhập dự tính ban đầu. QLXB ở X thường áp lực nhất, nhưng khi máy đếm tiền rung, họ cũng nhận về nhiều nhất. Có lẽ đó là mỏ neo giữ nhiều người nán lại với cái văn phòng này.

    Có hai QLXB khác vào cùng đợt với tôi. Một người cùng chuyên mục Kỹ năng sống giống tôi, một người ứng tuyển vào chuyên mục Tiếng Hàn nhưng tạm thời bị xếp sang Kỹ năng sống. Làm được một tuần thì chị ấy bỏ việc. Chị gái còn lại, hơn tôi một tuổi, là sinh viên từ Học viện Ngoại Giao ra. Chị yêu thích và am tường ngành xuất bản, từng làm cho một công ty xuất bản nhỏ trước đây, đọc nhiều sách, thích văn chương và đôi khi cao hứng còn viết lách chút đỉnh. Tôi từng đọc qua các tác phẩm của chị, chúng giống hệt văn của mấy lão người Nhật. Có qua có lại, chị cũng đọc vài bản thảo của tôi, góp ý chân thật. Không đả động gì tới việc tôi có tài năng hay không, chị chỉ khuyên tôi nên kết giao với các văn nhân, qua đó cơ hội được xuất bản của tôi sẽ cao hơn, bất kể tác phẩm của tôi không hay tới mức khiến người ta xiêu lòng. Tôi đáp rằng tôi mong mình sẽ viết ra những tác phẩm thật hay và không bao giờ xuất bản chúng, cho tới khi tôi chết đi và một người nào đó, có thể là con cái tôi chẳng hạn, tìm thấy những tờ giấy nhàu nát nhám bụi trong hộc bàn, quyết định đem chúng ra ánh sáng. Chị cười. “Chúc em luôn giữ được niềm đam mê với viết lách,” chị nói, như thể chị đang nói với bản thân chị ngày trước. Tính tới thời điểm đó, chị đã bỏ ngỏ chiếc blog “thân thương” gần một năm trời, và sau khi tốt nghiệp thì chị chỉ quẩn quanh với đời sống văn phòng, tối đến chơi với con mèo ở nhà và đi hiệu sách vào cuối tuần. “Nếu em nghỉ việc ở đây,” chị nói, “thì chị cũng nghỉ luôn. Chị về quê ăn bám bố mẹ vài tháng rồi lên kiếm việc sau.”

    Chị đã giữ lời. Một tuần sau khi tôi nghỉ việc, chị cuốn gói khỏi X. Vài tháng sau, tôi thấy chị bắt đầu viết trở lại. Có vẻ như chị đã tìm được một bến đỗ tốt hơn. Tôi không biết liệu chị có còn mong muốn được trở thành biên tập viên ở Nhã Nam nữa không. Còn tôi thì từ bỏ giấc mơ đấy rồi.

    Khi kết thúc hai tháng thử việc, tôi đã suy nghĩ rất lung về chuyện có muốn tiếp tục gắn bó với X hay không. Tôi đã dự liệu đủ mọi tình huống, rằng tôi sẽ làm gì tiếp theo, hoặc giả sử tôi ở lại X, tôi phải làm thế nào để không phải ròng rã phi mười lăm cây số chỉ để nhìn chằm chằm vào màn hình, soạn thảo những bài điểm sách tẻ nhạt, đến tối về nằm ngủ lại nhìn trân trân lên trần nhà rồi thấy cuộc đời sao vô nghĩa. Chị Sếp dường như biết trước quyết định của tôi, vậy nên khi tôi ngồi trước chị và nói tôi sẽ bỏ việc, chị chỉ cười và, lạ thay, chúc mừng tôi. Có thể chị đã hơi quá miệng khi khen ngợi tôi, nhưng đại để là chị nói với tính cách và tiềm năng của mình, tôi có thể tìm được nhiều doanh nghiệp tốt hơn. Chị thừa nhận X không phải là một chỗ làm lý tưởng, thậm chí còn cách xa hai từ “chuyên nghiệp”. Nhân viên phần lớn là người già quen an phận, người trẻ ưa nhàn rỗi, có thể giả vờ bận rộn qua ngày rộng tháng dài miễn kế toán trả lương đúng hạn.

    Dù sao thì tôi cũng cảm ơn chị vì đã chia sẻ thẳng thắn và hiểu cho tôi. Chị đứng dậy, bắt tay tôi và đi về chỗ ngồi. Ngay trong sáng hôm đó, tôi ký giấy bàn giao thiết bị và nộp đơn xin nghỉ việc. Đến giữa trưa, tôi chào mọi người rồi phi ra khỏi X như một cơn gió.

    Trời đổ mưa. Hệt như hôm đầu tiên tôi tới đây.


  • Xưởng mộc

    Đọc thử

    1.

    Ở tuổi năm mươi, ông Hải là một người đàn ông giàu có goá vợ. Vì gom được một tốp thợ lành nghề, công chuyện làm ăn tại xưởng mộc của ông rất phát đạt. Ngoại trừ sự ra đi tréo ngoe và không đúng lúc của người mẹ, hai người con của ông Hải, Quyết và Yến, sống một cuộc sống đủ đầy như những cậu ấm cô chiêu tỉnh nhỏ. Quyết được gửi theo học trường sĩ quan chính trị trên thành phố, mỗi năm về nghỉ phép dăm ba bữa. Còn cô em gái, Yến, bấy giờ vừa lấy bằng phổ thông.

    Ở sân sau của xưởng mộc có căn nhà ống như một dãy trọ sinh viên mà ta thường bắt gặp ven rìa các trường đại học. Căn nhà được chia thành bảy buồng cả thảy, ngăn cách bởi những tấm ván mỏng do đích tay ông Hải tự xây lấy. Ông thuê bà Tâm, một phụ nữ dân tộc, về đảm đương khâu nội trợ trong nhà. Bà đã ngoài năm mươi, người rất thấp, nám kín mặt và có thói quen vừa nấu ăn vừa hát lầm rầm như thể tụng kinh. Những người thợ lâu năm tại xưởng hay gọi bà là “U”, những anh thợ mới đến thì cũng bắt chước đàn anh gọi theo y thế. Thường khi bà đang dở tay một món gì đấy, mấy anh thợ trẻ nghịch ngợm liền kéo nhau tới trêu đùa.

    “Này u Tâm,” một người trong bọn nói.

    “Sao hả?” bà vặc lại bằng chất giọng lơ lớ của mình.

    “Tính u hâm hâm.”

    “Tổ sư nhà cậu,” bà vừa quát vừa khua đôi đũa trên tay, đoạn xua mấy anh thợ ra ngoài. Họ đứng thập thò bên ngưỡng cửa và chen vai nhau cười tủm tỉm. Tuy nhiên, công việc nặng nhọc gần đây khiến họ không còn thì giờ để bỡn cợt. Thi thoảng mới thấy Hưng, cậu học việc mới đến tháng trước, ghé vào nhờ u pha cho ly sấu đá. Vài lần anh còn vào bếp phụ bà. Yến, thấy vậy cũng tới phụ một tay.

    Cô là một thiếu nữ thon thả, người tầm thước, da dẻ hồng hào, mái tóc đen dài chớm vai với những lọn loăn quăn viền quanh vầng trán tròn. Cô ăn mặc ra dáng một tiểu thư tỉnh lẻ. Vẻ đẹp thanh tân của cô tựa như một đoá hoa tươi tắn lẽ ra phải được gói bọc đem trưng ở các kệ hàng ngoài phố thì lại bị đem quẳng ra giữa ngoài đất đá, giữa đám đàn ông bụi bặm và thô kệch của xưởng mộc. Cô có đôi mắt tròn, đen láy, hàng lông mi bóng mượt như vừa khóc xong, và điệu ngước mắt lên khi trò chuyện khiến cô trông như một ả hư thân mất nết. Ánh nhìn thản nhiên mà chan chứa nhục cảm ấy mau chóng trở thành đề tài trong những câu chuyện tục tĩu của đám trai lơ quanh khu phố: chúng kháo nhau xem thằng nào sẽ đả được cô nàng trước.

    Việc này hiển nhiên không qua được mắt ông Hải. Ông biết có nhiều thằng tòm tèm con gái mình, và vì bản tính cô vốn hồn nhiên, nhẹ dạ nên ông càng đâm lo. Yến vừa rời trường cấp ba, ông đã liệu trước sẽ cho cô theo ngành kế toán trên thủ đô rồi chạy chọt cho một chân trong kho bạc thị trấn, nơi ông có mối quen thân. Gần đây, ông để ý thấy sự tiến triển giữa con gái và một trong những gã học việc, và mọi trù tính trong ông bấy nay có nguy cơ tan thành mây khói.

    Ông Hải không lạ gì chuyện “yêu đương nhăng nhít.” Đối với ông, bọn trai trẻ chỉ muốn chơi bời qua đường chứ không thằng nào thực bụng tính chuyện lâu dài. Kinh nghiệm dạy ông rằng với những trường hợp thế này thì cần quán triệt ngay từ đầu để tránh những hệ luỵ tai quái về sau. Nhưng vì chưa nghĩ ra kế gì nên ông tạm bằng lòng với việc nhìn ngắm thế cục từ xa, giống như gã thợ săn có thừa sự kiên nhẫn để chờ đợi khoảnh khắc con mồi lơ là và tung ra một phát bắn đoạt mạng. Ông Hải là một người quyết đoán, và ông sẽ ra tay nhanh gọn chứ chẳng dùng dằng như cách ông xẻ gỗ đâu. Ông tự tin vào tài thu xếp của chính mình như một phán quan tin vào phán quyết của họ, và tạm thời để mặc đôi lứa tán tỉnh nhau.

    Về phía mình, anh Hưng không phải không có những bồn chồn. Ban ngày trên xưởng anh thường tránh ánh mắt của ông chủ. Hưng vừa tròn hai mươi tuổi. Anh bỏ học năm lớp chín và từng chịu quản chế một năm vì bị tình nghi dính líu tới đường dây buôn bán ma tuý. Đó là một vụ hiểu lầm tai quái, nhưng thanh danh gia đình anh, vốn chẳng vẻ vang gì cho cam, càng thêm phần thảm hại. Họ cho rằng anh cũng giống bố mình, người đã rời bỏ hai mẹ con anh từ năm anh còn cấp một và đang lang thang phương trời nào không ai biết. Anh nghĩ ông ta vào tù rồi cũng nên. Hội bạn thời niên thiếu của anh đã tan tác tứ phương, người làm ăn biệt xứ, người đăng lính, người nào khá khẩm hơn thì được nhà chạy chọt cho đi xuất khẩu lao động. Còn anh, anh chỉ biết mình cần kiếm lấy một cái nghề.

    Giờ anh mới thấy chuyện giữa anh với Yến, hay chuyện anh tới làm ở xưởng mộc, đã xảy đến một cách đầy ngẫu nhiên và huyền bí. Bốn tháng trước, một buổi sáng trên đường đến bệnh viện (dạo ấy mẹ anh bị tiền đình nên thường xuyên phải truyền nước), anh bắt gặp tấm biển to tướng đề: “TUYỂN HỌC VIỆC, BAO ĂN TRƯA” gắn trên cột cổng làng. Ngay chiều hôm ấy, anh tới hỏi xem vị trí kia còn trống không. Một cuộc hỏi đáp qua loa trong vỏn vẹn mười lăm phút đồng hồ, và anh tới nhận việc ngay sáng hôm sau.

    Chuyện giữa anh với Yến còn tình cờ hơn. Lần đầu nhìn thấy cô, anh đã như ngợp trong một trạng thái say sưa, khao khát chinh phục trong anh trỗi dậy. Cô đánh thức ở anh những nhu cầu yêu đương ngày càng trở nên khẩn thiết và sẽ chỉ nhức nhối hơn nếu không được thoả mãn. Anh giống như người mắc một chứng háu ăn kỳ lạ, luôn luôn đói bụng và cồn cào khôn nguôi. Anh tìm cách lân la làm quen cô, và sớm nhận thấy cô không đỏng đảnh như vẻ ngoài, mà thực chất rất khoái hoạt, cởi mở và dạn người. Cô cho anh hôn ngay lần đi chơi thứ ba, nuông chiều dục vọng nơi anh ở một chừng mực vừa phải, ranh giới do cô tự vạch ra, và yêu cầu anh không vượt quá hạn định này. Cô không biết điều này chỉ làm vị thế của cô trong lòng Hưng thêm vời vợi và thanh tao hơn. Những ngày mới quen, anh yêu cô bằng thứ tình yêu gần như tôn thờ.

    Một ngày Chủ Nhật, Hưng đã lén tới chơi nhân lúc ông Hải đi vắng, Yến dẫn anh lên thăm phòng. Phòng của cô rộng và được bày biện rất tươm, ngoài cửa sổ có một giàn hoa giấy to, cành thấp cành cao chen chúc nhau víu lấy bậu cửa sổ, thập thò như những con mắt hiếu kỳ. Lúc ấy cô vừa gội đầu xong, trên người chỉ vận bộ đồ satanh màu trắng thường mặc ở nhà. Đôi bàn chân trần nhỏ nhắn của cô rảo những bước khẽ khàng trên mặt thảm xám tro. Có cảm tưởng như cô đang sắm vai một hướng dẫn viên, cô bước trước anh, vừa ngắm các poster thần tượng dán chằng chịt trên tường, vừa nhiệt tình kể những giai thoại về các ban nhạc mà cô ái mộ. Hưng nghe mà chẳng hiểu gì. Chốc chốc Yến lại nhìn sang anh như muốn nói: “Này, anh thấy sao?”

    Anh im lặng ngắm nhìn cô với ánh mắt trìu mến, như cách ta nhìn một người đang say mê nói về đề tài mà người đó am hiểu và yêu thích.

    Ngoài kia, mây đen đang kéo đến. Vài phút sau, mưa rơi xuống lộp độp từng tiếng, những tia nước đua nhau quất vào ô cửa kính và để lại những vệt chảy dài. Yến tiến tới mở hé một bên cửa, chiếc chuông gió màu thiên thanh vang lên những tiếng lanh canh, dìu dịu. Âm thanh trong trẻo ấy tạm thời xua đi bầu không khí bí bách, gượng gạo và dường như giúp hai người dễ chịu hơn.

    Trên đỉnh kệ sách có một khung ảnh viền đen thếp vàng đặt chếch vào tường, Hưng tò mò lấy xuống và lặng lẽ xem.

    “Đây là mẹ em à?” Hưng nói, chỉ tay vào người phụ nữ trong ảnh.

    “À vâng,” Yến đáp một cách lơ đãng, đón lấy nó nhẹ nhàng từ tay anh rồi xoa xoa lớp viền kính như cách ta vuốt ve một con mèo. “Sau khi mẹ em mất, em tìm thấy bức ảnh này trên gác xép. Ảnh này chụp hồi bà trạc tuổi em bây giờ.”

    “Em có đôi mắt giống mẹ.”

    “Ai cũng bảo thế,” cô nói nhanh và ngay lập tức cúi mặt xuống.

    Trông cô có vẻ buồn. Họ tạm thời yên lặng trong vài phút, dường như cả hai đều theo đuổi những suy nghĩ riêng tư.

    “Hoá ra là mưa bóng mây,” Yến nói khi thấy mưa đã ngớt dần. Cô vén chiếc rèm sang một bên cho nắng hửng tràn vào, đoạn nói tiếp: “Thôi, mình xuống nhà đi, ở phòng em chán lắm.”

    Lúc Yến khẽ lướt qua người anh để đi về phía cánh cửa, Hưng đứng phắt dậy và kéo cô về phía mình, hôn tới tấp lên môi, cổ và gáy cô. Anh ngửi thấy hương thơm dìu dịu toả ra từ người con gái. Cô buông mình theo anh trong chốc lát, nhưng khi anh định làm tới, cô dứt khoát vùng dậy và lùi về sau, đoạn nói bằng giọng răn đe:

    “Thôi nào! Em không thích đâu!”

    “Xin lỗi em,” Hưng lúng búng.

    “Anh quên mất mình đã hứa những gì à?” cô nói, mắt xếch lên và nhoẻn một nụ cười cay nghiệt.

    Hưng cắn chặt răng và nhìn xuống sàn nhà.

    “Anh về đi,” cô lại nói, giọng lạnh lùng như một mệnh lệnh. “Bố em sắp về nhà rồi.”

    Và Hưng thấy mình bất lực và nhục nhã quá đỗi, thành thử anh ra về. Tối hôm đó khi lên giường ngủ, anh nằm vắt tay lên trán và nghĩ ngợi rất lung. Anh nhớ lại màn cự tuyệt lúc sáng, tự thấy mình đốn mạt và đê tiện thế nào ấy. Trông Yến lúc ấy vừa giận dữ, vừa thất vọng. Rồi anh lại hình dung ra thân thể nở nang của cô dưới lần vải mỏng, giọng điệu dặt dè, cả thẹn của một cô gái mới lớn, lần đầu biết tới hương vị tình yêu. Mặc tưởng này sâu xa đến nỗi nhấn chìm anh trong một trạng thái râm ran gần như man dại. Anh thấy ở cô gái còn biết bao e ấp thẹn thùng của một tiểu thư thôn quê thiếu từng trải, lộ rõ qua cách hôn vụng dại của cô, hay cách cô vội vàng vuốt phẳng tà váy sau những lần động chạm dù là vô tình nhất.

    “Dù sao thì em ấy cũng xinh thật, xinh quá đi mất,” Hưng nghĩ vậy và ngủ thiếp đi.

    2.

    Nhưng sau lần ấy, Hưng không hiểu do đâu mà Yến dường như dễ dãi và cởi mở hơn. Mỗi lần hẹn hò lén lút, họ sà vào lòng nhau như hai con người đã hàng năm trời không gặp. Không ít lần, Hưng phải trầm trồ thán phục trước tài nói dối không chớp mắt của người tình, và những lần vụng trộm trót lọt thế này một mặt khiến họ phấn khích hơn, mạnh dạn hơn; mặt khác, khiến họ lơ là hơn trong những lần sau.

    Hiển nhiên Hưng đã chiếm đoạt được người tình, và nhiều khi họ đẩy chuyện đi xa tới mức thản nhiên chim chuột giữa xưởng mộc. Một lần quên phòng hộ, Hưng nài nỉ người yêu. Cô lặng lẽ gật đầu. Nhưng thế là dính đòn.

    Tối hôm kia, Yến vừa gọi anh ra một góc. Cô thổn thức khóc và nói với anh rằng cô chậm kinh đã mười ba ngày. Hưng sững sờ như không tin vào tai mình, cả ngày trên xưởng trông anh bần thần như người mất hồn. Ngay tối hôm sau, anh đèo người yêu tới một phòng khám hẻo lánh, nằm sát cổng tỉnh, trông ra một cánh đồng trơ trọi hoang vu sau mùa gặt, chốc chốc lại giật mình nhìn quanh như để xem có gặp người quen không. Ở bàn lễ tân, những phụ nữ mặc đầm bầu với cái bụng chình ình khệ nệ lướt qua, lấm lét chiếu vào họ những ánh mắt hiếu kỳ, có lẽ vì cả hai cùng trẻ măng và ngơ ngác như nhau.

    Ông bác sĩ, một người trạc năm mươi tuổi, tóc mai bạc trắng, tiếp đón cặp đôi bằng cung cách máy móc và bằng dáng vẻ vội vàng như mọi y sĩ vẫn luôn ý thức cao cả về trách nhiệm và công việc mình đang làm, vốn muốn tỏ rằng mọi giây phút chậm trễ của ta đây đều mang tính chất sống còn với nhân loại khổ đau. Ông ta nhìn Hưng ráo hoảnh, lạnh lùng nhắc anh hãy đọc kỹ thủ tục phòng khám trên cái bảng treo tường, rồi ông ta lật đật trở vào, khung cửa thép sập lại sau lưng. Hưng vội vã thanh toán phí ở quầy lễ tân, lòng bồn chồn không dứt, không hay biết rằng mình cũng đang bị cuốn theo cái ý niệm của ông bác sĩ rằng sự nhanh hay chậm đều ảnh hưởng tới tính khả quan của tình hình hiện tại.

    Yến đã theo ông bác sĩ vào phòng chụp, còn lại mình Hưng ở giữa dãy hành lang tối tăm, lạnh lẽo. Những gương mặt phờ phạc lướt qua, mùi cồn và thuốc sát trùng buông tỏa gây ở anh một cảm giác rờn rợn. Anh bất giác đưa mắt lên chiếc gương nhám bụi treo tường, hốt hoảng trước bộ mặt tàn tạ và nhếch nhác của mình. Mới một ngày trôi qua mà anh cảm tưởng mình đã già đi cả chục tuổi, đã suy nghĩ nhiều bằng cả phần đời trước nay gộp lại. Hốc mắt anh sâu hoắm như hai vực thẳm, còn hai con ngươi như chực lồi ra. Anh đảo mắt một lượt, làm mặt ngán ngẩm trước những cô y tá đang hớt hải chạy qua chạy lại, những bà trung niên quê mùa một chân trống lên bệ ghế và dáo dác nhìn quanh. Ngồi thu lu một mình trên hàng ghế đầu, anh có cảm tưởng như mọi con mắt phía sau đều đang nhìn vào mình, nhưng thực chất họ, cũng như anh, đều dán mắt vào cánh cửa phòng siêu âm, chốc chốc mở ra rồi lại đóng vào. Mỗi lần ông bác sĩ già trở ra, đảo mắt một lượt, anh đều bất giác nhổm lên, chờ đợi ông ta gọi tên mình. Mười lần như một, ông ta chỉ vẫy gọi các y tá và dường như phớt lờ mọi tia nhìn đang chiếu vào mình.

    Một bà già nhà quê cạnh bên thấy Hưng nhấp nhổm không yên bèn chạm nhẹ vào tay anh và hỏi khẽ: 

    “Đưa vợ đi khám đấy hả cậu?”

    “Dạ?” anh chưng hửng mất vài giây, rồi bập bẹ nói, “À, vâng..”

    “Khiếp, trẻ măng thế này mà đã lên chức bố rồi.”

    Bà ta cố tình cất cao giọng ở hai chữ cuối, cùng lúc nghiêng mình ngoái lại như thể muốn lôi kéo những người phía sau cùng tham dự vào. Hưng ngượng ngùng, mặt mày biến sắc, hai bên thái dương rần rật như có luồng điện chạy qua. Lúc này thì tất cả đều nhìn anh thật, họ dò xét trang phục anh, mấy ông trung niên còn đứng hẳn dậy để trông anh ra sao, vài người nãy giờ lơ đãng hoặc ngủ quên, lơ mơ quay sang người bên cạnh hỏi có chuyện gì láo nháo hết lên thế. Tiếng lải nhải bàn tán không dứt, anh tức tối bỏ ra ngoài bậc thềm, đoạn châm một điếu thuốc.

    “Anh gì ơi, đọc kỹ nội quy phòng khám giúp em nhé! No smoking!” Con bé lễ tân vừa nói vừa cười bằng chất giọng sền sệt.

    Miệng lầm rầm chửi thề, Hưng vứt điếu thuốc vừa châm xuống nền đất rồi dùng mũi giày di thật mạnh. “Tài thật, mọi thứ cứ như trêu ngươi mình,” anh thầm nghĩ. “Còn con mụ già kia nữa.. rõ thật rầy rà. Đúng là lắm chuyện. Ơ.. nhưng mà bà ta vừa nói gì ấy nhỉ? À! Phải rồi, bà ta ngỡ mình là một anh chồng. Thế mà tài thật.” Anh vân vê vài sợi râu lún phún và nhận ra anh chưa bao giờ tưởng tượng Yến sẽ trở thành vợ mình cả, đối với anh điều ấy cũng bất khả như cố nhắm trúng một đích đến mà mình không thấy vậy. Về phía Yến, ắt hẳn cô cũng không dám nghĩ tới viễn cảnh ấy. Anh chưa từng dẫn cô về thăm mẹ mình lấy một lần, hổ thẹn vì cảnh nhà xoàng xĩnh, lộn xộn, nhìn đâu cũng thấy tạm bợ. Anh không tin cô sẽ chịu đựng nổi, anh tự ti về gia cảnh của bản thân trước cô gái nhà giàu này và, nhiều khi anh vẫn hay có ý nghĩ ủ dột như sau: Yến yêu anh chỉ vì cô còn non nớt, tình yêu đối với cô chỉ là tình yêu đơn thuần, hai bên thành thực yêu thương nhau là đủ. Cô được bao bọc trong nhung lụa từ nhỏ đến mức chúng đối với cô như một lẽ đương nhiên, giống như một chân lý bất di bất dịch vậy, thành thử cô chưa bao giờ tự đặt câu hỏi xem nếu thiếu chúng mình sẽ ra sao và thái độ xem nhẹ vật chất của cô đơn thuần được đặt trên sự thiếu hiểu biết và trải nghiệm chứ không phải một phẩm chất đặc trưng.

    Thế rồi, như cách ta lật ngửa một đồng xu, Hưng lại bất giác hình dung ra Yến trong bộ váy cưới trắng tinh, mình thêu kim tuyến và, phía dưới xòe rộng như một tán ô, mặt mày rạng rỡ, còn anh nom đường hoàng và đứng đắn trong bộ vest đen với khuy gài khuyết áo, đoá hồng tinh khôi giắt trên ngực. Anh hình dung cảnh cô khoác tay anh và người thợ chụp cất giọng: “Hai vợ chồng nhìn vào nhau nào.” Cô sà vào lòng anh, anh thấy mình như đủ sức chống chọi cả thế gian, vá trời lấp bể, cảm tưởng như mình được nâng lên, cao quý và vĩ đại hơn. Rồi hình ảnh ông Hải hiện ra, dáng dấp bệ vệ của mình chắn ngang như chướng ngại vật, với đôi mắt nạt nộ vằn những tia máu đỏ sọc trên con ngươi. Ông nhắc nhớ anh về vị trí hèn kém của mình và chẳng chốc la bàn thực tế cho anh biết mình đang ở đâu.

    Yến đã trở ra, không thấy anh đâu nên lê bước ra bậc thềm. Trông cô buồn rười rượi, mái tóc dài rủ xuống ngang ngực. Hưng vội vã chạy lại và hỏi:

    “Thế nào rồi? Kết quả sao?”

    Cô cúi gằm mặt, lẳng lặng chìa cho anh tập bìa giấy chứa ảnh siêu âm và tờ chẩn đoán. Anh rút ra: cái thai đã được gần năm tuần.

    Hai người thất thểu ra về. Trên đường đi, họ không nói với nhau một lời nào, chỉ có tiếng gió vi vu lướt qua như những lãng khách vô tình.

    “Làm thế nào đây anh?” Yến nói, đầu gục vào lưng người yêu, khi họ băng qua một ngôi đền hiu quạnh. Hưng cảm nhận được những giọt nước mắt của cô qua lần vải. “Bố em biết thì xong đời,” cô lại nói, “đấy còn chưa kể tới ông Quyết.”

    Hưng sực thấy lòng mình gờn gợn. Có một lần Quyết đã kéo cả toán thợ trong xưởng tới cổ vũ em gái ở trận bóng đá trên trường. Khi Yến mắc lỗi và để đội bạn ghi bàn, một thằng tóc vàng lớp trên đã nói gì đó rất khiếm nhã về cô. Quyết ở ngay cạnh liền tung một cước dữ dội vào lưng thằng kia khiến nó ngã chúi mặt về trước, và còn kịp thụi thêm một cú đấm như trời giáng vào giữa mặt trước khi bị đuổi cổ ra khỏi trường. Trận bóng tạm hoãn vì màn ẩu đả, nhưng khi hai thầy giáo lực lưỡng đẩy Quyết ra ngoài, gã vùng vằng ngoái lại và hét to rằng nếu thằng kia còn dám để mồm đi chơi xa như thế nữa thì gã sẽ dùng báng súng đập cho răng nó ngập sâu vào cuống họng.

    Hưng bỗng thấy sờ sợ thế nào ấy, nhưng tự ép mình trấn tĩnh lại. Hai người tới ngồi dưới một tán liễu bên vệ hồ. Mặt hồ trong vắt, phẳng như gương. Gió hiu hiu làm lòng người se lại.

    “Ngoan, nín nào!” Hưng nói, và nhận thấy người yêu vẫn chưa nguôi, “Nào, lặng yên để anh tính.”

    “Anh định tính kiểu gì?” Yến nói, nhìn thẳng vào mắt anh. Và, nhận thấy sắc mặt anh đổi khác trước câu hỏi này, cô nói thêm: “Anh sẽ làm gì, bắt em làm cái điều kia à?”

    “Không bao giờ.”

    “Vậy anh sẽ cưới em?” cô nói, giọng như thách thức và có vẻ xấc xược.

    “Thôi, từ từ đã, để anh xem.”

    Yến bĩu môi và thất vọng quay đi, mắt nhìn xa xăm. Vài phút sau, Hưng thấy bứt rứt thế nào ấy, anh ghé sang cô thì thầm vài lời âu yếm, hôn nhẹ vào vành tai cô, chọc cho cô vui. Anh bảo cô rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi và gương mặt cô rạng rỡ lên trong chốc lát, nhưng thực sự anh cũng không biết nó sẽ ổn hơn theo cách nào, và lời an ủi sáo rỗng kia chỉ là một liều thuốc trấn an tinh thần giả hiệu mà trước nay anh thường tự áp dụng cho chính mình đấy thôi.

    Mãi tới mười giờ tối anh mới đưa Yến về tới xưởng mộc, và trước đó không quên dặn dò người yêu hãy cố tỏ ra bình thường, còn mọi chuyện cứ để anh lo.

    3.

    Thu đang dần sang. Mấy ngày nay, tiết trời oi nồng báo hiệu một cơn mưa sắp tới. Những cơn gió nhẹ thi thoảng lướt qua khiến lòng người như chùng xuống, mênh mang một nỗi buồn vu vơ vô cớ. Những triệu chứng thai nghén ngày càng rõ rệt, Hưng và Yến thấy lòng bồn chồn như lửa đốt, suốt ngày suy đi tính lại như những tên trộm nghĩ kế tẩu thoát. Họ trao nhau những ánh mắt tuyệt vọng, thấy mình gần gũi mà cũng trơ trọi như hai kẻ hoạn nạn vô tình gặp nhau giữa sa mạc.

    Đêm lại đêm, Hưng đi đi lại lại trong căn buồng nhỏ, đầu nghĩ ngợi lung tung, suy đoán nếu A xảy ra thì B sẽ tới, nếu rơi vào C thì mình sẽ làm điều D … Sau rốt, chán ngán cảnh chui lủi như kẻ tù tội, nhận thấy không thể lần khân, trốn tránh mãi và, cảm thấy mạnh dạn khác thường – cái mạnh dạn đôi khi bộc phát ở những người rụt rè nhất, anh quyết định sẽ tới thưa chuyện với ông Hải, để làm cho ra thể thống, như người ta thường nói.

    Ấy là một buổi tối tháng Chín không trăng, sau khi ăn một bữa tối qua loa, Hưng chọn lấy bộ đồ tươm nhất trong tủ và rảo bước tới xưởng mộc.

    “Phải làm sao đây?” anh vừa nhẩm đi nhẩm lại câu nói vừa bặm môi. Anh đi dọc theo con đường quen thuộc với hai hàng cây bạch đàn bao quanh, cố gắng bước thật chậm, huýt sáo mồm.

    Cánh cổng thép xám xỉn dựng ra chình ình như muốn khiêu khích, và bờ tường gắn mảnh chai kéo dài bỗng dưng nom độc đoán và nguy hiểm đến lạ.

    “Trông phát khiếp lên được,” Hưng nguyền rủa cái bờ tường, và mắt nhanh chóng ngước lên tìm khung cửa sổ phòng Yến. Có ánh đèn vàng dìu dịu hắt ra từ đấy, anh thấy lòng nhẹ nhõm hơn chút.

    Con chó giữ nhà nghe tiếng chân sủa nhặng lên. Hưng giơ tay ra dọa nó, nhưng nó không những không sợ mà còn nhảy chồm về phía trước khiến anh bất giác gắt lên:

    “Cái con chó này, không cả nhận ra người quen nữa à?”

    “Ai đấy?” có tiếng trong nhà vọng ra.

    “Cháu Hưng đấy,” anh cất giọng, bàn tay tự động chỉnh lại trang phục của mình. “Bác mở con cái cửa.”

    Ông Hải lục tục trở ra, mở chốt bằng một thao tác lanh lẹ và ngoảnh mặt đi, lại khệ nệ bước như người bị đau lưng. Anh Hưng khẽ khép hờ cánh cổng rồi theo ngay sau. Con chó bị chủ liệng cho một dép đã thui lủi về bên chiếc cũi, khẽ rên lên những tiếng ăng ẳng tội nghiệp.

    “Thế đấy, chó với má,” ông Hải cười gằn.

    Hai người tới ngồi bên bàn pha chè ngoài hiên. Ông Hải, cố tỏ ý không biết, cất giọng mở lời trước:

    “Cậu đến giờ này có việc gì?”

    Hưng nghĩ mình cần phải thận trọng. Dưới mặt bàn, hai bàn tay bấu chặt vào nhau, anh bắt đầu bộc bạch về mối tình của mình. Bằng giọng nghèn nghẹn, anh kể với ông Hải rằng anh thực sự yêu mến và trân trọng con gái ông (anh ca ngợi các đức tính và phẩm hạnh ở người tình, thật giả lẫn lộn và nói hăng tới mức anh dần đâm tin những điều ấy).

    “Thôi ta tạm gác chuyện đó sang một bên,” ông Hải nói. “Trước hết tôi muốn nghe cậu kể về chính cậu. Thế nào? Bệnh tình mẹ cậu dạo này ra sao?”

    “Dạ, cũng tạm ổn. Dạo này bà nhận đồ về may ở nhà, thi thoảng cũng hay ốm vặt, nhưng nhìn chung là đã thuyên giảm nhiều.”

    “Mẹ cậu năm nay bao nhiêu?”

    “Dạ, bốn nhăm,” Hưng nhanh nhảu tiếp lời.

    “Trẻ thế mà đã đột quỵ rồi,” ông Hải chêm vào câu nói thêm một hơi thở dài, khiến từ ngữ như có vẻ thõng thuột và tâm tình hơn.

    “Thế thằng bố cậu thì sao? Không gửi tiền về à?”

    “Dạ vài ba tháng có gửi về đôi chút ạ,” Hưng hấp tấp đáp. Anh cố ý lảng tránh ánh mắt ông ta, sợ mình bị phát hiện vừa nói dối. Sau một khoảng lặng, anh mới dám ngước lên để dò la thái độ của ông. Ông vẫn điềm nhiên rung đùi, đầu gật gù lắc lư như đang tự ngâm nga một giai điệu trong đầu.

    “Thế hai đứa quen nhau được bao lâu rồi?”

    “Dạ, cũng hơn ba tháng rồi ạ.”

    Ông Hải ậm ừ, móc bao thuốc ra từ túi áo ngực, châm một điếu thuốc, hít một hơi sâu và phả ra một luồng khói nhạt. Đoạn ông quay sang hỏi tiếp:

    “Sắp tới cậu có dự định gì chưa?”

    “Dạ?”

    “Tôi hỏi cậu có,” ông dừng lại một chút, vân vê cằm nghĩ ngợi để lựa ra đúng từ mà mình mong muốn, “có định hướng gì cho mấy năm tới chưa? Có kiên quyết theo nghề mộc không? Hoặc nghề gì khác, một đam mê nhất định, đại loại thế, vì suy cho cùng đâu thể lông bông mãi được.”

    “À vâng,” Hưng nói một cách vấp váp, “thú thực thì … cái đó cháu cũng chưa tính đến. Hiện tại cháu vẫn đang cố gắng rèn giũa tay nghề ở xưởng. Nhưng trong tương lai cháu đã tính đến chuyện đi học cao đẳng. Một ông bác có nói sẽ xin cho cháu một chân trong công ty điện lực, vậy nên cháu sẽ theo ngành điện. Nếu bệnh tình của mẹ cháu tiến triển, cháu nhất định sẽ xin đi học.”

    Ông Hải gật gù ra vẻ trầm ngâm.

    “Được,” ông nói, “đi học được thì tốt quá. Nhưng không phải cậu bỏ học từ cấp hai hay sao? Cao đẳng họ cũng nhận à?”

    “Cháu có tìm hiểu một vài trường trên thành phố. Họ có nhận những trường hợp như của cháu. Vấn đề chỉ là tài chính thôi bác. Thú thực, cháu có dành ra được đôi chút.”

    “Vậy cũng tốt. Em Yến cũng chuẩn bị lên Hà Nội nhập học, chắc nó nói với cậu rồi phải không?”

    “Vâng.”

    “Vậy cậu tính như nào?”

    Tới đây, dòng tư tưởng trong Hưng, vừa mới đạt tới độ trôi chảy như một dòng nước, bỗng chốc bị chặn đứng bởi một con đập vững chắc. Làn nước kia quẩn quanh rồi đầy ứ lên, Hưng bỗng thấy đầu óc loạn xạ hết cả, không thể nghĩ ngợi thông suốt một điều gì. Tưởng anh không nghe rõ, ông Hải lặp lại câu hỏi. Từng câu chữ văng vẳng và dường như phải chật vật lắm mới tới được tai anh.

    “Hai đứa cũng chưa thống nhất nữa bác à,” anh đáp bằng giọng khúm núm. “Nhưng em cũng tỏ ý muốn gắn bó..”

    “Thôi Hưng này,” ông Hải ngắt lời, giọng đanh lại, nhìn thẳng vào mắt anh. “Tôi cũng nắm sơ qua về hoàn cảnh gia đình cậu. Đó là điều không may và không ai mong muốn cả. Dù sao cậu biết chủ động đến đây hôm nay thì cá nhân tôi lấy làm mừng. Ít ra cậu cũng là người tử tế, biết trên biết dưới. Tất nhiên, nhìn cách cậu làm việc, tôi phần nào đoán biết được cậu là người ra sao. Thực lòng mà nói, tôi tin cậu có thể tiến xa với nghề mộc, nếu cậu cứ chăm chỉ như bây giờ. Còn về chuyện cậu với cái Yến, tính tôi thế nào hẳn cậu đã biết, nên tôi sẽ nói thẳng. Tình cảm giữa cậu và con gái tôi sâu nặng thế nào, mối quan hệ giữa hai đứa đã tiến triển đến đâu, tôi không quan tâm. Yến vẫn nhỏ tuổi, và nó còn cả một tương lai phía trước, vậy nên nếu gọi là mến nhau theo kiểu bạn bè thì tôi không cấm cản, nhưng qua lại nghiêm túc thì tôi sẽ từ chối thẳng thừng. Tôi không đồng ý. Tôi rất có cảm tình với cậu, tôi biết cậu là một người đàng hoàng, nhưng quan điểm của tôi là vậy. Tôi là một người cha, cậu muốn yêu con gái tôi thì cũng do tôi định đoạt. Tôi nói thế này không hàm ý chê bai gì cậu, nhưng cậu nghề nghiệp chưa đâu vào đâu, còn chưa biết mình sẽ làm gì, rồi sau này còn bao nhiêu bổn phận khác. Tôi cũng từng như cậu, chẳng nhẽ tôi không hiểu? Và chưa kể, tôi thấy cậu với cái Yến có gì giống nhau đâu! Cậu cũng biết Yến là một con bé xinh xắn, hoạt bát và nắng mưa thất thường – nói chung chẳng biết thế nào mà lần! Nay nó thích cái này, mai đã thích cái kia, chắc hẳn cậu không thể ép nó phải chịu cảnh gian nan cùng cậu được. Rồi cậu cứ để ý mà xem, nó tiêu tốn bao nhiêu vào đống trang sức mỹ phẩm, dù bản thân nó còn chưa kiếm ra tiền. Tôi không có ý coi nó là dạng gái ăn hoang phá hại, tôi chưa bao giờ tiếc tiền cho con cái, nhưng quả thực cậu khó mà kham cho nổi.. Tôi nói vậy, không biết cậu còn gì chưa rõ không?”

    Hưng đáp lại bằng những câu vâng dạ máy móc. Ông Hải đã thôi nói, mắt chăm chăm nhìn anh, và bầu không khí trở nên bức bối đến nghẹt thở. Thi thoảng, anh đánh mắt lên khung cửa sổ phòng Yến, thấy cô đang tỳ tay vào bậu cửa, tóc để xõa, cặp mắt dò hỏi, sẵn sàng đón nhận điềm dữ. Anh cố gắng khiến cô hiểu được hiện trạng qua ánh mắt vô vọng, cầu cứu.

    “Thôi, cũng muộn rồi, cậu về nhà đi thôi!” ông Hải nói, toan đứng dậy để đuổi khéo.

    “Khoan đã! Cháu cần nói với bác một việc hệ trọng hơn.”

    4.

    Một tiếng sau, cánh cổng mở toang, lần này để tống tiễn Hưng ra ngoài. Con chó lại sủa lên ầm ĩ, có cảm tưởng như ẩn tàng trong những tiếng tru tréo vô tri ấy là một màn nhạo báng, đắc thắng.

    Khi bước ngang cánh cổng, Hưng không ngăn nổi mà ngoái lại nhìn vào trong nhà. Anh thấy rõ Yến vừa lấy tay gạt nước mắt vừa chạy nhào về phía anh. Anh khóc, đoạn giơ tay ra, áp đôi bàn tay nhỏ nhắn của cô lên má mình, nóng hổi và ướt át.

    Dáng người đồ sộ của ông Hải hiện ra ngay sau. Ông hồng hộc lao tới và lôi Yến xềnh xệch vào trong. Cô dùng dằng không chịu đi.

    “Em xin lỗi,” Yến gào lên. “Em xin lỗi, em xin lỗi..” cô nhắc đi nhắc lại, giọng lạc hẳn đi.

    “Cút ngay!” ông Hải quát. “Cút khỏi nhà tao! Thằng mất dạy!”

    Những tiếng rên khóc thất thanh của Yến chìm dần đi rồi tắt hẳn. Hưng lảo đảo bước đi, giàn giụa nước mắt. Trời lặng gió, màn trời tối thẫm, mịn như nhung. Anh tiếp tục bước. Lúc gần ra tới đầu khúc quanh, anh chợt va phải Quyết, người nồng nặc mùi rượu, đang vừa chạy vừa khum tay che đầu. Đôi bên ậm ừ chào nhau một cách lạnh nhạt, đoạn anh chuẩn bị lướt qua thì gã bỗng ngoảnh mặt lại, và như sực nhớ ra một dự định, nói:

    “Ê!”

    “Hử?”

    “Ông già tao vẫn ngồi ngoài hiên à?”

    Hưng gật đầu, mắt nhìn đi chỗ khác. Gã săm soi anh một lượt như ngắm nghía một chiếc áo treo trên kệ rồi tất tưởi chạy đi, huýt sáo mồm. Anh thở phào như vừa cất được một gánh nặng, nhưng vừa lúc ấy, cơn đau man dại ban nãy lại bất thần tiến tới choán lấy tâm trí anh. Đầu óc tê độn của anh bấy giờ không còn đủ lý trí để xét đoán sự việc nữa, nó cứ theo đà diễn tiến của vô thức mà thôi.

    Hưng có cảm tưởng như mỗi bước anh đi là một bước đưa anh ra xa khỏi cuộc đời Yến. Anh càng cố gạt đi cảm giác tủi hổ vừa rồi thì chúng càng sấn sổ lao đến, diễu qua nhập nhoạng, từ gần rồi lại ra xa, tất thảy như muốn giễu cợt, đay nghiến nỗi nhục trong anh. Anh vẫn còn nghe văng vẳng tiếng kêu hớt hải và dáng vẻ thảm thương ở Yến khi cô van xin ông Hải dừng lại, lúc ông dí sát đầu anh xuống nền gạch, quỳ lạy trước di ảnh tổ tiên và người vợ quá cố của ông. “Trông bà ấy hiền từ quá,” anh đã nghĩ, “có thể nếu bà còn sống, bà sẽ tán thành chuyện này.”

    Con dao phay ghì chặt trên gáy, Hưng bị ép phải lập một lời thề và, anh đã thề, đã lặp lại đúng những gì ông Hải nói cho anh nghe, trong một nỗi niềm đắng cay, tủi nhục, như thể anh đang làm một điều khuất tất và trái với lương tri của mình. Trong thoáng chốc, anh cảm tưởng như mình không hề yêu Yến mà trái lại còn căm ghét cô. Anh ghen với tình cảm cao quý mà cô dành cho bố của mình. “Bố nuôi em từ bé đến lớn, chẳng đời nào em đi trái lại ý ông đâu,” cô từng nói với anh. Đúng vậy, cô là một con bé xuẩn ngốc, thụ động, vô dụng, cô chẳng hay biết những gì anh đã hy sinh những gì. Danh dự còn quý hơn vàng, thế mà lòng tự trọng của anh vừa bị dày xéo không thương tiếc. Anh đau một nỗi đau sâu sắc, và thấy lòng mình rỗng hoác như một căn nhà trống.

    “Nhưng em ấy chẳng có lỗi gì cả, trong tất cả những chuyện này,” Hưng lại thầm nhủ, như để thanh minh cho người tình. “Có sai thì cũng sai ở mình, khi đã tìm đến đây hôm nay. Chẳng hiểu mình đã nghĩ gì nữa.” Quả vậy, anh không hiểu thế lực huyền bí nào đã xui khiến anh tới đây. Có thể anh đang cố gắng thực hiện một ý niệm sâu xa về trách nhiệm mà anh cho là đúng đắn và hợp lẽ. Trong anh diễn ra đồng thời hai thái độ: một mặt, anh thấy nhẹ nhõm hơn nhờ chuyện vừa rồi, giống như một người một người vừa nhận kết quả chẩn đoán từ bác sĩ, cho biết anh ta mắc một căn bệnh nan y không thể chữa khỏi, và sẽ sớm qua đời. Anh ta vẫn đau đớn, nhưng ít ra còn đỡ hơn cảm giác thấp thỏm trong những ngày chờ đợi tin báo, đầu óc quay như chong chóng vì không biết số phận bản thân sẽ ra sao. Mặt khác, Hưng cảm giác như mình vừa đưa ra một quyết định sai lầm, anh không khỏi nghĩ rằng sự thể vốn dĩ đã sai ngay từ đầu, từ việc anh xin vào làm ở xưởng mộc, cho tới việc anh lân la làm quen con gái ông chủ mình. Giống như mọi người trẻ khi đứng trước hoạn nạn, phản ứng đầu tiên không phải là chấp nhận sự thể đã rồi mà còn loay hoay tìm cách ngụy biện, anh tự giận mình vì đã đâm đầu vào cái xưởng mộc chết giẫm này, đã tự chui đầu vào rọ khi chủ động thú nhận với lão già máu lạnh kia. Anh bất ngờ vì sự thay đổi mau chóng ở con người, anh tự thấy mình ngu khi phó thác lòng tin vào sự nhân từ và rộng lượng ở ông chủ xưởng mộc, người thường ngày vẫn trưng ra bộ dạng xuề xoà, lơ đãng, người trước đó còn cư xử mềm mỏng, nhu mì là thế nhưng trong phút chốc đã hoá thành một hung thần với cây đại đao trong tay, một khía cạnh tính cách mà anh chưa bao giờ mường tượng ra ở ông ta.

    Mưa đã ngừng hẳn. Một luồng gió nhẹ phả hơi nóng, mùi cá chết trên hồ bốc lên một mùi tanh tưởi ngột ngạt. Một rừng ve râm ran khiến Hưng váng đầu. Những chùm đèn cao áp dần hiện ra, anh biết mình đã ra tới đường cái. Xưởng mộc lùi xa như chìm vào cõi vô định. Hưng bước đi trong vô thức, bần thần như kẻ mất hồn, mắt nhìn xuống chân, người ngợm đau ê ẩm vì những cú đón ban nãy. Mặt hồ lấp lánh những đốm sáng bàng bạc, tiếng sóng dìu dặt đưa đẩy đập vào thành hồ phía dưới, anh lặng nghe và cảm thấy chua xót, muốn chết. Anh nhìn quanh, không thấy ai, rồi ngó xuống, tay vịn vào lớp rào chắn, rồi, thấy sợ hãi một cách đớn hèn, anh quay bước ra hàng ghế đá bên vườn hoa. Đầu nặng trĩu như một tấm phản, anh khóc rồi ngủ thiếp đi.

    Tới gần nửa đêm, có hai gã cảnh sát tuần tra tới đánh thức anh dậy. Họ nhìn bộ dạng anh và chắc mẩm anh đã chơi bời trác táng. Đoạn họ hỏi anh nhà ở đâu, đêm hôm nằm đây có việc gì, cùng nhiều câu hỏi khác mà anh chỉ nghe loáng thoáng và đáp lại bằng giọng thều thào. Sau khi nghe những câu trả lời nửa tỉnh nửa mê của anh, họ cùng lắc đầu ngúng nguẩy, khuyên anh nên về nhà rồi lên xe bỏ đi.

    5.

    Hưng rời xưởng mộc và bất chấp màn răn đe từ ông Hải, vẫn lén lút qua lại với Yến thêm một thời gian. Họ vẫn ở bên nhau, vẫn chuyện trò, vẫn đến những nơi thường đến – nhưng cả hai đều nhận thấy trong cách hành xử ở đối phương có gì đó lạnh nhạt, hờ hững và gượng gạo. Dường như một thứ gì đó, vô hình nhưng cốt yếu của tình yêu giữa họ, đã bị tước đi và bất khả vãn hồi.

    Không ai nói lời chia tay, nhưng cả hai đều hiểu mối tình mùa thu của họ đã thực sự kết thúc. Một tháng sau ngày Yến lên Hà Nội nhập học, Hưng nộp đơn xin tình nguyện đăng lính. Mẹ anh về ở với bà ngoại.

    Vì dáng dấp cao ráo nên Hưng được tuyển vào đội cận vệ binh. Ba tháng tân binh Đại đội của anh đóng ở ngoại thành Hà Nội, sau được chuyển về doanh trại ở trung tâm thành phố. Nhiệm vụ chính của anh và các bạn đồng ngũ là tập diễu hành, diễu binh, nhờ vậy anh tránh được những buổi hành quân dài dặc của đám bộ binh, với những chiếc ba lô nặng hàng chục ký trên vai, hay những buổi huấn luyện nhoài mình giữa tiết trời nắng nóng mà anh từng mường tượng ra trước khi sống đời lính. Anh cũng không bị mấy thằng khoá trên đánh dằn mặt, nhưng bị sai vặt thì nhiều vô kể. Hiếm khi thấy anh than thở.

    Phần vì lớn tuổi nhất trong cả lứa, phần vì bản tính cương trực, Hưng rất được lòng cấp trên và các bạn đồng ngũ. Viên Thiếu uý chỉ huy, một ông trung niên đậm người, tỏ ra rất mến anh. Ông ta để anh cầm đầu một tiểu đội nhỏ và nhiều lần cho anh vay tiền trong những dịp nghỉ phép. Trong mắt các bạn đồng ngũ, anh là một người kín đáo, kiệm lời, ở những buổi tranh luận chỉ thấy anh ngồi rung đùi và lẳng lặng quan sát từng người, hoạ hoằn lắm mới bày tỏ quan điểm. Không ai nghĩ anh là một người bỏ học cấp ba, vì anh luôn cân nhắc lựa chọn từ ngữ rất đúng nơi đúng chỗ, cứ như thể chúng chỉ có thể được sử dụng vào đúng ngữ cảnh ấy nếu không sẽ sai trật, thành thử sau một thời gian ngắn, anh có cho mình một thanh danh ngầm trong đơn vị.

    Dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, tối hôm đó ở doanh trại họ tổ chức liên hoan rất to, ai nấy đều say khướt rượt. Hưng cũng say, và ngồi chung mâm với một loạt những bạn cùng phòng, anh lần đầu thổ lộ về mối tình lỡ dở. Anh kể bằng một giọng lè nhè, ngắc ngứ trái hẳn với lệ thường, còn các bạn anh đều đã liêng biêng cả, chốc chốc gục đầu xuống rồi lại ngước lên. Khi anh kể xong, một cậu tân binh, từ đầu bữa tới giờ chỉ thấy “diệt mồi”, sán lại mời anh một ly. Bằng giọng dè dặt như thể sắp thú nhận một tội lỗi, cậu ta hỏi tại sao anh không tiếp tục gắn bó với cô kia nữa. Anh ngơ ngác đảo con mắt lờ đờ rồi khua tay đáp xẵng:

    “Nào! Nào! Nghe thôi đừng hỏi.”

    “Phạt! Phạt! Phạt!” mấy cậu kia nhất loạt hô lên.

    Và họ cùng nâng ly.

    Nhưng tối hôm ấy khi lên giường đi ngủ, Hưng trằn trọc mãi về cái phần mà anh đã đem bưng bít trong câu chuyện. Anh không tiết lộ cho các bạn hay mình đã bị ông Hải dí đầu xuống nền gạch ra sao, ông bắt anh quỳ trước ban thờ nhà ông như thế nào, hay hôm ấy anh đã thốt ra bao nhiêu lời xin lỗi, rồi vẻ mặt thổn thức ở người tình khiến anh đau thắt ruột, rồi cái thời hạn một tuần ông đề ra để anh xử lý hậu quả cùng lúc tự rút khỏi xưởng mộc cũng như cuộc đời con gái ông mãi mãi – cái yêu cầu mà anh chỉ chấp hành có một nửa. Và anh bất giác hình dung ra gương mặt Yến vào cái ngày định mệnh, khi anh đưa cô trở về từ bệnh viện phụ sản, cô khóc rưng rức lúc anh dừng xe trước cánh cổng màu xám quen thuộc, thất thểu lê gót vào hiên nhà trong lúc anh quay đầu xe, băng băng trên đường, gió thốc vào mặt, ráo hoảnh từng giọt nước mắt.

    Anh nhẩm đếm lại từng tuần, tháng, rồi năm trôi qua kể từ ngày ấy, bất ngờ vì nỗi đau xưa kia dẫu cố ém nhẹm đi mà vẫn âm ỉ, nhói buốt như một khối u ẩn tàng trong cơ thể, di căn hết vùng này đến vùng khác. Suốt những ngày sau ấy anh đã vật vã ra sao, nhục nhã thế nào, anh đều lật lại hồi ức rồi nhìn ngắm chúng, cảm thấy mình chìm ngập trong một trạng thái buồn rầu quyến luyến. Anh luôn khắc khoải vì ý nghĩ nếu anh chịu đi xa hơn, giả sử anh có đủ dũng khí và tình yêu để tiếp tục gắn bó với Yến, vạn nhất họ có thể lấy được nhau. Nhưng anh không muốn thừa nhận rằng anh thấy lờm lợm khi ở bên cạnh cô, anh nghĩ cô không sạch, đã đánh mất vẻ trinh trắng toàn vẹn ở người con gái, trong khi chính anh phải chịu trách nhiệm về điều đó. “Đời thế mà cũng lắm điều rầy rà,” anh tự nhủ.

    Người cuối cùng đã lục tục trở vào giường nằm. Ánh đèn ngoài hành lang vụt tắt, có tiếng bước chân và tiếng thì thào khe khẽ của mấy tên lính gác.

    “Thế là lại hết một ngày,” Hưng nghĩ vậy rồi ngủ thiếp đi.

    Hai năm sau ngày xuất ngũ, Hưng tổ chức một bữa tiệc chia tay tại gia, chỉ mời vài người thân thích rồi sang Đài Loan xuất khẩu lao động. Bên hải ngoại, anh chung sống như vợ chồng với một chị góa và con riêng của chị. Sau khi về nước, chị ta trở thành vợ anh trước sự bàn ra tán vào của hàng xóm láng giềng. Giờ đây, anh đang làm một công việc gì đó liên quan đến phiên dịch trong một công ty lắp ráp linh kiện điện tử của người Hoa. Cuộc sống anh không đến nỗi dư dật, người ta thấy anh cật lực làm ăn để vun vén cho tổ ấm nho nhỏ của mình. Vợ chồng anh vừa đón đứa con đầu lòng. Còn đứa con chưa được đặt tên năm xưa, anh luôn thầm mong nó được siêu thoát.

    Nhiều khi vì công chuyện nên Hưng có đi ngang qua xưởng mộc năm xưa, thấy nó đông đúc và nhộn nhịp hơn tám năm trước nhiều. Cái cổng thép xám xỉn đã thay bằng một cánh cổng mạ vàng bề thế, và lần nào đi ngang qua, anh cũng bất giác nhìn lên khung cửa sổ ở tầng hai, kiếm tìm một ánh đèn vàng mơ hồ hay một bóng hình thân quen nào đó.

    Ông Hải lúc này đã ngoài năm mươi tuổi, mặt rỗ chằng chịt, hói trắng cả chỏm đầu, cặp mắt ti hí thụt sâu vào trong hốc mắt, cằm bạnh ra, gáy nung núc mỡ và bụng phệ như những quân nhân về vườn. Chắc vì mỡ tràn lên họng nên giọng nói của ông trở nên lè nhè, khó nghe. Tính tình cũng đổi khác: cáu bẳn và khó chịu. Ở xưởng, nhân viên sợ ông một phép; tất thảy đều biết rõ ông thích và không thích gì, và họ cố gắng không làm ông phật ý, sợ ông sẽ lại nổi cơn tam bành. Không ít lần, khách tới xưởng hỏi thi công gỗ và mất kiên nhẫn trước những yêu cầu vặn vẹo của khách, ông quát vào mặt họ bằng cái giọng chát chúa của mình:

    “Phiền quá thể! Không mua được thì để người khác mua!”

    Một lần, mấy anh em trong xưởng cùng ngồi uống rượu, một người thợ lâu năm vô tình nhắc đến anh Hưng, ông bèn quay sang ghé sát vai và khẽ hỏi bằng giọng ngậm ngùi như cách ta hỏi thăm một người quen cũ:

    “À, cái thằng Hưng ấy hả? Dạo này nó làm gì rồi?”

    Còn hai đứa con của ông thì sao? Quyết lẹt đẹt mãi trên nấc thang binh nghiệp, còn bốn năm giảng đường của Yến đã trôi qua êm thấm. Sau khi tốt nghiệp, đúng như dự liệu của ông Hải, cô về làm kế toán trong kho bạc thành phố. Cô ốm đau liên miên và sau rốt lui về phụ việc ở xưởng gỗ.

    Năm hai mươi tư tuổi, cô được gả cho một anh chàng làng bên, hai đằng cách nhau vỏn vẹn hai cây số. Chồng cô hơn cô ba tuổi nhưng trông già gấp đôi cô. Anh ta là một tài năng bóng đá lỡ thì, bị chấn thương đeo bám nên đành lánh về quê nhà theo nghiệp huấn luyện. Họ nhà chồng bề thế, Yến sống thong dong và mãn nguyện, cái mãn nguyện ở người đủ đầy về cả vật chất lẫn tinh thần.

    Duy có một lần, lâu lắm rồi, cô bỗng nằm mơ thấy lại anh Hưng trong ngày anh đưa cô tới bệnh viện. Hình ảnh bà đỡ rút ra cục máu đỏ au từ người cô, đem gói bọc rồi quăng vào khay, bất giác hiện lên và trùm lên tâm trí cô. Cô choàng tỉnh giữa đêm, mình toát mồ hôi lạnh và trằn trọc đến sáng. Cô không dám than thở với ai, còn mọi người đơn giản cho rằng cô bị khó ở. Vài tháng sau đó, đoan chắc giấc mơ kia tiên liệu một điều chẳng lành, cô siêng cúng bái chùa chiền, cầu khấn luôn luôn và quyên công đức rất hậu. Ông Hải dạo ấy những tưởng con gái muốn làm bà đồng.

    Thời gian trôi qua, cảnh đời muôn hình vạn trạng hiển lộ trước mắt Yến nhiều nỗi bẽ bàng: những chuyện tình đôi lứa trẻ trung, đầy ý vị nhưng tréo ngoe như cái cô từng có. Họ chật vật để đến được với nhau rồi dứt khoát đoạn tuyệt, bước giật lùi trở lại làm những kẻ xa lạ. Chẳng hiểu do đâu mà nhiều lúc cô xét lại và tin rằng ông Hải đã làm đúng trong vụ việc năm xưa. Cuộc sống hiện tại của cô thực quá êm đềm và viên mãn tới độ cô chưa bao giờ muốn nghĩ xem mọi chuyện có thể đã ra sao, và ý nghĩ đó nhiều khi làm cô buồn rầu, ủ ê. Thú thực là cô cũng thấy dằn vặt thế nào ấy, dằn vặt vì đã quên, đã thôi đau khổ. Cô không muốn thừa nhận với bản thân rằng tấn bi kịch năm xưa từng khiến cô ngã quỵ là thế, giờ nhớ lại chỉ thoáng khẽ rùng mình, không khác nào một trận đòn roi của bố mẹ khi ta làm điều hư.


  • Nhà.

    Đọc thử

    Landscape with a Calm

    Nicolas Poussin (1594 – 1665)

    ***

    Khi ta lớn lên, tất cả những gì ta từng làm là rời bỏ. Ta rời bỏ những thói quen, con người, và nơi chốn. Ta thường thắc mắc đâu mới thực sự là nhà, bởi, ta luôn cảm thấy lạc lõng tại mọi nơi ta đến. Rồi, tự vun vén một tổ ấm trên thị thành, ta gọi nó là nhà. Ta tô điểm nó bằng những chậu những hoa, những cây sen đá đặt trên ban công, phủ khắp tường mấy tấm poster của bộ anime yêu thích, và vun vén một góc làm việc với nội thất từ hàng thanh lý. Thi thoảng, căn nhà yên tĩnh khủng khiếp; khi khác lại văng vẳng tiếng cười đùa của những bạn tâm giao mới quen. Khi nó trở nên quá cô tịch, ta nhấc máy gọi mẹ, đang cách xa ta hàng trăm cây số, và, hỏi ngày hôm nay của bà ra sao. Đôi khi, ta gọi chỉ vì muốn nghe giọng bà, nhưng khi bà hỏi cuộc sống dạo này ra sao, ta bỗng lắp bắp, nói ta vẫn ổn rồi vội lấy cớ thoái thác. Ta không muốn kể khổ với bà. Căn nhà thành thị này chẳng bao giờ cho ta cảm giác như một ngôi nhà thực sự, ta luôn cảm thấy nhớ nhung thứ gì đó – dải nắng ngập tràn sân trường cấp ba, lũ bạn đã từng thân, những cung đường quê trải dài, món sườn rim của mẹ, rồi, các cô dì chú bác xởi lởi nói cười, những cuộc lượn lờ khi trời nhập nhoạng tối, mùi hương quen thuộc của căn phòng ở quê, và, cả gia đình của ta nữa.

    Thế mà, khi trở lại quê nhà, ta lại đâm luyến tiếc sự thoải mái khi được sống ở chốn riêng, những bữa ăn sáng gộp trưa vào Chủ Nhật, những bạn hữu mới, những chuyến đi bất chợt, gặp gỡ những người lạ, và quang cảnh phóng ra từ ngách ban công. Sự tĩnh mịch từng khiến ta muộn phiền ở căn nhà mới giờ đây khiến ta khắc khoải. Ta nhận ra rằng cảm giác này sẽ không bao giờ kết thúc, theo cái cách mà ta đang cảm nhận nó. Có thể, tuổi tác sẽ giúp ta thích ứng dần. Nhưng ngay giờ đây, chênh vênh giữa tuổi hai mươi, và cuộc sống khốn khó đủ bề. Và chẳng quan trọng ta khao khát trở về nhà ra sao, ta vẫn thường nhớ nhung những thứ đang ở xa ta.

    Có thể những kẻ lãng mạn đã đúng. Có thể, ta sẽ tìm thấy nhà ở một vài con người khác, một nửa còn thiếu của ta. Nhưng sự thật là ta sẽ tìm thấy một mảnh ghép của bản thân ở mọi nơi ta từng nán lại, ở mọi con người ta trút bầu thương yêu. Ta vẫn cắt tóc ở một quán mà đứa bạn thân dẫn ta đến hồi hai đứa còn lớp 10. Và kia là một cuốn sách, nằm ngay ngắn trên kệ qua ngày rộng tháng dài, và không bao giờ ta chịu để mất, bởi nó là cuốn mà tình đầu gợi ý ta nên đọc, và cũng nhờ nó, ta phát hiện ra tác giả yêu thích của mình. Ta khám phá ra rằng các thói quen sắp xếp những cuốn sách của ta y chang những gì người anh trai ta từng làm – tách riêng bìa cứng và bìa mềm, rồi phân loại chúng theo màu sắc. Chẳng ai làm thế cả, ta đã nghĩ thế.

    Ta nhận ra rằng cháo loãng với rau tía tô, thêm chút nước cam cho người ốm chẳng phải công thức của riêng ta; đó là cách bà nội vẫn hay làm mỗi khi ta đổ bệnh hồi lên năm. Ta để ý thấy người bạn thân nhất của mình vẫn nghe cùng một playlist của riêng hai đứa khi rảnh rỗi, và ta ướp gà theo đúng cách bạn cùng phòng thời sinh viên từng mách mẹo. Ta giữ thói quen gấp chăn ngay sau khi thức dậy, giống người bác làm quân đội, và từ người yêu cũ, ta lui tới những quán quen của hai đứa mỗi khi không biết ăn gì; ta dẫn bạn bè tới đó, rồi, họ khen đáo để ngỡ như ta là kẻ phát hiện ra chốn ấy. Kể cả khi ta không còn nói chuyện, hoặc, không bao giờ gặp lại họ, ta sẽ luôn thấy họ hiện diện lưng chừng đâu đó trong mọi việc ta làm. Ta sẽ nhận ra rằng quá nhiều trong họ là ta, và quá nhiều trong ta là họ.

    Ta nhận ra rằng lý do ta không bao giờ cảm thấy toàn vẹn ở nhà bởi một phần của tim ta sẽ luôn lang thang trong ký ức một vài kẻ khác, ở một chốn mà ta từng coi là nhà. Từng mảnh hồn của ta vây bủa, rải rác khắp nơi. Tình yêu của ta giăng toả bất tận, và ta nhận ra đó là thứ xảy ra khi ta tận hưởng niềm vui thích được trải nghiệm vô số dạng thức của tình yêu và tình bạn. Khi ta trưởng thành, ta học được rằng khởi hành không đơn thuần là rời đi; thay vào đó, nó là mang theo một phần của những người khác với ta và, để lại một phần của bản thân phía sau với họ. Nó biến ta thành một bức tranh ghép tuyệt mỹ, một viên ngọc được dệt từ những sợi chỉ của tất cả những người ta từng yêu, và sẽ yêu.

    Và ngày nào đó, cảm giác đó sẽ đủ để ta gọi là Nhà.